Giải Đáp Y Khoa - BS Nguyễn Đình Phùng
frank 12 giờ (permalink)



BỆNH ĐỨT MẠCH MÁU ĐẦU (STROKE)



HỎI:

Tôi có người nhà bị bệnh đứt mạch máu đầu, gần đây phải đưa vào nhà thương để chữa trị. Hiện đã đỡ nhiều nhưng hiện bị liệt nửa người và nói năng rất khó khăn, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào bị bệnh đứt mạch máu đầu và hy vọng hồi phục được khoảng bao nhiêu? có cách nào để ngừa được bệnh này không? Cũng xin bác sĩ cho biết có triệu chứng nào báo trước là sắp bị đứt mạch máu đầu không? Và phải làm những gì khi nghi là có thể bị bệnh này?

Nguyễn Văn H.


ĐÁP:

Đứt mạch máu đầu là một trong những nguyên nhân chính gây ra chết hoặc bị liệt ở người lớn tuổi tuy một số người tuổi còn trẻ cũng có thể bị bệnh này. Đây là một bệnh nguy hiểm, nên hiểu biết về bệnh này, đặc biệt là biết những dấu hiệu báo trước việc đứt mạch máu đầu sắp sửa xảy ra là điều cần thiết cho những người lớn tuổi để có thể ngăn chận kịp thời và làm giảm thiểu những hậu quả tai hại của nó.

Thực sự dùng chữ đứt mạch máu đầu không đúng hẳn, phải nói là bệnh tổn thương mạch máu não vì đứt mạch máu chỉ là một trong những cơ chế của bệnh tổn thương mạch máu não, ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác nữa.

Bệnh này gây ra chết chỉ đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và bệnh ung thư. Cứ 100,000 người sẽ có 794 người bị bệnh mạch máu não. Mỗi năm có khoảng 400,000 người phải vào bệnh viện vì bệnh này, tính ra 5% người già trên 65 tuổi sẽ bị bệnh mạch máu não. Vì thế bệnh này là một bệnh rất quan trọng, đặc biệt cho người lớn tuổi, và vấn đề phòng ngừa là điều chính.

Sau đây chúng ta sẽ xem về các loại của bệnh mạch máu não, các triệu chứng và cách ngừa bệnh này. Các bệnh của mạch máu não có thể chia làm bốn loại chính:

1. - Nghẹt mạch máu não do cứng thành động mạch gây nên.

2. - Cục máu chạy làm tắc mạch máu não, cục máu có thể từ một động mạch não bị lở loét và làm đông máu hoặc có thể chạy từ tim lên.

3. - Xuất huyết trong não do áp huyết cao gây ra.

4. - Mạch máu não bị phình và bị bể làm chảy máu dưới màng não gọi là màng nhện.

Các tổn thương của mạch máu não có thể xảy đến một cách từ từ với triệu chứng báo trước hoặc có thể xảy ra một cách đột ngột, bất ngờ và không có gì báo trước cả.

Điều này tùy thuộc vào loại nào trong các loại kể trên; như nếu bị nghẹt mạch máu não, các triệu chứng có thể báo trước đôi khi nhiều ngày hoặc cả một thời gian thật lâu trước khi bị stroke hẳn; trường hợp bị cục máu chạy làm tắc mạch máu não hay bị xuất huyết trong não do áp huyết cao hay do mạch máu bị phình gọi là aneurysm và bị bể, stroke xảy ra đột ngột, bất ngờ.

Trước hết, điều nên biết là có thể có những triệu chứng nào báo trước. Những triệu chứng này thường xảy ra ngắn, trong vòng vài phút đến một giờ, và thường biến đi không để lại dấu vết nào rồi trở lại sau đó, nhiều khi vài ngày hay cả tháng sau hoặc có thể nhiều như năm hoặc mười lần trong một ngày.

Những triệu chứng thường thấy là tự nhiên thấy yếu hẳn đi một bàn tay hay một cánh tay trong vài phút rồi trả lại bình thường, hoặc thấy liệt đi một nửa bên người trong chốc lát rồi lại cử động được. Nhiều người có triệu chứng nói không được hay nói năng rất khó khăn trong vài phút đồng hồ.

Một triệu chứng cũng thường hay xảy ra là tự nhiên mắt không còn thấy gì hoặc bị mất hẳn thị giác một nửa bên hoặc ở giữa thấy đen ngòm, trong vòng vài phút đồng hồ rồi lại thấy được như thường. Một số các triệu chứng khác có thể xảy ra là thấy chóng mặt, quay cuồng, đi đứng không vững, mắt nhìn một thành hai, nói năng ngọng nghịu chỉ trong chóc lát rồi trở lại bình thường.

Những triệu chứng này ngắn hạn, gọi là transient ischemic attacks, viết tắt là TIA, không để lại dấu vét gì, nhiều người có những triệu chứng này một thời gian khá lâu nhưng thường đây là những dẫn dắt đưa đến stroke trong tương lai, vì thế nhận biết những triệu chứng này và tầm quan trọng của nó để đi khám nghiệm ngay có thể tránh được những hậu quả tai hại của bệnh stroke gây ra.

Những người nào dễ bị bệnh đứt mạch máu đầu? Như đã nói trên, bệnh này hay xảy ra ở người lớn tuổi nhưng không nhất thiết phải như vậy. Bệnh cứng thành mạch máu (atherosclerosis) là nguyên nhân chính gây ra đứt mạch máu đầu cũng như bệnh nghẹt động mạch tim, và liên quan đến bệnh cholesterol cao. Bệnh áp huyết cao cũng là một nguyên nhân chính gây ra đứt mạch máu đầu hay xuất huyết trong não, vì thế đi khám nghiệm để biết áp huyết mình có cao hay không và nếu cao phải chữa trị cẩn thận là điều chính yếu.

Hiện tại ở Hoa Kỳ, mức độ người bị stroke tương đối đã giảm khá nhiều cũng nhờ người dân đã biết nhiều hơn về sự nguy hiểm của bệnh áp huyết cao và đi chữa trị cẩn thận. Người Việt Nam tỵ nạn hiện còn ơ hờ nhiều về bệnh áp huyết cao nên số người bị đứt mạch máu đầu vì không chữa trị áp huyết cao xảy ra khá nhiều và nhiều người còn trẻ cũng đã bị biến chứng tai hại này.

Ngoài hai bệnh chính kể trên, các bệnh về nhịp tim đập không đều, loại atrial fibrillation, bệnh nghẹt van tim hay nghẹt động mạch tim hay nhiễm trùng tim cũng dễ làm đọng thành cục máu ở trong tim và làm chạy lên não bộ gây ra tổn thương mạch máu não bộ và gây ra stroke.

Hút thuốc lá nhiều gây ra nhiều chứng bệnh khác nhau và là một trong những yếu tố để đưa đến stroke. Vì thế muốn tránh bệnh này phải giảm thiểu tối đa các yếu tố nguy hiểm và ngưng hút thuốc là điều cần thiết.

Đứt mạch máu đầu hay stroke có thể xảy ra theo nhiều cách. Nếu bị nặng như xuất huyết nhiều trong não bộ hay bị hư hỏng vùng não bộ quan trọng và cần thiết cho sự sống còn như trung tâm điều khiển sự hô hấp, người bệnh có thể chết ngay trong vòng vài phút hay nửa tiếng đồng hồ. Phần lớn các trường hợp diễn biến xảy ra từ từ hơn và nặng hay nhẹ sẽ tùy thuộc vào mạch máu não nào bị ảnh hưởng.

Trong não có ba mạch máu chính: mạch máu não giữa, mạch máu não trước và mạch máu não sau. Nếu bị nghẹt hay bị cục máu tắc ở mạch máu não giữa, sẽ bị liệt và tê mất cảm giác nửa người ở phia bên đối diện của bên mạch máu bị nghẹt. Có nghĩa là bị nghẹt mạch máu bên trái sẽ bị liệt nửa người bên phải và ngược lại.

Đồng thời trung tâm điều khiển nói hay phát âm bị thương tổn sẽ làm cho nói không được hay nói ngọng nghịu khó khăn. Tùy theo vùng nào của trung tâm điều khiến tiếng nói bị ảnh hưởng, có rất nhiều triệu chứng khác nhau như nghe hiểu mà muốn nói nói không được, nghe cũng không hiểu mà nói cũng không được, nhìn sách hiểu nhưng đọc ra không được, hoặc đọc không hiểu gì cả, hoặc viết ra không được . . .

Mỗi người có nửa bán cầu não mạnh hơn bên kia, thường người thuận tay phải có bán cầu não bên trái mạnh hơn, người thuận tay trái có bán cầu não phải mạnh hơn; nếu bị nghẹt mạch máu não giữa của bán cầu não chính yếu sẽ bị liệt nửa người của phía bên kia nặng hơn nhiều và trung tâm điều khiển nói năng ở phia bán cầu não chính nên cũng sẽ bị nói không được.

Ngược lại, nghẹt mạch máu não giữa của bán cầu não phụ sẽ bị nhẹ hơn và thường vẫn nói được. Nghẹt mạch máu não trước tương đói bị ít hơn làm đi đứng khó khăn tuy không đến nỗi bị liệt hẳn, làm đi tiều không kiêm soát được, ảnh hưởng đến trỉ thông minh v…v... Nghẹt mạch máu não sau cũng gây bị liệt, ngoài ra trên mặt cũng bị làm mắt sụp, nuốt không được, nửa mặt mất cảm giác, bị chóng mặt, ói mửa v.v..

Như vậy khi người bệnh bị những triệu chứng kể trên có thể định bệnh là bị bệnh của mạch máu đầu hay stroke và cần phải đưa vào bệnh viện để điều trị. Việc định bệnh chính xác và phân loại ra bị xuất huyết trong não hay bị nghẹt và làm chết phần nào của não bộ phải dựa vào cách chụp hình CAT scan hay phương pháp gọi là MRI (magnetic resonance imaging). Nếu nghi bị bể mạch máu bị phình gọi là aneurysm làm xuất huyết dưới màng não gọi là màng nhện, có thể phải lấy nước tủy xương sống sau khi đã chụp hình CAT scan xong.

Việc chữa trị stroke cũng tùy thuộc vào loại nào. Loại thường thấy nhất là nghẹt động mạch não do cục máu làm nghẹt và làm chết dần vùng não bộ do động mạch này truyền máu đến, gọi là ischemic stroke. Hiện nay cách chữa có hiệu quả nhất là dùng loại thuốc làm tan cục máu gọi là recombinant tisue plasminogen activator, viết tắt là TPA, dưới tên thương mại là Alteplase. Thuốc này truyền thẳng vào tĩnh mạch và rất có hiệu quả, nếu được chữa sớm sủa trong vòng 3 tiếng kể từ khi bắt đầu có triệu chứng. Nếu để chậm đến nhà thương từ 3 đến 4 tiếng rưỡi, hiệu quả sẽ ít hơn. Quá thời gian này, sẽ không có hiệu quả nữa.

Vì thế khi bắt đầu có triệu chứng nghi là bị stroke, người bệnh hay thân nhân phải lập tức gọi xe cứu thương để đến nhà thương ngay để tranh thủ làm thế nào được truyền thuốc Alteplase trông vòng 3 tiếng, sẽ hy vọng được sống sót hay không bị những hậu chứng bị liệt, nói không được. v.v..

Nhà thương cũng phải là nhà thương lớn được chỉ định để chữa stroke, gọi là primary stroke center, có đủ máy chụp CT, MRI và có thuốc Alteplase sẵn (rất mắc tiền) cũng như bác sĩ quen chữa stroke và biết dùng thuốc Alteplase. Ở mức cao hơn là nhà thương được chỉ định gọi là Comprehensive stroke center, thường ở các trung tâm y khoa lớn nhất, thuộc đại học, có dầy đủ các máy móc, bác sĩ chuyên môn nhất về stroke, có thể làm giải phẫu gọi là thombectomy.

Điều quan trọng là không nên đến nhà thương nhỏ, sẽ phải chờ đợi để được chuyển đến nhà thương lớn hơn của stroke center. Khi đến nơi thì đã quá trễ, không dùng thuòc Alteplase được nữa, mất đi cơ hội để được chữa khỏi hay để lại rất ít dư chứng tê liệt. Vì thế khi nghi là bị stroke, phải gọi ambulance và nói rõ ràng yêu cầu được đưa đến nhà thương lớn stroke center để chữa trị.

Sau khi đã chữa trị bằng thuốc Alteplase, sẽ phải dùng thuốc ngừa bị đông máu lại, gọi là antiplatelet drugs, chống tiểu cầu, như Aspirin hay Clopidogrel. Cũng như phải chữa áp huyết cao, dùng thuốc statins để hạ cholesterol xuống tối đa và dùng physical therapy để tập nếu còn bị yếu tay, yếu chân...

Một số bệnh nhân bị nghẹt quá nhiều ở động mạch cổ dễ làm thành những cục máu chạy lên làm tắc mạch máu não có thể phải mổ để thông mạch máu ở cổ gọi là carotid endarterectomy. Thường phải chụp hình hệ thống mạch máu não gọi là cerebral angiography để biết đích xác chỗ nào bị nghẹt và nghẹt nhiều bao nhiêu truớc khi mổ. Chụp hình bằng phương pháp này cũng có nhiều nguy hiểm và mổ để thông động mạch cổ cũng có thể gây mức độ tử vong thay đổi từ 1 đến 20% tùy bác sĩ và nhà thương có kinh nghiệm nhiều hay không.

Điều này cho thấy sự quan trọng trong việc nên đến một trung tâm y khoa lớn, được chỉ định là stroke center, kinh nghiệm nhiều về việc chữa bệnh đứt mạch máu đầu hay stroke để có thế có nhiều hy vọng nhất trong việc chữa trị.

Điều thiết yếu nhất trong việc chữa trị và phòng ngừa là nhận biết các triệu chứng báo trước transient ischemic attacks hay TIA như đã nói ở phần trên. Khi bị các triệu chứng liệt một phần tay chân rồi trở lại bình thường ngay hay nói ngọng nghịu một vài phút ngắn v.v. . . phải đi khám bệnh càng sớm càng tốt.

Các thử nghiệm đầu tiên thường được làm là thử nghiệm siêu âm ở mạch máu cổ và đo độ nghẹt bằng phương pháp gọi là Doppler, nếu bị nghẹt nhiều có thể cần chụp hình angiography như đã nói ở trên và mổ endarterectomy nếu cần. Trong trường hợp không mổ được, thường sẽ phải uống Aspirin để ngừa bị stroke.

Tóm lại, đứt mạch máu đầu là một bệnh nguy hiểm, rất nhiều trường hợp có triệu chứng báo trước, nên nhận biết các triệu chứng này là điều rất quan trọng đề phòng ngừa và chữa trị kịp thời.

Một khi stroke đã xảy ra, cần phải vào nhà thương lớn được chỉ định là stroke center ngay trước 3 tiếng đồng hồ khi mới bắt đầu có triệu chứng để được chữa ngay bằng thuớc Alteplase để có hy vọng sống sót hay ít bị dư chứng tê liệt sau này.

Những điều có thể làm được để ngừa bệnh nguy hiểm này là chữa trị áp huyết cao nếu có bệnh này, uống thuốc statins để hạ Cholesterol, bỏ thuốc lá. Aspirin với lượng nhỏ cũng có thể dùng để ngừa nếu không bị phản ứng với Aspirin. Các phương pháp khác không có hiệu quả gì và ngoài các cách ngăn ngừa như đã nói ở trên, điều cốt yếu vẫn là sự nhận biết các triệu chứng báo trước của bệnh này.
#1
    frank 12 giờ (permalink)
    Bệnh ho kinh niên


    HỎI:

    Hàng năm vào mùa đông tôi hay bị ho kéo dài cả hai ba tháng. Uống thuốc ho mua ngoài chợ không ăn nhằm gì.Uống trụ sinh cũng không công hiệu. Đêm thường bị mất ngủ vì ho sặc sụa, đàm thường kéo lên chận cổ. Mỗi khi thằng con trong nhà hút thuốc lá tôi lại bị ho nặng thêm nên tôi cấm không cho nó hút thuốc. Nhưng chỉ ngửi mùi thuốc lá từ quần áo nó tôi cũng bị nổi cơn ho! Ngay cả mùi nước hoa vợ tôi sức nhiều quá cũng làm tôi bị ho!Xin bác sĩ cho biết bệnh ho dai dẳng của tôi do đâu gây ra? Có cách gì chữa tuyệt nọc bệnh ho này không? Tôi năm nay 67 tuổi, có bị bệnh áp huyết cao và bệnh bao tử kinh niên phải uống thuốc mỗi ngày.

    Trương Văn T.


