Nghiệm Xét Phúc Âm năm A
lamongthuong 19.12.2022 07:13:06 (permalink)
 
 
CHỦ NHẬT IA MÙA VỌNG (Mt. 24;37-44)
 
Mới thoạt nghe hoặc đọc bài Phúc Âm vừa được công bố, chúng ta đều cảm thấy Lời Chúa cảnh tỉnh chúng ta về thời điểm đặc biệt nào đó sẽ xảy đến đối với mỗi người. Tuy nhiên, “Vậy hãy tỉnh thức vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến” thường được hiểu là giờ chết do đó đã bao lâu nay bài Phúc Âm thường được hiểu một cách ám định về sự mỏng dòn của sự sống của con người nơi thế trần. Điều hiển nhiên, không ai trong chúng ta biết được ngày nào mình phải chết cho dẫu nghĩ đến sự chết ai cũng ngại ngùng. Đồng thời bởi nhận thức những lầm lỗi và thiếu sót nơi mình, nên mọi người càng cảm thấy sợ chết.
 
Lý do sợ chết bao gồm nhiều khía cạnh. Cũng có thể bởi ham muốn được sống lâu, cũng có thể vì không hiểu sau khi chết mình sẽ ra sao, cũng có thể do tiếc nuối những công sức gầy dựng gia sản nên muốn nắm giữ, hoặc còn nhiều sự tha thiết nơi cuộc sống mà lòng người cảm thấy khó dứt bỏ, và cũng có thể vì e ngại sự công thẳng sẽ xảy đến như một lẽ tự nhiên theo kết quả của lối suy tư qua kinh nghiệm thế tục đã có vay thì phải trả, hoặc đã lỡ làng vấp phạm những lỗi lầm nên chắc chắn sẽ bị thọ lãnh những hình phạt tương xứng.
 
Tuy nhiên, nếu ai để tâm suy nghiệm lời Phúc Âm cho đến tận cùng, sẽ nhận được nguyên nhân khiến con người sợ chết, không phát xuất từ bất cứ cảm nghĩ, hay suy luận hoặc ước mơ thế tục, mà chính là sự thiếu am tường do không suy nghiệm lời Chúa. Chính bởi không suy nghiệm lời Chúa nên đã không hiểu thấu đáo giá trị cuộc đời và sự thể phải đến đối với linh hồn một người sau khi chết, chúng ta đã để cho những suy luận hay e sợ thế tục đè nặng tâm tư tạo nên nỗi âu lo về phận số cuộc đời của mình sau khi chết. Nỗi âu lo này mới là căn nguyên tạo nên tất cả những tiếc nuối hay vương vấn với thế giới hồng trần.
 
Thêm vào đó, dựa vào tâm lý e ngại sự chết, đã nhiều người cố tình hoặc vô tình do thiếu suy nghiệm, dùng Lời Chúa tạo thêm nỗi khắc khoải ám ảnh hoặc hù dọa con người. Ai không lạ gì với câu nói “Ngày Chúa đến!” và ai cũng cứ cho rằng ngày Chúa đến là ngày tận thế hay cũng được coi như ngày tận cùng của cuộc sống mỗi người. Không thế mà chúng ta hay dùng ngôn từ Chúa gọi về để nói tới người chết.
 
Xét văn từ được dùng trong bài Phúc Âm nơi câu, “Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thủy, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thủy đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy.” Nếu cho rằng ngày Chúa đến là ngày tận thế hoặc thời điểm ra đi về bên kia thế giới của mỗi người thì quả là vô bổ, Lời Chúa sẽ không giúp ích gì cho hành trình tâm linh của chúng ta mà chỉ là sự đe dọa hoặc khuyến cáo con người về thời điểm chết.
 
Tất nhiên ai cũng sợ chết, nhưng dẫu sợ chết đến mấy chăng nữa, chúng ta được sinh ra để sống, chúng ta vẫn phải sống, và có bổn phận phải sống, và cũng vì thế chúng ta muốn sống. Thêm vào đó, danh xưng “Con Người” nơi Phúc Âm được dùng để chỉ về Đức Giêsu; thế nên lời diễn tả, “Khi Con Người đến,” mang ý nói đến sự gặp gỡ với Đức Giêsu. Hơn nữa, Phúc Âm được viết như chính Đức Giêsu công bố về sự thể này trong khi Ngài đang giảng dạy dân chúng.
 
Xét như vậy, do bởi nhận thức lời Phúc Âm qua kinh nghiệm đối diện sự kiện thế trần, chúng ta đã vô tình hiểu ngày Chúa đến là ngày tận thế, hay thời điểm ra đi về cõi vô hình của một người tạm gọi là sự chết. Chúng ta bị luẩn quẩn khi suy nghiệm Phúc Âm chính bởi sự nhận thức Lời Chúa theo quan niệm hoặc hiểu biết nhân sinh, thế tục.
 
Nơi Phúc Âm, Lời Chúa đến với chúng ta, “Khi người ta nộp các ngươi, thì các ngươi đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho các ngươi biết phải nói gì; thật vậy, không phải chính các ngươi nói, mà là Thần Khí của Cha các ngươi nói trong các ngươi” (Gn. 10:19-20). Thần Khí của Thiên Chúa chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa nói trong con người tất nhiên Thiên Chúa ngự trị nơi con người.
 
Chúng ta đều có nhận thức; Đức Giêsu được sai đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và đó là, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 1:23). Bởi thế, Đức Giêsu rõ ràng công bố, “Đức tin con chữa con; đức tin con cứu con; đức tin con là ơn cứu độ của con.” Lời Phúc Âm minh chứng Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người thì “Ngày Chúa đến” tất nhiên có nghĩa thời điểm con người nhận chân được thực thể của mình chính là sự hiện thể của Thiên Chúa hoạt động nơi hành trình biến chuyển vô cùng của Ngài.
 
Nhận thức như thế, Lời Chúa dạy chúng ta hãy tỉnh thức có nghĩa hãy luôn luôn suy nghiệm, suy tư, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa, hãy dồn hết tâm trí để nhận thức về thực thể con người của mình hầu nhận biết Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình.
 
Ai đã để tâm nghiệm chứng Phúc Âm sẽ nhận thấy; sự thức ngộ Lời Chúa xảy đến với con người bất cứ lúc nào dưới nhiều dạng thức và môi trường. Nguyên tắc để thực hành suy nghiệm quá đơn giản nên ít người để ý. Chỉ cần đọc một câu Phúc Âm nào đó, đặt vấn đề qua nhiều khía cạnh và suy nghĩ tìm câu trả lời sao cho hợp lý và hợp tình cho đến khi không thể đặt thêm bất cứ câu hỏi nào nữa. Nếu vẫn chưa kiếm được câu trả lời cho câu hỏi nơi trường hợp hóc búa nào đó, chẳng nên nản chí nhưng cứ tiếp tục giữ nỗi khúc mắc nơi tâm tư. Không sớm thì chầy, chắc chắn câu trả lời sẽ đến nơi thời điểm chẳng ngờ, và câu trả lời cũng không thể ngờ. Điều chẳng ngờ nhưng lại là sự thể phải đến; đó là điều mình thức ngộ được, không thể chia sẻ cho ai bởi không ai có thể dẫn dắt ai. Thực trạng này có thể là ý nghĩa câu nói, “Một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi.”
”
Tóm lại, Lời Chúa khuyên chúng ta, “Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến” mang nghĩa chúng ta nên để tâm suy nghiệm những lời dạy dỗ của Đức Giêsu nơi Phúc Âm. Lời Chúa là đường, là sự thật, và là sự sống. Con đường Chúa đã vạch sẵn; sự thật Chúa trình bày cũng chính là sự sống tâm linh ẩn chứa nơi những lời khôn ngoan mà những suy đoán thế tục, dẫu cao sang thế nào cũng không thể đem so sánh. Chỉ một phương pháp ắt có và đủ để chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đó là suy nghiệm Lời Chúa. Bất cứ phương pháp nào khác đều chỉ là phụ thuộc, và chẳng những chỉ làm phiền lòng, mà còn có thể làm hại hành trình tâm linh con người. Amen.
 
 
 
CHỦ NHẬT 2A MÙA VỌNG 01-02 (Mt. 3:1-12)
 
Bài Phúc Âm đưa lên giá trị hoa trái của một cây và sự thanh lọc bằng cách dùng nia quạt gió để loại những rơm rác cũng như những hạt lúa lép để có được những hạt thóc thu vào kho lẫm. Mới thoạt đọc, bài Phúc Âm được mường tưởng khuyến khích con người sống ngay thẳng, công chính nơi khía cạnh luân lý. Tuy nhiên khi đặt vấn đề giá trị luân lý, chúng ta đều phải đối diện với những sự khác biệt của luân lý thay đổi tùy thuộc nơi chốn và thời gian. Thế nên, do tính chất thiếu vững bền của những giá trị luân lý được dùng làm quan điểm nhận định Phúc Âm, chúng ta lại phải đương đầu với một lương tâm bối rối và thường thì ai không chọn, hoặc có khuynh hướng chấp nhận những gì ít nhất tương đối dễ ngã chiều theo thị dục bình thường của con người. Và cũng từ đó chúng ta tạo thành thói quen mượn Lời Chúa, mượn những câu Phúc Âm gán ép theo quan điểm luân lý để lạm dụng.
 
Thực thể hiện hữu minh chứng, bất cứ vấn đề nào hoặc sự việc nào cũng mang ít nhất hai đặc tính đối nghịch lợi và hại tùy theo từng phương diện nhận thức hoặc sử dụng. Lời khôn ngoan nơi Phúc Âm chất chứa ít nhất hai phương diện tâm linh và luân lý và thường dùng sự kiện dưới dạng dụ ngôn để dẫn dắt tâm trí con người suy nghiệm hầu thăng tiến nơi hành trình đức tin, hành trình nhận biết về thực thể chính mình, thực thể Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người.
 
Bài Phúc Âm vừa được công bố nêu lên điểm chính yếu nơi lời rao giảng của Gioan Tiền Hô, “Hãy ăn năn thống hối vì nước trời đã gần đến.” Như chúng ta đã biết, ngôn từ “Ăn năn thống hối” được dịch từ động từ Hy Lạp “Metanoia” mang nhiều ý nghĩa về sự thay đổi nhận thức; chẳng hạn, tẩy não, có nhãn quan vượt khỏi suy luận bình thường, suy nghĩ khác thường, đổi hướng suy tư, suy nghĩ nghịch lại, thay đổi não trạng, tự kiểm, nghiệm chứng, hồi tưởng, thống hối, ăn năn, v.v… Ngôn từ, “Đã gần đến””nơi bản dịch tiếng Mỹ đều được viết là “At hand”” mang nghĩa sẵn có, hoặc ngay nơi tầm tay, hay ở tại, đang hiện diện. Như vậy nếu để ý, câu nói “Hãy ăn năn thống hối vì nước trời đã gần đến” có nghĩa, “Hãy tự nghiệm vì nước trời hiện hữu nơi mọi người, hoặc nói cách khác, hãy nghiệm chứng vì nước trời ở nơi chúng ta.” Lời rao giảng của Gioan Tiền Hô cũng chính là lời rao giảng của Đức Giêsu, “Thời buổi đã mãn, Nước Trời đã gần bên, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc. 1:15). Xét thế, lời rao giảng của Đức Giêsu và của Gioan Tiền Hô đều khuyến khích con người tự suy nghiệm để nhận thức thực thể Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
 
Điều kiện để suy nghiệm được Phúc Âm nhắc nhở qua sự lặp lại lời tiên tri Isaia, “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng.” Bản dịch tiếng Việt mang đầy tính chất mù mờ khi dùng ngôn từ “Đường Chúa.” Phỏng đường Chúa có nghĩa con đường cho Chúa đi hay con đường của Chúa? Tuy nhiên nếu đặt vấn đề, đã là đường của Chúa thì ai có thể sửa và như thế đâu cần sửa. Thế nên, hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa mang ý nghĩa hãy chuẩn bị con đường cho Chúa đi, hãy sửa sang con đường cho Chúa đến. Nơi Phúc Âm Gioan được viết, “Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Gioan. 4:24). Thần khí hay tâm trí hoặc linh hồn cũng chỉ là thành phần vô hình vô ảnh đang phối hợp, hoạt động, điều hành và sử dụng thân xác chúng ta. Hoạt động của thần khí là những suy tư, ước muốn, ý định, ý nghĩ của mỗi người. Suy như vậy, dọn đường cho Chúa, sửa sang đường Chúa có nghĩa đặt vấn đề, chỉnh đốn suy tư, tự tìm hiểu, suy nghiệm.
 
Điều kiện ắt có và đủ cho sự sửa sang, chỉnh đốn tâm hồn hay suy tư là sự nhận biết chính mình, tự suy nghĩ về những ước muốn, ý định, ý nghĩ, tham vọng đã tạo nên thái độ, lối sống, cách ăn ở, cách đối xử nói chung; đó là tự nhận thức lòng mình như thế nào. Dĩ nhiên, không ai trong chúng ta có thể trở nên bất cứ gì và tất cả những gì chúng ta muốn trở nên hoặc tỏ ra mình thế nọ thế kia đều phù phiếm, giả dối. Chúng ta chỉ có thể phát triển những gì chúng ta đã sẵn có nơi mình thường được gọi là tính chất hoặc bản năng. Một khi đã nhận thực được tâm tính cũng như bản chất con người của mình thế nào, chúng ta mới có thể quyết tâm và thực hiện những phương cách giảm bớt những gì phương hại cho mình, và phát triển những đặc tính tốt lành cũng như khả năng nơi mình.
 
Không dám nhìn lại chính mình, không dám nhận thức thực thể con người mình thế nào, dẫu cố gắng trở nên bất cứ gì chăng nữa chắc chắn bị thất bại, và đồng thời tạo nên tự ty mặc cảm, tạo nên nỗi khinh khi chính mình. Dĩ nhiên, kết quả của tự ty mặc cảm là lòng ghen tương, chỉ trích, luôn luôn có khuynh hướng cố tìm hoặc bẻ quặt bẻ quẹo hay có nhận định sai lầm về người khác hầu có mối an tâm giả tạo rằng mình tốt lành hơn người khác. Thực ra, tất cả những gì chúng ta nhận biết chỉ là phóng ảnh của tâm thức, phóng ảnh chính tâm hồn của mình. Những sự nhận biết về giá trị hoặc nhận định về người khác chẳng khác gì hình ảnh của mình khi đứng trước một chiếc gương. Tâm tính, lòng ruột mình ra sao tất nhiên sẽ nhận biết người khác theo quan điểm như thế, do đó thấy họ như vậy. Kẻ nào có tính hay dối trá sẽ nghĩ rằng mọi người đều dối trá. Ai có tham vọng điều gì tất nhiên cho rằng người khác cũng ham muốn như vậy. Có câu nói, “Chỉ kẻ trộm mới có suy nghĩ giống kẻ trộm.”
 
Tóm lại, Lời Chúa qua Phúc Âm khuyến khích chúng ta hãy tự nhận biết chính mình. Hãy bình tâm nghĩ lại xem mình là con người thế nào! Mình thực sự ham muốn điều gì! Những điều gì tốt lành nơi mình! Những cá tính nào chính mình không chấp nhận! Tại sao mình mơ ước điều này, không muốn làm điều kia! Mình có cảm thấy hài lòng về hình dáng và thân xác của mình không!
 
Nếu ai đã dám đối diện với lòng để nhận thực con người của mình ra sao, chắc chắn sẽ cảm thấy vô cùng xấu hổ vì cảm nghĩ không ai tệ hại hơn mình. Đây là bước đầu của lòng sám hối;…cho tới khi nhận thực rằng tất cả những cá tính xấu tốt, hòa hợp lẫn lộn và chúng phải như thế mới tổng hợp được con người như chính mình, chúng ta mới có thể mở rộng tâm hồn để chấp nhận chính mình, và từ đó mới có thể cảm thông cũng như chấp nhận người khác, đồng thời phát triển những điều tốt lành, và giảm bớt những gì không nên. Dọn đường Chúa, sửa đường Chúa cho ngay thẳng khởi đầu từ sự nhận biết con người mình thế nào. Nước Trời chính là Thiên Chúa ngự trị nơi mình, gần kề nhất, thân thiết nhất, nhưng cũng xa muôn trùng, và đã biết bao người tiêu phí cả cuộc đời mà vẫn không nhận biết chính họ thế nào, và đã ra đi với nỗi thất vọng vong thân. Amen.
 
 
 
Ngày 8 tháng 12
MARIA, VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI abc
 
Hôm nay, ngày mùng tám tháng mười hai, chúng ta trọng kính đức Maria được giáo hội tuyên dương với danh hiệu Vô Nhiễm Nguyên Tội. Danh hiệu vô nhiễm nguyên tội có nghĩa không vướng mắc tội theo Kinh Thánh ám định của nghĩa từ chương, nghĩa đen, nơi câu truyện bà Evà ăn trái cấm trong vườn địa đàng để rồi mang án phạt cũng như gieo rắc lỗi phạm cho loài người; lỗi phạm này được mệnh danh là tội tổ tông.
 
Thực ra, là người Công giáo, chúng ta tin tưởng nơi những lời dạy dỗ, tuyên xưng của các đấng các bậc trong hội thánh. Chúng ta từ khi được chịu phép rửa tội Công giáo, chúng ta thuộc về hội thánh; chúng ta là thành viên của hội thánh; chúng ta là con cháu của các thánh trong hội; chúng ta là nghĩa tử của Đấng Tuyệt Đối thánh, dẫu nhận biết hay không. Tuy nhiên, chúng ta tự nhận định, và được dạy dỗ rằng chúng ta là kẻ có tội, thì chúng ta cũng thuộc về hội tội. Sự thể này là một thực thể ai cũng nhận biết và đương đường tuyên xưng mà thường thì rất ít khi đặt vấn đề về sự thể mình lập lững giữa hai hội, hội thánh và hội tội.
 
Thế nào là thánh và thế nào là tội? Đã bao giờ chúng ta tự đặt vấn đề, tự đối diện với con người của mình để phân định cho rõ ràng thực trạng thân phận làm người hầu nhận ra giá trị làm người, nhận ra những hồng ân trong cuộc đời cũng như những giá phải trả nơi cuộc sống nhân sinh. Có thể nói, chúng ta thường chỉ đặt vấn đề theo nhãn quan thế tục, hữu vi, mà vô tình hay ít khi hoặc không bao giờ nghĩ tới vị thế tâm linh; điều này có nghĩa, ít khi hoặc không bao giờ dám tự suy tư để định vị chính mình trước mặt Thiên Chúa; dẫu chúng ta đã được đức Giêsu, chúng ta xưng tụng là chúa chúng ta, và chúng ta được dạy xưng tụng Thiên Chúa là Cha. Và như vậy, sự lãng quên, hay tránh né chân nhận Thiên Chúa là cha; bởi thực tâm nhận thức thực trạng nhân sinh không xứng đáng, nên phát sinh đóng cửa lòng, khóa trái tâm tư hầu tách rời, tạo hố sâu ngăn cách giữa Thiên Chúa và loài người, giữa thực thể hiện hữu của một người với chính bản thân mình, giữa linh hồn và thân xác của mình. Sự thể này cũng chứng tỏ chúng ta đã không để tâm suy nghiệm Tin Mừng, lời rao giảng, và cũng chính là mục đích cuộc đời của đức Giêsu (Lc. 4:43).
 
Thử phân tính danh hiệu, "Vô Nhiễm Nguyên Tội." Cứ theo nghĩa từ chương, nghĩa đen, được nghe, được viết thế nào hiểu thế ấy. Vô nhiễm có nghĩa không vướng mắc, không bị ảnh hưởng, không dính dáng gì. Nguyên tội tức là tội tổ tông. Không cần bất cứ minh chứng nào, chỉ cần hồi tâm suy tư nơi chính mình, nơi thực thể cuộc đời mình khi đối diện với những quảng cáo, tuyên xưng, tuyên dương ồn ào nơi cuộc sống ở bất cứ thời đại nào hoặc bất cứ nơi đâu, tội nguyên tổ coi chừng chỉ là l‎ý thuyết ám định hầu dẫn tâm tư, suy nghiệm đến ơn cứu độ, đến Tin Mừng đức Giêsu rao giảng. Thiển nghĩ, vì chúng ta đã không để ý, không suy tư, suy nghĩ, suy nghiệm, để nhận biết Tin Mừng mà đức Giêsu rao giảng nên sẵn lòng chấp nhận câu chuyện giả tưởng, huyền thoại, không rõ tác giả nào trong lúc ngất trí nhận ra sự thể yếu hèn của thân phận nhân sinh sáng tác một cách ám định về thực thể mỏng dòn, bất nhất, không dám đối diện với thực thể chính mình của mỗi người chúng ta.
 
Thử nêu lên thực trạng đơn giản nơi mỗi người. Ai trong chúng ta đã bỏ thời giờ suy tư hoặc có cơ hội, tự trả lời một trong những câu hỏi, chẳng hạn, tại sao hay lý do gì, nguyên nhân nào, mình được sinh ra? Hay, mình được sinh ra để làm gì? Mục đích cuộc đời của mình là chi? Thế rồi, sau khi chết, mình có còn là gì nữa không; nếu còn là một thứ gì thì mình sẽ đi về đâu? Thế nên, khi đối diện với những trắc trở cuộc đời, con người nhận ra chính mình không thể, không có cách nào làm chủ cuộc đời của mình, và đồng thời, "Đa thọ thì đa nhục," trong khi ai cũng muốn sống lâu; mà càng sống lâu càng phải chịu đựng những phiền hà, bệnh tật nơi cơ thể, đồng thời mơ ước những điều không thể chẳng khác gì bà Evà nơi câu truyện ám định tạo dựng thế nhân trong cuốn Kinh Thánh phần Sáng Thế K‎ý.
 
Chúng ta tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Giêsu. Chúng ta có biết rõ ràng tin vào Thiên Chúa là tin thế nào không? Hay chỉ nghĩ, chỉ cho rằng mình tin vào sự thể mông lung nào đó được mệnh danh là Thiên Chúa, Ông Trời, Thượng Đế. Chúng ta cho rằng, nghĩ rằng Chúa quan phòng, thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ, thế sao Phúc Âm có câu, "Ta bảo các ngươi, hãy mến yêu thù địch và khẩn cầu cho những kẻ bắt bớ các ngươi; ngõ hầu các ngươi nên những người con của Cha các ngươi, Đấng ở rên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác... Vậy các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành" (Mt. 44-48). Chẳng những thế, nơi Lão học cũng có câu, "Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu" (Trời đất đâu thương xót, thiên vị ai, coi mọi sự như loài chó rơm). Coi chừng những gì chúng ta mệnh danh là tin chỉ là không tưởng. Sự thể này đã được Thomas Aquinas nói lên điều ít ai dám nhắc tới, "Thiên Chúa là Đấng không thể dò thấu, chúng ta không thể nói được gì về Ngài; tất cả những gì nói về Thiên Chúa đều chỉ là tưởng tượng." Có thể nói, chúng ta đã thiếu suy tư, thiếu suy nghĩ, thiếu nghiệm xét; chúng ta tin theo, hùa theo, quả hợp với danh hiệu theo đạo, hùa theo những gì người khác nói chứ không để ý, không biết mình tin gì, không tìm hiểu, suy tư về điều mình tin theo.
 
Sự thể thực trạng tâm tưởng tin theo của chúng ta đã như thế, thì có nói gì chăng nữa cũng chỉ như nước đổ lá môn, nước dội đầu vịt. Thêm vào đó, nếu đã không tự suy tư, không suy nghiệm, không nghiệm xét thì cho dù tuyên xưng, tuyên dương, truyền bá cũng chẳng khác gì ngồi trước mâm cỗ thịnh soạn mà không ăn thì bụng vẫn đói; rượu, nước, sẵn đấy mà không uống sao có thể say, sao có thể hết khát; trong khi sự suy nghiệm, suy tư chỉ về người thực hành, chỉ hành giả mới cảm nhận được, không thể chia sẻ cho bất cứ ai, chẳng hề bao giờ nhận được đồng cảm, quả hợp câu nói, "Người biết không nói, kẻ nói không biết" (Lão).
 
Nơi thực trạng tâm tư mỗi người, nếu bố mình làm gì sai hoặc ăn trộm bị đi tù, mình có dính líu gì về lỗi phạm của ông ấy không? Mình có chấp nhận cả đời bị lỗi lầm ấy không? Có chăng chỉ thông phần đau xót tâm tư thế tục, đau xót vì chính danh dự của mình là con kẻ lầm lỗi bị mọi người chung quanh khinh khi. Thực ra, họ khinh mình tự nơi tâm hồn của họ, đâu liên hệ gì tới mình dẫu mình bị ảnh hưởng bất lợi trong cuộc sống. Tuy nhiên, mình vẫn là mình; họ lấy dao cắt tay họ thì họ đau chứ mình có cảm thấy chi đâu. Sự thể này không khác chi ý nghĩa ám định nơi câu nói, "Hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu."
 
Tự nghiệm nơi chính bản chất nhân sinh nơi mỗi người, câu truyện bà Evà ăn trái cấm là chính cách tính nơi mỗi người chúng ta; như thế mới thực sự giống tội nguyên tổ. Chúng ta ai không thế, muốn đủ điều, ước mơ muôn ngàn thứ và không muốn cho ai biết tham vọng của mình nhưng không chấp nhận hậu quả, để rồi lại đổ lỗi cho Chúa phạt. Nếu ai đó quan niệm Kinh Thánh viết truyện lịch sử thì cho đến muôn đời sẽ không thể nhận thức được Tin Mừng đức Giêsu rao giảng là gì nơi cuộc đời của mình, cũng như đã hơn kém hai ngàn năm cho tới nay, Tin Mừng vẫn còn bị dấu kín dẫu Kinh Thánh đang hiện diện nơi nhà mình, có thể đọc bất cứ lúc nào.
 
Thế nên, tuyên xưng, tuyên dương đức Maria vô nhiễm nguyên tội, chúng ta tuyên xưng thân phận của chính chúng ta, con cái của Thiên Chúa, anh em, mẹ của đức Giêsu như Ngài đã nói nơi Phúc Âm, "Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta,' và giang tay chỉ các môn đồ của Ngài, Ngài nói, 'Này là mẹ Ta và anh em Ta. Phàm ai là theo ý Cha Ta, Đấng ngự trên trời, kẻ ấy là anh em và là mẹ Ta'" (Mt. 12:48). Phúc Âm khuyên nhủ, "Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã và sự công chính của Người, và mọi sự khác sẽ được ban cho các ngươi" (Mt. 6:33). Đến đây tôi chợt nhận ra, bà Evà được tạo dựng, và sống trong thiên đàng, nước của Thiên Chúa, Nước Trời, mà cũng như chúng ta, bà đã không cần biết Phúc Âm nói gì,  không lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa mà chi lo tìm quyền năng, lợi ích nhân sinh, thế tục, làm liên hệ đến con rắn, bị kết án phải bò trên bụng, chỉ biết ăn đất, không biết bắt chuột hay những chim chóc khác.
 
Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta nơi hành trình đức tin. Amen.
 
 
 
CHỦ NHẬT 3A MÙA VỌNG 2002 (Mt. 11:2-11)
 
Qua cuộc đối thoại của Đức Giêsu với những người được Gioan sai đến, thêm một lần nữa Phúc Âm nhắc nhở chúng ta để tâm suy nghiệm về Tin Mừng Ngài rao giảng. Phúc Âm nhiều lần lặp đi lặp lại về nhiệm vụ cũng như sứ mạng của Đức Giêsu đó là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Thế nên, khi nhắc tới hai tiếng Tin Mừng, chúng ta cần nhận biết đó là Tin Mừng Nước Trời. Điểm đặc biệt của bài Phúc Âm vừa được công bố chính là câu nói, “Tin Mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó, và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta.” Lý do gì Phúc Âm phải đề cập đến vấn đề vấp ngã vì những lời giảng dạy của Đức Giêsu?
 
Như chúng ta đã biết, những văn từ được dùng nơi Phúc Âm thường mang ý nghĩa ám định, khác với ý nghĩa bình thường chúng ta nhận biết. Điều rõ ràng chỉ những ai để tâm nghiệm chứng mới có thể cảm nhận được đó là người nghèo được nhắc đến nơi Phúc Âm mang nghĩa những ai khát khao nhận biết Tin Mừng Nước Trời, những ai tâm trí chuyên nhất tìm hiểu hầu nhận biết Thiên Chúa, tìm hiểu về thân phận con người của chính mình và sự liên hệ giữa Thiên Chúa và con người như thế nào. Bởi thế, đọc hoặc nghe công bố mà không để ý mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa, chúng ta sẽ có cảm nghĩ Phúc Âm bao gồm những điều nghịch thường, trái ngược với nhận thức của con người.
 
Chẳng hạn chúng ta vừa nghe lời Phúc Âm được công bố, “Tin Mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó.” Lẽ đương nhiên, thoạt mới nghe đến những lời này; ai không cảm thấy khác thường. Theo sự nhận biết và lý luận nhân sinh, ai không hiểu được những người nghèo khó cần những nhu yếu căn bản nơi cuộc sống chẳng hạn nơi ăn chốn ở, thực phẩm, quần áo, vật dụng. Thế sao Phúc Âm không nói đến sự chia cơm sẻ áo, đón nhận, và giúp đỡ những kẻ khốn cùng trong khi lại đem sự rao giảng Tin Mừng cho họ làm bằng chứng. Điều này nói lên Tin Mừng Nước Trời cần thiết và quan trọng đối với con người hơn cả những nhu yếu căn bản cho cuộc sống.
 
Nhiều lần Phúc Âm nhắc nhở chúng ta, Nước Trời đang hiện diện giữa chúng ta và thường được dịch là đến gần hay gần bên. Nơi Phúc Âm Mátthêu chẳng hạn, chúng ta đọc được, “Trong những ngày ấy, Gioan Tẩy giả xuất thân rao giảng trong sa mạc xứ Giuđêa rằng, Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần bên” (Mt 3:1-2), hoặc, “Từ bấy giờ, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và “nói, “Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần bên” (Mt. 4:17), hay, “Hãy đi và loan báo rằng: Nước Trời đã gần bên” (Mt. 10:7), hoặc nơi Phúc Âm Marcô, “Sau khi Gioan đã bị nộp thì Đức Giêsu đến xứ Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa mà rằng: Thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc. 1:15).
 
Đức Giêsu cũng rõ ràng tỉnh thức dân chúng nhận biết Tin Mừng bằng cách minh chứng nơi những công việc Ngài đã thực hiện khi những người có ý đồ bất chính dùng lời tuyên truyền xúc phạm đến Ngài, cho rằng Ngài đã nhờ quỷ vương được gọi là Bêelzêbul để chữa bệnh, “Nếu Ta nhờ Bêelzêbul mà trừ quỷ thì bè phái các ngươi nhờ ai mà trừ quỷ? Bởi thế, ví bằng Ta nhờ Thần Khí Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt. 12:28). Xưa nay chúng ta thường được dạy dỗ về những sự tưởng tượng theo lối suy tư thế tục của loài người và tạo nên quan niệm Nước Trời là nơi chốn nào đó được gọi là thiên đàng. Nơi Phúc Âm, Đức Giêsu nói cho chúng ta biết, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền, người ta sẽ không nói được: Này ở đây hay ở đó, vì này, Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17:20-21).
 
Thiên Chúa là quyền lực sự sống. Ngài là cội nguồn và là quyền lực hiện hữu nơi mọi loài, mọi vật hữu hình cũng như vô hình. Ngoài Thiên Chúa không có bất cứ sự hiện hữu nào; thế nên, bất cứ gì hiện hữu đều có sự hiện diện của Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa ngự trị nơi mọi loài, mọi vật. Như vậy, sự hiện hữu của mọi vật, mọi loài, hữu hình cũng như vô hình chính là sự hiện thể của Thiên Chúa dưới những dạng thức khác nhau. Tư tưởng, ý nghĩ, ước muốn, tham vọng của chúng ta là những sự hiện hữu, và vì thế đều chất chứa sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tuy nhiên, bởi không để tâm nghiệm chứng chúng ta đã không nhận biết, do đó đã luôn luôn sử dụng không đúng đắn. Những sự sử dụng không đúng đắn quyền lực của Thiên Chúa nơi mình từ ý nghĩ, lời nói, lối sống, hành động chính là cội nguồn những sự tội lỗi. Như vậy, bất cứ những gì lạm dụng quyền lực của Thiên Chúa nơi mình đều được gọi là tội lỗi vì ngăn cản hành trình đức tin nơi mình.
 
Vì Thiên Chúa là quyền lực hiện hữu nơi mọi loài, mọi vật hữu hình cũng như vô hình do đó giáo lý dạy: Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Và như thế, Nước Trời là chính Thiên Chúa; Tin Mừng Nước Trời có nghĩa Thiên Chúa ở khắp mọi nơi; Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đây là ý nghĩa tại sao Phúc Âm nói Nước Trời ở giữa các ông; Nước Trời ở trên các ông; Nước Trời ở trong các ông… Cũng chính vì thế Phúc Âm được viết, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền, người ta sẽ không nói được: Này ở đây hay ở đó, vì này, Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17:20-21). Suy như thế, ai nhận thực được chính Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi chính mình, nơi cuộc đời mình, nơi mọi vật, mọi loài, người đó được gọi đạt tới hoặc ở trong Nước Trời.
 
Bài Phúc Âm nêu lên câu nói của Đức Giêsu, “Trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả, nhưng người nhỏ nhất trong Nước Trời cũng còn cao trọng hơn ông,” nhắc nhở và khuyến khích mỗi người chúng ta để tâm nghiệm chứng sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mình. Gioan thực hiện phép rửa như một hành động chứng tỏ lòng thống hối để thanh tẩy và mở rộng tâm hồn, nhận chân sự hiện diện của Thiên Chúa nơi con người. Đức Giêsu rao giảng cho chúng ta biết chính Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. Như vậy, sự nhận thức thực thể hiện hữu của Thiên Chúa nơi mỗi người quan trọng hơn bất cứ danh vọng hay quyền lực nào nơi trần thế.
 
Tóm lại, sự hiện hữu của mỗi người chúng ta chính là sự hiện thể của Thiên Chúa vô hình nơi tâm trí, linh hồn, và hữu hình nơi thân xác cũng như nơi những sinh hoạt trong cuộc sống. Nhận thực được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi cuộc đời được gọi là thức ngộ hoặc ở trong hay thuộc về Nước Trời. Những ngày trong mùa vọng, xin mọi người để tâm suy tưởng lời Phúc Âm, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” hoặc Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, hay “Nước Thiên Chúa ở trong các ông.” Amen.
 
 
 
CHỦ NHẬT 4A MÙA VỌNG 2002 (Mt. 1:18-24)
 
Nếu để ý đến tình cảm, cảm nghĩ, hay vị giác, kinh nghiệm sống cung cấp cho chúng ta nhiều cơ hội nhận thức về chính mình. Đến mức độ nào đó nơi diễn tiến tự tìm hiểu, chúng ta cảm thấy mình chất chứa một sự mầu nhiệm khó thể nhận biết. Nhiều sự thể hoặc diễn tiến chúng ta thường kinh nghiệm hoặc hành động, hay làm theo thói quen nên không để ý nhưng lại không thể nào giải thích cho người khác cảm nhận được như chính mình, chẳng hạn khi chiêu một ngụm trà hay nhấp miếng cà phê. Dầu chúng ta cố gắng dùng đủ mọi ngôn từ hoặc tác động hay ám định để giải thích, không ai có thể cảm thấy được sự cảm nhận chính xác của chúng ta khi uống trà hay cà phê.
 
Dĩ nhiên, nếu ai đó đang lúc khát nước, chúng ta càng giải thích về sự ích lợi, hoặc tính chất, hay công dụng của nước, hoặc cà phê, hay trà, và bất cứ thức uống giải khát nào, người khát nước càng cảm thấy khó chịu. Sự giải thích về các thứ giải khát không thể khiến người đang khát nước hết khát được. Thế nên, muốn thực sự nhận thức được tách cà phê hay ly trà thi vị, tuyệt vời ra sao, chúng ta phải uống hay nhấp thử, không còn cách nào khác.
 
Thêm một thí dụ về trường hợp yêu thương. Cho dù sử dụng bất cứ phương pháp thực nghiệm hay lý thuyết nào, quý vị cũng không thể giải thích để bất cứ ai có thể cảm nhận được thực sự quý vị yêu thương người bạn đời và từng đứa con của quý vị ra sao. Chính ngay quý vị cũng không thể nào giải thích cho vợ hay chồng của mình cảm nhận thực sự được lòng yêu thương của quý vị đối với họ, mà có chăng, càng cố gắng giải thích, quý vị chỉ càng làm cho họ bực mình. Cũng như trường hợp nơi tâm tình yêu thương, chúng ta chỉ có thể tự cảm nhận, chấp nhận, và có cảm ứng riêng tư cá nhân về Thiên Chúa nhưng chúng ta không thể nói hay diễn giải về Ngài bằng bất cứ cách nào, cũng như không thể nói được sự liên hệ của Ngài đối với chúng ta thực sự ra sao.
 
Thực thể này tâm tư này tương tự tâm tình cảm nhận chung của mọi người đối với Thiên Chúa. Tất cả những ngôn từ ám định, những lý thuyết, triết thuyết giải thích hoặc những chủ thuyết bày tỏ quan niệm đều không nói được chút gì về Thiên Chúa, mà có chăng chỉ giống như câu Phúc Âm đã nói, “Mù mà dẫn đàng cho mù, cả hai sẽ lăn cù xuống hố” (Mt. 15:14). Ai để tâm nhận thức hay cảm nhận về Thiên Chúa, tự người đó biết, nhưng nói ra không được. Đây chính là ý nghĩa câu nói thời danh nơi Lão học đã khiến nhiều người tốn công sức và thời gian nghiệm chứng, “Người biết không nói, kẻ nói không biết.” Thánh Tô Ma Aquinas cũng để lại câu nói mạnh bạo rất ít người Công Giáo dám để ý suy gẫm, “Thiên Chúa là Đấng không thể dò thấu. Người ta không thể nói được gì về Thiên Chúa; thế nên, tất cả những gì con người có thể nói về Thiên Chúa đều chỉ là sự tưởng tượng.”
”
Bởi vậy, quý ông bà anh chị em hãy để ý suy nghiệm về những gì tôi chia sẻ từ sự suy nghiệm của tôi về Chúa chứ đừng vội tin hoặc cho rằng tôi nói đúng hay sai. Những gì tôi nói chỉ phần nào ám định cảm nghiệm của tôi về Chúa, chứ không phải của quý ông bà anh chị em, nên chỉ có thể được coi như đặt vấn đề để quý vị suy nghiệm, chứ không thể mang ích lợi gì cho ai nếu người đó không tự suy nghiệm. Quý vị hãy đặt những câu hỏi và tự trả lời sao cho hợp tình hợp lý để có thể chấp nhận được nơi mọi trường hợp. Đây là phương pháp suy nghiệm, dùng tri thức để nhận biết về thực thể Thiên Chúa nơi mình và hoạt động nơi mình. Lối suy nghiệm này sẽ dẫn quý vị nhận thức về Thiên Chúa nhanh nhất nhưng cũng gây nơi tâm trí nhiều nỗi kinh hoàng; đôi khi có thể nói, chúng ta sẽ bị hoảng sợ vì chính mình đã dám nghĩ tới những điều hoàn toàn đối nghịch với lòng chân thành và sùng kính từ bao lâu nay.
 
Bài Phúc Âm vừa được công bố trình bày về Tin Mừng Đức Giêsu đã rao giảng và mục đích nhiệm vụ Ngài thực hiện trong những ngày sống tại dương thế (Lc. 4:43). Câu chính yếu của bài Phúc Âm được chép, “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Chúng ta gọi ông George Bush là tổng thống vì ông ta đã được bầu cử để giữ nhiệm vụ của tổng thống, nhiệm vụ tối cao của đất nước Hoa Kỳ. Tổng thống là danh hiệu của ông vì ông được bầu để thực hiện công việc này.
 
Cũng thế nơi câu Phúc Âm, “Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel,” đây chính là danh hiệu của Đức Giêsu. Đức Giêsu có danh hiệu Emmanuel, chính danh hiệu này nói lên nhiệm vụ hay công việc Ngài thực hiện. Danh hiệu Emmanuel có nghĩa“”Thiên Chúa ở cùng chúng ta” chứng tỏ Ngài có sứ mạng rao giảng, công bố cho mọi người nhận biết Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” chính là Tin Mừng Nước Trời Đức Giêsu đã dùng cả cuộc đời của Ngài rao giảng; chẳng những thế, Ngài còn sai các môn đồ ra đi rao giảng cho mọi người. Vì Thiên Chúa ngự trị nơi mỗi người thế nên đức tin là quyền lực của Thiên Chúa nơi mỗi người. Đức Giêsu rõ ràng công bố cho chúng ta nhiều lần nơi Phúc Âm, đức tin con chữa con (Mt. 9:22); đức tin con cứu con (Lc. 8:48); đức tin con là ơn cứu độ của con (Mk. 10:54; Lc. 7:50), chữa lành con (Lc. 17:19; 18:42).
 
Tuy nhiên, nơi Phúc Âm Luca, Đức Giêsu nêu lên nghi vấn khá nặng nề đối với những ai tuyên xưng tin tưởng nơi Ngài, “Phỏng khi Con Người trở lại có còn thấy được lòng tin trên mặt đất nữa không!” (Lc. 18:8). Cảm nhận, nghiệm chứng được Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình hay không chính là sự nhận biết đức tin nơi mình hay không. Sự kiện tâm linh này thuộc về lãnh vực tâm tình và nhận thức của mỗi người chứ không tùy thuộc sự tuyên dương hay tuyên xưng hoặc giảng giải hay chứng tỏ bằng lời nói. Nếu ai đã để tâm suy nghiệm Lời Chúa qua Phúc Âm mới có thể nhận biết thực thể tại sao câu hỏi đầy nghi ngờ về lòng tin của con người đã hai ngàn năm qua vẫn chỉ là câu hỏi mà bất cứ ai cũng cảm thấy ngại ngùng mỗi khi được nhắc tới.
 
Có thể nói, chúng ta đã cố tình lãng quên câu hỏi này bởi nếu đặt vấn đề tại sao Đức Giêsu đặt vấn đề nghi ngờ lòng tin của con dân Ngài. Chúng ta phải đối diện với thực tại trống rỗng nơi tâm hồn, và đó là chúng ta đã không thực sự cảm nhận được đức tin hay lòng tin là gì. Không dám đối diện với thực tại tâm linh nơi mình, chắc chắn chúng ta thường xuyên phải mang nỗi lòng lo âu, e sợ mỗi khi nghe tới danh hiệu Tin Mừng Nước Trời. Như vậy, được gọi là tin mừng nhưng chính vì không để tâm suy nghiệm, tin mừng đã trở thành tin buồn tạo nỗi khắc khoải luôn luôn day dứt cõi lòng. Amen.
 
 
 
GIẢNG PHÒNG ST. JOHN 2005 (ngày thứ nhất)
 
Xin đừng vội tin những gì tôi nói nhưng hãy suy nghĩ xem có hợp lý, hợp tình, và có thể chấp nhận được không. Nếu không chấp nhận, xin nêu ý kiến...
 
CẤM PHÒNG / TĨNH TÂM
 
1/ Cấm phòng: phòng cấm, không cho ai vô, tránh bị phiền hà -Giữ tâm trí tĩnh lặng để suy tư, suy nghiệm, không để những chuyện thường ngày thế tục làm chia trí, bận rộn tâm tư. Suy tưởng, trở về nội tâm, suy nghĩ, suy luận về vấn đề nào đó liên quan đến tâm hồn, con người đích thực của mình. Mình đã sống ra sao, đã mơ tưởng những gì? Thành công thất bại thế nào. Tại sao mình được sinh ra? Mình có được hỏi ý kiến trước khi được sinh ra không? Giả sử được hỏi ý kiến và có thể trả lời, mình sẽ trả lời ra sao lúc đó? Giá trị cuộc đời của mình là gì? Mình phải đối diện với cuộc đời như thế nào? Mình đã có những thái độ nào khi những sự việc ngoài ước muốn xảy đến, tốt, xấu theo quan điểm của mình? Rồi mình sẽ đi về đâu? Mình là ai? Mọi sự đều có nguyên nhân vậy nguyên nhân hay lý do nào mình đã được sinh ra.
 
-Con người gồm có hai phần, linh hồn và thân xác. Linh hồn là gì, đã nhìn thấy nó bao giờ chưa, hình dáng linh hồn của mình ra sao? Đã bao giờ mình để ý tìm hiểu xem linh hồn của mình thế nào chưa? Làm sao có thể minh chứng mình có linh hồn? Mắt không thể nhìn, tai không thể nghe. Muốn nhìn, muốn nghe để nhận biết mình là ai, tâm hồn, linh hồn mình thế nào thì nhắm mắt, bịt tai lại. (Cấm phòng).
 
TĨNH TÂM: (đối nghịch tâm tĩnh). 
 
Lòng mình đã tĩnh lặng, không bị bất cứ gì khuấy động thì sẽ nhận thức sự vật và sự việc một cách rõ ràng như chính nó vì không bị ảnh hưởng bởi bất cứ ý nghĩ, phiền toái nào. Thí dụ, sự thể một người mẹ hay một người cha la mắng hoặc sửa phạt con cái. Chưa chắc những sự thấy tận mắt, nghe tận tai chúng ta đã có thể biết hay nhận thức đúng như sự việc xảy ra.
Thí dụ, ly nước chanh; hai trái chanh, một ly nước.
 
Tĩnh Tâm cũng như cấm phòng, là hành động, sự việc thực hiện để cho có tâm tĩnh, tâm định. Đức Giêsu dạy, khi các người cầu nguyện thì vô phòng kín mà cầu nguyện cùng Cha các ngươi Đấng thấu suốt những gì bí ẩn... Tiếng Mỹ dịch là “inner room” có nghĩa là nội tâm, lòng mình, tâm hồn của mình thế nên nơi tiếng Việt cần được dịch, “Khi các người cầu nguyện thì hãy nhận xét lại nơi tâm hồn của mình” mới hợp lý, hợp tình.
 
Làm cách nào cho tâm định để không lo lắng những chuyện khác,
1/ kinh nghiệm lái xe...
2/ kinh nghiệm khi bị người nào xúc phạm, lúc nào cũng cảm thấy bực tức về người đó
3/ kinh nghiệm ghen tương, nghi ngờ. Định tâm có nghĩa dồn tất cảm mọi ý nghĩ, suy luận về một vấn đề nào đó; nhận định sự vật sự việc đó dưới mọi khía cạnh; không đặt vấn đề đúng sai vì nó đã xảy ra. Nhìn sự vật sự việc như chính nó không để cho quan niệm hay ý thích của mình ảnh hưởng. (Thí dụ... muốn biết một con chim nhỏ mà mình chưa bao giờ gặp thế nào, theo dõi hàng năm ngày tháng nào nó hoặc những con chim giống nó bay về, nó ăn sâu bọ hay hạt giống cỏ, cây.... nó mầu sắc ra sao, con đực khác con mái thế nào... kiếm nơi sách vở nói về loài chim...)
 
CÁCH THỰC NGHIỆM
 
Nằm tĩnh lặng, không động đậy, để ý đến cảm giác từng phần nơi cơ thể... 2 vòng Để ý nhận biết những âm thanh nghe thấy.... không cần biết nó phát ra từ đâu nhưng chỉ cần nhận biết mình đang nghe thấy âm thanh ấy...
 
-lấy một tờ giấy, chia hai phần, một bên viết tất cả những sự tốt lành, thánh thiện mình có thể nghĩ tới mình đã thực hiện, những đặc tính hoặc cá tính tốt lành... bên kia, ghi tất cả những gì không nên không phải về mình... đọc qua một lần hoặc hai, đốt đi.... Dù sao chăng nữa, đó chính là những gì đã xảy đến nơi mình, tất cả những thứ đó kiến tạo nên con người của mình, nên đành chấp nhận mình như thế. Chấp nhận được mình, mới có thể chấp nhận được người khác vì họ lầm lỗi ít hơn mình.
 
Đặt vấn đề tại sao mình bực bội, nóng tính, bất bình... muốn sự việc xảy ra theo ý mình. Bực bội với chồng con, vợ con, muốn họ phải như ý mình... mình không thể là ai khác thì họ cũng không thể trở nên theo ý thích của mình. Mình muốn họ thế nọ, thế kia chính vì mình không thể như thế nên muốn họ như thế. Muốn trị tuyệt những bực bội, bất bình, phải nhận thực mình là con người tốt lành và đốn mạt như thế nào và chấp nhận mình như thế... Mọi sự xốn xang, xáo trộn nơi cuộc đời đều phát sinh từ ý muốn chẳng nên có của mình mà thôi.
 
NGÀY THỨ 2
 
Tĩnh tâm hay cấm phòng là đối diện với chính tâm hồn của mình. Mình đang mơ ước những gì, đang bực bội với ai, đang lo lắng những chuyện chi. Ngay cả những sự cần thiết nhất nơi đời sống con người như vấn đề thực phẩm, quần áo mặc, lời Phúc Âm khuyên, “Hãy nhìn chim trời, không gieo vãi, không gặt hái, không cất vào kho lẫm mà Cha các ngươi còn lo cho chúng phương chi các ngươi, quân yếu tin. Hãy nhìn bông huệ ngoài đồng, sớm nở tối tàn mà Cha các người còn mặc cho chúng, ngay cả Salamon trong sự vinh quang của ông cũng không có được chiếc áo nào đẹp như thế. Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài và các sự khác sẽ được ban thêm cho các ngươi.””
 
Như vậy, chúng ta không tin Chúa chút nào vì chúng ta không tin lời giảng dạy nơi Phúc Âm, đó là lời giảng dạy của Đức Giêsu. Lời giảng dạy của Đức Giêsu chính là thánh ý của Thiên Chúa bởi vì Đức Giêsu đã rõ ràng công bố Ngài được sai đến để thực hiện thánh ý của Thiên Chúa trong khi tất cả những công việc Ngài thực hiện chỉ là rao giảng những lời được ghi lại nơi Phúc Âm. Nhắc lại: Thánh ý của Thiên Chúa hay ý Chúa.
 
PHƯƠNG PHÁP TĨNH TÂM
 
Thường hiểu lầm tĩnh tâm là đi nghe giảng. Nghe giảng giải về sự việc hay vấn đề nào chỉ là để biết hầu áp dụng nơi cuộc sống. Tĩnh tâm hay cấm phòng là hành động của một người chứ không phải nghe giảng.
 
-Linh mục hay bất cứ ai hướng dẫn tĩnh tâm chỉ là người chia sẻ một vài phương thức có thể áp dụng được để thực hiện việc tĩnh tâm mà thôi.
 
-Người hướng dẫn chỉ đặt vấn đề, nêu lên những gì con người cần để ý mà áp dụng hầu nhận biết chính mình, nhận biết mình là ai, thế nào, có liên hệ gì với Thiên Chúa. Nghe giảng mà không áp dụng, thực nghiệm thì cũng giống như nghe giải thích về thực phẩm mà không ăn; đói vẫn hoàn đói chẳng lợi ích chi. Bởi thế, TĨNH TÂM, CẤM PHÒNG là cơ hội hay thời gian để tự mình nhận định lại chính mình. Đối với những người theo Kytô giáo thì sự nhận biết về chính mình theo sự hướng dẫn của Phúc Âm. Bất cứ sách vở  nào, bất cứ sự giải thích nào ngoài Phúc Âm đều không phải ý Chúa, đều không phải là những lời giảng dạy của Đức Giêsu, mà chỉ là ý nghĩ của loài người, Phúc Âm gọi là Satan. “Satan, xéo khỏi mặt ta, ngươi là cớ cho ta vấp phạm vì ý nghĩ của ngươi là ý nghĩ của loài người, không phải là ý của Thiên Chúa.” ĂN NĂN, CẢI THIỆN, LÒNG THỐNG HỐI
 
-Có lần nào đó với ý ngay lành, vô tình nói đôi câu, không ai để ý, chẳng phiền lòng ai nhưng cho tới giờ mình vẫn còn ăn năn
 
-lấy tờ giấy, chia đôi, ghi về mình, tốt xấu thế nào
 
-Chấp nhận chính mình vì không có những tốt, xấu đó, không phải là mình
-Không chấp nhận người khác do không chấp nhận chính mình, muốn người khác bổ xung hoặc hoàn thành những gì mình thiếu sót
 
-Càng yêu thương ai càng làm khốn khổ người đó và càng làm khốn khổ chính mình. Yêu thương, chấp nhận người đó như chính họ, không được phép, không có quyền lạm dụng bất cứ gì để ép họ trở nên theo ý mình.
 
-Chuyện người con hoang đàng, người con tốt lành đã không nhận thực vị thế của mình, chúng ta cũng thế.
 
-Nhận biết sự hiện diện của Chúa nơi mình....
 
-Mình phạm tội, Chúa có phạm tội với mình không?
 
-Không lạm dụng sự thánh thiện
 
-Bất cứ gì làm tổn thương đến mình hoặc người khác dù chỉ là ý nghĩ, chính mình đang làm tổn thương đến mình và xúc phạm đến Thiên Chúa nơi mình.
 
-Thực lòng ăn năn là nhận biết mình đã quá ngu muội nên phạm đến sự thánh thiện của Chúa nơi mình.
 
-Ta đến không phải đem an bình nhưng gây chia rẽ, con trai chống đối cha, con gái với mẹ, nàng dâu, mẹ chồng. Ham muốn thế tục và sự thánh thiện nơi con người.
 
Ngày thứ 3
 
-Không muốn nói về hôn nhân vì hôn nhân thuộc về luân lý con người. Phúc Âm không đề cập gì đến hôn nhân mà dùng trường hợp hôn nhân để nói lên sự liên hệ bất khả phân ly của hồn và xác.
 
-Nói có sách, mách có chứng nên thường đụng chạm... bởi dẫu sao, khi mình muốn che dấu mặt trái của mình nên nêu những câu hỏi để bào chữa. Đàng khác, những trường hợp cá nhân nêu lên không thể dùng làm phương thức cho mọi người.
 
-Có câu nói, nếu bạn muốn có người phối ngẫu lý tưởng thì bạn phải là người lý tưởng trước hết. Bình thường chúng ta muốn người khác trở nên vẹn toàn để lạm dụng do đó không bao giờ có ý nghĩ mình phải sống thế nào để trở nên lý tưởng đối với người phối ngẫu hoặc vẹn toàn để có một gia đình hạnh phúc.
 
-Ai cũng thường nghĩ hạnh phúc là những gì hợp ý và có lợi cho mình. Hạnh phúc là trạng thái tâm hồn phấn khởi khi thực hiện mơ ước nào đó mà thôi.
 
-Không ai xấu như vợ mình và chẳng ai đểu bằng chồng mình.
 
-Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng -Thực trạng con người: đàn ông thích và cần đàn bà và đàn bà thích và cần đàn ông. Thực trạng gia đình, đàn ông đối nghịch đàn bà và ngược lại.
 
-(Những bí ẩn cuộc đời) Hôn nhân là môi trường và cơ hội tuyệt vời nhất để con người trả giá và nhận biết những thiếu sót, lầm lỗi của mình đồng thời thánh hóa chính mình. Những ai cảm thấy cuộc sống hôn nhân là địa ngục thì chính tâm hồn của người đó là địa ngục.
 
-Tôi không có vợ nên không biết những sự tàn bạo của những bàn tay sắt bọc nhung do đó luôn thấy nét nên thơ, hấp dẫn, dịu dàng, dễ thương, dễ mến của phụ nữ.
 
-Tôi không phải chịu cảnh chồng chúa vợ tôi và những phũ phàng nơi tâm tưởng của phụ nữ nên thấy ông nào cũng hạnh phúc vì có vợ săn sóc miếng ăn, thức uống, lo lắng cho chồng con của phụ nữ nên thường nghĩ rằng các ông may mắn.
 
-Nếu sự đối xử giữa vợ chồng, con cái của một người được nhận thức như sự đối xử với chính Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình và nơi mỗi người thì mọi rắc rối hôn nhân tự nhiên được giải quyết. Tuy nhiên, chúng ta đã không đọc Phúc Âm, không suy nghiệm về lời Chúa thì giải quyết những rắc rối thế tục chỉ càng làm sự thể rắc rối phiền hà hơn. Chúng ta chữa bệnh theo lối nếu đau chỗ nào, chặt đứt vất bỏ phần đó thay vì nhận định để kiếm ra nguyên nhân bệnh trạng... lối này sẽ không bao giờ giải quyết được những rắc rối nơi hôn nhân.
 
-Xét thế, bất cứ ai tin theo Đức Giêsu mà không tìm biết về những điều Ngài giảng dạy tức là đã tự lừa dối mình, tưởng rằng mình tin vào Ngài nhưng không biết Ngài dạy mình ra sao để rồi tin theo những sự lừa dụ của kẻ khác.
 
-Do đó, bất cứ ai không chịu tìm biết, suy nghiệm về Phúc Âm, tất nhiên đã không tin theo Đức Giêsu mà chỉ hùa theo những lời kẻ khác nói hy vọng được yên lòng bởi e sợ bị luận phạt mà thôi.
 
ĐỨC GIÊSU DẠY CHÚNG TA NHỮNG GÌ?
 
-Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài. (Mt. 6:33)
 
-Ta còn phải rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho các thành khác nữa vì đây là mục đích ta được sai đến. (Lc. 4:43)
 
-Kẻ nào tin vào ta thì làm được những việc ta đã làm và còn làm được những việc lớn lao hơn thế nữa.
 
-Kẻ nào bảo núi này xê đi, nhào xuống biển mà trong lòng không nghi ngại nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra thì chuyện sẽ thành cho người đó.
 
-Khốn cho các người, biệt phái và ký lục. Các người cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các người không vào đã rồi mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản.
 
-Tin mừng nước trời
-Thiên Chúa là gì, thế nào
-Nước trời là gì?
-Tin Mừng -Đức tin, lòng tin.
 
 
 
GIÁNG SINH 1999-2000 (đại khái)
 
Hôm nay chúng ta mừng ngày sinh nhật của Đức Giêsu. Bình thường, khi tham dự những cuộc hội họp hay đình đám, sự hiện diện của chúng ta mang rõ ràng một mục đích nào đó, hoặc là vì mang ơn hay cảm mến, hoặc có chủ đích riêng hay vì sự thể không cho phép vắng mặt với bất cứ lý do nào. Đặt vấn đề như thế, tôi mời gọi mỗi người tự nhận biết ý định hay chủ đích về sự hiện diện của mình lúc này nơi nhà thờ khi mừng lễ giáng sinh.
 
Nếu nói rằng chúng ta hy sinh thời giờ, tạm gián đoạn cấc công việc làm ăn sinh sống để tuân theo luật giáo hội buộc thật quả là vô ích vì điều này chỉ nói lên sự e sợ bị phạt do không tuân giữ lề luật. Nếu nói vì thói quen hoặc không tham dự thánh lễ hay không tổ chức ngày giáng sinh sẽ bị những người chung quanh chê cười hay nói nọ kia thì cũng chẳng hơn gì bởi mình đã không dám sống thực với lòng mình mà đương nhiên chấp nhận trở thành nô lệ cho những lời phê bình hay quan điểm của người khác. Điều này chứng tỏ mình đã không biết mình sống để làm gì và chủ đích của cuộc đời mình ra sao... Đại khái, dùng lý luận đạt tới nhận thức và nhận thực nơi lòng mình, chúng ta thấy rằng sự hiện diện của mình khi mừng lễ giáng sinh được đặt trọng tâm nơi Đức Giêsu; Ngài đã nhập thể hơn kém hai ngàn năm qua.
 
Nhận xét như vậy, câu hỏi khác được đặt ra, đó là tại sao chúng ta mừng lễ sinh nhật Đức Giêsu? Mừng lễ giáng sinh của Ngài mang ý nghĩa gì? Tại sao những ngày sinh nhật của các vị khác đã có quyền cao chức trọng, hoặc được nhiều người tôn sùng chúng ta lại không để ý tới? Chắc chắn, câu trả lời đầu tiên sẽ là vì chúng ta là người Công Giáo, những người đang bước theo đường tâm linh được gọi là hành trình đức tin Ngài đã rao giảng, và những lời rao giảng của Ngài vẫn còn được ghi lại nơi bốn Phúc Âm. Suy đến đây, câu hỏi hóc búa thách đố mỗi người chúng ta; vậy Phúc Âm nói về những vấn đề nào? Mục đích hay nhiệm vụ của Đức Giêsu là gì nơi trần thế?
 
Phúc Âm thánh Luca đoạn 4 câu 43 được viết, "Ngài bảo họ: 'Ta còn phải đem tin mừng nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì mục đích này mà Ta đã được sai đến.'" Tôi muốn nhắc lại, Phúc Âm cho chúng ta biết, Đức Giêsu được sinh ra với mục đích rao giảng tin mừng nước trời. Nhiệm vụ của Ngài nơi trần thế là công bố tin mừng nước trời. Vậy tin mừng nước trời là gì? Cách nào chúng ta có thể sống tin mừng nước trời?
 
Theo Phúc Âm, Nước Trời còn được gọi là Nước Thiên Chúa. Thế nên, muốn biết tin mừng nước trời là gì, chúng ta cần nhận biết nước trời hay nước Thiên Chúa như thế nào. Đàng khác, muốn nhận biết Nước Thiên Chúa, chúng ta lại cần phải đặt vấn đề Thiên Chúa là gì, liên hệ với chúng ta ra sao. Xét như vậy, hành trình nhận biết thực thể tin mừng nước trời rõ ràng đi ngược với chiều hướng đặt vấn đề nhận thức.
 
Mọi người chúng ta không phân biệt sang hèn, giầu nghèo, từ những người thông minh xuất chúng đến những ai chữ nhất bẻ đôi không biết đều có thể nhận thức được đó là mình có một thân xác, có trí khôn để suy nghĩ, tính toán. Có điều, sự kiện rõ ràng ngay trước mắt hoặc ngay nơi chính mình lại bị coi thường nên ít khi chúng ta đặt vấn đề. Thử suy, tại sao chiếc mũi luôn luôn ở giữa mặt của mọi người hoặc không ai có cặp mắt nơi đầu gối hay ở sau lưng. Thêm vào đó, ai cũng có con tim nhịp nhàng đập mà không để ý tại sao hay quyền lực nào làm cho nó đập. Nhận xét xa hơn, sự vật chung quanh nơi cuộc sống, quyền lực vô biên nào đó đang điều hành tạo vật từng giây từng phút. Quyền lực này hiện hữu nơi mọi vật, mọi loài, chúng ta gọi là Thiên Chúa.
 
Đây chính là lý do tại sao chúng ta được dạy Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Nhận thức thâm nghiêm hơn, Phúc Âm thánh Gioan viết, "Ngài có trong thế gian, và thế gian đã nhờ Ngài mà được có, mà thế gian đã không biết Ngài" (Gioan 1:10). Điều này có nghĩa Thiên Chúa là cội nguồn mọi sự. Bất cứ gì có sự hiện hữu đều bởi Thiên Chúa mà ra. Chúa là quyền lực hoạt động mọi chốn, nơi mọi loài, nơi mọi sự hiện hữu, từ ý nghĩ, ý định, ước muốn, ước mơ đến thân xác, hành động, lời nói, và ngay nơi những sự vật vô tri vô giác như cây cối, cát đá, nước sông, nước biển. Nói chung, Chúa ở khắp mọi nơi thế nên nước Thiên Chúa hay nước trời là chính Ngài. Và như vậy, tin mừng nước trời phải là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Thiên Chúa đang hoạt động nơi mọi loài mọi tạo vật; không có sự vật, sự việc nào không có sự hiện diện của quyền lực Thiên Chúa. Có thể nói đây là lý do tại sao Phúc Âm nói đem tin mừng đến cho những người nghèo khó.
 
Tóm lại, tham dự lễ giáng sinh, chúng ta tuyên dương, tuyên xưng sự hiện hữu của Thiên Chúa đang hoạt động nơi mỗi người. Mừng lễ giáng sinh, chúng ta tỏ lòng biết ơn Đức Giêsu đã công bố cho chúng ta nhận biết ngôi vị cao trọng của con người, của muôn loài. Chính Thiên Chúa, chính quyền lực tối thượng đang ngự trị và điều hành từng ý nghĩ, ước muốn, từng lời nói, hành động, từng nhịp đập con tim, từng lời than oán hay khuyến khích phát ra từ cửa miệng con người. Và như thế, bất cứ ai nhận thực được bản thể đích thực của mình chính là Thiên Chúa đang hoạt động, người đó sử dụng được mọi quyền năng trên trời dưới đất. Điều này Phúc Âm nhắc đi nhắc lại nhưng cũng như nhịp đập con tim nơi mình, chúng ta đã bao lâu nay không để ý.
 
Cũng thế, khi tham dự các nghi thức hoặc bí tích Công Giáo, câu đầu tiên các giáo sĩ tuyên xưng "Chúa ở cùng anh chị em," và chúng ta trả lời "Và ở cùng cha." Đây chính là sự lặp lại tin mừng nước trời Đức Giêsu đã công bố, nhưng thường có lẽ ngay cả vị nào soạn sách lễ hoặc các sách nghi thức cũng không để ý mình đã viết xuống điều gì mà coi chừng chỉ cho rằng đó là lời chào cho có vẻ Công Giáo, khác với những lời chào ngoài đời. Bởi vậy, từ nay, chúng ta nên để ý từng lời đối thoại hay cầu nguyện nơi Thánh lễ hoặc những kinh hạt đọc nơi nhà thờ, tại tư gia hay lời cầu nguyện của chính mình. Thiên Chúa đang hoạt động nơi mình, và như thế, con người và sự vật đều là hiện thể của quyền lực tối thượng nơi thế giới hữu hình. Xin Thánh Thần của Đức Giêsu soi sáng cho mỗi người chúng ta nhận biết tin mừng nước trời nơi chính mình, nhận biết quyền lực Thiên Chúa đang hoạt động nơi mình từng giây từng phút amen.
 
 
lời nguyện giáo dân
 
LINH MỤC
 
Hợp với triều thần thánh trên trời dưới đất, chúng ta dâng lên lời tán dương, chúc tụng Thiên Chúa, Ngài đã sai Đức Giêsu đến rao giảng tin mừng nước trời cho mọi người...
 
1- Xin sai Thánh Thần soi sáng mở rộng lòng trí chúng con nhận biết tin mừng nước trời Đức Giêsu đã rao truyền. Chúng con cầu xin Chúa...
 
2- Xin giúp chúng con biết ý thức về giá trị con người và cuộc đời đã được ban cho. Chúng con cầu xin Chúa....
 
3- Xin đoái nhìn đến dân Việt chúng con đang sống lầm than vất vả nơi quê nhà và những anh chị em chúng con đang sống tha hương rải rác trên toàn cầu. Chúng con cầu xin Chúa...
 
4- Xin chữa lành những vết thương lòng nơi mỗi người chúng con. Xin giúp chúng con biết nhận thức sự hiện diện của Chúa nơi chính mình và nơi mọi người. Chúng con cầu xin Chúa...
 
5- Xin thương đến ông bà cha mẹ, anh chị em đã ra đi trước chúng con. Xin trả công vô cùng nơi những người làm ơn cho chúng con. Đặc biệt, xin chữa lành những người bệnh tật phần hồn, phần xác nơi cộng đồng chúng con. Chúng con cầu xin Chúa...
 
6- Chúng con xin Chúa đoái nhận những lời khấn nguyện của chúng con để cầu cho.....
 
LINH MỤC
 
Lạy Thiên Chúa của mọi quốc gia, dân tộc, từ thuở tạo thiên lập địa Ngài đã biểu dương quyền lực và tình yêu thương của Ngài nơi tạo vật. Khi lòng mong ước Đấng Cứu Độ của con người quá khẩn thiết, Ngài đã sai Con Một của Ngài sinh bởi Đức Maria. Ngài đã đem đến cho con người niềm vui mừng, an bình, công chính, tha thứ, và yêu thương.
 
Xin Chúa chúc lành  +  cho những ai chiêm ngưỡng máng cỏ này hầu nghiệm xét về sự giáng sinh thấp hèn của Đức Giêsu để nâng lòng hướng về Ngài; Ngài là Thiên Chúa hằng sống và hằng trị muôn đời... Amen.
 
 
 
GIÁNG SINH 2001-02 (Is. 9:2-7; Lc. 2:1-14) Thánh Lễ nửa đêm.
 
Nơi sách tiên tri Isaia qua bài đọc thứ nhất loan báo về nhân cách và đặc tính của Đức Giêsu, “Bởi lẽ một hài nhi đã sinh ra cho chúng tôi, và một người con đã được ban tặng cho chúng tôi. Người đã gánh nhận vương quyền trên vai, và thiên hạ sẽ gọi tên Người là “Cố vấn kỳ diệu, Thiên Chúa huy hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình. Người sẽ mở rộng vương quyền và cảnh thái bình sẽ vô tận.””Chúng ta cũng vừa nghe từ lời Phúc Âm được công bố về sự ngợi khen của đạo binh thiên quốc, “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Lời chúc tụng này chúng ta thường lặp lại nơi mỗi thánh lễ ngày chủ nhật hay các ngày lễ trọng. Chúng ta đều công nhận những lời Kinh Thánh ám chỉ về Đức Giêsu đồng thời nói về triều đại của Ngài.
 
Chẳng những thế, mỗi người chúng ta đều mang nỗi ước mơ được an hưởng cảnh thái bình, công bằng, và thịnh trị đã được quảng diễn nơi các sách tiên tri. Thêm vào đó, đã biết bao sách vở được viết tùy thuộc ngôn từ diễn tả về tính chất vinh quang của triều đại do Đức Giêsu cai trị tạo thành động lực khuyến khích bao người tốt lành, thánh thiện xả thân hăng say dùng cả cuộc đời của họ toan tính và thực hiện những công việc phục vụ nhân sinh hầu phần nào góp phần kiến tạo một thế giới hiện thực theo lời Kinh Thánh.
 
Tuy nhiên, dẫu cố gắng đến mấy, bao công sức cũng như tiền bạc của con người đã đổ ra mà cảnh huy hoàng, thái bình, thịnh trị của một vương quốc đầy mơ tưởng ấy vẫn chừng như chỉ là bánh vẽ. Coi trên tin tức truyền hình, đọc nơi báo chí, sách vở, càng ngày chúng ta càng phải đối diện với muôn nỗi rắc rối và trớ trêu của cuộc đời. Ngưỡng cửa vương quốc của niềm hy vọng vẫn hình như bị mịt mù che lấp trong khi những thực tại đối nghịch với viễn tượng hy vọng tràn ngập và luôn luôn đe dọa tâm trí con người, kiến tạo tâm tình chấp nhận sống cho qua bởi đã được sinh ra thì phải sống, đồng thời buông bỏ niềm ước mơ bởi đã quá mệt mỏi nơi tâm trạng đợi chờ.
 