    ĐÁP:

    Ho là triệu chứng thông thường nhất của bệnh đường hô hấp. Ho cấp tính hay nhất thời thường chỉ kéo dài từ vài ngày đến ba tuần, hay do các bệnh nhiễm cực vi trùng cảm,cúm. Nếu hơn ba tuần, ho trở thành kinh niên và phải tìm nguyên nhân gây ra cơn ho kéo dài để chữa trị.

    Ba nguyên nhân chính gây ra ho kinh niên là bệnh ho do chảy nước từ mũi hay khoang mũi xuống gọi là post nasal drip syndrome, bệnh suyễn chỉ gây ra ho gọi là cough-variant asthma và bệnh cuống bao tử làm nước chua chảy ngược gọi là gastro-esophageal reflux.Bị một trong ba thứ bệnh trên cũng đủ để làm ho kinh niên nhưng nhiều ngưòi bệnh có thể bị hai hay ba nguyên nhân trên cùng đi kèm và càng làm ho nhiều hơn hay khó chữa hơn!

    Trước hết về bệnh chảy nước từ mũi hay khoang mũi làm ho, post nasal drip syndrome. Bệnh này xảy ra ở những người nhạy cảm dễ bị phản xạ ho khi nước mũi chảy xuống cổ họng làm kích thích những trung khu tiếp nhận của phản xạ ho (cough receptors).Thông thường nhất là những người bị dị ứng mũi kinh niên, nước nhờn từ mũi hay khoang mũi chảy xuống liên tục gây kích thích và làm ho. Ngoài ra nếu bị nhiễm trùng khoang mũi cũng hay bị hợp chứng postnasal drip này.

    Người bệnh lúc nào cũng có cảm giác nước nhờn từ trên chảy xuống làm phải tằng hắng hay hắng giọng thường xuyên.Nếu soi đèn nhìn cổ họng, có thể thấy màng nhày của cổ họng dày lên lởm chởm như đá trải mặt đường. Ngoài triệu chứng ho kinh niên, thường có thêm những triệu chứng của dị ứng mũi hay nhiễm trùng khoang mũi, mũi bị nghẹt, chảy nước...

    Cách chữa là dùng thuốc antihistamines đi kèm với thuốc decongestants để làm khô và làm teo màng nhày lại. Tuy nhiên nếu bị nhiễm trùng khoang mũi sẽ phải dùng trụ sinh khoảng vài tuần để chữa cho hết vi trùng gây ra nhiễm trùng. Hoặc nếu bị dị ứng sẽ phải chữa chuyên môn về dị ứng bằng cách chích thuốc immunotherapy để chữa bệnh.

    Nguyên nhân thứ hai làm ho kinh niên là suyễn. Một số người bị suyễn lúc giai đoạn đầu thường chỉ có triệu chứng ho kéo dài, không bị những triệu chứng nặng khác của bệnh suyễn nên không để ý đến và không được định bệnh chính xác là do suyễn gây ra.Lý do là lúc đi khám bệnh, chỉ có một triệu chứng duy nhất là ho kéo dài, ngoài ra nghe phổi không thấy dấu hiệu khò khè hay làm thử nghiệm khác cũng không thấy gì về suyễn.

    Tuy nhiên nếu nghi là ho kinh niên do suyễn gây ra như trường hợp của câu hỏi đầubài: đêm ngủ thấy có kéo đàm,ngửi mùi thuốc lá hay mùi kích thích nhiều như nước hoa,deodorant, mùi thuốc xịt gián, xịt kiến...dễ làm ho tăng thêm;sẽ giúp cho chẩn đoán là bệnh ho kinh niên do suyễn.

    Cách chữa cũng như chữa suyễn, dùng thuốc xịt để nở cuống phổi như albuterol hayloại steroid hít như Flovent.Môt thuốc mới hợp chung hailoại này là Advair rất có hiệuquả.

    Trường hợp một số người dùng thuốc hít vào lại làm bị ho nhiều hơn có thể uống thuốc như loại albuterol viên hoặc thuốc uống Singulair sẽ có nhiều công hiệu để chữa bệnh ho kinh niên do suyễn này.

    Nguyên nhân thứ ba hay làm ho kinh niên là bệnh nước chua chảy ngược, gastroesophageal reflux. Bệnh này do cơ vòng của thực quản yếu làm nước acid chảy ngược từ bao tử lên trên gây ra kích thích phản xạ của dây thần kinhvagus, kiểm soát hoạt độngcủa thực quản và đường hô hấp. Phản xạ này làm ho kinh niên.Tuy nhiên cũng đôi khi nước chua chạy tọt từ thực quản vào khí quản gọi là aspiration sẽ làm ho, nếu bị nhiều có thể làm sưng phổi.

    Điều đặc biệt là 75% những bệnh nhân bị ho kinh niên do cơ chế này chỉ có một triệu chứng duy nhất là ho,ngoài ra không có triệu chứng nào khác về thực quản hay bao tử nên việc định bệnh dễ gây ra nhầm lẫn!

    Chữa ho kinh niên do bệnh nước chua chảy ngược phải dùng những thuốc làm ngăn chặn tiết ra acid gọi là proton pump inhibitors như Prilosec, Prevacid, Nexium...Tuy nhiên phải dùng lượng thuốc cao, có thể phải là gấp đôi liều thuốc vẫn dùng để chữa viêm thực quản hay bệnh loét bao tử. Ngoài ra phải chữa kéo dài đôi khi đến 2-3 tháng mới thấy hiệu quả nhiều và chữa được loại ho kinh niên do nước chua chảy ngược này.

    Ngoài ba nguyên nhân chính kể trên, một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng là phản ứng phụ của thuốc áp huyết. Thuốc chữa áp huyết rất thông dụng và được dùng nhiều hiện nay là loại ACE inhibitors ngăn chặn phân hóa tố angiotensin converting enzyme làm hạ áp huyết như thuốc Vasotec hay enalapril,Zestril hay lisinopril,benazepril, monopril,Altace...Khoảng 20-25% bệnh nhân dùng thuốc này có thể bị phản ứng phụ là ho kinh niên.

    Chứng ho có thể xảy ra sau vài ngày, vài tuần hay cả vài tháng sau khi uống thuốc áp huyết nên người bệnh không biết mình bị phản ứng thuốc,chỉ thấy uống đủ loại thuốc ho cũng không khỏi. Chỉ khi nào ngưng không uống thuốc áp huyết loại này nữa mới hết ho, trung bình cũng phải khoảng 3 tuần sau mới hết ho hẳn.

    Thưòng những người bệnh này phải đổi sang loại thuốc áp huyết khác gọi là loại angiotensin receptor antagonist như Losartan hay Cozaar,Atacand, Benicar... để thay loại ACE inhibitors và giữ cho áp huyết thấp. Hay một loại thuốc áp huyết khác hẳn gọi là calcium channel blockers như Amlodipine...

    Đối với người Việt Nam lớn tuổi, sinh trưởng tại quê hương, thường có phản ứng lao PPD dương nên nếu ho lâu, một trong những thử nghiệm phải làm sẽ là chụp hình phổi để xem có bị lao phổi hay không?

    Ngoài ra những người hút thuốc lá cũng sẽ phải chụp hình để tìm ung thư phổi,nhất là nếu có những triệu chứng khác đi kèm như sụt ký,ho ra máu...

    Tóm lại chứng ho kinh niên cần phải được khám nghiệm kỹ lưỡng để tìm nguyên nhân và chữa trị cho đúng cách. Phần lớn trường hợp sẽ do các nguyên nhân tả ở phần trên, tuymột số người bệnh có thể bị chung hai hay ba thứ gây ra.Chữa trị sẽ tùy thuộc vào việc chẩn đoán các bệnh chính căn nguyên của ho kinh niên và tuỳ theo nguyên nhân nào để chữa. Một số trường hợp sẽ cần phải chữa khá lâu mới có thể dứt hẳn chứng ho dai dẳng và kinh niên này được.
    #2
      frank 12 giờ (permalink)
      ĐAU CUỐNG BAO TỬ


      HỎI:

      Mỗi khi ăn thức ăn gì không hợp, tôi thường hay bị ợ chua liên hồi, bụng đầy và đôi khi ngâm ngẩm đau. Gần đây thấy ợ chua càng ngày càng nhiều.Xin cho biết có thế mắc bệnh gì và cách chữa trị ra sao?

      Trần Văn T.

      ĐÁP:

      Những triệu chứng kể trên của ông là đau cuống bao tử vì chất acid của bao tử chạy ngược lên ống thực quản(gastro-oesophageal reflux).Chỗ cuống giữa bao tử và thực quản có một cơ vòng co thắt để ngăn chận chất chua acid của bao tử không cho chạy ngược lên, khi cơ vòng này bị yếu, acid do bao tử tiết ra có cơ hội làm tổn thương màng nhầy của thực quản gây ra viêm làm đau và ợ chua. Nếu bịnh trạng để lâu không chữa biến thành kinh niên có thể gây nhiều biến chứng như nghẹt ống thực quản, chảy máu v.v. . .

      Đôi khi màng nhầy bị viêm lâu ngàyquá cộng thêm với những ảnh hưởng tai hại khác (thí dụ như hút thuốc lá) có thể biến thành ung thư.Nếu bị nhẹ và mới bị có thể theo một vài phương pháp giản dị để tự chữa: kiêng ăn đồ chua,đồ cay, đồ mỡ nhiều quá, kiêng uống rượu bia, nước ngọt có hơi nhiều như Coca, Pepsi v.v...

      Bỏ hẳn thuốc lá. Xuống ký bớt nếu mập quá. Quần áo không được mặc đồ bó quá chặt. Ăn xong phải đợi ít nhất hai tiếng đồng hồ sau mới đi ngủ. Khi ngủ phải kê giường nằm để nằm đầu cao chân thấp cho chất acid ban đêm khó chạy ngược lên.

      Có thể uống những thuốc làm giảm chất acid như Maalox, Mylantav.v. . . (không cần toa).Nếu bị nặng hơn cần đi khám nghiệm và định bệnh cẩn thận. Trị liệu thường sẽ phải cần những thuốc mạnh hơn(cần có toa): thuốc ngăn chặn bao tử không tiết ra acid như Prevacid, Prilosec....thuốc ảnh hưởng đến cơ vòng thực quản phía dưới như Metoclopramide (Reglan).Một vài trường hợp có thể cần phải giải phẫu nếu quá nặng hay có biến chứng.
      #3
        frank 12 giờ (permalink)
        NGHẸT ĐỘNG MẠCH TIM (HEART ATTACK)


        HỎI:

        Tôi năm nay 50 tuổi, khỏe mạnh bình thường nhưng gần đây tôi được tin anh ruột tôi mới bị chết vì heart attack. Xin bác sĩ cho biết những triệu chứng của bệnh này như thế nào? Muốn phòng ngừa cần phải làm gì?

        Triệu Văn H.


        ĐÁP:


        Bệnh nghẹt động mạch tim, tiếng Mỹ thông thường hay gọi là heart attack, là nguyên nhân gây ra chết thường nhất tại các nước tân tiến. Tại nước Mỹ, mỗi năm có khoảng một triệu rưỡi trường hợp bị bệnh này, trong số đó 25% bệnh nhân sẽ chết do nghẹt động mạch tim.

        Hơn một nửa số người bị chết trước khi đến kịp nhà thương để chữa trị, vì thế việc nhận biết các triệu chứng báo trước hết sức quan trọng. Hiện nay y khoa càng ngày càng tiến hơn trong việc chữa trị heart attack và một khi bệnh nhân đến kịp nhà thương để chữa, mức tử vong đã giảm khá nhiều so với trước kia.

        Tuy nhiên sống sót sau khi bị heart attack cũng dễ bị lại, trung bình khoảng 5 đến 10% số người bị heart attack cũng sẽ bị thêm và chết trong năm đầu tiên, nên một khi bị chứng này sẽ phải điều trị cẩn thận và theo dõi thường xuyên cho đến hết đời. Người Việt chúng ta trước kia ở Việt Nam ít thấy bệnh nghẹt động mạch tim vì lý do ăn uống khác, ít thịt mỡ, cholesterol; ít người bị bệnh tiểu đường hơn, ít người mập phì hơn, đỡ bị dồn ép tâm lý stress hơn ..v.v.

        Sau một thời gian sống tại Hoa Kỳ, các yếu tố gây nguy hiểm về bệnh nghẹt động mạch tim đã tăng lên nhiều nên người Việt hiện nay bị heart attack cũng đã khá nhiều, nhất là những người sang lâu từ 75.

        Nghẹt động mạch tim xảy ra khi bất thần có một cục máu làm tắc một động mạch nuôi sống bắp thịt tim. Hầu hết các trường hợp này động mạch tim cũng đã bị bệnh vì cholesterol đóng ở thành động mạch làm cứng và làm ngăn trở sự lưu thông của máu gọi là atherosclerosis.

        Động mạch tim bị nghẹt khoảng 70% đường kính trở lên là nguy hiểm và bắt đầu gây ra những triệu chứng đau ngực khi làm việc nặng gọi là angina. Động mạch tim bị bệnh có thể xảy ra ở một, hai hay ba động mạch tim, dĩ nhiên càng nhiều động mạch bị nghẹt càng nguy hiểm hơn. Trường hợp bị nghẹt tại gốc động mạch chính gọi là left main artery lại càng nguy hiểm nhiều hơn nữa.

        Heart attack xảy đến khi một cục máu đông làm nghẹt hoàn toàn và máu không chảy được để nuôi bắp thịt tim. Thiếu máu lưu thông, thiếu dưỡng khí, vùng bắp thịt tim do động mạch này cung cấp sẽ chết gọi là myocardial infarction. Nếu vùng bắp thịt tim bị chết này tương đối nhỏ, tim vẫn còn hoạt động được tuy yếu đi nhiều. Nếu vùng bắp thịt tim quá lớn, tim không co bóp được nữa hoặc bị rối loạn về nhịp tim, người bệnh sẽ chết ngay. Hơn nửa trường hợp chết trước khi đến được bệnh viện để cứu cấp là vì lý do này.

        Triệu chứng quan trọng nhất của heart attack là đau ngực. Đau ngực này nhiều và kéo dài lâu hơn trường hợp đau ngực khi làm việc gì nặng của chứng đau ngực angina. Phần lớn những người bệnh sống sót sau khi bị heart attack diễn tả đau ngực này như chưa bao giờ có cơn đau ngực ghê gớm như vậy. Thường đau ở vùng ngay giữa ngực hay có thể thấp hơn xuống dưới chấn thủy một chút làm dễ nhầm với đau bao tử, đầy hơi.

        Đau ngực này sâu, không phải chỉ ở phiến diện trên lồng ngực, đau như bị bóp, đè nặng, nghiến sâu. Trong khoảng 30% trường hợp cơn đau như chạy theo cánh tay trái, tuy nhiên có thể thấy cơn đau chạy lên cằm, lên cổ, ra sau lưng. . .

        Ngoài cơn đau dữ dội còn có những triệu chứng như khó thở, xuất hạn ra ướt đẳm mồ hôi, mặt nhợt nhạt, xanh lè, đôi khi bị ói mửa. Đau ngực do heart attack thường kéo dài lâu, không như loại đau ngực do làm nặng, nghỉ ngơi sẽ hết. Khi bị heart attack, có thể không làm gì cũng thấy bị đau với các triệu chứng kể trên.

        Khoảng một nửa số người bệnh trước khi bị heart attack hẳn, bị đau ngực từng cơn trước, không làm gì cũng đau, bị đi bị lại nhiều lần và càng lúc càng thấy cơn đau nhiều hơn và lâu hơn. Những trường hợp này gọi là unstable angina tức trạng thái mất quân bình của chứng đau ngực, báo trước cho biết heart attack làm bắp thịt tim bị chết sắp xảy đến.

        Khi thấy những triệu chứng báo trước này, cần phải đi khám và nằm bệnh viện ngay để chữa trị kịp thời và ngăn ngừa trường hợp heart attack xảy ra. Khi heart attack xảy đến rồi, nếu không bị quá nặng chết ngay tức khắc, thường người bệnh trông rất hoảng hốt, lo âu, cử động luôn để cố làm giảm cơn đau, tay chân thường lạnh. Một số trường hợp tim sẽ đập rất nhanh và áp huyết lên cao, một số khác nhiều hơn lại bị tim đập chậm và áp huyết xuống rất thấp.

        Người bệnh lúc này thường thấy mệt lả đi và ở vào tình trạng rất nguy hiểm. Việc quan trọng là khi bị đau ngực dữ dội và các triệu chứng đi kèm như kế trên, cần phải gọi xe cấp cứu để đưa vào nhà thương ngay.

        Thời gian là yếu tố quyết định trong việc chữa trị hiệu quả heart attack, mỗi phút mất đi là một phút nguy hiểm tăng lên. Điều quan trọng cần nhớ là khi đau ngực nặng nghi là bị heart attack phải gọi ambulance đưa vào phòng cấp cứu của nhà thương để chửa, không nên tới phòng mạch bác sĩ tư ở ngoài để khám. Người Việt vì ít biết về tầm mức quan trọng và nguy hiểm của bệnh nghẹt động mạch tim, không biết triệu chứng của bệnh nên đôi khi có trường hợp bị heart attack, người nhà bệnh nhân đưa đến phòng mạch tư của bác sĩ để xin chữa và làm chậm trễ trong việc chữa khẩn cấp vì bệnh này cần nhập viện ngay, phải đến thẳng nhà thương.

        Lý do phải tranh thủ thời gian vì khi bị nghẹt hẳn động mạch tim, nếu để lâu hơn vài tiếng đồng hồ, bắp thịt tim sẽ chết hẳn và càng để lâu, vùng bắp thịt tim chết không vãn hồi lại được càng ngày càng lan rộng. Trước kia, việc chữa trị không hiệu quả nhiều vì y khoa chưa hiểu rõ cơ chế của cục máu đông làm nghẹt . Hiện nay cách chữa heart attack tiến bộ hơn trước nhiều và cứu được nhiều bệnh nhân hơn nhờ cách dùng thuốc làm tan cục máu đông trong động mạch tim.


        Nếu dùng thuốc làm tan cục máu này sớm, trong vòng một tiếng đồng hồ sau khi bị đau ngực, mức tử vong có thể giảm được đến 50%, ngoài ra sẽ làm hạn chế vùng bắp thịt tim bị chết, nhờ đó tim hồi phục nhanh hơn và ít để lại biến chứng hơn. Bệnh nhân bị heart attack đưa vào nhà thương và dùng thuốc tan máu trong khoảng từ 1 đến 3 tiếng cũng vẫn có hiệu quả nhiều. Nếu đưa vào chậm hơn, trong khoảng từ3 đến 6 tiếng, mức độ tử vong không giảm được nhiều nhưng dùng thuốc tan máu vẫn được và cũng còn lợi ích. Sau 6 tiếng mới chữa, thường hiệu quả không được nhiều.
         
        Như thế đủ thấy khi nghi bị heart attack, phải đưa vào nhà thương càng sớm càng tốt, nhanh được phút nào hay phút đó! Một điều khác nữa là phải vào nhà thương lớn, quen thuộc với cách chữa trị mới và có đầy đủ chuyên môn hơn.Thuốc làm tan cục máu đông có hai loại là Streptokinase và TPA, viết tắt của tissue plasminogen activator, điều chế bằng phương pháp tổng hợp DNA. Thuốc TPA tên thương mại là Alteplase, tương đối công hiệu hơn và được dùng thường hơn, tuy rất mắc tiền, vài ngàn đô la một dose! Hai thứ thuốc khác mới hơn là Reteplase và Tenecteplase nhưng cũng mắc như Alteplase, khoảng 3000 Mỹ Kim một dose!


        Thuốc làm tan cục máu được dùng khi người bệnh đến nhà thương trong vòng 12 tiếng đồng hồ kể từ khi bắt đầu có triệu chứng đau ngực và dùng ở những nhà thương nhỏ, không có phương tiện làm thông tim ngay. Ngoài thuốc làm tan cục máu gọi là thrombolytic therapy, bệnh nhân được cho uống aspirin, dùng thuốc heparin và được truyền thuốc chống tiểu cầu Clopidogrel. Khoảng từ 25% đến 33% bệnh nhân dù dùng thuốc tan cục máu này vẫn không làm tan hẳn và phải được chuyển đến nhà thương lớn hơn có phương tiện làm thông tim gọi là Percutaneous Coronary Intervention, viết tắt là PCI.


        Thực sự cách tốt nhất hiện nay là bệnh nhân bị heart attack ở gần những trung tâm y khoa lớn, sẽ được đưa thẳng vào làm PCI luôn trong vòng 90 phút kể từ khi ambulance đến nhà đưa vào nhà thương. Được chữa bằng PCI ngay gọi là primary percutaneous coronary intervention có hy vọng cao nhất để sống sót và làm máu lưu thông bình thường, giữ cho cơ tim không bị chết. PCI là cách dùng ống nhỏ catheter luồn từ động mạch của tay hay đùi đi thẳng vào tim, bơm thuốc để chụp hình biết động mạch tim nào bị nghẹt, bao nhiêu động mạch nghẹt. Sau đó bơm thuốc tan cục máu, heparin, clopidogrel và đặt stent có tẩm thuốc gọi là đrug-eluting stent để giữ cho động mạch tim nở và không bị nghẹt lại
         
        Một số trường hợp có thể phải mổ để nối động mạch tim gọi là bypass surgery, mổ lấy tĩnh mạch ở đùi hay lấy mạch máu vú để thay động mạch tim bị nghẹt. Những phương pháp chữa chính và mới nhất là cách chữa như kể trên, tuy nhiên những người bệnh bị heart attac kthường bị rất nhiều biến chứng nguy hiểm có thể gây ra chết bất cứ lúc nào nên phải nằm trong khu trông coi đặc biệt ngày đêm 24 tiếng túc trực để cấp cứu gọi là coronary unit. Nhịp tim, áp huyết, máy thở, đo áp suất trong tĩnh mạch phổi. ..được theo dõi kỹ lưỡng ngày đêm và thuốc men trị liệu, máy giật điện tử để hồi sinh gọi là fibrillator lúc nào cũng sẵn sàng để cứu chữa.


        Câu hỏi về phòng ngừa là câu hỏi quan trọng vì heart attack nguy hiểm, làm chết nhanh chóng. Việc ngừa bệnh này cần thiết là làm giảm thiểu các nguyên nhân gây bệnh. Những nguyên nhân chính là những yếu tố tạo nên bệnh cứng thành mạch máu atherosclerosis. Cholesterol và chất mỡ trong máu cao là chính, nên cần đi thử về cholesterol, chất mỡ triglycerides, đo lượng HDL, LDL. . . Đặc biệt vì có thể di truyền, nếu gia đình có người bị bệnh heart attack, càng cầ nphải đi thử kỹ lưỡng hơn và chữa trị nếu bị cao.

        Áp huyết cao là yếu tố quan trọng khác. Phải chữa bệnh áp huyết nếu bị cao, và chữa bệnh này là chữa cả đời, không phải chỉ uống thuốc một thời gian thấy hạ rồi ngưng thuốc! Thuốc lá là nguyên nhân chính yếu khác. Nếu muốn ngừa bệnh tim, cần phải bỏ hút thuốc ngay. Bệnh tiểu đường, mập phì là những yếu tố khác cần phải chửa trị tiểu đường, xuống ký. . . Ngoài ra những yếu tố khác như thể dục, tránh bị stress... cũng giúp ích.


        Người Việt chưa quen nhiều với việc đi khám tổng quát hàng năm, tuy nhiên những người tuổi 45, 50 trở lên hoặc có những yếu tố gây bệnh như kể trên nên đi khám và thử nghiệm tổng quát để ngừa bệnh. Nếu có những triệu chứng như đau ngực khi làm việc nặng... càng cần phải đi khám và thử nghiệm sớm hơn để tìm bệnh động mạch tim và chữa trị trước khi bị một cơn heart attack xảy đến.

        Phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bệnh. Đối với bệnh nghẹt động mạch tim gây ra heart attack, điều này lại càng đúng hơn cả để tránh những trường hợp chết bất đắc kỳ tử do bệnh này gây ra.
        #4
          frank 12 giờ (permalink)


          NGỪA BỆNH NGHẸT ĐỘNG MẠCH TIM


          HỎI:


          Gần đây ông anh ruột tôi mới bị lên cơn đau tim chết ngay trên sân chơi tennis, mới có 54 tuổi. Ba tôi và ông chú cũng chết vì tim lúc trên dưới 50 tuổi. Tôi năm nay 48 tuổi, có hút thuốc và uống rượu chút đỉnh, trước giờ vẫn khỏe mạnh không có bệnh gì. Tuy nhiên tháng trước trong sở làm có thử máu và cho biết cholesterol của tôi khá cao cỡ 270. Tôi mới lên cân khoảng nửa năm nay, chắc hơi mập một chút, gần đây cân là175 pounds (tôi cao 5'4"). Hôm trước ra tiệm thuốc tây đo áp huyết thấy đề là 160/100. Xin bác sĩ cho biết tình trạng tôi có dễ bị bệnh tim không và tôi phải làm gì để ngừa bệnh này?

          Huỳnh B. T.


          ĐÁP:

          Bệnh nghẹt động mạch tim là bệnh gây ra chết nhiều nhất tại Hoa Kỳ. Trung bình mỗi năm khoảng một triệu người chết vì bệnh này, chiếm một phần ba số tử vong do mọi thứ bệnh gây ra. Bệnh nghẹt động mạch tim (coronary artery disease), thông thường gọi là heart attack, càng ngày càng thấy xảy ra nhiều nơi người Việt Nam. Sau nhiều năm sinh sống tại Hoa Kỳ, tuy không có thống kê, có lẽ số người Việt chết vì bệnh này cũng lên gần bằng người Mỹ.

          Lý do ngày xưa tại Việt Nam ít người bị nhưng sang Hoa Kỳ thấy bị nhiều hơn vì đời sống thay đổi , bị stress nhiều, ăn uống nhiều thịt hơn, lên cân nhiều. Ngoài ra ở Hoa Kỳ sống lâu hơn nên bệnh phát hiện nhiều hơn lúc tuổi tăng nhiều.

          Những yếu tố nguy hiểm dễ gây ra bệnh đau tim đã được xác định rõ ràng. Cách thức ngừa bệnh tim tùy theo những yếu tố nguy hiểm gọi là risk factors này của mỗi người, để theo đó phòng ngừa bệnh tim heart attack.

          Ba yếu tố quan trọng nhất là mức lượng cholesterol trong máu, áp huyết cao và hút thuốc lá. Kế đến và cũng quan trọng là mập quá, bị tiểu đường và không vận động. Ngoài ra còn nhiều yếu tố khác ít quan trọng hay chưa được hiểu rõ.

          Tuy nhiên muốn ngừa bệnh tim, cần nhất là thay đổi những yếu tố gây nguy hiểm nói trên. Sau đây ta sẽ xem kỹ hơn về từng yếu tố nguy hiểm gây bệnh tim này:


          1- Cholesterol


          Khi lượng cholesterol trong máu cao, thành mạch máu của tim dễ bị cứng và làm nghẹt gọi là atherosclerosis nên cholesterol cao là yếu tố nguy hiểm nhất. Ngoài ra, cholesterol cao cũng có thể theo di truyền nên nếu trong gia đình có người chết sớm vì bệnh tim heart attack, thường phải đo cholesterol cho mọi người để ngừa bệnh.

          Như trường hợp của ông Huỳnh B. T., cả 3 người cha, chú và anh ruột đều chết sớm vì bệnh tim, nên nhiều phần có bệnh di truyền làm cholesterolcao gọi là loại Type 2a. Bình thường đo lượng cholesterol tốt phải là dưới mức 200 mg%. Trên mức này là cao. Tuy nhiên muốn biết rõ hơn phải làm thử nghiệm phân chất cholesterol gọi là lipid profile.

          Giản dị hóa, thường cần đo hai loại cholesterol. Một loại xấu, gây ra bệnh gọi là LDL cholesterol. Loại này nếu cao hơn 160 mg% ở người bình thường là ở mức dễ gây bệnh. Nếu người bệnh có thêm hai hay nhiều hơn yếu tố nguy hiểm, thí dụ như có áp huyết cao và hút thuốc lá, mức lượng LDL cao hơn 130 mg% sẽ cần phải chữa trị.

          Loại cholesterol tốt gọi là HDL, loại này có tính cách bảo vệ tim, nên ngược lại với LDL, mức HDL thấp, dưới 35 mg% là không tốt. Nếu HDL cao hơn 65mg% là rất tốt. Những người sống lâu, thọ cả trăm tuổi thường có mức HDL này rất cao. Muốn cho HDL cao, thường phải tập thể dục nhiều, giảm cân và bỏ thuốc lá. Ngoài ra, rượu vang đỏ hay loại bia nâu có tính cách làm tăng mức HDL nên uống chút đỉnh rượu vang hay bia đậm có lẽ cũng tốt. Dĩ nhiên nếu uống nhiều quá, cái hại về rượu sẽ còn làm nguy hiểm hơn là giúp ích về tim!

          Lý do vang đỏ làm tăng HDL là do các chất antioxidants loại polyphenols, đặc biệt là flavonoids như resveratrol và quercetin. Loại rượng vang đỏ tốt nhất là Pinot Noir. Uống 2 ly một ngày có thể làm tăng HDL lên hơn 10%. Nhưng dĩ nhiên, uống nhiều hơn nữa, dễ say sưa hay làm hại gan, viêm gan do rượu hay chai gan, cirrhosis, lại còn làm hại nhiều hơn. Nên cũng phải cẩn thận, không nên quá đáng!
           
          Ngoài cholesterol ra, một loại chất béo khác trong máu là triglycerides nếu tăng cao cũng không tốt. Tuy không quan trọng bằng cholesterol, mức chất béo này nếu quá cao cũng dễ gây ra bệnh tim.

          Ngoài ra triglycerides khi lên quá cao sẽ gây ra bệnh trên tụy tạng pancreas. Lý do là triglycerides có trong những phần tử của chất béo gọi là chylomicrons. Khi chất béo loại triglycerides lên đến trên 900 mg%, chylomicrons sẽ chạy nhiều trong máu, đến tụy tạng pancreas, dễ làm nghẹt vi quản capillaries của tụy tạng vì chylomicrons rất lớn. Kết quả là làm viêm tuỵ tạng gọi là acute pancreatitis, làm đau bụng, ói mửa,v..v... Những người bệnh có mức triglycerides cao như 1000 - 2000 mg% rất dễ bị viêm tụy tạng nguy hiểm.

          Vì thế, khi chữa trị, cũng cần cho lượng triglycerides xuống cùng với cholesterol .Như truờng hợp của người bệnh Huỳnh B.T., mức cholesterol
          270 mg% là khá cao, cộng thêm với những yếu tố nguy hiểm khác như hút thuốc, mập và áp huyết cao, cần phải làm lipid profile để phân chất cholesterol.

          Giả thử test cho thấy ông này có HDL là 30 mg%, mức chất béo triglycerides là 300 mg%, lượng LDL sẽ được tính theo công thức:

          LDL = Cholesterol - HDL -Triglycerides/5

          Bệnh nhân Huỳnh B. T. sẽ có lượng LDL như sau:

          LDL = 270 mg% - 30 mg% -300mg%/5 = 180 mg%

          Vậy ông Huỳnh B.T. có tổng số cholesterol là 270 mg% cao, phân chất thấy mức LDL cao 180 mg%, mức HDL thấp30 mg% và mức triglycerides cao 300 mg% sẽ cần uống thuốc để chữa trị và ngừa bệnh tim.

          Muốn lượng cholesterol và chất béo triglycerides xuống,việc đầu tiên là phải ăn kiêng. Ăn uống cần giảm mỡ, thịt, trứng. Ăn rau, trái cây nhiều hơn. Ăn cá nhiều sẽ tốt hơn. Một số người có lượng cholesterol cao vừa phải có thể chỉ cần ăn kiêng, tuy nhiên phần lớn khó giữ chuyện ăn uống được và sẽ cần uống thuốc.

          Loại thuốc công hiệu nhất để hạ cholesterol là những thuốc loại statins. Trong các thuốc thuộc loại statins này, thuốc tương đối hữu hiệu nhất là atorvastatin hay Lipitor và rosuvastatin hay Crestor. Những thuốc khác cũng khá là simvastatin hay Zocor, pravastatin hay Pravachol, Mevacor, Lescol..

          .Uống những thuốc này cần thử máu để theo dõi thường xuyên vì đôi khi có phản ứng phụ trên gan. Một phản ứng phụ khác hay thấy là đau nhức bắp thịt. Trường hợp bị nặng có thể làm tan cơ bắp thịt (rhabdomyolysis), đôi khi có thể gây chết như trường hợp thuốc Baycol bị thu hồi vì hay gây ra phản ứng phụ nguy hiểm này. Tương đối thuốc pravastatin đỡ gây ra hai phản ứng phụ hơn những thuốc loại mạnh như atorvastatin... Như vậy dùng thuốc hạ cholesterol cần phải đi khám theo dõi và nếu có phản ứng phụ gì phải báo cho bác sĩ điều trị biết ngay.



          2- Áp huyết cao



          Bệnh tăng áp huyết là một yếu tố quan trọng đưa đến bệnh nghẽn động mạch tim heart attack. Những người bị áp huyết cao không chữa trị dễ bị những bệnh nguy hiểm như đứt mạch máu đầu (stroke), suy tim (congestive heart failure), hư thận và đau tim heart attack. Vì thế chữa trị và giữ cho mức áp huyết bình thường là điều quan trọng.