Bao nhiêu lần Giáng Sinh đến và bao nhiêu lần Giáng Sinh đã qua đi, những lời loan báo nơi sách tiên tri, những điều giảng dạy của Đức Giêsu nơi Phúc Âm qua các bài đọc hình như không đủ năng lực đánh động tâm trí chúng ta, bởi nghe thì nhiều nhưng thực tế chẳng thấy được bao nhiêu nếu không muốn nói là chẳng thấy được gì. Sự thể này xảy đến nơi lòng mỗi người cũng chỉ vì chúng ta đã nhận định lời Kinh Thánh theo nghĩa đen nơi lối nhận thức thế tục.
 
 Như vậy, chính vì nhận thức không đúng đắn, chúng ta đã biến Lời Chúa trở thành mộng tưởng và tự đày ải tâm tư bằng nỗi chán nản, e sợ, đồng thời vô tình chúng ta đã hiểu tin mừng thành tin buồn. Tôi muốn dẫn chứng bằng cách mời gọi mọi người thử suy nghiệm cảm nhận phản ứng nơi lòng mình khi nghe hay nhắc tới danh hiệu Tin Mừng.
 
Thử bình tâm đặt vấn đề, được gọi là Tin Mừng tất nhiên khi nghe hoặc đọc Tin Mừng, lẽ thường tâm hồn chúng ta phải vượng lên niềm vui, tâm tình phấn khởi, tràn đầy hy vọng, và niềm tin tưởng vững chắc mình sẽ đạt được thực thể mang lại niềm hy vọng phát xuất từ Tin Mừng. Chẳng hạn khi đọc một câu chuyện diễu hay tiếu lâm, chúng ta ít nhất có được đôi giây phút cảm thấy vui tươi, ý vị. Đàng này mỗi khi nghe hoặc đọc Tin Mừng chúng ta không cảm thấy được gì hăng say hoặc tâm tình thoải mái để khuyến khích đọc tiếp hay chú tâm suy nghiệm; mà ngược lại hình như có một khoảng tối vô hình bao phủ tâm trí khiến chúng ta nản lòng.
 
Thử hỏi, tâm tình nào đã khuyến khích chúng ta vui tươi hòa nhịp cùng bạn bè trao đổi ý kiến qua lại hoặc nhàn đàm giờ này qua giờ khác? Và tại sao chúng ta có thể nói muôn thứ chuyện nhưng đối với Tin Mừng Đức Giêsu rao giảng chúng ta không bao giờ hoặc rất ít khi đề cập tới? Phỏng vì Tin Mừng Nước Trời không đáng cho chúng ta suy tư hay đặt thành vấn đề? Và phỏng chúng ta đã không nhận biết sự liên hệ hay tầm quan trọng của Tin Mừng Nước Trời nơi cuộc đời của mỗi người? Tôi nghĩ mọi người tôn trọng Tin Mừng nhưng chúng ta đã không để tâm suy nghiệm hoặc vì nhận thức Tin Mừng theo nhãn quan thế tục nên đã trở thành mù tối đối với những lời khôn ngoan nơi Phúc Âm.
 
Hôm nay chúng ta qui tụ mừng lễ Giáng Sinh, mừng ngày sinh nhật của Đức Giêsu, nhân vật chính yếu rao giảng Tin Mừng, rao giảng những lời khôn ngoan được ghi lại nơi bốn cuốn sách được gọi là Phúc Âm. Tôi mời gọi mọi người, thêm một lần nữa để ý tìm hiểu khái quát về cuộc đời và những lời dạy dỗ của Ngài được gọi là Tin Mừng Nước Trời.
 
Xét về cuộc đời trong thân phận con người, nơi kinh cầu chịu nạn chúng ta thường đọc, “Chúa Giêsu ba mươi năm ở cùng Đức Mẹ; Chúa Giêsu ba năm giảng dạy nước Giurêu” nhưng nơi Phúc Âm không ghi lại bao nhiêu năm Đức Giêsu đã sống tại dương thế. Phúc Âm Luca chỉ nhắc tới câu, “Hằng năm cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền theo tập tục ngày lễ” (Lc. 2:42). Phúc Âm Gioan đề cập đến vấn đề tuổi tác không rõ ràng khi Ngài tuyên bố với người Do Thái, “Abraham, cha các ngươi đã hân hoan được thấy ngày của Ta; ông đã thấy và mừng rỡ” (Gn. 8:56). Người Do Thái nói, “Ông chưa được năm mươi tuổi mà ông đã thấy Abraham” (Gn. 8:57). Điều này chứng tỏ khi ấy Đức Giêsu cỡ bốn mươi mấy tuổi. Phúc Âm không diễn tả hình dáng Ngài ra sao mà chỉ ghi lại những lời giảng dạy của Ngài.
 
Theo bốn Phúc Âm, những lời giảng dạy của Đức Giêsu được ghi lại dưới những dạng thức lời khôn ngoan, dụ ngôn, và diễn trình nghiệm chứng được tạm gom tóm thành mấy điểm chính yếu.
 
Điểm đặc biệt, ắt có và đủ cho bất cứ ai muốn suy nghiệm về Phúc Âm đó là điều kiện tâm trí để am hiểu hay nghiệm chứng Phúc Âm. Chẳng hạn, không đổ rượu mới vào bì cũ; không vá vải mới nơi áo cũ; kẻ nào cầm cày mà quay trở lại thì bất kham đối với Nước Thiên Chúa; kẻ yêu cha mẹ, con cái hơn ta không đáng làm môn đệ Ta; để kẻ chết chôn kẻ chết; nếu mắt ngươi, tay ngươi nên cớ vấp phạm cho ngươi thì móc và chặt mà quăng chúng đi; dụ ngôn năm cô phù dâu khờ dại, dụ ngôn cây vả; dụ ngôn người làm việc được trao cho một nén bạc.
 
Đại ý những câu khôn ngoan và dụ ngôn này khuyến khích chúng ta nên mở rộng tâm hồn, không nên lệ thuộc vào những suy tư hoặc lo âu thế tục để suy nghiệm Phúc Âm. Nói theo PhaoLô đó là “Nghiệm xét mọi sự” (1Thes. 5:21). Khi suy tư về những lời khôn ngoan nơi Phúc Âm, chúng ta đặt vấn đề về mọi khía cạnh, nêu lên mọi giả định sao cho có thể áp dụng Lời Chúa nơi từng hoàn cảnh cuộc đời. Ý nghĩa nào mang tính chất hài hòa và có thể áp dụng nơi nhiều lối đối xử khôn ngoan bao nhiêu, càng giúp chúng ta thăng tiến trên hành trình nhận thức Phúc Âm bấy nhiêu.
 
Điểm thứ hai, Đức Giêsu trình bày cho chúng ta về Thiên Chúa. “Thiên Chúa là Thần khí nên những kẻ thờ phượng cũng phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Gn. 4:24). Thiên Chúa sai Đức Giêsu đến gian trần giảng dạy. Nơi Phúc Âm Gioan được viết, “Ta đã phát xuất tự Thiên Chúa và Ta đến; vả chăng không phải tự mình Ta mà Ta đã đến, nhưng chính Người đã sai Ta." Đức Giêsu được sai đến để chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Thiên Chúa mà Đức Giêsu rao giảng nhìn nhận bản thể của con người chứ không xét xử con người theo thị dục nhân loại. Sự trọn lành trước mặt Thiên Chúa không lệ thuộc ý thích, thị dục của con người. "Hãy mến yêu thù địch và khẩn cầu cho những người bắt bớ các ngươi; ngõ hầu các ngươi nên những người con của Cha các ngươi, Đấng ở trên trời, vì Người cho mặt trời mọc trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác... Vậy các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành." (Mt. 5:45; 48).
 
Thiên Chúa thấu suốt và nhận biết tận cõi lòng chứ không xét bề ngoài theo lối nhìn của con người. "Còn ngươi bố thí thì tay trái đừng biết điều tay phải làm, hầu việc ngươi bố thí được giữ kín và Cha ngươi là Đấng thấu suốt nơi kín ẩn sẽ hoàn trả lại cho ngươi" (Mt. 6:3). Chính Thiên Chúa ngự trị, hoạt động và dẫn dắt mỗi người. Đức Giêsu mang nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng Nước Trời, "Trong các tiên tri đã có viết: Hết thảy chúng sẽ là môn sinh của Thiên Chúa. Phàm ai nghe và học nơi Cha thì sẽ đến với Ta" (Mt. 6:45).
 
Từ sự nhận biết về Thiên Chúa, chúng ta nhận biết Tin Mừng Nước Trời và đó là chính Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình; Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đây là điểm thiết yếu Phúc Âm nhắc nhở, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa” (Mt. 6:33). Bởi vì Thiên Chúa hoạt động nơi con người, đức tin là quyền lực của Thiên Chúa nơi mỗi người. Đức tin mang năng lực hoạt động thế nên nhiều lần Đức Giêsu đã rõ ràng công bố, “Đức tin con cứu con; đức tin con chữa con; đức tin con là ơn cứu độ của con.”
 
Từ thực thể đức tin, quyền lực của Thiên Chúa đang hoạt động nơi con người, sự cầu nguyện chính là bày tỏ ước muốn, ý định của mình. Chúng ta hãy để tâm nghiệm chứng lời đoan chắc của Đức Giêsu, “Ta bảo các ngươi, kẻ nào bảo núi này xê đi mà nhào xuống biển mà trong lòng không nghi ngại nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra thì nó sẽ thấy thành sự. Bởi thế Ta bảo các ngươi, mọi điều các ngươi cầu nguyện, kêu xin, các ngươi hãy tin là đã được, các ngươi sẽ thấy thành sự” (Mc. 11:23-24).
 
Và cũng bởi đó, Đức Giêsu khuyên chúng ta, "Còn ngươi khi cầu nguyện thì hãy vào buồng, khóa cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi, có mặt cả nơi kín ẩn; và Cha ngươi, Đấng thấu suốt cả nơi kín ẩn sẽ hoàn trả lại cho ngươi. Cầu nguyện thì các ngươi chớ lải nhải như người ngoại! Chúng tưởng hễ nói nhiều thì sẽ được nhậm. Chớ bắt chước chúng vì Cha các ngươi biết rõ các ngươi cần gì, trước khi các ngươi xin Người" (Mt. 6:6-8).
 
Tóm lại, Đức Giêsu được sai đến, được sinh ra để rao giảng cho chúng ta nhận biết thực thể huyền nhiệm là quyền lực của Thiên Chúa đang hoạt động nơi mỗi người trong cuộc sống mà chúng ta chưa tìm hiểu, chưa suy nghiệm, thế nên chưa nhận biết do đó không thể nào sử dụng được quyền lực này. Thật sự mừng kính lễ sinh nhật Đức Giêsu, chúng ta mở rộng tâm hồn suy nghiệm những lời Ngài giảng dạy và làm sao cho những lời giảng dạy của Ngài trở nên sống động, thực nghiệm nơi cuộc đời mỗi người.
 
Đây chính là lối sống tuyên dương, tuyên xưng Tin Mừng Nước Trời, lối sống theo chân Chúa Giêsu, lối sống chứng nhân, theo ý Chúa, làm vinh danh Chúa, và cũng là lối sống thăng tiến hành trình đức tin. Xin Thần Khí của Chúa hài đồng soi sáng và dẫn dắt mỗi người chúng ta suy nghiệm Tin Mừng và xin chúc quý ông bà, anh chị em một mùa Giáng Sinh vui tươi, an bình trong Đức Kitô. Amen.
 
 
 
MARY, MẸ THIÊN CHÚA (Lc. 2:16-21) ABC
 
Bài trích Phúc Âm theo thánh Luca (Lc. 2:16-21)
 
Các mục đồng hối hả ra đi tới Bethlehem và đã gặp Maria và Giuse cùng Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy rồi, họ nói ra cho biết điều họ đã được phán dạy về hài nhi. Và mọi người nghe đều kinh ngạc về các điều mục đồng đã thuật lại cho mình. Còn Maria thì bà giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các kẻ mục đồng lui về tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì mọi điều họ đã được nghe và được thấy chiếu theo lời đã phán dạy họ. Mãn tám ngày, đến lúc phải làm phép cắt bì cho hài nhi, thì hài nhi đã được đặt ten là Giêsu, chính tên thiên thần đã gọi Ngài trước khi đầu thai lòng mẹ.
Phúc Âm của Chúa
 
Hôm nay chúng ta mừng lễ kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Giáo Hội Công Giáo Mỹ nhận Đức Maria với danh hiệu này làm quan thày và tôn kính vào ngày đầu năm. Ngôn xưng Mẹ Thiên Chúa là danh hiệu Giáo Hội tôn vinh Đức Maria vì ngài đã cưu mang và sinh ra Đức Giêsu, Thiên Chúa nhập thể làm người.
 
Bốn Phúc Âm viết về Đức Maria rất ít. Nơi bài Phúc Âm hôm nay chúng ta thấy chỉ có một câu "Còn Maria thì bà giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng." Tuy nhiên, nếu chúng ta suy gẫm, nghiệm chứng Phúc Âm, chúng ta sẽ nhận được đây là phương pháp thực tiễn cho mọi người nơi hành trình đức tin để đạt tới sự nhận thức sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình. Bất cứ sự việc hay sự kiện nào đều thuộc về hành trình biến chuyển của Thiên Chúa; thế nên nhận định và suy nghiệm về tất cả những biến cố xảy đến trong cuộc đời dưới sự hướng dẫn của Phúc Âm, chúng ta sẽ được thăng tiến về đức tin.
 
Áp dụng sự suy nghiệm Phúc Âm nơi cuộc đời, chúng ta thực hiện điều Đức Giêsu đã tuyên dương, "Này là mẹ Ta và anh em Ta, phàm ai làm theo ý Cha Ta, Đấng ngự trên trời, thì kẻ ấy là anh em và là Mẹ Ta" (Mt. 12:49).
 
Nơi ngưỡng cửa của năm mới, cũng là những ngày đầu của thế kỷ 21 và nhất là nơi bậc thềm của thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta Đức Mẹ, người đã cưu mang Đức Giêsu. Chúng ta cảm tạ Chúa cho một năm qua an bình. Chúng ta cảm tạ Chúa vì năm mới bắt đầu. Chúng ta cảm tạ Chúa vì muôn hồng ân trong cuộc đời, những nỗi khó khăn như những cơ hội thăng tiến tâm linh. Đặc biệt, chúng ta cảm tạ Chúa vì chúng ta được ban cho cơ hội làm người.
 
Nhân ngày kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, mượn lời Phúc Âm, tôi mời gọi mọi người cùng tôi dâng lên ngài lời chào mừng qua kinh Kính Mừng.
 
Kính mừng Maria....
 
 
 
THÁNH GIA THẤT A (Mt. 2:13-15; 19-23) năm 2022 không có
 
Mỗi khi mừng lễ kính thánh gia thất, không ít thì nhiều, chúng ta đều tự hỏi tại sao lại gọi là “Thánh Gia Thất!””Gia thất có nghĩa gia đình. Kinh nghiệm sống chứng minh, cuộc sống gia đình quả không đơn giản chút nào. Không thế sao dân gian có những câu, “Gái có chồng như gông mang cổ; trai có vợ như rợ buộc chân.” Dẫu căn bản của cuộc sống gia đình là sự yêu thương, nhưng chỉ yêu thương mà thôi chưa đủ; bởi nhu cầu cũng như thực tại cuộc sống dồn ép, bắt buộc con người phải đối diện với muôn nỗi khó khăn.
 
Chẳng những thế, khi con người có đầy đủ cơm ăn áo mặc, gặp thời vận tương đối dễ thở một chút, lòng khát khao danh vọng khuyến khích và thách đố chúng ta hoan hỉ bước vào. Ai trong chúng ta không biết câu, “Làm trai cho đáng nên trai, xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan.” Hoặc như Nguyễn Công Trứ để lại nơi những vần thơ đường luật, “Đã sinh ra ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông.” Đối nghịch với cảnh thuận buồm xuôi gió, làm ăn may mắn, là cảnh nghèo khổ, túng bấn làm cơ cực chẳng những thân xác mà còn tạo nên nỗi tủi phận nơi tâm trí.
 
Ai đã một lần đọc qua tập thơ Trần Tế Xương có lẽ không thể nào quên được tâm tình thi sĩ phổ qua vần điệu, “Bốn con làm lính, bố làm quan,” “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ,” hoặc, “Lúc túng toan lên bán cả trời,”” hay, “Năm này ắt hẳn gà ăn bạc, đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu.” Đặc biệt đối với quan niệm người Việt, nếu người đàn ông chẳng may bị rơi vào phận số, “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ,” thì cuộc sống ấm êm, hạnh phúc của gia đình tất phải đương đầu với cảnh “Gà trống thì im hơi lặng tiếng mà gà mái lại cứ te te mà gáy,” hoặc nói theo kiểu người xưa, “Rế lên trên nồi.”
 
Xét thế, cuộc sống gia đình không những tùy thuộc nơi ý thức yêu thương giữa vợ chồng, cha mẹ con cái, điều kiện và hoàn cảnh sinh sống mà còn bị ảnh hưởng nặng nề nơi quan niệm cũng như phong tục và tập quán của con người tùy nơi và tùy thời. Tất nhiên, nơi thân phận con người, gia đình của thánh Giuse, Đức Mẹ, và Chúa Giêsu cũng phải đối diện với những cảnh bầm dập của cuộc đời như mọi gia đình của chúng ta.
 
Dùng danh xưng ”Thánh Gia Thất” nhưng có lẽ chúng ta thường chỉ nghe sao lặp lại như vậy. Để ý đọc Phúc Âm và nhận định nối kết với những danh xưng được dùng hay nhắc nhở nơi phụng vụ và niềm tin tưởng Công Giáo, chúng ta thấy bất cứ những ai cho dù cuộc sống của họ thế nào, có liên hệ với Đức Giêsu đều được gọi là thánh. Và sau khi Ngài lên trời, trong suốt hai ngàn năm qua, bất cứ ai có cuộc sống theo những lời Ngài dạy nơi Phúc Âm cũng đều được gọi là thánh.
 
Xét như thế, chúng ta tuyên dương một số những vị thánh mà cuộc sống theo Phúc Âm của họ được biết tới để làm gương cho dân Chúa noi theo, chúng ta cũng cần nhận thực một điều đó là còn quá nhiều vị thánh có cuộc đời đã qua đi không ai biết tới, và cũng có những vị thánh sống quanh mình nhưng không nhận biết; đồng thời nếu chúng ta sống theo Lời Chúa tất nhiên chúng ta là những vị thánh sống mà thường thì không ai dám nghĩ đến sự thể này. Phỏng chúng ta không dám nhận chân sự thực hay đã bị tuyên truyền, dạy dỗ để có quan niệm tự khinh khi chính mình để rồi không dám nhìn nhận những công việc và tính chất thánh thiện nơi cuộc đời mình để phát triển?
 
Ai trong chúng ta không biết câu nói của thánh PhaoLô, “Anh em không biết thân xác của anh em là ngai tòa của Thiên Chúa sao?” Ai chưa nhận thực được Thiên Chúa ngự trị nơi mình? Ai không thực lòng nhận biết rước lễ là thực sự chịu lấy mình và máu thánh Chúa Kitô. Chúng ta là ngai tòa của cội nguồn mọi sự thánh thiện; chúng ta có liên hệ mật thiết với Đức Giêsu qua bí tích thánh thể; tất nhiên chúng ta là thánh. Sự thánh thiện cả thể là chính Thiên Chúa đang hoạt động nơi chúng ta, nơi mỗi người nhưng bình thường chúng ta vẫn vô tình không để ý. Có lẽ đây là kết quả do chúng ta đã không đọc Phúc Âm và suy gẫm Lời Chúa, thế nên chúng ta không hiểu tính chất của sự thánh thiện nơi chính mình như thế nào chăng.
 
Tôi mời quý vị dùng đôi giây phút suy tưởng về đặc tính của sự thánh thiện. Qua Phúc Âm, Đức Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta, “Các ngươi hãy trở nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành vì Người cho mặt trời soi sáng trên kẻ dữ và người lành và làm mưa trên người ngay cũng như kẻ ác” (Mt. 5:48, 45). Thế nào là trọn lành hoặc thánh thiện? Thực tại cuộc đời cho chúng ta nhận biết lửa tất nhiên phải nóng và đốt cháy hết mọi sự; nước đá thì lạnh; và loại rắn hổ mang chất chứa nọc độc chết người. Nếu lửa không nóng và không thể đốt cháy những vật khác thì không phải là lửa. Nước đá không lạnh tất nhiên không phải là nước đá, và rắn không có nọc độc chết người không phải là rắn hổ mang.
 
Mọi sự, mọi vật đều mang tính chất riêng của chúng và chúng phải như thế, không còn cách nào khác. Chúng không thể nào trở nên bất cứ gì. Vì chúng không thể trở nên bất cứ gì, do đó chúng được gọi là toàn hảo, thánh thiện. Có điều, khi dùng lửa để nấu nướng, thắp sáng, hay sưởi ấm, chúng ta có nhận định hoặc nói lửa tốt. Ngược lại, khi bỏ tay vào lửa chúng ta nói lửa xấu. Như vậy, nhận định về lửa xấu hay tốt tùy thuộc cách sử dụng chứ tự bản chất, lửa không tốt cũng chẳng xấu mà toàn hảo, thánh thiện.
 
Nơi Phúc Âm Gioan có câu, “Chớ xét đoán theo phiếm diện bên ngoài mà hãy nhận định kỹ lưỡng.” Từ nhận xét này chúng ta hiểu được tại sao Phúc Âm viết, “Đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét” (Mt. 7:1). Câu này có nghĩa không nên nhận định theo sự nhận xét bình thường vì chỉ là nhận định một chiều. Chúng ta có thể nói cách khác đại khái, đừng bảo lửa là đúng cũng đừng nói là lửa sai vì như thế chỉ đứng về một trong hai phương diện.
 
Mọi sự mọi vật đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, cội nguồn mọi sự hiện hữu. Như thế chúng ta khởi nguồn từ Thiên Chúa. Chúng ta phát xuất từ cội nguồn thánh thiện là chính Thiên Chúa. Chẳng những thế, chính Chúa đang hoạt động và ngự trị nơi chúng ta. Đức Giêsu đến nhắc nhở cho chúng ta nhận thực điều này, và Tin Mừng Ngài rao giảng chỉ là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 1:23).
 
Và như vậy, mừng kính thánh gia thất, chúng ta tuyên xưng, tuyên dương sự thánh thiện của Thiên Chúa đang hiển hiện nơi mỗi người. Từ nhận thức này có thể nói, Lời Chúa khuyến khích chúng ta hãy là chính mình, hãy nhận biết và phát triển sự thánh thiện của Thiên Chúa nơi mỗi người. Từ khởi điểm này chúng ta mới có thể kiến tạo những gia đình hòa thuận, êm ấm và đồng thời kiến tạo một cộng đồng, một xã hội công chính, giúp đỡ và mang lại lợi ích cho mọi người. Amen.
 
 
 
 
HIỂN LINH 2002 (Mt. 2:1-12) ABC
 
Qua bài Phúc Âm vừa được công bố, chúng ta cần để ý mấy điểm. Trước hết, khi nghe mấy vị đạo sĩ hỏi về vua người Do Thái mới sinh ở đâu, vua Hêrôđê và triều thần bối rối. Vào thời bấy giờ, người Do Thái đang bị La Mã thống trị, nên sự bối rối này có thể là kết quả tổng hợp của một vài nguyên nhân. Hêrôđê và triều thần chỉ là những người làm cho chính quyền La Mã do đó khi nghe đến danh xưng “Vua người Do Thái” chắc chắn họ e sợ sẽ bị mất quyền hành, thế lực sau này. Có thể đây cũng là nguyên nhân tại sao Hêrôđê ra lệnh giết những trẻ em dưới 2 tuổi nơi Bê lem và những vùng phụ cận. Thêm vào đó, vì là chính quyền do ngoại bang đặt để cai trị, Hêrôđê và quần thần không nhận biết hoặc không để ý đến Kinh Torah do đó không biết về niềm đợi trông Đấng Thiên Sai đã được loan báo nơi sách tiên tri.
 
Điểm thứ hai đó là những lời công bố về vị thế một vị Thiên Sai sẽ chào đời tại Bê lem đã được các vị giáo trưởng và luật sĩ người Do Thái kiếm được nơi sách tiên tri. Điểm nổi bật nói về những nhà đạo sĩ từ phương Đông đã nhận biết ngôi sao lạ và được hướng dẫn tới Bê Lem. Điều này nói lên lòng khát vọng nhận biết của con người được thể hiện qua sự quan sát và để tâm nghiệm chứng những sự thể xảy ra chung quanh hay nơi vũ trụ. Từ những nhận định vừa được nêu lên, điều chính yếu Lời Chúa muốn chúng ta để ý nhận biết thánh ý của Ngài cho mỗi người qua cuộc sống hằng ngày để được thăng tiến nơi hành trình đức tin.
 
Kinh nghiệm sống minh chứng, mỗi người chúng ta được sinh ra với lòng khát vọng nhận biết chính mình, nhận biết mình từ đâu đến, mục đích và ý nghĩa cuộc đời của mình là gì và sau khi xác thân chết mình sẽ đi về đâu. Lòng khát vọng nhận biết thực thể con người của mình tuy ít được để ý, có thể nói tưởng như mơ hồ nhưng rất sâu thẳm bởi nó được phát xuất từ sự hiện hữu của con người. Nói cách khác, lòng khát vọng nhận biết thực thể con người chính là lòng khát vọng tìm về Thiên Chúa, cội nguồn mọi sự hiện hữu. Những cố gắng qua bất cứ phương diện nào tùy thuộc thời gian và hoàn cảnh hầu nhận biết về thực thể đích thực của con người được gọi là hành trình đức tin hay hành trình tâm linh.
 
Tuy nhiên bởi có thân xác, con người cần phải lo cho sự tồn tại của xác thân. Con người chẳng những phải lo kiếm lương thực, nơi ăn, chốn ở, quần áo che thân mà còn phải tranh đấu với thiên nhiên hầu bảo vệ sự sống còn. Thêm vào đó, có kiếp người được sinh vào cuộc đời mà cuộc đời đâu phải thiên đường mộng tưởng, con người lại phải đối diện với những điều bất thường chẳng hề bao giờ mơ ước nhưng chúng vẫn xảy đến. Chính bởi phải ngụp lặn, đương đầu với những khó khăn ngập đầy nơi kiếp sống, lâu dần con người tạo thành thói quen, suy nghĩ trong giới hạn thế tục sao cho có cuộc sống khấm khá hơn. Như vậy hệ thống suy nghĩ và áp lực thế tục dần dần che lấp lòng khát khao nhận biết về thực thể chính mình, che lấp nỗi tha thiết nhận biết tâm linh nơi bất cứ ai.
 
Thử nêu lên một thí dụ điển hình nơi cuộc sống. Trong 24 giờ của một ngày chúng ta ngủ bao lâu? Thời gian làm lụng kiếm của nuôi thân xác và gia đình chiếm hết bao nhiêu giờ? Cộng thêm thời gian dọn dẹp nhà cửa và những việc nấu nướng, lặt vặt v.v…, phỏng chúng ta còn được mấy phút suy nghĩ để nhận biết mình là ai? Mình sống để làm gì? Mục đích cuộc đời của mình như thế nào? Mỗi người chắc chắn nhận biết rõ ràng xưa nay mình đã sử dụng cuộc đời mình ra sao.
 
Dường như chúng ta sống theo thói quen qua diễn trình ăn, ngủ lấy sức làm việc, để rồi lại cũng ăn, ngủ, và làm việc. Chúng ta đã quá khổ cực để phụng sự cho thực thể được gọi là sự sống xác thân. Nói cách khác, cũng chỉ vì sự sống xác thân, chúng ta đã đày đọa thân xác để bảo tồn sự hiện hữu của thân xác. Chúng ta tiêu phí cuộc đời để trở thành nô lệ cho sự hiện hữu của thân xác nên đã không biết mục đích của cuộc đời chúng ta là gì. Nói cách khác, chúng ta đã bị sinh ra nên chấp nhận trở thành nô lệ cho sự hiện hữu của thân xác mình. Chỉ cần một đôi phút nhận định, chúng ta sẽ biết được chúng ta đã đánh mất chính mình giữa giòng đời do đó chúng ta đã không biết mình là ai.
 
Phúc Âm nhắc đến các nhà đạo sĩ đã để ý nhận biết ngôi sao lạ nên ra đi tìm vua dân Do Thái. Sự thể này minh chứng, họ đã để tâm nhận biết những sự diễn tiến nơi giòng đời, nơi vũ trụ. Sự để tâm nhận biết này là phương cách nhận biết chính mình, phương cách thăng tiến nơi hành trình đức tin, phương cách tìm hiểu về cội nguồn của sự hiện hữu của mình.
 
Chúng ta có ngôi sao sáng chói dẫn dắt nhưng đã không để tâm nhận biết nên không thấy. Chúng ta không nhận ra ngôi sao chỉ đường bởi chúng ta quá bận rộn duy trì sự sống và tìm nhu cầu thỏa mãn những đòi hỏi của thân xác. Chúng ta không có giờ để nhìn đến “ngôi sao” đang chờ đợi dẫn dắt chúng ta nơi hành trình đức tin. Chúng ta không cần để ý đến nỗi khát vọng nhận biết về chính mình. Chúng ta không cần biết gì về hành trình tâm linh thế nên chỉ mong đợi, ước mơ được cứu độ mà thôi.
 
Chúng ta đợi Chúa đến cứu; chúng ta đợi ai đó cứu thay vì chính mình. Chúng ta có ngôi sao sáng dẫn lối là chính Đức Giêsu và tia sáng là những lời khôn ngoan Ngài để lại nơi Phúc Âm. Ngài soi sáng sự thật đích thực về con người của mình nhưng chúng ta không có giờ để tìm hiểu. Ngài chỉ dạy con đường phải theo nhưng chúng ta không cần biết. Ngài công bố hành trình đức tin nhưng chúng ta quá bận rộn và chật vật với những nhu cầu thế tục. Ngài dọn sẵn cỗ cho chúng ta ngồi vào nhưng chúng ta từ chối tham dự và chỉ tưởng mình có đức tin.
 
Cuộc đời là cơ hội cho mỗi người chúng ta thăng tiến trên hành trình đức tin, hành trình tâm linh. Phúc Âm chứa đựng những lời khôn ngoan như dấu chỉ của thời đại dẫn dắt chúng ta nơi cuộc đời. Hoặc là chúng ta theo Đức Giêsu bằng cách suy nghiệm những lời giảng dạy của Ngài để áp dụng nơi từng trường hợp của cuộc sống thăng tiến đức tin hay không đều tùy thuộc mỗi người chúng ta.
 
Thiên Chúa hiện diện ngay trước mặt mọi người. Chúng ta có sự thật; chúng ta có con đường; chúng ta có sự sống vĩnh cửu là những lời dạy của Đức Giêsu nơi Phúc Âm. Nếu chúng ta chưa nhận biết Chúa thế nào trong cuộc đời, nếu chúng ta chưa nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi chính mình, nếu chúng ta vẫn chưa biết mục đích của cuộc đời mình là gì; những sự thể này là dấu chỉ minh chứng chúng ta không có đức tin, mỗi người vẫn chỉ là những kẻ chết biết thở trong một thân xác có thể di động.
 
Hãy tỉnh thức, ngôi sao sáng đang chiếu trước mặt, bữa tiệc thịnh soạn đã được dọn sẵn, tất cả đang chờ đợi. Bước theo hay không, tham dự tiệc hay không đều tùy thuộc mỗi người. Amen.
 
 
 
CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA A (Mt. 3:13-17) năm 2022 không có. 
 
Mừng kính lễ Đức Giêsu chịu phép rửa, không ít thì nhiều mỗi người chúng ta đều tự hỏi tại sao Ngài phải chịu phép rửa. Chúng ta tuyên xưng Ngài là con Thiên Chúa; chúng ta tuyên xưng Ngài mặc lấy xác phàm như mọi người ngoại trừ tội lỗi; chúng ta chẳng những tôn kính mà còn thờ lạy Ngài vậy tại sao Gioan dám cả gan thực hiện phép rửa cho Ngài? Và vì lý do gì Ngài chấp nhận chịu phép rửa từ tay Gioan trong khi chính Gioan đã phải nói với Ngài, “Chính tôi phải được Ngài rửa thế mà Ngài lại đến với tôi sao?” Chúng ta cũng biết rõ qua Phúc Âm, phép rửa thánh Gioan thực hiện không phải bí tích rửa tội mà chúng ta đã nhận lãnh để trở nên người Công Giáo. Phép rửa thánh Gioan thực hiện được giải thích rõ ràng qua lời công bố, “Phần ta, ta thanh tẩy các người bằng nước để lo hối cải; còn Đấng sẽ đến sau ta, quyền thế hơn ta và ta không đáng xách dép cho Ngài; Ngài sẽ thanh tẩy các ngươi trong Thánh Thần và lửa” (Mt. 3:11-12). Phép rửa thánh Gioan thực hiện chỉ là dấu chỉ bên ngoài minh chứng tâm hồn thống hối và quyết tâm sống ngay thẳng, công chính để chuẩn bị đón nhận những lời giảng dạy của Đức Giêsu, đón nhận Tin Mừng Nước Trời.
 
Qua bài Phúc Âm vừa được công bố, Đức Giêsu đã trả lời Gioan, “Không sao, vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế.” Nơi cuốn Kinh Thánh do linh mục Nguyễn Thế Thuấn dịch được ghi câu trả lời của Đức Giêsu, “Bây giờ cứ thế đã, vì đương nhiên là chúng ta phải làm trọn như thế hết nghĩa công chính.” So sánh ý nghĩa của câu nói giữa hai bản dịch, chúng ta nhận thấy sự chu toàn bổn phận hoặc phải làm trọn hết nghĩa công chính mang đặc tính chiều theo quan niệm luân lý của người đời, tránh những điều dị nghị hoặc lối nhìn khác biệt của dân chúng về công việc rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu thực hiện sau này.
 
Tự kiểm điểm về tâm tình tạo nên thái độ đối với sự nhận biết nơi mỗi người, chúng ta nhận chân một điều; đó là khi phải đối diện với một vấn đề hay ý tưởng hoặc chủ thuyết nào đó chưa bao giờ nghe hay để ý tới, quả thật khó cho một người mở rộng lòng chấp nhận. Chẳng hạn, bất cứ những gì khác với lý thuyết hoặc quan điểm Công Giáo, dầu chưa kịp suy nghĩ nhận định, thoạt mới nghe tới chúng ta đã vội chối bỏ. Chúng ta e sợ suy nghĩ sai lầm; chúng ta e sợ bị cho là sai lầm; chúng ta e sợ phải suy nghĩ; chúng ta không muốn suy nghĩ; chúng ta đóng tai bịt mắt bởi không hiểu thấu đáo hoặc không nhận chân hay nắm bắt được điều mình tin tưởng.
 
Chúng ta không dám mở rộng tâm hồn để suy tư bởi đã bị cấm đoán hoặc đã được chứng kiến những sự kết án vô lý nơi trường hợp xảy đến với người nào đó. Xét như vậy, Đức Giêsu lãnh nhận phép rửa minh chứng lòng ăn năn thống hối vì mục đích rao giảng Tin Mừng. Ngài muốn những người đã thực tâm thanh tẩy tâm hồn chấp nhận những lời giảng dạy của Ngài bởi người thời đó đã chấp nhận Gioan tẩy giả là tiên tri của Thiên Chúa. Dẫu thế, như chúng ta đã biết qua Phúc Âm, Đức Giêsu vẫn bị người ta không chấp nhận và đã dùng mọi mánh khoé đến nỗi nhân danh Thiên Chúa để giết chết Ngài.
 
Cũng qua Phúc Âm, Đức Giêsu đã nói lên vai trò cao trọng của con người trước mặt Thiên Chúa mà xưa nay chúng ta đã khó thể chấp nhận hoặc không dám chấp nhận ngoại trừ những ai đã thực tâm suy nghiệm. Từ những nhận xét này, hành động chấp nhận chịu phép rửa thống hối do Gioan của Đức Giêsu dạy chúng ta nên bình tâm nhìn lại chính mình.
 
Chúng ta thường mang mặc cảm tội lỗi nặng nề do đã không để ý nhận định những sự tốt lành thánh thiện của chính Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mình. Chỉ khi nào chúng ta nhận thực được mình tốt lành ra sao, lầm lỗi thế nào nơi quá khứ để nghiệm chứng sự hoạt động của Thiên Chúa nơi mình, chúng ta mới có thể suy nghiệm và chấp nhận Tin Mừng Đức Giêsu đã đến để giảng dạy chúng ta.
 
Theo chân Đức Giêsu, làm chứng nhân Tin Mừng trong cuộc đời như Ngài đã sai các môn đồ và mọi người, làm chứng tá Nước Trời, chúng ta cũng nên ghi tạc nằm lòng những lời Ngài dạy dỗ. Đức Giêsu không bao giờ khuyến khích chúng ta có những hành động hoặc tâm tư đối nghịch với lòng chân thành yêu thương. Ai trong chúng ta cũng biết lời khuyên dạy của Đức Giêsu nơi Phúc Âm, “Khi người ta vả con má này, con hãy đưa cả má kia nữa;”“”Hãy trở nên thiện toàn như Cha các con trên trời là Đấng thiện toàn vì Ngài sai mặt trời soi sáng cho kẻ lành cũng như người dữ và làm mưa trên người ngay cũng như kẻ ác;” “Ai không đón nhận các ngươi và nghe lời các ngươi thì hãy ra khỏi nhà, hay thành ấy, và rũ bụi khỏi chân;”“”Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, và mọi sự khác sẽ được ban cho các ngươi,” v.v……
 
Tất nhiên, là người Công Giáo, ai cũng biết, chỉ vì rao giảng Tin Mừng người ta đã lên án Đức Giêsu. Họ không những đã nguyền rủa, ném đá, cuối cùng giết Ngài chết treo trên thập tự; mà chính ngay anh em họ hàng thân quyến cũng đã cho rằng Ngài mất trí. Vị thầy chỉ đường dẫn lối cho chúng ta đã bị người đời khinh khi như thế thì sao chúng ta tránh khỏi sự lăng mạ của con cái thế gian. Bởi vậy, nếu để tâm suy nghĩ chúng ta sẽ cảm nghiệm thấu đáo lời Phúc Âm, “Thế gian chỉ ưa chuộng những gì thuộc về nó. Chúng con không thuộc về thế gian, nên người ta sẽ đưa các con ra trước công nghị và lên án vì danh Thầy.”
”
Mừng kính Đức Giêsu chịu phép rửa, chúng ta để tâm suy nghiệm những lời Ngài giảng dạy và noi gương Ngài chấp nhận những gì xảy đến không hài lòng để kiếm tìm thánh ý Thiên Chúa nơi hành trình đức tin do Ngài rao giảng. Xin Đức Kitô sai Thánh Thần của Ngài mở rộng lòng trí nơi mỗi người chúng ta hầu trở nên chứng nhân Tin Mừng Nước Trời. Nguyện chúc quý ông bà anh chị em đạt thành và an hưởng ước mơ nơi những ngày sắp tới. Amen.
 
 
 
CHÚA GIÊ SU CHỊU PHÉP RỬA (Lk. 2:22-40) ABC
 
Bài Phúc Âm được chọn để  mừng lễ Đức Giêsu chịu phép rửa. Giáo lý Công Giáo dạy chúng ta rằng bí tích rửa tội tha tội tổ tông. Khi còn nhỏ chúng ta được dạy, tội tổ tông là tội ông Adong và bà Evà đã không vâng lời Đức Chúa Trời răn mà truyền tội ấy cho thiên hạ. Lẽ đương nhiên, nói về tội tổ tông thì tôi cũng như quí ông bà anh chị em không ai trong chúng ta được chứng kiến hoặc biết thêm chút gì. Tất cả những điều chúng ta được dạy về tội tổ tông, nói cho đúng, chỉ lặp lại đôi câu được viết nơi sách Sáng Thế Ký mà thôi.
 
Xét về tội tổ tông, bất cứ ai có chút suy nghĩ tất nhiên sẽ đặt đôi vấn đề. Giả sử, nếu Chúa không dựng nên bà Evà thì lấy ai ăn trái cấm để truyền tội cho chúng ta? Và cũng giả sử, nếu Chúa không dựng nên cây trái cấm thì bà Evà sao có thể ăn trái của nó? Thêm vào đó, cũng giả sử vì Chúa quên rào cây trái cấm nên bà Evà mới có cơ hội đưa tay hái trái thì lầm lỗi này phát sinh từ đâu ra? Nếu suy luận theo nghĩa từ chương, vậy tội tổ tông được phát sinh tại vì Chúa quên không rào cây trái cấm hay tại đã dựng nên cây trái cấm hoặc đã tạo dựng bà Evà hay do cả ba sự lầm lẫn cả thể như thế nơi thời điểm tạo thiên lập địa? Suy nghĩ thêm chút nữa, giả sử vợ hay chồng hoặc bố mẹ của chúng ta lỡ vô tình mắc phải việc gì bị tù tội, ai trong chúng ta có thể đi tù thay? Chúng ta đã quá quen với lối suy tư, tội ai người ấy mang, phúc ai người ấy hưởng, và kinh nghiệm sống cho chúng ta biết, ai ăn người ấy no, kẻ nào uống sẽ tự đỡ khát vì nơi cuộc sống con người, có rất nhiều chuyện không ai có thể làm dùm cho ai. Thế nên tội tổ tông vẫn còn là vấn đề khá lớn mà chỉ những ai để ý suy tư nghiệm chứng mới có thể tự giải quyết được bởi không ai có thể suy tư dùm cho ai. Nhiều nhà thần học, luân lý học, xã hội học, tâm lý học, di truyền học, v.v... đã đưa ra những lý thuyết giải thích khác nhau tựu trung ai cũng cố thử minh chứng để tìm cho ra nguyên nhân phát sinh của tội từ thuở ban đầu.
 
Cũng như mọi người, chúng ta thường cho rằng tội lỗi do bởi tính xấu hoặc phát sinh bởi con người xấu đã làm những chuyện chẳng ra gì... thế nên những chuyện được gọi là không may xảy đến chúng ta thường nói là Chúa phạt; bởi vậy không lạ gì đã có những lời ca thán cuộc đời này là lò trui luyện kiếp nhân sinh. Thực tế minh chứng, có những người sống thật tốt lành, không phải chỉ phiếm diện bên ngoài nhưng họ rất thực tâm, thế mà cuộc sống vẫn khổ cực, nhiều khi tai bay vạ gió ào ạt xảy đến. Bởi vậy đã có những cuốn sách đặt vấn đề về việc những sự khốn khó xảy tới cho người tốt lành, tại sao những chuyện đau khổ xảy đến với họ. Điển hình là truyện ông Job nơi Kinh Thánh. Đa số người ta cho rằng tội phát sinh từ sự tự do của con người. Tôi thử đặt vấn đề, nếu khi con tim của mình ngưng đập thì mình còn phạm tội được nữa không? Phỏng ai có thể nhân danh tự do hoặc dùng quyền lực của tự do để ra lệnh cho con tim họ chỉ đập thêm một lần sau khi họ đã chết!
 
Khi suy nghiệm về bài Phúc Âm vừa được công bố, tôi tự hỏi Đức Giêsu có mắc tội tổ tông không mà sao phải chịu phép rửa? Tại sao nơi bốn Phúc Âm không thấy ghi lại Đức Giêsu rửa tội cho bất cứ ai, ngay cả thánh Giuse; ai đọc Phúc Âm sẽ nhận thấy điều này. Đức Giêsu chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh thần thì sao có thể mắc tội tổ tông; mà đã không mắc tội tổ tông đâu cần chịu phép rửa nếu nói theo giáo lý Công Giáo. Như quí ông bà anh chị em đôi khi được nghe giảng giải về việc Đức Giêsu chịu phép rửa để làm gương cho chúng ta, hoặc nói theo một số lời nguyện, khi Đức Giêsu chịu phép rửa Ngài thánh hóa tất cả các nước sông nước biển. Đây chỉ là những ý kiến được viết hoặc nói thành lời của một số người chứ không phải lời Phúc Âm.
 
Xin quý vị nhớ rõ điều này. Cũng như tôi đang chia sẻ suy tư và nhận định của tôi về bài Phúc Âm với mục đích khích lệ hay khuyến khích quý ông bà anh chị em đọc và suy tư về Phúc Âm mà thôi. Điều rõ ràng, tôi không thể giúp gì được cho quý ông bà anh chị em vì chính Thiên Chúa, chính Thánh Thần Thiên Chúa đang làm việc nơi quý ông bà anh chị em. Vấn đề chỉ là quý ông bà anh chị em có chấp nhận để Chúa làm việc nơi mình hay không. Nói cách khác, chúng ta có sử dụng trí suy nghĩ của mình, sử dụng hồng ân đã được ban cho để đặt tâm điểm nơi Phúc Âm hay không. Đã nhiều người nói với tôi, họ không hiểu gì, không biết suy luận thế nào về Phúc Âm. Tôi chỉ có thể trả lời, hãy đặt những câu hỏi khi thấy Phúc Âm được viết không hợp lý, không hợp tình và tìm câu trả lời sao cho hợp lý hợp tình, một lần chưa được, cứ cố suy luận cho đến khi nào có câu trả lời thuận và có thể áp dụng trong nhiều trường hợp thì đó là suy nghiệm Phúc Âm.
 
Xét về việc Đức Giêsu chịu phép rửa, chúng ta nhận thực rõ hơn đó là phép rửa do chính thánh Gioan Tiền Hô đề xướng chứ không phải Đức Giêsu thiết lập và phép rửa này thuở ban đầu cũng không phải là phép rửa tội của Giáo Hội Công Giáo vì lúc đó chưa có tổ chức nào được gọi là Công Giáo. Phép rửa do thánh Gioan Tiền Hô thực hiện và Đức Giêsu chịu rửa là nghi thức xám hối những lỗi lầm, nói lên sự chuyển hướng tâm hồn, mở rộng tâm hồn để chấp nhận tin mừng mà Đức Giêsu rao giảng sau này. Thế nên, Đức Giêsu chịu phép rửa có mục đích riêng của Ngài, chỉ Ngài biết, Phúc Âm không nói lý do tại sao Đức Giêsu chịu phép rửa mà chỉ chép Đức Giêsu trả lời, "Bây giờ cứ thế đã, vì đương nhiên là chúng ta phải làm trọn như thế hết nghĩa công chính" khi Gioan nói rằng chính ông ta cần được Đức Giêsu rửa cho mà thôi. Và Phúc Âm được viết thêm, "Bấy giờ Gioan mới để mặc Ngài."
 
Tóm lại, Đức Giêsu chịu phép rửa không phải để được tha tội tổ tông. Phúc Âm không viết về việc Ngài rửa tội cho ai trong suốt cuộc đời của Ngài nơi trần thế. Phúc Âm chỉ ghi lại thánh Gioan nói rằng Đức Giêsu "sẽ rửa anh em trong Thánh Thần" như chúng ta vừa được nghe nơi bài Phúc Âm. Điều chúng ta nên để ý đó là chính thánh Gioan Tiền Hô phát khởi phép rửa như một dấu hiệu tỏ lòng thành, thay đổi lối suy tư cũ để đón nhận tin mừng nước trời do Đức Giêsu rao giảng. Đây là lý do tại sao chúng ta gọi ngài là Gioan tiền hô. Như vậy, muốn nhận biết, muốn cảm nghiệm được rửa trong Thánh Thần sẽ như thế nào, chúng ta cần suy nghiệm Phúc Âm vì chỉ những ai suy nghiệm Phúc Âm mới nhận ra được sự rửa trong Thánh Thần của Đức Giêsu. Amen.
 
 
 
CHỦ NHẬT 2A Thường niên (Gioan1:29-34)
 
Bài phúc âm vừa được công bố nói về việc Gioan Tẩy Giả làm chứng với các môn đồ của ông về đức Giêsu. Phúc âm Gioan là phúc âm nghiệm chứng, nghiệm xét; những gì được viết nơi phúc âm Gioan là thành quả của hành trình nghiệm xét trong khi chiêm nghiệm. Tôi nói chiêm nghiệm chứ không phải chiêm niệm. Chiêm nghiệm là suy tư, lấy kinh nghiệm, sự hiểu biết, tri thức, học thức của mình làm phương tiện để suy tưởng, suy tư, suy nghĩ, dẫn đến sự thể, kết luận hợp tình hợp lý. Đây là hành động tâm linh được phúc âm Marcô gọi là “Metanoia” nơi tiếng Hy Lạp mà các học giả Kinh Thánh dịch thành “Sám hối hay hối cải” trong câu, “Sau khi Gioan Tiền Hô đã bị nộp, thì đức Giêsu đến xứ Galilê, rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa mà rằng, ‘Thời buổi đã mãn, và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc. 1:14-15).
 
Động từ “Metanoia” nơi tiếng Hy Lạp có nhiều nghĩa. Nghĩa gốc của nó là, thay đổi hướng đi, chiều hướng; các nghĩa phụ là, suy nghĩ khác thường, cải tạo tư tưởng, thay đổi tư duy, ăn năn thống hối, hối cải. Nơi cuốn Kinh Thánh Tân Ước do 14 vị học giả Kinh Thánh biên soạn và được in ra năm 1994 tại Sài gòn, phần ghi chú được viết, “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng: Từ Hy lạp Metanoia theo nghĩa gốc là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng, hối tiếc, hối hận. Ở đây, chắc phải hiểu sám hối (metanoia) theo chủ đề căn bản trong Cựu Ước, cách riêng, từ ngôn sứ Giêrêmia: thay đổi hướng đi, triệt để quay về với Thiên Chúa của Giao Ước và dấn bước vào một cuộc sống mới. Đức Giêsu còn kêu gọi dân chúng lấy đức tin mà đón nhận toàn diện thông điệp Người công bố.” Theo sự ghi chú này, ngôn từ “Sám hối” nơi phúc âm Marcô, có lẽ mang nghĩa suy tư, nghiệm xét, chiêm nghiệm. Riêng ngôn từ chiêm niệm có nghĩa vừa tụng niệm vừa chiêm ngắm. Tụng niệm để không bị chia trí hầu định tâm. Lý do rất dễ hiểu, bất cứ ai để ý một chút cũng có thể nhận ra; đó là tâm trí chúng ta luôn luôn khơi động, hoạt động, chuyển động, như con ngựa hoang; trong khi suy tư, nghiệm xét, hoặc chiêm ngắm cần định tâm, cần dồn hết tâm trí vào một vấn đề nào đó.
 
Phúc âm Gioan viết; Gioan Tẩy Giả nói, “Chính Ngài là Đấng tôi đã nói, ‘Sẽ đến sau tôi, một người đã vượt trước tôi, vì Ngài đã có trước tôi. Phần tôi, tôi đã biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra cho Israel, mà tôi đã đến thanh tẩy bằng nước” (Gioan 1:30-31). Như vậy, đoạn phúc âm Gioan này muốn dùng lời nói của Gioan Tẩy Giả để giới thiệu đức Giêsu với chúng ta. Tuy nhiên, làm sao chúng ta có thể biết được đức Giêsu thế nào, thực sự ra sao, chúng ta cần suy tư, nghiệm xét lời Ngài rao giảng. Chúng ta cần suy tư, cần nghiệm xét câu, “Thời buổi đã mãn, và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc. 1:14-15). Chúng ta cần suy tư, suy nghĩ lời đức Giêsu công bố tại Galilê; chúng ta cần biết Nước Thiên Chúa là gì? “Đã gần bên” là như thế nào; Tin Mừng đức Giêsu rao giảng là chi.
 
Chúng ta, ai cũng biết Thiên Chúa ở khắp mọi nơi thì tất nhiên, Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa. Kinh Thánh nói, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài,” thì muốn biết Thiên Chúa, chúng ta cần biết hình ảnh của Ngài. Và hình ảnh của Thiên Chúa là chính chúng ta, chình mỗi người. Như thế, muốn biết Thiên Chúa thế nào, chúng ta cần nhận biết chính mình ra sao, tốt lành, thánh thiện hay mưu mô, gian tà thế nào.
 
Nói cho đúng, ai cũng nghĩ, cũng cho rằng không ai biết mình bằng chính mình, nhưng thực tế minh chứng, mỗi người chúng ta chỉ biết được phần nhỏ nào về mình mà thôi. Nơi Âu Mỹ có câu nói, “You are much more than what you can think of yourself.” Câu này có nghĩa, “Chúng ta có giá trị hơn tất cả những gì chúng ta có thể nghĩ về mình.” Tôi đề nghị, mỗi người chúng ta, khi về tới nhà, lấy một tờ giấy, kẻ một đường từ trên xuống dưới chia đôi tờ giấy làm hai phần. Thực tâm, chân thành viết xuống tất cả những gì tốt lành, thánh thiện từ ý nghĩ, lời nói, đến việc làm. Bên kia cũng viết tất cả những điều không nên không phải của mình từ ý nghĩ, lời nói tới hành động. Không xét đoán, không kết án; có sao viết vậy. Có điều, mọi người nên chú ý, quý vị nên ngồi trên chiếc ghế có dựa vững chắc nếu không sẽ bị bật ngửa khi viết xong. Tôi nói trước, nếu ai đó thực tâm, chân thành muốn nhận biết về chính mình.
 
Đừng ngạc nhiên khi thấy mình không thể chấp nhận được những gì mình vừa viết ra. Tôi còn nhớ, có lần nhắc tới danh xưng Hội Thánh khi tôi còn đang học nơi trường thần học, linh mục giáo sư lên tiếng, “Hội thánh là dân của Chúa, bao gồm những con người; mà con người thì tội lỗi, nên chúng ta cũng phải gọi là hội tội.” Tôi đề nghị, bình tĩnh, đọc lại bản viết một lần, và mở rộng lòng chấp nhận mình chính là những gì mình viết xuống. Ngay lúc chấp nhận mình bết bát như thế, chúng ta mới nhận chân được Thiên Chúa khoan nhân với mình đến độ nào. Thánh Phao lô nhắc nhở chúng ta, “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 6:19-20). Nhận thực được như thế, câu hỏi được đặt ra, và đó là, nếu Thiên Chúa ngự trị nơi mình, vậy khi mình phạm tội, Chúa có phạm tội với mình chăng? Đặt câu hỏi như vậy, tất nhiên, chúng ta biết chúng ta cần sống thế nào.
 
Vào thời đức Giêsu rao giảng, chắc chắn chưa có ngôn từ Tin Mừng, thế nên, câu nói, “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng,” có nghĩa, “Hãy sám hối và tin vào lời Ta nói.” Chúa Giêsu đã nói gì? Nơi lời rao giảng đầu tiên tại Galilê, Chúa Giêsu nói, “Thời buổi đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần bên. Hãy sám hối, và tin vào Tin Mừng.” Như vậy, điểm chính yếu nơi câu nói chính là, “Nước Thiên Chúa đã gần bên.” Cũng câu này, nơi bản dịch tiếng Anh được viết, “The Kingdom of God is at hand.” Nơi bản dịch tiếng Việt, ngôn từ “Gần bên” hay ngay bên cũng có nghĩa ở nơi, ở trong.
 
Đọc phúc âm Matthêu chúng ta thấy, khi Chúa Giêsu chữa lành một người bị quỷ ám, Biệt phái cho rằng Ngài nhờ chúa quỷ Bêelzêbul để trừ quỷ thì được Chúa trả lời, “Nếu Ta nhờ Bêelzêbul mà trừ quỷ, thì bè phái các ngươi nhờ ai mà trừ quỷ… Ví bằng Ta nhờ Thần Khí Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt. 12:27-28; Lc. 11:20). Nơi phúc âm Luca cũng được viết, “Biệt phái thỉnh vấn Ngài, bao giờ Nước Thiên Chúa đến; Ngài đáp lời và nói, ‘Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền. Người ta sẽ không nói được, ‘Này ở đây hay ở đó;’ vì này, Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17:20-21). Đồng thời, nơi phúc âm Luca, Chúa Giêsu sai bẩy mươi hai môn đồ đi rao giảng, Ngài dặn họ, “Hãy chữa lành các kẻ ốm đau trong thành, và hãy bảo họ, ‘Nước Thiên Chúa đã gần bên (at hand) các ngươi” (Lc. 10:9).
 
Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa ở trên, ở trong, ngay bên các ông; có nghĩa Thiên Chúa ở trên, ở trong, ngay bên mọi người. Nói cách khác, Tin Mừng Chúa Giêsu rao giảng chính là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Điều này cũng hợp với câu phúc âm Matthêu, “Này trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con, và người ta sẽ gọi Ngài là Emmanuel, dịch được là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 1:23). Emmanuel là danh hiệu của đức Giêsu vì Ngài rao giảng Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
 
Thế nên, từ nay, mỗi khi tham dự thánh lễ, chúng ta nên để ý lời chào đầu tiên của linh mục chủ sự, “Chúa ở cùng anh chị em,” và chúng ta thưa, “Và ở cùng cha.” Đây chính là lặp lại Tin Mừng Nước Trời Chúa Giêsu rao giảng cho chúng ta. Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi quý ông, quý bà, quý anh chị em, nơi tôi, nơi mọi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 3A thường niên (Mt. 4:12-23)
 
Không hiểu quý vị cảm thấy hoặc suy nghĩ thế nào sau khi nghe bài phúc âm vửa được công bố. Riêng tôi, cứ tưởng tượng đến cảnh Chúa Giêsu kêu gọi các ông Simon, Andrew, đang quăng chài, và James cùng John, hai người con của ông Zebedee, đang thu gọn lưới với bố, và các ông ấy bỏ ngay mọi sự mà đi theo Ngài, thì lòng ruột tôi cảm thấy ngỡ ngàng và nổi lên nhiều khúc mắc. Thứ nhất, lần đầu tiên gặp Chúa Giêsu trong khi đang làm việc, đang quăng chài bắt cá đem bán hầu có tiền mua thực phẩm hoặc nấu ăn; hay James và John con ông Zebedee đang gom lưới với bố của họ trên thuyền; mà các ông bỏ tất cả đi theo Chúa là điều khó tin. Thứ hai, các ông ấy có công việc tự tại, không lệ thuộc bất cứ hãng xưởng nào mà chính mình tự chủ, ưng thì làm, mệt thì nghỉ, không bị bó buộc mà bỏ đi theo Chúa là điều không hợp lý cũng chẳng hợp tình. Thứ ba, vậy còn vợ con, hoặc bố mẹ trong gia đình, không một lời từ giã lại càng vô lý hơn. Phúc âm không ghi lại ít nhất lời chào hỏi của Chúa Giêsu với ông Zebedee, bố của hai ông James và John, nhưng lại viết các ông bỏ lại bố và thuyền đi theo Chúa Giêsu ngay lập tức. Tôi nghĩ, soạn giả phúc âm Matthêu viết còn quá nhiều thiếu sót, ai cũng có thể nhận ra những sự thể phi lý này.
 
Lục lọi tìm hiểu sự hình thành của phúc âm, tôi mới nhận ra, phúc âm được viết bởi một cộng đồng tín hữu và được đặt tên cho dễ phân biệt. Cũng giống như cuốn sách Đạo Đức kinh của Lão học. Xưa nay người ta cứ cho rằng tên tác giả cuốn đạo học Đạo Đức kinh là Lão tử, rồi bày ra truyền thuyết Lão tử đi chỗ nọ, tới chỗ kia để viết sách. Thực ra, danh hiệu “Lão tử” có nghĩa một cụ già đáng kính bởi không ai biết người trước tác sách Đạo Đức kinh là ai nên đặt tên cho tác giả cuốn sách đó là Lão tử. Phúc Âm cũng thế, nếu để ý xăm soi diễn trình phúc âm được viết, chúng ta thấy phúc âm bao gồm những câu nói bất thường, không thể nào áp dụng nơi cuộc đời nhân sinh. Chẳng hạn, “Nếu mắt ngươi làm cớ ngươi vấp phạm thì móc mà quăng nó đi” (Mt. 18:9), hoặc, “Kẻ nào yêu cha mẹ hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta” (Mt. 30:37). Tôi không biết quý vị nghĩ gì khi đọc hoặc nghe được những câu như thế này nơi phúc âm, nhưng biết chắc không ai áp dụng chúng nơi cuộc đời. Bằng chứng, quý vị thấy ngay nơi thực tế, không có bậc vị vọng nào rao giảng phúc âm chột mắt hay cụt tay; cũng như chúng ta, không ai dại dột móc mắt hay chặt tay mình khi vấp phạm điều gì. Đặc biệt các bậc cha mẹ, nếu có con muốn theo Chúa, muốn đi tu thì bị đuổi thẳng cổ ra khỏi nhà, nhưng phải lịch sự, biết điều, chào hỏi, thưa gửi cho đúng phận làm con, dẫu giả đò quyến luyến.
 
Thêm vào đó, những câu truyện ngắn cũng được viết nối tiếp thường được gọi là dụ ngôn. Dụ ngôn chứ không phải ngụ ngôn. Ngụ ngôn là những câu truyện mang ý nghĩa khuyên răn, khuyến khích cách ăn ở, cư xử trong cuộc đời cho phải đạo làm người. Dụ ngôn là câu truyện ngắn thường thì thiếu sót chi tiết và có những câu kết luận phi lý không thể áp dụng nơi cuộc đời thế tục. Nếu để ý, người đọc sẽ bị ngỡ ngàng, chưng hửng, bởi câu truyện được gọi dụ ngôn kể một đàng, khuyên một nẻo; nếu hiểu theo nghĩa từ chương, nghĩa đen, kết cục không thể nào chấp nhận được. Chẳng hạn, dụ ngôn ba người làm công, dụ ngôn mười nàng trinh nữ.
 
Bài phúc âm chúng ta vừa nghe là một dụ ngôn nói về phản ứng nên có của một người khi nhận biết lời mời gọi của Thiên Chúa. Phúc âm không nói Chúa Giêsu hứa hẹn chức quyền hay tiền tài các ông Simon, Andre, James và John sẽ gặt hái được nếu đi theo Ngài, mà chỉ bâng quơ cho biết, “Hãy theo Ta và Ta sẽ cho các ngươi nên ngư phủ bắt người.” Câu này cũng không nên hiểu theo nghĩa đen, từ chương. Mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu chính là rao giảng Tin Mừng Nước Trời như được viết nơi phúc âm, “Ta còn phải đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến” (Lc. 4:43; Mc. 1:38; Mt. 4:23). Thế nên ngôn từ “Bắt người” nơi bài phúc âm có nghĩa, rao giảng cho người ta nhận biết Tin Mừng Nước Trời.
 
Thế đối với chúng ta thì sao? Chúng ta nhận biết được mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Chúng ta tuyên xưng theo Chúa, nhưng thử hỏi theo Chúa là theo thế nào. Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời; vậy chúng ta đã biết Tin Mừng Ngài rao giảng là gì chưa? Thử hỏi, nhà chúng ta có cuốn Kinh Thánh không? Và giả sử có, chúng ta có đọc Kinh Thánh không? Hay đọc ít nhất phần phúc âm không? Thế nên, nếu ai chưa có Kinh Thánh hay ít nhất cuốn Tân Ước Thánh Kinh, làm ơn kiếm đâu đó hay mua một cuốn.
 
Tất nhiên, muốn biết Tin Mừng Nước Trời mà đức Giêsu rao giảng, chúng ta cần biết Nước Trời, Nước Thiên Chúa là gì. Nếu muốn biết Nước Trời, Nước Thiên Chúa là gì, chúng ta cần biết Thiên Chúa là thế nào, liên hệ với chúng ta ra sao. Muốn biết Thiên Chúa thế nào, lại cần biết hình ảnh của Thiên Chúa; vì Kinh Thánh nói, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài” (Sáng Thế K‎ý 1:27). Nghĩa là chúng ta cần biết về chính mình.
 
Chúng ta tin rằng, nghĩ rằng mình có linh hồn; vậy linh hồn của mình thế nào, hình dáng ra sao, màu xanh hay đỏ, tím hay vàng; đã bao giờ mình nhìn thấy linh hồn mình chưa? Linh hồn của mình liên hệ với mình và với cuộc đời của mình ra sao? Chúng ta tin rằng linh hồn có cuộc sống vĩnh cửu; vậy sau khi chết, linh hồn của mình sẽ đi về đâu? Linh hồn liên hệ với Thiên Chúa thế nào?
 
Nơi phúc âm có 8 lần câu nói đại khái “Ai có tai thì nghe;” hoặc “Ai có tai để nghe thì nghe” (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35). Chúng ta, cũng như các nhà khoa học chứng thực tai để nghe. Nhưng hãy kiểm chứng lại, tai có thể nghe tự nó được không? Vậy khi một người chết, linh hồn ra khỏi xác thì tai có còn nghe được không? Sự việc này chứng tỏ tai không thể nghe được tự nó mà chỉ là phương tiện cho linh hồn nghe; vì khi linh hồn đã ra khỏi xác rồi thì tai hết nghe. Tương tự như thế, miệng, mắt, khối óc cũng chỉ là phương tiện cho linh hồn dùng để nói, dùng để nhìn, và dùng để suy nghĩ hay phân giải. Suy nghĩ rộng hơn, cả con người, cuộc đời một người cũng chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động và thăng tiến nơi hành trình được gọi là cuộc sống một người. Thân xác chúng ta không khác gì chiếc xe và linh hồn giống như người lái xe. Hồn lái đi đâu, làm việc gì thì thân xác tuân theo thực hiện ý định của linh hồn.
 
Ai cũng biết một cộng với một là hai; các nhà bác học cũng nói như thế. Nhưng thử hỏi, một cái xác cộng với một linh hồn thì bằng mấy? Ai cũng có thể trả lời một cách chắc chắn rằng linh hồn cộng với thân xác thì bằng một. Nếu ai dại dột nói rằng linh hồn cộng với thân xác bằng hai thành phần riêng biệt coi chừng bị thiên hạ cho rằng nóng đầu. Tuy nhiên, chỉ linh hồn không thì chẳng ai biết, và chỉ thân xác không thì đem ra nghĩa địa mai táng. Nhưng khi một linh hồn hòa nhập vào một thân xác, thì ý định, ước muốn, ý nghĩ, tư tưởng, tham vọng, yêu, ghét phát sinh. Tựu chung, những ý nghĩ, ước muốn, tham vọng này được gọi là tâm trí. Như vậy, một linh hồn hòa nhập vào một thân xác, ít nhất phải bằng ba; ba là một, một là ba. Nói cách khác, một người gồm ba phần bất khả phân ly, linh hồn, xác thân, và tâm trí; một thực thế giống hình ảnh của Thiên Chúa, ba là một, và một là ba bất khả phân ly.
 
Nơi phúc âm Gioan có nói, “Thiên Chúa là Thần Khí, nên những kẻ thờ phượng cũng phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Gioan 4:24), và thánh Phao lô đoan chắc, “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 6:19-20). Nơi khác ngài cũng nhắc nhở, “Anh em không biết sao? Anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 3:16). Thế nên thánh Phao lô nói, “Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gal. 2:20). Những điều này chứng tỏ linh hồn của mỗi người là Thiên Chúa nội tại. Bởi vậy, cuộc đời của mỗi người chúng ta đều là phương tiện cho Thiên Chúa ngự trị và hoạt động.
 
Bài phúc âm khuyến khích chúng ta suy tư, suy nghĩ, về thực thể chính mình để nhận biết cuộc đời của mình chính là hiện thể của Chúa, hoạt động nơi hành trình biến chuyển vĩnh cửu. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 4A thường niên (Mt. 5:1-12)
 
Kinh “Phúc Thật Tám Mối,” chúng ta thường đọc vào ngày chủ nhật, chính là viết lại thành kinh cho thuận cung đọc của bài phúc âm vừa được công bố. Tuy nhiên, phúc âm là sách viết về tâm linh, sách được viết để chúng ta suy nghĩ, suy tư hầu thực hành lời phúc âm, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33). Vì sách được viết để chúng ta suy nghĩ, suy tư nên tất cả những gì được viết nơi phúc âm, đều viết về cách suy nghĩ, suy tư, tức là viết về tinh thần nên có nơi mỗi người. Tìm kiếm Nước Thiên Chúa chính là suy nghĩ xem Nước Thiên Chúa là gì, và điều kiện đầu tiên của việc suy nghĩ để tìm kiếm Nước Thiên Chúa được diễn dịch thành kinh cho chúng ta đọc; đó là, “Thứ nhất, ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật vì chưng Nước Đức Chúa Trời là của mình vậy.” Thực ra, nơi phúc âm được viết như chúng ta vừa nghe, “Phúc cho những kẻ có tinh thần khó nghèo; vì Nước Trời là của họ” (Mt. 5:3). Vậy “Tinh thần khó nghèo” là gì? Làm sao áp dụng tinh thần khó nghèo vào việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Hơn nữa, phúc âm nói gì về “Tinh thần khó nghèo?”
 
Nơi cuốn sách, Cái Cười của Thánh nhân, cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần, dịch câu này không biết từ ngôn ngữ nào thành, “Phúc thay những kẻ ngu đần;” thì cũng chẳng khác gì nơi kinh chúng ta đọc, “Ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật.” Xét nơi phương diện suy nghĩ, suy tư, ngu đần thì sao mà suy tư, lòng khó khăn lại thuộc về cuộc sống hữu vi, không hợp cho suy nghĩ, tìm tòi, tìm kiếm. Thử xét về ước muốn, ý nghĩ, ước mơ của bất cứ ai; chúng ta thấy, ai cũng thế, có cái chòi để ở, chúng ta muốn có căn nhà khang trang hơn. Các bà, các chị, ai không thích hình dáng, gương mặt mình coi bộ mặn mà hơn, quần áo thanh lịch hơn. Nhưng, thật là nghịch thường, có bà, có chị nào dư giả được chút ít, ghé qua viện thẩm mỹ để sửa sang vóc dáng, bơm ngực, sửa cằm, xâm mắt, xâm môi, chúng ta gọi là “Sửa sắc đẹp.” Thử hỏi, đã đẹp rồi mắc mớ gì phải sửa, chẳng lẽ sửa cho xấu hơn. Thế mà chúng ta vẫn gọi là “Sửa sắc đẹp.” Ấy, ngôn ngữ lắm lúc phát biểu tréo ngoe như vậy. Nơi sách cổ gọi là “ý tại ngôn ngoại,” nói một đàng, hiểu một nẻo.
 
Ngôn từ được dịch nơi phúc âm cũng thế. “Tinh thần khó nghèo” là tâm tính đơn sơ, chất phác, chỉ chăm chăm chú chú nơi một vấn đề nào đó; chẳng khác gì đứa bé muốn một thứ gì thì không để ý chi tới mọi sự chung quanh. Đây là lý do phúc âm được viết, đức Giêsu nói, Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó; vì nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy” (Mc 10:14). Xét thế, câu phúc âm, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa,” có thể được viết thành, “Việc quan trọng nhất của một người đó là hãy chăm chú tìm kiếm Nước Thiên Chúa.”
 
Thánh Phao lô cũng khuyên chúng ta, "Đừng dập tắt Thần Khí! Chớ khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào" (1Thes. 5:19-22). Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mọi người; thế nên, công việc đầu tiên để thăng tiến đời sống tâm linh, thăng tiến hành trình đức tin, hành trình nhận biết Thiên Chúa nơi mình là suy tư, suy nghĩ về sự hiện diện của Chúa nơi cuộc đời mình. Khi suy nghĩ về sự hiện diện của Chúa nơi mình, thì không để cho bất cứ tư tưởng, ý nghĩ, ham muốn nào khác chen vào làm phiền tâm tư như thánh Phao lô đề xuất, "Hãy coi chừng đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô" (Col. 2:8). 
 