          Mức áp huyết bình thường phải ở dưới 140/90 nên như trường hợp người bệnh Huỳnh B.T., mức 160/100 là khá cao cần phải chữa trị. Trị áp huyết cần ăn kiêng như ăn lạt, ít chất muối sodium. Ăn trái cây như chuối có thêm chất potassium làm áp huyết thấp hơn, calcium cũng làm giảm áp huyết. Tuy nhiên phần lớn trường hợp đều phải uống thuốc mới giảm áp huyết xuống bình thường được.

          Thuốc trị áp huyết có rất nhiều loại, mỗi người bệnh có thể phù hợp với một thứ này hơn thứ khác. Thí dụ loại betablocker như Metoprolol hay Lopressor, Carvedilol , Atenolol làm tim đập chậm nên dùng cho người hay hồi hộp, có nhịp tim cao sẽ tốt hơn. Tuy nhiên người bị suyễn nên tránh dùng vì làm tăng suyễn. Loại thuốc áp huyết khác gọi là calcium channel blockers , như Amlodipine, Nifedipine hạ áp huyết tốt và cũng chữa bệnh đau ngực angina, nên dùng cho những người bệnh này rất tốt.

          Loại bây giờ hay dùng gọi là angiotensin converting enzyme inhibitor viết tắt là ACE inhibitor như Lisinopril, Enalapril ...hạ áp huyết tốt và cũng giúp cho bệnh suy tim. Tuy nhiên loại thuốc này hay làm ho nên uống vào thấy bị ho khan kéo dài, cần phải đổi sang loại khác. Loại mới hơn là loại angiotensin receptor inhibitor như Losartan, Olmesartan...tương đối tốt, hầu như không có phản ứng phụ gì nên bây giờ đuợc dùng nhiều. Một số người bị áp huyết cao cần phải uống thêm loại thuốc lợi tiểu diuretics như Hydrochlorothiazide mới làm áp huyết xuống được. Hay dùng đi chung với Losartan hay Lisinopril , viết chung là Losartan-Hct hay Lisinopril-Hct

          Tóm lại, trường hợp bệnh nhân Huỳnh B.T. có áp huyết cao sẽ là một yếu tố nguy hiểm dễ gây bệnh tim và những bệnh khác nên cần ăn kiêng, xuống ký và uống thuốc áp huyết với một trong những loại kể trên để giữ áp huyết bình thường dưới mức 140/90.

          3- Hút thuốc lá

          Thuốc lá là một yếu tố nguy hiểm quan trọng gây ra bệnh tim heart attack. Lý do vì thuốc lá làm tim đập rối loạn, làm giảm lượng máu chạy vào mạch máu nuôi tim. Ngoài ra còn ảnh hưởng trên hô hấp, làm giảm lượng HDL là cholesterol tốt như đã nói ở trên. Vì thế,người hút thuốc lá rất dễ bị bệnh tim heart attack và khi bị, dễ chết bất đắc kỳ tử vì nhịp tim rối loạn làm chết ngay chữa không kịp.

          Bỏ thuốc lá phải là một trong những việc làm đầu tiên nếu bị thêm những yếu tố nguy hiểm khác và muốn ngừa bệnh tim. Vì nếu có uống thuốc hạ cholesterol, tập thể dục, xuống ký... nhưng vẫn hút một hai bao thuốc lá mỗi ngày, nguy hiểm về bệnh tim vẫn còn đấy. Hơn nữa còn biết bao thứ bệnh khác như suy phổi, ung thư phổi, ung thư cuống họng, ung thư bao tử và rất nhiều loại ung thư khác do thuốc lá gây nên.

          Tốt nhất là quyết định bỏ hút thuốc ngay lập tức gọi là "quitting cold turkey". Nhưng nếu ghiền quá không bỏ ngay được, có thể dùng những thứ trợ giúp như thuốc dán Nicoderm, Habitrol; thuốc nhai kẹo Nicorette. Hay thuốc uống loại có thuốc an thần giúp bỏ thuốc như Zyban. Một thứ thuốc rất có hiệu quả giúp bỏ thuốc lá là Chantix, nhiều người dùng Chantix đã bỏ được hẳn thuốc lá.

          Tuy nhiên hồi năm 2021, hãng Pfizer bào chế ra thuốc này đã ngưng sản xuất vì thấy có chất nitrosamines là chất bị FDA cấm, trong tiến trình bào chế Chantix. Hiện nay, một số hãng bào chế thuốc như Apotex tại Canada đã làm ra thuốc Varenicline là generic của Chantix, được bán với hiệu quả cũng tốt như Chantix, tuy nhiên vẫn còn khan hiếm, khó mua được, Varenicline là một loại nicotinic acetylcholine receptor agonist , tương đối có hiệu quả bậc nhất để giúp bỏ hẳn được chuyện nghiền thuốc lá. Hy vọng trong tương lai sẽ có đủ thuốc này giúp cho dân ghiền bỏ được thuốc lá, ngăn ngừa được biết bao bệnh tật!

          Trường hợp người bệnh Huỳnh B.T., dù không hút nhiều, chỉ "hút chút đỉnh", nhưng hút một điếu một ngày cũng đủ để mang thêm yếu tố nguy hiểm cho bệnh tim và các bệnh khác. Vì thế hoàn toàn bỏ hút thuốc là điều tối quan trọng và phải làm ngay.
           


          4- Bệnh tiểu đường


          Tiểu đường cũng là một yếu tố nguy hiểm dễ gây bệnh tim. Người bị tiểu đường thường có chất cholesterol cao, ngoài ra cũng hay có thêm bệnh cao áp huyết, có lượng "good cholesterol" HDL thấp, dễ bị chứng đông máu nên hay bị chứng nghẹt mạch máu tim hơn người bình thường.

          Đặc biệt người bị tiểu đường nếu không chữa trị sẽ có lượng triglycerides rất cao. Chất béo này như đã nói ở trên tuy không quan trọng bằng cholesterol nhưng cũng là một yếu tố nguy hiểm risk factor độc lập gây ra bệnh tim.

          Vì thế nếu bị tiểu đường cần ăn kiêng và chữa trị bằng thuốc cẩn thận để lượng đường trong máu được bình thường và là giảm đi yếu tố nguy hiểm về tim.


          5- Bệnh mập


          Mập quá gây ra nhiều chứng bệnh và là một yếu tố nguy hiểm dễ bị bệnh tim. Người mập thường hay bị áp huyết cao và dễ bị tiểu đường nên có thêm những yếu tố nguy hiểm dẫn dắt đến bệnh tim như đã nói trên. Người Việt sang Hoa kỳ sau một thời gian ăn uống đầy đủ thường lên ký. Nếu trước kia tại Việt Nam vốn gầy ốm sẵn, sang đây lên chút ít cũng không sao, nhưng nhiều người sau vài năm sinh sống tại Hoa Kỳ thêm lên 30, 40 pounds hay nhiều hơn nữa là chuyện thường.

          Thực sự tại Hoa Kỳ, thống kê cho thấy hơn 50% dân chúng là hơi mập (overweight) và 22% được coi là mập phì (obese). Vì thế người Việt sinh sống tại đây có lên cân hay thành mập cũng là chuyện dễ hiểu. Thế nào được coi là hơi mập và mập phì. Muốn biết ta có thể đo chỉ số khối lượng cơ thể BMI (body mass index). Chỉ số này dùng trọng lượng cơ thể (tính bằng kg) chia cho bình phương chiều cao (đo bằng mét) (Nếu dùng pounds và dùng inches, nhân thêm với hằng số 705). Người bình thường không mập không ốm chỉ số này ở khoảng 21-25. Nếu chỉ số này trên 25 là hơi mập và trên 30 là mập phì!

          Như vậy với người bệnh Huỳnh B.T., nặng 175 pounds, cao 5'4" (64 inches), ta có thể tính chỉ số khối lượng cơ thể BMI cho ông này như sau:

          BMI = (175: 64 x 64) x 705 = 30.12

          Như vậy với chỉ số trên 30, ông Huỳnh B.T. không phải chỉ hơi mập mà đã quá mập! Và như vậy đã có thêm một yếu tố nguy hiểm khác bị bệnh tim heart attack!

          Giảm ký thực sự là chuyện khó khăn nhất. Vì chuyện giản dị là ăn ít và vận động nhiều là chuyện khó làm. Tuy nhiên, muốn ngừa bệnh tim cần phải xuống ký cho đến khi chỉ số khối lượng cơ thể ở mức lý tưởng là 21-23. Như vậy đối với người bệnh trên, muốn chỉ số xuống cỡ 23, ông này chỉ được cân nặng 134 pounds, cần phải sụt 41 pounds!

          Dĩ nhiên nếu xuống ký được cho bằng mức lý tưởng như nói trên, các bệnh khác cũng suy giảm nhiều hay dễ chữa hơn như áp huyết cao, tiểu đường, cholesterol...và sẽ làm cho nguy hiểm về bệnh tim heart attack giảm xuống rất nhiều.


          6- Vận động nhiều

          Người không vận động gì, chỉ nằm ì một chỗ xem TV, sẽ dễ bị bệnh tim hơn người tập thể dục hay vận động thường xuyên. Điều này thấy rõ nhất nơi người lớn tuổi. Những người già tập thể dục mỗi ngày hay chỉ cần đi lại nhiều, cũng làm giảm nguy hiểm về bệnh tim. Ngoài ra, thể dục cũng làm tăng lượng HDL nên sẽ giúp bảo vệ tim.

          Đồng thời cũng làm bớt mập, làm hạ áp huyết và giảm tiểu đường, giảm những yếu tố nguy hiểm đã nói trên nên vận động là một yếu tố quan trọng cho việc ngừa bệnh tim.


          7- Những yếu tố khác

          Một số những yếu tố nguy hiểm risk factors cho bệnh tim chưa được biết rõ lắm như lượng homocysteine nếu cao cũng dễ gây bệnh tim. Mức lượng chất CRP (C-reactiveprotein) là chất tăng cao với những phản ứng viêm của cơ thể cũng gần đây được coi là một yếu tố nguy hiểm cho bệnh tim.

          Tuy nhiên việc xác định tầm quan trọng của các yếu tố này chưa được rõ ràng cho lắm. Riêng về lượng homocysteine cao, cách thức giản dị là uống thêm những loại vitamins như folic acid, vitamin B6, vitamin B12 sẽ làm giảm chất homocysteine trong máu nên uống thêm các vitamins này có thể cũng sẽ giúp ích về tim.


          .* * *

          Tóm lại, bệnh tim heart attack là một bệnh nguy hiểm nhưng nếu hiểu biết rõ về các yếu tố dễ gây bệnh ta có thể ngừa bệnh này một cách hữu hiệu. Điều quan trọng là đi khám tổng quát thường xuyên để biết mình có những chứng nguy hiểm như cholesterol cao, áp huyết cao, tiểu đường...hay không.

          Hơn nữa, thay đổi chuyện ăn uống, giữ cho không mập, bỏ thuốc lá, vận động thể dục là những chuyện cần phải thực hiện để giữ sức khỏe và ngừa những bệnh nguy hiểm như bệnh tim heart attack hay tai biến não stroke.
          #5
            frank 12 giờ (permalink)
            Nhiễm trùng đường tiểu

            Định bệnh nhiễm trùng đường tiểu thực sự dễ dàng khi có những triệu chứng tiểu buốt, tiểu gắt, bắt đi tiểu thường xuyên, đi tiểu có máu....như đã kể trên. Để chính xác hơn có thể thử nước tiểu. Nhanh chóng nhất là thử bằng que thử dipstick (Multistix) nhúng vào nước tiểu. Nếu thấy có đổi màu tím là có bạch huyết cầu trong nước tiểu, chứng tỏ có nhiễm trùng. Hoặc có chất nitrite do vi trùng tiết ra sẽ làm que thử đổi màu hồng. Thường cũng thấy có máu trong nước tiểu khi thử bằng loại thử Multistix này. Với triệu chứng bệnh, thử nước tiểu dipstick này là đủ để định bệnh chính xác và có thể chữa trị ngay.

            Một số ít trường hợp bị nhiễm trùng đi nhiễm trùng lại hay nghi là vi trùng kháng thuốc nhiều có thể phải cấy vi trùng để biết chắc chắn hơn và xem vi trùng kháng thuốc trụ sinh nào và chịu loại trụ sinh nào để chữa cho hiệu quả hơn. Tuy nhiên, với các thuốc trụ sinh tốt hiện nay, hầu như ít khi phải thử bằng cách cấy vi trùng.

            Chữa trị bệnh nhiễm trùng đường tiểu, trụ sinh thường dùng nhất hiện nay là loại thuốc fluoroquinones như Ciprofloxacin 500 mg uống ngày 2 lần trong 3 ngày. Loại fluoroquinones khác là Levofloxacin hay Levaquin, Tequin, uống ngày 1 lần trong 3 ngày. Những trường hợp mới bị lần đầu có thể chỉ uống 1 lần gọi là single-dose cũng khỏi, nhưng cẩn thận hơn nên uống trong 3 ngày. Những người bị nhiễm trùng đường tiểu trở đi trở lại hay có những bệnh khác nên dùng lâu hơn, 7 đến 10 ngày để trị hết vi trùng.

            Loại thuốc khác công hiệu hay được dùng là Bactrim hay Septra, tên generic là Trimethoprim - sulfamethoxazole. Loại thuốc này người da trắng hay da đen dùng không sao nhưng đặc biệt ở người Việt Nam hay gây ra nhiều phản ứng, đôi khi dùng một hai lần đầu không bị gì, nhưng dùng lần thứ ba, thứ tư mới bị phản ứng. Những phản ứng này đôi khi rất nặng như sưng đỏ cả người, nóng sốt, sưng khớp xương...nên đàn bà Việt Nam có lẽ nên tránh dùng loại Bactrim hay Septra này.

            Hơn nữa, hiện nay còn nhiều loại thuốc công hiệu khác nên không cần đến loại thuốc này để trị nhiễm trùng đường tiểu cho người đàn bà Việt, rất nhiều người đã bị phản ứng nặng với loại này!

            Những loại thuốc trụ sinh như Ampicillin, Amoxicillin trước kia đều trị nhiễm trùng đường tiểu được, nhưng hiện nay có thể nói hầu hết các vi trùng gây bệnh này đều kháng thuốc. Ngoài ra người Việt sính dùng Ampicillin, bất cứ bị bệnh gì cũng đều uống Ampi để tự trị bệnh cho mình, không cần biết thuốc có hiệu quả hay không. Vì thế, đàn bà Việt có thể nói đều kháng thuốc này, dùng Ampicillin hay Amoxicillin trị nhiễm trùng đường tiểu sẽ vô hiệu và phải dùng thuốc khác. Những loại thuốc trụ sinh khác có thể dùng như Augmentin tức Amoxicillin - clavulanate, có thêm chất clavulanate để diệt vi trùng đã kháng với amoxicillin. Loại cephalosporins cũng rất có hiệu quả để trị những vi trùng gây bệnh kháng thuốc.

            Một thứ trụ sinh mới để trị nhiễm trùng đường tiểu là Fosfomycin, tên thương mại là Monurol. Thuốc này loại bột, pha với nước để uống, chỉ một lần là hết nhiễm trùng đường tiểu. Thuốc này có thể dùng để trị sơ khởi gọi là first line therapy vì rất tiện lợi, chỉ uống một lần là xong. Nhưng thuốc lại rất mắc tiền hơn những loại khác. Ngoài ra, vì là thuốc trụ sinh loại mới nên vi trùng chưa kịp kháng thuốc này.

            Một số phụ nữ bị nhiễm trùng đường tiểu do vi trùng E coli gần như kháng với tất cả các loại trụ sinh loại uống thông thường vì đã bị quá nhiều lần và dùng đủ loại trụ sinh nên sau này, vi trùng E coli kháng với gần hết các loại trụ sinh. Mỗi khi bị nhiễm trùng đường tiểu trở đi trở lại, phải vào nhà thương để truyền thẳng trụ sinh mạnh hơn vào máu như Gentamicin, Tobramycin. Với thuốc Fosfomycin mới được cho dùng và còn hiệu quả nhiều, không bị kháng thuốc, những phụ nữ này có thể dùng Fosfomycin hay Monurol để trị bệnh nhiễm trùng đường tiểu, không phải vào nhà thương.
             
            Ngoài ra, người đàn bà có thai nên tránh dùng loại Cipro nên có thể dùng những loại trụ sinh ít có ảnh hưởng đến thai nhi như các loại kể trên. Như đã nói trên, nhiều phụ nữ bẩm sinh dễ bị nhiễm trùng đường tiểu như cơ chế về P - receptors nói trên, hoặc người có loại máu 0 (non-secretors), cũng dễ bị nhiễm trùng và hay bị đi bị lại. Nhiều người có thể bị nhiễm trùng đường tiểu vài lần trong một năm và sau nhiều lần uống thuốc trụ sinh, bị kháng nhiều loại thuốc nên khó trị hơn nhiều. Những người này cần phải phòng ngừa để khỏi bị nhiễm trùng trở đi trở lại.

            Cách thức ngừa quan trọng nhất là uống nước nhiều. Dù không khát cũng cũng phải tập cho mình thói quen uống nước đều đặn, như đặt thời khoá biểu, cứ 2-3 tiếng uống một ly nước dù không khát. Một ngày phải uống 7, 8 ly nước và uống thường xuyên, dù có bận rộn đến đâu chăng nữa! Mục đích để uống nước nhiều và đi tiểu nhiều, vi trùng không có thời gian nằm lâu trong bọng đái để xâm chiếm tế bào và gây bệnh. Loại nước trái cây cranberry juice bán ngoài chợ có tính chất diệt trùng nhẹ nên uống nhiều cranberry juice cũng tốt để ngừa nhiễm trùng đường tiểu.

            Đa số những trường hợp nhiễm trùng đường tiểu ở người đàn bà có chồng xảy ra do trầy đưòng tiểu sau khi giao hợp. Vì thế nếu dễ bị nhiễm trùng trở đi trở lại nên tránh đặt vòng xoắn, tránh dùng loại thuốc xịt giết tinh trùng spermicidal. Một cách ngừa đã được chứng tỏ rất có hiệu quả làm ít bị nhiễm trùng đường tiểu là sau khi giao hợp nên đi tiểu ngay, vì vi trùng có xâm nhập cũng sẽ bị thải ra không ở trong bọng đái lâu.

            Điều đáng chú ý khác là những người đàn bà sắp tắt kinh hay đã tắt hẳn thường bị khô âm đạo và cửa mình nên dễ bị trầy trụa đưòng tiểu khi giao hợp và dễ bị nhiễm trùng đường tiểu nhiều hơn. Những người này nên dùng các loại kem hay gel như Vagisil để tăng chất nhờn và tránh được trầy đường tiểu, ít bị nhiễm trùng.

            Đối với những người dù phòng ngừa đủ cách vẫn hay bị nhiễm trùng đường tiểu trên 3 lần trong một năm, sẽ phải dùng thuốc trụ sinh uống ngừa sau khi giao hợp. Thuốc loại nitrofurantoin bán dưới tên Macrodantin là loại trụ sinh nhẹ, có thể uống một viên 50 mg ngay sau khi giao hợp xong để ngừa nhiễm trùng. Những thuốc khác cũng có thể dùng như loại cephalosporins hay loại fluoroquinolones cũng có thể dùng sau khi giao hợp để ngừa nếu sau khi dùng một thời gian lâu vi trùng kháng thuốc Macrodantin.

            Tóm lại, nhiễm trùng đường tiểu là bệnh rất thường thấy nơi người đàn bà. Bệnh tương đối dễ trị với những thuốc trụ sinh mạnh và hiệu quả hiện nay. Điều quan trọng là phải trị sớm, không nên để lâu có thể bị nhiễm trùng lên thận hay vào máu gây nhiều nguy hiểm. Những người hay bị nhiễm trùng đường tiểu trở đi trở lại cần theo những phương pháp phòng ngừa để tránh ít bị chừng nào hay chừng đó vì vi trùng sẽ dễ kháng thuốc nếu phải dùng trụ sinh quá nhiều lần để trị bệnh.
            #6
              frank 12 giờ (permalink)
              Chữa trị bệnh viêm gan
               
              Vấn đề chữa trị bệnh viêm gan do cực vi trùng B và C hiện nay đã có thuốc trị hữu hiệu.

              Khi bị viêm gan cấp tính, nếu bị nhẹ chỉ cần nghỉ ngơi để cơ thể tự hồi phục. Chữa trị là khi bị nặng cần nhập viện để ngăn ngừa biến chứng, giữ cho cơ thể đủ nước, giữ cho huyết áp thăng bằng, hô hấp bằng nhân tạo nếu cần, ngừa chảy máu, ngừa mê man v.v. ..Nguyên tắc là giúp cho cơ thể đủ năng lực để hồi phục lại Chữa trị bệnh viêm gan kinh niên loại B và C sẽ được dẫn giải trong loạt bài khác.

              Vấn đề phòng ngừa quan trọng hơn cả. Đối với cực vi trùng viêm gan C, hiện nay vẫn chưa có thuốc chích ngừa. Riêng cực vi trùng loại B đã có thuốc chích ngừa rất hữu hiệu. Trường hợp một người trong máu đã có cực vi trùng loại B tất nhiên chích ngừa vô ích, tuy nhiên như trường hợp của bễnh nhân Phạm Đ. H. sắp cưới vợ, việc ngừa bệnh viêm gan do cực vi trùng loại B là điều cần thiết.

              Vì trường hợp dân Việt Nam tỷ lệ dân chúng đã có cực vi trùng B trong máu rồi khá cao nên trước khi chích ngừa, người vợ sắp cưới của bệnh nhân này nên thử máu để biết tình trạng của mình đối với cực vi trùng viêm gan B

              :- Nếu trong máu đã có cực vi trùng loại B (thử nghiệm này gọi là HBs Ag, chữ viết tắt của Hepatitis B surface antigen): Chích ngừa vô ích.

              - Nếu trong máu không có cực vi trùng loại B (negative HBsAg) nhưng đã có kháng thể chống lại cực vi trùng B (HBsAb: Hepatitis B surface antibody) có nghĩa là cơ thể trước kia đã bị bệnh viêm gan nhưng chống cự hữu hiệu, diệt hết được cực vi trùng và đã có đặc tính miễn nhiễm, tạo ra những kháng thể diệt cực vi trùng. Trường hợp này không cần phải chích ngừa

              .- Nếu trong máu không có cực vi trùng B (negative HBsAg) nhưng cũng không có kháng thể (negative HBsAb): nên chích ngừa. Thuốc ngừa phải chích làm ba lần: lần đầu, lần thứ nhì sau một tháng, và lần thứ ba sau sáu tháng. Thuốc chích ngừa rất có hiệu quả, ngừa được khoảng 90% trường hợp, tuy thuốc khá mắc tiền.

              Trường hợp những người đàn bà có cực vi trùng loại B trong máu khi mang bầu và sắp sinh phải chích ngừa cho em bé sơ sinh ngay để tránh việc truyền nhiễm bệnh này. Khi vừa sinh ra phải chích ngay huyết thanh có kháng thể chống cực vi trùng (hepatitis B immune globulin) sau đó trong vòng 7 ngày phải chích thuốc ngừa như đã nói ở trên và chích tiếp một tháng rồi sáu tháng sau.

              Vấn đề chích ngừa lúc mới sanh này đối với những xã hội như Việt Nam chúng ta sẽ là điều cần phải làm để tránh được tình trạng mẹ truyền cho con và cứ thế tiếp tục gây ra tỷ lệ bệnh viêm gan càng ngày càng nhiều với những biến chứng và ảnh hưởng tai hại cho dân chúng và cho cả xã hội.

              Tuy nhiên chỉ trừ một vài nước như Đại Hàn điều chế thuốc ngừa lấy rẻ tiền, có thể áp dụng trên phương diện rộng lớn, các quốc gia chậm tiến khác chưa thể áp dụng sâu rộng để ngăn chận việc truyền nhiễm bệnh viêm gan loại B này vì thuốc ngừa quá mắc tiền.
              #7
                frank 11 giờ (permalink)
                TIỂU ĐƯỜNG


                HỎI:


                Tôi năm nay 52 tuổi, gần đây thấy đi tiểu rất nhiều lần trong ngày, lúc nào cũng thấy khát nước, đồng thời sụt ký mất khoảng hơn l0 lbs, mặc dù ăn nhiều. Tôi nghe người bạn kể bị bệnh tiểu đường cũng bị giống hệt như vậy. Xin cho biết những triệu chứng đó có phải tiểu đường không? Chữa trị ra sao?

                Huỳnh Văn B.


                ĐÁP:

                Ba triệu chứng ông kể: tiểu nhiều, lúc nào cũng khát phải uống nước nhiều và ăn nhiều mà vẫn sụt ký là hợp chứng để định bệnh tiểu đường. Muốn biết đích xác phải thử nghiệm;thử nghiệm giản dị có thể tự làm lấy là thử nước tiểu. Các tiệm thuốc tây đều bán những que giấy thử tiểu đường có thể mua không cần toa, que giấy nếu đổi màu khi nhúng vào nước tiểu có nghĩa là lượng đường trong nước tiểu quá cao và bị bệnh tiểu đường.

                Tuy nhiên muốn biết chính xác phải thử máu. Vì nếu bị nhẹ đôi khi thử nước tiểu không thấy đổi màu.Thử máu về tiểu đường phải nhịn đói bưổi sáng, nếu lượng đường trong máu trên 140 mg trong 100 cc máu và thử lại cùng trên mức đó là mắc bệnh tiểu đường. Gần đây hơn, tiểu đường đã được định nghĩa lại là nếu mức lượng đường đo buổi sáng sớm sau khi nhịn đói đêm trước trên 126mg% là đã mắc bệnh tiểu đường. Bình thường lượng đường trong máu phải ở mức 80 đến 120 mg%. Đo lượng Hemoglobin Ăc trong máu để biết mức đường trung bình trong 3 tháng. Nếu dưới 5.7% là không có tiểu đường. Trên 6.5% là bị tiểu đường. Mức từ 5.7% - 6.5% là tiền tiểu đường prediabetes.

                Nguyên nhân mắc bệnh tiểu đường là do thiếu kích thích tố insulin trong cơ thể hay tuy cơ thể có đủ insulin nhưng không dùng được đúng cách . Insulin là kích thích tố do tuyến tuy tạng (pancreas) tiết ra. Tụy tạng nằm sâu trong bụng, phần đầu dính với phần thập nhị chỉ tràng của ruột non. Tụy tạng tiết ra các phần hoá tố giúp cho sự tiêu hoá và tiết ra insulin giữ nhiệm vụ điều hoà lượng đường trong cơ thể.

                Sau khi ta ăn,lượng đường trong máu tăng cao sẽ kích thích tụy tạng tiết ra insulin nhiều hơn. Insulin tác dụng trên cơ cấu tiếp nhận của màng tế bào (receptor) đưa đường glucose từ máu vào tế bào. Nếu cơ thể thiếu insulin,lượng đường trong máu sẽ tăng lên vì đường glucose không vào được tế bào. Kết quả dinh dưởng thiếu thốn, người bệnh bị sụt ký tuy vẫn đói ăn, ăn nhiều nhưng chất đường cần thiết cho sự hoạt động của tế bào vì thiếu insulin không từ máu đi vào tế bào được.

                Lượng đường trong máu khi quá cao sẽ gây hiện tượng thẩm thấu (osmosis) tại thận làm nước trong máu khi được lọc tại thận sẽ thoát ra nhiềuhơn trong nước tiểu. Kết quả người bệnh đi tiểu nhiều, cứ nửa tiếng hay một tiếng lại phải đi và làm cơ thể mất nước. Khi cơ thể mất nước, mức áp suất thẩm thấu trong máu hạ thấp tác dụng lên vùng hypothalamus của não bộ kích thích trung tâm điều khiển sự khát.

                Kết quả nguời bệnh lúc nào cũng thấy khát cần phải uống luôn miệng. Nếu uốngn ước lạnh thì không sao nhưng tại Hoa Kỳ, phần lớn nhữngngười mắc bệnh tiểu đường nhưng chưa biết, khi khát đều uống nước ngọt như Coke, Sprite v.v. . . Bệnh tiểu đường càng nặng thêm vì uống nước ngọt quá nhiều, đôi khi cả chục lon coca mỗi ngày!

                Lý do gây ra sự thiếu thốn insulin của cơ thể và gây ra tiểu đường tuỳ thuộc vào hai trường hợp. Ở những người trẻ, thường là vì lý do bẩm sinh và cơ thể do nhiễm một loại cực vi trùng tấn công tuyến tụy tạng và gây ra phản ứng miên nhiễm phá hủy các đảo tế bào Langerhans là nơi tiết ra insulin của tụy tạng. Người Việt Nam chúng ta tương đối ít bị tiểu đường lúc trẻ theo cách này.

                Trường hợp thứ nhì xảy ra những người cỡ tuỗi 50 trở lên tuy có thể sớm hơn; ở những người này các đảo Langerhans của tụy tạng không bị phá hủy nhưng làm việc không điều hoà, đồng thời các cơ cấu tiếp nhận insulin trên tế bào (insulin receptor) của những người này bị bất thường và không làm cho chất đường glucose từ trong máu vào tế bào dễ dàng được. Nguyên nhân nào hiện chưa rõ, tuy nhiên di truyền là yếu tố quan trọng.

                Một yếu tố khác nữa là khi mập quá, lên cân quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng insulin tuy có đủ nhưng không tác dụng trên tế bào một cách hữu hiệu và kết quả vẫn gây ra bệnh tiểu đường tuy cơ thể không thiếu insulin.

                Bệnh tiểu đường nếu không chữa sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm. Người bị tiểu đường dễ bị cứng thành mạch máu gây ra bệnh tim hay đứt mạch máu đầu. Tiểu đường có thể gây bệnh mắt trên màng võng mô gây ra mù. Tiểu đường cũng ảnh hưởng trên thận có thể làm hư thận. Nhiều người bị tiểu đường lâu có thể bị ảnh hưởng trên dây thần kinh làm tê tay tê chân, đôi khi làm đau nhức dữ dội. Để lâu không chữa, tiểu đường cũng làm lở lói chân, dễ nhiễm trùng v…v..

                Chữa trị bệnh tiểu dường điều quan trọng nhất là ăn uống phải kiêng khem. Đồ ngọt phải tránh ăn, uống nước ngọt phải dùng loại Diet Coke, Diet Pepsiv..v... Có thể dùng loại đường nhân tạo để thế đường khi pha nước, trà, cà phê v.v.. . Loại đường này là aspartame bán ở chợ dưới nhãn hiệu Equal, mùi vị gần như đường thường tuy không dùng để chưng nấu được vì nhiệt độ sẽ làm mất vị ngọt. Mới gần đây, cơ quan WHO, world health organization, ra khuyến cáo không nên dùng aspartame vì dùng nhiều có thể là carcinogen gây ung thư. Tuy nhiên cơ quan FDA của Hoa Kỳ vẫn cho dùng, nói là dùng ít không sao. Hãng Pepsico hiện đã thế aspartame bằng chất sucralose hay còn gọi là Splenda trong Diet Pepsi. Splenda cũng bán ở ngoài, nếu cẩn thận có lẽ nên dùng Splenda để thay đường Equal cho chắc ăn!

                Đồ bột khi hấp thụ vào cơ thể sẽ biến thành đường nên ăn cơm, bánh mi quà nhiều cũng sẽ làm khó khăn trong việc trị liệu. Đồ bột nên giữ khoảng 50% tổng số lượng calories mỗi ngày. Ăn rau nhiều hơn. Đồ ăn nhiều chất béo quá cũng nên tránh. Nếu mập phải xuống ký bớt và ăn giảm calories. Nhiều người vì mập quá bị tiểu đường, khi xuống ký và ăn kiêng được lượng đường trong máu trở lại bình thường và không cần phải uống thuốc.

                Phần lớn các trường hợp ở tuổi trung niên mới bị hay bị tiểu đường vì do mập, sau khi dùng cách ăn kiêng lượng đường vẫn cao, có thể uống thuốc đề chữa trị. Hiện nay có rất nhiều thuốc mới để trị tiểu đường loại 2 rất công hiệu. Phần này sẽ được dẫn giải trong bài viết khác.

                Điều quan trọng là tuy dùng thuốc vẫn phải ăn kiêng mới có thể giữ cho mức đường bình thường được. Thuốc phải uống liên tục và thường phải dùng suốt đời. Nếu ăn kiêng và uống thuốc đến mức tối đa vẫn còn lượng đường quá cao sẽ phải dùng insulin để chích.

                Trường hợp những người bị tiểu đường loại 1 lúc còn trẻ do tụy tạng bị phá hủy cũng phải dùng insulin vì thuốc uống không công hiệu. Chích insulin phải theo dõi cẩn thận và phải học cách thử máu lấy, bằng cách thử máu ở đầu ngón tay để theo dõi lượng đường. Nếu chích insulin quá độ, lượng đường xuống quá thấp sẽ gâyra nguy hiểm, có thể mê man và chết nếu quá liều. Cách chích insulin là dưới da, một lần trong ngày, đôi khi phải hai lần. Độ lượng phải được điều chỉnh và theo dõi cẩn thận. Chữa trị bằng insulin cũng phải dùng suốt đời.