Tinh thần khó nghèo chính là tâm tư luôn để ý nhận biết Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình.
 
Hoạt động của Thần Khí Thiên Chúa chính là những suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét nơi mỗi người. Đừng dập tắt Thần Khí có nghĩa hãy suy tư, suy nghĩ bất cứ điều gì và suy nghĩ về mọi phương diện. Chúng ta nên để ý, khi chúng ta suy nghĩ, những tư tưởng tự nó hiện hữu, nó là hoạt động của Thần Khí; nó không đúng, không sai, ngoại trừ tâm trí chúng ta chiều theo  ý nghĩ đó, hoặc nói ra cho người khác biết. Nhiều khi nó rất nghịch với ước muốn của mình; hãy để nó tự nhiên đến rồi đi. Cũng như nhiều chuyện xảy ra nơi cuộc đời, chúng ta biết những chuyện đó xảy ra chung quanh nhưng không để tâm đến, sẽ không có gì ảnh hưởng chúng ta.
 
Chớ khinh thị các ơn tiên tri có nghĩa chính những tư tưởng, ý nghĩ đến với chúng ta khi suy nghĩ. Tất nhiên, mọi sự kiện, sự việc xảy đến đều có nguyên nhân. Những ý nghĩ, tư tưởng xảy ra khi suy tư, suy nghĩ đều có lý do của chúng tùy thuộc điều kiện hiện tại mình đang hiện diện. Chẳng hạn lúc đang giặt quần áo mà tâm trí mình suy nghĩ về sự nóng giận hay vui tươi nơi mình ở một hoàn cảnh nào đó. Tâm trí của mình sẽ hoặc nhớ lại nguyên nhân tại sao mình đã tức giận hay vui tươi. Rồi sự suy nghĩ nhận biết nguyên nhân này, sẽ dẫn tâm trí chúng ta đến quyết định thái độ mình nên như thế nào nếu trường hợp tương tự xảy ra. Đây là hành trình nhận thức sự việc. Dù bỏ quần áo, xà bông vô máy giặt và vặn nước cho máy chạy hay giặt quần áo bằng tay, tâm trí chúng ta vẫn có thể suy nghĩ, tâm trí chúng ta vẫn có thể để ý suy luận về vấn đề nào đó. Nơi hành trình tâm linh, hành trình đức tin cũng thế, tâm trí chúng ta chuyên nhất suy nghĩ về vấn đề linh hồn mình là gì, liên hệ đến thân xác, cuộc đời thế nào v.v… được gọi là tinh thần khó nghèo.
 
Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; nghiệm xét mọi sự có nghĩa bất cứ sự gì, ý nghĩ, tư tưởng nào phát xuất hay xảy đến khi suy nghĩ đều nên nhận định, suy xét xem có hợp lý, hợp tình với đường hướng mình đang suy tư, suy nghĩ hay không. Bất cứ những gì hợp lý, hợp tình thì được gọi là điều lành. Những gì không hợp lý, hợp tình, không thể chấp nhận được với tâm ý chân thành, tốt lành đều bị coi là điều dữ, hãy để nó thoáng qua và tự sinh tự diệt. Chẳng hạn, đang có một món tiền đủ để mua chiếc xe mới hoặc đưa gia đình đi một chuyến du lịch. Tất nhiên, tâm trí chúng ta sẽ có những tính toán hơn thiệt để quyết định nên xử lý món tiền đó như thế nào. Dĩ nhiên, nếu thấy sự việc nào hợp lý, đem lại lợi ích cho mình và gia đình hơn, chẳng hạn dùng tiền mua xe mới, thì ý nghĩ đưa gia đình đi du lịch sẽ tự động bị bỏ qua, không gì ảnh hưởng. Tương tự như thế, khi suy tư, suy nghĩ, bất cứ những ý nghĩ, tư tưởng, ham muốn nào làm phiền hoặc bất lợi, không hợp tình hợp lý với diễn trình suy tư, đều được coi là điều dữ.
 
Thánh Phao lô còn đề nghị nguyên tắc trong lúc suy nghĩ, suy tư, và đó là nên có một tâm trí hoàn toàn tự do; nói cách khác, đó là tự do tuyệt đối khi suy nghĩ, nghiệm xét. Trước hết, “Đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian.” Một điều rõ ràng và đó là tất cả mọi ý nghĩ, tư tưởng, ý thích, tham vọng, ý đồ, dục vọng, chiều hướng, quan niệm v.v… bất cứ gì cũng có thể xảy đến nơi trí óc khi suy tư, chúng ta không để nó ảnh hưởng đến nhận định, nhận thức của mình, không cho phép bất cứ gì ảnh hưởng đến sự suy tư của chúng ta. Nó đến, nếu hợp lý, hợp tình, có thể chấp nhận được thì dùng nó như điều kiện, yếu tố để tiếp tục suy nghĩ. Nếu nó bất lợi nhưng lại chiều theo ý thích của mình cũng bỏ ngay vì không hợp, không thuận. Khi chúng ta suy nghĩ, chính mình làm chủ quyết định mọi sự, không ai biết, nên tâm trí mình hoàn toàn tự do suy xét, không lệ thuộc truyền thống, lề luật, hay bất cứ thói quen, ý thích hoặc chiều hướng nào. Ưng thì giữ lại, không ưng, không hợp, bỏ qua.
 
Điểm quan trọng nhất nơi điều kiện tâm trí khi suy nghĩ, suy tư chính là “Theo đức Kitô.” Nên nhớ, chúng ta đang nói về suy nghĩ, suy tư, những hoạt động của tâm trí chứ không phải hành động, hoặc việc làm xác thân. Xin mọi người để ý, những câu nói, lời khuyên nghịch thường nơi phúc âm đều nói về những diễn tiến trong khi suy tư, suy nghĩ. Chẳng hạn, “Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm, thì móc mà quăng nó đi,” hay, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta không đáng là môn đệ Ta.” Điều mình đang đối diện, đang suy nghĩ, chẳng hạn, Nước Thiên Chúa là gì, thì tất cả những ý nghĩ, ước mơ, tưởng tượng nào đó đến với tâm trí cũng đều được coi như cha mẹ. Phúc âm dùng tình cảm thân thiết nhất của chúng ta với cha mẹ để ám chỉ bất cứ gì thân thiết, ý thích, hoặc chiều hướng, truyền thống, thói quen của mình ảnh hưởng đến sự suy tư.
 
Khi suy nghĩ về Nước Thiên Chúa là gì, phúc âm nói, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền. Người ta sẽ không nói được này ở đây hay ở đó; vì này Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17: 21), Nước Thiên Chúa đã đến gần (Mt. 10:7; Lc. 9:2: 60; 10:11; 16:20). Nước Thiên Chúa đang hiện diện (Mc. 1:15; Mt. 4:17). Nước Thiên Chúa ở trên các ông (Mt. 12:28; Lc. 11:20). Nước Thiên Chúa ở giữa các ông (Lc. 17:20). Cứ luẩn quẩn với những câu phúc âm này, đối diện với chúng, hôm nay không xong, tiếp tục ngày mai, ngày mai không xong, tiếp tục cứ tự hỏi đến gần là thế nào, ở trên là làm sao, đã ở trong, sao lại còn nói ở giữa, ở trên. Đối diện, để những câu nói này luẩn quẩn trong tâm trí thêm một tuần. Nếu một tuần vẫn chưa gì biến chuyển, cho nó một tháng, và nếu một tháng vẫn chưa có gì mới, cứ tiếp tục; một năm vẫn chưa biết sao, năm tiếp theo. Theo đức Kitô tức là để câu nói nghịch thường, khác thường luẩn quẩn nơi trí óc, nơi tâm trí bất cứ lúc nào dù đang làm việc gì.
 
Tôi chỉ có thể đoan chắc với quý vị, hành trình đức tin, hành trình tâm linh chính là suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét, đối diện với câu nói khác thường, nghịch thường nơi phúc âm, suy nghĩ về bất cứ dụ ngôn phi lý nào đó; chẳng hạn dụ ngôn ba người làm công, dụ ngôn ông chủ vườn nho thuê thợ vào những thời điểm khác nhau trong ngày mà tiền công được trả ngang bằng nhau, chỉ một đồng, hay dụ ngôn mười nàng trinh nữ. Nếu ai thực hành, không sớm thì chầy, sẽ vô cùng ngỡ ngàng, vì chỉ cần nghiệm được một câu, tất cả các câu ngang ngược, nghịch thường khác sẽ được tự động giải đáp; sẽ biết linh hồn mình là gì, thế nào, liên hệ với thân xác ra sao, sẽ biết Thiên Chúa là gì, thế nào nơi cuộc đời mình.
 
Nơi sách Sứ Đồ Công Vụ, nhắc lại lời tiên tri Zoel từ ngàn xưa, “Sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, Ta sẽ đổ Thần Khí của Ta trên mọi con cái xác phàm. Các trẻ sẽ nói tiên tri; người già nằm chiêm điềm mộng, và thanh thiếu niên thấy được thị kiến. Và cả trên các tôi trai, tớ gái của Ta, trong những ngày ấy, Ta sẽ đổ Thần Khí của Ta xuống, và chúng sẽ nói tiên tri” (SĐCV. 2:17-18). Những ngày sau hết, ngày Chúa đến, là thời điểm thức ngộ nơi mỗi người. Chúng ta là con cái của Chúa. Thần Khí của Chúa đổ xuống trên cả các tôi trai, tớ gái của Ngài, tất nhiên, Thần Khí Thiên Chúa đang hiện diện nơi mỗi người. Một điều rõ ràng và đó là sự nhận thức không thể cầu, mà chỉ có thể ngộ. Và sự thức ngộ, nhận thức chỉ đến với những ai suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét lời Chúa. Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật 5A thường niên (Mt. 5:13-16)
 
Các ngươi là muối cho đời. Nếu muối ra dại thì lấy gì muối nó lại. Không còn ích gì, chỉ có việc đổ ra ngoài cho người ta dẫm đạp đi thôi.
Các ngươi là ánh sáng cho thế gian. Cái thành tọa lạc đầu non không thể bị che khuất được. Người ta không thắp đèn rồi đặt nó dưới đất, nhưng để trên giá đèn, và nó sáng soi mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của các ngươi phải chói lọi trước mặt người ta, ngõ hầu họ thấy việc lành các ngươi làm mà tôn vinh Cha các ngươi, Đấng ngự trên trời.
 
Quý ông bà, anh chị em trong đức Kitô,
 
Mới đọc hoặc nghe bài phúc âm vừa được công bố, ai không thấy mình mang một trách nhiệm, một nhiệm vụ cao cả mà đã bao lâu nay không bao giờ để tâm tới, “Các ngươi, các con là muối cho đời.” Có bản dịch viết nhẹ nhàng, ngọt ngào hơn thì được ghi, “Các con là muối ướp mặn đời, các con là ánh sáng cho thế gian.” Thực tâm tự hỏi, mình được mời gọi làm muối ướp mặn đời thì phải làm gì để hoàn thành điều phúc âm khuyến khích, “Cũng vậy, ánh sáng của các ngươi phải chói lội trước mặt người ta, ngõ hầu họ thấy việc lành các ngươi làm mà tôn vinh Cha các ngươi, Đấng ngự trên trời.”
 
Đọc phúc âm nếu để ý, ai cũng nhận biết, điều quan trọng nhất đối với cuộc đời một người tin vào Chúa, tin theo đức Kitô, chính là, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, rồi các sự khác sẽ được ban cho các ngươi.” Bởi vậy, muốn trở nên muối ướp mặn đời, sự việc đầu tiên cần được thực hiện lại là nhận biết Nước Thiên Chúa. Dĩ nhiên, muốn nhận biết Nước Thiên Chúa thì phải tìm kiếm. Tuy nhiên, tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách nào trong khi tối ngày phải làm việc lo sao có miếng cơm manh áo cho cuộc sống nhân sinh; bởi nếu không sống được thì lấy gì mà tìm, mà kiếm.
 
Nơi phúc âm được viết, “Nước Thiên Chúa đã gần bên” (Mt.  10:7; Lc. 9:2; 60; 10:11; 16:20), “Thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần bên, hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc. 1:15; Mt. 4:17), Nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt. 12:28; Lc. 11:20), “Nước Thiên Chúa ở giữa các ngươi” (Lc. 17:20), và  “Thiên Chúa là Thần Khí, nên những kẻ thờ phượng cũng phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Gioan 4:24). Suy như thế, sự tìm kiếm Nước Thiên Chúa chính là suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét phúc âm.
 
Thử hỏi, như vậy, đã bao lâu nay chúng ta có đọc và suy nghĩ về phúc âm để thực hành “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” không? Chúng ta có bao giờ suy nghĩ xem Thiên Chúa liên hệ với mình ra sao không, hay chỉ quen miệng lặp lại những sáo ngữ cho có vẻ con nhà có đạo; miệng hô lên, tuyên xưng tin vào Chúa, tin vào đức Kitô nhưng không biết Chúa là gì, thế nào, liên hệ với cuộc đời mình ra sao. Nói rằng kính mến Chúa nhưng chưa ra khỏi nhà thờ đã lườm nguýt người mình không ưa, đôi khi còn to tiếng nói bóng nói gió cho kẻ khác xấu mặt.
 
Phúc âm dạy, “Các ngươi hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào chủ các ngươi đến” (Mt. 24:42; 25:13; Mc. 13:35). Hãy tỉnh thức có nghĩa hãy suy nghĩ, suy tư, hãy nghiệm xét. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi nên Nước Thiên Chúa chính là sự hiện diện của Chúa ở mọi nơi, nơi mỗi người. Bởi vậy, tìm kiếm Nước Thiên Chúa là suy nghĩ, suy tư, để nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình; nơi cuộc đời của mình. Quyền lực nào khiến con tim mình đập, lá phổi mình thở cho dù trong lúc ngủ mình không còn biết gì đến chính ngay mình. Quyền lực nào khiến chiếc mũi ở trước mặt, ai cũng như ai, không ai có chiếc mũi ở phía sau gáy hay sau lưng. Thiên Chúa chính là sự sống nơi mình, quyền lực hiện hữu nơi mình.
 
Bình thường, chúng ta nghĩ rằng cầu nguyện là phải dành riêng thời gian để bày tỏ ước muốn ý định của mình với Thiên Chúa. Nhưng thực ra, cầu nguyện chính là suy tư, suy nghĩ để nhận thực được sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi cuộc đời của mình, nhận ra những sự cả thể đang xảy ra nơi cuộc đời mình. Hãy tỉnh thức hoặc cầu nguyện liên lỉ (1Thes. 5:17) chính là suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét.
 
Chúng ta có thể suy nghĩ bất cứ lúc nào, làm ruộng, cấy lúa, làm rẫy, cấy rau, rửa bát, quét nhà, giặt giũ quần áo. Làm thì cứ làm nhưng đầu óc bình tĩnh suy tư, nhận định. Như chúng ta biết, suy tư, nhận định từ tâm hồn; bộ óc chỉ là phương tiện cho linh hồn liên hệ với cuộc sống xác thân. Khi hồn ra khỏi xác, bộ óc, mắt tai, mũi miệng, ngay cả xác thân hết hoạt động. Sự thể này minh chứng, thân xác và cả cuộc đời của một người chỉ là phương tiện cho linh hồn học những bài học cần phải học.
 
Như vậy, cuộc sống chính yếu của một người là cuộc sống của linh hồn, được gọi là cuộc sống tâm linh; xác thân và cuộc đời nhân sinh này chỉ là phương tiện. Thánh Phao lô dạy, “Anh em không biết sao, anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em sao” (1Cor. 3:16), và ngài cũng nhắc nhở, “Anh em không biết sao, thân mình anh em là đền thờ của Thánh Thần anh em nhận lãnh từ Thiên Chúa” (1Cor. 6:19). Như vậy, linh hồn của mình chính là Thần Khí của Thiên Chúa; linh hồn là Thiên Chúa nội tại.
 
Nơi phúc âm Gioan có câu, đức Giêsu phán, “Sự sáng thế gian chính là Ta. Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm, nhưng nó sẽ có ánh sáng sự sống” (Gioan 8:12), và Ngài còn bảo, “Khi Ta còn ở thế gian Ta là sự sáng thế gian” (Gioan 9:5). Mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Thế nên sự sáng cho thế gian chính là Tin Mừng Nước Trời. Chúng ta cũng có cùng nhiệm vụ như đức Giêsu, là muối ướp mặn đời, là ánh sáng cho thế gian, là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Bởi vậy, cuộc sống của mỗi người phải là cuộc sống minh chứng sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mình.
 
Thử hỏi, nếu thực sự nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động nơi mình, thái độ, cách sống, lối cư xử, ăn nói, giao thiệp phải thế nào để minh chứng. Có câu nói, “Không làm điều xấu đã khó, không nghĩ đến điều xấu lại càng khó hơn. Là muối ướp mặn đời, là ánh sáng thế gian, là lối sống minh chứng Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động nơi chính mình.
 
 
 
Chủ Nhật 6A thường niên (Mt. 5:17-37)
 
Ngay đầu bài phúc âm vừa được công bố, Chúa Giêsu minh xác, “Đừng tưởng Ta đến để bãi bỏ lề luật hay các tiên tri. Ta đến không phải để bãi bỏ mà là để làm cho trọn” (Mt. 5:17). Đọc nơi sách Nhị Luật hay Thứ Luật và sách Dân Số nơi Cựu Ước, chúng ta thấy, dân Do Thái phải giữ những lề luật khá khắt khe. Chẳng hạn, nơi sách Thứ Luật, đoạn 14, câu 3 được viết, “Ngươi sẽ không ăn vật gì đáng gớm… Nhưng các ngươi sẽ không ăn các giống này trong các loài nhai lại, nhưng lại không có móng xẻ hai: lạc đà, thỏ, cu li, vì chúng thuộc loài nhai lại nhưng lại không có móng xẻ hai. Chúng sẽ là nhơ uế đối với các ngươi. Lợn, vì tuy nó có móng xẻ hai; chúng sẽ là nhơ đối với các ngươi” (Thứ Luật 14:3). Hoặc nơi trường hợp người con bất trị, “Khi một người có con ương ngạnh và ngỗ nghịch, không vâng nghe tiếng cha, tiếng mẹ; cha mẹ sử dạy nó chẳng nghe; thì cha mẹ bắt nó mà điệu ra trước hàng kỳ mục trong thành: ‘Đứa con chúng tôi đây ương nghạnh, ngỗ nghịch, không vâng nghe tiếng chúng tôi dạy, lại ăn chơi sa đà chè chén.” Toàn dân trong thành sẽ ném đá cho đến chết thôi. Ngươi sẽ khử trừ sự dữ khỏi giữa ngươi. Toàn thể Israel sẽ nghe biết và giới sợ” (Thứ Luật 21:18-21).
 
Nơi điều luật về sự nhơ uế còn được ghi rõ, bất cứ người hay con vật nào chết ngoài trời sẽ là nhơ uế; người phụ nữ mới sanh con cũng là nhơ uế; người chết cũng nhơ uế và nhà có người chết cũng nhơ uế. Giường nằm của người nhơ uế cũng bị nhơ uế, nếu ai ngồi lên cũng bị nhơ uế. Những người bị nhơ uế phải thi hành luật tẩy rửa bằng cách tắm nước pha với phân bê trong vòng bẩy ngày, mỗi ngày một lần. Luật nhơ uế này được tuân giữ rất khắt khe; chẳng hạn, khi vị tư tế đang trong thời kỳ thi hành nhiệm vụ, nếu thân mẫu hay thân phụ của ông ta qua đời, ông ta cũng không được phép bước vô trong lểu hay nhà có người chết vì nhà hay lều đó đã bị nhơ uế. Nhận biết như thế, chúng ta không lạ gì khi đọc dụ ngôn “Người Samaritanô tốt lành” nơi phúc âm (Lc. 10:25-37). Vị tư tế và thày luật sĩ đã không giúp đỡ người bị cướp nằm bên đường mà tránh sang bên kia để đi. Nói tóm lại, nơi sách Nhị Luật hay Thứ Luật và sách Dân Số nói lên những lề luật dân Do Thái phải tuân theo trong cuộc sống.
 
Chúa Giêsu minh xác, “Đừng tưởng Ta đến để bãi bỏ lề luật và các tiên tri. Ta đến không phải để bãi bỏ mà là để làm cho trọn.” Nơi phúc âm được viết, “Ta bảo các ngươi, nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn Ký lục và Biệt phái, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời.” Ký lục và Biệt phái là những giới điều hành trong xã hội Do Thái, biết rành rẽ lề luật trong sự phân xử nơi cuộc sống cộng đồng của dân Chúa theo đúng các quy tắc lề luật đã được đặt ra không cần biết lý do hoặc nguyên nhân khiến sự việc xảy ra trong cuộc sống.
 
Phúc âm trình bày lối nhận định thâm sâu hơn nơi ý định, ước muốn của con người. Chúng ta đều biết, ý nghĩ, ước muốn, tham vọng phát xuất tự linh hồn chứ không phải từ bộ óc; vì bộ óc thuộc về vật chất và vật chất không thể phát sinh tư tưởng, ước muốn, tham vọng. Đồng thời, nếu thực tâm đối diện với lòng mình, chúng ta thấy, ước muốn, tham vọng của mình về chuyện gì thì lòng dạ, hành động, lối sống của mình đều chiều theo để thực hiện chuyện đó. Qua phúc âm, Chúa Giêsu nói về lẽ nên và không nên nơi ước muốn, ý định của một người. Thế nên, phúc âm có câu, “Không phải điều vào miệng làm người ta ra nhơ uế, nhưng điều bởi miệng ra; điều đó mới làm cho người ta ra nhơ uế” (Mt. 15:11).
 
Bởi đó, không gì ngạc nhiên khi chúng ta đọc, “Các ngươi đã nghe bảo người xưa: Chớ giết người. Kẻ giết người thì sẽ can án. Còn Ta, Ta bảo các ngươi, phàm ai tức giận anh em mình thì sẽ can án. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc thì can án trước công nghị, và ai mắng là đồ khùng thì can án hỏa ngục, lửa thiêu. Vậy, nếu các ngươi dâng của lễ nơi bàn thờ, và ở đó nhớ ra anh em có điều bất bình với ngươi; ngươi hãy đặt của lễ đó trước bàn thờ mà đi làm hòa với anh em ngươi trước đã, rồi bấy giờ hãy đến mà dâng lễ vật của ngươi” (Mt. 5:21-24). Phúc âm dạy chúng ta nên để ý tới tâm tình, ý nghĩ, ước muốn, ước mơ, tham vọng của mình. Đây là hành trình đức tin, hành trình tâm linh, nhận biết thực sự lòng mình đang thế nào. Nói cách khác, phúc âm khuyến khích chúng ta thực tâm đối diện với lòng mình chứ không phải chỉ hình thức, hoạt động bên ngoài.
 
Tuy nhiên, khi đối diện với lòng mình, với tâm tư, ai cũng thường thiên vị, chỉ nghĩ đến những điều hay, điều tốt, và tránh nghĩ tới những điều không nên không phải nơi mình. Đây có lẽ là nguyên nhân câu chuyện bà Evà ăn trái cấm được viết. Là người, ai không muốn có cuộc sống dễ thở, thảnh thơi hơn dẫu câu “Nhàn cư vi bất thiện” luôn gắn trên môi miệng. Ai không muốn ăn ngon, mặc đẹp, ra giầy vào dép, lên xe xuống ngựa. Ai không muốn giàu có, quyền cao, chức trọng. Nhưng đâu ai lại muốn bận tâm, cực khổ thực hiện mơ ước của mình dẫu biết rằng bất cứ ước muốn nào cũng có giá phải trả. Nhìn lại lòng mình, nhìn lại ham muốn nơi mình, nơi mỗi người chất chứa một bà Evà tuyệt vời tham vọng. Nhưng, cũng như bà Evà nơi Kinh Thánh, không ai trong chúng ta muốn trả giá cho tham vọng của mình. Bà Evà đổ lỗi cho con rắn có lẽ vì nó không biết nói tiếng người nên không cãi lại; thêm nữa, có lẽ nó cũng không hiểu tiếng người; vì giả sử nó hiểu, đớp bà Evà một miếng, coi chừng ngày nay chúng ta sẽ không đa tâm mà sống chân thật với lòng.
 
Bài phúc âm khuyến khích chúng ta mở rộng lòng để nhận biết tâm tình thực sự của mình thế nào trước mặt Thiên Chúa. Phúc âm chỉ rõ, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33). Nước Thiên Chúa là chính Ngài. Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. Muốn nhận biết Thiên Chúa, chúng ta nên thực sự nhận biết chính mình. Xin Chúa chúc lành nơi mọi người.
 
 
 
Chủ Nhật 7A thường niên (Mt. 5:38-48)
 
Nơi bài phúc âm vừa được công bố có lời khuyên, “Ta bảo các ngươi, hãy mến yêu thù địch và khẩn cầu cho những người bắt bớ các ngươi; ngõ hầu các ngươi nên những người con của Cha các ngươi, Đấng ở trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác” (Mt. 5:44-46). Đoạn phúc âm lại được kết luận, “Vậy các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi ở trên trời là Đấng trọn lành” (5:48).
 
Nơi cuốn sách Cái Cười Của Thánh Nhân, cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần ghi nơi đề mục “Tư Tưởng U Mặc,” câu nói của G.C. Lichtenberg, “Quyển sách là một cái gương soi. Nếu một con khỉ mà nhìn vào, dĩ nhiên không thể có cái ảnh của một bậc thánh hiện lên” (CCCTN; NDCần; Đại Nam; Năm ?; Tr. 393). Đồng thời, nơi kho tàng nhận thức cũng có câu nói, “Người ta có thể dạy cho một con khỉ đánh đàn piano một bản nhạc tuyệt vời, nhưng không thể nào dạy cho con khỉ trở thành một nhạc sĩ.” Lý do thì ai cũng biết; con khỉ không có trí khôn, không có tâm trí như con người.
 
Thế phúc âm muốn nói lên điều gì khi khuyên chúng ta, “Vậy các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi ở trên trời là Đấng trọn lành” (5:48)? Thiển nghĩ, xin mọi người đừng vội đội cho tôi chiếc nón kiêu ngạo, mà hãy bình tâm nhận thực về thực thể chính mình. Phúc âm nói “Hãy trở nên trọn lành như Cha các ngươi ở trên trời” có nghĩa mọi người chúng ta có thể trở nên trọn lành như Thiên Chúa; vì mọi người chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa (Khởi nguyên 1:27); vì Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Mt. 1:23); vì mỗi người chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa như thánh Phao lô minh xác,  “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 6:19-20). Đây cũng là lý do tại sao phúc âm khuyến khích, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33). Thiên Chúa là Thần Khí, là linh hồn ngự trị và hoạt động nơi mỗi người, là sự sống, là gốc gác sự hiện hữu nơi mỗi người.
 
Thế nên, cuộc đời của mỗi người không phải chỉ là cuộc sống thân xác. Cuộc sống nhân sinh và cuộc đời mỗi người chỉ là phương tiện cho cuộc sống tâm linh của mỗi người, là cơ hội cho linh hồn thăng tiến, và là phương tiện cho diễn trình biến chuyển của Thiên Chúa nơi hành trình vĩnh cửu. Tuy nhiên, bởi vì chúng ta có xác thân, sống trong cuộc đời đầy biến chuyển ảnh hưởng không những thân xác mà còn tâm tình, ước muốn. Thêm vào đó, ai không mang khát vọng bẩm sinh thăng tiến cuộc đời; trong khi thân xác bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những biến chuyển, khó khăn thế tục nên ước muốn, niềm mơ thăng tiến bẩm sinh của chúng ta lâu dần chiều theo tham vọng hữu vi đồng thời khát vọng thăng tiến tâm linh cũng mờ phai theo tháng ngày sinh sống.
 
Đồng ý rằng, linh hồn và xác thân là một, bất khả phân ly ngoại trừ chết. Linh hồn mang ước vọng cao sang, thân xác sẽ kiếm tìm cuộc đời thăng tiến. Nhưng những khó khăn, gian truân trong cuộc sống thế nhân mạnh mẽ thúc đẩy tham vọng con người khiến hồn cũng bị ảnh hưởng. Hơn nữa, ảnh hưởng của cuộc sống thế nhân thiết thực và cấp bách, trong khi khát vọng, thao thức thăng tiến tâm linh hình như quá mờ nhạt, rất khó hay ít khi được con người để ý đến, hoặc có được nghe nhắc đến thì cũng vì chẳng có gì ảnh hưởng đến cơm áo, gạo tiền, không chi ảnh hưởng tới nhu cầu nhân sinh nên thường cũng bị bỏ quên. Ảnh hưởng của cuộc đời thế nhân nặng nề trên một người đến nỗi đã có câu nói, “Kẻ thù tệ hại nhất của tôi lại là chính tôi.” Tham vọng thế tục của mỗi người chúng ta che mờ khát vọng tâm linh bẩm sinh nơi mỗi người.
 
Lời phúc âm khuyên nhủ, “Ta bảo các ngươi, hãy mến yêu thù địch và khẩn cầu cho những người bắt bớ các ngươi; ngõ hầu các ngươi nên những người con của Cha các ngươi, Đấng ở trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác” (Mt. 5:44-46). Chúng ta không dám đối diện với chính mình chỉ vì chúng ta đã tự khinh. Chúng ta được thế tục thúc đẩy, “Tốt khoe, xấu che;” bởi chúng ta cảm thấy nhục nhã với chính mình. Chúng ta luôn cố chứng tỏ mình là thế nọ, thế kia vì chúng ta nhận ra mình quá hèn hạ nên cố bôi son, trát phấn để che lấp những điều chẳng nên của mình. Nhưng không, lời Chúa khuyến khích chúng ta, “Hãy yêu mến thù địch,” hãy đối diện chính mình, nhận chân mình như thế nào và mở rộng lòng chấp nhận mình là mình, tốt cũng như xấu, thánh thiện cũng như đốn mạt. Đây là ý nghĩa, là thực trạng của công án, “Cái bóng của Thượng Đế là quỷ vương.” Mỗi người bao gồm hai thành phần đối nghịch như hai mặt của một đồng tiền, một bản chất thánh thiện hòa nhập lẫn lộn với tham vọng, tính cách thấp hèn thế nhân; một ước vọng bẩm sinh khát khao thăng tiến tâm linh mờ mờ bị che lấp bởi thèm khát thế tục.
 
Lời Chúa khuyến khích chúng ta hãy đối diện chính mình để nhận ra sự thánh thiện của Thiên Chúa tiềm ẩn nơi cái bãn ngã nhân sinh thế tục của mình. Ai cũng biết câu, “Nhân chi sơ, tính bản thiện.” Cuộc đời một người đâu chỉ giới hạn trong những ngày tháng nơi dương thế ngắn ngủi trăm năm nơi trái đất này; mà thực sự, căn bản cho sự sống nhân sinh chính là cuộc sống tinh thần,  cuộc sống tâm linh, cuộc sống thần linh. Thực sự nhận ra cuộc sống tâm linh, thần linh của mình hay không, tùy thuộc chúng ta có để ý suy tư, nghiệm xét về thực thể con người của mình hay không.
 
Một Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, chắc chắn không thể nào có hình ảnh tệ hại như chúng ta có thể nghĩ tới. Những phiền hà do cuộc sống thế nhân chỉ là phương tiện cho linh hồn kinh qua để học hỏi những kinh nghiệm cần phải học. Dĩ nhiên, “Ai nên khôn không khốn ít nhất một lần,” nhưng thăng tiến hay không lại tùy thuộc nhận thức của người trải nghiệm, hoặc sự khốn khó, khổ ải trở thành kinh nghiệm cho ta dày dạn dấn bước trên hành trình thăng tiến, hay chấp nhận chìm ngập nơi tham vọng thế nhân để dần quên cả thực thể tâm linh nơi mình.
 
Hãy yêu thương thù địch, hãy bình tâm suy tư nhận thực chính mình. Hãy trở nên trọn lành như Cha các ngươi là Đấng trọn lành. Hãy chấp nhận những yếu hèn của mình để vươn lên nơi hành trình biến chuyển vô cùng của Thiên Chúa. Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật 8A thường niên (Mt. 6:24-34) năm 2022 không có. 
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta, “Không ai có thể làm tôi hai chủ; vì nó sẽ ghét người này hoặc mến người kia, hoặc tha thiết với chủ này mà khinh thường chủ nọ. Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được” (Mt. 6:24). Đồng thời nơi phúc âm Matthêu cũng có câu, “Gia tài của ngươi ở đâu thì lòng dạ ngươi cũng ở đó” (Mt. 6:19). Thử hỏi, lúc này, lòng dạ chúng ta đang ở đâu? Thân xác chúng ta đang hiện diện ở đây, hoặc là tâm trí chúng ta đang dồn hết vào sự việc thờ phượng hay về bất cứ công việc nào đó; chẳng hạn khi về tới nhà sẽ nấu món gì cho bữa ăn hay chuẩn bị làm công việc gì.
 
Đối diện với chính mình, chúng ta thấy, ý định, ước muốn, tham vọng của chúng ta đặt vào chuyện gì thì lòng dạ chúng ta hướng về chuyện đó. Bài phúc âm hôm nay dùng tiền của để ám chỉ ước muốn, ước mơ, tham vọng của mỗi người. Và chúng ta cũng biết, ước muốn, ước mơ, dự định, tham vọng phát xuất từ linh hồn. Như vậy, tâm trí chúng ta đặt nơi đâu, thì lòng dạ chúng ta xiêu chiều về nơi đó. Phúc âm dùng tiền của để chỉ về tâm trí, ước muốn, tham vọng nơi mỗi người.
 
Đó là lý do tại sao phúc âm khuyên chúng ta, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của người” (Mt. 6:33). Cuộc đời của chúng ta không phải chỉ là giai đoạn ngắn ngủi nơi dương gian này; mà cuộc sống xác thân nơi thế giới hữu hình, thế tục này chỉ là cơ hội cho linh hồn của mỗi người học thêm những bài học cần học để thăng tiến nhận thức, nhận ra thực sự bản chất của mình là gì, liên hệ với Thiên Chúa ra sao. Thân xác của chúng ta chỉ là phương tiện trong giai đoạn cho linh hồn mình hoạt động. Mỗi người là hình ảnh của Thiên Chúa nơi cuộc sống nhân sinh; mỗi người là hiện thể của Chúa trong giai đoạn của hành trình diễn biến vĩnh cửu của Thiên Chúa. Đó là nguyên nhân phúc âm khuyên nhủ chúng ta, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.” Đó cũng là lý do tại sau đức Giêsu đến thế gian để nhắc nhở cho chúng ta để tâm nhìn lại chính mình và nhận thực được “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi người. Đức Giêsu đến để cứu chúng ta thoát khỏi sự mê muội, chưa biết thực sự mình là gì, thế nào nơi diễn trình biến chuyển vĩnh cửu của Thiên Chúa.
 
Đây cũng là lý do tại sao phúc âm có câu nói, “Người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa hơn con lạc đà chui qua lỗ kim.” Để tâm suy tư, nghiệm xét, chúng ta sẽ nhận ra, những ai ước muốn giàu có vật chất, những ai chạy theo danh vọng nhất thời nơi cuộc đời này, cuối cùng rồi cũng ra đi với đôi bàn tay trắng. Ai cũng dễ dàng nhận thức được thân phận một người nơi cõi đời này, cho dù tiền của nhiều đến mấy, danh vọng chức quyền cao sang đến đâu thì thực thể cuộc đời cũng chỉ là, “Vào đời với đôi bàn tay trắng và ra đi cũng trắng đôi bàn tay.” Nói cho đúng, chúng ta không đem gì đến nơi cuộc đời này thì khi ra đi cũng không mang theo được gì.
 
Cuộc đời này chỉ là giai đoạn nơi hành trình biến chuyển vĩnh cửu của Thiên Chúa. Để tâm suy tư về thực thể chính mình, ước muốn, dự định, ước mơ, tham vọng v.v… đều phát xuất tự linh hồn, và thân xác chúng ta, cuộc đời chúng ta luôn hết sức hoàn thành những ước muốn, ước mơ này. Dĩ nhiên, tới thời hạn nào đó, thân xác quá cằn cỗi, không giúp ích gì cho hồn được nữa, phải ra đi, linh hồn chúng ta vẫn tiếp tục theo đuổi ước muốn, niềm mơ đó. Như vậy, chúng ta biết mình sẽ đi về đâu sau khi xác thân chết. Phỏng đây là ý nghĩa câu nói, “Người giàu có khó vào Nước Thiên Chúa hơn con lạc đà chui qua lỗ kim,” hoặc, “Không ai có thể làm tôi hai chủ; vì nó sẽ ghét người này hoặc mến người kia, hoặc tha thiết với chủ này mà khinh thường chủ nọ. Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được” (Mt. 6:24).
 
Lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta nhìn sự vật, sự thể đang hiện hữu, đang xảy ra trước mắt, “Vì thế, Ta bảo các ngươi, chớ lo cho mạng sống mình; các ngươi ăn gì; hay về thân xác, các ngươi mặc gì. Há mạng sống không hơn của ăn, và thân xác không hơn áo mặc sao? Hãy nhìn chim trời, chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho lẫm, và Cha các ngươi, Đấng ở trên trời nuôi nấng chúng. Các ngươi không hơn chúng sao. Ai trong các ngươi chi lo mà có thể thêm cho đời mình một gang tay nữa?” (Mt. 6:25-27).
 
Nói cho đúng, kinh nghiệm sống minh chứng như Nguyễn Công Trứ để lại câu thơ, “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc. Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn.” Biết là đủ, chấp nhận đủ, an hưởng sự đầy đủ, thì là đủ. Phúc âm dùng cuộc sống của chim trời nhắc nhở chúng ta để ý đến ước muốn, tham vọng của mình. Dẫu cuộc đời này, “Nghèo nơi phố thị không ai biết; giàu có ẩn non lắm kẻ tìm.” Và dĩ nhiên, không ước muốn, không tham vọng sao cuộc đời thăng tiến. Nhưng thử hỏi, như sách Khôn Ngoan đã có viết, “Không có gì lạ dưới ánh mặt trời,” ai không mơ ước có được cuộc đời thảnh thơi, vô âu vô lo như loài chim? Nhưng nhìn lại thực tại tâm tình của mình nơi những người đã lớn tuổi, có cơ hội nhàn nhã không phải làm gì, tâm hồn cũng như thân xác bức rứt vì không có việc chi để làm. Nói cho đúng, chỉ những ai chân thành, linh hoạt mới thực sự nhận được sự làm việc là một hồng ân.
 
Phúc âm nêu lên vẻ đẹp của bông hoa dại ngoài trời nhắc nhở chúng ta đối diện những ước muốn, tham vọng hữu vi, thế tục, và khuyến khích chúng ta nên để ý đến nhận thức tâm linh, nét đẹp bẩm sinh của tâm hồn mỗi người. Nơi Ca Dao bình dân có câu, “Cái nết đánh chết cái đẹp.” Những danh vọng, vị thế cao sang nơi cuộc đời so với một đời người rồi cũng qua đi như nét đẹp dễ thương của một bông hoa sớm nở, tối tàn. Cuộc sống vĩnh cửu của linh hồn một người mới thực sự đáng được để ý, nhưng có được bao nhiêu giây phút trong một đời người chúng ta để tâm đến. Tất nhiên, ai không biết câu nói của Nguyễn Du nơi truyện Kiều, “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.” Danh vọng, chức quyền, vẻ cao sang, sung túc, ai chẳng ham, nhưng tham vọng, ước muốn cũng chỉ như chiếc pháo, “Càng kêu lắm lại càng tan xác lắm;” cũng như nơi văn chương bình dân đã nói, “Trèo cao thì ngã đau” mà thôi.” Thực tại nơi cuộc đời minh chứng, “Có ăn có chọi mới gọi là trâu,” nhưng chúng ta không phải là con trâu. Chúng ta là con cái của Thiên Chúa, là hình ảnh, là hiện thể của Thiên Chúa nơi diễn trình biến chuyển vô cùng của tạo vật.
 
Ai đã ít nhất một lần tự hỏi, rồi cuộc đời mình sẽ đi về đâu, sẽ đối diện với thực tại của cuộc đời, và đó là, cuối cùng thì xác thân này cũng an bình mục rửa dưới nấm mồ cho dù cao sang, oai vọng, đẹp đẽ đến chừng nào. Thế nên lời Chúa khuyên chúng ta, “Hãy ngắm bông huệ ngoài đồng xem chúng lớn lên thế nào, không nhọc nhằn cũng chẳng canh cửi. Nhưng Ta bảo các ngươi, Salamôn trong tất cả vinh hoa đời ông cũng không ăn vận sánh tày một bông hoa đó. Nếu cỏ đồng nội, nay còn, mai sẽ quăng vào lò mà Thiên Chúa còn mặc cho như thế, thì huống chi là các ngươi, hỡi quân yếu tin. Vậy các ngươi chớ lo mà rằng, ta sẽ ăn gì, ta sẽ uống gì, ta sẽ lấy gì mà  mặc. Các điều đó dân ngoại kiếm tìm. Nhưng Cha các ngươi, Đấng ở trên trời, biết các ngươi cần đến điều ấy. Hãy kiếm tìm Nước Trời trước đã, và sự công chính của Người, và các điều ấy sẽ được ban cho các ngươi.”
 
Phúc âm dùng tiếng “Dân ngoại” có nghĩa những ai thiếu suy tư, suy nghĩ, nhận định về thực thể đời mình để rồi không nhận biết là gì, thế nào trong cõi nhân sinh. Nói cho đúng, không ai có thể thương mình bằng chính mình cho dù cha mẹ, vợ chồng, con cái, hoặc họ hàng thân thuộc hay bạn bè quen biết. Lời Chúa khuyên chúng ta nên để tâm nhìn thẳng, đối diện với thực thể cuộc đời để trả lời mình thực sự là thế nào nơi cõi nhân sinh. Tự suy nghĩ, suy tư xem linh hồn mình là thế nào, liên hện với xác thân, với cuộc đời ra sao. Mình từ đâu tới, và qua giới hạn trăm năm cuộc sống thế nhân, rồi mình sẽ đi về đâu. Gia tài thực sự của mình là gì; ước muốn, tham vọng đích thực của mình là chi; bởi ước muốn, ý định, ước mơ, tham vọng của mình ở đâu thì lòng dạ, cuộc đời của mình sẽ ở đó.
 
Tóm lại, qua lời Chúa hôm nay, chúng ta nên dành suy tư, suy nghĩ về thực thể của mình hầu có nhận thức hướng dẫn cuộc đời mình lúc này và định hướng cho linh hồn mình nơi cuộc đời vĩnh cửu mai sau. Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà, anh chị em. Amen.
 
 
 
Thứ Tư Lễ Tro  (Mt. 6:1-6; 16-18 ) ABC
 
Hôm nay chúng ta bước vào mùa chay. Mùa chay là thế nào? Thưa mùa chay theo giáo hội Công giáo là giai đoạn kỷ niệm lại sự khổ nạn và sống lại của đức Giêsu. Mùa chay thực sự bắt đầu vào thứ tư với nghi thức xức tro biểu hiệu tâm hồn nhận chân sự mỏng dòn của con người nơi kiếp sống nhân sinh. Ai cũng kinh nghiệm và nhận thức được, con người thì luôn luôn lầm lỗi dẫu người khác có biết hay không. Thực tâm nhận xét, đối diện với chính mình, với lòng mình, tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Kitô, và được phúc âm kêu gọi, “Vậy các ngươi hãy nên trọn lành như Cha các ngươi trên trời là đấng trọn lành” (Mt. 5:48). Tuy nhiên, xét nơi cuộc đời thế tục, “Ai nên khôn không khốn một lần,” hoặc như có lời hát chúng ta đều biết, “Đường Thương Đau Đày Ải Nhân Gian Ai Chưa Qua Chưa Phải Là Người;” nơi thân phận con người, chúng ta luôn đối diện với khó khăn cuộc đời, lầm lỗi là chuyện không ai tránh khỏi cho dù giàu hay nghèo, cao sang quyền quý hoặc nghèo hèn, khố rách áo ôm. Ngược lại, nơi ngôn ngữ Việt mang sự huyền nhiệm, và đó là chữ thân phải có trước khi có chữ thần. Muốn trở thành thần, phải có xác thân. Những vị thánh đều có cuộc đời nhân thế, đều có thân xác trước khi trở thành thần. Những vị thần, những vị thánh là những người nhận biết con người thực sự của mình thế nào, lỗi lầm ra sao để chỉnh đốn, để có cuộc sống “Trở nên trọn lành” như lời mời gọi nơi phúc âm.”
 
Hôm nay, lời Chúa kêu gọi, ”Hãy coi chừng, đừng phô trương công đức trước mặt người ta để hòng được thấy; chẳng vậy, các ngươi mất công nơi Cha các ngươi, Đấng ngự trên trời” (Mt. 6:1). Phúc âm nói về tâm ý, về ý định, ý nghĩ mỗi khi chúng ta thực hiện công việc gì. Tất nhiên, mỗi khi làm một việc gì, hoặc hành động nào dù cái liếc mắt hoặc nét mặt, chỉ là thực hiện tâm ý của mình. Lời Chúa minh xác, “Không phải điều vào miệng làm người ta ra nhơ uế, nhưng điều bởi miệng ra, điều đó mới làm người ta ra nhơ uế” (Mt. 5:11). Chúng ta thường biết, “Đầy trong lòng mới tràn ra bên ngoài.” Lời Chúa khuyên chúng ta nên để ý, thực tâm, chân thành nơi kinh nguyện, lúc ăn nói, sinh hoạt ở nhà hay nơi xã hội.
 
Tuy nhiên, phúc âm nhắc nhở chúng ta, “Vậy, khi các ngươi bố thí thì đừng thổi loa trước mặt như bọn giả hình làm nơi hội đường và phố xá hầu được vinh danh nơi người đời. Quả thật, Ta bảo các ngươi; họ đã lĩnh đứt công lênh của họ rồi. Còn ngươi bố thí, thì tay trái đừng biết điều tay phải làm, hầu việc ngươi bố thí được giữ kín, và Cha các ngươi là Đấng thấu suốt kín ẩn sẽ hoàng trả lại cho ngươi. Và khi các  ngươi cầu nguyện thì chớ lải nhải như bọn giả hình;; chúng ưa đứng caafu nguyện trong hội đường và các ngả đường, hầu được bày ra cho người ta thấy. Quả thật, Ta bảo các ngươi, chúng đã lĩnh đứt công sức rồi. Còn ngươi khi cầu nguyện, thì hãy vào buồng khóa của lại mà cầu nguyện với Cha ngươi, có mặt cả nơi kín ẩn, và Cha ngươi, Đấng thấu suốt cả nơi kín ẩn sẽ hoàn trả lại cho ngươi” (Mt. 6:2-8).
 
Nơi kín ẩn chính là tâm hồn của mình. Vào phòng đóng kín cửa lại cũng thế, chính là ý định, ý muốn, tâm ý, tâm hồn của mình. Phúc âm nhấn mạnh đến tâm tình, đến lòng của chúng ta. Nơi Đông Phương học có câu nói, vì chúng ta có thân xác như mọi người nên có cuộc sống như họ nhưng lòng thì khác hẳn. Lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh chúng ta nên để ý, suy tư về cuộc sống tâm hồn của mọi người. Tránh phô trương hình thức bên ngoài, nhưng sống với toàn tâm toàn ý trong sự nhận thức thái độ, hành động âm thầm, chân thực, Chúa biết, mình biết. Amen
 
 
 
Chủ Nhật 1A Mùa Chay (Mt. 4:1-11)
 
Chúng ta vừa nghe lời Chúa qua dụ ngôn Chúa Giêsu bị cám dỗ. Nhìn lại chính mình, đối diện với cuộc đời, ai trong chúng ta cũng đang phải đối diện với những thực tại tương tự, và đó là, sinh sống, quyền hành, cùng với tham vọng. Dĩ nhiên, ai không muốn có cuộc sống thoải mái hơn hiện tại. Ai không muốn ra giầy, vào dép, lên xe, xuống ngựa, nhà cao cửa rộng, ăn ngon mặc đẹp dẫu nhiều khi, thực phẩm ê chề nhưng lại khó kiếm được một bữa ăn ngon. Ai không thấy vợ người đẹp hơn vợ mình; sân cỏ nhà người xanh hơn sân cỏ  nhà mình.
 
Con người là thế và không thế thì không phải là người. Bản tính bẩm sinh của con người luôn mang ước mơ thăng tiến, nhưng để tâm nhìn lại cuộc đời của mình, qua những thăng trầm trong kiếp nhân sinh, cổ nhân đã để lại câu nói, “Bôn ba không qua phận số.” Cho dù cố gắng đến đâu, hiện thực cuộc đời không bao giờ có thể hài hòa với ước muốn. Hơn nữa, thực tế cũng minh chứng, chỉ những người nào được sinh ra để giầu có thì mới có thể giầu có. Nếu đã bị sinh ra trong thân phận nghèo hèn thì cho dù cố gắng đến mấy, có bôn ba tới độ nào cũng không qua phận số.
 
Người xưa có câu, “Cuộc đời sẽ dẫn dắt một người đi đúng con đường người đó phải đi,” mà chúng ta thường mệnh danh là Chúa định, Chúa quan phòng. Chính ước muốn có cuộc đời dễ thở, khấm khá hơn đã là gốc gác cho điều được gọi là cám dỗ nơi cuộc đời nhân sinh. Tuy nhiên, thực tại minh chứng, và ai cũng sẽ phải trải qua,  và đó là, lúc ăn được thì không có mà ăn, nhưng lúc có mà ăn thì lại không ăn được.
 
Dụ ngôn Chúa Giêsu bị cám dỗ đưa lên sự cám dỗ đầu tiên nơi thực tại cuộc sống, và phúc âm nhắc nhở chúng ta nên bình tâm nhận thức về thực thể con người nơi câu trả lời, “Người ta sống không chỉ bởi bánh, nhưng là nhờ vào mọi lời từ miệng Thiên Chúa” (Mt. 4:4). Chúng ta đều biết, thực thể con người bao gồm ba phần chính yếu bất khả phân ly, và đó là thân xác, linh hồn, và tâm trí. Dẫu được nhận biết thành ba phần riêng biệt nhưng ba là một và một người là cả ba phần, chỉ bị tách rời khi cuộc sống chấm dứt. Do đó, phúc âm khuyên nhủ, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, và mọi sự khác sẽ được ban cho các ngươi” (Mt. 6:33).
 
Hai sự thể cám dỗ khác đó là niềm tin và danh vọng. Xét về niềm tin, thường thì chúng ta chỉ tin theo lời tuyên truyền, rao giảng, hoặc giải thích, giải mã từ những người khác hoặc sách vở chứ không tự suy tư hay nghiệm xét. Đối với những sự kiện hữu vi, thế tục, sự hiểu biết giúp chúng ta giải quyết thiết thực những nhu cầu thiết yếu nhân sinh. Tuy nhiên, thực tại minh chứng, hiểu biết về nước không thể giúp chúng ta hết khát. Muốn hết khát, chúng ta cần uống nước. Tương tự như thế, không ai có thể ăn dùm hay uống dùm bất cứ ai. Sự hiểu biết về thực phẩm chỉ có thể giúp chúng ta lựa chọn thực phẩm để dùng chứ không thể khiến chúng ta no bụng.
 
Nơi lãnh vực niềm tin, tâm linh, điều kiện ắt có và đủ để một người nhận biết, nhận thức đúng đắn về niềm tin, đức tin của mình chính là suy tư, suy nghĩ mà thánh Phao lô đề nghị là nghiệm xét như ngài đã dạy nơi thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thessalonikê, "Đừng dập tắt Thần Khí! Chớ khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào" (1Thes. 5:19-22), với điều kiện tâm trí, "Hãy coi chừng đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô" (Col. 2:8.). Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người, và Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn mỗi người nhận biết Thiên Chúa cũng như nhận biết sự liên hệ của Thiên Chúa với con người. Vấn đề chỉ là chúng ta có để, có mở rộng lòng, có suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét hay không. Nói cho đúng, chúng ta theo đạo chứ không để tâm đến việc sống đạo. Chúng ta tin theo chứ không biết mình tin thế nào. Tin vào đức Kitô, tin vào Thiên Chúa, chúng ta cần biết đức Kitô là thế nào nơi cuộc đời của mình. Tin vào Thiên Chúa, chúng ta cũng cần biết Thiên Chúa ra sao đối với cuộc đời của mình.
 
Lời Chúa qua bài phúc âm khuyến khích chúng ta, “Ngươi chớ thử thách Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Mt. 4:7). Chúng ta nghi ngờ, chưa biết rõ, chưa nhận biết thực sự sự thể, sự việc nên cần thử, nhưng nếu đã nhận thực được Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình thì có gì phải nói, có gì phải thử. Lời Chúa khuyến khích chúng ta suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét để nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mỗi người.
 
Ai cũng biết nơi phúc âm có câu, “Gia tài của ngươi ở đâu thì lòng dạ ngươi cũng ở đó.” Bình tâm đối diện chính mình, lòng dạ mình luôn ở nơi đâu. Xin thưa, ước muốn, ý định của mình ở đâu thì lòng dạ mình ở đó. Theo những diễn tiến biến chuyển của cuộc đời, có thể hơn hai ngàn năm trước ngôn từ “Gia tài” nơi ngôn ngữ Hy Lạp có nghĩa bao gồm ước muốn, ý định mà sự dịch thuật không để ý thay đổi cho hợp với thực tại tâm trí con người chăng. Lời Chúa dạy chúng ta, “Ngươi phải bái lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và chỉ thờ phượng một mình người” (Mt. 4:10). Thực lòng đối diện chính mình, thử hỏi, tâm trí chúng ta thường để tâm về điều gì, vấn đề gì trong cuộc đời. Những gì khiến tâm trí chúng ta luôn mong ước, chúng ta đang thần phục vấn đề đó.
 
Tóm lại, Lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét để nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mỗi người. Suy tư, suy nghĩ, để nhận biết hay không, mỗi người tự biết. Suy tư, suy nghĩ để nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mình chính là cầu nguyện, chính là mở rộng lòng để Thánh Thần hoạt động dẫn dắt mình nơi hành trình tâm linh, hành trình đức tin. Xin Chúa soi sáng và chúc lành nơi quý ông bà, anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật Mùa Chay 2A ( Mt. 17:1-9)
 
Lời Chúa qua bài phúc âm hôm nay minh xác đối với chúng ta về đức Giêsu, “Và có tiếng nói từ đám mây phán rằng, ‘Này là con chí ái của Ta, và Ta sủng mộ, các ngươi hãy nghe lời Ngài: (Mt. 17:5). Nghe lời Chúa Giêsu thì nghe từ đâu, ở đâu?
 
Mọi người chúng ta đều biết, mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu chính là loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa như được viết, “Nhưng Ngài bảo họ: 'Ta còn phải đem tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến. Và Ngài đã rao giảng trong các hội đường nước Yuđê.”  (Lc. 4:43; Mc. 1:38; Mt. 4:23);  đồng thời đức Giêsu sai các môn đồ ra đi cũng chỉ với cùng mục đích và đó là rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa (Mc. 3:14; Mt. 10:7; Lc. 10:9).
 
Vậy Tin Mừng Nước Thiên Chúa do đức Giêsu rao giảng là gì? Muốn biết Tin Mừng Nước Thiên Chúa là gì, chúng ta cần biết Nước Thiên Chúa là gì. Muốn biết Nước Thiên Chúa là gì, chúng ta cần biết Thiên Chúa là gì. Muốn biết Thiên Chúa là gì, chúng ta cần biết hình ảnh của Thiên Chúa là gì, thế nào. Nơi sách Sáng Thế Ký, còn gọi là sách Khởi Nguyên, được viết, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài” (KN. 1:27). Như vậy, mỗi người trong chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa. Do đó, muốn biết về Thiên Chúa, chúng ta cần biết chính mình.
 
Làm sao để thực sự nhận biết chính mình? Ai trong chúng ta cũng đều nghĩ rằng mình biết về chính mình hơn bất cứ ai. Tuy nhiên, nếu thực lòng hỏi những người thân quen, và nếu họ chân thành nói cho biết nhận xét của họ về mình, coi chừng có nhiều điều mình phải ngỡ ngàng. Đồng  ý rằng, mỗi người được sinh ra từ những bà mẹ khác nhau lại được nuôi dưỡng nơi những gia đình và địa phương khác nhau nên có những nhận định, nhận thức, quan điểm khác nhau về cùng một sự vật hoặc sự việc. Không nói đâu xa, cũng cùng một món thực phẩm, người cảm thấy hài lòng thích thú, kẻ khác không hề dám đụng đến hoặc tới gần; thí dụ, trái sầu riêng. Có lẽ ai cũng biết, người ta ưa chuộng hay kiêng kỵ sầu riêng không phải vì nó riêng sầu hay mang ân tình đặc biệt với người này hoặc đố kỵ với người khác; mà chỉ vì chính những người khác ưa chuộng hoặc cảm thấy không thể chấp nhận mùi vị của nó. Còn riêng trái sầu riêng thì sao? Nó vẫn là nó, vẫn chỉ là sầu riêng. Người thích tất nhiên thấy nó thơm ngon; kẻ không ưa, chỉ cần thoảng cảm được mùi, ấy là chưa nói đến vị, đã tìm đường tránh xa.
 
Xét về nhận định, nhận thức của một người về chính mình hay về người khác cũng vậy. Cổ nhân đã để lại những câu nói khôn ngoan khá ngộ nghĩnh, tùy trường hợp mà ai cũng dễ dàng nhận biết. Chẳng hạn, “Hơn nhau tấm áo manh quần, nếu đem cởi trần, ai cũng như ai;” hoặc, “Chân mình thì lấm bết bê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người;” hay, “Chuột chù chê khỉ rằng hôi; khỉ quay lại bảo cả lò mày thơm.”  Hơn nữa, lại cũng có câu, “Lươn ngắn lại chê trạch dài; thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.” Về phong thái một người cũng được nhận định, “Khôn ngoan ở chốn nhà bay; dù che, ngựa cỡi đến đây cũng hèn.”
 
Một điều rõ ràng, không ai trong chúng ta giống trái sầu riêng hoặc lươn ngắn hay thờn bơn méo miệng, và cũng không ai trong chúng ta giống bất cứ người nào khác, ngay cả nơi chính gia đình của mình. Mỗi người là chính mình; cũng như mọi sự, mọi loài, chúng mang đặc tính riêng lẻ và có giá trị riêng của chúng tùy môi trường và vị thế. Riêng con người, mang vị thế, giá trị tuyệt vời mà nếu không lầm, ít ai trong chúng ta để ý nhận biết. Đó là, mỗi người là hình ảnh của Thiên Chúa. Để tâm suy nghĩ, nhận thức, đối diện với chính mình, chúng ta đều nhận ra rằng, mình không chỉ có, chỉ mang cuộc sống xác thân yếu hèn, thấp kém nơi thế giới vật chất đầy bí nhiệm, biến chuyển, lắm điều khó hiểu hoặc không thể hiểu này; mà chúng ta còn chất chứa cuộc sống tinh thần huyền nhiệm khó bề nhận biết. Chả thế mà có câu nói, “Chúng ta tuyệt vời hơn bất cứ gì mình có thể nghĩ hay tưởng tượng về chính mình.” Cổ nhân nêu câu hỏi đơn sơ và cho rằng đó là câu hỏi khó trả lời nhất trên trần đời; qua muôn vàn thế hệ rất ít người có thể trả lời được, và thường thì đa số người ta đã sống để dạ, chết mang theo, rồi chìm vào quên lãng như chưa bao giờ hiện diện trên mặt đất. Câu hỏi đó chỉ là, “Tôi là ai?” “Mình là ai” nơi cuộc đời này.
 
Thánh Kinh cho chúng ta câu trả lời, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài.” Điều này có nghĩa, con người là hình ảnh của Thiên Chúa; thực thể của mình chính là hình ảnh của Thiên Chúa. Và Chúa Giêsu, qua phúc âm, cũng rõ ràng minh xác, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 1:23). Thiên Chúa hiện hữu và hoạt động nơi mỗi người. Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu nơi mỗi người, nơi ông, nơi bà, nơi anh chị em, nơi tôi, nơi mọi người. Chúng ta đọc Kinh Thánh, chúng ta nghe công bố phúc âm cũng chẳng khác gì cưỡi ngựa xem hoa, biết chỉ để mà biết, tưởng rằng biết nhưng thực ra cũng chẳng biết được gì; không khác chi lúc khát khô cổ mà được nghe hay đọc tác phẩm nào đó về ích lợi của nước, biết được, tưởng tượng được nước bổ ích, quý giá thế nào giữa sa mạc nóng cháy dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời buổi trưa, nhưng coi chừng cái biết, cái tưởng tượng chỉ làm cần cổ thêm rát bỏng. Cái biết về nước vô bổ, chẳng ích lợi chi giữa sa mạc hay giữa trưa hè gắt nóng.
 
Lời Chúa hôm nay đích thực chỉ thị chúng ta, Này là con chí ái của Ta, và Ta sủng mộ, các ngươi hãy nghe lời Ngài: (Mt. 17:5). Nghe lời Chúa là nghe thế nào? Đã bao nhiêu lần và qua bao tháng năm, chúng ta nghe công bố, rao giảng lời Chúa, nghe giảng giải, giải nghĩa, giải thích, giải mã lời Chúa qua phúc âm. Thử hỏi, sao chúng ta có thể áp dụng câu nói, “Nếu tay hay chân ngươi làm ngươi vấp phạm thì hãy chặt mà quăng nó đi khỏi ngươi, thà ngươi cụt tay, què chan mà vào sự sống, còn hơn là có hai tay, hay hai chân mà bị quăng vào lửa đời đời. Và nếu mắt ngươi làm ngươi vấp phạm, thì hãy móc mà quăng nó đi khỏi ngươi, thà ngươi chột mắt mà vào sự sống còn hơn là có hai mắt mà bị quăng vào địa ngục lửa thiêu” (Mt. 18:8-10)? Hoặc, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta, ắt không xứng với Ta; kẻ yêu con cái hơn Ta, ắt không xứng với Ta. Kẻ không vác lấy khổ giá mình mà theo Ta, ắt không xứng với Ta. Kẻ cố tìm sự sống mình thì sẽ mất. Còn kẻ đánh mất sự sống mình vì Ta thì sẽ gặp lại” (Mt. 10:37-38)?
 
Tất nhiên, ai cũng biết, không thể chỉ nghe giảng giải về sự tốt lành của thực phẩm mà no được bụng. Chúng ta phải ăn. Không thể chỉ nghe giảng giải về lợi ích của nước mà có thể hết khát. Muốn hết khát, chúng ta phải uống. Cũng thế, không chỉ nghe công bố, giảng giải lời Chúa mà chúng ta có thể áp dụng vào cuộc đời; nói cách khác, chỉ nghe hay đọc thì không thể nào sống lời Chúa, sống lời phúc âm. Chúng ta cần suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét lời Chúa. Lời của Chúa là lời hằng sống, cần để tâm suy nghiệm. Lời của Chúa, lời phúc âm không giống như đơn thuốc, hoặc mì gói, chỉ nghe giải thích, hiểu cho qua. Mà cho dù nếu lời Chúa như đơn thuốc và không uống, chỉ hiểu chữa lành muôn thứ bệnh thì cũng chẳng khỏi bệnh gì, hoặc như gói mì ăn liền mà không ăn cũng chẳng thể no chiếc bụng đang cồn cào vì đói.
 
Lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta “Hãy nghe lời Chúa Giêsu.” Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và đó là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Sự thể này cũng đồng ý nghĩa với câu Kinh Thánh, “Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh của Ngài.” Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. Nghe lời Chúa tức là suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét Tin Mừng đức Giêsu rao giảng. Suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét để nhận biết thực sự mình thế nào, mình là gì, liên hệ với Thiên Chúa ra sao. Và phương pháp suy tư, nghiệm xét lời Chúa đã được thánh Phao lô đích thực đề nghị, "Đừng dập tắt Thần Khí! Chớ khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào" (1Thes. 5:19-22), với điều kiện tâm trí, "Hãy coi chừng đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô" (Col. 2:8). Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà, anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật Mùa Chay 3A (Gioan 4:5-42)
 
Bài phúc âm vừa được công bố quả thật hơi dài mà tôi cũng ý thức được, không ai trong chúng ta muốn nghe giảng giải tràng giang đại hải, giảng giải linh tinh. Tôi vẫn thường nhắc nhở chính mình khi soạn giảng câu nói của một linh mục tác giả cuốn sách đề nghị về sự giảng giải phúc âm. Câu ấy được viết, “Nếu bạn có điều gì muốn nói thì nói ra đi. Nếu bạn không biết nói gì về lời Chúa thì vì vinh danh Chúa và lợi ích phần rỗi dân Ngài, xin bạn hãy vì Chúa mà im lặng.” Cũng trong cuốn sách đó có thêm câu khác nhắn nhủ rằng, “Trong vòng bẩy phút mà bạn không nói lên được điều muốn nói, thì cho dù cả ngày bạn cũng chẳng nói được gì.”
 
Thực ra, bài phúc âm không những dài mà lại bao gồm nhiều vấn đề; chẳng hạn, Chúa Giêsu xin nước uống từ người đàn bà Samaritanô. Vào thời đó, người Do Thái sống tách biệt nếu không muốn nói là coi rẻ hoặc tránh xa dân chúng Samaritan, coi họ như những phường vô đạo. Thứ đến, phúc âm nhắc nhở về nước hằng sống là Tin Mừng Chúa Giêsu rao giảng. Điểm thứ ba đó là sự khác biệt về quan niệm cũng như nơi chốn thờ phượng. Điểm thứ tư là lời dạy, “Thiên Chúa là Thần Khí, nên những kẻ thờ phượng Ngài cũng phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật.” Rồi nào là, “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta;” nào là, “Đồng lúa đã chín vàng chờ gặt” v.v…
 
Hôm nay, tôi chỉ muốn chia sẻ với quý ông bà và anh chị em một câu của bài phúc âm vừa được công bố, và đó là, “Thiên Chúa là Thần Khí, nên những kẻ thờ phượng Ngài cũng phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật.” Thiên Chúa là Thần Khí thì ai cũng biết rõ rằng không ai có thể nói về Ngài. Trí khôn chúng ta không thể dò thấu; suy luận không thể cùng, mà chỉ có thể cảm nhận. Thánh Phao lô minh xác, “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 6:19-20)? Đồng thời ngài cũng nói, “Anh em không biết sao, thân mình anh em là đền thờ của Thánh Thần trong anh em; anh em đã chịu lấy từ Thiên Chúa và anh em không thuộc về mình nữa” (1Cor. 6:19-20). Thần Khí của Thiên Chúa ngự trị nơi mỗi người; thế nên, muốn nhận biết Thiên Chúa, chúng ta cần suy tư, suy nghiệm ngay nơi mình, không cần sách vở hay bất cứ gì.
 
Nơi phúc âm Gioan cũng được viết, Chúa phán, “Đàng và sự thật, sự sống chính là Ta. Không ai đến được với Cha mà không nhờ Ta” (Gioan 14:6). Thiên Chúa là Thần Khí là sự sống, là sự hiện hữu nơi mỗi người. Muốn thờ phượng Ngài, cần nhận biết Ngài. Muốn nhận biết Ngài, cần nhận biết chính mình vì Thiên Chúa chính là sự sống nơi mình. Mình là đền thờ của Thiên Chúa. Đây cũng chính là Tin Mừng đức Giêsu đã rao giảng hai ngàn năm trước. “Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà, anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật Mùa Chay 4A (Gioan 9:1-41)
 
Bài phúc âm vừa được công bố là một dụ ngôn Chúa Giêsu chữa lành một người mù từ thuở mới sinh, và câu kết khiến chúng ta phải suy nghĩ, nghiệm xét hầu nhận được sự khôn ngoan Chúa muốn gửi đến chúng ta, “Chính là để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, ngõ hầu kẻ không thấy thì dược thấy, và kẻ thấy được lại hóa đui mù!” Lời Chúa đến với chúng ta, vừa lọt qua tai đã khiến mọi người ngớ ra, không hiểu Chúa muốn nói gì, làm sao áp dụng vào cuộc sống; thế nên, thôi thì đã lỡ được nghe, bị nghe, thì nghe cho qua và có thể nói, chưa kịp nghe xong đã vội quên luôn, nói cách khác, thì lời Chúa vô tai này đã vội lọt ra khỏi tai kia. Thế nên, tôi muốn nhắc nhở quý ông bà, anh chị em về đặc tính của phúc âm, phương pháp suy tư, nghiệm xét phúc âm, và điều kiện tâm trí khi suy tư, nghiệm xét phúc âm. Tôi cố gắng nói ngắn gọn, mong quý ông bà anh chị em để tâm áp dụng hầu biến lời khôn ngoan của phúc âm mang lại lợi ích nơi hành trình đức tin, hành trình tâm linh của mình. Nói cho đúng, tôi đành phải chấp nhận nói dài, nói dai; thế nên, nếu ai không có tai để nghe, lỡ rơi vào giấc ngủ thì làm ơn trước khi ngủ, nên ngoảnh đầu sang một bên để không ngáy, tránh khuyến khích những người chung quanh rơi vào cảnh ngất trí theo. Hy vọng rằng khi giảng xong, không phải đối diện những hàng ghế chơ vơ, tôi có lời cảm ơn trước.
 
Đặc tính phúc âm
Điều tôi muốn nói đầu tiên; đó là đặc tính của phúc âm. Phúc âm thường bị hiểu lầm là lịch sử kể lại cuộc đời và những lời dạy của Chúa Giêsu. Ngay như nơi sách vở, các học giả Kinh Thánh cũng quan niệm như thế. Nhưng không, phúc âm được viết để khuyến khích chúng ta suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét từng câu nói khôn ngoan hầu nhận biết, nhận thức thực thể của mình, và Thiên Chúa, cũng như sự thực thể liên hệ của Thiên Chúa với con người. Ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca được cấu tạo bởi liên kết các câu khôn ngoan và những dụ ngôn dưới hình thức một câu truyện diễn tả về cuộc đời Chúa Giêsu, sự giảng dạy, khổ nạn, và sự sống lại của Ngài, nên được gọi là phúc âm nhất lãm. Riêng phúc âm Gioan nói về thành quả của sự chiêm nghiệm của một tâm hồn khi nghiệm xét phúc âm nhất lãm.
 