                Tóm lại, bệnh tiểu đường là một bệnh biến dưỡng tuy xảy đến từ từ nhưng nếu không chữa sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên nếu chữa trị và theo dõi đúng cách, bệnh này tương đối cũng dễ chữa và có thể giữ đời sống như bình thường tuy phải tiếp tục chữa trị suốt đời.
                #8
                  frank 11 giờ (permalink)
                  THUỐC MỚI CHỮA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG


                  HỎI:


                  Tôi bị bệnh tiểu đường đã hơn 5 năm nay. Trước kia không đến nỗi lắm nhưng gần đây mặc dù uống thuốc đến mức tối đa, mức đường trong máu của tôi vẫn cao ở mức trên 200 mg%. Tôi nghe nói hiện nay có nhiều thuốc tiểu đường mới cho những người như trường hợp của tôi không cần phải chích insulin. Xin bác sĩ cho biết các loại thuốc này như thế nào và cách dùng ra sao?

                  Dương văn L.


                  ĐÁP:

                  Bệnh tiểu đường là một trong những bệnh càng ngày càng thấy nhiều nơi người Việt định cư tại Hoa Kỳ. Sở dĩ như thế vì tiểu đường là bệnh về biến dưỡng liên hệ đến vấn đề dinh duỡng, ăn uống. Những người mập dễ bị bệnh này và người Việt sang đây sau nhiều năm, số người mập vì ăn uống quá độ tăng lên nhiều và sự phát hiện ra bệnh tiểu đường càng gia tăng.

                  Bệnh tiểu đường được chia ra làm 2 loại: loại 1 là tiểu đường cần phải chích insulin, thường xảy ra nơi người trẻ, do một loại cực vi trùng phá hủy tụy tạng là cơ quan tiết ra chất insulin điều hòa lượng đường trong máu. Loại này thật ra hiếm thấy nơi người Việt .

                  Hầu hết các bệnh tiểu đường của người Việt là loại 2, gọi là loại tiểu đường không lệ thuộc vào insulin. Nguyên nhân của tiểu đường loại 2 này là do cơ cấu tiếp nhận insulin (insulinreceptor) trên mô tế bào hoạt động không bình thường nên insulin tuy đầy đủ vẫn không làm cho chất đường glucose từ trong máu vào tế bào một cách bình thường được và gây ra lượng đường trong máu lên quá cao.

                  Ngoài ra những người bị tiểu đường loại 2 cũng có tụy tạng làm việc không được bình thường và có tỷ lệ chất glucagon là một loại kích thích tố khác trong việc biến dưỡng đường glucose cao hơn chất insulin gây ra rối loạn việc biến dưỡng glucose.

                  Bệnh tiểu đường loại 2 là bệnh di truyền tuy cách thức di truyền chưa được biết rõ ràng. Nhiều sắc dân có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường rất cao như giống dân da đỏ Pima hơn 40% dân số bị tiểu đường. Người Á Châu nói chung và dân Việt nói riêng có lẽ tỷ lệ cũng khá cao tuy không có thống kê chính xác.Thường nếu có anh chị em bị bệnh tiểu đường, xác xuất cũng bị tiểu đường lên đến 1/4, nếu cha hay mẹ bị tiểu đường, người con có xác xuất 1/3 bị bệnh tiểu đường theo.

                  Phần lớn việc định bệnh tiểu đường là do đi khám tổng quát ,thử máu thấy đường lên cao, trên mức 126 mg% lúc buổi sáng nhịn đói và hemoglobin A 1 c trên 6.5%. Những người này hầu như không có triệu chứng gì ngoài việc đa số hơi mập. Vì thế những người bắt đầu vào cỡ tuổi 40, 50 trở lên nên đi khám tổng quát, nhất là nếu trong gia đình, bố mẹ anh chị em đã có người bị tiểu đường, hoặc gần đây thấy lên cân,mập hơn.

                  Một số người bị tiểu đường nặng hơn thường thấy có các triệu chứng như khát nước, tiểu nhiều, ăn nhiều, hay đói nhưng lại bị sụt ký. Những người bị các triệu chứng này cần phải đi khám và thử máu ngay vì đây là triệu chứng của đường trong máu lên quá cao. Một triệu chứng hay thấy và do tiểu đường gây ra là bị tê tay, tê chân, thấy đau nhức hay chạy rần rần ở tay chân. Triệu chứng này do rất nhiều thứ gây ra nhưng một bệnh quan trọng và hay thấy là tiểu đường. Sở dĩ như thế vì tiểu đường có thể gâ ybiến chứng ở dây thần kinh gọi là neuropathy.

                  Một số ít bị mắt mờ, đi khám thử tổng quát và khám phá ra bệnh tiểu đường. Nguyên nhân vì tiểu đường gây ra biến chứng trong võng mạc của đáy mắt, ảnh hưởng trên các mạch máu mắt hay gây phù gọi là macular edema. Vì thế những người bị mờ mắt hay triệu chứng khác về mắt đều cần thử máu xem có bị tiểu đường hay không?

                  Một số bệnh nhân khác chỉ tìm thấy bị tiểu đường khi đã có những biến chứng nặng như bị tai biến mạch máu não, hay bị nghẹt động mạch tim... vì thế việc định bệnh sớm là điều tối quan trọng để tránh những biến chứng tai hại, nguy hiểm. Chữa bệnh tiểu đường đối với người Việt hầu hết bị tiểu đường loại 2 không cần dùng đến insulin. Chỉ trừ một số rất ít không giữ được múc đường bình thường với thuốc uống cần phải chích thêm insulin.

                  Trong mấy năm gần đây, nhiều thứ thuốc mới chữa bệnh tiểu đường đã được chấp thuận để bán trên thị trường. Những thuốc mới này rất có hiệu quả và giúp để giữ lượng đường trong máu trở lại bình thường, không cần phải chích ínulin. Ngoài ra còn giúp cho những bệnh đi kèm khác như bệnh tim, bệnh thận, bệnh mập v...v.. Sau dầy chúng ta sẽ xem từng loại thuốc mới để trị tiểu đường này.

                  1 - Metformin

                  Thuốc đầu tiên để chữa bệnh tiểu đường loại 2 là Metformin. Thuốc này có tác dụng làm giảm việc sản xuất đường glucose của gan, cũng như giúp cho cơ bắp thịt có thể dùng insulin để đưa đường glucose vào trong tế bào nhiều hơn. Do đó sẽ làm giảm lượng đường trong máu.

                  Metformin tương đối ít có phản ứng phụ. Tuy nhiên nên uống thuốc với đồ ăn để tránh tiêu chảy hay đau bụng. Metformin nếu dùng ở người bị suy thận, có thể gây ra một phản ứng nguy hiểm là lactic acidosis, vì thế nếu mức làm việc của thận quá kém, nên tránh dùng thuốc này. Một phản ứng phụ khác có thể xảy ra là làm cơ thể thiếu vitamin B12, lý do là Metformin làm giảm sự hấp thụ vitamin này ở ruột. Nên sau khi dùng Metformin lâu, nếu thấy thiếu hồng huyết cầu, phải đo lượng vitamin B12 và chích thuốc vitamin B12 nếu cần.


                  Người mới bị tiểu đường và bị nhẹ, có thể chỉ cần uống Metformin 500 mg. Bị nặng hơn có thể dùng ngày 2 lần, loại 850 mg hay tối đa là 1000 mg ngày 2 lần.


                  2 - Sulfonylureas



                  Loại thuốc tiểu đường thứ nhì hay dùng để phụ với Metformin nếu đường chưa xuống nhiều là loại sulfonylureas, thông dụng nhất là glyburide, glipizide, glimepiride. Các thuốc loại này làm kích thích tụy tạng tiết ra insulin nhiều hơn và làm đường xuống nhanh. Tuy nhiên một phản ứng phụ nguy hiểm có thể xảy ra là làm đường đôi khi xuống quá thấp gọi là hypoglycemia, người bệnh thấy mệt, chân tay rã rời, ra mồ hôi nhiều, tay run. Nếu đường xuống quá thấp như 30 - 40 mg%, có thể làm xỉu và tiến đến hôn mê. Vì thề hiện nay khuynh hướng là tránh dùng thuốc loại này, nhất là nơi người già. Ngoài ra loại thuốc này có thể làm tăng nguy hiểm cho tim, người có bệnh tim nên tránh dùng.


                  3 - Pioglitazone


                  Một số bệnh nhân có thể phải dùng 3 thứ thuốc nếu vẫn đường trong máu vận chưa xuống. Pioglitazone có thể dùng thêm vào vì thuốc này làm tăng việc thu nhận đường glucose của tế bào gọi là peripheral uptake. Thuốc này khá hiệu quả uống ngày một lần 30 mg - 45 mg. Có phản ứng phụ là làm giữa nước, có thể làm phù.


                  4 - Acarbose


                  Thuốc này là loại alpha-glucosidase inhibitor, có tác dụng làm giảm hấp thụ loại bột polysaccharide trong ruột . tuy nhiên hiệu quả ít và làm đầy bụng, khó tiêu, bụng đau, sình bụng nên ít được dùng


                  5 - Dipeptidyl peptidase - 4 (DPP - 4) inhibitors


                  Loại này bán dưới tên thông dụng là Januvia, Onglyza.... có tác dụng làm tụy tạng tiết ra insulin, đồng thời làm ngăn chặn kích thích tố khác của tụy tạng là glucagon, do đó làm giảm lượng đường trong máu. Tương đối khá hiệu quả, nhưng cũng có phản ứng phụ là đôi khi làm đường xuống quá thấp hypoglycemia như loại sulfonylureas như đã nói ở trên. Thường được dùng khi bệnh nhân uống 2 hay 3 thứ thuốc kể trên vẫn chưa làm đường xuống được nhiều.


                  6 - Sodium-Glucose Cotransporters 2 (SGLT 2) inhibitors


                  Loại này tương đối mới và cho dùng vài năm gần đây. Hai thứ thuốc thông dụng nhất là Jardiance tức empaglifozin và Farxiga tức dapagliflozin, có tác dụng ngăn chặn sodium-glucose cotransporters 2 là loại chất đạm giúp thận hấp thụ lại chất đường glucose trong máu. Như thế, đường không được hấp thụ lại sẽ bị thải ra bằng đường tiểu. Và nhờ thế đường trong máu sẽ hạ thấp. Thuốc có hiệu quả nhiều trong việc chữa bệnh tiểu đường.


                  Ngoài ra còn thêm lợi ích là Jardiance đã được chứng minh là giúp cho những người bị bệnh tim ít bị những biến chứng về tim cũng như làm giảm tử vong nơi những người này. Vì thế đối với những bệnh nhân bị tiểu đường đi kèm với bệnh tim mạch, dùng thuốc Jardiance vừa chữa tiểu đường vừa ngăn chặn được những biến chứng tim mạch nên hiện nay được dùng nhiều.


                  Thuốc Farxiga cùng tác dụng để chữa tiểu đường như Jardiance, nhưng lại giúp ích về thận. Nhiều khảo cứu đã cho thấy thuốc Farxiga ngăn chặn được suy thận nơi những người bị tiểu đường kèm thêm với suy thận. Thực sự ra thuốc Farxiga hiện đã được chấp thuận để chữa ngay cho cả những người bị suy thận nhưng không bị tiểu đường. Những bệnh nhân này dùng Farxiga để chữa bệnh thận nhưng cũng không bị đường xuống thấp. Có nghĩa nếu bị tiểu đường, thuốc sẽ làm hạ lượng đường trong máu. Nhưng người không có tiểu đường dùng thuốc này không có tác dụng trên đường glucose!


                  Tuy nhiên hai thứ thuốc này quá mắc tiền. Nếu không có bảo hiểm trả tiền thuốc, giá cho 30 viên thuốc dùng trong một tháng sẽ mất từ 500 - 600 Mỹ Kim nếu phải trả tiền túi. Nên người nghèo hay có bảo hiểm dở, sẽ khó lòng chịu nổi!


                  7 - Glucagon - like peptide 1 (GLP 1) receptor agonists


                  Loại thuốc trị tiểu đường mới nhất và được biết đến nhiều nhất có tên thương mại là Ozempic là loại thuốc chích một tuần một lần. Có tác dụng làm tăng bài tiết ra insulin và làm giảm đi bài tiết kích thích tố glucagon. Ngoài ra làm bao tử chậm đẩy đồ ăn xuống ruột và làm cho ít cảm thấy đói. Tất cả các tác dụng này làm giảm đường glucose, đồng thời làm sụt ký nhiều. Thuốc có nhiều loại như liraglutide, dulaglutide, semaglutide...Thuốc semaglutide có lẽ hiệu quả hơn cả và bán dưới tên Ozempic cho thuốc chích và Rybelsus cho thuốc uống. Ngoài ra loại GLP 1 này còn giúp cho bệnh nhân bị tim mạch và làm giảm tử vong.


                  Đặc điểm nhất là loại thuốc này làm bệnh nhân mất ký nhiều có thể hàng 30 pounds sau một thời gian dùng thuốc. Nên thuốc này rất tốt để trị cho những người mập bị tiểu đường và bị kèm thêm bệnh tim mạch.



                  Loại thuốc mới nhất vừa được chấp thuận cho bán trên thị trường là Tirzepatide bán dưới tên thương mại là Mounjaro. Thuốc này còn hiệu quả hơn Ozempic vì ngoài tính cách Glucagon- like peptide agonist lại còn có tác dụng gọi là glucose-dependent insulinotropic polypeptide viết tắt là GIP, hoạt động trên mô tế bào mỡ cũng như trên óc. Thuốc này trị tiểu đường và làm giảm ký nhiều hơn Ozempic, có thể mất đến 25% trọng lượng cơ thể cho những người mập.


                  Dĩ nhiên các thứ thuốc mới này rất mắc tiền, hơn một ngàn Mỹ Kim cho 4 doses thuốc chích cho một tháng. Và bảo hiểm dĩ nhiên không trả nếu chỉ dùng để chữa bệnh mập! Ngay cả chữa tiểu đường, cũng phải có bảo hiểm tốt lắm mới chịu trả tiền thuốc chích này. Người nghèo hay bảo hiểm xấu đều không thể dùng được các thứ thuốc mới và hiệu quả này để chữa bệnh của mình, Chỉ còn cách dùng những thuốc generic, rẻ tiền như đã nói ở phần trên.
                  #9
                    frank 11 giờ (permalink)
                    BỆNH CHÓNG MẶT THƯỜNG XUYÊN


                    HỎI:


                    Tôi năm nay 48 tuổi, khoảng 2 năm nay tôi hay bị chóng mặt thường xuyên. Nhiều khi chỉ trở mình khi nằm cũng thấy chóng mặt, cúi xuống lượm đồ cũng chóng mặt, ngước mặt nhìn lên cao cũng bị quay cuồng. Trước kia mỗi lần chóng mặt chỉ một lúc thì hết nhưng gần đây những cơn chóng mặt đến thường xuyên hơn và kéo dài lâu hơn.

                    Tôi lên xuống cầu thang không được vì chóng mặt muốn té và tối khi đi ngủ phải ngủ ngồi vì không nằm xuống được.Tôi đã đi khám bệnh và uống nhiều thứ thuốc, cả thuốc Tây lẫn thuốc Bắc mà không hết, càng ngày càng bị nặng hơn. Xin Bác Sĩ cho biết tại sao tôi bị bệnh chóng mặt thường xuyên như vậy và có cách nào chữa trị hiệu quả không?

                    Hoàng Thị T.H.


                    ĐÁP:


                    Bệnh của bà như tả trên gọi là bệnh chóng mặt do tư thế (benign paroxysmal positional vertigo). Đây là bệnh rất thường thấy, hay xảy ra nơi người đàn bà vào cỡ tuổi 40's, 50's tuy có thể nhỏ tuổi hơn hay già hơn cũng bị. Một thống kê cho thấy số người bị chứng này vào khoảng 107 trường hợp cho 100,000 người trong một năm. Đặc biệt phụ nữ Á Châu như Việt Nam rất hay bị, nhiều hơn đàn bà da trắng. Lý do có thể vì tính chất di truyền, tuy không rõ ràng.

                    Nguyên nhân của bệnh chóng mặt do tư thế này gần đây được hiểu biết là do những cục sạn nhỏ li ti chạy lên chạy xuống trong một bộ phận của tai trong gọi là posterior semicircular canal. Phần tai trong của cơ thể là cơ quan điều khiển sự thăng bằng của cơ thể, có hình thù giống như con ốc với những khoen bán nguyệt dính vào (labyrinth).

                    Sự luân chuyển của những nước dịch trong những khoen bán nguyệt semicircular canal truyền những tín hiệu theo dây thần kinh về não bộ, cho biết vị trí của cơ thể và điều khiển thăng bằng. Khi trong nước dịch gọi là endolymph này có những cục sạn li ti gọi là otoliths là những tinh thể calcium carbonate, chạy lên chạy xuống sẽ tạo ra những thay đổi về áp suất bất thưòng gây ra chóng mặt.

                    Lý do tại sao lại có những cục tinh thể này gây ra bệnh không được hiểu rõ nhưng có thể vì bị nhiễm trùng như cảm cúm, hay bị chấn động trong đầu, có thể làm những cục sạn này thay vì nằm một chỗ trong con ốc gọi là utriculus của tai trong, chạy lên chạy xuống theo vòng bán nguyệt posterior semicircular canal và gây ra bệnh.

                    Triệu chứng chóng mặt thường được tả như thấy chính mình đang quay cuồng hay thấy cảnh cảnh vật chung quanh quay vòng vòng. Bệnh nhân phải ôm đầu hay giữ yên không dám cử động vì càng cử động càng chóng mặt hơn. Nhiều người có thể sẽ bị ói mửa kèm theo. Nếu khám bệnh nhìn vào mắt sẽ thấy lòng đen của mắt đảo qua đảo lại gọi là nystagmus lúc đang lên cơn chóng mặt.

                    Những cơn chóng mặt này hay trở đi trở lại, có người bị chừng vài tuần nhưng cũng có bệnh nhân bị kéo dài cả vài năm.Thường cơn chóng mặt do tư thế xảy ra nên người bệnh có thể biết trước nếu làm một cử động bất chợt nào đó như ngoái cổ nhìn về một phía, hoặc cúi xuống làm việc quá lâu sẽ bị chóng mặt. Ngoài ra nhiều người sẽ bị chóng mặt xảy đến nếu bị cảm hay cúm, hoặc ăn phải đồ ăn không hợp hoặc có nhiều chất hóa học chẳng hạn.

                    Tóm lại có rất nhiều tác động để dẫn dắt đến cơn chóng mặt và nếu bị thường xuyên, bệnh nhân có thể biết trước được và tìm cách tránh né những tác động này. Cách chữa bệnh chóng mặt thường xuyên này nếu bị nhẹ và ngắn hạn có thể dùng thuốc như Meclizine, 12.5 hay 25 mg uống hai hay ba lần một ngày. Tuy nhiên thuốc có thể làm buồn ngủ, người lúc nào cũng mơ màng, đi không vững nếuuống nhiều quá.

                    Một cách khác mới được dùng nhiều hơn gần đây là dùng phương pháp tập quay đầu gọi là Epley maneuvers để cho những cục sạn li ti chạy lên chạy xuống gây ra chóng mặt nói ở phần trên đọng lại trong phòng vestibule của tai trong, không di chuyển nữa để tránh gây ra bệnh

                    Phương pháp Epley này tương đối giản dị: cho ngưòi bệnh nằm trên bàn, đầu ngửa ra sau khoảng 30 độ và quay nghiêng 45 độ về phía tay phải, giữ từ 30 đến 60 giây. Sau đó quay đầu từ từ để nghiêng về phía tay trái khoảng 90 độ. Giữ tư thế này từ 30 đến 60 giây. Sau đó quay cả đầu và người nằm trên vai trái cho đến khi đầu cúi nhìn hẳn xuống đất.

                    Giữ nguyên tư thế này trong 30 đến 60 giây. Sau đó đỡ ngồi dậy, đầu vẫn quay về phía vai trái. Khi ngồi lên hẳn rồi đầu phải cúi xuống một chút và giữ nguyên một lúc. Khi thực hành phuơng pháp quay đầu Epley này, các cục sạn nhỏ li ti trong posterior semicircular canal sẽ theo các vị thế của đầu từng giai đoạn nói trên rơi dần theo trọng lượng vào vestibule của tai trong labyrinth và sẽ nằm yên ở đây không di chuyển nữa.

                    Một số thống kê cho thấy tập quay đầu theo phương pháp Epley này sẽ làm giảm các cơn chóng mặt từ 80 đến 90% trường hợp. Tuy nhiên không phải là khỏi hẳn vì bệnh sẽ trở lại sau đó chừng 15% cho mỗi năm. Tuy nhiên lại thực hiện phương pháp quay đầu Epley này sẽ tiếp tục có hiệu quả tiếp.

                    Điều giản dị là người bệnh có thể tự chữa nếu thấy bị chóng mặt trở lại. Cách thức tự chữa này được cho lên trên Internet với hình ảnh chỉ dẫn đầy đủ. Địa chỉ của Youtube cho các bệnh nhân muốn biết và tự học phương pháp Epley này là:

                    https://youtu.be/9SLm76jQg3g


                    Về phòng ngừa bệnh chóng mặt do tư thế, người bệnh có thể uống thuốc Meclizine tuy nhiên thường không nên dùng quá lâu vì nhiều phản ứng phụ. Đặc biệt cho phụ nữ Việt Nam,một số người bị chứng chóng mặt thường xuyên này khi đi khám bệnh thấy có thiếu chất sắt, nhất là những người bị kinh nguyệt nhiều hay mất máu, hoặc những ngưòi ăn chay, kiêng khem ít ăn thịt nên ít chất sắt trong cơ thể.

                    Uống thuốc bổ có chất sắt đi kèm thêm những vitamins loại B khác như trong loại thuốc Hemocyte plus có thể giúp ích phần nào. Ngoài ra một loại vitamin khác là vitaminE, khi dùng chung với thuốc Hemocyte plus, uống khoảng 200 units một ngày, cũng giúp ích thêm, có thể vì đặc tính anti-oxidant của vitamin E. Một số ngưòi bệnh khi uống thuốc bổ có chất sắt, vitamins B và vitamin E kể trên đã thấy có hiệu quả giúp cho ngăn chặn chứng chóng mặt thường xuyên positional vertigo khá nhiều tuy chưa có chứng cớ xác thực rõ ràng.

                    Nhưng những thuốc bổ này dùng không có hại gì nên cũng là một phương cách nên dùng để phòng ngừa thêm bệnh chóng mặt thường xuyên đã làm khổ sở rất nhiều phụ nữ trong lứa tuổi 40's-50's.
                    #10
                      frank 11 giờ (permalink)


                      THUỐC NÀO TỐT NHẤT TRỊ BỆNH ÁP HUYẾT CAO?


                      HỎI:


                      Tôi năm nay 58 tuổi, gần đây tôi bị áp huyết cao và được cho uống thuốc Lisinopril để trị áp huyết. Tuy nhiên dù uống lượng thuốc 20 mg một ngày, áp huyết của tôi vẫn còn hơi cao ở mức 150/98. Khoảng hai tháng nay tôi lại bị chứng ho khan rất khó chịu, uống thuốc ho loại nào cũng không khỏi. Ông bạn tôi có nói cho tôi biết coi chừng ho là do uống thuốc áp huyết vì cũng đã bị y hệt như vậy, phải đổi thuốc khác mới khỏi.

                      Xin bác sĩ cho biết thuốc Lísinopril tôi uống có làm ho như thế không? Và nếu đổi thuốc nên dùng thuốc nào sẽ tốt nhất? Tôi ngoài bệnh cao áp huyết còn bị tiểu đường, ngoài ra tôi cũng lâu lâu hay đau ngực. Tôi hút thuốc lá ngày một bao, nhiều lần đã tính bỏ mà bỏ chưa được. Cả gia đình tôi đều bị những loại bệnh áp huyết và tiểu đường. Cha mẹ tôi đều chết vì đứt mạch máu não. Ông anh tôi ở Việt Nam mới sang Mỹ chưa đầy một năm đã phải đi mổ tim. Xin bác sĩ cho biết tôi cần phải làm gì để ngừa những bệnh này?

                      Trần Hoàng T.


                      ĐÁP:

                      Áp huyết cao là một trong những bệnh thông thường nhất. Tại Hoa Kỳ cứ 4 người sẽ có một người bị áp huyết cao. Bệnh này thấy nhiều hơn ở người lớn tuổi. Nhiều người hồi trẻ áp huyết bình thường nhưng khi về già sẽ bị áp huyết cao. Vì thế đo áp huyết thường xuyên là điều quan trọng cho những người lớn tuổi.

                      Lý do vì áp huyết cao là một trong những nguyên nhân chính gây ra rất nhiều những bệnh tai hại khác như đứt mạch máu đầu (stroke), nghẹt động mạch tim (heart attack), suy tim (heart failure), suy thận, cứng thành động mạch... Áp huyết bị cao càng lâu và càng cao nhiều sẽ dễ bị những bệnh biến chứng kể trên nên việc chữa trị áp huyết cao rất quan trọng, càng sớm càng tốt và giữ cho áp huyết xuống thấp trở lại bình thường là điều căn bản.

                      Rất nhiều người bệnh biết mình bị áp huyết cao và đi khám bệnh uống thuốc nhưng hoặc uống thuốc không đủ hay không đúng cách, hay dùng thuốc không hợp bị nhiều phản ứng phụ, lúc uống lúc không, nên áp huyết vẫn cao.Thực sự ngay tại Hoa Kỳ, chỉ có 54% người có bệnh áp huyết cao có đi chữa bệnh và uống thuốc. Số người uống đúng và dầy đủ thuốc để áp huyết trở lại bình thường còn ít hơn nữa, chỉ khoảng 28% số người bệnh được chữa đúng mức và có áp huyết hoàn toàn bình thường!

                      Trước hết, áp huyết cao được định nghĩa như có mức áp huyết cao hơn 140/90. Số đầu là mức áp suất đo bằng millimét thủy ngân khi tim bóp đẩy máu ra gọi là systolic, số sau là áp suất khi tim nở ra gọi là diastolic. Thực sự những hiểu biết gần đây cho thấy con số này vẫn còn ở mức cao nhiều. Áp huyết tốt nhất là ở mức dưới 120/80. Mức bình thường là dưới 130/85. Áp huyết trong khoảng từ 130/85 đến 140/90 được gọi là mức bình thường nhưng ở cấp cao (high normal).

                      Với áp huyết trên 140/90 là bị bệnh áp huyết cao và được chia làm 3 cấp. Từ 140/90 đến160/100 là cấp 1. Từ 160/100 đến 180/110 là cấp 2. Cao hơn mức 180/110 là cấp 3. Loại này nguy hiểm nhất. Thực sự người bị bệnh áp huyết cao ở cấp 2 cũng đã dễ bị nhiều bệnh biến chứng.

                      Một người khoảng 50 tuổi nếu có áp huyết cao như160/110 không chữa sau 5 năm sẽ có 5% triển vọng bị một biến chứng tai hại như đau tim hay đứt mạch máu đầu. Nếu người này có lượng cholesterol trong máu cao, mức nguy hiểm sẽ tăng lên gấp đôi và nếu còn hút thuốc lá sẽ tăng lên gấp ba lần!

                      Ngược lại nếu người bệnh trên uống thuốc trị liệu áp huyết, mức nguy hiểm sẽ giảm đi nhiều. Thí dụ như người bệnh 50 tuổi trên với áp huyết lúc đầu là 160/110. Chỉ cần uống thuốc giảm áp suất systolic xuống được 10 mm thủy ngân và giảm được áp suất diastolic xuống 5mm thủy ngân, tức là giảm từ 160/110 xuống 150/105 mức độ nguy hiểm về đứt mạch máu đầu stroke sẽ giảm được 40% và bị đau tim heart attack giảm đi 16%. Và nếu áp huyết người này trở lại bình thường 140/90, mức độ nguy hiểm sẽ còn xuống nhiều hơn nữa!

                      Thuốc trị áp huyết có nhiều loại. Đầu tiên và trước kia được dùng nhiều là loại lợi tiểu(diuretics) làm đi tiểu nhiều và hạ áp huyết như hydrochlorothiazide, chorthalidone...Loại thuốc này dùng lâu dễ sinh nhiều phản ứng phụ như làm chất potassium thấp trong máu làm yếu bắp thịt, tăng lượng uric acid dễ làm bệnh gout, dễ làm tăng lượng đường, làm tăng lượng mỡ trong máu, dễ gây bất lực v..v.. nên hiện nay ít được dùng hơn. Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân vẫn phải dùng thuốc lợi tiểu để trị áp huyết khi dùng những loại thuốc mới không có hiệu quả bằng! Hoặc dùng kèm theo với những loại thuốc hạ áp huyết khác.

                      Loại thuốc áp huyết kế tiếp gọi là beta-blockers như metoprolol, carvedilol, atenolol, propanolol ...Những loại này hạ áp huyết hiệu quả nhưng không nên dùng nếu bị bệnh suyễn vì làm tăng suyễn nhiều hơn. Thuốc này cũng làm tim đập chậm, hay làm mệt.Tuy nhiên những người bị bệnh đau tim, hay những người mới bị heart attack dùng thuốc loại này sẽ giúp ngăn chặn bị heart attack trở lại. Vì thế những người bị bệnh tim đi kèm với áp huyết cao nên dùng loại này.

                      Loại thuốc kế 2 loại trên là thuốc gọi là calcium-channel blockers như amlodipine, nifedipine, verapamil, diltiazem...rất có hiệu quả. Hơn nữa những loại này có tính chất ngừa bệnh đứt mạch máu đầu nên dùng cho những người lớn tuổi rất tốt, nhất là khi sợ bị stroke.Một số người bệnh dùng thuốc loại này hay bị sưng phù chân, tuy nhiên nếu phù cũng chỉ bị nhẹ, không cần chữa, chỉ cần để chân cao khi ngủ. Hoặc có thể uống kèm thêm thuốc lợi tiểu một vài ngày sẽ hết phù.

                      Loại thuốc khác gọi là angiotensin-converting enzyme inhibitors (viết tắt là ACE inhibitors) như thuốc enalapril), lisinopril, capoten...rất có hiệu quả, dùng tốt nhất nếu người bệnh bị thêm các bệnh như suy tim, bị heart attack trước, bị bệnh tiểu đường hay bị suy thận do mất chất đạm trong nước tiểu (proteinuria).

                      Thuốc này có đặc tính là dễ gây ra chứng ho khan, khoảng 20% người bệnh có thể bị phản ứng phụ làm ho này. Chứng ho khan do thuốc gây ra rất khó chữa, uống thuốc ho thường không khỏi và chỉ hết sau khi ngưng thuốc ACE inhibitors và đổi sang thuốc khác. Một số phản ứng phụ khác hiếm hơn là thuốc này làm sưng mặt gọi là angioedema, hay làm mất vị giác, nếm không thấy mùi vị gì.Tuy nhiên những phản ứng này hiếm thấy.

                      Loại thuốc mới hơn chữa áp huyết là thuốc angiotensin receptor antagonists như các loại losartan, telmisartan, candesartan, olmesartan ...Thuốc áp huyết loại này rất tốt, ít gây ra phản ứng phụ. Dùng thay thế loại ACEinhibitors khi thuốc này làm ho, cũng như dùng nếu người bệnh bị thêm tiểu đường, bị suy tim hay bị bệnh thận và mất chất đạm trong nước tiểu.

                      Một loại thuốc áp huyết khác tuy đã có lâu nhưng được dùng nhiều hơn khi người bệnh bị sưng nhiếp hộ tuyến sẽ làm dễ đi tiểu hơn gọi là loại thuốc alpha-blockers như oxazosin, Cardura...Thuốc loại này làm giảm áp huyết không nhiều lắm nhưng nếu ngưòi bệnh bị nhiếp hộ tuyến lớn sẽ giúp ích cả 2 đàng: vừa hạ áp huyết, vừa dễ đi tiểu. Thường dùng chung với những thuốc áp huyết khác.

                      Như vậy việc chữa trị áp huyết cao và dùng loại thuốc nào sẽ tuỳ vào từng người bệnh và tuỳ phản ứng của người bệnh đó khi dùng thuốc. Như trường hợp trong câu hỏi của bệnh nhân Trần Hoàng T., dùng Lisinopril là loại thuốc ACE inhibitors rất đúng vì bị thêm bệnh tiểu đường, dùng thuốc này để chữa áp huyết và giúp cho tiểu đường cũng như bảo vệ bệnh thận do tiểu đường gây ra.

                      Tuy nhiên thuốc này lại làm ho nhiều, sẽ nên đổi sang thuốc loại angiotensin-receptor antagonists như Losartan hay Telmisartan chẳng hạn, sẽ giúp hạ áp huyết, giúp tiểu đường và không làm ho. Tuy nhiên người bệnh trên dù uống Lisinopril lượng cao là 20 mg môt ngày vẫn chưa làm áp huyết xuống thấp hơn 140/90 sẽ cần dùng thêm thuốc khác phụ vào.

                      Vì chứng đau ngực có thể do nghẽn động mạch tim, loại thuốc calcium channel blockers nên được dùng như thuốc Amlodipine chẳng hạn, sẽ giúp hạ thêm áp huyết và ngừa bệnh tim heart attack. Ngoài ra, với bệnh trong gia đình hay bị stroke như cha mẹ đã bị, dùng Amlodipine có thể ngừa thêm bệnh stroke rất tốt.

                      Trường hợp một người bệnh khác nếu bị áp huyết cao, cộng thêm với chứng tim đập nhanh, hay bị run tay sẽ nên dùng thuốc tốt nhất là loại beta blockers như metoprolol hay atenolol chẳng hạn vì vừa chữa áp huyết vừa làm tim đập chậm lại, vừa chữa run tay. Tuy nhiên nếu người này bị suyễn sẽ không nên dùng vì có thể làm tăng suyễn.