Đọc và suy tư, nghiệm xét từng câu theo phương pháp của thánh Phao lô, phúc âm dùng Chúa Giêsu như một bung xung, một danh hiệu mà thôi. Mục đích chính yếu của phúc âm là khuyến khích, kích thích, thách đố chúng ta suy nghĩ, suy tư, suy nghiệm, nghiệm xét để thức ngộ. Chúng ta đều biết, sự nhận thức không thể cầu mà chỉ có thể ngộ. Có câu nói, “Nước nóng lạnh người uống tự biết.” Tôi nghĩ, từ xưa tới nay cũng có nhiều người đã ngộ nhờ suy nghĩ những câu nói bất thường nơi phúc âm, nhưng họ đã không dám nói ra chỉ vì e bị những đầu óc hạn hẹp nơi tôn giáo kết án. Nói cho đúng, tất cả các tôn giáo đều là những tổ chức nhân sinh, những sản phẩm thế tục của các đạo học. Các sách vở đạo học thường được gọi là kinh, chẳng hạn, Thánh Kinh, Kinh Kim Cang, Kinh Đại Niết Bàn, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh, Chí Tôn Kinh hay Ca, v.v…
 
Xét theo ý nghĩa của từng câu nói nơi phúc âm, chúng ta thấy, những câu nói nghịch thường, bất thường được gọi là khôn ngoan chính là thành quả suy tư, nghiệm xét thâm trầm nói lên sự chứng ngộ của một tâm hồn. Thí dụ, “Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng nó đi,” hoặc, “Ai có tai thì nghe.” Những câu nói này diễn tả thực trạng tâm trí lúc suy tư mang tính chất thách đố tâm trí con người suy nghĩ, suy tư, hay nghiệm xét sao cho có thể áp dụng vào cuộc sống; nói cách khác, những câu nói này thách đố chúng ta suy nghĩ để đạt đến nhận thức, tiến tới giác ngộ.
 
Thí dụ, thử đặt vấn đề với câu, “Ai có tai thì nghe.” Cứ để câu nói này luẩn quẩn nơi tâm trí; sẽ có lúc nêu lên câu hỏi, vậy cái tai có thể nghe được tự nó không, hoặc gặp trường hợp người chết, sẽ nhận ra cái tai không còn nghe được. Thế rồi sẽ nhận ra câu trả lời vì linh hồn đã ra khỏi xác. Điều này chứng tỏ linh hồn dùng tai để nghe. Từ đó các câu hỏi khác trờ tới; vậy linh hồn là gì? Linh hồn liên hệ thế nào với thân xác? Và ước muốn, tham vọng, tình cảm, từ đâu ra; để rồi từ đó sẽ dẫn tới nhận thức thân xác và cuộc đời chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động.
 
Chúng ta có thể so sánh sự suy tư một câu nói nghịch thường nơi kinh sách đạo học với sự việc dùng một bữa ăn. Sự hiểu biết ý nghĩa một câu nói không đem lại ích lợi gì cho sự nhận thức; chẳng khác gì sự hiểu biết lợi ích của thực phẩm vì không thể làm chúng ta no bụng. Sự suy nghĩ, nghiệm xét một câu nói bất thường nơi kinh sách cũng giống như hành động ăn uống. Muốn no bụng thì phải ăn, muốn hết khát thì cần uống, muốn thức ngộ phải suy nghĩ. Sự hiểu biết, kiến thức, tri thức, quan niệm, lề luật, ngay cả kinh nghiệm sống, tất cả chỉ là phương tiện cho một tâm hồn suy nghĩ, suy tư.
 
Tôi biết chắc chắn quý vị có thắc mắc; vậy cha không tin với giáo hội à; hoặc, cha không tin phúc âm là lời của Chúa sao? Tôi còn có thể dự đoán sẽ có người trình lên tới giám mục; tôi giảng phúc âm không phải là lời Chúa. Đúng ra, tôi nên học theo lời dạy của  phúc âm, “Của thánh đừng cho chó, châu ngọc chớ quăng trước miệng heo, kẻo chúng dày đạp dưới chân và quay lại cắn xé các ngươi” (Mt. 7:6). Nhưng tôi không muốn rơi vào trường hợp bị phúc âm, bị lời Chúa quở trách, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục; các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các ngươi chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Lc. 11:52). Nói đúng sự thực, Thiên Chúa không có mồm, chẳng có miệng. Đó là lý do tại sao phúc âm đã tám lần lặp đi lặp lại câu, “Ai có tai thì nghe” (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35).
 
Bài phúc âm hôm nay kết luận với câu nói ngang ngửa, “Chính là để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, ngõ hầu kẻ không thấy thì dược thấy, và kẻ thấy được lại hóa đui mù” (Gioan 9:32). Đui mù ở câu nói mang hai nghĩa, đui mù nơi thân xác và đui mù vì không suy nghĩ, không suy tư, không nghiệm xét. Đui mù nơi thân xác thì ai cũng biết. Đui mù vì không suy tư, nghiệm xét do lệ thuộc kiến thức, tri thức, hiểu biết hữu vi, thế tục, không nhận ra khả năng, hồng ân suy tư nơi mình, không dám đặt vấn đề, không dám tự phản biện, lạm dụng quan niệm cổ xưa, “Chúng ta phải tin với giáo hội.” Giáo hội là dân Chúa thì tin với giáo hội là tin thế nào? Hơn nữa, giáo hội cũng chỉ là tổ chức nhân sinh đồng quan điểm, nhưng vấn đề tin cần nhận thức. Không dám suy nghĩ, không dám đặt vấn đề thì sao có thể nhận thức mà nhận thức không thể cầu, chỉ có thể ngộ.
 
Phương pháp suy tư, nghiệm xét
Thánh Phao lô rõ ràng minh xác phương pháp suy tư nơi thư thứ nhất gởi giáo đoàn Thessalonica, “Đừng dập tắt Thần Khí! Đừng khi thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kị điều dữ bất cứ dưới hình thức nào” (1Thes. 5:19-22). Nghiệm xét là suy nghĩ, suy tư, đặt vấn đề, nghiệm chứng; tựu trung là để tâm trí đặt vấn đề về mọi khía cạnh của một câu nói hay vấn đề nào đó. Tự do suy nghĩ, không giới hạn. Điều lành có nghĩa hợp tình, hợp lý với suy tư của mình. Điều dữ là những gì mình không thể chấp nhận. Ai thử sẽ biết, nói ra quá dài dòng.
 
Điều kiện tâm trí để suy tư, nghiệm xét
Nơi thư thứ hai gửi giáo đoàn Thessalonica, thánh Phao lô cũng nêu lên sự tự do tuyệt đối của tâm trí khi suy tư, “Đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi đánh bã anh em, theo truyền thống người phàm, theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô” (2Thes. 2:8). Câu này có nghĩa không tin ai hết, không để bất cứ sự khôn ngoan thế tục, hữu vi nào ảnh hưởng. Nói cho đúng, chỉ cần đối diện với câu nói hay vấn đề mình đang suy tư. Tất cả mọi sự hiểu biết, tâm tình của mình chỉ là phương tiện. Nơi trường hợp này, Chúa cũng không chen vào được. Tâm trí mình là chủ, mọi sự đều là phương tiện. Không có gì là đúng hoặc sai, chỉ hợp hay không hợp với luận lý khi suy tư mà thôi.
 
Phúc âm đã kết án sự giảng dạy lệ thuộc luân lý đạo đức nhân sinh, thế tục từ hơn hai ngàn năm trước, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục; các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các ngươi chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Lc. 11:52). Chìa khóa mở đàng hiểu biết chính là sự suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét. Ngăn cản có nghĩa hù dọa, ép người khác phải tuân theo quan niệm, nhận thức của mình, hoặc giảng giải lời Chúa theo tùy thuộc theo luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục, tri thức, học thức của con người.
 
Tóm lại, lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta suy nghĩ, suy tư về những câu khôn ngoan nơi phúc âm để nâng cao nhận thức, để nhận chân thực thể hiện hữu của mình đối với Thiên Chúa. Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà, anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật Mùa Chay 5A (Gioan 11:1-45)
 
Bài phúc âm vừa được công bố trích từ phúc âm Gioan. Chúng ta biết, phúc âm Gioan là thành phẩm của chiêm nghiệm nên những sự việc được kể lại cũng chỉ là sản phẩm nơi tâm trí khi định tâm suy tư nơi hành trình tâm linh về sự sống lại. Nói như thế, dụ ngôn chúng ta vừa nghe chính là diễn trình tâm linh của một tâm hồn chiêm nghiệm. Tôi nêu lên một đôi điểm mong quý vị suy tư.
 
Chúng ta nên để tâm suy nghiệm câu nói, “Người nói với các môn đệ: ‘Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê!’ Các môn đệ nói: ‘Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao?’ Đức Giê-su trả lời: ‘Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng của thế gian này. Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình’" (Gioan 11:7-10). Nhưng nơi bản dịch Holy Bible được in năm 1966 thì lại viết, “Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng hướng dẫn họ” (Holy Bible; Gioan 11:10).
 
Qua bài phúc âm vừa được công bố, Chúa Giêsu cho Lazarus sống lại. Tên Lazarus được nhắc tới nơi hai phúc âm Luca và Gioan. Nơi phúc âm Luca, người có tên Lazarus nghèo nàn, bị ghẻ lở. Nơi phúc âm Gioan thì Lazarus là em của Martha và Mary. Dĩ nhiên, hai câu truyện này chỉ là hai dụ ngôn nhưng điểm chính yếu nơi hai dụ ngôn thì khác nhau. Nơi phúc âm Luca trình bày hai điểm; điểm thứ nhất đó là, "Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ” (Lc. 16:25), và điểm thứ hai, "Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin" (Lc.16:31). Nơi phúc âm Gioan lại nói về sự sống lại xác thân.
 
Xét về sự sống lại như trong kinh Tin Kính chúng ta đọc, “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy. Amen.” Nơi phúc âm Luca được ghi hai trường hợp đức Giêsu gặp các môn đồ nhưng Ngài đã biến dạng. Trường hợp thứ nhất nơi dụ ngôn trên đường đi Emmaus. Hai môn đồ, một ông tên là Cleopas và tên ông kia thì phúc âm Luca không nhắc tới; cả hai ông chỉ nhận ra Chúa Giêsu qua nghi thức bẻ bánh (Lc. 24:30). Và cũng nơi phúc âm Luca, khi Chúa hiện ra với các tông đồ lúc các ông đang hội họp thì các ông tưởng Chúa là ma (Lc. 24:36).
 
Hơn nữa, cũng nơi phúc âm Luca, khi mấy người thuộc bè phái Sa đốc hỏi về trường hợp một người đàn bà lập gia đình với bẩy người anh em sau khi bẩy người anh em này tiếp tục chết theo luật gìn giữ giòng tộc thời bấy giờ, thì khi sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai thì được trả lời, "Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. Còn về vấn đề kẻ chết chỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Mà người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống" (Lc. 20:34-38). Trên thực tế, Abraham, Isaac, Giacop, thân xác của họ đã chết từ lâu, nhưng được gọi là sống đó là nói về phần hồn của họ.
 
Chúng ta nên để tâm suy nghĩ đến những lời phúc âm về ý nghĩa của ngôn từ “Sự sống” nơi câu, “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống." Phúc âm nói về sự sống của linh hồn chứ không nói về sự sống của xác thân. Linh hồn chính là sự sống nơi mỗi người, là sự hiện hữu. Mọi ý nghĩ, ước muốn, tham vọng, chủ đích đều xuất phát tự linh hồn, tâm hồn. Bộ óc không thể phát sinh ước muốn, chủ đích, tham vọng; vì bộ óc chỉ là vật chất, là phương tiện cho linh hồn hoạt động chẳng khác gì con mắt, lỗ tai cũng chỉ là phương tiện cho linh hồn nhìn, linh hồn nghe.
 
Thân xác và cuộc đời của mỗi người chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động trong giới hạn hiện hữu thời gian. Khi thân xác già cỗi, không còn có thể giúp cho linh hồn, tất nhiên thân xác sẽ bị đào thải. Như vậy, cuộc sống đích thực của một người chính là cuộc sống của linh hồn, cuộc sống tâm linh. Vấn đề được đặt ra đó là để tâm đến cuộc sống tâm linh là thế nào. Chúng ta nên để ý, ước muốn, ước mơ, ý định, ý nghĩ, tham vọng đều phát xuất từ linh hồn. Thế nên, chúng ta nên tự hỏi thực lòng mình đang dự định gì, ham muốn gì, nên làm thế nào cho xứng hợp với nhân phẩm của mình là một người con của Chúa.
 
Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà, anh chị em.
 
 
 
Lễ Lá năm A (Mt. 26:14-27)
 
Bài phúc âm vừa được công bố đại khái kể lại những sự việc đã diễn ra trong cuộc tử nạn của Chúa Giêsu bắt đầu từ việc Juđa bán Chúa. Theo lý thuyết thì phúc âm được ghi lại theo lời kể. Bởi vì ba phúc âm Matthêu, Marcô, Luca được viết từ năm 70 đến năm 100 sau Chúa giáng sinh, và phúc âm Gioan được viết từ năm 90 đến năm 110.
 
Thử đặt mình nơi vị thế của Juda, chúng ta thấy, Chúa Giêsu quyền năng, chữa lành hết bệnh nọ đến bệnh kia, cho người chết sống lại, cho kẻ mù được thấy, cũng như khiến kẻ câm nói được thì sao ai có thể làm hại chi tới Ngài. Lại cũng theo như truyền thuyết, Juda là người lo giữ tiền bạc để chi dụng cho nhóm 12 tông đồ. Thế nên, có được ba mươi đồng bạc, một số tiền tương đối lớn vào thời đó, bằng tiền làm công của một người trong một tháng, thì cũng có thể giúp góp vào chi phí cho Chúa và các tông đồ vài tuần.
 
So sánh với nhận định và tính toán hơn thiệt của Juda với mỗi người chúng ta trong cuộc sống. Tất nhiên, bất cứ việc gì, cũng có cái giá phải trả của nó. Buôn bán, mở tiệm ăn, hay đi làm hãng xưởng, làm thuê một việc gì, cũng cần vốn liếng, công sức. Buôn bán, mở tiệm ăn thì cần tiền vốn, có được một ít thì phải đi vay mượn. Mượn nhà băng thì cần có gia sản, nhà cửa để cầm cố. Làm hãng xưởng, làm thuê lại cần phải có tay nghề hoặc bằng cấp học hành. Đàng này, Juda chỉ cần ra dấu, làm hiệu ai là Chúa Giêsu, quyền năng bất khả xâm phạm, là có được món tiền lớn, không cần vốn liếng, công sức, tất nhiên quá dễ dàng, tiện ích. Hơn nữa, số tiền này sẽ được chi dụng cho Chúa và các môn đồ chứ nào có tiêu riêng cho Juda đâu.
 
Thêm vào đó, nếu bất cứ ai trong chúng ta nơi trường hợp của Juda, rõ ràng tận mắt chứng kiến những sự việc cả thể đã xảy ra, đều nghĩ rằng, cho rằng, cái trò làm môi giới này chỉ là chuyện thường. Của dâng tận tay, dại chi không thực hiện. Tuy nhiên, dẫu có câu nói, “Đôi khi nhân định thắng thiên cũng nhiều,” nhưng cũng lắm toan tính tuyệt vời, đến khi thực hiện, chưa thành đã tán gia, bại sản. Tham vọng con người thì vô cùng, nhưng ý trời phỏng nào ai hay; bởi thế, lại cũng có câu nói, “Ước mong không bằng gặp may; gặp may không bằng tốt số; tốt số không bằng ‎ý trời.” Cũng như chúng ta, dự định, ước muốn của Juda không phải là ý trời, ý Chúa, nên phúc âm có câu, "Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã; nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã!
 
Nhìn lại chính mình, chúng ta thấy, nguyên cớ chính làm chúng ta vấp ngã lại là ý định, ước muốn, tham vọng. Phúc âm dạy, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài;” thử bình tâm tự hỏi, chúng ta đang ước muốn gì, đang tìm kiếm gì? Đọc phúc âm, thường thì chúng ta lên án Juda bán Chúa, nhưng đặt lại vấn đề tại sao Juda dám bán Chúa, chúng ta mới nhận ra vì Juda nghĩ rằng Chúa quyền phép như thế đâu ai có thể làm gì được Ngài. Phỏng đây có phải là lý do có câu, “Chớ trông cậy quá lẽ kẻo khi sa ngã chẳng trở lại cho kíp.”
 
Không có gì sai sót khi chúng ta cho rằng Thiên Chúa thực hiện những chuyện cả thể trên trời, dưới đất, nhưng ý của Chúa không giống như ước mong của con người trần thế. Kinh nghiệm sống rõ ràng minh chứng, những sự việc xảy đến trong cuộc đời thường không như những gì chúng ta mong ước, cầu xin. Chúa thực hiện sự việc, sự kiện theo ý Ngài không theo ước mơ của bất cứ ai. Mọi người đều đối diện; cuộc đời mưa nắng bất thường; cho dẫu những nhà khoa học tự nhiên tuyệt vời có nói lên điều gì thì cũng chỉ là dự đoán. Cổ nhân có câu, “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu.” Câu này có nghĩa, trời đất không thiên vị một ai, tất cả rồi cũng sẽ qua đi.
 
Thế nên, cuộc đời là phương tiện và cũng là cơ hội cho mỗi người suy tư, suy nghĩ để nhận biết giá trị đích thực của mình như thế nào trước mặt Chúa mà chúng ta thường gọi là hành trình đức tin, hành trình tâm linh, hành trình nhận biết thực thể “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. Đây chính là Tin Mừng đức Giêsu rao giảng. Đây cũng chính là lời minh xác của thánh Phao lô, “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 6:19-20). Và đây cũng là lý do tại sao phúc âm khuyên nhủ, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33).
 
Bài phúc âm chúng ta vừa nghe khuyến khích mỗi người tự nhìn lại chính mình, tự hỏi lòng mình xem mình đang mơ ước, tính toán thực hiện những gì, có hợp, có lợi cho cuộc sống tâm linh của mình chăng. Xin mọi người để ý, cuộc đời này rồi cũng qua đi, thân xác, cuộc đời mỗi người chỉ là phương tiện, cơ hội cho linh hồn của mình học hỏi những gì phải học để thăng tiến nhận thức về thực thể chính mình, thực thể “Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Xin Chúa chúc lành nơi mọi người.
 
 
 
Thứ Năm Tuần Thánh (Lễ rửa chân; Gioan 13:1-15) abc
 
Chúng ta vừa nghe lời Chúa qua phúc âm Gioan, “Ta đã nêu gương cho các ngươi, ngõ hầu như Ta đã làn cho các ngươi thế nào, các ngươi cũng làm như vậy.” Đọc phúc âm, nếu để ý, phúc âm Gioan chính là những diễn ảnh trong chiêm nghiệm của một tâm hồn nơi trường hợp ngất trí. Nơi ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca, không có bất cứ câu nào nói đến việc Chúa Giêsu rửa chân cho các tông đồ hay đầy tớ. Dẫu có điều lạ là theo như các học giả Thánh Kinh, họ cho rằng ba  phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca đều viết về cuộc đời, sự rao giảng và sự sống lại của đức Giêsu nên được gọi là Phúc âm nhất lãm; và cũng nếu để ý, chúng ta thấy, Chúa Giêsu chịu phép rửa minh chứng lòng thống hối, cải thiện, chứ suốt cuộc đời của Ngài, phúc âm không ghi lại Ngài rửa tội cho bất cứ một ai; trong khi lại sai các môn đồ đi rao giảng về Nước Trời cho muôn loài và rửa tội cho họ như được chép nơi hai phúc âm Matthêu và Marcô, “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt. 28:19-20; Mc. 16:15).
 
Chúng ta đều biết, mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu chính là rao giảng Tin Mừng Nước Trời như đã được ghi nơi phúc âm Luca, “Ta còn phải đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến” (Lc. 4:43); hay nơi Phúc âm Marcô ghi lại đức Giêsu nói, "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã lân cận, để Ta rao giảng ở đó nữa, bởi chính vì thế mà Ta đã ra đi" (Mc. 1:38). Đồng ý rằng, mọi kinh sách, tất cả những tác phẩm đều được viết bởi người vì lợi ích của con người. Tuy nhiên, cũng đã có câu nói, “Đọc sách mà tin vào sách thì thà đừng đọc sách.” Hơn nữa, mọi người đều mang tâm thức khác nhau cũng như có điều kiện sinh sống khác nhau nên có những phản ứng hay nhận thức, hoặc thực hành ý định, ước  mơ nơi nhưng điều kiện sinh hoạt khác nhau.
 
Tôi muốn lặp lại, nơi bài phúc âm vừa được công bố được viết, “Ta đã nêu gương cho các ngươi, ngõ hầu như Ta đã làn cho các ngươi thế nào, các ngươi cũng làm như vậy.” Viễn ảnh rửa chân cho các tông đồ và Phêrô xin được rửa cả tay và đầu được nêu lên chỉ được dùng như phương tiện nhắc nhở mọi người tin theo Chúa Giêsu hãy tiếp tục công việc rao giảng Tin Mừng, giúp cho con người nhận thức được Tin Mừng Nước Trời mà Chúa Giêsu rao giảng là gì, và Tin Mừng đóng vai trò nào trong cuộc đời mỗi người.
 
Tất nhiên, muốn thực hiện công việc rao giảng Tin Mừng, chúng ta cần biết Tin Mừng Chúa Giêsu rao giảng là gì. Từ ngàn xưa tới nay, chúng ta thường được giải thích phúc âm là Tin Mừng Chúa Giêsu ra giảng, nhưng để ý nhận định, chúng ta thấy phúc âm dùng những sự việc nhân sinh để khuyến khích con người suy tư, suy nghĩ về những câu khôn ngoan, những dụ ngôn để nhận biết điều gì phúc âm muốn con người thăng tiến nơi hành trình nhận thức.
 
Chẳng hạn, ai cũng biết mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu chính là rao giảng Tin Mừng, vậy Tin Mừng Ngài ra giảng là gì? Tại sao hay với mục đích nào, phúc âm có những câu nghe lạ kỳ, chẳng hạn, “Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng nó đi” (Mt. 18:9); Hay, "Bởi đó Ta bảo các ngươi: mọi tội lỗi và lộng ngôn sẽ tha cho người ta, còn lộng ngôn đến Thần khí sẽ không tha được. 32 Và ai nói lời nghịch đến Con Người, điều đó sẽ tha được cho người ấy; còn ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều ấy sẽ không tha được cho người ấy, thời này cũng như thời sẽ đến" (Mt. 12:31-32). Từ ngàn xưa tới nay có ai tự móc mắt, chặt tay vì lỡ vấp phạm điều gì chăng? Thế tội phạm đến Thánh Thần là tội gì mà vẫn không được tha dẫu đã có Chúa Giêsu xuống thế chịu chết để rửa sạch tội lỗi của loài người. Nói cho đúng, chúng ta đã được giải thích thế này, thế kia và tin theo, chức thực ra, chúng ta đã không biết tin là gì. Thay vì tìm tòi để nhận biết và tin, chúng ta chỉ lập lại những danh hiệu, những ngôn từ được người khác dùng, được người khác tuyên truyền và nghĩ rằng mình tin vào Chúa, tin vào đức Kitô trong khi không biết Chúa là gì, đức Kitô đến cứu độ thì cứu độ chúng ta về điều chi. Thực ra, thử đặt vấn đề, nếu nói rằng đức Kitô đến để chuộc tội cho mọi người; phỏng cố gắng sống tốt lành, tránh xa phạm tội và các dịp có thể phạm tội có phải là từ chối ơn cứu độ của Chúa?
 
Nơi thư thứ nhất gửi tín hữu Thessalonica, thánh Phao lô khuyến khích, “Đừng dập tắt thần khí, chớ khinh thị các ơn tiên tri, nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy và hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào?” (1Thes. 5:19-21). Lời đề nghị này nơi Tân Ước đã những hai ngàn năm trước, thử hỏi đã có bao giờ chúng ta để ý tìm hiểu, suy nghĩ, suy tư xem Thần Khí là gì chưa? Tại sao lại nói “Đừng dập tắt Thần Khí”? Thần Khí ở đâu mà có thể dập tắt. Thể rồi các ơn tiên tri là gì? Sao lại khuyên chớ khinh thị các ơn tiên tri? Ơn tiên tri ở đâu mà đặt vấn đề khinh thị hoặc kính ngưỡng? Và nghiệm xét là thế nào, tại sao lại nói nghiệm xét mọi sự? Nếu đã không biết Thần Khí là gì, ở đâu; ơn tiên tri là chi; đồng thời nghiệm xét như thế nào thì sự thể sẽ ra sao. Chúng ta thử đặt vấn đề, cả một đời theo đạo mà không biết Chúa là chi, liên hệ với mình như thế nào thì chúng ta tin vào Chúa là tin làm sao? Phỏng nói rằng, tuyên xưng rằng tin, rồi nào là truyền bá phúc âm, tuyền bá Tin Mừng trong khi không biết đức tin của mình là gì, không biết Chúa ra sao thì truyền bá điều chi, sống tin theo là tin theo điều gì?
 
Nơi thư thứ nhất gửi giáo đoàn Corinthians, thánh Phao lô nhắc nhở, “Anh em không biết sao, thân mình anh em là đền thờ của Thánh Thần ngự trong anh em, anh em đã chịu lấy tự Thiên Chúa, và anh em không thuộc về mình nữa” (1Cor. 6:19). Đã bao giờ chúng ta suy nghĩ về lời nhắc nhở nhận thức này chưa hay chỉ lặp lại thành ngữ tin vào Chúa, tin vào đức Kitô để rồi cứ tưởng tượng đi lễ, đi nhà thờ, đọc kinh cầu nguyện là xong chuyện. Thánh Thần ở ngay nơi mình mà mình không biết, không suy nghĩ, nghiệm xét để nhận ra thì có phải là dập tắt Thần Khí không? Có phải là phạm đến Thánh Thần, khinh chê Thánh Thần không? Bởi vậy, có thể nói, tội phạm đến Thần Khí là tội không suy nghĩ, không suy tư, không nghiệm xét.
 
Nhận thực được thực tại đức tin, thực tại tâm linh của chúng ta như thế, lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta đặt vấn đề, suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về từng lời, từng câu nơi phúc âm để nhận biết thực thể Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mỗi người, nơi mọi người. Trong khi suy nghĩ, nghiệm xét, thánh Phao lô cũng nêu lên điều kiện tâm trí, và đó là không nên tin vào bất cứ gì dù luật lệ, truyền thống, thói quen, sự hiểu biết, học thức, sách vở, kể cả các kinh sách, tuyên ngôn, lời bàn nhưng, “Đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian chứ không theo đức Kitô?” (Col. 2:8). Điều này có nghĩa tự mình đặt vấn đề, tự mình suy nghĩ, suy tư cho đến tận cùng, không lệ thuộc bất cử gì để nhận biết sự thể Thiên Chúa, Thánh Thần, Thần Khí của Chúa đang hiện diện và hoạt động nơi mình, nơi mọi người. Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta. Amen.
 
 
 
Thứ Sáu Tuần Thánh (Gioan 18:1-19:42) abc
 
Bài phúc âm diễn tả những sự việc diễn tiến từ sự kết án đến khổ nạn của Chúa Giêsu. Tất cả những gì được ghi chép đều trong sự chiêm nghiệm nơi phúc âm Gioan. Nguyên nhân chính đưa đến những sự việc này lại là những sự giảng dạy của Chúa. Theo bài phúc âm vừa được công bố được viết, “Vị thượng tế tra hỏi đức Giêsu về môn đồ và giáo huấn của Ngài,” chứng tỏ những người đối lập cũng như quan quân không hề biết chi về sự giảng giải của Chúa mà chỉ bắt bớ Ngài theo những lời tố cáo vì những lý do nào đó đe dọa hay đối nghịch với quan niệm, niềm tin tôn giáo; nói cho đúng, đe dọa tới niềm tin của Do Thái giáo.
 
Nói có sách, mách phải có chứng. Có thể, những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, chỉ phương cách cho con người suy tư, suy nghĩ những câu khôn ngoan hầu thăng tiến nhận thức tâm linh, rất đối nghịch với sự hiểu biết những lời Kinh Thánh theo quan niệm, nhận thức nhân sinh, thế tục, từ chương do không suy nghĩ, nghiệm xét. Chẳng hạn, “Kẻ nào yêu cha mẹ hơn Ta không đáng là môn đệ Ta” (Mt. 10:37); hoặc, “Khốn cho các ngươi, Ký lục và Biệt phái giả hình, vì các  ngươi khóa Nước Trời, chận người ta lại! Các ngươi sẽ chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào” (Mt. 23:13). Những lời này quá đối nghịch, nói cách khác, nếu hiểu theo nghĩa từ chương, phá hoại luân lý truyền thống của bất cứ dân tộc, tôn giáo nào, nhất là điều luật thứ bốn nơi mười giới răn, “Thứ bốn, thảo kính cha mẹ.” Thêm vào đó, Biệt phái và Ký lục là những giới đức cao trọng vọng trong hàng ngũ Do Thái giáo chẳng khác gì giám mục, linh mục nơi hệ thống Công giáo. Lên án họ, “Khốn cho các ngươi, Biệt phái và Ký lục,” chẳng khác gì lên án, muốn lật đổ phẩm chức và quyền thế của họ chẳng những nơi hệ thống tôn giáo mà còn vị thế của họ nơi cuộc đời nhân sinh.
 
Một điều ít ai để ý tới; đó là vào thời Chúa Giêsu giảng dạy, dân tộc Do Thái đang bị người Rôma cai trị, và chính quyền Rôma tin tưởng nơi các bậc trọng vọng của dân Do Thái. Dĩ nhiên, người Rôma chỉ giữ những chức vị lớn lao, và dùng người Do Thái để cai trị người Do Thái. Có thể đây là nguyên nhân những người thu thuế của dân chúng Do Thái đem nộp cho chính quyền Rôma bị coi là phường tội lỗi vì làm tay sai cho đế quốc Rôma.
 
Những người giảng dạy Kinh Thánh trong hệ thống Do Thái giáo đã hiểu lầm giáo lý, sự giảng dạy của Chúa Giêsu nên kết án Ngài. Nguyên nhân hiểu lầm cũng chỉ vì không suy nghĩ, suy tư mà xét xử sự giảng dạy của Chúa Giêsu theo nghĩa từ chương, nhân sinh. Đối với chúng ta thì sao? Những câu khôn ngoan, mới đọc hoặc nghe, mang đầy tính chất nghịch thường với luân thường đạo lý của bất cứ dân tộc nào. Không cần phải là Biệt phái hoặc Ký lục, chỉ mới nghe hoặc đọc, “Khốn cho các người, Biệt phái và Ký lục,” chúng ta cảm thấy gì? Nếu ai trong cuộc đời nói với chúng ta như thế, chúng ta sẽ phản ứng ra sao, phương chi họ là những bậc vị vọng trong dân chúng thời đó.
 
Lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta nên suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về phúc âm. Không suy nghĩ, nghiệm xét về lời Chúa để thăng tiến nhận thức tâm linh, mà chỉ hiểu lời Chúa theo nghĩa từ chương, nhân sinh; chúng ta đang đứng vào vị thế của vị thượng tế cũng như tay chân, bè phái của họ lên án xử tội đức Giêsu như họ đã làm ngày xưa. Xin Chúa sai Thánh Thần mở rộng lòng trí mọi người để suy tư, nghiệm xét lời Ngài và chúc lành cho chúng ta.
 
 
 
Phục Sinh abc (Gioan 20:1-9)
 
Đại khái, bài phúc âm vừa được công bố nói về ngôi mộ trống. Sau khi sinh thì trên thánh giá, thi thể đức Giêsu được an táng trong một ngôi mộ được khoét từ một khối đá, và sáng sớm hôm sau, Mary Magdalene đến thăm mộ thì thấy viên đá che cửa bị lăn sang bên và không thấy thi thể của Chúa Giêsu. Mary Magdalene thông báo cho Phêrô và Gioan và hai ông đã đến mộ thì chỉ thấy khăn liệm, không thấy thi thể của Chúa Giêsu.
 
Nơi phúc âm Luca cũng được viết, “Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả. Họ còn đang phân vân, thì kìa hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ. Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: "Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa, nhưng đã chỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại" (Lc. 24:1- 7).
 
Nơi phúc âm Matthêu được viết, “Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mác-đa-la và một bà khác cũng tên Ma-ri-a, đi viếng mộ. Và kìa, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy và hoá ra như chết. Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: "Phần các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay. Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay” (Mt. 28:1-8).
 
Phúc âm Marcô ghi lại, “Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, các bà ra mộ. Các bà bảo nhau: "Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây?" Nhưng vừa ngước mắt lên, các bà đã thấy tảng đá lăn ra một bên rồi, mà tảng đá ấy lớn lắm. Vào trong mộ, các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng; các bà hoảng sợ. Nhưng người thanh niên liền nói: "Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã chỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Người đây này! Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phê-rô rằng Người sẽ đến Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông". Vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía. Các bà chẳng nói gì với ai, vì sợ quá” (Mc. 16:2-8).
 
Những gì chúng ta vừa nghe được ghi chép nơi bốn phúc âm. Có điều chúng ta cũng nên để ý, theo các học giả Kinh Thánh, ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca được viết vào khoảng từ năm 70 đến năm 100 sau Công Nguyên, và phúc âm Gioan được viết từ năm 90 đến năm 110 sau Công Nguyên. Xét như thế, có lẽ, những gì được ghi lại đều được ghi chép theo lời truyền khẩu bởi có thể những người sinh thời cùng Chúa Giêsu vào thời gian phúc âm được ghi lại đều đã chết hết.
 
Đàng khác, được gọi là lời Chúa nhưng thử tưởng tượng, đặt mình vô hoàn cảnh được phúc âm ghi lại, đây không phải là lời Chúa Giêsu rao giảng. Tất cả những sự tường thuật đều được một số người nơi cộng đồng ghi chép và dàn dựng theo lời kể từ sự nghe lại. Cũng như tất cả sáng kiến và thành quả của các công việc hữu ích cho nhân loại được ghi chép nơi sách vở, phúc âm do con người viết với mục đích hướng dẫn nhân loại, chẳng khác gì phương tiện cho con người thăng tiến nơi hành trình tâm linh, hành trình đức tin. Đối với các sách vở của các bộ môn khác, chẳng hạn kỹ thuật, khoa học, y học, luật học, những bộ môn thực nghiệm này ghi chép lại những kiến thức, phương pháp và thành quả của các sáng kiến, tri thức, học thức, của tiền nhân như những phương tiện để lại cho những thế hệ tiếp nối phát triển.
 
Riêng đối với các bộ môn thi văn, luận lý, đạo đức, triết lý, đạo học, đòi hỏi người đọc phải suy nghĩ, suy tư, cảm nhận, cảm nghiệm để tâm hồn hòa nhập vô những gì được ghi lại hầu có được nhận thức; vì những bộ môn này nói về diễn trình suy tư, suy nghĩ, mà cuộc đời thì biến động, tâm tư con người cũng luôn luôn biến chuyển tùy thuộc chẳng những điều kiện sinh sống mà còn bị ảnh hưởng tâm sinh lý hiện thực của độc giả.
 
Kinh Thánh, Phúc Âm, thuộc về bộ môn đạo học. Đạo học thường bị hiểu lầm thuộc về tôn giáo, nhưng thực chất, đạo học là nguyên lý của tôn giáo. Nói cách khác, đạo học phát sinh tôn giáo. Tôn giáo là tổ chức nhân sinh có cùng chiều hướng niềm tin, cảm nhận, cảm nghiệm từ nguyên lý của đạo học. Đạo học nói về thực thể và diễn tiến nhận thức tâm linh nên được viết dưới phương cách ám định; bởi thực thể và diễn tiến nhận thức thuộc về tư tưởng chỉ có thể cảm nhận, hiểu biết, ảnh hưởng tới chiều hướng suy tư, suy nghĩ.
 
Đọc những đoạn phúc âm nói về người này, người kia đối diện với ngôi mộ trống, chúng ta cảm nhận được có điều gì khác thường, để rồi tiếp tục đọc đoạn phúc âm sau, nói về sự việc Chúa hiện ra với người nọ, người kia, nơi tâm trí của chúng ta đưa lên nhận thức sự thể Chúa sống lại. Thực ra, không ai biết thực sự sống lại sẽ như thế nào, nơi phương diện nào. Nơi trường hợp được ghi lại về thánh Tôma được Chúa bảo, "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin" (Gioan20:27), thì ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (Gioan 20:28), chứ phúc âm không nói gì về sự việc ông Tôma hành động gì. Hơn nữa, phúc âm Gioan là thành quả của sự chiêm nghiệm được viết ra, không phải sự ghi lại sự việc diễn tiến hữu vi.
 
Thêm vào đó, nơi phúc âm Luca ghi lại sự việc đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc. 24:13-31), chính hai môn đệ cũng không nhận ra đức Giêsu trong lúc đi đường. Điều này nói lên sự thể gì, chúng ta cần suy tư, suy nghĩ để nhận thức sự thể phúc âm muốn nói với mình.
 
Lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta sử dụng tâm trí để suy nghĩ, suy tư về thực thể tâm linh, thực thể linh hồn của mình. Chúng ta được dạy và tin rằng linh hồn mang tính thiêng liêng, không hề chết được. Khi thân xác này qua đi, linh hồn vẫn tiếp tục hiện hữu, nhưng hiện hữu như thế nào, muốn biết, chúng ta cần suy nghĩ, suy tư. Muốn suy nghĩ, suy tư, chúng ta cần đọc phúc âm, đồng thời cũng cần áp dụng phương cách nghiệm xét như thánh Phao lô đã chỉ dẫn. Sự việc suy nghĩ, suy tư này được ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca tám lần nhắc nhở, “Ai có tai thì nghe” (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35). Xin Thần Khí của đức Giêsu soi sáng và dẫn lối cho quý ông bà anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật 2A Phục Sinh
Lòng Chúa Thương Xót (Gioan 20:19-31)
 
Hôm nay, chúng ta tuyên xưng, tuyên dương “Lòng Chúa Thương Xót.” Mới chợt nghe tới danh hiệu “Lòng Chúa thương xót,” lời tiên tri Joel được ghi chép trong Sứ Vụ Các Tông Đồ nhắc nhở được liên tưởng tới, “Trong những ngày sau hết, Ta sẽ đổ Thần Khí của ta trên mọi xác phàm. Con trẻ sẽ nói tiên tri; người già nằm chiêm điềm mộng, và thanh thiếu niên thấy được thị kiến” (Joel 2:28-29; SVCTĐ. 2:16-21).
 
Đọc phúc âm chúng ta thấy, tất cả những sự việc xảy ra thường được chúng ta gọi là phép lạ, phúc âm đều ghi lại lời Chúa Giêsu bảo, “Lòng tin con chữa con, lòng tin con cứu con” (Lc. 7:50; 8:48; 17:19; 18:42; Mt. 9:2; 15:28; Mc. 5:34; 10:52). Nơi phúc âm được viết là lòng tin trong khi chúng ta hay dùng ngôn từ đức tin. Chẳng những thế, nơi phúc âm Luca và Matthêu, Chúa Giêsu còn đoan chắc, "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: "Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc", nó cũng sẽ vâng lời anh em” (Lc. 17:6; Mt. 17:20). Phúc âm  Matthêu còn nhấn mạnh hơn, "Thầy bảo thật anh em, nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: "Dời chỗ đi, nhào xuống biển!", thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được" (Mt. 21:21-22). Nơi phúc âm Marcô, Chúa Giêsu còn đoan chắc, "Sao lại nói: nếu Thầy có thể? Cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin" (Mc. 9:23). Tất nhiên, đọc phúc âm, chúng ta rõ ràng đối diện với những lời dạy bảo của Chúa như thế; nhưng khi nhìn lại chính mình, lòng tự hỏi lòng đức tin của mình thế nào, chúng ta lại phải đối diện lời của Ngài nơi phúc âm Luca, “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng" (Lc. 18:8)?
 
Là người Công giáo, ai cũng vậy, chúng ta tuyên xưng tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Kitô. Nhưng thử hỏi, đức tin, lòng tin của chúng ta là gì, phỏng ai có thể trả lời một cách rõ ràng, chắc chắn, tin vào Thiên Chúa là tin thế nào? Hơn nữa, nếu đặt vấn đề, Thiên Chúa là gì, liên hệ thế nào đối với cuộc đời mình, có lẽ ai cũng cảm thấy mông lung. Nói rằng, tuyên xưng rằng, nghĩ rằng, mình tin vào Thiên Chúa nhưng không biết lòng tin, đức tin là gì, không biết Thiên Chúa là chi, có liên hệ gì với cuộc đời của mình, thì nghĩa là sao? Xét thực lòng mình, một điều rõ ràng, chúng ta cần suy nghĩ, suy tư, để nhận biết Thiên Chúa là gì, liên hệ với mình như thế nào, rồi dựa theo phúc âm để nhận biết lòng tin, đức tin của mình ra sao. Xưa nay, chúng ta đã quá quen với sự tin theo, quá quen với sự lặp lại những thành ngữ, những châm ngôn, trong khi lòng ruột trống rỗng. Chúng ta đã và đang mở rộng lòng, mở rộng tâm trí để biến mình thành thùng rác chứa đựng những lời tuyên truyền, rao giảng như những gói mì ăn liền để rồi nuốt vào thế nào, chúng ta lặp lại như vậy. Xin lỗi, nếu tôi nói hơi quá, chúng ta chấp nhận mình như một thân xác bệnh hoạn, nuốt vào thế nào, mửa ra thế ấy. Một thân xác bình thường, ăn thực phẩm và thực phẩm phải trở thành máu huyết tiếp tục nuôi sống thân xác. Nếu thực phẩm không trở thành máu huyết nuôi sống thân xác, chúng ta mang một thân xác bệnh hoạn. Lời Chúa, lời phúc âm, nếu không được suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét, mà chỉ được lặp lại như con vẹt, coi chừng chúng ta đang chứng minh mình là kẻ vô thần; trong khi thực thể của mình rõ ràng hữu thần bởi mình có linh hồn.
 
Nhắc đến linh hồn, ai cũng nghĩ, cũng cho rằng, cũng tin rằng mình có linh hồn. Vậy linh hồn mình là gì? Nó có hình dáng ra sao, xanh, đỏ hay tím, hoặc vàng? Nó liên hệ với thân xác thế nào, và khi thân xác này qua đi, linh hồn sẽ tiếp tục đi về đâu. Nếu linh hồn của mình ngay nơi thân xác mà mình không biết thì mình nên biết điều chi trong cuộc đời. Thế nên, suy nghĩ thêm một chút, vậy mục đích cuộc đời của mình là gì, sống để làm chi phỏng ai có thể trả lời được?
 
Hôm nay, chúng ta tôn kính Lòng Chúa Thương Xót. Tôi muốn nhắc lại lời Kinh Thánh, “Trong những ngày sau hết, Ta sẽ đổ Thần Khí của ta trên mọi xác phàm. Con trẻ sẽ nói tiên tri; người già nằm chiêm điềm mộng, và thanh thiếu niên thấy được thị kiến” (Joel 2:28-29; SVCTĐ. 2:16-21). Thiên Chúa chính là quyền lực hiện hữu nơi mỗi người, là sự sống nơi bất cứ ai. Nhận biết như thế, lời Kinh Thánh, “Ta sẽ đổ Thần Khí của ta trên mọi xác phàm” không có chi mới lạ. Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình thì Thần Khí của Chúa ở ngay nơi mình. Chúng ta rất giỏi giang trong công việc suy tư, suy nghĩ, tính toán cho cuộc sống, nhưng hình như và nếu có thể nói, chưa bao giờ suy nghĩ, suy tư về chính mình; mình là ai, mình thế nào trong cuộc đời này? Thiên Chúa là gì, lòng tin, đức tin là gì, linh hồn mình là gì.
 
Chúng ta nghe đây đó hoặc coi trên truyền thông về những sự việc cả thể xảy đến từ những tổ chức Thánh Linh, Lòng Chúa Thương Xót. Có thể có nhiều người trong chúng ta tham gia những tổ chức đó và giữ quy luật, đọc kinh, tham gia cầu nguyện, thực hành những nghi thức với những người khác. Tuy nhiên, chỉ thấy những sự lạ xảy đến với ai đó, riêng với mình thì hình như lời cầu, ước muốn, nơi tận tâm tư kính cẩn dâng lên, tha thiết xin xỏ, nhưng cứ như không. Thánh Thần làm việc mọi nơi, ở mọi người, nhưng hình như chẳng có gì đụng chạm đến mình. Lòng Chúa thương xót khắp chốn trong khi mình vẫn đơn côi chờ đợi. Và đã bao người đợi cho tới chết cũng chẳng có gì xảy ra, chỉ thấy những chuyện cả thể xảy ra trên truyền hình, trên các clips youtube, có chăng, đành sống để dạ, chết mang theo với nỗi bơ vơ ấm ức.
 
Lời Chúa qua phúc âm, “Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được" (Mt. 21:22), và hơn thế nữa, “Cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin" (Mc. 9:23). Tuy nhiên, chúng ta cũng đang đối diện với sự thể, “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng" (Lc. 18:8)?
 
Thế nên, Lời Chúa hôm nay thách đố, khuyến khích chúng ta nên suy nghĩ, suy tư về lòng tin, đức tin nơi mình; linh hồn của mình thế nào, liên hệ với cuộc đời mình ra sao. Thiên Chúa là gì, liên hệ với mình thế nào? Có lẽ ai cũng biết câu nói của văn hào nào đó, “Muốn là đã được một nửa.” Vậy ước muốn,  ý định của chúng ta thực sự phát sinh từ đâu, thực sự về điều gì? Ước muốn cần những điều kiện nào?  Đồng thời lại cũng có câu, “Chúng ta thường bị hối hận khi đã đạt được ước muốn” (Joseph Jacob; The Old Man and Death; 6th BC). Xin Chúa chúc lành nơi quý ông bà anh chị em.
 
 
 
Chủ Nhật 3A Phục Sinh (Lc. 24:13-35)
 
Bài phúc âm Luca kể về câu truyện, sau khi sống lại, Chúa Giêsu cùng đi với hai môn đệ trên đường đi về làng Emmaus, nhưng hai môn đệ không nhận ra Ngài. Sự kiện này chứng tỏ sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã biến dạng. Sự thể nào khiến hai môn đệ không nhận ra Ngài? Đã lâu, trước thời 75, chúng ta thường nghe thấy bài hát “Ngài Ở Đâu,” có những câu, “Ngài ở đâu cho con đi tìm Ngài; Ngài ở đâu cho con mong gặp Ngài; trong vinh quang, hay trong thù hận, trong tim anh, hay trong lòng tôi.”
 
Tin theo đức Kitô, tin vào Thiên Chúa, chúng ta cần biết, thực sự nhận biết đức Kitô dạy chúng ta điều gì. Tin vào Thiên Chúa, chúng ta cũng cần nhận biết Thiên Chúa là gì, liên hệ thế nào với cuộc đời của mỗi người. Chúng ta đọc trong Kinh Thánh, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài.” Tuy nhiên, đã bao giờ, đã có lúc nào chúng ta tự hỏi, tự suy nghĩ, suy tư, mình là hình ảnh của Thiên Chúa chưa? Mình là hình ảnh của Thiên Chúa nghĩa là sao? Mình là hình ảnh của Thiên Chúa nơi phương diện nào? Đã có khi nào mình bỏ công sức tìm hiểu nơi sách vở hoặc nơi những phương diện truyền thông về hình ảnh của Thiên Chúa chưa? Nếu mình thực sự chấp nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa thì mình phải suy nghĩ, phải sống thế nào?
 
Lời phúc âm Gioan, “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha
mà không qua Thầy.” Sự thật mà Chúa Giêsu muốn nói đến là gì? Con đường Ngài dẫn chúng ta theo là thế nào? Thiên Chúa là sự sống; vậy sự sống nơi mỗi người là gì? Thiên Chúa là sự sống; mà sự sống hiện diện nơi mọi người, thì Thiên Chúa ở ngay nơi mỗi người. Chúng ta có dám chấp nhận không? Chúng ta có bao giờ dám đặt vấn đề Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mình không?
 
Đông Phương học quan niệm linh hồn là Thượng Đế nội tại; linh hồn bất tử, và thân xác một người, cuộc đời một người chỉ là phương tiện, cơ hội cho linh hồn học hỏi những gì cần biết; cho đến khi học xong thì lại trở về nơi cõi uyên nguyên, làm một với Thượng Đế.
 
Qua bài phúc âm, tôi nghĩ, hai môn đệ trên đường Emmaus có lẽ cũng không nhận biết linh hồn của họ là gì như chúng ta. Thế nên, họ nghe nói Chúa Giêsu sống lại, nhưng cũng như mọi người, nghe thì nghe vậy, đôi khi lặp lại lời người khác tuyên truyền, nhưng cũng không thèm để ý gì như mọi người và rồi cũng vì không nhận ra linh hồn mình là gì, thế nào, liên hệ với thân xác, cuộc đời của mình ra sao nên đã không nhận ra Chúa Giêsu, có nghe những lời giải thích từ Kinh Thánh thì cũng chẳng khác gì vịt nghe sấm, cũng chẳng khác gì chúng ta, không để ý suy tư, suy nghĩ về Lời Chúa.
 
Họ được cơ hội sống với Chúa, trực tiếp nghe lời Chúa giảng dạy nhưng chỉ vì không suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét nên đã không nhận ra chính họ, không nhận biết linh hồn của họ là gì thì sao có thể nhận ra Chúa Giêsu sau khi sống lại. Chúng ta cũng thế; dẫu chúng ta khôn ngoan, giỏi giang trong việc lo toan, tính toán, xếp đặt cho cuộc sống nhưng không để ý suy nghĩ, suy tư về thực thể của mình, về linh hồn của mình thì cũng không thể nào nhận biết sự hiện diện của Chúa nơi cuộc đời. Xin Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng đang ngự trị nơi mỗi người dẫn dắt chúng ta nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 4A Phục sinh (Gioan 10:1-10)
 
Không biết đã bao nhiêu lần đọc qua bài phúc âm vừa được công bố, và đã bao thời gian, những lời lẽ của bài phúc âm thách đố tôi suy nghĩ sao cho có thể chấp nhận, nói cách khác, nghiệm được phần nào sự khôn ngoan của lời Chúa qua ngôn từ nhân sinh thế tục, hầu cảm nhận được hồng ân của Ngài nơi cuộc đời của mình. Là một linh mục, tôi mang bổn phận và trách nhiệm tuyên xưng, tuyên dương, công bố lời Chúa, lời phúc âm, và khuyến khích dân Chúa suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét, nghiệm chứng phúc âm, mong sao dân Chúa thăng tiến nơi hành trình đức tin, hành trình tâm linh.
 
Nói cách khác, nhiệm vụ, trách nhiệm của tôi chính là khuyến khích, thách đố, kêu gọi dân Chúa sống lời Ngài, thực hiện, biến sự khôn ngoan nơi lời Chúa, lời phúc âm thành hiện thực chẳng những nơi tâm não, mà còn lan tỏa thành những hành vi, hành động một cách ý thức, phần nào có thể minh chứng con người của mình, cuộc sống của mình, chính là sự hiện thể của Thiên Chúa nơi dạng thức nhân sinh, minh chứng sự thánh thiện, tuyệt vời, của Thiên Chúa đang tràn ngập mọi nơi mọi chốn, qua mọi thời đại; dẫu cuộc đời đầy biến động, thay đổi, lắm khi không ai có thể dự đoán.
 
Tuy nhiên, đối diện với câu phúc âm vừa được công bố, Chúa Giêsu nói, “Bao nhiêu kẻ đến trước Ta, hết thảy đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe chúng” (Gioan 1:8), thật khó cho tôi cũng như mọi người suy nghĩ, suy tư, lý luận, lý giải, sao cho hợp tình, hợp lý, có thể chấp nhận được. Tất nhiên lời Chúa, lời phúc âm, ẩn chứa sự khôn ngoan cần được suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét, nhận định, sao cho sự khôn ngoan của lời Chúa thấm nhập, trở thành nhận thức, trở thành máu thịt, lối sống, lối suy nghĩ của mình để thực hiện, thực hành trong cuộc sống, nói cách khác, sống lời Chúa; mà ngày nay, nói theo ngôn từ hữu vi được gọi là hiện hành.
 
Sự thực hiển nhiên, phúc âm Gioan là sản phẩm của tâm hồn ngất trí, khi nâng lòng mình lên hòa nhập với thực thể uyên nguyên chính là Thiên Chúa, hòa nhập với sự khôn ngoan tối thượng do chính Thiên Chúa dẫn dắt tâm hồn con người nơi cõi suy tư, nhận thức. Tất nhiên, phúc âm Gioan, cũng như mọi sự hữu vi, thế tục, do chính con người viết ra, được gọi là mạc khải. Sự khôn ngoan nơi trạng thái mạc khải này cũng thường xảy đến với mọi người khi nâng tâm hồn lên, suy nghĩ, suy tư về thực thể hiện hữu của mình liên hệ với Thiên Chúa thế nào.
 
Nhưng, nói theo nhận định từ chương, theo nghĩa đen, sao chúng ta có thể chấp nhận lời quyết đoán, “Bao nhiêu kẻ đến trước Ta, hết thảy đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe chúng” (Goan 1:8). Câu này được chia thành hai phần; những người, những đấng rao giảng lời Chúa, các vị tiên tri trước thời đức Giêsu “Đều là trộm cướp,” và “Chiên, dân Chúa đã không nghe họ.” Nơi phương diện nào, cách thức nào, các vị rao giảng lời Chúa bị phúc âm Gioan cho là thứ trộm cướp? Chúng ta nên để ý, phúc âm Gioan dùng ngôn từ, “Hết thảy chúng,” không chừa một ai. Đồng thời phúc âm cũng minh xác, “Nhưng chiên đã không nghe chúng.” Chiên tức là dân Chúa. Dân Chúa không nghe lời rao giảng nơi phương diện nào vì ai cũng có hai tai ngoại trừ nơi trường hợp đặc biệt. Như vậy, ngôn từ “Nghe” mang nghĩa thế nào đối với lời Chúa, lời phúc âm?
 
Có một lần nói chuyện với một chị thuộc ca đoàn nào đó, chị ta rất thích hát, hãnh diện vì khả năng hát của mình. Tuy nhiên, qua một đôi câu nói qua nói lại, tôi nhận ra chị ta không biết gì về nhịp nhạc, mà chỉ là hát theo, nghe và dợt theo người hướng dẫn khi tập hát chứ không tự hát theo nơi youtube hay phương trình chứa chấp bản nhạc trên net. Không nhớ được tôi đã nói gì về đặc tính những bản nhạc đang được thịnh hành trên net nơi các phương trình, chị ta phán một câu, “Cha đừng làm giao động tâm trí con.” Tôi giật mình, ngạc nhiên vì chị ta sợ bị giao động tâm trí, giao động niềm tin. Thực ra, nhìn lại chính mình, tâm trí chúng ta luôn luôn giao động. Đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này, nhưng thử hỏi, tâm trí chúng ta đang suy nghĩ, nhớ đến, hay tư tưởng về chuyện gì, nơi đâu. Hồng ân suy tư, suy nghĩ phát xuất tự linh hồn được gọi là tâm trí, và suy nghĩ, suy tư, đặt vấn đề, là đặc ân, nói cách khác là bản chất tuyệt vời của linh hồn, của tâm trí để nhận định, nhận thức. Phúc âm nói đến những người không suy nghĩ, suy tư là “Kẻ chết” trong câu, “Để kẻ chết chôn xác kẻ chết của chúng.” Câu này có nghĩa, hãy để kẻ chết phần linh hồn, phần tâm linh, chôn xác chết” (Lc. 9:60). Không suy nghĩ, không suy tư về lời Chúa, lời phúc âm đều là kẻ chết phần hồn, kẻ chết phần tâm linh, chỉ là xác chết biết thở.
 
Nhận định rõ được như thế, câu, “Nhưng chiên đã không nghe chúng,” nói lên sự thực và đó là dân Chúa không đơn giản, ngây ngô, ngây thơ, không nghe sao chấp nhận và biết vậy. Những ai lười lĩnh không suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét lời Chúa, lời phúc âm, đều được coi là kẻ chết phần linh hồn. Chỉ có người chết mới không suy nghĩ, không bị giao động tâm trí. Người sống, tâm trí luôn giao động. Thế nên, vấn đề lại là định tâm, định hướng, suy tư, suy nghĩ xem mình chú tâm, để ý về phương hướng, phương diện nào. Ai cũng dễ dàng nhận biết mình đang ước muốn, ước mơ điều gì nếu để tâm nhận định. Hơn nữa, phương pháp vững chắc và nhanh nhất, tiện lợi nhất để nhận ra điều mình thực sự muốn nhận biết lại chính là phản biện, chính là sự hỏi mình đang thực sự theo đuổi gì, lợi ích, lợi hại thế nào? Nếu ai để tâm tự hỏi, tất nhiên sẽ có những câu trả lời rõ ràng, sẽ nhận ra được sự thể lạ lùng, và đó là tâm trí, suy tư, suy nghĩ của mình thay đổi như chong chóng. Mới hôm nay, lúc này nhận định điều này lợi, điều kia hại cho cuộc đời, nhưng coi chừng, chỉ một lúc sau, hay ngày mai, sự nhận thức đã đổi thay.
 
Thế nên, lý do dân Chúa không nghe, hoặc nghe như không nghe, chưa nghe đã vội quên vì những điều rao giảng không hợp với bản chất năng động suy tư của dân Chúa, đã không thách đố, hấp dẫn tâm trí dân Chúa hoạt động, không kích thích được chức năng bẩm sinh, không giúp dân Chúa suy nghĩ, suy tư. Đọc phúc âm chúng ta thấy, mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa, Tin Mừng Nước Trời, như được viết nơi phúc âm Luca, đoạn 4, câu 43 được viết, “Nhưng Ngài bảo họ: 'Ta còn phải đem tin mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến. Và Ngài đã rao giảng trong các hội đường nước Yuđê.” Nơi Phúc Âm Marcô được viết, "Người bảo các ông: "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó" (Mc. 1:38), Và Phúc Âm Matthêu  lại ghi, "Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền của dân" (Mt. 4:23). Đồng thời, Ngài cũng sai các môn đồ ra đi rao giảng với cùng mục đích, Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng.”(Mc. 3:14). "Hãy đi và loan báo rằng 'Nước Trời đã gần bên'" (Mt. 10:7), "Và chữa các kẻ ốm đau trong thành; hãy bảo họ: 'Nước Thiên Chúa đã gần bên các ngươi'" (Lc.10:9). Vậy, Tin Mừng Nước Thiên Chúa là gì?
 
Nhưng đọc cho kỹ, nơi các phúc âm, không có bất cứ định nghĩa nào về Tin Mừng Nước Trời, Nước Thiên Chúa. Phúc âm nói về mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng nhưng dành phần suy nghĩ, suy tư cho dân Chúa để tìm hiểu, tìm kiếm Nước Thiên Chúa là gì khi được viết, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33). Phúc âm thách đố, khuyến khích, kích thích dân Chúa tìm kiếm, và hành động tìm kiếm chính là suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét. Hơn nữa, muốn tìm kiếm, suy nghĩ, cần phải đọc phúc âm.
 
Bởi vậy, phúc âm Gioan nặng nề lên án, “Bao nhiêu kẻ đến trước Ta, hết thảy đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe chúng” (Gioan 1:8). Nơi phúc âm Matthêu cũng có câu, “Khốn cho các ngươi, K‎ý lục và Biệt phái giả hình; vì các ngươi khóa Nước Trời chận người ta lại! Các ngươi sẽ chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào!” (Mt. 23:13). Thử hỏi, còn lối nói nào nặng nề hơn nữa không? Vậy Biệt phái và Ký lục đã rao giảng lời Chúa như thế nào mà bị quở trách, bị gọi là chặn người ta lại?
 
Ai cũng biết, Kinh Thánh được viết tại miền Trung Đông nên bị ảnh hưởng kiểu cách phát biểu theo lối trình bày của đạo học Đông Phương. Lối trình bày này chỉ phát biểu kết quả của nhận thức chứ không diễn dịch theo cách trình bày kỹ thuật. Thí dụ, nơi kỹ thuật đưa lên công thức của nước H2O, thì bất cứ nơi nào lấy hai phần hydrogen hòa hợp với một phần Oxygen dưới áp suất nào đó thì sẽ có nước để dùng. Khác với lối trình bày kỹ thuật, bên Đông Phương nêu lên một câu nói khiến người nghe hay đọc cần phải suy nghĩ để nhận biết câu nói đó mang ý nghĩa gì, và thường thì câu nói một đàng, ý tứ một nẻo, đồng thời ý tứ của câu nói chỉ về tâm tình, thái độ, hay trạng thái nào đó của người đọc hay nghe.
 
Thí dụ, chúng ta ai cũng biết ý nghĩa những câu, “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng,” hoặc, “Liệu bò đo chuồng,” hay, “Liệu cơm gắp mắm.” Ba câu này không nói chi đến ăn uống, chỗ ngồi, chẳng liên quan gì tới trâu bò hay chuồng cũi, hoặc cơm nước, mắm rau, mà đều nói về cách ăn nết ở, lối đối xử của một người đối với cuộc đời hay xã hội. Lối nói này dùng sự vật, sự việc hữu vi, nhân sinh hầu thức tỉnh nhận thức của con người. Hơn nữa, lối trình bày hay diễn xuất Đông Phương còn mang tính chất sinh động hiện thực của sự vật, sự thể chứ không giới hạn nơi những lãnh vực hữu vi thực nghiệm. Chẳng hạn, nơi số học, ai cũng biết một cộng với một bằng hai, nhưng thực thể nhân sinh, một linh hồn hòa nhập vào một thân xác thì bằng mấy, chắc chắn không bằng hai.
 
Chúng ta thử suy nghĩ, thử đặt vấn đề ngay nơi chính bản thân mình một chút. Nói rằng một hồn cộng một xác bằng hai thì không ai có thể chấp nhận được; mà nói rằng bằng một vẫn không hoàn toàn hợp lý, hợp tình với thực thể con người. Thế một hồn cộng một xác bằng mấy? Sự thể con người khiến chúng ta cần để tâm suy nghĩ hơn một chút, nhận định rõ hơn nơi thực trạng nhân sinh. Nếu chỉ có hồn, không ai biết đấy là đâu; nếu chỉ có xác, chẳng sớm thì chầy phải mang ra nghĩa trang để an táng. Nhưng hồn nhập thể vô thân xác, lại phát sinh ước muốn, ước mơ, nhận thức, ý định, tham vọng, yêu thương, giận ghét, nói chung, phát sinh sự thể được gọi là tâm trí. Từ đó chúng ta nhận biết thực thể một người gồm ba phần, linh hồn, thể xác, và tâm trí. Nếu ai đã có cơ hội đọc cuốn Nam Hoa Kinh, sẽ bắt gặp câu nói của Huệ Thi, “Một con bò trắng cộng một con bò đen bằng ba con bò.” Huệ Thi dùng vật thể con bò để chỉ ba thành phần bất khả phân ly nơi một người. Từ điểm nhận thức này chúng ta có thể nhận thức thâm sâu hơn về thực thể Chúa Ba Ngôi mà các đấng các bậc trong đạo Công giáo dạy chúng ta phải tin; ba ngôi là một và một Chúa lại có ba ngôi. Ai muốn nghĩ sao thì nghĩ.
 
Từ nhận thức lối phát biểu diễn xuất nơi đạo học Đông Phương, chúng ta nhận ra kiểu cách phát biểu của phúc âm. Thí dụ, nơi phúc âm chúng ta đọc được câu, “Ai có tai thì nghe.” Câu nói mới thoạt nghe đã thấy rất tầm thường, không có gì đáng để ý. Nhưng nếu ai để tâm khi đọc phúc âm, câu nói coi bộ thường tình, ngây thơ này được lặp đi lặp lại tám lần, ba lần nơi phúc âm Matthêu, ba lần nơi phúc âm Marcô, và hai lần nơi phúc âm Luca (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35). Có thể vì chúng ta ai cũng nhận biết; tai dùng để nghe và mọi người đều kinh nghiệm, thực nghiệm, sử dụng tai để nghe như thế, nên thấy đó là sự thường tình. Tuy nhiên, nếu thử suy nghĩ, thử đặt vấn đề, mắc mớ gì câu nói đơn giản, bình thường này lại được lặp đi lặp lại quá nhiều lần, chúng ta thấy câu nói có vẻ ngờ nghệch lại không đơn giản chút nào.
 
Thử đơn sơ đặt câu hỏi, vậy cái tai có thể nghe được tự nó hay không? Tất nhiên, tâm trí chúng ta đang đối diện với một thực thể bình thường nhưng khá lạ lùng. Ấy, thực thể con người của mỗi người bình thường lạ lùng như thế đó. Bao nhiêu lần chúng ta tham dự đám tang, nhưng cũng đã chưa một lần đặt vấn đề. Phỏng người chết, nghĩa là linh hồn họ đã thoát khỏi thân xác đang nằm đó trước mặt mọi người, tai họ có còn nghe được không, mắt họ còn có thể nhìn được không, và miệng có còn nói, khối óc có còn suy nghĩ được nữa không? Thế mà chúng ta thường nói, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, óc suy nghĩ. Chính ngay các nhà khoa học, cho tới thời điểm này vẫn cứ hô ầm lên miệng nói, tai nghe để rồi biết bao người nơi cuộc đời này dám cả gan láo lếu tuyên xưng, không tin những gì khoa học không thể chứng minh. Thử hỏi, họ có biết họ nói gì không? Phỏng không suy nghĩ, suy tư, thì họ là thứ gì ngoài danh hiệu xác chết biết thở.
 
Câu trả lời rõ ràng là tai, mắt, môi miệng, bộ óc của một người chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động; bởi khi linh hồn thoát ra khỏi thân xác thì tất cả đều ngưng đọng. Nhận biết như thế, nhiều vấn đề phát sinh khiến tâm trí chúng ta phải suy nghĩ thêm, chẳng hạn, thế linh hồn của mình là gì, liên hệ với thân xác mình ra sao? Linh hồn từ đâu tới? Và Thiên Chúa là thế nào, liên hệ với linh hồn, cuộc đời của mình ra sao? Đã bao ngày tháng qua đi, ai trong chúng ta cũng tin rằng mình có linh hồn, nhưng thử hỏi đã bao giờ chúng ta tự hỏi linh hồn mình là gì, thế nào, liên hệ với cuộc đời mình ra sao chưa, hay chỉ nói theo cho có vẻ con nhà có đạo rằng mình có linh hồn, rằng mình tin vào Thiên Chúa. Vậy Thiên Chúa là gì và liên hệ tới cuộc sống, cuộc đời mình thế nào?
 
Lời phúc âm hôm nay đến với chúng ta, đức Giêsu phán, “Bao nhiêu kẻ đến trước Ta, hết thảy đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe chúng” (Gioan 1:8). Đến trước thời đức Giêsu là các vị tiên tri, các nhà thông thái, các bậc lâm phàm rao giảng về sự sống tâm linh, hành trình tâm linh, hành trình giúp nhân loại nhận biết thực thể đích thực của chính mình. Thế sao họ lại bị kết án, “Hết thảy đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe chúng?” Họ rao giảng sự khôn ngoan, rao giảng về chân lý, về mục đích đích thực của đời người, thế họ đã cướp giựt từ dân Chúa những gì mà lại bị gọi là trộm cướp? Trộm cướp những gì bằng lời nói, bằng cách rao giảng?
 
Nếu nhìn lại phúc âm, chúng ta thấy, phúc âm được cấu tạo bởi những câu khôn ngoan và những dụ ngôn, khuyến khích, thách đố, kích thích tâm trí suy nghĩ, suy tư. Nói cách khác, phúc âm trình bày cơ hội, phương tiện cho con người suy nghĩ, suy tư để đạt tới sự thức ngộ, đạt tới nhận thức về thực thể chính mình, về Thiên Chúa, và sự liên hệ của Thiên Chúa với con người. Sự nhận thức này chỉ có thể ngộ, không thể cầu. Và phương pháp độc nhất vô nhị để một người có thể thức ngộ chính là suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét. Sự việc, sự thể này được thánh Phao lô rõ ràng minh xác, khuyến khích, “Đừng dập tắt thần khí, chớ khinh thị các ơn tiên tri, nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy và hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào?” (1Thes. 5:19-21). Nghiệm xét, nghiệm chứng, cũng chỉ là suy nghĩ. Nghiệm xét mọi sự có nghĩa suy nghĩ về mọi mặt, mọi phương diện, trạng thái nơi chính mình. Phúc âm nói về phương diện, trạng thái nào đó nơi chính mình và chính mình cần suy tư, suy nghĩ mới có thể thức ngộ được.
 
Xét như vậy, sự giải thích, giải nghĩ những câu nói, những dụ ngôn nơi phúc âm, nơi lời Chúa khiến dân Chúa tưởng rằng hiểu biết, và thế là đủ không dám tự mình suy nghĩ để có thể cảm nhận lời Chúa đến với mình như thế nào. Chẳng lạ gì chúng ta có thành ngữ “Theo đạo” để rồi cố gắng sống đạo thì không thể nào áp dụng lời Chúa nơi cuộc đời. Thử hỏi, làm sao áp dụng lời phúc âm vào cuộc sống, “Kẻ nào yêu cha mẹ hơn ta thì không xứng với Ta” (Mt. 10:37), hoặc, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi” (Mt. 5:29; 18:9; Mc. 9:47), nếu không suy nghĩ, không suy tư, nghiệm xét.
 
Giải thích, giải nghĩa phúc âm dưới quan điểm luân lý, đạo đức hữu vi, thế tục, thay đổi, biến chuyển theo thời điểm, địa phương tất nhiên cướp cơ hội suy nghĩ của dân Chúa, cướp cơ hội thức ngộ của dân Ngài. Bằng chứng rõ ràng chúng ta có thể nhận biết, hơn kém hai ngàn năm từ ngày đức Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời, cho tới nay, đã ai biết được Tin Mừng Nước Trời là gì chưa? Và nếu chưa biết Tin Mừng đức Giêsu rao giảng là gì thì sao có thể tin theo Ngài. Bao thế hệ loài người đã trải qua, đã được mấy ai nghiệm được, suy nghĩ được Thiên Chúa là gì, liên hệ đến cuộc đời mình ra sao? Hay chỉ biết lặp lại thành ngữ “Tin vào Chúa?” Tuyên xưng tin vào Chúa, tin vào đức Kitô nhưng không biết Tin Mừng Ngài rao giảng, không biết Thiên Chúa là gì thì tin thế nào.
 
Lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta suy nghĩ, suy nghĩ, và suy nghĩ để cảm nhận, để nhận biết Thiên Chúa là gì, thế nào nơi cuộc đời mình; mình thực sự là gì, linh hồn mình là chi, liên hệ đến thân xác, cuộc đời của mình ra sao. Để khởi đầu cho một đề án suy nghĩ, suy tư, tôi đề nghị mỗi người suy nghĩ về câu nói của thánh Phao lô, “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 6:19-20). Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng cho mọi người trong suy tư, suy nghĩ để nhận biết Ngài nơi cuộc đời mình. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 5A Phục Sinh (Gioan 14:1-12)
 
1/ Lời Chúa đến với chúng ta hôm nay, “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi; kẻ tin vào Ta thì các việc Ta làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa; vì Ta đi đến cùng Cha” (Gioan 14:12). Mọi người hiện diện nơi nhà thờ lúc này, bất cứ ai cũng tin rằng, tuyên xưng rằng, mình tin vào đức Kitô, kể cả tôi, nhưng thử hỏi, chúng ta đã thực hiện được những gì cho hợp với câu phúc âm vừa được công bố, “Kẻ tin vào Ta thì các việc Ta làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa?” Chúa Giêsu đã thực hiện những việc gì? Và chúng ta, kẻ tin vào Ngài, đã thực hiện thế nào trong cuộc đời để được gọi là lớn lao hơn?
 
Tất nhiên, ai trong chúng ta, là người Công giáo, đều biết câu phúc âm này, nhưng có bao giờ đặt vấn đề, có bao giờ suy nghĩ, có bao giờ tự hỏi, hầu biến lời Chúa thành hiện thực trong cuộc sống, hay chỉ quen thói, lập lại lời phúc âm như một thành ngữ quen tai cho có vẻ mình là người Công giáo, chứng minh mình tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Kitô?
 
Dẫu mọi người đều biết, câu phúc âm vừa được công bố trích từ phúc âm Gioan, và phúc âm Gioan là thành quả của chiêm nghiệm, thành quả của một tâm hồn ngất trí nghiệm xét về cuộc đời của Chúa Giêsu theo phúc âm Nhất Lãm. Hơn nữa, phúc âm nhất lãm bao gồm ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca, lại chính là những câu khôn ngoan và dụ ngôn được dàn xếp, thêm thắt vào và ghép lại thành câu truyện cho có vẻ giống như tiểu sử cuộc đời Chúa Giêsu, nếu nói theo nhận định hữu vi giống như các học giả Kinh Thánh.
 
Hiểu như thế, xưa nay chúng ta lọt vào sự luẩn quẩn, chồng chéo giữa hai quan điểm văn hóa Đông phương và Tây phương. Kinh Thánh, bao gồm Cựu Ước và Tân Ước được viết ở Trung Đông, thuộc về châu Á, nhưng lại được phát triển bên Tây phương, rồi được các nhà truyền giáo Tây phương rao truyền dưới dạng thức phạm trù nên đã khiến tâm trí chúng ta nhận thức lời Kinh Thánh, phúc âm theo nghĩa đen, nghĩa từ chương, nghĩa kỹ thuật, chữ nghĩa được viết thế nào, lặp lại đúng theo như thế. Đó là lý do tại sao chúng ta đã một thời được dạy với phạm trù, “Chúng ta phải tin với giáo hội.” Thử hỏi, theo công đồng Vatican II, giáo hội được định nghĩa là dân Chúa, thì tin với giáo hội là tin thế nào? Đàng khác, ai không biết câu, “Chín người, mười ý,” hoặc nơi văn hóa Đông phương, “Đông cha con khó lấy chồng,” thì tin với giáo hội, tin với dân Chúa là tin ra sao mà có thể làm được những việc như Chúa Giêsu hoặc lớn lao hơn việc Chúa Giêsu đã làm?
 
Nếu hỏi, bất cứ ai đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này, ngay cả các em nhỏ đang học lớp xưng tội lần đầu, câu hỏi, “Thiên Chúa là Đấng nào, và Thiên Chúa có mấy ngôi,” thì ai cũng đều an tâm mà trả lời không cần suy nghĩ, Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên trời đất muôn vật và Thiên Chúa có ba ngôi, ngôi nhất là Cha, ngôi hai là Con, và ngôi ba là Thánh Thần; ba ngôi cũng là một Chúa; ba ngôi bằng nhau không ngôi nào hơn, không ngôi nào kém. Trả lời như thế tức là lặp lại các phạm trù, các điều đã được định sẵn một cách máy móc không khác gì những máy thu âm không nhận thức, không cần cảm nhận, suy tư. Nhưng, chúng ta không phải là những máy thu âm; chúng ta là những con người có lý trí, có nhận thức.
 
Thí dụ, nơi phạm trù toán học, một cộng với một thì bằng hai, không gì chối cãi, không cần suy luận, suy nghĩ, và đó là một sự thể đúng đắn hiển nhiên không thể sai lầm. Nhưng thử hỏi, một cái hồn cộng với một thân xác thì bằng mấy? Nếu cứ nhắm mắt, không suy nghĩ mà trả lời bằng hai thì coi chừng nên vào nhà thương tâm thần; nếu suy nghĩ, nhận định một chút để trả lời bằng một thì ai cũng nhận thấy không chỉnh, không đúng với thực thể con người của mình. Suy nghĩ thêm một chút, vậy tư tưởng, ý định, ước muốn, tham vọng, yêu, ghét, giận hờn, nơi mình tự đâu ra, vấn đề đòi hỏi suy nghĩ, suy tư thêm để có câu trả lời, để có nhận thức đúng đắn hơn.
 
Đặt vấn đề như thế, chúng ta lại phải đối diện với những phạm trù khác. Chẳng hạn, chúng ta ai cũng nhận thấy con mắt nhìn, tai nghe, miệng nói, óc suy nghĩ. Chính ngay các nhà bác học cũng đều nói như thế. Nhung sự thể cuộc đời xảy ra ngay trước mắt, khi linh hồn ra khỏi xác, được gọi là chết thì mắt hết nhìn, tai hết nghe, miệng hết nói, óc hết suy nghĩ, và tay chân, thân xác hết cử động. Sự thể này minh chứng rõ ràng, miệng, tai, mắt, óc, tay chân, thân xác chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động. Suy nghĩ, nhận định thêm chút nữa, chúng ta thấy, con người, thân xác, cả cuộc đời một người cũng chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động, và là cơ hội cho linh hồn học những bài học cần phải học; vì khi thân xác già cội không còn có thể giúp ích gì cho linh hồn được nữa, tất sẽ bị đào thải.
 
Suy nghĩ thêm chút nữa, thế linh hồn liên hệ với thân xác ra sao. Tự hỏi, tự suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét chính bản thân, chúng ta nhận rõ được, những tư tưởng, ước muốn, tham vọng của một người phát xuất tự linh hồn và bộ óc chỉ là phương tiện truyền thông, điều hành thân xác, cuộc đời để thực hiện những ý định, ước muốn này. Bộ óc thuộc về vật chất, và vật chất không thể phát sinh tư tưởng, ước muốn. Chúng ta muốn có cuộc sống thoải mái hơn, tiện nghi hơn, chúng ta sẽ tìm phương cách thực hiện cho có cuộc sống dễ thở hơn. Thân xác, cuộc đời là phương tiện cho linh hồn hoạt động, là phương tiện hay cơ hội cho linh hồn thực hiện ước muốn, ý định. Thế nên, sau khi thân xác qua đi, linh hồn vẫn tiếp tục theo đuổi ước muốn, ý định của mình. Điều này được phúc âm rõ ràng minh xác, “Quả thật, Ta bảo các ngươi, mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và mọi điều dưới đất các ngươi thái cởi, thì cũng được tháo cởi trên trời” (Mt. 18:18).
 
Trở lại lời phúc âm vừa được công bố, “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi; kẻ tin vào Ta thì các việc Ta làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa; vì Ta đi đến cùng Cha” (Gioan 14:12), ba vấn đề được đặt ra, và đó là tin vào đức Giêsu là tin thế nào, những việc gì đức Giêsu đã làm, và chúng ta có thể làm được như Ngài không?
 
Ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca rõ ràng minh xác, công việc và mục đích cuộc đời của Chủa Giêsu chính là rao giảng Tin Mừng Nước Trời, “Lc. 4:43; Mc. 1:38; Mt. 4:23); đồng thời đây cũng là nhiệm vụ mà đức Giêsu sai các môn đồ đi rao giảng “Hãy đi khắp cả thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin cùng chịu thanh tầy thì sẽ được cứu; còn ai không tin thì sẽ bị luận tội” (Mc. 16:15-16). Vậy Tin Mừng Nước Trời mà đức Giêsu rao giảng là gì? Nơi bốn phúc âm không có bất cứ một định nghĩa nào về Tin Mừng Nước Trời do đức Giêsu rao giảng, nghĩa là không có bất cứ một phạm trù nào về Tin Mừng Nước Trời. Cũng như thế, nơi phúc âm không có bất cứ định nghĩa nào về Thiên Chúa mà chỉ có phạm trù gọi Thiên Chúa là Cha. Sở dĩ nơi giáo lý có phạm trù “Thiên Chúa Ba Ngôi” vì nơi phúc âm nhắc đến Cha, Con, và Thánh Thần, chứ không có bất cứ định nghĩa nào về Thiên Chúa.
 
Thế nhưng, hãy rở phúc âm Matthêu, chúng ta đọc được, “Này trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con và người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel dịch được là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” (Mt. 1:23). Câu này được trích từ sách tiên tri Isaiah đoạn 7 câu 14. Chúng ta để ý, nơi sách tiên tri Isaiah được viết, “Và bà sẽ gọi tên con là Immanel” trong khi phúc âm Matthêu lại được viết, “Và người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel, được dịch là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Ai cũng biết, con trẻ được đức Maria sinh ra được đặt tên là Giêsu; tên Giêsu có nghĩa là đứa con trai. Thử xét câu, “Và người ta sẽ gọi tên Ngài;”  nơi tiếng Việt, chúng ta nói, người ta sẽ mệnh danh Ngài, hay nói theo kiểu bình dân, người ta sẽ gọi Ngài. Mệnh danh hay gọi một người tức là gán cho người đó danh hiệu tùy thuộc vị thế, công việc, hay thành quả của người đó.
 
Quý vị gọi tôi là linh mục; linh mục không phải là tên của tôi; linh mục là danh hiệu chỉ về chức vị của tôi trong giáo hội Công giáo. Danh hiệu linh mục nói lên nhiệm vụ, chức vị được giáo hội Công giáo chấp nhận. Trên diễn trình văn chương có thể được viết, người ta gọi tôi là linh mục chứ không ai nói, người ta gọi tên tôi là linh mục. Như vậy, câu phúc âm Matthêu nên được viết, “Và người ta sẽ gọi Ngài là Emmanuel.” Emmanuel có nghĩa, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Thêm vào đó, nếu để thời giờ đọc phúc âm, chúng ta sẽ nhận rõ được nhiệm vụ hay mục đích cuộc đời của đức Giêsu chính là rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Danh hiệu của đức Giêsu là Emmanuel thì Emmanuel chỉ về nhiệm vụ cũng như mục đích đức Giêsu thực hiện. Như vậy, đức Giêsu mang nhiệm vụ rao giảng Emmanuel, rao giảng Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
 
Nơi phúc âm Gioan được viết, “Đàng, sự thật, và sự sống chính là Ta. Không ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta.” Chúng ta nên để ý, phúc âm Gioan là thành quả của chiêm nghiệm; nên câu này có nghĩa, Thiên Chúa chính là sự sống nơi tạo vật. Có lẽ hơn kém hai ngàn năm trước tâm trí con người mới chỉ nhận ra sự sống là cội nguồn của tất cả. Tuy nhiên, sự sống bao gồm sự hiện hữu. Thiên Chúa là cội nguồn mọi sự hiện hữu, sự sống. Ngoài Thiên Chúa, ngoài sự hiện hữu, sẽ không có gì. Nhận thức như thế, tất cả đều thuộc về, đều ở trong sự hiện hữu. Bởi vậy, Chúa Giêsu được gọi là Emmanuel, được mệnh danh là Emmanuel, vì Nài rao giảng Emmanuel, Ngài rao giảng Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
 
Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mọi người, nơi quý ông quý ông bà anh chị em, nơi tôi, nơi tạo vật. Suy như thế, nói rằng Chúa đến cứu thoát, giải thoát, cứu độ chúng ta khỏi sự ngu muội. Thiên Chúa chính là quyền lực hiện hữu, sự sống nơi mọi người, là Emmanuel, và chúng ta đã không suy tư, suy nghĩ về chính mình, về sự hiện hữu của mình nên đã không nhận ra. Thế nên, từ nay, lúc quý ông bà anh chị em thưa lại lời linh mục trong nghi thức Công giáo, “Chúa ở cùng anh chị em… và ở cùng cha,” làm ơn nhớ, đó chính là chúng ta đang lặp lại Tin Mừng Nước Trời do đức Giêsu rao giảng.
 
Như vậy, câu phúc âm Gioan, “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi; kẻ tin vào Ta thì các việc Ta làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa; vì Ta đi đến cùng Cha” (Gioan 14:12). Câu này có nghĩa, bất cứ ai nhận thức được Thiên Chúa chính là sự sống nơi mình, sự hiện hữu của mình; nói cách khác, bất cứ ai nhận thực được Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình, nhận thực được Tin Mừng Nước Trời, tất nhiên có cùng nhiệm vụ, trách nhiệm rao giảng như đức Giêsu đã thực hiện, có cùng nhiệm vụ, trách nhiệm rao giảng Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mọi người, mọi tạo vật. Xin Thánh Thần Thiên Chúa dẫn dắt tâm trí mọi người nhận biết sự hiện diện của Chúa nơi mình amen.
 
 
 
Chủ Nhật 6A Phục Sinh (Gioan14:15-21)
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta, “Nếu các ngươi yêu mến Ta, các ngươi sẽ giữ các lịnh truyền của Ta;” vậy linh truyền của Chúa là gì?
 
Đọc nơi phúc âm, mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu, nói cách khác, nhiệm vụ của Ngài chính là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Ngài rao giảng “Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mọi người, mọi tạo vật.” Thiên Chúa chính là sự hiện hữu, sự sống nơi mọi người. Ngài nói cho mọi người biết vị thế cao trọng của mỗi người trước mặt Thiên Chúa; mỗi người là hiện thể của Thiên Chúa qua dạng thức nhân sinh, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.”
 
Mục đích duy nhất của Chúa Giêsu đơn giản chỉ có thế nên lệnh truyền của Ngài cũng chỉ là hãy suy tư, suy nghĩ để thực sự nhận biết, thực sự nhận thức được thực thể của mỗi người chính là hiện thể của Thiên Chúa nơi cõi dương gian để tiếp tục diễn trình chuyển biến của Ngài.
 
Nói như thế có nghĩa, tất cả mọi sự đều là hiện thể của Thiên Chúa vì mọi sự, từ ý nghĩ, tư tưởng, lời nói, sự sinh sống đến việc làm đều là hiện thể của Thiên Chúa trong diễn trình biến chuyển vô tận hiện hữu. Thiên Chúa là gốc gác, cội nguồn của mọi sự hiện hữu, là chính sự hiện hữu của tất cả; ngoài Thiên Chúa sẽ không có chi.
 
Nhận thức như thế, nhiều vấn đề được nêu lên, muôn ngàn câu hỏi phát sinh. Chẳng hạn, tội lỗi là gì, ở đâu ra; vì tội lỗi cũng là, cũng thuộc về sự hiện hữu, cũng thuộc về Thiên Chúa, vì ngoài Thiên Chúa không có gì hiện hữu. Tôi thử nêu lên một thí dụ; giả sử chúng ta dùng một con dao để thái miếng thịt hoặc băm rau lang nấu cám heo. Thay vì thái miếng thịt hay băm rau, chúng ta cắt vào tay. Sự việc cắt phải tay không đúng với mục đích thái miếng thịt hay băm rau. Và dĩ nhiên, không ai muốn cắt vào tay mình. Nơi trường hợp đưa cho em bé độ một hoặc hai tuổi chiếc lưỡi dao lam, em bé chắc chắn sẽ bị thương do không biết cách sử dụng lưỡi dao lam. Như vậy, tội lỗi chính là sử dụng sai mục đích thực thể của sự vật hay sự việc dẫu biết hay không biết.
 
Hơn nữa, thực thể cuộc đời luôn luôn biến động, điều được mọi người cho là đúng ngày xưa, hôm nay đã không hợp thời. Hành động của một người còn bị ảnh hưởng bởi thâm thức, ý định hoặc những nguyên nhân, điều kiện nào khác, coi chừng chính chủ nhân hành động, ước mơ cũng không biết hoặc không để ý.
 
Thí dụ, cho một người du thủ du thực mười đồng. Hành động cho tiền, giúp người nghèo khổ hơn được coi là hành động tốt nhưng thực thể hành động cho vẫn bị ảnh hưởng bởi tâm ý của người cho. Nếu người cho tiền có mục đích để lấy danh tiếng là biết thương người hoặc với ý định nào khác thì giá trị thực sự của hành động cho tiền lại lệ thuộc ý định của người cho, tham dự thánh lễ, cầu nguyện cũng như thế. Mọi hành động, hình thức sự việc xảy ra có thể nhận biết được cũng đều bị ảnh hưởng như thế. Có thể nói đây là lý do tại sao có câu phúc âm, “Đừng đoán xét để khỏi bị xét đoán” (Mt. 7:1). Nơi phúc âm Matthew còn rõ ràng nhấn mạnh, “Hãy coi chừng, đừng phô trương công đức trước mặt người ta để hòng được thấy; chẳng vậy, các ngươi mất công trước mặt Cha các ngươi, Đấng ngự trên trời: (Mt. 6:1).
 
Mọi sự, mọi vật, đều là hiện thể của Thiên Chúa dưới những dạng thức khác nhau nên Kinh Thánh được viết, “Và Thiên Chúa đã thấy mọi sự Người đã làm ra; và này tốt lành quá đỗi” (KN. 1:31). Thiên Chúa là quyền lực hiện hữu, quyền lực sự sống nơi mọi sự. Thế nên, sự hiện hữu của mọi sự là sự thánh thiện tự nó. Vấn đề được đặt ra, có những con muỗi cắn chết người, chẳng hạn những con muỗi sông Nile, hoặc các con muỗi khác nguy hiểm cho con người thì sự thánh thiện của chúng ở đâu. Nói cho đúng, những nguy hiểm của khí hậu, bão tố, rắn rết, muỗi mòng được gọi là nguy hiểm, tai họa đối với con người và theo lối nhận định hữu vi, thế nhân, chúng ta gọi đó là nguy hiểm, độc hại. Nhưng nếu nhìn khách quan, không lệ thuộc về phía con người, sự thể, sự việc tự chúng là chúng. Thí dụ, khí Co2 rất nguy hiểm cho con người nhưng cây cối lại cần khí Co2. Không có khí Co2, cây cối không sống được, không nhả ra khí Oxy cho con người sinh sống.
 
Mục đích cũng như nhiệm vụ cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Ngài được sai đến để nói cho mọi người, thức tỉnh mọi người biết thực thể và đó là Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi người. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta; Emmanuel.” Nói cách khác, mệnh lệnh của Ngài chính là hãy tỉnh thức, hãy suy nghĩ, suy tư để nhận thực được thực thể Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mọi người, mọi tạo vật. Thiên Chúa là quyền lực hiện hữu, quyền lực sự sống nơi mọi vật, mọi loài.
 
Thử nghĩ xem, nếu ai đó nhận thực được mình chính là hiện thể của Thiên Chúa phỏng có dám nghĩ tào lao thiên tướng nữa không? Có dám thực hiện bất cứ gì có hại cho mình hoặc cho người khác nữa không? Có dám mưu đồ không nên không phải, thế này thế nọ đối với bất cứ ai nữa không? Có câu nói, “Không làm điều xấu đã khó; không nghĩ đến điều xấu lại càng khó hơn.” Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình. Lối sống, cách sống, lối cư xử, lời ăn tiếng nói của mình thế nào, mình đang biểu hiệu, minh chứng, Thiên Chúa mà mình tin như thế. Xin Thần Linh của Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt tâm trí mỗi người chúng ta nhận thức sự hiện diện của Ngài nơi mình. Amen.
 
 
Thăng Thiên A (Mt. 28:16-20)
 
Bài phúc âm ngắn gọn vừa được công bố nêu lên mấy điểm chúng ta cần suy nghĩ hầu thấu hiểu ý của đức Giêsu đến với mọi người trước khi về trời.
1/ Thấy Ngài, họ phục lạy Ngài, nhưng có kẻ hoài nghi.
2/ Chúa Giêsu bảo họ, “Mọi quyền năng trên trời dưới đất được ban cho Ta.”
3/ Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân”
4/ Thanh tẩy chúng, “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”
5/ Dạy chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi.
6/ Và này, Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế.
 
Đây là đoạn cuối của phúc âm Matthêu. Chúng ta ai cũng biết, xét theo cơ câu văn chương của một tác phẩm, đoạn kết là phần tóm tắt, kết luận điểm chính yếu mà tác giả muốn độc giả ghi nhớ, nhận biết về chủ đích của tác phẩm. Thế nên, hôm nay chúng ta mừng kính sự việc Chúa Giêsu lên trời, nói theo ngôn từ Nôm Việt, được gọi là lễ Thăng Thiên. Tôi chỉ muốn nêu lên một đôi điểm thiết yếu lời Chúa muốn chúng ta để ý suy nghĩ hầu định rõ vị thế của kẻ tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Kitô. Từ sự suy nghĩ này, chúng ta có nhận định rõ ràng hơn những gì mình còn thiếu sót, những gì mình cần cải thiện, thay đổi sao cho hoàn thành đầy đủ công cuộc cứu độ của Chúa Giêsu đối với mỗi người.
 
1/ Thấy Ngài, họ phục lạy Ngài, nhưng có kẻ hoài nghi. Phúc âm không che giấu, hoặc thăng hoa mà dùng sự việc, sự thể nhân sinh, thế tục hữu vi để nói lên thực trạng tâm tư của người đọc, của những ai tin theo và muốn nhận thức thực thể chính mình cùng những thực sự liên hệ giữa Thiên Chúa và con người. Ngày ấy, dẫu theo Chúa Giêsu trên đường rong ruổi rao giảng qua các thôn làng, đường phố, nhưng sau khi Ngài sống lại, và họ đã gặp Ngài nhưng vẫn có người hoài nghi. Có thể sau khi sống lại, hình diện Ngài thay đổi chăng. Còn chúng ta thì sao, chúng ta chỉ được đọc, nghe tuyên truyền, chúng ta cảm nhận lòng mình thế nào đối với thực thể sống lại của Chúa Giêsu dẫu đã được phúc âm minh xác, “Phúc cho những ai không thấy mà tin”  (Gioan 20:29).
 
2/ Chúa Giêsu bảo họ, “Mọi quyền năng trên trời, dưới đất được ban cho Ta.” Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mọi người, nơi tạo vật. Một Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi đức Giêsu cũng chính là Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mọi người. Đức tin chính là quyền năng hiện hữu, quyền năng tối thượng của Thiên Chúa nơi tạo vật. Chúng ta tuyên xưng mình có đức tin, mình tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Kitô. Thế chúng ta đã nhận thực được đức tin là gì nơi mình chưa, và cảm thấy thế nào với đức tin nơi mình. Qua phúc âm, chúng ta được đức Giêsu minh xác rõ ràng, “Đức tin con cứu con, đức tin con chữa con.” Chúng ta đã nghiệm xét, suy nghĩ về đức tin ra sao đối với mình?
 
3/ Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân. Chúng ta tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Kitô. Chúng ta đã làm gì, làm cách nào để thâu nạp thêm môn đồ tin theo Thiên Chúa, tin theo đức Kitô? Đã có bao giờ chúng ta suy nghĩ, đặt vấn đề này chưa, hay chỉ tin theo, nghĩ rằng mình tin nhưng không biết tin là thế nào, không biết mình tin ra sao?
 
4/ Thanh tẩy chúng, nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Chúng ta đã thực hiện chút nào về việc nhân danh Thiên Chúa ba ngôi để thanh tẩy tâm hồn những người chưa nhận biết Chúa sống chung quanh chúng ta. Sự việc này đòi hỏi chúng ta cần suy nghĩ, tính toán và sắp xếp lối sống đức tin hầu những ai chưa nhận biết Thiên Chúa nhận ra mà tin theo. Chúng ta đã bao giờ đặt vấn đề thi hành nhiệm vụ, trách nhiệm của người tin vào Thiên Chúa, tin vào đức Kitô chưa?
 
5/ Dạy chúng mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi. Chúng ta đã thực thi mệnh lệnh này thế nào trong cuộc đời một Kitô hữu. Chúng ta có biết lệnh truyền của Chúa Giêsu là gì chưa? Mục đích và nhiệm vụ của Chúa Giêsu chính là rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Chúng ta đã suy nghĩ, nghiệm xét nghiêm chỉnh về Tin Mừng Ngài rao giảng chưa, cảm thấy thế nào? Tin Mừng mà đức Giêsu rao giảng chỉ vỏn vẹn mấy tiếng, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta;” nói cách khác, Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi người. Chúng ta đã thực sự nghiệm chứng, nghiệm xét được thực thể Thiên Chúa ngự trị nơi mình chưa. Nếu chưa, sao có thể dạy.
 
6/ Và này, Ta sẽ ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế. Thiên Chúa chính là quyền lực hiện hữu, quyền lực sự sống nơi tạo vật, luôn hiện diện và hoạt động nơi mọi người, mọi nơi. Chúng ta đã nhận biết, đã suy nghĩ về thực thể hiện hữu của Thiên Chúa nơi mình bao giờ chưa. Nếu chưa, hãy bắt đầu.
 
Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta nghiêm chỉnh suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét để thực hiện lời dạy của phúc âm nơi cuộc đời mỗi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 7A Phục Sinh (Gioan 17:1-11a)
 
Bài phúc âm vừa được công bố nêu lên mấy điểm để chúng ta nghiệm xét, suy nghĩ hầu nhận thức được lời Chúa muốn chúng ta cần nhận biết thế nào về thân phận làm người của mình trước mặt Chúa. Những điểm chúng ta cần suy nghĩ đó là:
1/ Sự sống đời đời tức là: chứng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu Kitô.
2/ Bây giờ chúng đã biết rằng: mọi sự Cha đã ban cho con đều do Cha tất cả; vì các lời Cha đã ban cho Con, Con đã ban lại cho chúng, chúng đã chịu lấy, và nhận thật rằng Con đxa xuất tự Cha cùng đã tin rằng chính Cha đã sai Con.
 
Tôi muốn nhắc lại một lần nữa; phúc âm Gioan là thành quả của nghiệm chứng. Nếu chúng ta đặt mình vào vị thế của đức Giêsu để nghiệm xét, chúng ta sẽ nhận thực được lời Chúa muốn nói gì với mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên để ý đến tâm tình của mình, cảm nhận của mình. Ai cũng vậy, nơi phương diện tâm linh được dùng ngôn ngữ nhân sinh để diễn giải, hoặc bày tỏ nơi trường hợp đối diện với thực thể tối thượng là Thiên Chúa, Thượng Đế, ngôn từ độc nhất và chân thật chỉ nói lên sự cảm nhận chân thành chứ không có bất cứ ý nghĩa so sánh nào.
 
Thế nên, câu, “Sự sống đời đời tức là: chứng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật,” câu này nói lên tâm tình cảm nhận, cảm tính của bất cứ ai khi nâng lòng mình lên hòa nhập với thực thể uyên nguyên, với quyền lực hiện hữu tối thượng, thường được mệnh danh Thiên Chúa, Thượng Đế, Ông Xanh, Ông Trời, hay những danh hiệu khác nơi những văn hóa, niềm tin khác biệt, và thường thì chúng ta coi chừng chẳng bao giờ được nghe nói tới hoặc không dám nhắc nhở tới. Hơn nữa, phúc âm dùng ngôn từ nhân sinh, hữu vi, thế tục để nói về thực thể tâm linh; do đó, khi đọc hoặc nghe phúc âm chúng ta thường hiểu trong giới hạn nhân sinh. Phúc âm không cần biết, không lệ thuộc luân lý, đạo đức nhân sinh, mà chỉ dùng ngôn từ nhân sinh để ám chỉ về thực trạng, hay trạng thái tâm linh, tâm tình.
 
Chẳng hạn, câu, “Kẻ nào yêu cha mẹ hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta,” hay, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi.” Hai câu này không nói gì về cha mẹ hoặc mắt mũi, mà chỉ dùng cha mẹ, mắt, để ám định về sự thể, sự việc nào đó diễn tiến khi suy nghĩ, nghiệm xét mà thôi. Phúc âm dùng sự việc nhân sinh, hữu vi để chỉ về sự thể nào đó nơi tâm linh chẳng khác gì Tục Ngữ, Ca Dao nơi dân gian người Việt. Thí dụ, “Đầu ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người la con rùa,” hay, “Liệu bò, đo chuồng; liệu cơm gắp mắm.” Mấy câu này đâu nói gì về ba ba, con trạnh, con rùa, hoặc con bò, cái chuồng, hoặc cơm, mắm. Chúng nói về điều gì, tôi nghĩ, mọi người đều biết. Tương tự, phúc âm cũng được viết theo kiểu đó.
 
Thế nên, thử xét, “Sự sống đời đời” là gì? Sự sống đời đời không phải là sự sống của thân xác này. Ai cũng thế, là con người, chúng ta đang mang cuộc sống nhân sinh, đang trong giòng sinh, bệnh, lão, tử. Cho dù sống tới bao lâu thì đến ngày nào đó thân xác này cũng phải chết, cũng phải qua đi. Bởi vậy, “Sự sống đời đời” nói về linh hồn; linh hồn bất tử. Do đó câu hỏi được đặt ra, chúng ta đã biết gì về linh hồn của mình; đã bao giờ chúng ta suy nghĩ, đặt vấn đề để nhận biết linh hồn mình là gì chưa? Nếu chưa biết linh hồn mình thế nào, liên hệ với thân xác, với cuộc đời mình ra sao, thì sao có thể đặt vấn đề về sự sống đời đời. Chưa nhận biết linh hồn mình là gì thì nói đến sự sống đời đời cũng chỉ như cuội.
 
Không ai có thể giải thích về linh hồn của mình mà chỉ chính mình mới có thể nhận biết. Muốn nhận biết linh hồn mình là gì, thế nào, hãy nhìn vào thực tại. Chúng ta, ai cũng kinh nghiệm, con mắt nhìn, tai nghe, miệng nói, óc suy nghĩ. Nhưng thử hỏi, nơi trường hợp linh hồn ra khỏi xác được gọi là chết, thì mắt, tai, miệng, óc, còn có thể nhìn, nghe, nói, suy nghĩ được không? Sự thể này chứng tỏ mắt không thể nhìn được tự nó; tai cũng không thể tự nó nghe; miệng không thể tự nó nói, hoặc bộ óc không thể tự suy nghĩ. Những sự thể này minh chứng, tai, mắt, miện, bộ óc, thân xác, cuộc đời một người đều chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động. Nhận biết như vậy, linh hồn là cái gì đó nơi một người dùng miệng để nói, dùng tai để nghe, dùng mắt để nhìn, và dùng bộ óc để chuyển tải suy nghĩ, suy tư, nhận thức.
 
Sự sống đời đời chỉ về sự hiện hữu của linh hồn. Nhận biết sự sống đời đời là nhận biết thực thể hiện hữu tâm linh của mình, nhận biết sự hiện hữu của Thiên Chúa, sự hiện hữu tối thượng, gốc gác của mọi sự hiện hữu. Bất cứ sự gì hiện hữu đều là hiện thể của sự hiện hữu tối thượng này và ngoài sự hiện hữu sẽ không có gì. Nhận biết như vậy, tất cả mọi sự đều là hiện thể của sự hiện hữu này; tất cả mọi sự đều là hiện thể của Thiên Chúa dưới những dạng thức khác nhau. Linh hồn của mình là hiện thể của Thiên Chúa; thân xác, cuộc đời của mình, ý nghĩ, ước muốn, tham vọng của mình, cũng đều là hiện thể của Thiên Chúa trong diễn tiến vô cùng. Thế nên, vấn đề chỉ là mình có suy nghĩ, có đặt vấn đề để suy nghĩ hầu nhận biết thực thể của mình hay không!
 
Sự sống đời đời là nhận biết Thiên Chúa, nhận biết mọi sự đều là hiện thể của Thiên Chúa đang diễn tiến trong dòng sinh hóa vô cùng của thực thể hiện hữu. Thiên Chúa chính là sự hiện hữu, sự sống nơi mình, nơi mọi loài, mọi vật. Gọi là mình, nhưng thực ra, chính là hiện thể của Thiên Chúa trong thế giới nhân sinh. Mình cũng giống như một giọt nước trong biển cả. Căn gốc của biển cả là nước và mình là một giọt nước. Mình là hiện thể của Thiên Chúa nơi diễn tiến vĩnh cửu của Ngài. Thân xác mình rồi cũng qua đi nhưng thực thể đích thực của mình là linh hồn vẫn luôn hiện hữu, được gọi là sự sống đời đời.
 
Nhận thức như thế, câu, “Bây giờ chúng đã biết rằng: mọi sự Cha đã ban cho con đều do Cha tất cả; vì các lời Cha đã ban cho Con, Con đã ban lại cho chúng, chúng đã chịu lấy, và nhận thật rằng Con đxa xuất tự Cha cùng đã tin rằng chính Cha đã sai Con,” giải nghĩa Tin Mừng Nước đức Giêsu rao giảng, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Một Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi đức Giêsu cũng chính là Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi mỗi người, nơi mọi người, mọi tạo vật. Thiên Chúa chính là sự hiện hữu, sự sống nơi mỗi người.
 
Xin Thánh Thần Thiên Chúa nơi mỗi người soi sáng và dẫn dắt chúng ta nhận thức được thực thể của chính mình, một hiện thể của Thiên Chúa dưới dạng thức nhân sinh. Amen.
 
 
 
Hiện Xuống ABC (Gioan 20:19-23) (general)
 
Hôm nay, chúng ta mừng lễ Thánh Thần Hiện Xuống; theo Công giáo, chúng ta thường gọi là lễ Hiện Xuống. Lời Chúa qua phúc âm Gioan vừa được công bố, “Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi. Nói rồi, Ngài thổi hơi trên họ, và nói với họ: ‘Hãy chịu lấy Thánh Thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ’” (Gioan 20:21-22).
 
Thêm một lần, tôi muốn nhắc nhở tới mọi người. Đó là khi nghe công bố hoặc đọc phúc âm, thường được gọi là Lời Chúa, lời phúc âm, lời Chúa nói thẳng với chính mình bằng những câu khôn ngoan hay dụ ngôn. Thế nên, hôm nay tôi mời gọi mọi người thử đóng vai các môn đồ đang đối diện với Chúa Giêsu trước khi Ngài về trời. Một điều mà chúng ta nên để ý; đó là câu, “Nói rồi, Ngài thổi hơi trên họ, và nói với họ; ‘Hãy chịu lấy Thánh Thần.” Thiên Chúa ở đâu, Thánh Thần ở đó. Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời và đó là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thiên Chúa ở cùng chúng ta; Thiên Chúa đang hiện diện nơi quý ông, quý bà, nơi mỗi người quý anh chị em, nơi tôi, nơi mọi người; thì Thánh Thần Thiên Chúa cũng đang hiện diện và hoạt động nơi mỗi người, nơi mọi người.
 
Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi,” Thiên Chúa sai đức Giêsu xuống thế để làm gì? Xin thưa, lật phúc âm chúng ta đọc được; đức Giêsu nói với những người đi tìm Ngài, “Ta còn phải đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa. Chính vì thế mà Ta đã được sai đến” (Lc. 4:43). Chúa Giêsu được Thiên Chúa Cha sai đến thế gian để rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Nay Ngài cũng sai chúng ta thực hiện nhiệm vụ Ngài đã làm mà thôi, và đó cũng chỉ là rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa, rao giảng cho mọi người biết sự thể Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi người, nơi mọi người. Rao giảng bằng cách nào thì tùy mỗi người; miễn sao người ta nhận biết thực thể Thiên Chúa đang ngự trị và hoạt động nơi họ là được.
 
Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha.” Câu này là một phạm trù cần được đặt lại vấn đề. Thứ nhất, làm sao mình biết được tội của kẻ khác mà đặt vấn đề tha với không tha! Thứ nhì, dẫu ai đó phạm lỗi với mình, cho dù mình tha nhưng chính họ không tha cho họ thì phỏng gánh nặng của lỗi lầm đó có được cất khỏi tâm hồn họ không? Và như vậy, quyền tha thứ chính thức phát xuất tự đâu? Lật phúc âm chúng ta đọc được lời Chúa dạy, “Bởi đó, Ta bảo các ngươi: mọi tội lỗi và lộng ngôn sẽ tha được cho người ta, còn lộng ngôn đến Thần Khí sẽ không tha được. Và ai nói lời nghịch đến Con Người, điều đó sẽ tha được cho người ấy; còn ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều ấy sẽ không tha được cho người ấy, thời này cũng như thời sẽ đến” (Mt. 12:31).
 
Thế nghĩa là sao? Một đàng thì nói, tha tội cho ai thì tội họ được tha; đàng khác lại nói, còn ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều ấy sẽ không tha được cho người ấy, thời này cũng như thời sẽ đến! Đặt vấn đề như vậy, chúng ta thấy, phúc âm khuyến khích, thách đố chúng ta phải suy nghĩ. Điều rõ ràng ai cũng có thể nhận biết; đó là đã hơn kém hai ngàn năm từ ngày Chúa Giêsu xuống thế rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa tới lúc này, ít nhất là ngay tại đây, nơi nhà thờ, nhiều vấn đề chúng ta vẫn chưa biết; chẳng hạn tội phạm đến Thánh Thần là tội gì? Linh hồn mình là gì, liên hệ với xác thân, cuộc đời của mình thế nào? Thiên Chúa là gì? Tin vào Thiên Chúa là tin thế nào, ra sao? Thử nêu lên đôi vấn đề như thế, ai cũng nhận ra đã bao lâu nay mình đã không suy nghĩ, chưa suy nghĩ trong khi phúc âm câu nào cũng thách thức chúng ta đặt vấn đề.
 
Nhìn lại chính mình, ai trong chúng ta cũng nhận thấy mình thông minh, linh hoạt trong suy nghĩ, suy tư để giải quyết những phiền hà, khó khăn trong cuộc sống, nếu không muốn nói là chúng ta chẳng những đã suy nghĩ, đặt vấn đề và thực hiện những sự việc cần thiết hầu chuẩn bị, hay có được một tương lai tươi sáng, dễ thở hơn. Nhìn vào thực tại gia đình cũng như cuộc sống, có được một gia đình nề nếp, thuận hòa, an khang, đó là thành quả của suy tư, suy nghĩ và công sức kiến tạo của đời người. Sự thể này minh chứng, xét theo nhận thức hữu vi, nhân sinh, chúng ta tuyệt vời thông minh, sắc sảo. Chúng ta nhận ra mình thông minh, sắc sảo vì chúng ta suy nghĩ, suy tư, đặt vấn đề, tiên liệu sự việc sắp đến để chuẩn bị đối ứng, giải quyết.
 
Thế nhưng, tại sao mọi người tin rằng, nghiệm được rằng mình có linh hồn mà trãi qua bao ngày tháng, có người đã hơn “Thất thập cổ lai hy,” và mãi cho tới lúc này vẫn chưa biết linh hồn mình là cái gì, liên hệ với thân xác, cuộc đời của mình ra sao. Hãy thật lòng với chính mình và đặt vấn đề, đã bao giờ mình suy nghĩ, hoặc dành đôi phút để tự hỏi và tìm câu trả lời hầu nhận biết linh hồn mình là gì chưa? Linh hồn liên hệ đến thân xác và cuộc đời của mình ra sao? Chính linh hồn của mình mà mình không biết nó thế nào thì nói rằng, tuyên xưng rằng tin vào Chúa thì tin thế nào? Chính linh hồn mình mà không biết thì sao có thể biết Chúa mà tin. Nhận thực được lòng ruột mình như thế, chúng ta đành phải ngửa mặt lên trời thú nhận, xưa nay, chúng ta đã không để ý suy nghĩ, suy tư để nhận biết về linh hồn của mình thế nào. Chúng ta đồng thời cũng chân thực nhận ra mình rất thông minh, lanh lợi trong suy nghĩ về cuộc sống nhưng đã chưa để ý suy nghĩ về tâm linh. Suy nghĩ về tâm linh là suy nghĩ về nỗi thao thức bẩm sinh của mỗi người, linh hồn mình là gì; mình từ đâu đến nơi cuộc đời này; mục đích cuộc đời của mình là gì? Sau khi thân xác qua đi, linh hồn mình sẽ đi về đâu? Thiên Chúa là gì, phúc âm nói về những chi?
 
Chắc chắn rằng ai cũng nhận thấy, những con khỉ, những con chó, hoặc bất cứ con vật nào cho dù đã sống bao lâu cũng không thể so sánh với một em bé dẫu chỉ mới 7 hay tám tuổi. Lý do, vì con vật không có khả năng suy nghĩ mà chỉ có thể phản ứng theo bản năng. Có câu nói, “Người ta có thể dạy cho một con khỉ đánh đàn piano một bản nhạc tuyệt vời, nhưng người ta không cách nào dạy cho con khỉ trở thành một nhạc sĩ.” Cho dù bất cứ con vật nào được coi là thông minh cách mấy thì khi so với bất cứ ai, con vật vẫn là một thứ ngu muội. Ngu muội vì không biết suy nghĩ, suy tư mà chỉ làm theo, chỉ phản ứng theo bản năng. Đưa cho một em bé bẩy hay tám tuổi cây nến đang cháy sáng và nói em bỏ lên bàn, chắc chắn cả nhà đều được sáng soi trong bóng tối. Nhưng đưa ngọn nến đang được thắp sáng cho con khỉ dù bảo nó thế nào thì coi chừng nó sẽ đốt cháy nhà. Sự thể này minh chứng, tội lỗi bởi sự ngu dốt, không suy nghĩ mà ra.
 
Con người và con vật khác nhau một trời một vực, không có gì đáng nói để so sánh; vì con người có khả năng suy tư, suy nghĩ, nhận định. Khả năng suy nghĩ suy tư này nơi con người được gọi là bẩm sinh. Tư tưởng, ý nghĩ, ước muốn, tham vọng thuộc về tâm trí. Suy nghĩ về cuộc sống, phải làm gì, thực hiện gì để có cuộc sống khấm khá hơn được gọi là suy nghĩ nhân sinh, thế tục. Suy nghĩ về linh hồn, niềm tin, quan niệm, nhận thức chính là suy nghĩ tâm linh.
 
Sự suy nghĩ, suy tư phát sinh từ linh hồn vì khi linh hồn đã ra khỏi xác thì thân xác đó không còn có thể suy nghĩ chi được, cũng như không nói, nghe, hay nhìn được nữa. Thân xác chỉ là phương tiện, công cụ cho linh hồn hoạt động. Thân xác, cuộc đời một người cũng chỉ là cơ hội, công cụ cho linh hồn mà thôi. Nói cách khác, tâm trí chính là hoạt động của linh hồn, và thân xác là phương tiện cho linh hồn thực hiện, hoàn thành ước muốn, ước mơ của linh hồn,.
 
Nhận rõ như thế, chúng ta có thể minh xác, linh hồn và thân xác là một, bất khả phân ly, khi phân ly được gọi là chết. Linh hồn không khác gì người lái xe và chiếc xe chính là thân xác; linh hồn muốn gì, thân xác thực hiện nấy. Ước muốn, ý định, tham vọng, yêu thương, giận ghét phát xuất tự linh hồn. Suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét đều do linh hồn. Cuộc đời thăng tiến hay không đều do ước muốn, ý định, suy nghĩ, suy tư từ linh hồn. Con vật không có khả năng suy tư nên suốt đời, trãi qua bao thế hệ, bao ngàn năm cũng chỉ phản ứng theo bản năng, cũng ngu muội nếu đem so sánh với con người.
 
Như vậy nếu con người không suy nghĩ, không đặt vấn đề để tìm hiểu, nhận thức, thì cũng ngu muội như con vật. Con người được ban cho khả năng suy nghĩ nếu không suy nghĩ tức là khinh chê hồng ân suy tư nơi mình, khinh chê hồng ân của Thánh Thần ngự trị nơi mình. Không suy nghĩ, suy tư, tức là không sử dụng hồng ân suy tư, được gọi là phạm đến Thánh Thần. Tất nhiên, không suy nghĩ, suy tư thì suốt đời ngu muội. Có câu nói, “Tội lỗi bởi ngu dốt mà ra.” Không suy nghĩ, suy tư sẽ không bao giờ thăng tiến. Chúng ta chưa suy nghĩ về linh hồn mình là gì nên không biết linh hồn là gì, liên hệ đến xác thân, cuộc đời mình thế nào. Nhận biết như thế, không suy nghĩ, suy tư tức là  phạm đến Thánh Thần. Không suy nghĩ, suy tư thì suốt đời ngu dốt, được gọi là phạm đến Thánh Thần.
 
Xét thế, câu, “Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha,” cũng cần được đặt thành vấn đề. Giả sử mình vấp phạm, làm điều gì sai thì ai sẽ là người sửa sai cho mình? Xin thưa, chính mình mới biết sự sai trái nơi điều mình thực hiện và như thế chính mình mới có thể sửa sai. Xét nơi lãnh vực tâm linh, suy nghĩ, đâu ai biết mình toan tính, suy tư điều gì; thế nên cũng chỉ chính mình mới biết, mới có thể sửa sai. Như thế vấn đề được đặt ra đó là, nếu lỡ đã vấp phạm, mình có chấp nhận tha thứ cho mình không, và nếu mình thực sự tha thứ cho mình thì mình phải làm gì, phải thực hiện những gì.
 
Thí dụ, đã bao ngày tháng trôi qua, mình đã vô tình không suy nghĩ về linh hồn mình là gì, thế nào. Như vậy, mình đã vô tình không sử dụng khả năng suy tư, suy nghĩ để tìm hiểu về linh hồn của chính mình. Chấp nhận mình lầm lỗi vì đã vô tình khinh chê, vô tình không sử dụng hồng ân suy tư của Thánh Thần mà không làm gì, không thực hiện gì thì cũng như không; vẫn tiếp tục không suy nghĩ, vẫn tiếp tục phạm đến Thánh Thần. Bởi vậy, hành động tha thứ cho lỗi phạm của mình chính là hành động, thái độ suy tư, suy nghĩ.
 
Hôm nay suy nghĩ chưa ra, tiếp tục ngày mai; ngày mai vẫn còn lắm thắc mắc, từ từ suy nghĩ từng phần một. Tháng này chưa xong, suy nghĩ thêm tháng nữa; năm này vẫn còn mù mờ, suy nghĩ thêm năm nữa, suy nghĩ cho tới khi nào thông suốt. Không ai ăn dùm uống dùm cho mình được thì cũng không ai suy nghĩ dùm cho mình được; không ai có thể giải quyết suy tư cho mình được.
 
Như vậy, hai câu phúc âm, “Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha,” và, “Còn ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều ấy sẽ không tha được cho người ấy, thời này cũng như thời sẽ đến” (Mt. 12:31) đều nói thẳng, chỉ thẳng vào mỗi người chúng ta. Nếu chúng ta thực lòng muốn tránh thoát, muốn tha tội phạm đến Thánh Thần, tội khinh chê hồng ân suy tư, suy nghĩ, thì cần, thì phải suy nghĩ. Tôi nhắc lại; không ai có thể ăn dùm, uống dùm cho mình được, thì cũng không ai có thể suy nghĩ dùm cho mình được. Xin Thánh Thần của Thiên Chúa ngự trị nơi mỗi người soi sáng và dẫn dắt chúng ta suy nghĩ, suy tư để thực sự nhận biết thực thể con người của mình là gì trước mặt Thiên Chúa. Amen.
 
 
 
Hiện Xuống ABC (Gioan 20:19-23)
 
Một lần nữa, chúng ta đối chứng với câu phúc âm, “Hãy nhận lấy Thánh Thần, các ngươi tha tội cho ai thì tội họ được tha; các ngươi cầm buộc ai thì tội họ bị cầm giữ.”
 
Tất cả chúng ta đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này, giả sử tôi chân thành và nhân danh vị thế một linh mục công bố mọi tội phạm của mọi người được tha hết, thử hỏi, quý vị có thực sự cảm thấy mình được tha thứ hết mọi lỗi lầm đã vấp phạm không? Xin thưa rằng không và dù tôi có thực sự muốn tha hết mọi lỗi lầm mọi người vấp phạm cũng không có ảnh hưởng gì vì tôi không có quyền đó, không mang năng lực đó và cũng không có tổ chức nào hay bất cứ ai có năng lực ban cho tôi quyền đó. Nói theo niềm tin Công giáo, khi xưng tội với một linh mục; linh mục cũng không có quyền cầm giữ, cầm buộc lỗi lầm của bất cứ ai. Linh mục có nhiệm vụ đại diện Giáo hội, hoặc thay mặt đức Kitô nói lên lòng thống hối của quý vị; nói cách khác, làm nhân chứng cho lòng thống hối của quý vị. Thực sự được tha thứ hay không tùy tâm hồn, tùy lòng thống hối của quý vị, không lệ thuộc sự cấm hoặc cầm giữ của linh mục. Linh mục có nhiệm vụ nói lên lời hòa giải, nói lên nỗi lòng thống hối của quý vị; được tha hay không tùy lòng thống hối của quý vị, không lệ thuộc bất cứ ai.
 
Nơi ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta có câu nói, “Đi khám bác sĩ” hoặc, “Sửa sắc đẹp.” Thử hỏi, chúng ta tới để bác sĩ khám bệnh hay chúng ta khám bệnh bác sĩ mà lại nói, “Đi khám bác sĩ?” Một người vô thẩm mỹ viện để làm gì? Để chỉnh hình cho hấp dẫn hơn tức là sửa sang cho dễ nhìn, dễ ăn khách hơn; tại sao lại nói sửa sắc đẹp, thay vì sửa sắc xấu cho đẹp hơn. Ai cũng nhận thấy hai câu nói này đều nghịch lại với ý nghĩa ngôn từ được dùng và ai cũng hiểu hai câu nói này muốn nói về sự việc gì. Cổ nhân có câu, “Ý tại, ngôn ngoại” là thế.
 
Thử xét nơi trường hợp ai đó làm điều gì phiền hà, thiệt hại đến mình và mình thực sự, chân thành tha thứ cho người đó. Vấn đề được đặt ra, phỏng người đó có tha thứ cho chính họ không? Mình thực lòng tha cho họ nhưng họ không tha cho họ thì nghĩa là sao? Xin thưa, họ vẫn bị nỗi khốn khổ vì lầm lỗi hành hạ nơi tâm tư. Thử nhớ lại, có lần chúng ta vô tình nói câu nào đó, không ai nơi hiện trường để ý nhưng đã bao ngày tháng chính sự vô tình ấy cắn rứt tâm hồn mình. Nói cho đúng, chính mình đã không tha cho mình được thì không ai có thể tha cho mình. Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình luôn sẵn sàng tha thứ mà mình không chấp nhận tha cho mình thì Ngài cũng bó tay.
 
Qua những nhận định xác thực nơi tâm tư như thế, câu nói, “Các ngươi tha tội cho ai thì tội họ được tha; các ngươi cầm buộc ai thì tội họ bị cầm giữ,” hình như nói với mỗi người chúng ta hãy đặt lại vấn đề, hãy suy nghĩ chín chắn hơn. Hãy thử đặt mình nơi trường hợp có ai đó làm phiền lòng hay hãm hại mình. Nếu mình thật lòng tha thứ cho người đó, mình thực ra chỉ giải tỏa sự phiền hà nơi tâm tư của mình để lòng thanh thản khỏi bị cảm nghĩ trói buộc bởi sự phiền hà ấy. Nhưng người làm phiền hà hay hãm hại mình thì sao? Dẫu mình nói cho họ biết hay không, nỗi khốn nạn nơi lòng của họ vẫn ngày đêm gậm nhấm tâm tư họ dù họ nhận biết hay không. Nói như thế, tha tội cho ai tức là giải thoát chính mình. Và như vậy, câu nói, “Các ngươi tha tội cho ai thì tội họ được tha” mang nghĩa ngược lại; các ngươi tha thứ cho ai tức là giải thoát chính mình khỏi sự phiền hà thế tục; chẳng khác gì ý nghĩa ngược lại của câu nói, “Đi khám bác sĩ,” hay, “Sửa sắc đẹp.”
 
Tôi nêu lên thêm một trường hợp bình thường để mọi người suy nghĩ, nhận định; sự việc này có thật mà thường chúng ta không để ý đặt vấn đề. Giả sử có ai đó vu oan giá họa hoặc làm điều gì tổn hại đến danh dự, đôi khi đến phần nhỏ tài sản không đáng kể của chúng ta. Thực lòng, chúng ta không thèm chấp và cũng không có bất cứ ý định làm bất cứ gì liên hệ đến người đó. Chúng ta cũng không nói ra nói vào, không nói cho người đó biết chi hết. Tất nhiên, ai cũng đều nhận biết, người mà làm tổn hại đến danh dự hay vị thế của chúng ta sẽ quen thói và tất nhiên sẽ phải đối diện với phiền hà do chính họ tạo nên.
 
Tiền nhân dân Việt có câu nói, “Đi đêm, có ngày gặp ma.” Tuy nhiên, thử nhìn lại lòng mình, mình biết chắc họ sẽ bị phiền hà vì tham vọng, thói xấu của họ nhưng không nói cho họ biết; bởi nếu nói ra chỉ tạo thêm kẻ thù, biến họ thành kẻ đối đầu chẳng sung sướng gì, nhưng không nói cho họ biết, mình sẽ có mặc cảm độc ác. Nhận định thực thể sự việc như thế, với một lương tâm ngay chính, mình bị du vào thế chiêc lưỡi giữa hai hàm răng. Quý vị thử suy nghĩ mình nên như thế nào? Với lòng chân thành, với lương tâm ngay chính, nói cho họ biết hầu mong họ tránh khỏi phiền hà lớn lao sau này vì tham vọng quen thói; tất nhiên, họ sẽ trở nên kẻ thù của mình và làm phiền mình hơn. Cứ coi như chẳng có việc gì xảy ra, cứ coi như mình ngu ngơ không biết, dẫu không có bất cứ ý định, mưu toan trả thù hay làm bất cứ gì đụng chạm đến họ, mình lại mang mặc cảm độc ác vì biết nhưng không nói ra.
 
Trả lời sao đây? Nói ra, cho dù với ý hướng của một lương tâm tốt lành cũng sẽ tạo thêm kẻ thù. Không nói năng chi, chấp nhận như ngu ngơ không biết, lại mang mặc cảm độc ác. Lời phúc âm thần thánh, “Hãy biết thương xót như Cha các ngươi trên trời là Đấng hay thương xót” luôn luôn kinh động lòng người. Lạy Chúa tôi, ai có thể dù chỉ nghiệm được câu nói phúc âm đặt nơi miệng Chúa Giêsu trong giờ tử nạn, “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì lầm chẳng biết.” Xin Thần Khi của Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta suy nghĩ và nhận định đúng theo ý Ngài. Amen.
 
 
 
Chúa Ba Ngôi A (Gioan 3:16-18)
 
Thiên Chúa quá yêu thương thế gian đến nỗi đã sai Người Con Một xuống thế gian; ngõ hầu ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa không sai Con đến thế gian để xét xử thế gian, nhưng để nhờ Ngài mà thế gian được cứu. Kẻ tin vào Ngài thì không bị án xử. Kẻ không tin thì đã bị án xử rồi, bởi vì không tin vào danh Con Thiên Chúa.
 
Bài phúc âm vừa được công bố trích từ phúc âm Gioan. Và dĩ nhiên, chúng ta đều biết, phúc âm Gioan là thành phẩm hay kết quả của nghiệm chứng, nghiệm xét, chiêm nghiệm. Thế nên, những lời phát biểu chỉ nói lên cảm nhận của một quá trình suy tư, suy nghiệm. Chẳng hạn lời cảm nhận, “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian.” Muốn cảm nhận được phát ngôn này, lại cần nhận biết Thiên Chúa là gì, liên hệ đến thực thể thế gian ra sao. Thế gian được hiểu bao gồm những thành phần nào. Làm sao để biết Thiên Chúa yêu thương thế gian trong khi quan niệm thế gian, bao gồm những mưu mô gian tà, thuộc thành phần đối nghịch với Thiên Chúa. Tại sao không nói Thiên Chúa yêu thương thế ngay mà lại nói yêu thương thế gian.
 
Những suy tư, suy nghĩ xảy đến nơi tâm trí của người chiêm nghiệm, nghiệm xét không giới hạn về mọi phương diện, khía cạnh, ảnh hưởng tùy thuộc căn cơ, cá tính, thể chất, toàn bộ của người suy tư, và cảm nhận được ghi lại chỉ là câu kết luận tối nghĩa khiến người đọc hay nghe cần suy tư, nghiệm xét thâm trầm, có khi cả đời chỉ luẩn quẩn với một câu cũng khó hòng cảm nghiệm đành chấp nhận sống để dạ, chết đem theo.
 
Thiên Chúa quá yêu thương thế gian! Chúng ta đang sống trong thế gian. Chúng ta đang phải đối diện với muôn ngàn trắc trở, khó khăn nơi cuộc sống nhân sinh, và thường thì không để ý gì tới cuộc sống tâm linh của mình. Cuộc sống tâm linh là gì? Xin thưa, cuộc sống tâm linh tức là sự thể diễn tiến của linh hồn. Nói theo ngôn ngữ nhân sinh, thế tục, mỗi người bao gồm một linh hồn được nhập thể nơi một thân xác. Cuộc sống thân xác, cuộc đời của một người là cơ hội hay phương tiện cho linh hồn học những bài học cần phải học hầu nhận thực được thực thể của mình là gì. Cuộc sống của một người bao gồm cuộc sống xác thân và hành trình tâm linh của linh hồn.
 
Cuộc sống xác thân thì ai cũng biết; ai cũng đang sống; ai cũng đang phải đối diện với sự thể cuộc sống hữu vi, nhân sinh; ai cũng đang phải vật lộn với những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, cơm áo, gạo tiền. Khi còn đang theo học lớp Kitô học nơi đại chủng viện Notre Dame ở tiểu bang Louisiana, Hoa Kỳ, nhân một hôm khi có thởi gian nghỉ mười lăm phút giữa hai giờ học, vô tình tôi đi ra khỏi lớp ngay bên cạnh cha giáo. Tôi nhẹ nhàng lên tiếng chào hỏi và nói với ngài, “Tôi cảm thấy, hình như người ta cứ bới ra những vấn đề rồi vật lộn với những vấn đề đó không chịu ngưng nghỉ.” Cha giáo thoáng quay qua nhìn tôi đoạn điềm đạm trả lời, “Tôi không nhớ được nước nào có câu ngạn ngữ, ‘Khi con vật ăn no, chúng ngủ, nhưng khi con người có đủ cơm no áo mặc, thì người ta suy nghĩ.”
 
Hôm nay chúng ta họp nhau nơi nhà thờ thành kính, tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi. Dĩ nhiên, ai cũng biết, ngay cả các em nhỏ nơi lớp học giáo lý xưng tội lần đầu cũng có thể vanh vách đọc lên phạm trù Thiên Chúa Ba Ngôi, ngôi thứ nhất là Cha, ngôi thứ hai là Con, và ngôi thứ ba là Thánh Thần. Ba ngôi nhưng là một Thiên Chúa, không ngôi nào hơn, ngôi nào kém, và ba ngôi bằng nhau. Ba ngôi một Thiên Chúa, một Thiên Chúa ba ngôi. Giáo hội dạy chúng ta phải tin vì đó là sự mầu nhiệm của Thiên Chúa. Thiên Chúa ba ngôi, và ba ngôi là một Thiên Chúa.
 
Tôi nghĩ; tôi nhận định; tôi cũng tin chắc rằng mọi người đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này đều nghĩ, đều cho rằng, nhận định, và tin chắc chúng ta là người. Ai trong nhà thời lúc này cũng là người, và bất cứ ai trên thế giới này cũng đều là người dẫu khác màu da, phong tục, tập quán, lời ăn tiếng nói, văn hóa, thói quen. Tất cả họ đều là người. Tất nhiên, là người, chúng ta có suy nghĩ, suy tư, nhận định, quan điểm, mưu mô, tham vọng, ước mơ. Nhưng thử hỏi, đã bao giờ chúng ta suy nghĩ về cái hồn của mình là gì chưa? Nó liên hệ đến thân xác và cuộc đời của chúng ta như thế nào? Đã bao giờ chúng ta tự hỏi Thiên Chúa là gì và Thiên Chúa liên hệ thế nào với mỗi người chúng ta ra sao chưa? Hơn nữa, chúng ta được dạy, được bảo phải tin Thiên Chúa Ba Ngôi, và Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, một huyền nhiệm. Thử hỏi, nếu đã là mầu nhiệm, thì sao có thể biết được mà lại phải tin? Nếu đã là một huyền nhiệm, nghĩa là một nhiệm mầu trong huyền thoại thì tin theo huyền thoại là thế nào mà phải với không?
 
Dân tộc Việt Nam chúng ta có huyền thoại “Con rồng cháu tiên.” Chúng ta có bổn phận, chúng ta có được sinh ra để phải tin vào huyền thoại đó không. Xét như thế, vấn đề được đặt ra lại là “Tin là thế nào?” Nếu nói rằng chúng ta, những người đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này tin rằng mình đang ở nhà thờ. Có cần phải tin như thế không? Mà sao lại nói rằng tin mình đang ở nhà thờ. Giả sử có ai nơi đây, lúc này nói rằng họ không tin họ đang ở nhà thờ thì sao? Thế nên, nói rằng tin hay không tin về một sự việc, một sự thể không ảnh hưởng gì tới thực thể sự việc sự thể đó. Có chăng, sự khác biệt chỉ là nơi nhận thức của người phát biểu mình tin hay không tin. Xét như vậy, nhìn lại lòng mình, chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, tin vào Thiên Chúa có ba ngôi nghĩa là sao? Lỡ sau này có vị triết gia, thần học gia, học giả Kinh Thánh đưa lên chủ thuyết Thiên Chúa bốn ngôi thì chúng ta sẽ cảm thấy thế nào?
 
Tôi có thể nói thẳng với quý vị, bất cứ chủ thuyết, l‎ý thuyết, quan niệm, triết thuyết dù nơi đạo học, tôn giáo, kỹ thuật, sinh l‎ý, vật lý, đều là sản phẩm tư duy của con người, có thể vì con người hay vì lợi lộc. Còn sự thể tâm trí được gọi là tin hay không, không ảnh hưởng gì tới những triết thuyết, quan niệm chi hết. Niềm tin, sự tin tưởng chỉ ảnh hưởng người tin, chủ thể tin tưởng mà thôi. Thí dụ, nói rằng, tin rằng hay không tin, chúng ta đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này không gì ảnh hưởng đến sự việc chúng ta đang hiện diện nơi đây. Thế nên, người nói lên tin hay không chỉ biểu hiệu tâm trí người đó thế nào, bình thường hay bất bình thường mà thôi.
 
Xét thế, chúng ta nói rằng chúng ta tin Thiên Chúa Ba Ngôi là thế nào, là tin ra sao? Giả sử nói rằng không tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi thì có gì thay đổi không. Tất nhiên, nói tin hay không, không ảnh hưởng gì đến Thiên Chúa nhưng chắc chắn có ảnh hưởng đến chúng ta, những người tuyên xưng tin vào Thiên Chúa. Tôi không hiểu người xưa, các đấng giáo phụ, các thánh của giáo hội nghĩ gì mà huấn dụ chúng ta phải tin. Phỏng họ cho là chúng ta quá ngu muội nên coi chúng ta như thùng rác, hay những cơ thể ăn không tiêu nên cứ đổ đầy những quan điểm, triết thuyết vào tâm trí chúng ta rồi phán phải tin, và chúng ta, những con chiên ngoan ngoãn, hiền lành đến độ ngu ngơ của giáo hội, bịt tai, nhắm mắt lặp lại để được gọi là tin. Miệng tuyên dương là tin nhưng lòng dạ, tâm trí, chẳng biết gì thì nghĩa là thế nào mà phải tin.
 
Thế nên, bởi tất cả triết thuyết, lý thuyết, quan điểm đều phát xuất từ tâm trí con người, tôi đề nghị chúng ta suy nghĩ, suy luận từ chính bản thân chúng ta về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Ai cũng biết, cũng nghĩ, cũng kinh nghiệm được mình có linh hồn vì mình biết suy nghĩ, tính toán, mưu toan, tham vọng; bởi chúng phát xuất từ linh hồn; vì khi linh hồn thoát ra khỏi xác, chúng ta gọi là chết, không thể ước muốn, mưu toan bất cứ gì, ngay cả nói, nghe, nhìn, cũng toang luôn. Khi linh hồn ra khỏi xác, mọi sự chấm hết.
 
Như vậy, một linh hồn cộng với một thân xác thì là mấy, là hai hay là một? Nhưng nếu chỉ linh hồn mà thôi thì ai có thể biết đấy là đâu. Chỉ thân xác không hồn, chắc chắn cần phải đem ra nghĩa trang mà chôn như chúng ta thường biết. Tuy nhiên, linh hồn hòa nhập với xác thân, chúng ta có sự sống, phát sinh thêm ước muốn, ý định, ước mơ , ý nghĩ, tham vọng, yêu, giận, ghét, mưu mô và nhiều thứ suy nghĩ khác; tất cả những sự thể này được gọi là tâm trí. Như vậy, khi linh hồn hòa nhập vào thân xác tạo thành một con người sống động, con người này chính là quý vị, là tôi, là mọi người; mỗi người chúng ta gồm ba phần bất khả phân ly, ba là một, và một người là ba, linh hồn, thân xác, và tâm trí. Sự thể ba là một và một là ba này chỉ tách rời khi chết.
 
Chúng ta cũng đọc được nơi phúc âm lời minh xác về Thiên Chúa, “Đàng, sự thật, và sự sống chính là Ta.”  Thiên Chúa chính là sự sống nơi mình, sự hiện hữu nơi mình. Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi người. Kinh Thánh cũng được viết, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài.” Mỗi người chúng ta đều là hình ảnh, là hiện thể của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người.
 
Hôm nay chúng ta mừng kính Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta tuyên dương, tuyên xưng mình là hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta tuyên dương mình là hiện thể của Thiên Chúa dưới dạng thức con người nơi thế gian. Xin Thần Khí soi sáng và dẫn dắt chúng ta suy nghĩ, suy tư để nhận biết thực thể chính mình nơi hành trình đức tin, hành trình nhận thực sự liên hệ của mình với Thiên Chúa. Amen.
 
 
 
LỄ MÌNH THÁNH CHÚA (general)
 
Để bài giảng được ngắn gọn, tôi xin quý ông bà anh chị em chú tâm đến ý nghĩa của hai ngôn từ, đó là “thực thể” và “nhiệm thể” Đức Kitô. Thực thể là bất cứ những gì hiện hữu dù thấy được hay không thấy được bằng mắt. Chẳng hạn cái nhà, cái bàn, cái ghế, hoặc ý nghĩ, ý định, ước muốn, ước mơ, tham vọng. Tuy nhiên, ngôn từ chỉ được dùng để ám định chứ không nói lên đúng thực thể sự hiện hữu. Thí dụ, khi nói đến cái nhà, nếu đem phân tích cái nhà thành những phần nhỏ, chúng ta sẽ không thấy bất cứ đồ vật hay dụng cụ nào nói lên bản chất cái nhà. Xét như vậy, cái nhà là danh hiệu chỉ về một tổng thể hòa hợp và được kết cấu bởi nhiều phần tử  kiến tạo nên một thực thể được gọi cái nhà. Sự hiện hữu của một thực thể không lệ thuộc bất cứ quan niệm hay giá trị được gán cho nó.
 
Nó là chính nó, không lệ thuộc sự ưa thích của con người cũng như không bị ảnh hưởng bởi quan niệm đúng sai, phải trái của con người. Chẳng hạn, tôi đang cùng quý ông bà anh chị em dâng thánh lễ, nếu khi ra về, có ai nói tôi không dâng lễ với quý ông bà anh chị em thì cũng chẳng có gì ảnh hưởng đến thực thể đang xảy ra lúc này. Hoặc ai nói rằng tin hay không tin tôi cùng quý ông bà anh chị em đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này thì cũng không có gì khác biệt. Thực thể, nói tổng quát, sự thực, không lệ thuộc quan niệm của chúng ta, không bị ảnh hưởng bởi ý nghĩ tin hay không tin, sự thực tự nó vẫn là sự thực. Nó cũng không cần chúng ta quảng bá hay bảo vệ hoặc giải thích vì nó có sự hiện hữu nên dù nói thế nào hay quan niệm ra sao cũng chẳng gì thay đổi. Sự thay đổi chỉ xảy ra nơi ý định hoặc quan niệm của con người.
 
Vấn đề thứ hai đó là nhiệm thể Đức Kitô. Muốn hiểu về nhiệm thể Đức Kitô, chúng ta cần nhận ra sự huyền nhiệm cả thể nơi mỗi người. Nói cách khác, đó là những phép lạ đang xảy ra từng giây từng phút nơi mỗi người. Ai cũng nhận thấy rõ ràng, nếu con mắt của chúng ta được cấu tạo giống như chiếc mũi hoặc ngón tay cái, chúng ta không thể nào nhìn được. Hoặc nếu chiếc miệng của chúng ta giống như bất cứ phần nào nơi cơ thể, chúng ta sẽ không ăn uống gì được. Đây chính là sự huyền nhiệm nơi mỗi người mà xưa nay chúng ta thường không bao giờ để ý. Hơn nữa, cơ thể chúng ta gồm nhiều thành phần khác nhau hòa hợp lại mà không thành phần nào giống thành phần nào, có chăng chỉ tương đồng chứ không hoàn toàn như nhau.
 
Vấn đề được đặt ra đó là lý do hoặc nguyên nhân hay quyền lực nào đang điều hành để liên kết mọi thành phần của cơ thể chúng ta hòa hợp kiến tạo nên thực thể được gọi là con người? Suy luận như vậy, chúng ta cảm nhận được có một quyền lực huyền nhiệm nào đó đang hoạt động nơi mỗi người khiến con tim liên tục đập, lá phổi không ngừng thở dẫu khi chúng ta ngủ, chúng ta quên luôn cả thân xác. Quyền lực này cũng đang hoạt động ở từng tế bào nơi cơ thể của mỗi người, giúp tế bào hấp thụ dưỡng trấp, sinh sản, và qua thời kỳ nào đó đã tự chết đi nhường chỗ cho những tế bào khác mới được phân hóa tiếp nối hoạt động. Tôi gọi quyền lực huyền nhiệm này nơi mỗi người là Thiên Chúa. Như vậy, Thiên Chúa là quyền lực hiện hữu, hoạt động và điều hành nơi mọi loài, mọi vật.
 
Suy nghiệm như thế, chúng ta thấy, Thiên Chúa đang hoạt động và là căn nguyên cho sự sống nơi mỗi người. Và như vậy, mẫu số chung hay căn bản chung của mọi người, mọi vật, mọi loài chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa hay quyền lực hiện hữu căn bản chung, theo ngôn từ thần học được gọi là nhiệm thể. Chúng ta được gọi là nhiệm thể Chúa Kitô vì  sự hiện hữu của mỗi người chúng ta đều do chính Thiên Chúa đang điều hành, hoạt động.
 
Thế nên, khi chúng ta họp nhau cùng dâng thánh lễ, chúng ta gom tất cả mọi thành phần nhiệm thể của Đức Kitô để cùng ca tụng, tôn vinh Thiên Chúa, quyền lực hiện hữu huyền nhiệm và tối thượng đang hoạt động, điều hành nơi mỗi người, đồng thời cũng hoạt động và điều hành nơi mọi người. Trong trường hợp này, linh mục nơi vị thế đại diện dân Chúa, đại điện một cộng đồng thuộc nhiệm thể Đức Kitô thực hiện công việc của nhiệm thể Đức Kitô, và cũng thực hiện công việc của Đức Kitô. Linh mục và dân Chúa chẳng khác gì công cụ hoặc phương tiện cho Đức Kitô thực hiện công việc của Ngài. Sự thể này giải thích ý nghĩa câu Phúc Âm, “Vì đâu có hai, ba người họp lại nhân danh Ta, thì có Ta ở đó, giữa họ” (Mt. 18:20).
 
Hôm nay chúng ta cùng dâng thánh lễ tôn vinh Mình và Máu Thánh Đức Kitô. Tôi muốn nói, cộng đồng dân Chúa, nhiệm thể Đức Kitô cùng họp nhau tôn vinh thực thể Mình và Máu Thánh của Ngài nơi Bí Tích Thánh Thể. Qua những suy nghiệm cùng nhau nhận thức, một điều chắc chắn chúng ta nghiệm được đó là chính Đức Kitô thực hiện công việc truyền phép thánh thể của Ngài nơi Thánh Lễ. Linh mục chỉ đại diện cộng đồng dân Chúa, nhiệm thể của Đức Kitô đọc lời truyền phép nhưng chính Đức Kitô thực hiện công việc của Ngài. Linh mục không có quyền năng gì nơi sự truyền phép mà chỉ là công cụ đại diện cho cộng đồng dân Chúa mà thôi.
 
Sự truyền phép này và sự hiện diện của Đức Kitô nơi phép thánh thể là một thực thể tự nó, ai nói có hay không thì  thực thể vẫn là thực thể. Ai tin cũng thế, chẳng tin cũng vậy bởi thực thể không lệ thuộc quan niệm của bất cứ ai. Sự hiện diện của Thiên Chúa, quyền lực tối thượng nơi mỗi người, được thể hiện từng giây từng phút, được thể hiện qua những thành phần và hoạt động khác nhau nơi cơ thể mỗi người mà đã bao lâu nay chúng ta không để ý nhận biết. Tóm lại, ai suy nghiệm để nhận biết sự huyền nhiệm cả thể đang  xảy ra nơi mình từng giây từng phút, nơi từng nhịp đập con tim, nơi từng hơi thở của lá phổi, qua con mắt nhìn thấy mọi sự vật chung quanh, qua cặp tai nghe được những âm thanh, tiếng nói đó đây, thì mới có thể suy nghiệm để nhận thực được sự hiện diện của Đức Kitô nơi bí tích Thánh Thể.
 
Thiên Chúa chính là sự sống “Đàng, sự thật, và sự sống chính là Ta;” Thiên Chúa cũng chính là sự hiện hữu nơi mọi sự; vì ngoài sự hiện hữu sẽ không có gì. Nói cách khác, từ tư tưởng, lời nói, hoạt động, đến mọi sự hiện hữu, mọi phương cách hiện hữu đều là hiện thể của Thiên Chúa. Miếng cơm chúng ta ăn, ước muốn chúng ta mơ ước, tấm bánh, miếng rượu trên bàn thờ đều là hiện thể của Thiên Chúa dưới những dạng thức khác nhau. Nhận biết như vậy, tất cả, từ tư tưởng đến hành động và mọi sự đều là một trong Thiên Chúa chẳng khác gì tôm cá các loại và nước được gọi là biển. Chúng ta đang thở Thiên Chúa, suy tư Thiên Chúa, ăn Thiên Chúa.
 
Con tim chúng ta liên tục đập, lá phổi luôn luôn thở dẫu khi ngủ chúng ta không để ý chi. Xin mọi người để tâm, khi nào chúng ta không cảm thấy mình mà chỉ thấy mình hòa quyện với tất cả, thấy mình đang thở Chúa, đang ăn Chúa, đang không là gì thì coi chừng đó chính là thời điểm ngất trí hòa quyện với quyền lực hiện hữu tối thượng là chính Thiên Chúa. Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng cho mỗi người chúng ta nhận biết sự huyền nhiệm nơi mỗi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 11A (Mt. 9:36-10:8)
 
Bài phúc âm vừa được công bố nêu lên thực tại, “Thấy dân chúng, Ngài chạnh lòng thương họ; vì họ bơ vơ vất vưởng như chiên không người chăn giữ. Bấy giờ, Ngài bảo các môn đồ: ‘Mùa màng nhiều, thợ gặt ít. Vậy các ngươi hãy xin Chủ mùa sai thợ gặt đồng lúa của Người.’
Mười hai người ấy, đức Giêsu đã sai đi và truyền lịnh cho họ rằng: Các ngươi đừng lên đàng đến các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari; phải hơn, hãy đi đến cùng các chiên lạc nhà Israel. Hãy đi và loan báo rằng, ‘Nước Trời đã gần bên.’”
 
Qua bài phúc âm, chúng ta thấy, dân chúng vào thời đó chưa biết gì về Tin Mừng đức Giêsu rao giảng. Nói cho đúng, Chúa Giêsu sai mười hai môn đồ đi rao giảng chỉ có một câu, một điều, và đó là “Nước Trời đã gần bên” cho những người Israel, những người được phúc âm gọi là con chiên lạc, con chiên đậu phọng.
 
Tại sao phúc âm gọi người Israel là con chiên lạc? Xin thưa, vì họ vẫn chưa nhận biết điều rao giảng của Chúa Giêsu, chưa nhận biết ”Nước Trời đã gần bên” như chúng ta. Nói cách khác, bất cứ ai chưa nhận ra “Nước Trời đã gần bên,” dều là con chiên lạc. Thử hỏi lòng mình, chúng ta đã nhận biết “Nước Trời đã gần bên” nghĩa là thế nào chưa? Nước Trời là gì mà đã gần bên trong khi chúng ta vẫn chưa nhận biết? Xét như vậy, chúng ta tuyên xưng tin vào đức Kitô, tin vào Thiên Chúa mang nghĩa thế nào trong khi vẫn không biết “Nước Trời đã gần bên” là gì!
 
Chúa ta tuyên xưng mình tin vào Thiên Chúa, tuyên xưng mình là con nhà có đạo, đôi khi giề bỉu ai đó là vô thần mà không biết mình tin vào Thiên Chúa là tin thế nào, chỉ biết như chiếc máy lặp lại những phạm trù như con vẹt. Con vẹt có đức tin không? Thưa không. Vậy chúng ta không biết, không hiểu những điều mình tuyên xưng như con vẹt thì có được gọi là tin không? Vậy đức tin là gì? Tin vào Thiên Chúa là tin thế nào? Thiên Chúa là gì cũng không biết, mà vẫn cứ hô hào tin vào Thiên Chúa thì đâu khác chi con vẹt.
 
Bao năm rồi, mình là con nhà có đạo nhưng không biết mình thế nào, Thiên Chúa ra sao, linh hồn mình là gì, Nước Trời đã gần bên nghĩa là chi, liên hệ đến mình thế nào thì mình có đạo nghĩa là sao? Đã bao năm nay, chúng ta chấp nhận biến mình thành chiếc thùng rác để chất chứa bất cứ gì người khác quăng vô. Nói cách khác, chúng ta biến mình thành thân xác chết biết thở, nuốt vô thế nào rồi lại nhả ra thế ấy. Chúng ta đã vô tình ngoan ngoãn biến mình thành con người bệnh hoạn ăn thực phẩm nhưng thực phẩm không biến thành máu mà lại trở ngược ra đường miệng như cũ; chúng ta chấp nhận mình thành con người bệnh hoạn, ăn không tiêu. Nghe lời Chúa, lời phúc âm cũng như vịt nghe sấm, chẳng khác gì nước đổ lá môn, lá khoai; bởi vì chúng ta đã vô tình không suy nghĩ, không dám đặt vấn đề.
 
Như vậy, coi chừng máu Chúa đổ ra để cứu chúng ta trở thành vô ích; dẫu chúng ta theo thánh Phao lô tuyên xưng Chúa Giêsu đến chịu chết trên thánh giá chuộc tội loài người, chuộc tội cho tôi, cho quý ông bà, anh chị em, cho mọi người. Mục đích cuộc đời của Chúa Giêsu chỉ là rao giảng Tin Mừng, “Nước Trời đã gần bên;” mà chúng ta không cần biết, không cần suy nghĩ, suy tư Nước Trời là gì, gần bên là thế nào rồi cứ nhắm mắt, bịt tai hô ầm lên Chúa chuộc tội cho mình thì nghĩ là thế nào. Cứ nhắm mắt, bịt tai hô ầm lên rằng mình có một tỷ đồng trong túi; cứ cho tay vào túi rờ xem có tiền không? Chắc chắn rằng rờ rách cả túi cũng không có đồng nào đâu. Thế nên, một điều hiển nhiên, không ai có thể ăn dùm, uống dùm cho mình thì cũng không ai có thể suy nghĩ dùm cho mình được. Bởi vậy, tôi xin quý vị, xin quý ông, quý bà, quý anh chị em, xin mọi người làm ơn suy nghĩ xem “Nước Trời đã gần bên” nghĩa là gì nơi cuộc đời của mình, của chúng ta. Đức Giêsu sai các môn đồ đi rao giảng chỉ có một câu, “Nước Trời đã gần bên,” không có câu nào khác. Vậy “Nước Trời đã gần bên” nghĩa là gì, liên hệ đến chúng ta thế nào?
 
Muốn biết “Nước Trời đã gần bên” nghĩa là gì, liên hệ đến chúng ta thế nào, chúng ta cần lật phúc âm. Nơi phúc âm, Nước Trời cũng được gọi là Nước Thiên Chúa. “Biệt phái thỉnh vấn Ngài, bao giờ Nước Thiên Chúa đến. Ngài đáp lời và nói: ’Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền; người ta sẽ không nói được , ‘Này ở đây’ hay ‘Ở đó;’ vì này, Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17:20-21).
 
Thiên Chúa chính là sự sống, sự hiện hữu nơi mỗi người, nơi mọi sự hiện hữu hữu hình cũng như vô hình, và như vậy, Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Thế nên, Nước Thiên Chúa là chính Ngài. Nước Thiên Chúa chính là Thiên Chúa. Vấn đề chỉ là chúng ta có nhận biết hay không; chúng ta có nhận chân được Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình hay không. Do đó, phúc âm được viết, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền; người ta sẽ không nói được ‘Này ở đây’ hay ‘Ở đó;’ vì này, Nước Thiên Chúa ở trong,’ ‘Ở trên’ (Lc. 11:20)  và ‘Ở giữa’ các ông.
 
Nước Thiên Chúa chính là Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa ở trong, ở trên, và ở giữa các ông; có nghĩa Thiên Chúa đang ở trong, ở trên, và ở giữa các ông; :Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Emmanuel.” Nước Trời đã gần bên; Nước Trời ở giữa, Nước Trời ở trên cũng chỉ mang một nghĩa, Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa ở cùng chúng ta mà thôi. Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta suy nghĩ, suy tư thâm trầm về thực thể Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 12A (Mt. 10:26-33)
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta, “Không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Điều Thày nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên nóc nhà.
Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng họ trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.
 
Dân gian người Việt có câu, “Tốt khoe, xấu che.” Nhưng thử hỏi, đã bao lần chúng ta cảm thấy bực mình hoặc tổn thương tự ái; vì ai đó dẫu bâng quơ hay cố ý nói câu nào đó đụng chạm đến điều gì hoặc sự gì chúng ta cố tâm che giấu. Vẫn biết rằng, nếu không muốn ai biết điều gì, sự gì thì đừng làm, đừng thực hiện. Ngược lại, cũng nhiều lần, chúng ta nghe thấy ai nói điều gì, tuyên dương sự gì, mình biết ngay người đó khoác lác, nổ, hay chảnh.
 
Tuy nhiên, chúng ta thử suy nghĩ, lý do gì hay tại sao phúc âm khuyên chúng ta, “Điều Thày nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên nóc nhà?” Nói trong bóng tối là thế nào? Nghe rỉ tai là nghe làm sao?
 
Khi suy nghĩ về một vấn đề gì, chúng ta sử dụng tâm trí để nhận định, xét đoán, tính toán hơn thiệt hầu tìm ra phản ứng hay hành động nên thế nào. Những suy nghĩ của chúng ta, nếu không nói ra, tất nhiên không ai biết. Ngoại trừ suy nghĩ, tính toán về sự việc, cuộc sống nhân sinh, tham vọng và nhiều khi mưu mô bất chính thế tục ảnh hưởng, nhưng khi suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét nơi phương diện tâm linh, lương tâm, tâm hồn một người trở về với bản chất nguyên thủy sẽ không bị ảnh hưởng tham vọng thế tục. Lúc này, tâm hồn một người đối diện với chính mình, và dĩ nhiên, không ai muốn làm hại hoặc suy nghĩ, tính toán tàn phá chính mình. Thí dụ, khi một người đặt vần đề suy nghĩ về linh hồn mình là gì, liên hệ thế nào với thân xác, cuộc đời của mình; những suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét không bị ảnh hường bởi bất cứ gì, ngoại trừ một tâm hồn bệnh hoạn.
 
Hơn nữa, trong suy nghĩ, suy tư, bất cứ ý nghĩ, nhận định nào hiện đến cũng không đúng, không sai. Chúng hiện hữu; tâm tư một người lúc đó chỉ mang nhiệm vụ nhận định để chấp nhận hay không. Điều này có nghĩa, ý nghĩ, tư tưởng nào mà một người nhận thấy hợp lý hợp tình với suy tư thì chấp nhận; ý nghĩ, tư tưởng nào không hợp với suy nghĩ, suy tư, tất nhiên cần loại bỏ. Loại bỏ trong trường hợp này có nghĩa không dể tâm tới nó, để nó tự sinh, tự diệt, thoáng qua rồi mất đi. Đây là lý do tại sao phúc âm khuyên, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi; nếu tay các ngươi là cớ cho ngươi vấp phạm thì chặt mà quăng chúng đi” (Mt. 18:9; 9:43).
 
Nhận định, suy luận về thực thể và diễn trình của suy nghĩ như thế, chúng ta hiểu được tại sao thánh Phao lô đề nghị chúng ta cầu nguyện liên lỷ, “Đừng ngớt cầu nguyện” (1Thes. 5:17). Chúng ta thường hiểu lầm cầu nguyện là bày tỏ ước muốn, ước mong, đôi khi lại còn cho rằng cầu nguyện là nói chuyện với Chúa. Nếu chưa biết linh hồn mình là gì, Thiên Chúa là gì thì sao có thể nói chuyện với Chúa. Thế nên, cầu nguyện chính là suy nghĩ, suy tư để nhận biết thực thể chính mình là gì, linh hồn của mình là chi, liên hệ với thân xác, cuộc đời của mình thế nào. Thiên Chúa là gì, liên hệ đến mình ra sao.
 
Nhận biết được thực thể mình thế nào, linh hồn mình là gì, liên hệ đến thân xác, cuộc đời mình ra sao là một thức ngộ tâm linh; chỉ mình biết, cho dù cố gắng nói ra, giải thích, giải nghĩa, nếu họ không tự suy nghĩ, họ cũng không thể nào hiểu được như đã có câu nói, “Người biết không nói, kẻ nói không biết” (Lão). Cả bốn phúc âm cũng chỉ khuyến khích và bày tỏ phương cách đối diện với chuyển biến nơi diễn trình suy tư, suy luận về thực thể con người của mình mà thôi. Điều rõ ràng mà chỉ những ai suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét đều nhận biết; đó là, họ sẽ có được niềm vui, nỗi an bình tâm tưởng tuyệt vời, không thể chia sẻ với ai, và cũng không ai có thể chia sẻ. Phúc âm nói lên thực trạng này nơi câu, “Của thánh đừng cho chó, châu ngọc chớ quăng trước miệng heo; kẻo chúng dày đạp dưới chân và quay lại cắn xé các ngươi” (Mt. 7:6).
 
Biết được thực thể mình là gì, linh hồn mình là chi, liên hệ với thân xác, cuộc đời mình thế nào, được gọi là thức ngộ, hay ngộ nhận thức. Nói cho đúng, sự nhận thức chỉ có thể ngộ, không thể cầu, và chỉ có thể là kết quả của suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét, không thể học được, không thể truyền lại cho bất cứ ai, và càng không thể truyền bá, giảng giải. Càng cố gắng giảng giải, giải thích, lại càng vấp phạm, càng trở nên ngăn cản người khác suy nghĩ, suy tư. Sự việc này bị phúc âm kết án, “Khốn cho các ngươi, Ký lục và Biệt phái giả hình, vì các ngươi khóa Nước Trời, chận người ta lại. Các ngươi sẽ chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào” (Mt. 23:13; NTThuấn). Giải thích, giải nghĩa phúc âm dưới quan điểm luân l‎ý, đạo đức nhân sinh thế tục khiến dân Chúa tưởng là đã hiểu, đã biết, thay vì khuyến khích họ suy nghĩ, suy tư đạt đến nhận thức. Như vậy, giải thích, giải nghĩa lời Chúa, lời phúc âm chính là ngăn cản dân Chúa nhận biết về Ngài.
 
Thế tại sao phúc âm lại khuyên, “Không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Điều Thày nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên nóc nhà?” Xin thưa, phúc âm không khuyến khích chúng ta giải thích, giải nghĩa tâm trạng nhận thức, giải thích giải nghĩa phúc âm, mà chia sẻ kinh nghiệm nghiệm chứng, nghiệm xét, suy tư, suy nghĩ, chia sẻ diễn trình thực trạng suy nghĩ, suy tư như phương tiện cho người khác so sánh hay áp dụng trong suy nghĩ, suy tư khi đối diện với thực trạng diễn tiến của suy tư mà thôi, chẳng khác gì phúc âm đã được viết, “Đừng tưởng Ta đến để đem lại bình an trên mặt đất. Ta đến không phải để đem lại bình an, mà là gươm giáo. Ta đến để chia rẽ người ta với cha mình, con gái với mẹ mình, nàng dâu với mẹ chồng mình, và kẻ thù của người ta là những người nhà mình” (Mt. 10:34).
 
Dĩ nhiên, người suy nghĩ, suy tư, sẽ phải đối diện với muôn ngàn trắc trở, muôn ngàn trận chiến nội tâm do tham vọng thế tục, ham muốn nhân sinh làm phiền. Đâu phải phi lý mà phúc âm được viết, “Kẻ yêu cha mẹ, con cái hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta,” hay, “Kẻ nào cầm cày mà quay trở lại thì bất kham với Nước Thiên Chúa.” Cũng đâu phải đơn giản mà phúc âm đã minh xác tội phạm đến Thánh Thần là tội không bao giờ được tha! Không suy nghĩ thì sao? Thì sẽ muôn đời u tối!
 
Tóm lại, lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta suy tư, suy nghĩ về những câu nói, những dụ ngôn nơi phúc âm, hoặc về thực thể linh hồn của chính mình, hay bất cứ câu nói khôn ngoan nào và chỉa sẻ kinh nghiệm tâm linh này, kinh nghiệm khi suy tư suy nghĩ hầu mong người khác thức ngộ. Xin Thánh Thần ngự trị nơi mỗi người soi sáng và dẫn dắt chúng ta suy tư. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 13A thường niên (Mt. 10:37-42) (1)
 
Hôm nay lời Chúa đem đến cho chúng ta hai tin buồn nếu hiểu theo nghĩa từ chương, nghe sao biết vậy, nghe gì khư khư tuân theo như thế, không suy nghĩ, suy tư hay nghiệm xét, như thói quen của chúng ta đã bao lâu nay. Nhìn vào thực tại cuộc sống, chúng ta tuyệt vời thông minh; tính toán điều gì trúng chóc điều đó, chẳng những trong những ngày đã qua, ngay thời buổi này, mà còn cho thời bóng xế, khi thân xác đã già nua vào lúc mùa thu của cuộc đời. Hơn nữa, con cháu chúng ta càng tuyệt vời hơn. Đã có nhà biên soạn, sau khi nghiên cứu sự tiến triển của con người trãi qua các thế hệ phải ngạc nhiên thốt lên, “Thời đại này là thời đại của thần đồng; những tinh hoa của các thời đại trước đang được tái sinh làm người.” Đúng hay sai, mời quý ông bà, anh chị em thử nhìn lại con cháu mình thì biết.
 
Có rất nhiều vấn đề, có rất nhiều câu nói nghịch thường đã bao lâu nay chúng ta không dám nghĩ, hoặc coi thường vì cho rằng không có gì liên hệ tới cuộc sống nên không muốn tâm trí bị phiền hà. Chẳng hạn, ai không cho rằng ngớ ngẩn khi nghe thấy câu nói, “Người biết không nói, kẻ nói không biết,” hoặc, “Lửa thì không nóng nhưng tại mình cảm thấy nó nóng.” Giả sử ai đó nghĩ rằng, phải có lý do, phải có điều gì đó thách đố mình suy tư nên mới có câu nói nghịch thường, ngớ ngẩn như thế; bởi vậy, để tâm suy nghĩ, cố kiếm cho ra ý nghĩa của câu nói nghịch thường ấy, chắc chắn sẽ có nhiều điều ngạc nhiên đáng được phanh phui.
 
Đừng giật mình khi nghe tôi nhắc lại câu nói của Montaigne được cụ Nguyễn Duy Cần ghi lại nơi cuốn sách Cái Cười Của Thánh Nhân, “Người khôn cần phải học nhiều với kẻ dại hơn là kẻ dại phải học của người khôn.” Hoặc câu khác, “Hoan hô kẻ đã phụ tôi; họ đã trả tôi lại cho tôi.” Hay, “Một trăm năm sau khi chết, cái hạnh phúc nhất cho bậc vĩ nhân là có được nhiều kẻ thù.” Hoặc câu khác, “Người đâu phải là vị thánh, cũng đâu phải là con thú; và bất hạnh thay, kẻ muốn làm thánh lại làm con thú.” Mọi người nên nín thở chớ vội la lên khi tôi nhắc tới câu này, “Cái bóng của Thượng Đế là Quỷ vương.”
 
Nói như vậy, chúng ta nhận ra rằng, đã bao lâu nay chúng ta không sử dụng khả năng suy nghĩ, suy tư; do đó, chúng ta tự kết án mình thế nọ, thế kia. Cũng có thể chúng ta đã không dám suy nghĩ vì mang mặc cảm mình không có khả năng suy tư, hoặc cách nào đó bị cấm đoán suy tư. Xin thưa, suy nghĩ, suy tư là khả năng bẩm sinh nơi mỗi người và chỉ con người mới có khả năng suy tư, sáng kiến. Bất cứ ai cho rằng mình không có khả năng suy tư, suy nghĩ, hoặc không dám suy nghĩ, tất nhiên chối bỏ hồng ân suy tư như một hồng ân làm người. Sự thể này, được phúc âm gọi là tội phạm đến Thánh Thần. Thì nào có gì lạ đâu, không suy nghĩ, suy tư thì suốt đời ngu dốt.
 
Ai đã đọc phúc âm, đều phải đối diện với những câu nghịch thường đến độ tối tăm mắt mũi. Chẳng hạn, “Nếu mắt các ngươi là cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi,” hoặc, “Người giầu có, khó vào nước Thiên Chúa hơn con lạc đà chui qua lỗ kim,” hay, “Đừng tưởng cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa là vào được Nước Trời.” Hoặc, “Đừng tưởng Ta đến để đem lại bình an trên mặt đất. Ta đến không phải để đem lại bình an, mà là gươm giáo. Ta đến để chia rẽ người ta với cha mình, con gái với mẹ mình, nàng dâu với mẹ chồng mình, và kẻ thù của người ta là những người nhà mình” (Mt. 10:34).
 
Để ý những câu nói nghịch với thực tại, hình như được ám định về trạng thái tâm tư nào đó chẳng khác gì Ca Dao, Tục Ngữ người Việt. Thí dụ, “Liệu bò, đo chuồng,” hay, “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.” Ai cũng hiểu hai câu Tục Ngữ này nói về thái độ nên có, nhận thức cần thiết khi đối xử, giao tiếp với người khác, với cuộc đời. Mặc dầu dùng bò, chuồng, nồi, hướng ngồi, làm tiêu biểu nhưng ám định thái độ, nhận thức, tâm tình của một người nên có. Xét câu phúc âm, “Gia tài của ngươi ở đâu thì lòng dạ ngươi cũng ở đó.” Thử hỏi, lòng dạ, tâm trí của chúng ta hiện giờ ở đâu? Chúng ta đang để tâm nghe chia sẻ, bàn luận về lời Chúa hầu tìm ra phương cách áp dụng trong cuộc sống. Điều này chứng tỏ, ước muốn, ý định, tham vọng của chúng ta ở đâu, đặt nơi nào thì lòng dạ của chúng ta chiều theo điều đó. Câu phúc âm nói về tâm tình, trạng thái tâm tư, tư duy của một người. Kinh nghiệm sống minh chứng, chúng ta dồn hết công sức, thực hiện mọi phương cách để đạt được, để hoàn thành ước muốn của mình với bất cứ giá nào có thể. Bởi đó, câu “Gia tài ngươi ở đâu thì lòng dạ ngươi cũng ở đó” có nghĩa, “Ước muốn, ý định của ngươi ở đâu thì lòng dạ ngươi cũng ở đó.” Phúc âm nói về trạng thái tâm tư của chúng ta.
 
Thử xét câu phúc âm khác, “Kẻ nào cầm cày mà quay trở lại thì bất kham đối với Nước Thiên Chúa.” Ai không biết cày ruộng ngày xưa gồm có con trâu hay con bò, kéo chiếc cày và người cầm cán cày để điều chỉnh luống cày theo sau. Tất nhiên, con trâu, con bò đi trước để kéo chiếc cày thì người cầm cày cần phải để ý điều khiển cho cày khỏi bị lỗi, đâu ai quay lại phía sau để làm gì; bởi nếu quay lại, tất nhiên sẽ bị lỗi, đường cày sẽ bị lệch. Xét thế, câu phúc âm nói về hành trình, về những gì diễn tiến, những tư tưởng, ý nghĩ nơi tâm tư, nơi trí óc, tâm tình của người suy nghĩ, suy tư. Thử xét trường hợp, nếu quý ông bà, anh chị em đang suy nghĩ, tính toán công chuyện nào đó cho ngày mai, hoặc phải ăn nói thế nào khi đứng trước công chúng trong lễ hội nào đó, hoặc phải mua bán những vật liệu nào cho công việc mà con hoặc cháu cứ léo nhéo đòi mua thứ nọ, ăn thứ kia thì sao.
 
Tương tự như thế, khi suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về lời Chúa, về câu phúc âm nào đó, bất cứ ý tưởng, tham vọng nào đó hiện ra trong trí óc không liên hệ chi đến điều mình đang suy nghĩ, thì cần được gạt bỏ. So sánh thực trạng tâm trí này với câu, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi; nếu tay ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì chặt mà quăng nó đi.” Xét thế, phúc âm nói về trạng thái tâm tư khi suy nghĩ, suy tư. Bất cứ gì, tư tưởng, ước mơ, tham vọng nào muốn chen vào lúc suy nghĩ, suy tư lời phúc âm, chúng ta cần vứt bỏ không cho phép ảnh hưởng đến điều mình đang suy tư.
 
Trở lại với lời Chúa, lời phúc âm, “Kẻ nào yêu cha mẹ, con cái hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta.” Câu này nói về trạng thái, tâm tư, tâm trí một người khi suy nghĩ, khi cầu nguyện. Cầu nguyện chính là suy nghĩ, suy tư về câu phúc âm nào đó. Khi suy nghĩ, khi cầu nguyện, bất cứ gì mình ước muốn, ý định, tham vọng, của mình hiện ra làm phiền hà sự suy nghĩ, suy tư về lời Chúa, chúng ta cần gạt bỏ. Câu phúc âm, “Kẻ nào yêu cha mẹ, con cái hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta,” không nói chi về cha me, con cái, mà dùng cha mẹ, con cái để chỉ về những ý tưởng, tham vọng hiện ra nơi tâm trí làm phiền hà sự suy nghĩ, suy tư của chúng ta. Xin Thánh Thần soi sáng và dẫn dắt chúng ta nơi hành trình suy nghĩ về lời Chúa. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 14A (Mt. 11:25-30)
 
Khi ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: Lạy Cha, là Chúa trời đất; con xin ngợi khen Cha; vì Cha đã giấu các điều ấy với hạng khôn ngoan thông thái, mà đã mạc khải ra cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là quyết ý của Cha.
Hãy đến với Ta, hết thảy những kẻ lao đao và vác nặng, và Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức. Hãy mang lấy ách của Ta vào mình, hãy thụ giáo với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và các ngươi sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn; vì chưng, ách Ta thi êm ái, và gánh Ta nhẹ nhàng.
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta, “Con xin ngợi khen Cha; vì Cha đã giấu các điều ấy.” Các điều ấy là điều gì? Mục đích và nhiệm vụ chính yếu đức Giêsu được sai đến gian trần chính là rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Như mọi người đã được nghe biết, Tin Mừng đức Giêsu rao giảng chỉ đơn giàn là, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta; Emmanuel.” Thiên Chúa ngự trị, hiện diện, và hoạt động nơi quý ông, quý bà, quý anh chị em, nơi tôi, nơi mọi người, nơi mọi sự; Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Ngoài Thiên Chúa ra, không có gì hiện hữu.
 
Những gì chúng ta gọi là phép lạ đểu được phúc âm chỉ rõ qua lời minh xác của Chúa Giêsu, “Đức tin con chữa con (Mt. 8:10;13; 9:22;29; Mc. 5:34; 10:52; Lc. 7:9); đức tin con cứu con (Lc. 7:50).” Đức tin chính là quyền lực của Thiên Chúa nơi mọi người.
 
Chúa Giêsu muốn chúng ta điều gì? Ngài nói, “Hãy đến với Ta, hết thảy những kẻ lao đao và vác nặng, và Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức.” Ai trong chúng ta đã chưa ít nhất một lần tự hỏi; tại sao mình được sinh ra? Tại sao mình có cuộc đời, và sau khi chết rồi mình sẽ đi về đâu. Một điều rõ ràng, không ai có thể trả lời được mục đích cuộc đời của mình là gì, nên thường chấp nhận mình đã được sinh ra để sống thì phải sống, dẫu cuộc sống thế nào.
 
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến với Ngài. Muốn đến với Ngài, chúng ta cần suy nghĩ về sự thể Tin Mừng Nước Thiên Chúa Ngài đã rao giảng. Chúng ta cần phải suy nghĩ để nhận biết thực thể sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình. Mình có linh hồn; vậy linh hồn mình là gì, thế nào, liên hệ với thân xác và cuộc đời ra sao? Linh hồn mình liên hệ với Thiên Chúa thế nào?
 
Chúng ta đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này; tai chúng ta nghe, mắt nhìn, miệng nói, óc suy nghĩ. Ai cũng nhận biết, và đang thực chứng như thế; các nhà khoa học cũng đoan chắc như thế. Nhưng thử hỏi, đã có lần tham dự đám ma, người chết, người mà linh hồn đã lìa khỏi xác còn có thể nhìn, có thể nói, có thể nghe, hoặc có thể suy nghĩ nữa không. Sự thể này minh chứng điều gì? Xin thưa, chỉ khi linh hồn còn ở nơi thân xác một người, miệng người ấy mới có thể nói, tai người ấy mới có thể nghe, mắt có thể nhìn, và óc mới có thể suy nghĩ như chúng ta.
 
Nhận định rõ như vậy, chúng ta biết được rằng, ngũ quan, thân xác, và cả cuộc đời một người chỉ là phương tiện hay cơ hội cho linh hồn hoạt động. Linh hồn dùng cái miệng để nói, dùng tai để nghe, mắt để nhìn, và dùng bộ óc để suy nghĩ và khi linh hồn ra khỏi xác, tất cả chấm hết. Linh hồn chẳng khác gì người lái xe, và thân xác giống như chiếc xe; hồn lái và xác thực hiện. Suy nghĩ xa hơn một chút, thân xác chỉ là phương tiện cho linh hồn thực hiện ước muốn, ước mơ, ý định, ý nghĩ, mưu mô, tham vọng. Xét thế, ước muốn, ước mơ, tham vọng, yêu đương, giận ghét đều phát xuất tự linh hồn.
 
Từ sự nhận biết này, chúng ta thấy được, đến với Chúa Giêsu có nghĩa suy nghĩ về Tin Mừng Nước Thiên Chúa, suy nghĩ về thực thể linh hồn của mình liên hệ với Thiên Chúa thế nào. Tôi không thể diễn tả được trạng thái tâm tưởng của chính tôi cũng như của bất cứ ai khi họ đã suy nghĩ và thực sự nhận biết thực thể linh hồn của họ là gì. Ai để tâm suy nghĩ sẽ cảm nhận được trạng thái tâm tưởng được phúc âm ghi lại lời Chúa phán, Hãy đến với Ta, hết thảy những kẻ lao đao và vác nặng, và Ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức. Hãy mang lấy ách của Ta vào mình, hãy thụ giáo với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và các ngươi sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn.” Xin Thần Khí của đức Giê su soi sáng và dẫn dắt chúng ta đến cùng Ngài. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 15A (Mt. 13:1-23)
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta qua dụ ngôn “Người Gieo Giống.” Đọc phúc âm, nếu chú tâm để ý, chúng ta sẽ nhận thấy phúc âm bao gồm những câu nói khôn ngoan và các dụ ngôn; đồng thời những phần, những câu được viết thêm vào tạo thành diễn trình một câu truyện về cuộc đời của Chúa Giêsu. Thế nên, phúc âm thường được coi như câu truyện lịch sử về Chúa Giêsu đến nỗi cho tới nay, các nhà học giả Kinh Thánh đều cho rằng phúc âm viết về cuộc đời của Ngài, giáng sinh, sự giảng dạy, sự thương khó và sự sống lại.
 
Dụ ngôn là câu truyện mang ngụ ý nào đó, dùng sự việc, sự vật nào đó để ám định sự thể hay diễn trình của sự việc sự thể diễn tiến nơi tâm tư của độc giả hay của người nghe. Tất nhiên, dụ ngôn hay những câu khôn ngoan đòi hỏi người đọc hay người nghe cần để tâm suy nghĩ, suy tư. Nơi ngôn từ tiếng Việt còn được gọi là nghiệm chứng, nghiệm xét, suy nghiệm hầu mong qua hành trình tâm tưởng, người nghe hay đọc đạt được nhận thức được gọi là mạc khải nào đó. Nói cách khác, nếu tự mình suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét mà nhận thức được hay ngộ dù chỉ một câu hay một dụ ngôn, người suy nghĩ, suy tư sẽ ngộ được tất cả những câu khôn ngoan hay dụ ngôn khác.
 
Nói như thế, tôi muốn phân định cho rõ ràng về sự hiểu biết, kiến thức, tri thức, học thức về phúc âm, với sự nhận thức hay còn gọi là ngộ dù chỉ một câu nơi phúc âm. Ai không hiểu những câu nói được gọi là khôn ngoan nhưng coi bộ nghịch thường đến độ chói tai nơi phúc âm theo nghĩa từ chương hay nghĩa đen; chẳng hạn, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng nó đi; nếu tay ngươi là cớ cho ngươi vấp phạm thì chặt mà quăng nó đi.” Hoặc, “Kẻ nào yêu cha mẹ, con cái hơn Ta thì không đáng là môn đệ Ta,” hay, “Kẻ nào cầm cày mà quay trở lại phía sau thì bất kham với Nước Thiên Chúa,” hay, dụ ngôn Mười Nàng Trinh Nữ, Ba Người Làm Công, v.v…
 
Những câu này nếu hiểu theo nghĩa đen, nghĩa từ chương, sẽ không thể, không cách nào áp dụng nơi cuộc sống, nên thường bị o ép, gò ép cách nào đó qua quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục. Thử hỏi, luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục thay đổi, khác biệt tùy thuộc dân tộc, văn hóa địa phương và thời điểm; mà phúc âm, lời Chúa được viết nơi miền Trung Đông đã hơn kém hai ngàn năm, sao vẫn có thể đứng vững, tồn tại tới ngày nay.
 
Những câu khôn ngoan này nếu được hiểu dưới quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục, nói cách khác, hiểu theo nghĩa đen thì quả là vô lý, nghịch thường, không thể nào chấp nhận được, chứ đừng nói chi đến thực hành hay áp dụng nơi cuộc sống bất cứ ai. Đồng thời, lại có những câu mới thoạt nghe hay đọc, lại đầy vẻ ngây ngô, ngớ ngẩn; chẳng hạn câu, “Ai có tai thì nghe,” hoặc, “Ai có tai để nghe thì hãy nghe.” Hiểu câu này thì ai cũng hiểu, một đứa con nít cũng biết, mắc mớ gì được gọi là khôn ngoan mà chẳng những thế, nó được lặp đi, lặp lại những tám lần nơi ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca (Mt. 11:15; 13:9; 43; Mc, 4:9; 23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35).
 
Tuy nhiên, nếu để tâm suy tư, lời phúc âm nói thế như ám định không phải thế mà đòi hỏi, khuyến khích, thách đố người nghe, kẻ đọc, cần định tâm, chú ý suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét đặt vấn đề. Như vậy, thử xét câu ngờ nghệch, ai cũng biết, “Ai có tai thì nghe,” xem lời Chúa ngây thơ đến độ nào! Ai trong chúng ta đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này đều nghe thấy tôi nói dù để ý lắng nghe, hay tai thì nghe nhưng đầu thì đang nghĩ về những chuyện gì đâu đâu. Nhưng thử hỏi, cái tai có thể nghe tự nó được không? Nhớ lại lần nào mình tham dự đám ma hay viếng xác một người mới qua đời, thế tai người chết còn có thể nghe được không. Tất nhiên, họ không nghe được nữa vì linh hồn họ đã ra khỏi xác. Nhận thực được hồn họ đã ra khỏi xác thì tai của họ hết nghe, sự thể này minh chứng, cái tai không thể nghe tự nó mà chỉ là phương tiện cho linh hồn dùng để nghe.
 
Tương tự như vậy, mắt, miệng, bộ óc, cũng đều là phương tiện cho linh hồn nghe. Vậy linh hồn mình là gì, liên hệ đến thân xác và cuộc đời của mình ra sao. Linh hồn mình liên hệ với Thiên Chúa thế nào, và Thiên Chúa là gì. Câu nói ai cũng hiểu, bị coi là ngờ nghệch nơi phúc âm quả là không đơn giản chút nào. Thế các câu nghịch thường, nghịch nhĩ, phản luân lý, đạo đức nhân sinh khác ám định sự gì, chúng ta cần chú tâm suy nghĩ hầu nhận biết lời Chúa muốn mạc khải cho mình nhận thức điều chi.
 
Đặt vấn đề như thế, chúng ta thấy rõ, phúc âm được viết để khuyến khích, thách đố mọi người suy nghĩ, suy tư, hay nghiệm xét hầu thức ngộ, nhận ra bản thể đích thực của mình và vị thế làm người của mình trước mặt Thiên Chúa. Chia sẻ với mọi người như vậy, tôi chợt tự hỏi, không biết trong các luận án tiến sĩ Kinh Thánh từ ngàn xưa tới ngày nay, có luận đề chi dùng bất cứ câu phúc âm nào làm đề án để giải trình chăng; vì lời Chúa, lời phúc âm cho tới lúc này vẫn bị coi là huyền nhiệm. Xét như vậy, lời Chúa bị coi là huyền nhiệm có lẽ bởi chúng ta không suy nghĩ dẫu chúng ta khá tuyệt vời trong suy tư, tính toán nhân sinh, thế tục.
 
Thử đặt mình vào dụ ngôn Người Gieo Giống nơi vị thế đất đai, vườn tược, xem lời Chúa muốn nói gì với chúng ta. Tâm trí chúng ta sẽ là vùng sỏi đá, hoặc để lời Chúa chơ vơ, lộ liễu như trên đường đi, hay những bụi gai, hoặc đất tốt, tùy thuộc chúng ta có thực tâm suy nghĩ, chúng ta có chín chắn, cẩn trọng suy nghĩ hay không. Suy nghĩ thế nào, cách nào, thánh Phao lô đã rõ ràng minh xác, "Đừng dập tắt Thần Khí! Chớ khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào" (1Thes. 5:19-22); với điều kiện tâm trí, "Hãy coi chừng đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô" (Col. 2:8).
 
Xin Thánh Thần soi sáng và dẫn dắt chúng ta nơi hành trình suy tư, suy nghĩ nhận biết lời Ngài. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 16A (Mt. 13:24-43)
 
Bài phúc âm vừa được công bố nêu lên đôi điểm vừa đúng, vừa nghịch thường khiến tâm trí chúng ta phải đối diện với sự rối loạn khi suy nghĩ. Thử để tâm chú ý suy nghĩ đôi câu, “Trong khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của người ấy đến gieo cỏ lùng vào giữa lúa rồi đi mất” (Mt. 13:25). Và câu khác, khi tôi tớ của chủ ruộng lúa đề nghị nhổ cỏ thì, “Ông nói, không, lỡ ra khi nhặt cỏ lùng, các anh lại nhổ lúa cả rễ một thể. Hãy cứ để chúng mọc lên cả hai cho đến mùa gặt” (Mt. 13:29-30).
 
Những ai làm vườn, nhất là cấy lúa, đều kinh nghiệm, cho dù không có ai, không có kẻ thù nào đến gieo cỏ lùng thì cỏ lùng vẫn mọc ngập đầy. Nếu cấy lúa ruộng nước, ít nhất cũng phải làm cỏ một lần khi những cây mạ đã bén rễ. Trồng lúa ruộng khô, ít ra cũng phải làm cỏ hai lần, nếu không, sẽ bị thất mùa. Đối với những thửa đất mà cỏ đã không mọc được, có lẽ sẽ không trồng cấy gì được.
 
Thế nên, điểm chính yếu của lời Chúa hôm nay là câu trả lời của ông chủ ruộng lúa khi tôi tớ đề nghị nhổ cỏ, “Ông nói, không, lỡ ra khi nhặt cỏ lùng, các anh lại nhổ lúa cả rễ một thể. Hãy cứ để chúng mọc lên cả hai cho đến mùa gặt” (Mt. 13:29-30). Kinh Thánh thường dùng vườn nho để ám chỉ về dân Chúa và Thiên Chúa là chủ vườn. Nơi bài phúc âm vừa được công bố, sự gieo lúa nơi ruộng được dùng để ám chỉ sự phát triển của Nước Thiên Chúa. Dĩ nhiên, Nước Thiên Chúa là chính Ngài; vì Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Thế nên, nói về sự phát triển của Nước Thiên Chúa tất nhiên nói đến nhận thức về Nước Thiên Chúa, nhận thức về Thiên Chúa của con người.
 
Phúc âm dùng những hình ảnh phát triển của hạt cải được gieo xuống đất và như men khiến dậy bột làm bánh. Khi hạt cải đã được gieo xuống đất, nó sẽ phát triển tự nó tùy theo điều kiện đất đai, mưa nắng. Khi men đã được ủ với bột ướt, men sẽ làm dậy bột không cần ai chăm sóc. Như vậy, sự phát triển nơi nhận thức về Nước Thiên Chúa, về Thiên Chúa sẽ tự phát triển. Vấn đề được đặt ra đó là, đã hơn kém hai ngàn năm từ ngày đức Giêsu rao giảng Nước Thiên Chúa đến nay, chúng ta vẫn chưa nhận ra Thiên Chúa, Nước Thiên Chúa là gì, liên hệ thế nào đối với cuộc đời của mỗi người.
 
Đã bao giờ chúng ta có được, hoặc bỏ ra đôi giây phút để suy nghĩ, để tự hỏi “Nước Thiên Chúa ở giữa các ông; Nước Thiên Chúa ở trong các ông” nghĩa là gì chưa? “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” nói cho ngắn gọn chỉ là “Emmanuel” theo ngôn ngữ Hy Lạp, chính là Tin Mừng Nước Thiên Chúa, đức Giêsu đã rao giảng. Chúng ta cảm thấy gì khi vị chủ tế trong nghi thức thờ phượng cất lời “Chúa ở cùng anh chị em” và chúng ta thưa, “Và ở cùng cha”?
 
Đã bao lâu rồi chúng ta chưa để tâm suy nghĩ về những câu nói, về những dụ ngôn nơi phúc âm dẫu chúng ta rất thông minh và giỏi dang trong sự suy tư, tính toán về cuộc sống nhân sinh, nếu không muốn nói là lắm mưu, nhiều mánh, với muôn ngàn đường binh sao cho có được cuộc sống dễ thở hơn nơi bất cứ trường hợp nào của cuộc đời. Lời Chúa, lời phúc âm là những phương tiện, là những cơ hội cho chúng ta suy nghĩ để thức ngộ, để nhận thực, biết thực về thực thể chính mình là gì, nhận biết Thiên Chúa liên hệ đến cuộc đời mình ra sao.
 
Hôm nay, một lần nữa lời Chúa cống hiến chúng ta thực thể Nước Thiên Chúa qua dụ ngôn “Cỏ Lùng” mọc lẫn nơi cánh đồng lúa. Thiên Chúa hiện diện, ngự trị, và hoạt động nơi mỗi người. Sự phát triển tâm linh, sự thăng tiến nhận thức về chính mình, về Thiên Chúa được ám định qua diễn tiến của thửa đất trồng lúa. Chúng ta luôn luôn tuyên xưng mình là con người đầy lỗi lầm chẳng khác gì thửa đất, thửa ruộng trồng lúa lắm cỏ lùng. Nói cho đúng, hình như sự tuyên xưng mình đầy lỗi lầm của mỗi người chúng ta chẳng khác chi lặp lại những câu ngạn ngữ theo thói quen. Nếu nhìn cỏ lùng nơi ruộng lúa như những lỗi lầm, khổ ải cuộc sống chúng ta đang phải chen chân dành sống, và suy nghĩ phương cách giải quyết; tất nhiên, chúng ta sẽ thăng tiến nơi hành trình tâm linh, hành trình nhận thức.
 
Nước Thiên Chúa chính là Thiên Chúa đang hiện diện, ngự trị, và hoạt động nơi mỗi người. Suy nghĩ để nhận biết mình thực sự là gì, nên thế nào trước mặt Chúa được gọi là hành trình đức tin, hành trình tâm linh. Xin Thánh Thần của Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta thăng tiến trên đường nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mỗi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 17A (Mt. 13:44-52)
 
Lời Chúa hôm nay nêu lên dụ ngôn về Nước Thiên Chúa. Ai cũng biết, cũng thuộc nằm lòng phạm trù, “Thiên Chúa ở khắp mọi nơi.” Phúc âm lại đưa lên hình ảnh sự thể, “Nước Thiên Chúa giống như kho tàng được chôn giấu nơi một miếng đất, một thửa ruộng, và có người thấy được, ông hay bà ta vội âm thầm che giấu nó kỹ hơn rồi về nhà thu góp tiền bạc để mua thửa đất ấy.
 
Hôm nay, lời Chúa muốn nói với chúng ta điều gì? Hãy đặt mình vào vị thế người vô tình thấy được kho tàng quý giá. Phúc âm dùng giá trị hữu vi của kho tàng để chỉ về Nước Thiên Chúa. Phúc âm cũng đã khuyên chúng ta, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33); đồng thời chúng ta cũng đọc được, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền. Người ta không thể nói được, ‘Này ở đây’ hay ‘Ở đó.’ Vì này, Nước Thiên Chúa ở giữa các ông, ở trong các ông, và ở trên các ông” (Lc. 11:20;17:21). Tin Mừng Nước Thiên Chúa đức Giêsu đem đến cho chúng ta cũng chỉ là “Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.”
 
Nói cách khác, ngay nơi sách Sáng Thế Ký của Cựu Ước cũng đã được viết, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài” (STK 1:27). Mỗi người chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa, Nước Thiên Chúa ở giữa, ở trên, và ở trong mỗi người; thì phương cách, phương tiện tìm kiếm Nước Thiên Chúa, phương tiện, cơ hội nhận biết Thiên Chúa, chính là sự suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét. Như vậy, phúc âm khuyến khích chúng ta dùng tâm trí để suy tư hầu nhận biết Thiên Chúa, Nước Thiên Chúa là thế nào, liên hệ với chúng ta ra sao.
 
Ai không thấy mình khôn ngoan, tài giỏi trong suy tư, tính toán cho cuộc sống. Ai không hay, không thông minh lo toan cho cuộc đời; dẫu trong trường hợp phải “Giật gấu vá vai,” chúng ta cũng biết, “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm.” Đồng thời, xin đừng bao giờ nói với tôi, “Chúng con ngu si, ít học, làm sao biết suy nghĩ.” Quý vị ngu si mà có được gia đình yên ấm, có được cuộc sống an hòa, đôi khi còn hứng khởi nổ tào lao, huênh hoang mình thế nọ, mình thế kia à? Quý vị dốt nát mà trãi qua bao sóng gió, khó khăn cuộc đời đến nay vẫn còn có thể đến nhà thờ được ư?
 
Xin thưa, chính Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi quý vị, dẫn dắt quý vị vượt qua những ba đào gian trần; chính Thiên Chúa dẫn đưa quý vị đến nhà thờ lúc này vì Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động nơi mọi người, vì “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.”
 
Thế nên, phương pháp để nhận biết Thiên Chúa, nhận biết Nước Thiên Chúa chính là suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét, như thánh Phao lô đề nghị, “"Đừng dập tắt Thần Khí! Chớ khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào" (1Thes. 5:19-22). Thánh Thần đang ngự trị nơi mỗi người và hoạt động của Thánh Thần chính là sự suy nghĩ nơi chúng ta. Suy nghĩ hôm nay chưa xong tiếp tục suy nghĩ ngày mai, khi đang rửa chén, quét nhà, giặt quần áo hay nấu ăn, đi chợ.
 
Phúc âm nói rõ, “Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đã sai Ta không lôi kéo nó” (Gioan 6:44). Chính Thiên Chúa dẫn dắt từng người để nhận thức lời Chúa, lời phúc âm. Suy nghĩ, suy tư phát xuất từ linh hồn, và nếu không suy nghĩ, sao Chúa có thể dẫn dắt.
 
Dĩ nhiên, con người không phải gỗ đá, cây cối. Con người có trí khôn, có tâm trí, và hoạt động của linh hồn chính là tâm trí. Ước mơ, tham vọng, ý định, ý nghĩ, đều phát xuất tự linh hồn. Linh hồn mình muốn gì, ước mơ gì, thân xác, cuộc đời của mình sẽ chiều theo và cố gắng thực hiện để đạt cho được. Trong khi suy nghĩ để đạt tới nhận thức về Thiên Chúa, về Nước Thiên Chúa, thánh Phao lô đề nghị, "Hãy coi chừng đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô" (Col. 2:8). Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mọi người; thế nên, công việc đầu tiên để thăng tiến đời sống tâm linh, thăng tiến hành trình đức tin, hành trình nhận biết Thiên Chúa nơi mình là suy tư, suy nghĩ về sự hiện diện của Chúa nơi cuộc đời mình. Khi suy nghĩ về sự hiện diện của Chúa nơi mình, thì không để cho bất cứ tư tưởng, ý nghĩ, ham muốn nào khác chen vào làm phiền tâm tư. Suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về sự thể, thực thể Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mình không cần và không lệ thuộc sự khôn ngoan, kiến thức, học thức nhân sinh thế tục.
 
Thử hỏi, ai không biết một cộng với một là hai. Đó là sự đúng, kiến thức đúng của số học, của thực nghiệm cuộc sống. Nhưng một thân xác cộng với một linh hồn thì bằng mấy? Số học, kiến thức, học thức có chứng minh được không? Nếu nói rằng một thân xác cộng với một linh hồn bằng hai, coi chừng bị người khác cho là nóng đầu. Nếu nói bằng một lại cảm thấy ngớ ngẩn, thiếu sót; bởi hãy còn thiếu tâm trí. Vậy tâm trí ở đâu ra? Cho rằng do bộ óc, vậy khi linh hồn ra khỏi xác rồi thì bộ óc có còn suy nghĩ được không? Hơn nữa, bộ óc thuộc về vật chất, và vật chất không thể phát sinh tinh thần, ước mơ, tham vọng. Thế nên, một thân xác cộng với một linh hồn ít nhất phải bằng ba; ba là một, một là ba. Một người bao gồm thân xác, linh hồn, và tâm trí, bất khả phân ly.
 
Tóm lại, lời Chúa hôm nay khuyến khích chúng ta suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về Thiên Chúa, về Nước Thiên Chúa nơi mình. Hãy suy nghĩ, suy tư; hãy sử dụng hồng ân suy tư được làm người để nhận biết thực thể chính mình, để nhận biết linh hồn mình là gì, liên hệ với xác thân, cuộc đời thế nào. Hãy sử dụng hồng ân suy nghĩ để nhận biết Nước Thiên Chúa, nhận biết sự hiện diện, ngự trị, và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình cùng với sự liên hệ giữa Chúa và mình ra sao. Xin Thần Khi của đức Kitô soi sáng và dẫn dắt mọi người nơi hành trình suy nghĩ nhận biết Chúa. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 18A
Chúa Giêsu Biến Hình (Mt. 17:1-9)
 
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu biến hình. Theo phúc âm Matthêu vừa được công bố, Chúa Giêsu dẫn thánh Phêrô, Giacôbê, và Gioan em ngài lên núi cao và Ngài biến hình. Nhưng khi xuống núi, Chúa Giêsu truyền cho họ, “Các ngươi không được nói cho ai hay thị kiến ấy cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết” (Mt. 17:9).
 
Điểm đáng chú ý nơi bài phúc âm chính là lời ngăn cấm thánh Phêrô, Giacôbê, và Gioan không được cho ai hay biết thị kiến của các ông. Đọc cả bốn phúc âm, chúng ta không thấy đức Giêsu công bố hay rao truyền sự biến hình của Ngài. Hơn nữa, sao các ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan có thể nhận ra hai người gặp gỡ đức Giêsu là Môisen và Êliah? Phỏng đây cũng chỉ là dụ ngôn với mục đích khuyến khích dân Chúa suy tư, suy nghĩ về những lời giảng dạy của đức Giêsu, lời rao giảng về Tin Mừng Nước Thiên Chúa, “Này là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người” (Mt. 17:5).
 
Dùng đôi giây phút hồi tâm kiểm chứng tâm tư của mình, chúng ta nhận ra cũng có những thời điểm được thị kiến. Có khi thấy mình không phải là mình mà là một thực thể nào đó. Có khi nhìn thấy mặt nhật tỏa hào quang. Có khi thấy ai đó mang hiện trạng khác thường. Để tâm nghiệm lại thời điểm đó, chúng ta nhận ra dường như tâm hồn mình lạc vô giây phút nào đó và thường thì mình ít khi để ý bởi không chủ tâm tìm hiểu.
 
Đọc nơi sách vở chiêm nghiệm, nhiều sự thể ngất trí được ghi lại chẳng hạn thấy linh thể nào đó hay được ghi nhận những thông điệp được gọi là mạc khải, hoặc được diện kiến thần nhân hay thánh nhân nào đó. Qua những ghi chép nơi sách vở này, điểm chung của các thị kiến đều nói lên từ niềm tín ngưỡng của người được thị kiến. Rất ít khi người thuộc niềm tin này có thị kiến với các vị thần thánh nơi tín ngưỡng khác ngoại trừ trường hợp chẳng đặng đừng. Chẳng hạn, có người theo Phật giáo, thân mang nỗi khốn khổ nào đó có dịp ghé qua nơi hành hương Lộ Đức. Tất nhiên, “Có bệnh thì vái tứ phương,” nơi khung cảnh người người thành tâm cầu khẩn, người đó định tâm, định trí, nâng tâm hồn lên khẩn cầu và được chữa lành. Không lạ gì, chúng ta thường nghe được “Người ngoại giáo” được chữa lành nhiều hơn người có đạo.
 
Nhìn lại chính mình, mỗi người chúng ta không phải chỉ là xác thân nơi cõi sống nhân sinh, đối diện với cuộc đời luôn chuyển biến bất thường; mà chúng ta còn mang sự sống tâm linh, sự sống của linh hồn. Thực ra, do cuộc đời biến chuyển và nhu cầu nhân sinh, cơm áo, gạo tiền, luôn cấp thiết đòi hỏi một người phải giải quyết hầu tiếp tục sinh sống, con người ít có cơ hội hay thời điểm để ý về đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của mình. Hơn nữa, nếu có cơ hội nghe nói hay được giảng dạy về đời sống tinh thần, đời sống tâm linh, chúng ta thường nghĩ rằng, hiểu biết là đủ; chẳng hạn hiểu về định tâm, nâng lòng trí mình lên cõi thiêng liêng là tưởng mình đã đạt được. Nếu cuộc sống nhân sinh phải ăn uống mới có thể tiếp tục sống, thì cuộc sống tâm linh cũng đòi hỏi sự thực hành nào đó; ít nhất là sự suy nghĩ, suy tư.
 
Một thực trạng rõ ràng trước mắt nhưng ít ai để ý; đó là, không ai có thể ăn hay uống thay cho mình thì cũng không ai có thể thực hành để thăng tiến cuộc sống tâm linh thay cho mình. Dĩ nhiên, bất cứ dùng phương pháp nào hay thời gian bao lâu để giải thích về sự bổ dưỡng của món ăn, hay nước uống đối với cơ thể cũng không thể nào làm yên chiếc dạ dày đang gào thét vì đói. Tương tự như thế, bất cứ sự giải thích, giảng giải nào, cho dù từ đấng bậc cao sang đến đâu hay thần thánh nào về đời sống tâm linh hay những phương pháp đặc biệt, tối thượng nào, nếu không thực hành mà chỉ hiểu biết suông, chẳng đem lại lợi ích chi cho người nghe hay thụ huấn.
 
Hơn kém hai ngàn năm trước, thánh Phao lô đã khuyên nhủ, "Đừng dập tắt Thần Khí! Chớ khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào" (1Thes. 5:19-22). Mới nghe thấy, "Đừng dập tắt Thần Khí! Chớ khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự,” có thể chúng ta đã cảm thấy phải thế nọ, thế kia kinh khủng lắm mới biết được nào là thần khí, nào là tiên tri, lại còn nghiệm xét mọi sự. Thần khí là gì, là chính tâm trí chúng ta. Những suy tư, ý nghĩ, suy nghĩ về tâm linh, về linh hồn, về Thiên Chúa; đó là thần khí. Ơn tiên tri là nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng của mọi người tin theo đức Kitô. Nghiệm xét chỉ là suy nghĩ, suy tư mà thôi.
 
Những trường hợp ngất trí, thấy thị kiến, chỉ xảy ra, xảy đến với người suy tư, nghiệm xét. Không suy tư, nghiệm xét, sẽ không bao giờ thấy được thị kiến, ngọai trù trường hợp vô tình đặc biệt rất ít xảy đến cho dù cầu mong cách mấy. Nơi trường hợp ngoại lệ này, chúng được gọi là ngộ.
 
Trở lại sự thể được phúc âm ghi lại ba ông Phêrô, Giacôbê, và Gioan được thị kiến, thường chúng ta được giải thích rằng Chúa Giêsu tỏ mình ra đối với các ông. Phúc âm không phải là cuốn sách ghi chép lịch sử cuộc đời của Chúa Giêsu như các nhà học giả Kinh Thánh thiếu nghiệm chứng quan niệm. Phúc âm chỉ đường, khuyến khích, thách đố chúng ta suy nghĩ, suy tư hầu nhận biết thực thể chính mình, thực thể tâm linh nơi mỗi người và sự liên hệ của mỗi người với Thiên Chúa. Phúc âm không viết truyện hoang đường mà dùng dụ ngôn để kích thích người đọc, người nghe suy nghi, suy tư, nghiệm xét.
 
Những ai muốn được thị kiến, hãy suy nghĩ, nghiệm xét. Thiên Chúa ngự trị, hiện diện, và hoạt động nơi mỗi người, Ngài sẽ cho bất cứ ai suy nghĩ, nghiệm xét về Ngài thấy được thị kiến. Vấn đề chỉ là, chúng ta có suy nghĩ xem thực thể mình là gì bao giờ chưa; chúng ta có suy nghĩ Thiên Chúa là gì, liên hệ với mình ra sao chưa? Đây là lý do tại sao phúc âm Gioan được viết, “Không ai có thể đến với Ta, nếu Cha, Đấng đã sai Ta không lôi kéo nó” (Gioan 6:44).
 
Xin Thần Khi của đức Kitô soi sáng và dẫn dắt mọi người nơi hành trình nhận thức Thiên Chúa đang hiện diện, ngự trị và hoạt động nơi mình. Amen
 
 
 
Chủ Nhật 19A (Mt. 14:22-33)
 
Bài phúc âm nêu lên mấy điểm chúng ta cần để ý suy nghĩ để nhận thức lời Chúa vừa được công bố muốn nhắc nhở chúng ta điều gì nơi hành trình đức tin, hành trình nhận thức thực thể của mình và sự liên hệ của Thiên Chúa với mỗi người.
 
Bài phúc âm minh chứng các môn đồ không nhận ra Chúa Giêsu mà cho rằng Ngài là ma vì nếu là người bình thường thì không thể đi trên mặt nước. Thế nên, khi nghe Chúa Giêsu lên tiếng, thánh Phêrô vẫn mang nặng nghi ngờ nên thách thức, “Nếu quả là Thầy, xin truyền cho tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy.” Và Phêrô vì e sợ gió to, sóng lớn nên chìm xuống phải cuống cuồng la lên, “Lạy Thầy, xin cứu tôi” (14:30) và bị Chúa nói, “Ngươi hèn tin, tại sao lại nghi ngờ?”
 
Thánh Phêrô theo đức Kitô, được ăn cùng bàn, ở cùng nhà với Chúa cũng như các tông đồ khác, được chứng kiến những sự việc và sự dạy dỗ của Chúa. Nhưng thánh Phêrô cũng như các môn đồ khác vẫn nghi ngờ. Chúng ta thì sao? Chúng ta chỉ được nghe rao giảng, tuyên truyền nên chắc chắn sự nghi ngờ nơi mỗi người, nói cho đúng gấp muôn ngàn lần các môn đồ của Chúa dẫu phúc âm đã có lời khuyến khích “Phúc cho ai không trông thấy mà tin” (Gioan 20:29).
 
Thử xét, tại sao thánh Phêrô phải hốt hoảng khi thấy gió to sóng lớn và bắt đầu chìm xuống. Dẫu Chúa Giêsu nói, “Hèn tin, sao lại nghi ngờ,” thánh Phêrô là dân đánh cá, tất nhiên phải biết bơi để phòng bị trong những trường hợp sóng gió bất ngờ có thể xảy ra, nhưng thánh Phêrô. Tuy nhiên, dù là dân đánh cá nhưng thánh Phêrô đã không biết bơi nên e sợ bị chìm xuống nước do đó phải kêu lên xin Chúa cứu. Giả sử bất cứ ai trong chúng ta biết bơi, thì rơi xuống nước nào có chi đáng nói. Thế nên lời trách tại sao nghi ngờ nói lên sự thiếu sót khả năng bơi lội của thánh Phêrô. Nhận định như thế, nếu nhìn lại chúng ta, chúng ta tin theo Chúa Giêsu, chúng ta còn thiếu sót gì. Thánh Phêrô vì không biết bơi nên phải la hoảng; do đó bị gọi là hèn tin.
 
Đọc nơi phúc âm, điều quan trọng nhất phúc âm khuyến khích chúng ta, và đó là, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của người, và những sự khác sẽ được ban cho các ngươi” (Mt. 6:33). Chúng ta thường được nghe nói và cho rằng lời phúc âm là lời Chúa mang đầy tính chất huyền nhiệm; đồng thời cũng chấp nhận dẫu sao mình cũng chỉ là con người, nên nghe thì nghe vậy và đọc thì cũng đọc vậy, không dám đặt vấn đề nên không để tâm suy nghĩ. Ngay nơi cuộc sống, chúng ta cũng được giải thích rằng Chúa không thử thách bất cứ ai quá sức chịu đựng. Thế nên, lời khuyến khích, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa” cũng thuộc về, cũng ở trong giới hạn của chúng ta. Vấn đề chỉ là chúng ta có để tâm suy nghĩ hay không.
 
Lời Chúa qua phúc âm minh xác, “Biệt phái thỉnh vấn Ngài, bao giờ Nước Thiên Chúa đến. Ngài đáp lời và nói: ‘Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền; người ta sẽ không nói được, này ở đây, hay ở đó; vì này Nước Thiên Chúa ở trong các ông” Lc. 17:20-21; NTThuấn). Nước Thiên Chúa đã ở ngay nơi mình thì sự tìm kiếm Nước Thiên Chúa cũng phải tìm nơi mình. Như vậy, phương pháp để thực hiện sự tìm kiếm Nước Thiên Chúa chính là suy nghĩ, suy tư, điều được thánh Phao lô gọi là nghiệm xét, “Hãy nghiệm xét mọi sự, điều gì lành thì giữ lấy, và hãy k‎ỵ điều dữ dước bất cứ hình thức nào” (1Thes. 5:21).
 
Điều lành là thế nào và điều dữ là thế nào trong khi suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét? Có một số người nói với tôi, “Thưa cha, chúng con thiếu ăn thiếu học thì sao mà suy nghĩ, suy tư.” Nhìn vào thực tại, chúng ta gầy dựng được một gia đình ấm no, trên thuận dưới hòa đâu phải là tự nhiên mà có. Đó chính là sản phẩm của bao cố gắng thực hiện như kết quả của suy nghĩ, suy tư, tính toán. Nơi công việc làm ăn, đơn giản nhất, cuốc đất trồng cấy cũng đòi hỏi chúng ta suy nghĩ, tính toán. Đâu phải cứ cuốc đất, quăng hạt giống xuống là có lúa xay thày gạo hay nghe người khác dụ dỗ để rồi phá vườn cà phê trồng đìu mà có thể làm ăn nên. Ai trong chúng ta không biết những kinh nghiệm trồng cấy qua Tục Ngữ, Ca Dao, “Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa,” hoặc, “Được mùa cau, đau mùa lúa.”
 
Nếu để ý hồi tâm, chúng ta sẽ nhận ra, trong khi suy nghĩ, suy tư, những tư tưởng, ý nghĩ hiện ra nơi tâm trí không đúng không sai, không lành, không dữ. Những ý nghĩ này chỉ mang tính chất lợi hoặc hại, hợp hoặc không hợp nếu đem ra thực hành. Chẳng hạn, nếu tính đến chuyện trồng lúa nơi ruộng khô, chúng ta không bỏ hạt vào mùa nắng mà phải trồng vào mùa mưa. Thế nên, điều mà thánh Phao lô nói, “Điều gì lành hãy giữ lấy, và hãy kỵ điều dữ dưới bất cứ hình thức nào,” chỉ có nghĩa, những sự gì thấy có lợi cho việc làm, thì theo, những gì thấy bất lợi thì bỏ như chúng ta vẫn thường chọn trong khi suy nghĩ về công việc hay lối sống mà thôi.
 
Nước Thiên Chúa đã và đang ở trong chúng ta. Có nghĩa, Thiên Chúa đang hiện diện, ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi nên Nước Thiên Chúa chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu nơi mỗi người. Vậy sự sống nơi mình là gì? Sự suy nghĩ, tính toán hơn thiệt của mình từ đâu phát ra. Chúng ta thường nói từ tâm trí. Vây tâm trí là gì, phát sinh từ đâu? Thế khi một người chết, nghĩa là khi linh hồn ra khỏi xác thì người đó có còn suy nghĩ, tính toán sao cho sống thêm một phút nữa được không? Sự thể này minh chứng, cái xác không suy nghĩ được; vì khi linh hồn ra khỏi xác thì hết suy nghĩ. Xét như thế, sự suy nghĩ phát xuất từ linh hồn. Thế linh hồn mình là gì, liên hệ với thân xác, với cuộc đời mình ra sao?
 
Sao có nhiều người giàu có; mình đôi khi cũng làm được nhiều tiền nhưng khi đó lại cứ gặp những phiền hà phải tiêu hết tiền. Hình như có điều gì liên hệ, ảnh hưởng tới cuộc đời mình; vậy đó là những sự gì? Đọc sách vở, hiểu biết thêm được bao nhiêu, tốt cho sự suy nghĩ, suy tư bấy nhiêu, nhưng căn bản, gốc gác suy nghĩ, suy tư để nhận biết Thiên Chúa là gì, liên hệ đến mình ra sao; linh hồn mình là gì, liên hệ tới thân xác và cuộc đời mình ra sao, chúng ta cần nhận biết, phải nhận biết, nếu không thì cũng như thánh Phêrô, dân chài nhưng không biết bơi.
 
Xin Thần Khí của đức Kitô soi sáng và dẫn dắt mọi người trên hành trình suy tư, suy nghĩ để nhận biết Thiên Chúa, nhận biết Nước Trời. Amen.
 
 
 
Đức Mẹ Lên Trời 08-15 (Lc. 1:39-56) ABC
 
Bài phúc âm vừa được công bố diễn tả tâm tình chiêm nghiệm của một tâm hồn đạt tới nhận thức thực thể đích thực của mình trong diễn trình biến chuyển của Thiên Chúa. Bất cứ ai để tâm suy nghĩ, nghiệm xét sự hiện hữu về linh hồn của mình liên hệ với Thiên Chúa sẽ nhận được niềm vui tuyệt vời và nỗi an bình khó diễn tả như phúc âm đã minh xác, “Ta để lại bình an cho các ngươi. Ta ban bình an của Ta cho các ngươi; không phải thế gian ban cho các ngươi thế nào, thì Ta cũng ban cho như vậy đâu! Lòng các ngươi chớ xao xuyến, chớ nhát đảm” (Gioan 14:27).
 
Tâm tình an vui này được diễn tả, “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và lòng trí tôi hớn hở trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi… Đấng Toàn Năng làm cho tôi những điều trọng đại và danh Ngài là thánh. Lòng nhân nghĩa của Người trãi qua đời nọ đến đời kia đối với những kẻ kính sợ Người. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa đã lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những kẻ thấp hèn. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phúc, và để người giàu có trở về tay không” (Lc. 1:46-53).
 
Để tâm suy nghĩ những sự kiện biến chuyển trong cuộc đời, chúng ta sẽ thấy chúng xảy ra đúng với diễn tiến được phúc âm nói lên nơi tâm tình của đức Mẹ khi thăm bà Isave. Hồi tâm nhìn lại cuộc đời mình, biết bao thăng trầm, biết bao hoàn cảnh lên voi xuống chó đã trãi qua, chúng ta sẽ nhận ra có bàn tay linh thiêng nào đó âm thầm điều hành và sắp xếp cho những sự kiện, sự việc xảy đến đồng thời an bài cho cuộc đời mình một cách khó hiểu nếu không muốn nói là không thể hiểu nổi.
 
Ai đã từng đọc hoặc nghiên cứu lý số đều biết câu, “Đức năng thắng số,” hoặc, “Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt.” Cái tâm, ý định, ước muốn, ước mơ, nơi một người chẳng những điều hành mọi phương diện cuộc sống của người đó mà còn dẫn dắt từng đường đi nước bước trong cuộc sống. Nhiều khi, có những chuyện được coi là không may, hay phiền hà xảy đến khiến mình lâm vào hoàn cảnh khó khăn khiến tâm tư bực bội tạo nên bao ý nghĩ, ước muốn chẳng nên hoặc đôi khi che mờ nhận thức đúng đắn làm lòng ruột mình mang nỗi tự ty mặc cảm.
 
Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó nếu hồi tâm nhận định, coi chừng chính những gì đã xảy đến làm phiền lòng mình lại trở thành cơ hội cho mình học bài học nào đó hoặc phương tiện cho mình thăng tiến đạt tới cơ hội khấm khá hơn thường được gọi là dịp may. Cổ nhân có câu, “Cầu mong không bằng gặp may; gặp may không bằng tốt số; tốt số không bằng ý trời.” Thường thì ai cũng biết câu này, nhưng lại cũng thường thì ít ai để tâm nghiệm chứng câu nói đơn giản này. Nói cho đúng, để tâm suy nghĩ, nghiệm xét cuộc đời, chúng ta sẽ nhận ra tâm tình của đức Mẹ cũng chính là tâm cảm nơi mỗi người, “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa và lòng trí tôi hớn hở trong Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi.”
 
Xin Thần Khí của Thiên Chúa đang ngự trị nơi mỗi người soi sáng và dẫn dắt chúng ta nhận thức sự hiện diện và hoạt động của Ngài nơi mỗi người amen.
 
 
 
Chủ Nhật 20A (Mt. 15:21-28)
 
Quý ông bà, anh chị em trong đức Kitô,
 
Tôi muốn nhắc lại với quý ông bà, anh chị em một điều; chúng ta nên để ý khi nghe hoặc đọc phúc âm. Đó là phúc âm được kiến tạo bằng cách dàn trãi những câu khôn ngoan với những dụ ngôn, được thêm vào với những phần kết nối cho giống một câu truyện về cuộc đời của Chúa Giêsu. Thế nên, nếu để ý, chúng ta thấy có những đoạn phúc âm có diễn trình tư tưởng mang đầy vẻ nghịch thường. Phúc âm thường dùng những sự việc nhân sinh bình thường, đưa lên vấn nạn, nhưng kết luận, hay câu trả lời lại nói về tâm ý hay diễn trình nơi tâm tư. Thí dụ, “Anh em sẽ nộp nhau để bị giết; cha nộp con; con cái đối địch với cha mẹ trước tòa, và ra tử hình cho họ. Và các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh Ta; nhưng ai bền vững đến cùng; người ấy sẽ được cứu” (Mt. 10:21).
 
Phúc âm nói thẳng với người đọc hay nghe; cho dù câu khôn ngoan hay dụ ngôn dùng sự vật hay sự việc gì, thì câu kết chính yếu đều nói đến tâm tư hay diễn trình tư tưởng của người nghe hay đọc. Chẳng hạn, “Đừng tưởng Ta dến để đem lại bình an trên mặt đất. Ta đến không phải để đem lại bình an, mà là gươm giáo. Ta đến để chia rẽ người ta với cha mình, con gái với mẹ mình, nàng dâu với mẹ chồng mình; và kẻ thù của người ta lại là những người nhà mình” (Mt. 10:
 
Ngôn ngữ chỉ về sự vật hay sự việc nơi phúc âm chỉ được dùng như phương tiện ám định không mang nghĩa luân lý hay đạo đức nhân sinh. Chẳng hạn như chúng ta vừa nghe nơi bài phúc âm được công bố, “Không nên lấy bánh của con cái mà quăng cho đàn chó.” Dẫu ngôn từ “Đàn chó” ám định người ngoài dân tộc Israel nhưng không có nghĩa ám định hay cho rằng họ là những con chó. Hoặc nơi câu, “Của thánh đừng cho chó; châu ngọc chớ quăng trước miệng heo, kẻo chúng dày đạp dưới chân, và quay lại cắn xé các ngươi” (Mt. 7:6). Câu này mang nghĩa, không nên giải thích, giải nghĩa cảm nghiệm của mình về phúc âm cho những người không muốn biết hoặc không đủ khả năng để hiểu; bởi nếu đã là cảm nghiệm, là sự nhận thức, thì cho dù dùng bất cứ phương tiện, phương pháp nào cũng không cách nào, không thể nào giải thích; chẳng khác gì ai ăn người ấy no bụng, không thể giải thích mà khiến người ta hết đói được.
 
Hơn nữa, càng cố gắng giải thích, chỉ càng khiến người nghe rối khùng lên và thường tạo nên phản cảm. Phúc âm đã rõ ràng minh định, phúc âm không được viết để giải thích mà để độc giả hay thính giả suy nghĩ, nghiệm xét, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục; các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các ngươi chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Lc. 11:52). Đem phúc âm giải thích theo nghĩa từ chương dưới quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục được gọi là ngăn cản người khác suy nghiệm, suy nghĩ phúc âm, ngăn cản người khác thức ngộ từ suy nghĩ. 
 
Bài phúc âm vừa được công bố có kết luận khác thường như chúng ta thường gặp phải nơi phúc âm, “Này bà, lòng tin của bà lớn thật. Bà muốn sao thì hãy được như vậy.” Sự chữa lành người con gái bị quỷ ám của bà là kết quả lòng tin của bà. Điều này nói lên sự liên hệ giữa lòng tin và ý muốn, “Bà muốn sao thì hãy được như vậy.” Xét như thế, ước muốn lệ thuộc lòng tin; nói cách khác, lòng tin là động lực phát sinh ước muốn. Riêng đối với mỗi người chúng ta, thử hồi tâm nhìn lại ước muốn, ước mơ của mình hiện giờ là gì, nơi phương diện nào, nhân sinh thế tục, hay thuộc địa hạt tâm linh.
 
Một điều chúng ta cần để ý; đó là tất cả ý định, ước muốn, tham vọng, niềm mơ đều phát xuất tự linh hồn. Lòng tin hay đức tin chính là năng lực, quyền lực của Thiên Chúa, quyền lực sự sống, quyền lực hiện hữu nơi mỗi người. Ước muốn, tham vọng, ý định bày tỏ lòng tin, niềm tin, phát xuất tự linh hồn. Thế nên, cứ xét ước muốn, tham vọng của mình đang hướng chiều về đâu, chúng ta biết lòng tin của chúng ta đang đặt tại nơi nào.
 
Xin Thần Linh Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta thăng tiến nơi hành trình đức tin. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật  21A (Mt. 16:13-20) “
Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai?” (Bản dịch NT Thuấn).
 
Ca Dao Việt Nam có câu, “Người ta canh kiệu thì ngon; tôi canh hương án thì đòn vào lưng.” Câu ca dao tóm tắt một dụ ngôn dân gian; đại khái kể rằng có chị nhà quê đứng tuổi kia thấy chồng cứ tấm tắc khen món canh kiệu sau khi dự đám giỗ hết tang của một người bà con trở về, vì thương chồng và cũng muốn có món ngon cho cả gia đình, chị ta quyết định sẽ nấu món canh kiệu. Một hôm đi chợ ngang đình làng, chị ta ghé vô đình bái thần cầu xin bằng an cho gia đình. Nhìn thấy bàn hương án, chị chợt nhớ tới ý định nấu món canh kiệu; đồng thời ý nghĩ đến với chị, kiệu hay hương án thì cũng chỉ là tên một loại trang thờ. Thế rồi chị ta cắt mấy tàu lá chuối bên ngoài đình và ra sức gom góp chân nhang, tro tàn của hương án gói về nấu món canh kiệu. Bữa cơm được sắp ra trong khi chị ta hí hửng vì có thể làm vui lòng chồng do nấu món canh mà chồng thích.
 
Ai ngờ, khi ngồi vào chiếu ăn cơm, người chồng thấy tô canh lạ đầy những chân nhang và tàn tro, hỏi chị thứ gì vậy; chị trả lời, thấy anh ta tấm tắc khen món canh kiệu nên chị ghé qua đình làng, gặp may, thu dọn hương án về nấu canh. Người chồng nổi giận đùng đùng vì sự ngốc nghếch của vợ và không kìm hãm được cơn nóng nên bê cả mâm cơm và nồi canh hương án quăng ra sân. Đại ý câu, “Người ta canh kiệu thì ngon; tôi canh hương án thì đòn vào lưng,” nhắc nhở chúng ta chớ vội tin theo những gì được tuyên truyền khi chưa hiểu thấu đáo sự việc hoặc sự kiện thực sự như thế nào. Mấy năm gần đây chúng ta nghe tới thành ngữ, “Chân thành, năng nổ, nhưng thiếu hiểu biết chỉ là phường phá hoại.”
 
Bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe cũng nêu câu hỏi cho mỗi người; quý ông bà, anh chị em bảo Đức Giêsu là ai? Thiển nghĩ, vừa nghe câu hỏi này, ai cũng có thể trả lời, Đức Giêsu là Thiên Chúa, là Ngôi Hai trong ba ngôi Thiên Chúa, là Con của Đức Chúa Cha, là Đấng Cứu Thế, cứu độ loài người. Chúa Giêsu đến chịu chết để chuộc tội cho loài người, chuộc tội cho quý ông, quý bà, chuộc tội cho tôi, cho anh, cho chị, cho mọi người chúng ta. Ngài đã đến trái đất này, giảng dạy hơn kém hai ngàn năm trước và rồi bị kết án, bị đóng đanh trên thập giá và chết, nhưng sau ba ngày sống lại, lên trời; đồng thời những môn đồ theo Ngài kiến lập nên Giáo Hội được gọi là Hội Thánh, để rồi như chúng ta vừa đọc nơi Kinh ngày chủ nhật, “Ai chẳng thông công cùng Hội Thánh ấy thì chẳng được rỗi linh hồn, và linh hồn là tính thiêng liêng chẳng hề chết được.”” Đây là những điều mọi người chúng ta đang hiện diện nơi đây đã được học hỏi, dạy dỗ, quan niệm như vậy, lặp đi lặp lại hằng tuần, tin và cảm thấy an lòng như thế, đồng thời nghĩ rằng, cho rằng như vậy là đủ để được cứu độ, được gọi là sống trong ơn nghĩa Chúa, được lên thiên đàng.
 
Xin thưa, đó là những gì chúng ta được học, được nghe; đó là những gì chúng ta lập lại điều nghe được, học được từ người khác không phải từ chính mình suy nghĩ, nhận biết, tin thật. Câu Phúc Âm thách đố chúng ta nhận biết Đức Giêsu là ai chứ không đòi hỏi chúng ta lặp lại ai đã nói gì về Đức Giêsu. Nghe hoặc đọc bài Phúc Âm, chúng ta nên để ý, sau khi nghe các môn đồ trả lời về người khác nói gì về mình, Đức Giêsu hỏi, “Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai?” Phúc Âm không hỏi chúng ta ông tiến sĩ này, bà bác sĩ, hay luật sư kia nói Ngài là ai, mà hỏi chúng ta nói, nghĩ, Ngài là ai qua bao nhiêu năm kinh nghiệm sống nơi cuộc đời, qua bao suy nghiệm do đọc, nghe Lời Chúa qua Phúc Âm, sách thánh, hoặc sách vở, internet v.v…
 
Lời Chúa thách đố chúng ta đặt lại vấn đề hầu nhận biết đích thực Đức Giêsu là ai nơi cuộc đời mỗi người chúng ta may ra tránh khỏi trường hợp, “Người ta canh kiệu thì ngon; tôi canh hương án thì đòn vào lưng,” hoặc vì thiếu hiểu biết nên trở thành cố ý vấp phạm như Phúc Âm đã cảnh cáo, “Khốn cho các ngươi, Biệt Phái và ký lục: các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các ngươi không vào đã rồi mà những kẻ muốn vào, các ngươi lại ngăn cản.” Giả sử chúng ta được sinh ra thời Đức Giêsu đang rao giảng nơi đất Do Thái, chúng ta cùng lắm cũng chỉ trả lời được như các môn đồ của Ngài, người này nói Ngài là thế này, người khác nói Ngài thế kia. Chỉ có Phêrô trả lời Ngài là Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống, và được Chúa chọn làm nền tảng xây dựng Hội Thánh, nhưng sau này khi việc xảy đến không đúng với ước mơ của mình, Phêrô đã vội chối biến, không biết Đức Giêsu là ai! Đọc Phúc Âm, thường thì chúng ta cảm thấy dửng dưng khi thấy Phêrô chối Chúa; đôi khi tự dặn lòng sẽ không bao giờ chối như thánh Phêrô, nhưng đã chắc gì chúng ta ngang bằng chứ chưa nói là hơn thánh Phêrô trong việc tin theo Đức Giêsu.
 
Có điều, may mắn thay, chúng ta vì sinh sau đẻ muộn nên có được Phúc Âm để nhận biết Đức Giêsu là ai trong cuộc đời của mình. Tôi muốn nói, chúng ta may mắn vì có được Phúc Âm như phương tiện để chúng ta nghiệm chứng hầu nhận biết Đức Giêsu thế nào trong cuộc đời mỗi người nơi hành trình tâm linh dẫn tới trạng thái như thánh PhaoLô minh xác, “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi.” Tôi chân thành nhắc nhở quý ông bà, anh chị em điều thiết yếu nhất để nhận biết Đức Giêsu chính là đọc và suy nghiệm Phúc Âm.
 
Đức giáo hoàng Phanxicô cũng khuyến khích chúng ta đọc và nên có cuốn Phúc Âm nhỏ để có thể đọc bất cứ lúc nào, dầu chỉ một câu. Muốn tin theo Đức Giêsu, muốn biết Đức Giêsu là ai, chúng ta phải đọc và nghiệm chứng Phúc Âm. Nơi Phúc Âm thánh Luca, đoạn 4, câu 43 được viết, “Nhưng Ngài bảo họ: 'Ta còn phải đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến.” Một ông đại sứ mang thông điệp của quốc gia mình tới quốc gia giao hữu thì sự quan trọng tùy thuộc ông đại sứ hay tùy thuộc sứ điệp mà ông mang theo. Xin thưa, sứ điệp mới đáng được để ý tới bởi không có ông đại sứ này thì có ông đại sứ khác mang sứ điệp tới lân bang. Theo Phúc Âm, Đức Giêsu  được sai đến để rao truyền Tin Mừng Nước Trời, Nước Thiên Chúa; mục đích cuộc đời của Ngài là rao giảng Tin Mừng, và Ngài cũng sai các môn đồ đi rao giảng Tin Mừng.
 
Vậy Tin Mừng Ngài rao giảng là gì, thế nào theo Phúc Âm. Tin Mừng này có giá trị gì, liên hệ thế nào đối với cuộc đời mỗi người chúng ta; từ đó, nhận biết được Tin Mừng, chúng ta nhận biết được Đức Giêsu là ai theo những gì đã được Ngài rao giảng như Phúc Âm đã được viết. Nơi sách Khởi Nguyên được viết, “Và Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh của mình. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, Người đã dựng nên nó. Là nam, là nữ, Người đã dựng nên chúng” (KN. 1:27); như thế, mỗi người chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa. Hơn nữa, nơi thư thứ nhất gửi Côrintô, thánh PhaoLô minh xác, “Anh em không biết sao: anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thần khí Thiên Chúa ngự trong anh em?” (1 Cor. 3:16). Sách Khởi Nguyên và thư thứ nhất của PhaoLô gửi Côrintô nói lên rõ ràng chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa và Thiên Chúa ngự trị nơi mỗi người chúng ta. Nơi Phúc Âm Matthêu, chúng ta đọc được câu, “Này nữ trinh sẽ thụ thai và sinh con và người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel, dịch được là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi””(Mt. 1:23).
 
Chúng ta gọi Obama là tổng thống vì ông ta được bầu để giữ nhiệm vụ của vị nguyên thủ quốc gia. Như thế, tổng thống là danh hiệu của Obama. Nơi Phúc Âm Matthêu được viết, “Người ta sẽ gọi Ngài là Emmanuel.” Suy luận tương tự,  Emmanuel là danh hiệu của Đức Giêsu. Danh hiệu này mang ý nghĩa gì? Xin thưa, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đức Giêsu được sai đến với nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng Nước Trời, rao giảng “Thiên Chúa ở cùng chúng ta;” cho nên danh hiệu của Ngài là Emmanuel. Và như vậy, Tin Mừng Nước Trời là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
 
Được sinh ra làm người, chúng ta coi mình là người như một lẽ tự nhiên nên thường không đặt vấn đề tại sao, vì lý do gì mình được sinh ra làm người hoặc giá trị cuộc đời một người như thế nào, căn cứ nơi đâu! Chúng ta nghe nói, đồng thời chấp nhận qua kinh nghiệm rằng đôi mắt nhìn, cặp tai nghe, miệng nói, và bộ óc suy nghĩ. Từ thuở tạo thiên lập địa đến giờ trãi qua bao thế hệ, muôn ngàn kiếp người đều nghĩ như thế, kinh nghiệm như thế, và cho rằng như thế là một sự tự nhiên, bẩm sinh. Thử hỏi, khi linh hồn ra khỏi xác đôi mắt có còn nhìn được không, cặp tai có còn nghe được không, miệng còn có thể nói, và bộ óc có còn suy nghĩ được nữa không?
 
Đặt vấn đề như vậy, một điều minh xác ai cũng nhận thức được và đó là cuộc đời, thân xác, tứ chi, và ngũ quan của một người chỉ là phương tiện cho linh hồn hoạt động. Linh hồn của một người nhìn qua đôi mắt, nghe qua cặp tai, nói qua cái miệng, và bộ óc chỉ là phương tiện để hồn sử dụng suy tư. Linh hồn suy tư chính là Thần Khí Thiên Chúa nơi mình suy tư, là chính Thiên Chúa nội tại suy tư. Nghiệm chứng được thực thể này, Thánh PhaoLô công bố, “Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gal 2:20). Bao nhiêu lần tham dự thánh lễ, tham dự các nghi thức bí tích, bấy nhiêu lần chúng ta nghe, “Chúa ở cùng anh chị em” và chúng ta thưa, “Và ở cùng cha/thày;” chúng ta đã trả lời theo thói quen, theo tập tục Công Giáo nên không nhận biết đó chính là minh xác lại Tin Mừng Nước Trời Chúa Giêsu rao giảng hơn kém hai ngàn năm trước. Nhận biết như thế, linh hồn của mỗi người chúng ta chính là Thiên Chúa đang ngự trị trong lòng, là Thần Khí Thiên Chúa, là chính Đức Kitô.
 
“Còn các ngươi, các ngươi bảo Ta là ai?” Để trả lời câu này, chúng ta có thể nói, Thưa Ngài, Thiên Chúa đang hoạt động nơi Ngài cũng chính là Thiên Chúa ngự trị nơi con, là linh hồn của con. Ngài trong con và con trong Ngài; Ngài với con là một dẫu hai thân thể. Chúng ta có thực tâm, nhất lòng nhất trí nhận biết thực thể mình là hình ảnh của Thiên Chúa nơi dạng thức con người không? Chúng ta có dám nhận thực Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình hay không?
 
Hai câu hỏi này được trả lời bằng chính cuộc sống của mỗi người chúng ta. Nơi dòng tư tưởng khôn ngoan có câu nói, “Không làm điều xấu đã khó; không nghĩ đến điều xấu lại càng khó hơn.”  Khó vì mình chưa dám nhận thực Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình. Nếu thực lòng nhận thực Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình, dẫu muốn nghĩ xấu cũng không thể phương chi vấp phạm những điều chẳng nên. Làm sao chúng ta có thể nhận biết mình nhận thực được hay không nhận được thực thể Thiên Chúa ngự trị nơi mình? Xin thưa, nếu mình vẫn còn vô tình hay cố ý vấp phạm những điều chẳng nên, tất nhiên mình chưa nhận thực được Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình.
 
 
 
Chủ Nhật 22A (Mt. 16:21-27)
 
Hôm nay, lời Chúa qua bài phúc âm vừa được công bố, đến với chúng ta quả thật khác thường, nhất là với những ai làm nghề chài lưới, bắt tôm cá ngoài khơi, và thường nhận thánh Phêrô làm quan thày nghành nghề đâm hà bá. Mỗi khi thực hiện công việc gì, dẫu cố gắng hết sức với lòng chân thành, ngay thẳng, nhưng không hiểu sao kết quả lại thất bại, hoặc suy nghĩ thế nào để miệng phát biểu ra điều gì đó chẳng những phiền lòng người khác, mà còn tác hại đến chính mình, chúng ta thường đổ lỗi cho ma quỷ, dẫu có lẽ cả cuộc đời vẫn chưa bao giờ để tâm tìm hiểu ma quỷ là gì, bởi thường thì chỉ nghe sao biết vậy.
 
Hình như câu nói, “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường,” thường đậu trên môi chúng ta mỗi khi gặp gì lầm lỗi, hoặc thất bại ngoài ý muốn. Dĩ nhiên, “Đường đời lắm nẻo chông gai, ai chưa qua chưa phải là người,” như nơi một bài hát nào đó đã có lần chúng ta được nghe qua. Trên thực tế nơi thương trường, làm chi thì làm, với tâm ngay chính và lòng chân thành, giỏi lắm thành công được 20 phần trăm đã là đại thành công. Tôi không nhớ rõ vị danh nhân của quốc gia nào đã có câu nói, “Những trận đại thắng chính là những trận đại bại.” Cuộc đời là thế và nếu không thế thì không phải là cuộc đời.
 
Xét về cuộc đời nhân sinh, ai không vào đời đơn độc tay trắng, để rồi cuối cùng đến lúc ra đi cũng đều trắng tay lạnh lùng; cho dù danh tiếng đến mấy cũng đều dần trôi theo thời gian vào cõi hư vô; dẫu cố sao cho, “Lưu thủ đan tâm chiếu Hãn Thanh,” thì chỉ vài chục hay trăm năm sau, nào còn ai biết đấy là đâu. Hơn nữa, cái đúng, điều hay, mình cố theo đuổi thực hiện hôm nay, tại nơi này, đã chắc gì nên hoặc hợp thời nơi khác, hay có khi lại trở thành chẳng nên đối với chính bản thân chỉ một thời gian ngắn tiếp theo. Đối với thực trạng sinh sống của con người nơi dòng đời biến chuyển, đã biết bao nhiêu cảnh cười ra nước mắt; hôm qua bạn hữu, coi chừng nay trở thành kẻ thù bất cộng đái thiên. Tệ hơn nữa, đã có người thốt lên, “Kẻ thù tệ hại nhất của tôi lại là chính tôi.” Chẳng thế mà chúng ta cũng đọc được nơi phúc âm, “Và kẻ thù của người ta là những người nhà mình” (Mt. 10:34).
 
Thế nên, chẳng lạ gì, khi Chúa Giêsu bày tỏ cho các môn đệ của Ngài rằng Ngái sẽ phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ, và thượng tế, thì thánh Phêrô không thể chấp nhận được mà can gián Ngài rằng, “Lạy thầy, không thể thế được! Sẽ chẳng phải như vậy đâu.” Có thể thánh Phêrô vì được chứng kiến tận mắt những sự cả thể Chúa đã thực hiện, nào cho người chết sống lại, nào xua đuổi tà thần khỏi người bị ám, nên đã nhận ra được quyền năng bất bại của Chúa nơi mọi hoàn cảnh. Cũng có thể thánh Phêrô cho rằng nói như thế sẽ giảm bớt uy phong của Chúa.
 
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã trả lời cùng thánh Phêrô, “Hỡi Satan, hãy lui lại sau Ta; Ngươi là cớ cho Ta vấp phạm; vì ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt. 16:23). Thánh Phêrô bị gọi là Satan chỉ vì phát biểu ý nghĩ theo loài người. Thử hỏi, ai trong chúng ta không là người; ai không suy nghĩ theo ý loài người, và như thế, ai không mang tính chất Satan? Có thể Tristan Bernar suy nghiệm câu phúc âm này nên phát sinh câu nói, “Chính Thượng Đế tạo ra thế gian, nhưng chính Quỷ vương mới làm cho thế gian sống động.” (CCCTN; NDCần; Đại Nam; tr.400)).
 
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta, “Ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ được sống. Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình thì được ích gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình” (Mt. 16:24-26).
 
Lời phúc âm ngang ngang, ngửa ngửa, nếu đọc hoặc nghe mà không để tâm suy nghĩ thì sẽ chẳng khác gì vịt nghe sấm. Nào, chúng ta thử xét, “Ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thấp giá mình mà theo Thầy.” Thử hỏi, nếu hiểu theo nghĩa từ chương, bỏ mình đi thì lấy mình đâu mà vác thập giá? Thế nên, “Bỏ mình,” có nghĩa không chạy theo ước muốn thế tục, và chấp nhận thân phận nhân sinh. Dĩ nhiên, ai không muốn có cuộc đời dễ thở hơn, thuận theo ý của mình hơn. Tuy thế, bỏ mình không có nghĩa coi thường cuộc đời mình. Có câu nói, “Vì mình có thân xác, cuộc đời như mọi người nên mình sống như mọi người nhưng lòng mình thì khác hẳn.” Bỏ mình lại có nghĩa ngược lại và đó chính là nhận biết chính mình, nhận biết thực thể mình là gì, linh hồn mình là chi, liên hệ với thân xác, cuộc đời mình thế nào!
 
Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất.” Sau lễ, nếu ai ra về và gặp bè bạn mà lẩm bẩm câu này trong khi suy nghĩ, coi chừng bị người ta cho là nóng đầu. Đối với thân xác con người, một Tần Thủy Hoàng, vị vua nổi tiếng của Trung Hoa, có công thống nhất đất nước thời kỳ Trung Hoa chia năm, xẻ bảy. Tần Thủy Hoàng đã tiêu phí không biết bao nhiêu công sức, tiền của, sai người đi kiếm thuốc trường sinh, và rồi cũng chỉ còn cái tên ghi trong lịch sử đã bị quên lãng của nước Tàu.
 
Tất nhiên, ai cũng phải chết; bất cứ ai vừa mới được sinh ra thì đồng thời cũng đều bị đeo theo án tử, để rồi mỗi bước chân đều dẫn dần tới nấm mồ. Tuy nhiên, chúng ta còn có linh hồn, có cuộc sống của linh hồn. Lời Chúa muốn nhắc nhở chúng ta để tâm suy nghĩ, suy tư về cuộc sống của linh hồn, cuộc sống tâm linh của mỗi người. Phương pháp nào để nhận biết cuộc sống tâm linh, lời Chúa hôm nay dạy chúng ta, “Còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ được sống.” Lời này nghĩa là sao? Xin thưa là suy nghĩ, suy tư về lời Chúa, lời phúc âm. Theo kinh nghiệm, tôi đề nghị, đừng suy nghĩ nhiều, hãy suy nghĩ một câu thôi, bất cứ câu nào.
 
Tốt nhất là hãy suy nghĩ câu phúc âm nào đó làm phiền mình, đầy vẻ vô lý, hoặc như chọc vào tai mình. Hoặc bất cứ câu nghịch thường nào khác. Tự mình suy nghĩ, hôm nay chưa thấy gì, hãy suy nghĩ tiếp ngày mai; ngày mai vẫn còn cứ u mê, suy nghĩ thêm một tuần nữa; tuần nữa vẫn không xong, tiếp tục suy thêm một tháng; sau một tháng mà tâm trí vẫn cứ như đêm ba mươi, suy nghĩ thêm một năm; và một năm vẫn còn chưa tỏ, suy thêm mười năm. Mất mười năm vẫn còn tăm tối thì cả đời; sống để dạ, chết đem theo. Biết bao nhiêu người tin theo đức Kitô đã cả đời suy nghĩ, nghiệm xét phúc âm, thế sao ngày nay, lời phúc âm, lời Chúa vẫn còn được coi là huyền nhiệm?
 
Không nói đâu xa, thử hỏi tất cả chúng ta đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này, đã bao giờ suy nghĩ về linh hồn mình là gì, liên hệ đến thân xác, cuộc đời của mình thế nào chưa, phương chi lời Chúa! Linh hồn của mình mà không biết thì thử hỏi chúng ta nên biết gì? Suy nghĩ để biết linh hồn mình thế nào, và khi đã thực sự cảm nhận được thì được gọi là nhận thức, là thức ngộ. Tất nhiên, nhận thức không thể học được, không thể cầu mà được, chỉ có thể ngộ, Muốn ngộ phải suy nghĩ.
 
Xin Thánh Thần soi sáng và dẫn dắt mọi người chúng ta suy nghĩ để nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mỗi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 23A (Mt. 18:15-20)
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta, “Thầy bảo thật các con, những gì các con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc, và những gì các con tháo gỡ dưới đất thì trên trời cũng tháo gỡ. Ở đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy.” Một điều chúng ta nên nhớ đó là phúc âm bao gồm những câu khôn ngoan và dụ ngôn được kết nối tạo thành câu truyện mới thoạt nghe hay đọc được coi như viết về cuộc đời của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, khi để tâm suy nghĩ từng câu, chúng ta sẽ nhận thấy phúc âm khuyến khích, nếu không muốn nói là thách thức người đọc hay nghe suy nghĩ, suy tư, để thăng tiến trên hành trình đức tin, hành trình suy nghĩ để nhận ra thực thể và sự liên hệ, vị thế của mình đối với Thiên Chúa. Nói cho đúng, nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi cuộc đời mình.
 
Bài phúc âm nói đến sự cầm buộc, và tháo gỡ của một người nơi dương thế liên hệ với sự cầm buộc và tháo gỡ phần linh hồn của người ấy sau khi chết; “Những gì các con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc.” Chúng ta cần đặt vấn đề để xem cầm buộc là thế nào và ai là người có quyền cầm buộc với ai là người bị cầm buộc. Có một điều chúng ta cần để ý; đó là phúc âm nói thẳng với mỗi người dẫu thường thì dùng sự việc nhân sinh để ám định điều muốn nói. Thế nên, đối tượng nhận định hoặc phân tích phải là chính mình.
 
Thực trạng ai cũng kinh nghiệm; khi chúng ta thực sự dự định thực hiện điều gì sau khi đã tính toán lợi hại, việc gì, tất nhiên chúng ta sẽ sử dụng hết khả năng, phương tiện để hoàn thành công việc đó. Thường thì chúng ta đều cho rằng những ước muốn, dự định, tính toán phát xuất từ bộ óc, được gọi là trí não của chúng ta. Tuy nhiên, bộ óc thuộc về vật chất, không thể nào phát sinh tư tưởng, ước muốn được; vì tư tưởng, ước muốn, ý định, tham vọng thuộc về tâm linh, những sự hiện hữu vô hình. Dẫu các nhà khoa học, cũng như mọi người đều nghĩ hoặc được gọi là kinh nghiệm, mắt nhìn, tai nghe, miệng nói, óc suy nghĩ, nhưng thử hỏi, khi linh hồn lìa khỏi xác thì miệng còn nói được không, tai thế nào, mắt ra sao; tất nhiên bộ óc cũng không thể hoạt động tự nó.
 
Kinh nghiệm nhân sinh minh chứng, khi chúng ta thực sự ham muốn điều gì, chính điều ham muốn đó lôi cuốn, hấp dẫn, chúng ta không thoát ra được. Chúng ta bị điều ham muốn đó cầm buộc. Ham muốn, ước muốn, ước mơ, tham vọng đều phát xuất từ linh hồn và thân xác cũng như cuộc đời một người chỉ là phương tiện và cơ hội cho linh hồn hoạt động để đạt thành hay học bài học nào đó cần phải học. Nơi cuộc đời này, bài học nào cũng có giá phải trả. Nhìn lại cuộc đời mình, có thể niềm mơ ước ngày xưa coi chừng đang trở thành gánh nặng trên vai muốn vứt bỏ cũng không được; hoặc giấc mơ thần thánh hôm nao, giờ lại biến thành nỗi đắng cay sống để dạ, chết mang theo.
 
Bởi đó, chúng ta dễ dàng nhận ra thực thể sự việc, nói cách khác, thực trạng tâm linh đó là khi thân xác qua đi, linh hồn vẫn còn tiếp tục theo đuổi ước muốn, tham vọng nào đó. Chúng ta có thể mường tưởng được linh hồn mình đi về đâu sau khi chết bằng cách đối diện với ước muốn, niềm mơ, tham vọng của mình là gì lúc này. Muốn lên thiên đàng thì cần phải biết thiên đàng là gì. Chẳng những thế, lại cũng cần phải biết linh hồn mình là gì, liên hệ với xác thân và cuộc sống ra sao. Chúng ta cần suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về chính mình. Tại sao mình được sinh ra, mục đích cuộc đời của mình là gì? Linh hồn là thứ chi, liên hệ với Thiên Chúa thế nào. Muốn biết liên hệ của mình với Thiên Chúa ra sao, chúng ta lại cần suy nghĩ để nhận biết Thiên Chúa là gì.
 
Điều rõ ràng mọi người đang thực chứng, và đó là không ai có thể ăn dùm, uống dùm cho mình được thì cũng không ai có thể suy nghĩ dùm cho mình. Tất cả những kinh sách, tài liệu, những điều rao giảng, tuyên xưng đều chỉ là phương tiện giúp chúng ta suy nghĩ. Và sự suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét phải bắt đầu từ chính mình. Thực ra, điểm khởi đầu tự chính mình và điểm cuối cùng cũng lại là chính mình; nếu không biết chính mình thế nào, mơ ước, ham muốn gì, linh hồn mình ra sao thì thử hỏi phỏng chúng ta còn có thể biết được chi. Chúng ta đang bị sự ngu muội cầm buộc nếu không suy nghĩ, nếu không đặt vấn đề.
 
Lời Chúa hôm nay khuyến khích, thách đố chúng ta gỡ bỏ sự ngu muội do đã bao lâu nay không suy nghĩ, không suy tư về hành trình tâm linh của mình, không dám đặt vấn đề tại sao mình được sinh ra; linh hồn mình là gì; và chết rồi sẽ về đâu, cùng với những vấn đề liên hệ với cuộc đời, với Thiên Chúa. Xin Thần Khí của đức Kitô soi sáng và dẫn dắt chúng ta nơi hành trình đức tin. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 24A (Mt. 18:21-35)
 
Quý ông bà, anh chị em trong đức Kitô,
 
Hôm nay lời Chúa đến với chúng ta, “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.” “Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế; nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” Nơi dụ ngôn, phúc âm dùng các môn đồ của Chúa Giêsu thay thế cho mỗi người chúng ta. Thế nên, khi đọc hoặc nghe công bố phúc âm, chúng ta theo thói quen, cứ mường tưởng đang đọc hoặc nghe một câu truyện về ai đó được nhắc đến chẳng khác chi chúng ta đọc truyện hay sách vở nào đó. Thưa không, lời Chúa đang nói trực tiếp với chính mình. Không thế, sao chúng ta có thể nhận ra sự khôn ngoan phúc âm gợi ý, sao chúng ta có thể suy nghĩ, nghiệm chứng những câu khôn ngoan nghịch thường với luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục, sao chúng ta có thể áp dụng câu, “Kẻ nào yêu cha mẹ, con cái hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta” (Mt. 10:37); sao có thể suy nghĩ, nghiệm xét câu, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì móc mà quăng chúng đi” (Mt. 18:9)?
 
Thế nên, lời Chúa dạy, “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy.” Nơi cuộc đời này, cổ nhân để lại câu, “Không có lửa, sao có khói.” Nếu không có chi làm phiền lòng mình, nếu không có gì thiệt hại, đụng chạm tới tự ái, danh dự khiến mình bực tức đâu cần gì phải nói đến tha thứ; ấy là chưa nói tới sự ghen tương, bực bội vô lối; thấy ai đó giầu sang, phách lối, oai phong hơn mình, tự nhiên lòng sinh ác cảm, chẳng ưa. Hơn nữa, cũng đâu phải phi lý cũng đã có câu, “Kẻ thù tệ hại nhất của tôi lại là chính tôi”?
 
Lời Chúa, lời phúc âm nói trực tiếp với mỗi người; bởi vậy, chúng ta trước hết nên thử đặt vấn đề tha thứ cho chính mình. Thật ra, khi hồi tâm nhìn lại con người của mình, chúng ta coi chừng ngỡ ngàng vì nhiều điều lòng mình ấp ủ chẳng ưa ngay nơi bản thân, nhưng đã hình như ít được để tâm đặt vấn đề, ít khi dám đối diện với chính mình hầu giải quyết, có chăng cứ tưởng rằng lờ đi, cho nó qua đi một cách tự nhiên là mọi sự sẽ trở thành bình thường. Thấy người khác vui tươi, phấn khởi trong lúc lòng mình đang băn khoăn, lo lắng sự việc khó giải quyết nào đó; lòng mình hoặc nảy sinh khó chịu, hay mặc cảm bị đời phù dập.
 
Có câu truyện kể, mỗi khi gặp đứa trẻ quen thân hay con cái mình, bạn cho nó đôi ba chiếc kẹo, hỏi thăm đôi câu; đứa trẻ sẽ nghĩ mình thương nó. Đến khi vô tình trong túi hết kẹo, không có chỉ trong túi để cho nó, nó sẽ nghĩ mình không thương nó nữa. Bình thường nơi cuộc sống, khi chúng ta ăn nên làm ra, có cuộc sống thoải mái, thảnh thơi, chúng ta cho rằng Chúa thương, nhưng chẳng may có chuyện gì bất thường khiến làm ăn thua lỗ, cuộc sống gặp khó khăn, chúng ta vội đổ cho Chúa phạt. Quả là bất công, nói rằng Chúa phạt, nhưng phỏng chúng ta có đặt lại vấn đề, xem xét, nhận định thực tại, hoặc nơi mình, hay nơi diễn biến thay đổi của cuộc đời để có phản ứng giải quyết vấn đề hay không.
 
Xét như thế, chính những điều không nên, những tham vọng phi lý nơi mình khiến tâm tư mình bực bội mà mình không để ý. Những lầm lỗi, ghen tương, thất bại, mặc cảm nơi mình mới chính là kẻ thù tệ hại nơi mình cần được giũ bỏ, cần được tha thứ, tha thứ cho chính mình. Thử hồi tâm suy nghĩ, nếu ai đó vô tình hay hữu ý, nói câu nào đó đụng chạm hay làm phiền khiến mình bực bội. Sự bực bội phát sinh từ lòng mình nếu mình cố giữ sự bực bội ấy trong lòng, nơi tâm trí, mình đã cho phép, đã chấp nhận sự bực bội ấy cầm giữ tâm tư. Mình đã vì không suy nghĩ, nhận xét để sự bực bội đó ảnh hưởng, làm phiền chính mình. Pierrer Veber để lại câu nói, “Phải có kẻ thù! Ban thân sẽ chán nói đến anh. Nhưng các người thù của anh thì sẽ không bao giờ quên nói đến anh” (CCCTN; tr. 395). Chính kẻ thù nơi lòng mình phá nát cuộc đời mình; còn người khác, dù bị mình coi là kẻ thù đâu có giờ mà nghĩ đến mình.
 
Bởi vậy, tha thứ cho chính mình là điều cần thiết nhất để có tâm hồn thảnh thơi, vui tươi an hưởng cuộc sống, để có cơ hội suy nghĩ hầu thăng tiến tâm tư, thăng tiến tâm linh. Tha thứ cho chính mình là giũ bỏ mọi sự làm phiền lòng mình, không cho chúng cơ hội ảnh hường tâm tư. Không gì độc hại và khốn nạn hơn là chấp nhận những điều chẳng ra gì khiến tâm tư thống khổ. Hãy để chúng đến rồi đi như làn gió thoảng. Cổ nhân có câu, “Thiên hạ đa sự, người ngu tự quấy nhiễu mà nên.” Đối với cuộc sống, người Việt chúng ta có câu, “Đường ta, ta cứ đi, chó sủa cứ việc sủa.” Không ai quỳ gối, chống tay sủa lại chó và cũng không ai để tiếng chó sủa ảnh hưởng tâm tư. Chúng ta không chấp với mấy con chó, thì hãy coi những điều làm phiền hà tâm tư như tiếng chó sủa; không cho phép chúng ảnh hưởng cuộc đời mình. Cuộc đời mình còn lắm chuyện phải lo, nhiều chuyện phải làm. Tha thứ cho kẻ thù mình chính là giải thoát tâm tư, tâm trí mình khỏi bị phiền hà về bất cứ gì ngăn cản và ảnh hưởng niềm vui cuộc sống.
 
Xin Thánh Thần Thiên  Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta thăng tiến nơi hành trình tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 25A (Mt. 20:1-16a)
 
Chúng ta vừa nghe bài phúc âm được công bố. Đó là dụ ngôn một ông chủ vườn nho thuê người làm công. Có những người được thuê lúc sáng sớm, giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ 9, và giờ thứ 10, và khi trả tiền thì mỗi người thợ được trả bằng nhau là 1 đồng thời bấy giờ. Những người được thuê làm việc từ sáng sớm nói lên đó là điều bất công nhưng ông chủ trả lời họ đã đồng ý tiền công khi được thuê.
 
Xét về thực tế nhân sinh, chúng ta có câu, “Tiền trao cháo múc,” nhưng trong những công việc thuê mướn người làm việc, tiền công chỉ được trả sau khi làm việc hoặc sau khi hoàn thành công việc. Nơi những hãng xưởng ngày nay, thường có những trường hợp người làm công phải trãi qua một đôi tháng, có khi ba tháng để thử năng lực làm việc rồi mới được định giá công sá và nếu ưng mới được nhận làm chính thức.
 
Tuy nhiên, đây là dụ ngôn về Nước Trời, Nước Thiên Chúa; thế nên lời Chúa hôm nay ám chỉ sự “Tìm kiếm Nước Thiên Chúa.” Dĩ nhiên, sự tìm kiếm này chính là sự suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi; Thiên Chúa chính là sự sống, sự hiện hữu nơi mọi người, ở ngay chính mỗi người chúng ta. Thế nên vấn đề lại là chúng ta có suy nghĩ, có suy tư, hay nghiệm xét để nhận biết sự hiện hữu và hoạt động của Thiên Chúa nơi mỗi người chúng ta hay không.
 
Hồi tâm kiểm chứng nhận thức của mỗi người. Qua kinh nghiệm sống, biết bao sự việc, lời nói, sự đối xử, hay ý nghĩ, ước mơ nơi mỗi người, chúng ta thấy nhiều chuyện đã qua, có khi một đôi năm hay cả chục năm trước xảy ra, mà mãi cho tới nay chúng ta mới có thể hiểu được, nghiệm được sự việc đó xảy đến với mình, hoặc mình được chứng kiến mang ý nghĩa gì, hay ảnh hưởng thế nào tới cuộc đời mình. Thử nhớ lại câu, “Thương con cho roi, cho vọt; ghét con cho ngọt cho bùi.” Mới nghe thì nghịch thường, nhưng hồi tâm nhớ lại, chúng ta phải cúi đầu ghi ơn cha mẹ đã phải khổ tâm chấp nhận, và dày công dạy dỗ chúng ta từ ngày còn tấm bé, phải uyển chuyển, lo lắng giáo dục, uốn nắn những tên ngang bướng như chúng ta thời còn nhỏ để trở nên những người tốt lành mang lại no ấm cho gia đình và thịnh vượng cho làng xã ngày nay.
 
Tôi muốn nhắc lại. Sự tìm kiếm Nước Trời chỉ xảy ra nơi tâm trí mỗi người nên cần được suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét. Đừng nói với tôi rằng chúng con ít học nên dốt nát, không biết suy tư, suy nghĩ thế nào. Quý vị có được cuộc sống như ngày nay, quý vị đã sử dụng suy nghĩ, tính toán nhiều cách, lắm chước để vượt qua những khó khăn, trắc trở trong cuộc đời. Đâu ai có thể dạy quý phải biết làm sao, giải quyết thế nào nơi những trường hợp ấy. Xin thưa, chính quý vị đã suy nghĩ và thực hiện những việc cần phải làm để giải quyết. Có câu nói, “Chúng ta tuyệt vời hơn bất cứ những gì chúng ta có thể nghĩ về chính mình.” Vấn đề chỉ là chúng ta có để tâm suy nghĩ, đặt vấn đề hay không.
 
Thiên Chúa ở khắp mọi nơi nên Nước Thiên Chúa chính là Thiên Chúa. Như vậy, Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu nơi mọi loài, mọi sự. Một ý nghĩ, một tư tưởng, một ý kiến, dẫu không thể nhận biết bằng mắt nhưng chúng ta có thể nhận biết qua truyền thông bằng lời nói, chia sẻ; tất nhiên, ý nghĩ, tư tưởng, ý kiến có sự hiện hữu, mang sự hiện hữu nên chúng ta mới có thể biết được. Thiên Chúa nơi mình, chính là sự sống, sự hiện hữu nơi mình, muốn nhận biết cần phải suy nghĩ. Chúng ta rất tuyệt vời trong suy nghĩ nhưng thường suy nghĩ về những chuyện làm ăn, nhân sinh, thế tục mà rất ít khi hoặc chưa bao giờ tự hỏi, rất ít khi suy nghĩ về Thiên Chúa là thế nào nơi mình, liên hệ với mình ra sao.
 
Có câu nói, “Khi con vật ăn no, chúng ngủ, nhưng khi con người có đủ cơm ăn, áo mặc, người ta suy nghĩ.” Chúng ta là con người; chúng ta biết suy nghĩ tự bản năng. Cho dù con rùa sống đến mấy trăm năm, con voi, con hổ vài chục năm, con chó, con mèo, không thể nào so sánh với một em bé sáu hay bẩy tuổi. Nơi dân gian người Việt xưa có câu, “Ông bẩy mươi học ông bẩy mươi mốt,” nhưng thực trạng hiện nay thế nào? Xin thưa, đem một chiếc điện thoại Iphone cho một em bé mười tuổi, cháu quệt qua, quệt lại và chẳng mấy chốc sử dụng được ngay. Cũng đưa chiếc Iphone ấy cho cụ già bẩy mươi mốt tuổi xem sao, chắc chắc cụ gì xin chịu. Ngày nay, coi chừng ông bảy mươi mốt nên học từ em bé bẩy tuổi.
 
Suy nghĩ để tìm kiếm Nước Trời, Nước Thiên Chúa hầu nhận thức được sự hiện diện và hoạt động của Chúa thế nào nơi cuộc đời mình được gọi là thức ngộ, hay gọi tắt là ngộ. Sự nhận thức này không lệ thuộc vào học thức, không lệ thuộc vào bằng cấp cao hay thấp, không lệ thuộc vị thế quý trọng hay thấp hèn, không lệ thuộc tri thức hay tiền tài, gia sản, lề luật, giả thuyết, chủ thuyết, mà chỉ lệ thuộc vào sự suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét. Phúc âm chỉ rõ tiến trình suy nghĩ, “Kẻ có thì được cho thêm mà nên dư dật, kẻ không có thì dù có ít cũng bị cất đi.” Chúng ta làm công việc gì, càng tiếp tục làm thì càng thuần thục và càng thăng tiến; nhưng nếu ngưng không thực hiện nữa thì chẳng bao lâu sau chúng ta không những bị lụt nghề mà còn mất khả năng thực hiện. Càng suy nghĩ, càng tăng thêm nhận thức. Sách vở, kinh sách, lời bàn, lời giảng dạy đều chỉ là phương tiện.
 
Thử xét đôi câu, “Khôn ngoan ở chốn nhà bay; dù che, ngựa cỡi đến đây cũng hèn,” hoặc, “Ông mất cái giò, bà thò chai rượu.” Ai trong chúng ta cũng nghiệm được, cũng nhận thức được hai câu nói này ám chỉ về những điều gì. Những ai chưa hiểu được, suy nghĩ một lúc đã có thể hiểu được, nghiệm được. Sự nhận thức này được gọi là ngộ. Hai câu này, nếu tôi không lầm thì đã được nhắc đến cả ngàn năm trước. Nếu xét về sự thức ngộ về hai câu này của người nào đó một ngàn năm trước và sự thức ngộ của chúng ta bây giờ thì cũng ngang bằng nhau. Sự thức ngộ không mang giá trị hơn kém.
 
Nhận ra được giá trị sự thức ngộ từ tục ngữ, ca dao của ngàn năm trước và sự nhận thức bây giờ, lúc này, chúng ta nhận ra lời Chúa hôm nay nói về sự thức ngộ, sự nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi một người ngàn năm trước thì cũng như sự thức ngộ của người ngày nay. Vấn đề còn lại chỉ là chúng ta có suy nghĩ, suy tư hay không mà thôi. Người được thuê làm việc từ sáng sớm, và người được thuê làm việc vào giờ thứ 10 cũng được trả công một đồng. Nhận biết, thức ngộ sự hiện diện vào hoạt động của Chúa nơi mình ngày nay cũng tương đương với sự thức ngộ của các vị thánh ngàn năm về trước. Xin Thánh Thần của đức Kitô soi sáng và dẫn dắt chúng ta suy nghĩ. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 26A (Mt. 21:28-32)
 
Quý ông bà, anh chị em trong đức Kitô.
 
Ai trong chúng ta, dù sang hèn, giầu nghèo, sung sướng thảnh thơi, hay khổ tâm vất vả, là con người, không những luôn phải đối diện với cuộc đời luôn biến chuyển, thay đổi nhiều khi chẳng ngờ dẫu để ý hay không mà còn mang một thân phận đầy huyền nhiệm chính mình cũng không thể hiểu nổi. Chẳng hạn, tại sao cặp mắt ai cũng ở dưới trán mà không ở sau gáy hay cái mũi lại ở giữa mặt mà không nằm phía sau lưng. Cho dù các nhà khoa học có phân tích, phân cốc để tìm ra DNA giải thích đến thế nào thì chính ngay các vị ấy cũng vẫn không bao giờ trả lời được từ đâu họ đến chốn này nơi dương thế, mục đích cuộc đời của họ là gì, và chết rồi họ sẽ đi về đâu, cũng như mọi người chúng ta; dẫu Kinh Thánh đã nói qua sách Giảng Viên, “Không có gì lạ dưới ánh mặt trời” (GV. 1:9).
 
Để trả lời cho nỗi thao thức về mục đích hay thân phận một người, phúc âm dạy, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33); trong khi lại cũng phúc âm đã minh xác, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền, người ta sẽ không nói được: Này ở đây hay ở đó, vì này, Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17:20-21). Nước Thiên Chúa ở trong các ông có nghĩa Nước Thiên Chúa ở nơi mỗi người chúng ta. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu nơi mỗi người; thế nên Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa. Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa có nghĩa, tiên vàn hãy nhận biết Thiên Chúa nơi mình. Và muốn nhận biết Thiên Chúa nơi mình thì cần phải suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét.
 
Thế nên, tiên vàn hãy suy nghĩ, suy tư, nhận biết về chính mình vì nếu không nhận biết về thực thể chính mình sao có thể nhận ra Thiên Chúa nơi mình! Muốn nhận biết chính mình thì cần đối diện với chính mình; thực tâm, chân thành, có sao nhận vậy, không bào chữa, không suy đoán, giải thích lý “gio” lý “trấu.” Dĩ nhiên, ai cũng đều nghĩ rằng, cho rằng mình biết rõ ràng về mình hơn ai hết. Xin thưa, ai không “Tốt khoe, xấu che;” ai không tự lừa chính mình; tôi cũng vậy và mọi người đều thế. Thôi thì, xin nghe dại, lấy một tờ giấy, vạch một đường thẳng giữa trang chia đôi tờ giấy. Không cho ai biết, chỉ một mình, một bên viết xuống tất cả điều hay, cái đẹp từ ý nghĩ, lời nói đến những việc tốt lành đã thực hiện. Bên kia, viết xuống tất cả những gì không nên không phải của mình từ ý nghĩ, lời nói, đến những sự việc chẳng nên mình đã làm. Nhớ ngồi trên ghế chắc chắn, có dựa lưng, kẻo khi viết xong té ngửa lại phiền ra.
 
Tôi nói trước, nếu thực lòng, và chân thành đối diện với chính mình, ngay khi viết xong, sẽ không một ai, dù nơi đấng bậc nào, có thể chấp nhận những gì mình vừa viết ra. Hãy cất kín nó đi và kiểm điểm xem lòng mình thế nào; ai thử, người ấy sẽ biết. Cỡ hai tiếng sau đọc lại với lòng ngay thẳng, chân thành chấp nhận những điều đã được viết do chính mình viết ra và là chính mình. Ngay lúc này, mọi sự biến đổi. Tôi muốn nói mình nhận chân được mình cũng tốt lành, thánh thiện lắm và cũng đốn mạt không thể ngờ. Hy vọng, bất cứ ai thực hiện công việc đối diện với chính mình lúc này sẽ nghiệm được câu nói nghịch thường, “Cái bóng của Thượng Đế là Quỷ vương.”
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta qua lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả, “Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần đến” (Mt. 3:1-3). Câu này cũng tương đương với lời rao giảng của đức Giêsu, “Thời buổi đã mãn, và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc. 1:14-15). Hối cải hay sám hối đều thuộc về một trong những ý nghĩa của động từ Hy Lạp, “Metanoia.”
 
Động từ “Metanoia” nơi tiếng Hy Lạp có nhiều nghĩa. Nghĩa gốc của nó là, thay đổi hướng đi, chiều hướng; các nghĩa phụ là, suy nghĩ khác thường, cải tạo tư tưởng, thay đổi tư duy, ăn năn thống hối, hối cải. Nơi cuốn Kinh Thánh Tân Ước do 14 vị học giả Kinh Thánh biên soạn và được in ra năm 1994 tại Sài gòn, phần ghi chú được viết, “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng: Từ Hy lạp Metanoia theo nghĩa gốc là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng, hối tiếc, hối hận. Ở đây, chắc phải hiểu sám hối (metanoia) theo chủ đề căn bản trong Cựu Ước, cách riêng, từ ngôn sứ Giêrêmia: thay đổi hướng đi, triệt để quay về với Thiên Chúa của Giao Ước và dấn bước vào một cuộc sống mới. Đức Giêsu còn kêu gọi dân chúng lấy đức tin mà đón nhận toàn diện thông điệp Người công bố.” Theo sự ghi chú này, ngôn từ “Sám hối” nơi phúc âm Marcô, mang nghĩa suy tư, nghiệm xét, chiêm nghiệm.
 
Bài phúc âm vừa được công bố lên phán quyết, “Kẻ thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông; vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông đã không tin ngài, nhưng những ngưởi thâu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài.” Lý do gì phúc âm nói là tin và không tin lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả? Xin thưa vì không suy nghĩ, không biết mình là gì và cũng không biết Thiên Chúa, Nước Thiên Chúa là gì, không biết mình tốt lành thánh thiện và đồng thời đốn mạt ra sao.
 
Tóm lại, xin mọi người vì lợi ích cho phần rỗi chính là nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mình, hãy bình tâm suy nghĩ, hãy nhận biết thực thể mình là thế nào. Xin Thánh Thần soi sáng và dẫn dắt mọi người nơi hành trình nhận thức Thiên Chúa nơi mình. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 27A 99 (Mt, 21:33-43)
 
Qua đoạn Phúc Âm, Lời Chúa cảnh cáo mọi người nếu chúng ta đặt mình vào địa vị của những tư tế và trưởng lão nơi xã hội Do Thái thời Đức Giêsu. Theo Kinh Thánh, vườn nho thường được dùng để ám chỉ dân Chúa, và những người tá điền được ám chỉ những người chăn sóc dân Chúa chẳng hạn linh mục, giáo sĩ, v.v... Nếu nhìn rộng hơn, tá điền có thể được coi như tất cả những người tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Giêsu, và vườn nho là bất cứ ai chưa có cơ hội hiểu biết về những lời dạy dỗ của Đức Giêsu.
 
Qua câu truyện dụ ngôn Phúc Âm, những tá điền muốn cướp vườn nho vì thế đã đối xử tàn tệ với những người được chủ đất sai đến. Ngay cả đối với con của chủ họ cũng giết hầu mong kiếm lợi lộc riêng tư. Vì thế, Phúc Âm đặt vào miệng Đức Giêsu lời cảnh cáo, "Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái." Đọc Phúc Âm, chúng ta cũng thấy những lời cảnh cáo khác; chẳng hạn nơi Máthêu, "Khốn cho các ngươi, ký lục và biệt phái giả hình, vì các  ngươi khóa nước trời chận người ta lại. Các ngươi sẽ đã chẳng vào mà những kẻ muốn vào các ngươi cũng chẳng để cho vào" (23:13). Hoặc nơi câu chuyện cây vả không sinh hoa trái ở Phúc Âm thánh Luca (13:7-9).
 
Chúng ta phải làm gì để tránh những lời cảnh cáo này? Chỉ có một câu trả lời độc nhất đó là hãy tiếp tục thực hiện những việc Đức Giêsu đã làm được chừng nào hay chừng đó. Đức Giêsu đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Điều này được Phúc Âm Luca đoạn 4 câu 43 ghi chép rõ ràng, "Ngài bảo với họ: Ta còn phải đem tin mừng nước thiên chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến." Đàng khác, nhiệm vụ chính yếu Đức Giêsu sai các môn đồ ra đi cũng chỉ là để rao giảng tin mừng nước trời. Như vậy, tin vào Đức Giêsu, theo Đức Giêsu có nghĩa thực hiện những điều ngài khuyến khích chúng ta thực hiện và đó là công bố tin mừng nước trời cho muôn tạo vật (Mc. 16:15) bằng chính cuộc đời của mỗi người chúng ta như Đức Giêsu đã thực hiện.
 
Vấn đề còn lại đó là Phúc Âm đã nói gì về Tin Mừng Nước Trời. Nếu chúng ta không biết chắc chắn tin mừng nước trời là gì, hoặc không nhận thức được thực thể tin mừng nước trời để sống tin mừng; tất nhiên chúng ta không thể nào rao giảng bằng cuộc đời chúng ta được. Bởi thế, tôi đề nghị và khuyến khích quí ông bà anh chị em chịu khó đọc Phúc Âm; đọc với lòng chân thành, đọc với tâm hồn khát khao tìm hiểu sao cho nhận thức được thực thể tin mừng nước trời nơi chính mình. Kinh nghiệm sống minh chứng không ai có thể ăn hoặc uống dùm cho chúng ta thì tất nhiên cũng không ai có thể suy nghĩ dùm cho mình. Thêm vào đó, sự thức ngộ tâm linh qua Phúc Âm chẳng khác gì sự uống nước. Ai uống, người nấy biết nước nóng lạnh ra sao. Ngược lại, dẫu cho bất cứ ai giỏi dang thế nào giải thích về sự tốt lành và lợi ích của nước cũng không thể nào giúp người đang khô cổ hết khát nước. Nguyện cầu Đức Giêsu sai Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn từng người đồng thời chúc lành cho chúng ta và đặc biệt những ai khát khao tìm hiểu tin mừng nước trời.
 
 
 
Chủ Nhật 27A (Mt. 21:33-43) 2022
 
Bài phúc âm vừa được công bố mở đầu với câu, “Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng; các ông hãy nghe dụ ngôn này.” Như vậy, câu truyện ông chủ và tá điền nhắc nhở chúng ta một cách ám định về nhận thức của con người nơi hành trình đức tin, hành trình nhận biết Nước Thiên Chúa. Hôm nay, lời Chúa khuyến khích chúng ta đặt lại vấn đề với câu, “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái.” Thiên Chúa chính là sự sống, sự hiện hữu nơi mọi người, mọi sự vô hình cũng như hữu hình. Tin Mừng Nước Trời, Nước Thiên Chúa chính là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi người. Thế sao lại nói “Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái?” Xét như vậy, làm trổ sinh hoa trái có nghĩa thăng tiến nhận thức về sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mỗi người.
 
Nếu để ý, chúng ta sẽ đếm được đúng tám lần, ba phúc âm Matthêu, Marcô, và Luca nhắc nhở câu, “Ai có tai thì nghe,” hoặc “Ai có tai để nghe thì nghe” (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35). Thử hỏi, ai là người không có tai? Thế tại sao phúc âm phải lặp đi lặp lại những tám lần, “Ai có tai thì nghe?” Chẳng lẽ chúng ta có tai nhưng không nghe hoặc nghe như không nghe? Dĩ nhiên, kinh nghiệm sống minh chứng, bình thường, rất nhiều chuyện chúng ta đã nghe như không nghe. Chẳng hạn, tham dự thánh lễ, nhưng nếu ai đó hỏi lại hoặc mình tự hỏi, bài phúc âm vừa được công bố muốn nói về điều gì, nói về vấn đề nào thì mình sẽ trả lời ra sao; mọi người tự biết. Điều này minh chứng chúng ta đã nghe như không nghe. Và như vậy, phúc âm muốn nhắc nhở mọi người chúng ta để tâm suy nghĩ, suy tư lời Chúa.
 
Bài phúc âm nói về cách đối xử của những tá điền với những người được sai đến để thâu hoa lợi; chẳng những các tá điền đã chiếm hết hoa lợi mà lại còn giết hại những người được sai đến. Là những người tin theo Chúa Giêsu, tin vào Thiên Chúa, ai cũng biết vườn nho được ám chỉ về dân Chúa và những tá điền là các vị rao giảng, được dùng chung bằng những danh hiệu, “Các vị thượng tế và kỳ mục.” Tôi muốn nói tất cả những vị mang sứ vụ rao giảng lời Chúa, trong đó kể cả tôi.
 
Giở phúc âm, chúng ta đọc được câu, “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục; các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các ngươi chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Lc. 11:52). Các vị thượng tế và ký lục hay Biệt phái và ký lục đều là những người mang sứ vụ rao giảng lời Chúa, thuở xưa cho đến thời đức Giêsu, rao giảng lời Chúa qua Cựu Ước, và ngày nay thêm phúc âm. Vậy họ rao giảng thế nào mà bị phúc âm lên án, “Các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các ngươi chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Lc. 11:52)? Tôi không chỉ đặt vấn đề về phương cách rao giảng của các vị khác mà còn về chính mình trong sứ vụ chia sẻ lời Chúa với quý ông bà, anh chị em.
 
Suy nghĩ về sự việc này dẫn tâm trí tôi nhận ra một sự rất bình thường mà xưa nay chúng ta rất ít khi để tâm nhận định. Thí dụ, bất cứ ai trong chúng ta cũng biết những con chim sẻ thường gặp chúng bay quanh kiếm thức ăn và làm tổ nơi ngóc ngách của mái nhà thờ. Có ai vô tình nhắc tới chúng thế nọ thế kia thì chúng ta cũng biết chúng là những con chim sẻ. Nhưng thử hỏi, bản năng của những con chim sẻ này thế nào, chúng thường công rác làm tổ và đẻ trứng vào tháng mấy trong năm, chúng thích ăn những hạt giống nào, tháng nào trứng chim nở và khi nào những con chim con ra ràng, bố mẹ chúng dẫn dắt, tập bay cũng như bảo vệ những con chim con ra sao, có lẽ ít người trong chúng ta có thể trả lời được. Chúng ta, từ nhỏ đã được nghe nói chúng là chim sẻ và tưởng rằng biết tên chúng là chim sẻ là đã biết về những con chim bé nhỏ thường làm tổ nơi mái nhà thờ hay mái của những dinh thự quanh nơi chúng ta ở. Như vậy, chúng ta nghĩ rằng biết về chim sẻ nhưng chỉ biết tên đặt cho chúng chứ thực ra chúng ta không biết gì về chim sẻ.
 
So sánh sự nhận biết về chim sẻ với sự nhận biết về chính mình, về Thiên Chúa của mỗi người, nếu tôi không lầm thì cũng tương đương. Mặc dầu danh hiệu Chúa, danh hiệu linh hồn thường đậu trên môi miệng mỗi người, nhưng thực ra chúng ta đã chẳng nhận biết gì về Chúa, về linh hồn của chính mình. Thử hỏi, tại sao chúng ta không nhận biết? Xin thưa, bởi chúng ta không suy nghĩ tìm hiểu. Sự thiếu sót không tìm hiểu này nguyên nhân phát sinh từ đâu? Chúng ta không tìm hiểu về chim sẽ và nghĩ rằng, cho rằng, mình biết về chúng nhưng thực ra mình chỉ biết tên, chỉ biết danh hiệu của chúng là chim sẻ.
 
Tương tự như thế, chúng ta chỉ nghe biết danh hiệu “Chúa, hay Thiên Chúa,” nhưng thực sự, chúng ta đã chẳng biết Chúa là thế nào, là gì, liên hệ tới mình, liên hệ tới cuộc đời mình ra sao. Chúng ta cũng chỉ biết danh hiệu linh hồn của mình nhưng nếu hỏi linh hồn mình là gì, nếu tôi không lầm, không ai có thể nói chi. Lý do, chúng ta đã chưa bao giờ suy nghĩ về linh hồn nơi mình. Đồng ý rằng, không ai mới được sinh ra đã biết hết mọi sự, và cũng đồng ý rằng chúng ta cần học hỏi, cần suy tư, suy nghĩ để nhận biết dẫu chưa quen hay chưa để tâm suy nghĩ.
 
Nhận thức sự thể thực trạng nhận biết nơi mỗi người như thế, chúng ta nhận ra, xưa nay chúng ta chỉ được dạy dỗ, rao giảng những danh hiệu chứ không được khuyến khích, hay thách đố, kích thích suy nghĩ, suy tư. Cũng bởi thế, những gì được gọi là tin theo, biết, nhận thức, chỉ là lặp lại những phạm trù, những danh hiệu trong khi lòng ruột trống rỗng. Thế nên, thay vì khuyến khích dân Chúa suy nghĩ, suy tư về sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình, sự rao giảng lời Chúa đã bị biến thành ban phát những thành ngữ, những phạm trù, những điều phải tin trong khi không biết tin là gì, tin vào Chúa là tin thế nào, tin mình có linh hồn nhưng cũng chẳng biết linh hồn mình là gì, liên hệ tới xác thân và cuộc đời của mình ra sao.
 
Nhận rõ thực trạng tâm trí chúng ta như thế, tôi xin mọi người từ nay để tâm suy nghĩ lời Chúa nơi cuộc đời của mình. Tôi cũng chân thành xin lỗi mọi người nếu đã vô tình giải thích lời Chúa thay vì khuyến khích mọi người suy nghĩ. Nếu để ý, chúng ta sẽ nhận ra, đem lời Chúa, lời phúc âm giải thích theo luân lý, đạo đức nhân sinh, thế thục, đúng là chặn đứng sự suy tư, suy nghĩ, nghiệm xét lời Chúa nơi mọi người, ngăn cản người ta nhận biết về Thiên Chúa, về Nước Thiên Chúa. “Khốn cho các ngươi, biệt phái và ký lục; các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết. Các ngươi chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào các ngươi lại ngăn cản” (Lc. 11:52). Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái.”
 
Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt mọi người thăng tiến nơi hành trình nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mỗi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 28A (Mt. 22:1-14)
 
Lời Chúa hôm nay đến với chúng ta qua dụ ngôn về tiệc cưới của một vị hoàng tử. Những người được nhà vua mời tham dự đều từ chối; kẻ bận việc riêng, người lại bắt sứ giả của vua, hành hạ và giết đi. Nhà vua nghe biết, nổi giận trừng phạt những khách mời vô lương tâm ấy và cho đầy tớ ra các ngả đường mời gọi bất cứ ai vô dự tiệc cưới. Tuy nhiên, có một người tham dự tiệc cưới không mặc lễ phục nên bị vua giam vào nơi tối tăm. Dụ ngôn được kết luận với câu, “Những kẻ được gọi thì nhiều, còn những người được chọn thì ít.”
 
Ai cũng biết, lời Chúa qua phúc âm kêu gọi, mời gọi mọi người, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người; rồi mọi sự khác sẽ được ban cho các ngươi” (Mt. 6:33). Thử hồi tâm đối diện thực trạng chính mình, đã có ai trong chúng ta nhận biết Nước Thiên Chúa là gì chưa? Tại sao chúng ta chưa biết? Ai không hiểu, không biết nằm lòng Thiên Chúa ở khắp mọi nơi! Ai chưa nhận ra Thiên Chúa chính là sự sống, sự hiện hữu nơi mình? Thế nhưng tại sao chúng ta chưa nhận thực được sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình? Có lẽ câu trả lời đúng đắn nhất là vì chúng ta chưa suy nghĩ, chưa để tâm suy tư, nghiệm xét về sự thể hiện diện của Chúa nơi mình. Quả đúng với câu, “Những kẻ được gọi thì nhiều, còn những người được chọn thì ít.” Như vậy, những người được chọn là những người suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét, về thực thể sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình.
 
Tất nhiên, ai cũng biết, không ai ăn dùm, uống dùm cho mình được thì cũng không ai có thể suy nghĩ, suy tư dùm cho mình được. Nơi cuộc đời này, không ai có thể mổ đầu bò mà nhét óc chó vào được, và nếu làm như thế thì con bò cũng không thể sủa gâu gâu như con chó được. Hơn nữa, đã có những người cho rằng họ không có hoặc không đủ khả năng suy nghĩ, suy tư vì họ không có cơ hội đến trường lớp học hành như những người khác. Xin thưa, sự nhận thức không thể học được, kinh sách, các phương tiện truyền thông, những sự giảng giải của bất cứ đấng bậc nào cũng chỉ là phương tiện, hay cơ hội cho một người nhận thức mà thôi. Sự nhận thức chỉ có thể ngộ. Sách vở, tất cả những sự giảng giải chẳng khác gì sự hô hào, tuyên truyền, giải thích về nước uống hay thực phẩm nào đó. Không ai chỉ có thể nghe giải thích về nước uống mà hết khát; cũng như không ai chỉ nghe giải thích về lợi ích của thực phẩm mà có thể no chiếc bụng đang kêu réo vì đói. Muốn no bụng, phải ăn, muốn hết khát phải uống. Không ai có thể ăn dùm hay uống dùm cho bất cứ ai; thế nên, không ai có thể giải thích cho bất cứ ai nhận thức được thực thể hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mình. Mình cần suy nghĩ, suy tư, hay nghiệm xét.
 
Dĩ nhiên, muốn nhận biết về Nước Thiên Chúa, cần phải nhận biết Thiên Chúa là gì. Phúc âm Gioan đã minh xác, “Đàng, sự thật, và sự sống chính là Ta” (Gioan 14:6). Thiên Chúa chính là sự sống, sự hiện hữu nơi mình, nơi mọi người, mọi sự vật, sự việc dù vô hình hay hữu hình; vì ngoài Thiên Chúa sẽ không có chi hiện hữu. Thế nên, muốn nhận biết Thiên Chúa cần nhận biết chính mình vì Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu của mình, nơi mình. Con người mình bao gồm xác thân và linh hồn; vậy linh hồn mình là gì, liên hệ với thân xác và cuộc đời mình thế nào? Chúng ta kinh nghiệm, mắt nhìn, tai nghe, miệng nói, óc suy nghĩ; vậy khi linh hồn ra khỏi xác rồi thì mắt còn có thể nhìn, tai còn có thể nghe, miệng có thể nói và óc có thể suy nghĩ nữa không?
 
Thế nên, kết luận của lời Chúa, “Những kẻ được gọi thì nhiều, còn những người được chọn thì ít,” có nghĩa mọi người được kêu gọi nhận biết, nhận thức sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mình, nhưng chỉ những người suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét mới có thể nhận biết, mới gọi là được chọn. Lời Chúa hôm nay kêu gọi, mời gọi, khuyến khích, thách đố chúng ta suy nghĩ để nhận thức, nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi chính mình. Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta suy nghĩ, suy tư để nhận biết sự hiện diện của Chúa nơi mình. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 29A (Mt. 22:15:21)
 
Quý ông bà, anh chị em trong đức Kitô,
 
Ai trong chúng ta, là người, đều có 2 cuộc sống nhân sinh và tâm linh bao gồm thân xác và linh hồn. Dẫu thân xác và linh hồn là hai thành phần khác biệt, một thuộc hữu vi, nhân sinh, hữu hình, sống động, một không thể nhìn thấy mà chỉ có thể nhận biết. Chúng ta nhận biết phần hồn bởi chúng ta có ước muốn, ước mơ, ý định, tham vọng, yêu, giận, ghét, ganh tỵ, thèm muốn. Tuy nhiên, dẫu khác biệt nhưng cả hai là một và chính sự nên một này kiến tạo tâm trí và tâm trí bao gồm yêu thương, ham muốn, tham vọng.
 
Hoạt động của thân xác bao gồm những sự kiện hữu hình như ăn uống, làm việc, ngủ, nghỉ và các hoạt động khác. Hoạt động của linh hồn được thể hiện qua tâm trí. Nếu xác không hồn chỉ còn cách đem chôn. Nếu hồn không có xác, nào ai biết đấy là đâu. Nhưng hồn nhập vô xác phát sinh tâm trí. Như vậy một người bao gồm ba phần không thể phân chia là xác, hồn, và tâm trí. Ba là một và một là ba, thiếu một, không phải là người bình thường.
 
Sự sống của một người trong liên hệ với thế giới bên ngoài tạo thành cuộc đời, và nếu để tâm nhận định, cuộc sống tinh thần, cuộc sống tâm linh dẫn dắt toàn bộ cuộc sống nhân sinh; đồng thời thể chất xác thân cũng ảnh hưởng tâm trí, tinh thần của một người. Có thể ví diễn tiến cuộc đời của một người phần nào chẳng khác gì chiếc xe và người lái xe. Linh hồn điều hành thân xác thực hiện các công việc, biến ước mơ, tham vọng thành sự thật, nhưng nếu thân xác yếu ớt hay đau ốm, bệnh hoạn, vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ tới tinh thần.
 
Bình thường cuộc sống xác thân cần nhiều nhu cầu nhân sinh đại khái được gọi cơm áo, gạo tiền. Những nhu cầu nhân sinh này đòi hỏi và khuyến khích cũng như thăng tiến năng lực của một người hầu kiến tạo và đạt thành những nhu cầu sinh tồn. Dĩ nhiên, cuộc đời thay đổi, như mưa nắng bất chợt tạo nên những khó khăn mưu sinh trong cuộc sống khiến tâm trí một người luôn bận rộn hầu thỏa mãn nhu yếu cuộc sống; do đó ít khi đặt vấn đề hay nghĩ tới cuộc sống tâm linh, dẫu đôi khi có nỗi thao thức tâm linh chợt hiện đến nơi tâm trí.
 
Nếu để tâm nhận xét, chúng ta sẽ nhận biết, ước muốn, tham vọng, ý định, ham muốn, yêu, giận ghét, phát xuất tự linh hồn. Chúng ta kinh nghiệm hay đang thực chứng, con mắt nhìn, tai nghe, miệng nói, và óc suy nghĩ. Nhưng khi linh hồn đã xuất ra khỏi xác, thế là miệng hết nói, tai hết nghe, mắt hết nhìn, và óc hết suy nghĩ. Điều này chứng tỏ, tai, mắt, miệng, khối óc, cả thân xác, cả cuộc đời một người chỉ là phương tiện cho hồn hoạt động. Nói cách khác, cuộc đời một người là cơ hội cho hồn học bài học cần phải học; những thăng trầm trong cuộc sống, sự liên hệ với người khác, với thế giới chung quanh, tất cả là  phương tiện hay cơ hội cho hồn học hỏi.
 
Thế nên, vì ước muốn, tham vọng, ý nghĩ, yêu thương, hận thù, phát xuất từ linh hồn nên khi xác thân qua đi, linh hồn tiếp tục theo đuổi những ước mơ, tham vọng đó. Nhận biết như thế, chúng ta có thể biết trước, sau khi thân xác chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu. Phúc âm nói rõ, “Quả thật, Ta bảo các ngươi, mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và mọi điều dưới đất các ngươi thái cởi, thì cũng được tháo cởi trên trời” (Mt. 18:18).
 
Thực trạng cuộc đời một người minh chứng cho chúng ta biết, một người được sinh vào đời với đôi bàn tay trắng, thì khi ra đi khỏi cuộc đời này cũng với trắng đôi bàn tay. Mình không mang gì vào cuộc đời thì cũng chẳng có thể mang đi bất cứ gì, dù danh vọng, vị thế, tiền bạc. Những gì thuộc về thế gian này đều trả lại cho thế gian. Tuy nhiên, những gì thuộc về tinh thần, hồn vẫn theo đuổi.
 
Lời Chúa hôm nay nói lên thực trạng của kiếp người. Những gì của Ceasar thì hãy trả cho Ceasar; những gì thuộc về Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa.Chúng ta thực chứng, mọi của cải, danh vọng, vị thế, quyền lực thế gian này đều là những mong muốn, ước  mơ nhân sinh, thế tục được ám định là “Những gì của Ceasar.” Cuộc đời một người là phương tiện hay cơ hội cho linh hồn học những bài học cần phải học để nhận thức thực thể của mình là gì, để nhận biết sự hiện hữu và hoạt động của Thiên Chúa nơi mình. Cứ nhìn lại ước muốn, ước mơ, tham vọng của mình sẽ biết mình đi về đâu sau khi xác thân qua đi.
 
Phúc âm khuyến khích, “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài” (Mt. 6:33); đồng thời chúng ta cũng đọc được, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền. Người ta không thể nói được, ‘Này ở đây’ hay ‘Ở đó.’ Vì này, Nước Thiên Chúa ở giữa các ông, ở trong các ông, và ở trên các ông” (Lc. 11:20;17:21). Nước Thiên Chúa cũng chính là Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa ở trong mỗi người. Chúng ta đã có những suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét gì để nhận biết, nhận thức về linh hồn, về sự liên hệ của hồn và thân xác, về Thiên Chúa và sự liên hệ của Ngài với cuộc đời chúng ta?
 
Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta nhận biết sự hiện diện và hoạt động của Chúa nơi mỗi người. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 30A (Mt. 22:34-41)
 
Phúc âm hôm nay nêu lên thao thức thiết yếu nhất nơi tâm hồn mỗi người chúng ta, “Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào quan trọng nhất?” Ai cũng biết, bất cứ lý thuyết, chủ thuyết, quan điểm, lề luật thành văn hay bất thành văn, những sáng tạo, khám phá, hay kết quả nghiên cứu về bệnh tật để chữa trị, y lý, hay văn chương, kỹ thuật v.v… đều vì lợi ích cho con người và đều do con người thực hiện dẫu nơi sách Giảng Viên nói lên sự thể hiện hữu, “Không gì mới lạ dưới ánh dương” (GV. 1:9). Có điều, xưa nay, nay xưa, người ta đã hao tổn biết bao công sức, tiền tài, năng lực cũng như sinh mạng nghiên cứu và thực hiện cũng chỉ trong giới hạn mưu cầu giúp ích cho con người trong cuộc sống nhân sinh trong khi những kinh sách tâm linh, kinh sách về phần tinh thần lại ít được để ý tới hoặc có được ít người nghiên cứu thì cũng bị ảnh hưởng quá nặng nề bởi quan điểm thế tục để rồi gượng ép nêu lên muôn ngàn cung cách thực hiện nhân sinh như nghi thức, lề luật phải tuân giữ.
 
Thử hỏi, lề luật nào nói lên hay giải thích được sự khôn ngoan nơi câu tục ngữ, “Thương con cho roi, cho vọt; ghét con cho ngọt cho bùi?” Lề luật nào bắt con tim ai đó chỉ được phép yêu thương người này hay ghét bỏ người khác. Lề luật nào ngăn cấm hoặc định vị được tâm tư một người bay bổng muôn phương, hay chăm chú dồn hết năng lực vào tâm điểm nào đó khi tham dự nghi thức thờ phượng. Xét thế, lề luật chỉ nói lên hình thức bên ngoài hay hành động hữu vi vì lợi ích cho con người hay một tập thể.
 
Đọc Tục Ngữ, Ca Dao của dân Việt, chúng ta thấy dẫu được dùng những sự việc, sự thể hữu vi, nhân sinh thế tục, nhưng ý nghĩa ám định về trạng thái tâm tưởng, cách ăn, nết ở của một người nên có, Tục Ngữ, Ca Dao nói về sự thể tâm tình, tâm linh của con người. Chẳng hạn, “Liệu cơm gắp mắm, liệu bò đo chuồng,” hay, “Yêu nhau, cau sáu bổ ba, ghét nhau, cau sáu bổ ra làm mười.” Lời Chúa, lời Kinh Thánh, lời phúc âm được viết ám định qua những câu khôn ngoan, những dụ ngôn chẳng khác gì Tục Ngữ, Ca Dao. Đây là tính chất đặc biệt của kinh sách đạo học bởi không thể giải thích thực trạng tâm tưởng, nên phải dùng cách nói ám định.
 
Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta, “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Và hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi.” Ai cũng không ít thì nhiều mang tâm trạng yêu thương, yêu mến nơi tâm khảm, nơi tâm hồn. Ai cũng cảm nhận được phần nào sự rung động, ít nhất nơi tâm tư, nếu không muốn nói là toàn bộ tâm cảm, lan rộng đến thân xác. Nhưng, nếu tôi không lầm, thì khi nói đến, hay nhắc đến yêu mến Chúa, hoặc kính mến Chúa, thì lòng mình thường vẫn thấy như chân sim, móng đá, không cảm được rung động gì.
 
Thử hồi tâm nhìn lại chính mình., khi mình nhắc đến hay tưởng nhớ đến người mình thực lòng yêu thương, hoặc ai đó đã có công lao giúp mình công việc trọng đại nào đó thì lòng mình cảm thấy thế nào. Nếu đem so sánh tâm cảm của mình khi nhắc đến hay nghĩ đến Chúa, với cảm xúc khi mình nghĩ đến người mình tha thiết yêu thương, chúng ta sẽ nhận ra được một điều, và đó là mình chưa thực sự nhận biết Chúa là gì, hoặc chưa bao giờ được thực sự tiếp xúc với Chúa trong cuộc đời nên khó sinh tâm cảm kính mến, yêu mến Ngài. Thực trạng tâm cảm này nói lên điều cần thiết đó là chúng ta cần suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét về sự hiện diện của Thiên Chúa và sự liên hệ của Chúa đối với mình.
 
Phúc âm cho chúng ta biết, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền, người ta sẽ không nói được: Này ở đây hay ở đó, vì này, Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17:20-21).
Thiên Chúa ở khắp mọi nơi; Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu nơi mỗi người. Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa. Thế nên, nhận biết, nhận thức sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mình cần suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét. Bởi vậy, hồi tâm nhận định tâm cảm của mình khi nghĩ về Thiên Chúa, chúng ta biết được mình cần phải thế nào để có thể thực hiện lời dạy nơi giới răn, “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Và hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi.”
 
Có câu nói, “Nếu bạn thực sự yêu thương ai và muốn giữ, muốn có được lòng yêu thương ấy bền vững, thì đừng yêu thương họ, mà hãy chấp nhận họ như chính họ.” “Yêu thương kẻ khác như chinh mình,”  nghe hoặc nói hay nghĩ thì dễ nhưng thực hành, thực nghiệm lại không dễ. Tuy nhiên, thử nhìn lại chính mình, mình có bao giờ đặt vấn đề yêu thương chính mình hay chưa. Thiển nghĩ, có chăng mình đang o ép, thúc đầy chính mình thực hiện ước muốn, ước mơ. Mình đang cưỡng ép thân xác cũng như cuộc đời mình theo ước muốn, cho dù ước muốn ấy thuộc loại nào. Không thế mà phúc âm phải nhắc nhở, “Hãy nhìn chim trời, không gieo vãi, không gặt hái, không cất vào kho lẫm mà Cha các ngươi còn lo cho chúng phương chi các ngươi, quân yếu tin. Hãy nhìn bông huệ ngoài đồng, sớm nở tối tàn mà Cha các người còn mặc cho chúng, ngay cả Salamon trong sự vinh quang của ông cũng không có được chiếc áo nào đẹp như thế. Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài và các sự khác sẽ được ban thêm cho các ngươi” (Mt. 6:26-33).
 
Tất nhiên, ai cũng nghĩ là mình thương yêu chính mình nhất, nhưng để tâm nhìn lại mình thực sự là gì, như thế nào thì ít ai có đủ can đảm để tự nhận biết. Thế nên, muốn yêu tha nhân như yêu chính mình, trước hết cần nhận thực được Thiên Chúa là gì, cần nhận thức được vị thế của mình nơi Thiên Chúa. Biết mình là gì, nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mình, chúng ta mới có thể thực hành đức yêu thương đến người khác.
 
Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta nhận biết chính mình, nhận biết sự hiện diện của Chúa nơi mình để thực hành giới răn mến Chúa yêu người. Amen.
 
 
 
Lễ Các Thánh (Mt. 5:1-12) ABC
 
Hôm nay chúng ta mừng lễ cách thánh nam nữ của Thiên Chúa nói chung và đặc biệt các thánh nam nữ của Thiên Chúa trong giáo hội Công giáo. Vì thế, tôi mời gọi mọi người dùng đôi giây phút để tìm hiểu các thánh là ai, liên hệ với chúng ta thế nào; đồng thời nhìn lại vị thế của mỗi người chúng ta trong dòng sinh biến vô cùng của tạo vật.
 
Thử nhìn lại tâm tình của chúng ta đối với những vị được gọi là thánh trong giáo hội Công giáo; có những vị được chúng ta chấp nhận là thánh chỉ vì có mối liên hệ với đức Giêsu; chẳng hạn thánh cả Giuse, thánh Phêrô và các tông đồ, thánh Martha, và em là Mary, hoặc thánh Phao lô, bốn thánh sử viết phúc âm, thánh Micael, thánh Gioakim bố của đức Mẹ.
 
Chúng ta lại có những vị thánh được giáo hội tuyên phong là thánh. Lên net, tôi đọc được hơn hai trăm vị được tôn vinh trong giáo hội Công giáo nhưng chưa thấy ghi tên đấng đáng kính Nguyễn Văn Thuận trong khi lại có tên những đấng đáng kính khác. Có lẽ website đã lâu chưa bổ túc. Thực ra, nói là đọc được hơn hai trăm, nhưng trong ngày kính các thánh tử đạo VN thì ít nhất đã có 117 vị được tôn kính trong 1 ngày. Thế nên tôi nghĩ, còn nhiều vị thánh được tuyên phong vẫn chưa được ghi trên website, hoặc sẽ không bao giờ được ghi nơi bất cứ phương tiện truyền thông nào vì không được biết.
 
Nhìn vào cuộc đời các thánh, trước hết các thánh phải là người như chúng ta. Có những vị cũng mang lầm lỗi có khi hơn mình. Thánh Agustinô, giám mục, là con của bà thánh Monica, khi còn trẻ, ngài đã làm phiền lòng mẹ. Thánh Phêrô chối Chúa ba lần, là dân chài lưới lại không biết bơi đến nỗi phải hốt hoảng kêu lên, “Lạy thầy xin cứu tôi.” Nêu lên đôi trường hợp như thế, tôi muốn nói lên, các thánh có cuộc đời như mọi người để chúng ta suy nghĩ, đặt vấn đề về thân phận và vị thế của mình trước mặt Chúa và hội thánh.
 
Hồi tâm nhìn lại mình là ai, mình thế nào. Kinh Thánh viết, “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài” (KN 1:27). Thử hỏi, đã bao giờ chúng ta đặt vấn đề, hay suy nghĩ về mình là hình ảnh của Thiên Chúa chưa? Hay cứ giả mù sa mưa, chấp nhận mình là con người tội lỗi để chạy theo những gì mình muốn hay thích. Nếu thực sự chấp nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa thì mình cần sống thế nào? Chính bởi không dám nhận chân thực thể của mình nên đành chấp nhận sống cho qua, sống không cần mục đích, không cần biết mình là gì, mình là ai. Từ điểm này, chúng ta nhận ra các thánh là những người nhận chân được thực thể mình là hình ảnh của Thiên Chúa.
 
Dĩ nhiên, cuộc sống thay đổi, biến chuyển, trong khi con người mang cảm xúc, niềm tự hào, hãnh diện, nỗi đau, nỗi buồn, tham vọng. Đối diện với những thăng trầm, khó khăn, phức tạp của cuộc đời nên  phát sinh nhiều nhu cầu cấp thiết tạo nên lắm chiều hướng nhân sinh thế tục khó bề cưỡng lại. Tất nhiên, dù sao, sinh tồn phải là điều tiên quyết bất chấp lý do gì. Con người là thế và không thế thì không phải là người.
 
Thêm nữa, tất cả những gì liên hệ đến Thiên Chúa đều được gọi là thánh vì Thiên Chúa là cội nguồn của thánh thiện. Nhà thờ được gọi là nhà thánh. Nơi đặt bàn thờ được gọi là gian cung thánh. Dân Chúa được gọi là dân thánh dẫu dân Chúa được dạy dỗ và chấp nhận cũng như nhận biết chắc chắn nên tin thật mình là người tội lỗi. Xét như vậy, hội thánh cũng còn được gọi là hội tội vì bao gồm mọi dân Chúa.
 
Tuy nhiên, một sự thể chúng ta ít để ý được thánh Phao lô nhắc nhở đã hai ngàn năm, “Anh em không biết sao, thân xác anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (1Cor. 6:19). Thiên Chúa là cội nguồn của sự thánh thiện; Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người. Thế nên, gốc gác thực thể của mỗi người là thánh cho dù chúng ta nhận biết hay không. Xét theo quan điểm này, Những vị thánh là những ai đã nhận thức được mình là hiện thể của Thiên Chúa dưới dạng thức nhân sinh.
 
Nhìn lại phúc âm, chúng ta đọc được, “Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền, người ta sẽ không nói được: Này ở đây hay ở đó, vì này, Nước Thiên Chúa ở trong các ông” (Lc. 17:20-21). Thiên Chúa ở khắp mọi nơi; Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu nơi mỗi người, Nước Thiên Chúa là chính Ngài, và Tin Mừng Nước Thiên Chúa chính là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Xét như vậy, chúng ta mang gốc thánh nơi mình mà đã không nhận ra. Lý do tại sao chúng ta không nhận ra, có lẽ tại chúng ta đã không để tâm suy nghĩ, không để tâm tìm hiểu mình thực sự là gì, thế nào trước mặt Thiên Chúa, Đấng đang ngự trị và hoạt động nơi mình.
 
Nhận biết như thế, kính mừng các thánh, chúng ta kính mừng sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mình. Chúng ta tuyên dương, tuyên xưng Tin Mừng Nước Trời Chúa Giêsu rao giảng cho chúng ta biết. Do đó, từ nay, khi chúng ta lên tiếng tuyên xưng cùng với linh mục, “Chúa ở cùng anh chị em… và ở cùng cha,” chúng ta để tâm nghiệm tính chất thánh thiện của Thiên Chúa nơi mỗi người. Xin Thần Linh Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt chúng ta nhận ra gốc gác thực thể của mình chính là Thiên Chúa đang ngự trị nơi mình. Amen.
 
 
 
Các Thánh Tử Đạo VN (Mc 13:24-32)
Thiên Chúa sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương.
 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ về ngày quang lâm của Người: “Trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng,  các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển.  Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng ngự trong đám mây mà đến.  Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho tới cuối chân trời.  Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nẩy lộc, thí anh em biết là mùa hè đã đến gần.  Cũng vậy, khi thấy những điều đó xẩy ra, anh em biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi.  Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều  ấy xẩy ra.  Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.  Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người cũng không, chỉ trừ có Chúa Cha biết mà thôi.” Đó là Lời Chúa.
 
Đọc phúc âm, nếu không để tâm suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy lời phúc âm câu này đối nghịch câu kia, hoặc ngược hẳn với luân lý, đạo đức thế tục. Chẳng hạn, "Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta ắt không xứng với Ta. Kẻ yêu con trai con gái hơn Ta ắt không xứng với ta. Kẻ cố tìm sự sống mình thì sẽ mất; còn kẻ đành mất sự sống mình vì Ta thì sẽ gặp lại" (Mt. 10:37-39). Nếu ai suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét câu này, sẽ nhận ra phúc âm không nói gì đến yêu thương hoặc cha mẹ, hay con cái. Nhưng nếu để ý đến diễn trình tư tưởng khi suy tư, chúng ta thấy rõ, tâm trí chúng ta luôn biến chuyển, hoạt động. Trong khi mình đang suy nghĩ về một vấn đề gì, thì có những tư tưởng trời ơi đất hỡi nào đó xuất hiện phá rối dòng suy tư của mình.
 
Phúc âm dùng cha mẹ, con cái để chỉ về những tư tưởng trời ơi đất hỡi này. Từ đó chúng ta nhận ra phương cách định hướng suy tư, và đó là trong khi suy tư, suy nghĩ, suy nghiệm, nghiệm xét, thí dụ, linh hồn mình là gì và liên hệ với thân xác cũng như cuộc đời của mình ra sao. Bất cứ tư tưởng, quan niệm nào hiện đến, tâm trí chúng ta không dõi theo chúng mà lờ đi, để nó tự sinh tự diệt. Chúng ta không cần gạt bỏ hay chống lại những tư tưởng trời ơi đất hỡi này; bởi nếu cố gắng gạt bỏ hay chống lại chúng, chúng ta biến nó thành đối tượng tranh đấu khiến tâm trí suy nghĩ trật chủ đích. Thử xét trường hợp, một người đứng hò hét, la lối trước một bức tường. Bức tường không trả lời hay có bất cứ thái độ nào, người đó hò hét mệt hơi rồi cũng tự im lặng bỏ đi.
 
Lời Chúa hôm nay dùng những hiện tượng thiên nhiên để nói về sự diễn tiến nơi tâm trí, tâm hồn một người suy nghĩ, nghiệm xét về thực thể hiện diện của Chúa nơi mình, được gọi là nhận thức hay thời điểm thức ngộ. Con người bao gồm hai cuộc sống, thân xác cuộc đời và cuộc sống tâm linh. Những chiều hướng nhận thức tâm linh mù mờ, những e sợ mối họa tinh thần của một người do không nhận biết thực thể mình là gì triền miên đè nặng nơi tâm trí tạo nên nỗi ưu tư, lo lắng, sợ hãi giao động tâm trí con người khiến không bao giờ có được nỗi an bình tâm tưởng.
 
Hiện tượng tai họa thiên nhiên như dịch bệnh, bão tố, gây kinh hãi, tàn phá trong cuộc sống con người ám định những nỗi bất an và mối đe dọa tâm tưởng nơi hành trình suy tư về thực thể chính mình. Tôi không thể nói bất cứ gì về những sự kiện tâm linh xảy đến nơi tâm trí một người nơi diễn trình suy tưởng; mà chỉ có thể nói chung, đại khái; nơi hành trình suy tưởng, suy tư về thực thể của mình, tâm trí một người sẽ phải đối diện với nhiều chiều hướng, tham vọng nhân sinh, những mối đe dọa về thua thiệt danh vọng, tăm tiếng. Kinh nghiệm này, những ai thực nghiệm nhận biết chính mình dưới quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh tất nhận ra áp lực phản kháng nơi tâm trạng từ chối chấp nhận chính mình như thế nào. Tôi chỉ có thể nói được như thế, ai đã thực hành tất nhiên cảm nhận được. Nơi phương diện này, không có gì để giải thích, giải nghĩa; vì sự thể đó lệ thuộc cảm tính thực nghiệm được diễn tả nơi câu nói, “Người biết không nói, kẻ nói không biết” (Lão). Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể so sánh với thực trạng, ai ăn người ấy no; ai uống người ấy hết khát, không gì để giải thích.
 
Tóm lại, lời phúc âm vừa được công bố ám định những diễn tiến nơi tâm tưởng những ai chân thành suy tư, nghiệm xét, về thực thể chính mình liên hệ với Thiên Chúa, phải đối diện với đe dọa của ham hố, tham vọng nhân sinh, thế tục. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta, “Cũng vậy, khi thấy những điều đó xẩy ra, anh em biết là Con Người đã đến gần, ở ngay ngoài cửa rồi.  Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều  ấy xẩy ra.” Những ai thực nghiệm suy tư, nghiệm xét, sẽ nhận biết, nói cách khác, tất sẽ phải đối diện với thực trạng tâm trí bị dồn đến hiện trạng thường được gọi là “Góc tối suy tư.” Nơi hiện trạng này, tâm trí con người bị dồn vào ngõ bí không thể suy tưởng, nghiệm xét được bất cứ gì. Tất cả những tư tưởng, quan điểm, lý thuyết, chủ thuyết, chiều hướng, tham vọng, toan tính hơn thiệt, e ngại, lo lắng dồn đọng tạo thành một đám mây lộn xộn, quay cuồng tạo sự trói buộc, chèn ép tâm tư, khiến tâm tưởng người đó không biết cách nào thoát khỏi. Chỉ còn một cách duy nhất, và đó là chân thành, thẳng thừng đối diện cho đến lúc nào đó, không còn thấy mình mà đã tan hòa trong sự biến chuyển vô cùng của Thiên Chúa; sự thức ngộ bùng lên, lúc ấy sẽ biết.
 
Thiên Chúa ngự trị, và hoạt động nơi mọi người. Đấng Thánh tuyệt đối hiện diện nơi mỗi người chúng ta. Mừng kính các thánh, chúng ta mừng kính thực thể thánh thiện của Thiên Chúa nơi chính mình. Nhận biết thực thể này hay không chỉ có một điều kiện, chúng ta có để tâm suy nghĩ, suy tư, nghiệm xét hay không. Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt mọi người thăng tiến nơi hành trình đức tin, hành trình suy tư nhận biết thực thể chính mình, nhận biết thực thể Thiên Chúa hiện diện nơi mình. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 31A (Mt. 23:1-12)
 
Thật là khó hiểu lý do gì phúc âm phải nhắc nhở, “Luật sĩ và Biệt phái ngồi trên tòa Môi sen; vậy những gì họ nói với các ngươi; các ngươi hãy làm và tuân giữ, nhưng đừng noi theo hành vi của họ; vì họ nói mà không làm.” Ai cũng biết, phúc âm được viết cho muôn người, mọi thời đại. Luật sĩ và Biệt phái đại diện cho giai cấp giảng dạy lời Chúa cho dân của Ngài. Nói cho đúng, bất cứ khi nào đọc đến những dụ ngôn, đại khái lên án hay quở trách thượng tế, biệt phái, và luật sĩ, tôi đồng thời tự hỏi còn mình thì thế nào; lời Chúa muốn nói gì với mình, lời Chúa đang nhắc nhở về điều gì đối với mình.
 
Nhân tiện chia sẻ lời phúc âm với quý vị, tôi có lời chân thành xin lỗi tới bất cứ ai đã cảm thấy phiền lòng vì tôi dẫu vô tình hay nơi trường hợp quên sót. Tất nhiên, nơi những trường hợp bị nặng nề tổn thương tâm tình hay nhận thức, lời xin lỗi không giải quyết được chi, bởi tôi nhận thức được rằng, dù lỡ tay khiến ai đó chẳng may bị chết thì cho dù có xin lỗi cách mấy thì cũng không thể nào khiến người ta sống lại được. Tuy nhiên, dẫu sao thì tôi cũng chỉ là con người với nhiều thiếu sót như bất cứ ai. Thế nên, tôi xin được quý vị chấp nhận thông cảm và tha thứ cho tôi, dù nói ra hay không, nơi trường hợp tôi dù vô tình hay đã không để ý gây nên nỗi phiền lòng đến quý vị.
 
Nhìn vào những lời phát biểu của phúc âm chúng ta thấy lời nhắc nhở nói lên hai trạng thái sự việc riêng biệt. Trước hết, “Nhưng đừng noi theo hành vi của họ; vì nọ nói mà không làm;” điều này nói lên hành vi, hành động hữu vi, nhân sinh, thế tục. Dĩ nhiên, nơi thế giới nhân sinh, hành động, phản ứng đối với một sự việc trong cuộc sống như cách ăn nết ở đều tùy thuộc vị thế, quan điểm theo lề luật thành văn hay bất thành văn. Thế nên, thái độ, cách đối xử để giải quyết công việc đều không ai giống ai lệ thuộc vị thế của họ. Chẳng những thế, thái độ còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện thực tại, liên hệ, và trạng thái tâm tư của người liên hệ trong cuộc chỉ người đó biết, người ngoài cuộc không thể nào chia sẻ hoặc xét đoán như lời phúc âm đã khuyên nhủ, “Đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét” (Mt. 7:1).
 
Từ nhận xét này, sự thể trạng thái cuộc sống hữu vi, thế tục, không ai nên bắt chước ai vì cuộc đời mình không giống cuộc đời của bất cứ người nào. Mình phải là mình và mình không phải và không thể là bất cứ ai khác. Nhìn vào sự thể cuộc sống tự nhiên, con voi to và khỏe nhưng không ăn thịt mà cũng chỉ như loài bò, loài trâu, chỉ ăn cỏ; tuy nhiên, con hổ, con báo, cỏ tràn lan mặt đất lại không chịu ăn mà cứ bắt những con nai, con hươu làm thực phẩm.
 
Lời phúc âm nêu lên thực thể tâm linh, “Các ngươi chỉ có một Thầy, còn tất cả các ngươi là anh em với nhau, và các ngươi chỉ có một Cha, Người ngự trên trời.”  Có lẽ đây cũng là gốc gác cho nhận định định nghĩa về giáo hội của công đồng Vatican II, “Giáo hội là dân của Chúa.” Ai không là dân của Chúa? Ai không có linh hồn? Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người, nơi quý ông, quý bà, quý anh chị em, nơi tôi, nơi mọi người. Thiên Chúa là sự sống, sự hiện hữu nơi mọi người. Và như vậy, chúng ta là một trong Thiên Chúa. Tất cả là một trong Thiên Chúa, trong sự biến chuyển vĩnh cửu của Ngài.
 
Sự hiện hữu bao gồm hai trạng thái, hữu hình và vô hình được gọi là dưới đất và trên trời. Thân xác và cuộc sống mỗi người thuộc về hiện hữu hữu hình. Linh hồn, tư tưởng, ước muốn, ý định, tham vọng thuộc về tâm linh, vô hình. Cuộc sống con người bao gồm cuộc sống tâm linh của linh hồn và cuộc sống hữu vi, thế tục xác thân. Cả hai là một không thể phân chia. Cuộc sống hữu hình là cơ hội hay phương tiện để hoàn thành ước muốn, ý định, tham vọng của linh hồn. Khi thân xác qua đi, linh hồn tiếp tục theo đuổi ước muốn, tham vọng của mình. Nhu cầu sinh tồn của thân xác quá hiện thực và cấp thiết khiến tâm trí một người ít để tâm đến cuộc sống tâm linh nên thường ỷ y dựa vào những lời giảng dạy của các bậc rao giảng.
 
Tuy nhiên, chúng ta đều kinh nghiệm, không ai có thể ăn dùm, uống dùm cho mình thì cũng không ai có thể suy nghĩ, nghiệm xét dùm cho mình nơi hành trình thăng tiến tâm linh, hành trình đức tin, hành trình nhận biết thực thể Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi người. Phúc âm khuyến khích chúng ta nên tự suy tư để nhận biết chính mình, nhận biết sự hiện diện của Chúa nơi mình. Lời Chúa là đường, là sự thật, để tâm suy nghĩ về lời Chúa, lời phúc âm dạy, “Không ai có thể đến với Ta nếu Cha, Đấng đã sai Ta không lôi kéo nó” (Gioan 6:44). Thiên Chúa ngự trị, hiện diện nơi mỗi người. Thế nên, muốn nhận biết, nhận thức sự hiện diện của Chúa nơi mình, chúng ta cần suy nghĩ, cần suy tư, nghiệm xét.
 
Hãy bắt đầu bằng câu phúc âm, “Ai có tai thì nghe” (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35) và tự hỏi, cái tai của mình có thể nghe tự nó không? Khi linh hồn ai đó ra khỏi xác, tai họ có còn nghe được nữa không? Như vậy, tai không thể nghe tự nó và nó chỉ là phương tiện cho linh hồn nghe. Tương tự như thế, mắt, miệng, bộ óc, cũng hết hoạt động khi linh hồn ra khỏi xác; chúng cũng chỉ là phương tiện cho linh hồn làm việc. Từ đó suy ra, ước muốn, tham vọng, ước mơ phát xuất tự linh hồn và thân xác cũng như cuộc đời một người thực hiện ước muốn tự linh hồn. Chúng ta sẽ suy ra liên hệ giữa thân xác, cuộc đời và linh hồn. Vậy linh hồn và Thiên Chúa ngự trị nơi mình liên hệ ra sao? Tôi chỉ nêu lên đôi câu hỏi, quý ông bà, anh chị em để tâm suy nghĩ. Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt mọi người nơi hành trình suy tư nhận biết sự hiện diện của Chúa nơi mình. Amen.
 
 
 
Chủ Nhật 32A 99   (Mt. 25:1-13)
 
Quí ông bà, anh chị em trong Đức Kitô,
 
Mới thoạt nghe dụ ngôn nơi Phúc Âm về mười trinh nữ đi đón chàng rể, kết cuộc năm cô phù dâu khờ dại bị từ chối dự tiệc cưới, không ai trong chúng ta tránh khỏi nỗi nghi vấn nơi tâm tư bởi dẫu suy luận thế nào, lý do tạo nên sự từ chối không cho tham dự tiệc cưới đều có vẻ bất công và thiếu sót nếu xét theo tâm lý và luân lý người đời. Thêm vào đó, dụ ngôn mang chủ đích nói về Nước Trời và dùng sự kiện nhân gian, đón dâu và tiệc cưới theo tục lệ Do Thái, để ám chỉ. Nước Trời được ví như tiệc cưới và những trinh nữ phù dâu đại diện cho con người, cho dân Chúa.
 
Thế nên, nếu nói rằng năm cô phù dâu khờ dại nên bị từ chối, và vì khờ dại nên không được gia nhập nước trời thì quá sức phi lý và bất công. Phỏng ai trong chúng ta muốn được sinh ra khờ dại; mà đã khờ dại, chúng ta đâu ước muốn gì bởi biết gì đâu mà ước và muốn. Nói rằng vì bê trễ và cửa đã đóng lại nên không được vào lại càng phi lý. Theo tập tục Do Thái thời bấy giờ cũng như ngày nay, bởi người đàn ông được phép có nhiều vợ, đồng thời tục lệ đưa dâu vào buổi tối, tất nhiên sự thua thiệt về phận đàn bà; bởi vậy họ đã tạo nên những tập tục làm khó dễ đàng trai khi đón dâu chẳng khác gì nơi một số trường hợp của người Việt, nên sự bê trễ phát xuất từ đôi bên hai họ trai gái. Giả sử hành trình rước dâu đúng giờ đã định thì sao có cảnh bê trễ của năm trinh nữ phù dâu khờ dại.
 
Xét như thế, nguyên nhân của sự bê trễ chính vì năm cô phù dâu khờ dại đi mua dầu đổ vào đuốc. Điều này có nghĩa năm cô khờ dại đã không chịu suy nghĩ hoặc tính toán hay nhận định sự việc nên làm hoặc những gì cần phải chuẩn bị trước khi tham dự rước râu và tham dự tiệc cưới. Năm cô phù dâu được gọi là khờ dại chính vì nghe sao biết vậy và làm theo mà không suy nghĩ, không cân nhắc, đắn đo, hay nhận xét công việc mình cần thực hiện. Suy như thế, lý do khiến năm cô khờ dại bị từ chối tham dự tiệc cưới chính bởi thiếu ý thức, chỉ sống theo thói quen, bảo sao làm vậy.
 
Đọc nơi Phúc Âm chúng ta thấy nhan nhản những lời khuyên, "Này Ta sai các ngươi đi như chiên vào giữa sói: hãy ở khôn như con rắn, và chân thực như chim câu" (Mt. 10:16; Lc. 10:3), "Kẻ vừa tra tay cầm cày vừa ngó lui sau là người bất kham đối với nước Thiên Chúa" (Lc. 9:62), hoặc như chúng ta được nghe nơi Phúc Âm chủ nhật tuần trước, "Ký lục và Biệt Phái ngự tòa Môisen; vậy mọi điều họ nói với các ngươi, các ngươi hãy làm theo và hãy giữ lấy; nhưng các ngươi đừng làm theo hành vi của họ" (Mt. 23:2), hay "Hãy cải thiện, hãy thay đổi lối suy tư và tin vào Phúc Âm" (Mc. 1:15), hoặc, "Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta ắt không xứng với Ta. Kẻ yêu con trai con gái hơn Ta ắt không xứng với ta. Kẻ cố tìm sự sống mình thì sẽ mất; còn kẻ đành mất sự sống mình vì Ta thì sẽ gặp lại" (Mt. 10:37-39).
 
Nói tổng quát, đây là những điều kiện tâm trí một người phải đạt tới hầu tìm hiểu lời Phúc Âm dẫn đến Tin Mừng Nước Trời. Phúc Âm đòi hỏi bất cứ ai muốn nhận biết tin mừng đều cần thay đổi lối nhận định theo thế tục lệ thuộc nghĩa đen hoặc gò bó dưới dạng luân lý nhân sinh theo địa phương thay đổi tùy thời điểm. Phúc Âm khuyến khích chúng ta mở rộng tâm hồn sao cho có nhận định vượt hẳn thói quen nô lệ những ý thức cũ xưa hoặc lý luận trần tục. Phúc Âm đòi hỏi mỗi người cần tự suy tư chín chắn về lời Chúa sao có được nhận định bao quát, phù hợp với mọi trường hợp và mức độ tâm linh, chứ không phải đóng tai bịt mắt để rồi hùa theo thói quen, tập tục một cách thiếu suy tư. Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi mỗi người như lời Phúc Âm thánh Matthêu xác định rõ, "Khi người ta nộp các ngươi, thì các ngươi đừng lo phải nói làm sao, hay nói gì: vì ngay giờ đó sẽ cho các ngươi biết phải nói gì, vì không phải các ngươi nói, mà là Thần Khí của Cha các ngươi sẽ nói trong các ngươi" (Mt. 10:20). Lời Phúc Âm này có nghĩa "Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mt. 1:23); Thiên Chúa đang hoạt động nơi mỗi người từng giây từng phút. Đây chính là Tin Mừng Nước Trời.
 
Tóm lại, dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể trong đó có năm cô khờ dại bị khước từ tham dự tiệc cưới khuyến khích chúng ta cần biết suy nghiệm Lời Chúa để cảm nghiệm tin mừng nước trời, để cảm nghiệm thực sự Thiên Chúa ngự trị và hoạt động nơi chính mỗi người. Xin Đức Giêsu sai Thánh Thần soi sáng cho chúng ta nơi hành trình đức tin, hành trình nhận biết Thiên Chúa nơi mỗi người.
 
 
 
CHỦ NHẬT 33 A 1999  (Mt. 25:14-30)
 
Quí ông bà, anh chị em trong Đức Kitô,
 
Bài Phúc Âm vừa được công bố là một trong những dụ ngôn nói về điều kiện hoặc trạng thái tâm trí để nhận biết tin mừng nước trời nơi Phúc Âm theo thánh Mathêu. Nếu ai để ý khi đọc Phúc Âm, chúng ta sẽ nhận thấy qua những dụ ngôn hoặc hình ảnh của ngày sau hết đều nói về trạng thái cảm nghiệm của một người khi thời điểm nhận thức tâm linh, thời điểm nhận thực quyền lực vô biên của Thiên Chúa đang hoạt động nơi mình quả khó thể diễn tả được. Thêm vào đó, để chuẩn bị cho thời điểm này, tâm trí con người phải đạt tới mức độ nào hầu đón nhận mà không bỡ ngỡ, có thể sinh ra tâm trạng ngỡ ngàng, hốt hoảng hoặc lo sợ. Có thể nói đây là lý do tại sao những đoạn Phúc Âm nói về sự tỉnh thức, về đặc tính suy tư, chuẩn bị để tâm hồn luôn luôn sẵn sàng đón nhận được điễn tả qua tâm tình những người nơi thời đại Noe, thời đại ông Lót, hoặc người chủ nhà canh chừng kẻ trộm, hay thái độ của mười nàng trinh nữ đi đón chàng rể trong đó có năm cô phù dâu khờ dại.
 
Câu chuyện dụ ngôn ba người đầy tớ nhận lãnh mỗi người một món tiền của chủ, hai người làm ăn sinh lợi gấp đôi phần mình được trao cho, được chủ khen là trung tín. Trái lại, người thứ ba đem tiền chôn dấu kỹ càng lại bị kết án là hư thân và biếng nhác. Suy niệm về đoạn Phúc Âm này, tôi cảm thấy ngỡ ngàng. Giả sử ai nhờ vả chúng ta giữ giúp của cải gì, không trả công, dứt khoát chúng ta không chấp thuận. Đàng này, người đầy tớ đã tốn công chôn dấu nén bạc lại còn bị quở trách; điều này cả là sự bất công.
 
Qua kinh nghiệm sống, chúng ta có thể đặt thêm vào bài Phúc Âm một trường hợp khác, đó là giả sử người chủ trao cho một người đầy tớ thứ tư bốn nén bạc. Người này ngay lành, trung thành, năng hoạt động và luôn luôn hết lòng làm lợi cho chủ. Tuy nhiên, theo Phúc Âm thánh Luca, chúng ta đọc được câu, "Với đồng loại của mình, con cái đời này khôn hơn con cái sự sáng" (Lc. 16:8). Thêm vào đó, đấu tranh giành sống đem lại cho chúng ta sự khôn ngoan nhận xét người cộng tác đó là, "Sự nhiệt thành thiếu hiểu biết, tính toán, chỉ là sự phá hoại." Thế nên, giả sử khi chủ trở về, người đầy tớ thứ tư này vì quá tốt lành đến độ thiếu khôn ngoan, suy xét đã làm ăn thua lỗ hết ba nén rưỡi và chỉ có thể trả lại cho chủ nửa nén bạc mà thôi. Phỏng chúng ta có thể nghĩ thế nào về thái độ của người chủ. Chắc chắn rằng vì biết người đầy tớ thứ tư hết lòng hết sức cố gắng làm ăn kiếm lời cho chủ mà chẳng may vì quá tốt lành nên bị thua lỗ người chủ cũng không thể nào nặng lời quở trách.
 
Qua nhận định đơn thuần về trường hợp của người đầy tớ thứ tư, chúng ta thấy rõ hơn lý do tại sao người đầy tớ đem chôn nén bạc bị lên án dẫu đã tốn công chôn giấu và không làm thiệt hại chút gì đến số vốn chủ đã trao cho. Người đầy tớ thứ ba bị kết án chính vì đã e sợ bị kết án như trong dụ ngôn đã ghi rõ câu trả lời của anh ta, "Thưa ông, tôi biết ông là người keo kiệt, gặt chỗ không gieo, và thu nơi không phát, nên tôi khiếp sợ đi chôn giấu nén bạc của ông dưới đất." Dĩ nhiên, vì sự sợ hãi, anh ta cũng e ngại lỡ làm điều gì sai lầm và như vậy anh ta đã không dám thử bất cứ công việc gì cũng như không dám suy nghĩ, tính toán bất cứ điều gì để sao cho có thể làm lợi cho chủ. Hơn nữa, cũng theo bài Phúc Âm, sự sợ hãi của anh ta bắt nguồn vì quan niệm rằng ông chủ là người keo kiệt, gặt chỗ không gieo, và thu nơi không phát. Anh ta đã trở nên quá vô dụng vì có quan niệm không đúng đắn về ông chủ chẳng khác gì chúng ta đã có quan niệm về một Thiên Chúa quá ư hà khắc và ác nghiệt theo nghĩa đen được diễn tả nơi Cựu Ước.
 
Bài Phúc Âm được viết thêm câu nói nghịch thường, "Vì người có sẽ cho thêm và sẽ được dư dật; còn kẻ chẳng có thì vật gì coi như của nó cũng lấy đi." Kinh nghiệm sống chứng minh, dẫu chúng ta có khả năng nào đó mà không năng tập luyện, phát triển thì chúng ta cũng không thể sử dụng được mà có chăng càng ngày chỉ càng lụn bại. Những công việc nào dù khó đến đâu, nếu chúng ta phải làm đi làm lại nhiều lần, lâu dần rồi cũng thành quen. Tương tự thế, Phúc Âm khuyến khích chúng ta nhận thực rõ ràng quyền lực của Thiên Chúa đang hoạt động nơi mỗi người vì Ngài ở nơi mọi người. Bất cứ ai muốn nhận thực quyền lực này, hoặc bất cứ ai đọc Phúc Âm để nhận biết quyền lực này đều cần điều kiện dám suy nghĩ, cảm nghiệm và không e sợ sai lầm vì Thánh Thần Thiên Chúa đang làm việc nơi mọi người và vì thân xác chúng ta là đền thờ của Thánh Thần. Chỉ những ai dám bất chấp những quan niệm cũ để nhận biết Chúa ngự trị nơi mình thì mới có thể cảm nghiệm được tin mừng nước trời.
 
Tóm lại, dụ ngôn những nén bạc khuyến khích chúng ta mở rộng cõi lòng để Thánh Thần làm việc và trợ giúp chúng ta trên hành trình đức tin, hành trình nhận thức thực thể tâm linh của mỗi người, hành trình cảm nghiệm Thiên Chúa ngự trị và đang hoạt động nơi mỗi người chúng ta từng giây từng phút. Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng cho chúng ta để nhận biết tin mừng nước trời. Amen.
 
 
 
Thánh Lễ Tạ Ơn (Lc. 17:11-19)
 
Hôm nay, chúng ta hiệp dâng thánh lễ tạ ơn. Dĩ nhiên, trong cuộc sống, không ai là một hòn đảo. Cuộc sống bao gồm nhiều liên hệ, và trong sự liên hệ phát sinh nhiều tâm tình tùy thuộc những liên hệ khác nhau. Có những tâm tình một đời ghi nhớ, sống để dạ, chết mang theo. Có những ơn huệ lớn lao mà người hưởng thụ không thể nào trả nổi dẫu tiền nhiều đến đâu cho dù đã có câu nói, “Có tiền mua tiên cũng được.”
 
Nhìn lại sự thể tạ ơn trên thế giới, nhiều nước có những ngày lễ tạ ơn được ghi nhận là ngày quốc lễ được tôn trọng vào thời điểm nào đó trong năm. Tâm tình tạ ơn của mỗi dân tộc của một quốc gia mang nhiều trạng thái khác nhau. Nơi thì bắt nguồn bằng những sự giúp đỡ của những người bản xứ nơi họ mới di cư đến, hoặc ghi nhận ơn trên sau khi gặt hái mùa màng. Xét như thế, tâm tình tạ ơn phát xuất từ nhận thức do liên hệ cuộc sống hữu vi, nhân sinh đồng thời đa phần diễn tả tâm cảm cảm nhận hồng ân trong cuộc sống của con người đối với đấng linh thiêng được hướng dẫn theo niềm tin của họ.
 
Hồi tâm nhìn lại chính mình, tâm tình tạ ơn nơi mỗi người chúng ta mang tâm cảm nào và phản ứng cũng như được diễn tả nơi cuộc đời mỗi người ra sao? Một điều rõ ràng, mỗi người, không ít thì nhiều, hoặc đơn sơ hay sâu đậm, đôi khi mang tâm trạng phản cảm về cuộc sống, nhưng sự tôn trọng, thiết tha muốn sống cũng như cảm nhận hài hòa với cuộc sống, nếu để tâm nhận định, những tâm trạng này nói lên tâm cảm của mình với cuộc sống dẫu nhận biết hay không.
 
Cho dù chưa bao giờ đặt vấn đề để tự hỏi và tìm hiểu từ đâu hoặc tại sao mình có cuộc đời, thì dĩ nhiên mình đã sống và đang sống; nhận thức này có nghĩa mình đang có cuộc đời, và mình chấp nhận cuộc đời một cách nhưng không. Tất nhiên, không phải mọi người đều cảm thấy an hòa với cuộc đời, nhưng nói cho đúng, những ai bất mãn với cuộc đời thì cũng đã đang sống đôi khi lại quá tha thiết với cuộc sống nên cố tạo dựng cho mình một lý do nào đó để tiếp tục sống nếu không muốn nói là cố kéo dài cuộc sống.
 
Nhận thức như thế, dẫu nhận biết giá trị cuộc sống hay không, con người tự thâm sâu đã mang tâm cảm thiết tha với cuộc sống của mình, dẫu được đời ưu đãi hay hất hủi, may mắn hoặc xui xẻo. Thực ra, gọi là đời được ưu đãi, may mắn, hay hất hủi, xui xẻo, chỉ là nói lên sự thiếu hiểu biết về nguyên nhân tạo nên thực trạng cuộc đời mính dưới quan điểm nhân sinh, ước muốn hay tham vọng. Dĩ nhiên, ai cũng muốn có cuộc đời dễ thở hơn dẫu đôi khi nhận biết được, “Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc” thì cũng không thể chối bỏ những giá phải trả cho hương vị cuộc đời thêm đậm đà. Sự thể này cũng dễ hiểu, bởi nếu đã chưa bao giờ đối diện với khó khăn trong cuộc sống, sao có thể có tâm thái an hưởng những giây phút mang niềm vui đơn sơ, thanh thản nơi cuộc đời. Cứ thử nhìn lại quá khứ, nhớ lại tâm trạng khó khăn lúc học hỏi, so sánh với tâm trạng chiến đấu với cuộc đời bây giờ, ai không tiếc nuối thời vàng son của những ngày cắp sách tới trường lớp.
 
Có câu nói, “Đối với những ơn huệ quá lớn lao khôn thể nào trả nổi, thì phương cách trả ơn tuyệt vời nhất lại là vô ơn.” Vô ơn nơi đây không phải là bất nghĩa, bất nhân, nhưng lại mang tính chất cảm nhận thâm sâu, và đó là an hưởng, chìm đắm trong ân huệ ấy một cách nhiệt tình. Chính tâm tình ham muốn kéo dài cuộc sống, đôi khi tạo nên tham vọng, minh chứng tâm cảm an hưởng ân huệ, hồng ân cuộc sống. Ai không thế, được sinh ra thì sống, dẫu đôi khi không muốn sống; mặc dầu nói hay nghĩ như thế, nhưng lại sợ chết.
 
Nhận thức được tâm tình của mình với thực thể cuộc sống nơi mình như thế, nhân ngày lễ tạ ơn, tôi đề nghị mỗi người, từ nay, nên để tâm suy nghĩ về giá trị cuộc đời của mình. Mình được sinh ra để làm gì; mục đích cuộc đời của mình là gì; tại sao mình có cuộc đời; mình là ai, thế nào. Nói cho đúng, chỉ khi nào mình thực sự nhận ra mình là ai, mình mới thực sự cảm nhận được tâm tình tạ ơn đi về đâu. Nếu chưa nhận thực được thực thể mình là ai, có cố gắng cách mấy thì tạ ơn chỉ là vô ơn.
 
Lời Chúa hôm nay nhân ngày tạ ơn tưởng chừng như nói đến tâm tình biết ơn của người Samaritanô, và sự vô ơn, không biết trở lại cảm ơn của chín người Do Thái khác được chữa lành. Tuy nhiên, nếu nhận định theo nghĩa từ chương, nhân sinh như thế, chúng ta đã bị dụ ngôn nơi phúc âm cho leo cây tư tưởng. Điều này nói lên lời Chúa thách đố hay khuyến khích chúng ta suy nghĩ để nhận biết sự khôn ngoan ẩn tàng nơi ẩn dụ, hay dụ ngôn được công bố.
 
Thử đặt mình nơi hiện trạng dân chúng miền Trung Đông hai nghìn năm trước. Người Samaritanô được coi như người ngoại giáo đối với Do Thái giáo nên họ không bị luật lệ Do Thái giáo cầm buộc; do đó không phải tuân giữ luật trình báo bất cứ vị tư tế nào của Do Thái giáo để được tuyên bố đã lành sạch. Dĩ nhiên, người Samaritanô nhận biết mình đã được chữa lành thì chín người Do Thái kia cũng đều nhận ra, nhưng họ còn đang phải tìm gặp vị tư tế để được công bố lành sạch. Thực ra, sự lành sạch, được chữa lành hay không đâu lệ thuộc được công bố hay không. Xét như thế, lời Chúa muốn chúng ta động não, muốn chúng ta suy nghĩ để đạt đến nhận thức được ám định nơi dụ ngôn. Lời Chúa muốn chúng ta nhận thức gì, ai suy nghĩ sẽ biết. Tôi không biết được những gì quý vị biết; bởi chỉ quý vị mới biết điều quý vị biết.
 
Xin Thánh Thần Thiên Chúa soi sáng và dẫn dắt mọi người nhận biết sự khôn ngoan do lời Chúa dẫn dắt. Amen.
 
 
 
LỄ CHÚA KITÔ VUA 1999 A (Mt. 25:31-46)
 
Quý ông bà anh chị em trong Đức Kitô,
 
Nơi kho tàng Tục Ngữ, Ca Dao, chúng ta thấy ghi câu thơ lục bát, "Người ta canh kiệu thì ngon, tôi canh hương án thì đòn vào lưng." Số là có anh chồng kia được mời dự bữa tiệc mừng, khi về nhà tấm tắc khen món canh kiệu ngon tuyệt vời. Tôi không hiểu có rau gì gọi là rau kiệu hay củ kiệu mà mấy tay nhậu thường nhâm nhi với tôm khô. Chị vợ nghĩ thầm, canh kiệu có chi mà khó... vì cái kiệu hay cái hương án thì đâu khác chi. thế nên một hôm nhà có khách, chị vợ quyết định nấu món canh kiệu. Chị tới một ngôi chùa, rình mò sao chẳng biết cạo được ít lớp sơn của chiếc hương án đem về nấu canh. Và rồi chị gặp phiền hà vì cho rằng canh kiệu cũng như canh hương án.
 
Khi đọc hoặc nghe bài Phúc Âm vừa được công bố qua nhận định luân lý, Lời Chúa khuyên chúng ta cố gắng làm những điều tốt lành cho những người kém may mắn hơn chúng ta như được chép nơi sách Thánh, "Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta." Đối diện với thực tại cuộc sống hiện nay đã làm nhận thức theo lối nhìn luân lý của tôi về Phúc Âm giao động. Thử hỏi ai trong chúng ta dám đón người lỡ đường khi lái xe trên xa lộ thời buổi này khi chúng ta không biết họ là ai hoặc thế nào mặc dầu chúng ta có dữ chỗ ngồi trong xe. Chỉ đơn giản nhận xét thực tại như thế, tôi đã phải đặt mình vào vị thế một người sống trong thời điểm Phúc Âm được viết.
 
Vào thời điểm Phúc Âm, chỉ những người chống lại chính quyền La Mã đang đè nặng ách đô hộ trên dân tộc Do Thái mới bị tù tội và bị gông cùm, trừng phạt một cách gắt gao. Bất cứ ai thăm viếng những người này đều bị coi như có liên hệ và sẽ gặp rất nhiều sự phiền hà trong cuộc sống. Sự kiện này chẳng khác gì người ở Việt Nam bây giờ tiếp tế cho những người trốn trong rừng, nếu có, hoặc ngày xưa thời quốc gia, những người dẫu chỉ là buôn bán thuốc men hay gạo, muối cho những đoàn quân Cộng Sản ở trong rừng sẽ gặp phải những trắc trở phiền hà, tù tội. Vì thế, tôi tự hỏi, Phúc Âm được viết với chủ đích gì, hoặc viết về luân lý, xã hội, tâm lý, hay tâm linh?
 
Nhớ lại hai bài dụ ngôn của hai tuần trước, năm cô phù dâu ngu dại đã bị đối xử tàn tệ vì không chịu suy nghĩ, đặt vấn đề chỉ vì đã làm theo những gì được dạy bảo mà không dám tự hỏi mình phải chuẩn bị ra sao. Người đầy tớ đào lỗ chôn nén bạc đã bị kết án là hư thân và biếng nhác vì quá lo sợ bị sai lầm do đó không dám suy nghĩ nên làm gì. Hai dụ ngôn Phúc Âm này khuyến khích chúng ta nên xét lại để nhận định cho rõ ràng ý nghĩa bài Phúc Âm hôm nay muốn khuyên dạy chúng ta. Đó là bất cứ ai biết và có thể làm bất cứ điều gì để thăng tiến hành trình đức tin hoặc phát triển Phúc Âm mà không thực hiện sẽ bị kết án như Phúc Âm thánh Gioan đoạn 12 câu 48 đã viết, "Kẻ thảy bỏ Ta đi và không chịu các lời của Ta, thì có người xét xử nó: ấy là lời Ta đã nói, chính lời ấy sẽ xét xử nó trong ngày sau hết."
 
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Kitô vua. Những lời dạy của Ngài hướng dẫn chúng ta trong hành trình đức tin, hành trình tâm linh để trở nên toàn hảo như chính Thiên Chúa, cội nguồn thánh thiện, toàn hảo. Đây là hành trình đạt tới nước trời. Theo chân Đức Kitô, vua của chúng ta đó là thực hiện những lời Ngài giảng dạy qua Phúc Âm. Chúng ta đọc nơi Phúc Âm thánh Máthêu "Người lành tự kho lành mà kéo ra điều lành; còn kẻ ác tự kho ác mà kéo ra điều ác. Mà Ta bảo các ngươi: mọi lời hư từ người ta nói ra, người ta sẽ phải trả lẽ ngày phán xét" (Mt. 12:35-36). Phúc Âm thánh Luca viết, "Đừng xét đoán, và các ngươi sẽ không bị xét đoán. Đừng lên án, và các ngươi sẽ không bị lên án" (Lc. 6:37). Đồng thời Phúc Âm thánh Marcô viết, "Ta bảo các ngươi, mọi điều các ngươi cầu nguyện kêu xin, các ngươi hãy tin là đã được, và các ngươi sẽ thấy thành sự" (Mc. 11:24).
 
Những câu Phúc Âm này nói cho chúng ta rằng ý nghĩ, ý định, ước muốn, ước mơ của chúng ta tự có quyền lực. Vì thế, bất cứ điều gì chúng ta ước muốn cho kẻ khác, chính chúng ta là người lãnh nhận. Chúng ta ước muốn điều tốt cho kẻ khác, chúng ta sẽ gặp những sự tốt lành. Chúng ta muốn điều chẳng may tới cho ai đó, chính điều phiền hà sẽ đến với chúng ta. Đây có thể là lý do tại sao Phúc Âm đã dạy, "Các ngươi muốn được người ta làm cho các ngươi thế nào thì các ngươi cũng hãy làm cho người ta như vậy" (Lc. 6:32; Mt. 7:12). Bất cứ điều gì chúng ta muốn xảy đến cho người khác, điều đó sẽ xảy đến với chúng ta. Dĩ nhiên, khi chúng ta thực sự muốn điều gì xảy đến với ai, chúng ta sẽ dùng mọi cơ hội để thực hiện để điều đó xảy ra. Và theo lời Phúc Âm, chúng ta ước muốn điều gì xảy đến cho bất cứ ai, chúng ta đang thực hiện điều đó cho chính Chúa Giêsu. Và vì vậy, chúng ta sẽ bị xét xử tùy thuộc chính ý nghĩ, ước muốn, ước mơ của chúng ta.
 
Xin Thánh Thần của Đức Giêsu soi sáng cho mỗi người chúng ta biết nhận định và ý thức những điều Ngài dạy nơi Phúc Âm.
 
 
 
CN 12 A 99 (Mt. 10: 26-33) tân linh mục Trịnh Quang Trường
 
Trọng kính quí cha, quí tu sĩ, quí ông bà, anh chị em trong Đức Kitô, Nếu tôi không lầm, đa số hoặc hầu hết mọi người đang hiện diện nơi nhà thờ lúc này đều là giáo dân Công Giáo. Bởi vậy, tôi có một câu hỏi rất đơn giản, nếu có thể được, xin bất cứ ai làm ơn trả lời cho tôi biết. Câu hỏi đó là, điều quan trọng đầu tiên Phúc Âm dạy chúng ta là điều gì? Ai có thể trả lời, xin làm ơn giơ tay...
 
Phúc Âm thánh Mathêu đoạn 6 câu 33 viết, "Trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, và các điều khác sẽ được ban thêm cho các ngươi." Như vậy theo Phúc Âm, điều quan trọng tiên vàn nơi hành trình cuộc sống con người là tìm kiếm nước Thiên Chúa. Thiên Chúa là quyền lực hiện hữu nơi mọi loài mọi vật, vô hình cũng như hữu hình, từ ý nghĩ, lời nói đến hành động, thân xác hoặc sự vật.
 
Giáo lý dạy chúng ta, Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Suy như thế, nước Thiên Chúa là chính Ngài. Do đó khi suy tư, nguyện gẫm, chúng ta đối diện với chính Thiên Chúa, đối diện với nước trời nội tại. Và như vậy, cầu nguyện, suy niệm, nghiệm chứng, tất nhiên đối diện với Thiên Chúa hiện hữu nơi lòng mình. Điều này diễn giải câu 21 đoạn 17 nơi Phúc Âm Luca "Nước Thiên Chúa không đến một cách nhãn tiền. Người ta sẽ không nói được này nước trời ở đây, hay nước trời ở đó; vì nước Thiên Chúa ở trong các ông." Có thể nói đây là lý do tại sao Phúc Âm thánh Mathêu đã viết, "Còn ngươi, khi cầu nguyện thì hãy vào buồng, khóa cửa lại mà cầu nguyện với Cha ngươi, có mặt cả nơi kín ẩn; và Cha ngươi, Đấng thấu suốt cả nơi kín ẩn sẽ hoàn trả lại cho ngươi" (6:7).
 
Tất nhiên, là Kitô hữu, dù ở bất cứ cấp bậc nào, lời Kinh Thánh phải là chủ đề cho chúng ta suy tư, nghiệm chứng hầu áp dụng trong cuộc sống chứng nhân Nước Trời. Đây chính là ý nghĩa câu nói nơi bài Phúc Âm vừa được công bố, "Điều thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng." Dĩ nhiên, nếu ai suy tư, nghiệm chứng Phúc Âm, những lời nói, ý nghĩ của họ đều được liên hệ dẫn chứng từ Phúc Âm vì có đầy trong lòng mới tràn ra bên ngoài. Kinh nghiệm sống minh chứng, kẻ nào lòng dạ chứa đầy hận thù, khi mở miệng thường nói lên những lời căm hờn, đe dọa. Nếu ai ưa bới móc chuyện người khác, lòng kẻ đó đầy ghen tương. Ai suy tư, nghiệm chứng Phúc Âm, mở miệng nói ra tuyên xưng Lời Chúa. Suy như vậy, chúng ta hiểu được Phúc Âm muốn dạy chúng ta điều gì khi đặt nơi miệng Đức Giêsu câu nói, "Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời." Tuyên xưng Đức Giêsu là rao giảng lời Ngài đã phán dạy. Ba Phúc Âm Mathêu, Marcô, và Luca ghi rất rõ ràng mục đích cũng là nhiệm vụ của Đức Giêsu nơi trần thế khi viết, "Ta còn phải đem tin mừng nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, chính vì thế mà Ta đã được sai đến" (Mc. 1:38; Lc. 4:43; Mt. 4:23; 9:35).
 
Chẳng những thế, mục đích Ngài sai các môn đồ ra đi cũng chỉ để rao giảng tin mừng Nước Trời như chúng ta đọc được nơi Luca đoạn 9, từ câu 2 tới câu 6, "Và Ngài sai họ đi rao giảng Nước Thiên Chúa... họ ra đi rảo khắp các làng, loan báo Tin Mừng..." Linh mục là người được giao phó nhiệm vụ nối gót Đức Giêsu tiếp tục công cuộc rao giảng Tin Mừng Nước Trời như Ngài đã thực hiện. Nơi phương diện này, lời Đức Giêsu tuyên bố rõ ràng trong Phúc Âm, "Không phải các ngươi đã chọn Ta, nhưng chính Ta đã chọn các ngươi, và đã đặt các ngươi lên hầu các ngươi ra đi và sinh hoa trái" (Gioan 15:16). Như vậy, linh mục là người chọn và được chọn để đặc biệt tuyên xưng, rao giảng, chia sẻ suy tư, giải thích nghiệm chứng về những lời Phúc Âm mà Đức Giêsu đã công bố hai ngàn năm về trước.
 
Qua ánh sáng nhận định Lời Phúc Âm hôm nay, tôi muốn chia sẻ cùng quí ông bà anh chị em về nỗi thao thức của linh mục trong sứ vụ rao giảng Phúc Âm nhân lễ tạ ơn của tân linh mục. Khi muốn nhắc tới chuyện gì cần được chú tâm để ý, câu nói thông thường nơi ngôn ngữ Việt hay dùng lối diễn tả "Năm lần, bẩy lượt." Lật nơi Phúc Âm, tôi đếm đúng tám lần câu nói, "Ai có tai thì hãy nghe!" ba lần nơi Mathêu, ba lần nơi Marcô, và hai lần nơi Luca (Mt. 11:15; 13:9; 43; Mc, 4:9; 23; 7:16; Lc. 8:8; 14:35. Ai trong chúng ta không có tai? Tuy nhiên theo Phúc Âm, phỏng tai của chúng ta cần được chuẩn bị như thế nào để có thể hiểu được Lời Chúa. Chẳng những thế, càng đọc Phúc Âm, chúng ta càng phải đối diện với Lời Chúa đã gần hai ngàn năm được ghi lại rõ ràng nhưng chưa bao giờ được nghe lời giải thích cho thỏa lòng khả dĩ thực tiễn áp dụng nơi cuộc sống con người. Lời Chúa muốn dạy chúng ta điều gì khi viết, "Hãy ăn ở khôn ngoan như con rắn và chân thực như chim câu?" (Mt. 10:16) hoặc là, "Nhưng có nhiều kẻ đầu hết sẽ nên cuối hết, và có những kẻ cuối hết sẽ nên đầu hết?" (Mt. 19:30). Làm sao chúng ta có thể áp dụng hài hòa lời Chúa qua câu nói, "Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta ắt không xứng với Ta. Kẻ yêu con trai con gái hơn Ta, ắt không xứng với Ta?" (Mt. 10:37). Tại sao Phúc Âm lại đặt vấn đề "Rượu mới không đổ bì cũ" (Mt. 9:17) hoặc "Vải mới không vá áo cũ" (Mt. 9:16), hay khó hiểu hơn như đã được chép, "Kẻ vừa tra tay cầm cày vừa ngó lại sau là người bất kham đối với Nước Thiên Chúa!" (Lc. 9:62).
 
Quí ông bà anh chị em thử đặt tâm tình nơi địa vị linh mục để nghiệm chứng xem lòng mình đau xót ra sao khi đọc lời Kinh Thánh, "Họ nhìn lấy nhìn để mà không thấy; họ nghe lấy nghe để mà không hiểu, kẻo họ trở lại mà được thứ tha?" (Mc. 4:12). Chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin mỗi ngày Chủ Nhật nơi nhà thờ nhưng tại sao Phúc Âm lại đặt nơi miệng Đức Giêsu lời than, "Tuy vậy, khi Con Người trở lại sẽ còn gặp được lòng tin trên đất nữa không!" (Lc. 18:8). Quí ông bà, anh chị em cảm nhận rõ ràng câu nói, "Nuôi con mới biết lòng cha mẹ" hoặc đã nhiều lần điêu đứng bởi liên hệ cuộc sống như lời tiền nhân phô bày "Có ăn có chọi mới gọi là trâu," nhưng không dễ gì nghiệm chứng được lời Kinh Thánh đặt nơi miệng tiên tri Jeremiah nơi bài đọc thứ nhất, "Tất cả bạn hữu tôi rình tôi vấp ngã mà nói rằng: 'Ước gì nó bị lừa dối để chúng ta thắng nó và sẽ trả thù nó."
 
Sứ vụ rao giảng còn đẩy vị sứ đồ vào góc tường không sao tránh thoát đến nỗi Jeremiah cũng đã phải than, "Người đã dụ dỗ tôi, lạy Yavê, và tôi đã để mình bị dụ. Người đã uy hiếp tôi và đã thắng: suốt ngày tôi đã nên trò cười, cả lũ chúng nhạo báng tôi... Tôi những tự nhủ: tôi sẽ không nghĩ đến nữa, tôi sẽ không nói nhân danh Người nữa! Nhưng nơi lòng tôi như lửa bừng bừng, bị dồn ép trong xương cốt tôi. Tôi hết sức nén lại, nhưng không tài nào nén được..." (Jer. 20: 7-9).
 
Phỏng đây là niềm vui thực sự của những vị thành tâm theo gót chân thày? Thế nhưng, nơi kiểu nói dân quê, đôi khi tôi vẫn nghe thấy lối diễn tả đượm phần chua chát qua ngôn từ "đỗ cụ." Dĩ nhiên, là người, "Ai nên khôn không khốn một lần!" hoặc ai chưa bao giờ lầm lỗi! Và những chuyện "Con sâu làm rầu nồi canh" là điều phải có, cần có, và nên có trong cuộc đời vì không vậy sao gọi thế gian. Có lẽ chính nơi điểm này đã phát sinh câu hát, "Đường đời vạn nẻo chông gai, ai chưa qua chưa phải là người."
 
Xét về phương diện mục vụ, nhà báo lão thành Mạc Kinh, dẫu không theo đạo Công Giáo cũng đã viết, "Giữa linh mục và giáo dân luôn luôn gắn bó như hình với bóng trong đời sống hàng ngày. Linh mục không chỉ là vị thừa sai của Chúa mà còn là một thừa sai của giới con chiên, một đầu sai thì đúng hơn." Linh mục, sống giữa dân Chúa để nghiệm chứng và rao giảng Lời Ngài qua những công việc Ngài đang thực hiện nơi họ, dù rơi phải trường hợp, "Này Ta sai các ngươi như chiên vào giữa sói" (Mt. 10:16), hay bị coi như "đỗ cụ" đều đã được lời Chúa qua bài Phúc Âm hôm nay nhắc nhở, "Còn ai chối Thầy trước mặt người đời thì Thầy sẽ chối nó trước mặt cha Thầy, Đấng ngự trên trời."
 
Không những thế, sứ mạng rao giảng được Phúc Âm thường xuyên nhắc nhở nhưng lại rất gắt gao đối với những ai không suy nghiệm Lời Chúa khi đặt vào miệng Đức Giêsu lời cảnh cáo, "Khốn cho các ngươi, luật sĩ, các ngươi cất đi chìa khóa mở đàng hiểu biết! Chính các ngươi đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các ngươi lại ngăn cản" (Lc. 11:52; Mt. 23:13). Xin cầu nguyện nhiều cho chúng tôi, những thừa sai của Đức Giêsu, những đầu sai của quí ông bà, anh chị em, và đặc biệt cho tân linh mục nơi giai đoạn ban sơ được sai đến giữa lòng dân Chúa. Xin Chúa chúc lành nơi mọi người.
 
#1
    Chuyển nhanh đến:

    Thống kê hiện tại

    Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
    Kiểu:
    2000-2024 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9