                      Tóm lại với những thuốc áp huyết mới và nhiều hiệu quả hiện nay, bệnh áp huyết cao đã trở nên dễ chữa trị. Điều cần là dùng thuốc phù hợp cho tình trạng của mỗi người bệnh. Ngoài ra cần phải chữa trị những bệnh liên hệ hay đi kèm như tiểu đường, cholesterol cao, bệnh mập và thay đổi cách sống như ăn lạt hơn, ăn kiêng chất béo, xuống ký và bỏ thuốc lá.

                      Những người bệnh có nhiều yếu tố nguy hiểm như trường hợp trong câu hỏi đầu bài cần phải theo dõi cẩn thận và làm thử nghiệm để tìm và chữa trị ngay những bệnh nguy hiểm có thể đi kèm như nghẹt động mạch tim, suy tim, cứng thành động mạch.v.v.. để chữa trị sớm sủa và ngừa những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.
                      #11
                        frank 11 giờ (permalink)
                        UNG THƯ RUỘT GIÀ


                        HỎI:


                        Ba tôi mới khám bệnh và được cho biết bị ung thư ruột già. Xin bác sĩ cho biết ung thư ruột già có di truyền không? Tôi có thể bị bệnh này trong tương lai không? Cũng xin bác sĩ cho biết làm thế nào để ngừa bệnh này và nếu bị ung thư ruột già, có cách nào trị khỏi bệnh không?

                        Trần V. H.


                        ĐÁP:


                        Ung thư ruột già là một loại ung thư rất thường thấy, chỉ sau ung thư phổi về mức độ xảy ra. Thông thường, ung thư ruột già hay xảy ra ở người lớn tuổi, khoảng 50 trở lên, tuy người trẻ hơn vẫn có thể bị.

                        Bệnh ung thư này liên quan nhiều đến mức độ tân tiến của một quốc gia, những nước văn minh có khuynh hướng bị loại ung thư này nhiều hơn các nước chậm tiến. Người Việt sang Hoa Kỳ cũng đã thấy bắt đầu bị bệnh ung thư này nhiều hơn trước. Lý do chắc chắn hẳn không được rõ ràng, tuy nhiên một số khảo cứu cho thấy vấn để ăn uống giữ vai trò quan trọng về việc gây ra ung thu này.

                        Ăn nhiều chất béo, ăn thịt nhiều làm tăng mức độ bị ung thu ruột già. Những người bị bệnh tim do cholesterol cao, ăn thịt mỡ nhiều, cũng hay thấy bị ung thư ruột già nhiều hơn nguời khác. Ngoài ra ăn thiếu chất sợi fibers nhu đồ ăn của người Mỹ, cũng làm tăng mức độ bị ung thu ruột già, tuy điều này chưa đuợc chứng minh rõ ràng cho lắm.

                        Một giả thuyết khác nữa là đồ ăn thiếu chất vôi calcium cũng dễ gây ra ung thư ruột già hơn. Ngược lại, những nguời ăn đồ có nhiều chất calcium hay uống thêm calcium có thể làm giảm mức độ bị ung thư ruột già.

                        Câu hỏi của ông về vấn đề di truyền của bệnh này rất quan trọng. Khoảng 25% trường hợp có tính cách di truyền tuy không đuợc rõ rệt lắm. Một số nhỏ tính di truyền của ung thư ruột già này là do một bệnh về ruột gọi là polyposis coli. Những nguời bị bệnh ruột này có các cục buớu gọi là polyps đầy trong ruột, thường ruột già, đôi khi cả ruột non. Còn nhỏ không thấy, nhưng từ tuổi 25 trở đi, những nguời bị chứng này bắt đầu bị ung thu ruột già. Bệnh này hiếm thấy, nhưng khi biết có bệnh polyposis coli, thường phải giải phẫu cắt bỏ hết ruột già để ngừa ung thư xảy ra. Tính di truyền của bệnh này quan trọng ở chỗ nếu bố hoặc mẹ bị, 50% số con sẽ bị bệnh, vì thế phải theo dõi thường xuyên để giải phẫu sớm nếu phát hiện ra bệnh.

                        Phần lớn trường hợp di truyền của bệnh ung thư ruột già không đuợc xác định rõ, một số gia đình tuy không bị chứng polyposis coli nhưng cũng thấy bệnh ung thư ruột già xảy ra trong gia đình. Vì thế, khi một nguời trong gia đình bị ung thư ruột già, điều cẩn thận là đi khám nghiệm và theo dõi để ngừa trước.

                        Một nguyên nhân khác nữa gây ra ung thư ruột già là những người bị bệnh viêm ruột kinh niên gọi là inflammatory bowel disease, gồm hai loại chính là bệnh Crohn’s disease và bệnh loét ruột già gọi là ulcerative colitis.Tương đối người Việt Nam ít bị hai loại bệnh này nên nguyên nhân gây ra ung thư ruột già do viêm ruột này ở người Việt ít quan trọng.

                        Triệu chứng của bệnh ung thư ruột già tùy thuộc vào vị trí của ung thư nằm chỗ nào trong ruột, bên phải, bên trái hay gần hậu môn. Có thể hoàn toàn không có triệu chứng gì ngoài chuyện thấy mệt mỏi vì bị mất máu từ từ do ung thư làm lở và chảy máu. Vì thế người già bị thiếu máu, nhất là loại thiếu máu do mất chất sắt, phải đi tìm xem có bị ung thư ruột già gây ra thiếu máu hay không?

                        Ung thư ruột già nếu ở phía bên trái hay gây ra làm nghẹt, thấy bị bón, đau bụng. Nếu nằm gần hậu môn, phần trực tràng có thể làm đi cầu ra máu tươi. Vì thế dù đi cầu ra máu tươi phần lớn do bệnh trĩ, vẫn phải để ý và loại trừ bệnh ung thư ruột già khi đi cầu bị ra máu tươi.

                        Khi bị những triệu chứng kể trên, hoặc có những triệu chứng do ung thư đã lâu và lớn như có cục trong bụng, bị sút ký nhiều..v..v..., phải đi khám nghiệm ngay để tìm bệnh. Trong phần khám, điều quan trọng nhất là khám hậu môn.Một số lớn ung thư ruột già nằm ờ phần trực tràng gần với hậu môn nên khám hậu môn và trực tràng bằng ngón tay có thể sờ thấy ung thư.

                        Sau đó phải thử để xem trong phân có máu hay không bằng thử nghiệm gọi là hemoccult. Nếu có máu lẫn trong phân, tuy nhìn ngoài không thấy gì, khi thử bằng cách nhỏ thuốc vào phân thấy đổi màu xanh là có máu trong phân.

                        Một thử nghiệm mới hơn là thử về DNA của tế bào ruột già trong phân gọi là Cologuard. Tuy nhiên test này mắc tiền và tuy có hiệu quả 92% tìm ra ung thư nhưng cũng chỉ tìm ra khoảng 42% trường hợp có polyps lớn và có 13% dương tính sai, false positive, có nghĩa test nói có ung thư nhưng sự thật không có ung thư gì cả!

                        Khi thử thấy có máu trong phân hay có kết quả dương về DNA của tế bào ung thư ruột già bằng Cologuard sẽ phải làm thử nghiệm chính xác nhất để tìm ra ung thư ruột già bằng cách soi ruột colonoscopy. Cách thức chụp hình quang tuyến ruột gọi là barium enema bây giờ ít dùng và thay thế bằng colonoscopy

                        Soi ruột già có thể dùng ống soi ngắn, bẻ cong được gọi là flexible sigmoidoscopy soi lên được khoảng tới 40-60 cm phía trên. thường được làm ngay trong phòng mạch vì đa số ung thư ruột già xảy ra ở gần hậu môn. Muốn chắc chắn hơn phải soi toàn thể ruột già colonoscopy để thấy có chỗ nào nghi ngờ có thể cắt một miếng nhỏ gọi là biopsy để xem dưới kính hiển vi.

                        Ung thư ruột già hầu hết bắt nguồn từ một bướu nhỏ trong ruột gọi là adenomatous polyps, thường mọc cũng khá chậm trước khi thành ung thư hẳn, trung bình cỡ 5 năm. Vì thế nếu soi có thấy loại bướu này tuy không có ung thư cũng phải cắt bỏ và thường xuyên theo dõi để ngừa những bướu khác mọc thêm và biến thành ung thư. Những trường hợp này phải soi toàn thể ruột già và sau này cứ 5 năm làm lại một lần cho chắc chắn.

                        Trường hợp của bệnh nhân Trần V. H. có người cha bị ung thư ruột già , nếu cha mình bị ung thư ruột già lúc còn trẻ dưới 60 tuổi, vì xác suất di truyền cao, nên bệnh nhân Trần V. H. nên đi soi ruột sớm khi bắt đầu 40 tuổi và cứ 5 năm nên đi soi colonoscopy lại một lần để tìm ung thư. Nếu người cha bị ung thư ruột già lúc trên 60 tuổi, nên bắt đầu đi soi colonoscopy cho mình khi 50 tuổi và cứ 10 năm soi lại một lần.

                        Ung thư ruột già nếu tìm ra sớm, chưa chạy đi đâu, chỉ ở lớp màng nhầy phần ngoài, khi giải phẫu cắt bỏ có thể coi như khỏi tuy vẫn phải theo dõi thường xuyên vì khoảng 3 - 5% có thể bị ung thư ruột ở chỗ khác. Ung thư ruột già nếu lúc định bệnh và mổ đã xâm lấn qua lớp màng nhầy, mức tử vong sẽ cao hơn. Nếu ra ngoài bắp thịt của ruột, mức sống sót sau năm năm chỉ còn từ 70 -85%, nếu chạy tới các hạch chỉ khoảng 50% sống sót sau 5 năm. Ung thư ruột đã chạy khắp nơi, dù chữa trị cũng chỉ 5% trường hợp có hy vọng sống sót sau 5 năm.

                        Như vậy đủ thấy việc tìm ra bệnh sớm là điều quan trọng nhất, vì giải phẫu sớm lúc ung thư còn giới hạn mới hy vọng sống sót lâu được. Việc chữa trị như trên đã nói, là giải phẫu cắt bỏ. Những trường hợp ung thư ở trực tràng gần hậu môn, thường phải nối ruột cho phân chạy ra một lỗ ở ngoài da trên bụng sau khi mổ. Ung thư ở cao hơn thường vẫn giữ được hậu môn và chỉ cần nối ruột.

                        Những cách trị khác là chạy điện phóng xạ radiation therapy. Ung thư ở hậu môn sau khi mổ xong phải dùng thêm phương pháp chạy điện này để ngừa ung thư trở lại. Cách trị bằng hoá học trị liệu với chất 5-FU hiệu quả tương đối ít, dùng khi ung thư chạy khắp nơi hay trở lại. Một loại thuốc trị sán thường được dùng cho súc vật như loài cừu gọi là Levamisole gần đây được khám phá thấy rằng khi dùng chung với thuốc 5-FU và chạy điện có thể giúp ích nhiều hơn.

                        Tóm lại ung thư ruột già là một loại ung thư hay thường thấy. Người Việt sang Hoa Kỳ có thể dễ bị chứng bệnh ung thư này hơn hồi còn ở Việt Nam. Ăn giảm thịt mỡ, giảm cholesterol, ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc để tăng thêm chất sợi, thêm chất vôi calcium có thể giúp ích để ngừa phần nào. Một khuyến cáo gần đây năm 2015 của US Preventive Services Task Force là uống lượng nhỏ Aspirin 81 mg mỗi ngày có thể ngừa ung thư ruột già. Vì 25% trường hợp có thể có tính cách di truyền nên nếu có người trong gia đình bị, nên đi khám nghiệm để ngừa trước.

                        Những người trên 40 tuổi nên mỗi năm đi khám và làm thử nghiệm khám hậu môn và tìm máu trong phân hay DNA tế bào ung thư ruột trong phân Cologuard để tìm ra bệnh sớm để ngừa. Nếu có triệu chứng, cần phải soi ruột colonoscopy để tìm bệnh. Ung thư ruột già nếu tìm ra muộn hay không chữa sẽ gây ra chết nên vấn đề chính yếu vẫn là tìm bệnh sớm sủa để chữa cho có hiệu quả.
                        #12
                          frank 11 giờ (permalink)


                          SUY TIM


                          HỎI:



                          Tôi hay bị mệt và khó thở khoảng hơn hai năm nay. Gần đây chứng khó thở càng ngày càng nặng hơn. Tôi chỉ cần đi bộ một quãng đường đã thấy mệt và không thở được. Ở nhà tôi không leo nổi cầu thang lên tầng trên, ban đêm phải kê đầu lên hai chiếc gối mới thấy dễ thở và ngủ được. Cách đây mấy ngày, hai chân tôi thấy sưng phù lên. Xin bác sĩ cho biết bệnh tôi có phải là bệnh tim không và cách chữa trị ra sao?

                          Nguyễn Thị L. K.


                          ĐÁP:


                          Những triệu chứng bà tả trên nhiều phần là do chứng suy tim gây ra. Trái tim có nhiệm vụ bơm máu đi nuôi duỡng các mô và tế bào khắp thân thể nên nếu vì một lý do nào đó, hoạt động co bóp của tim không đủ để cung ứng nhu cầu biến dưỡng của cơ thể, sẽ gây ra chứng suy tim. Như vậy suy tim là một hợp chứng và do rất nhiều thứ bệnh có thể gây ra. Điều quan trọng là nhận biết về những triệu chứng nào do suy tim và tìm nguyên nhân gây ra để chữa trị cho có hiệu quả.

                          Suy tim có thể xảy ra một cách nhanh chóng, cấp kỳ, thí dụ như bị nghẽn động mạch tim làm chết một phần bắp thịt tim và làm bể van tim, hoặc trường hợp bị nhiễm trùng tim nặng làm suy tim cấp tính. Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp khác, suy tim xảy ra từ từ trong khoảng thời gian từ vài tháng đến vài năm và có thể do những bệnh kinh niên của chính trái tim hay những bệnh khác ảnh hưởng trên tim gây ra.

                          Trước hết, suy tim gây ra những triệu chứng nào để có thể nhận biết là bị suy tim? Thường xảy ra và quan trọng nhất là chứng khó thở. Khó thở xảy ra khi sức co bóp của tim yếu, làm ứ đọng máu phía bên phổi và tăng áp suất của các vi quản mạch máu phổi. Do đó người bệnh phải cố gắng thở nhiều hơn khi làm việc gì và gây ra cảm giác khó thở.

                          Ngoài ra nếu bị suy tim nặng, nước có thể từ mạch máu tràn vào phổi làm phù phổi (pulmonary edema), làm càng khó thở hơn. Nếu mức phù phổi quá cao, người bệnh có thể chết vì ngập nước trong phổi này.Thường những thay đổi này xảy ra dần dần, người bệnh lúc đầu thấy hơi khó thở khi làm việc gì nặng nhọc. Sau đó, đi bộ một quãng xa sẽ làm khó thở. Mức độ tăng dần, chỉ cần đi một quãng ngắn hay leo cầu thang cũng thấy khó thở. Đến mức độ nặng hơn nữa, không làm gì cũng thấy khó thở, nhất là khi nằm xuống.

                          Lý do vì khi nằm, lượng máu trở về tim nhiều hơn và làm tăng mức áp suất của vi quản mạch máu phổi, ngoài ra, khi nằm hoành cách mô (diaphragm) là bắp thịt dưới lồng ngực giúp ta thở bị đẩy lên trên nên làm dung tích phổi nhỏ hơn. Các yếu tố này khi suy tim sẽ làm bệnh nhân thở khó khi nằm (orthopnea). Vì thế, người bệnh thường phải nằm đầu cao, dùng 2,3 gối mới thấy dễ thở và ngủ được. Khi bị suy tim nặng hơn nữa, nhiều khi không thể nằm mà phải ngủ ngồi.

                          Một triệu chứng khác khi suy tim nặng có thể xảy ra là lúc đang ngủ chợt tỉnh dậy khò khè như bị nghẹt thở hẳn, làm ho và lăn lộn một lúc mới đỡ (paroxysmal nocturnal dyspnea). Giai đoạn này thường sau đó đến mức nặng hơn là phù phổi, làm ho ra nước có bọt và máu hồng, nếu không chữa kịp sẽ chết vì nước ứ trong phổi này.

                          Triệu chứng khác nữa là phù chân. Lý do là khi tim co bóp yếu, máu bị ứ đọng phía tim phải, làm hệ thống tĩnh mạch bị ngưng trệ và nước sẽ thoát ra ngoài giữa các tế bào, gây ra phù. Khi bị suy tim nặng, gan sẽ sưng lớn và đến giai đoạn chót, người bệnh có thể vàng da vàng mắt. Nếu không chữa trị, suy tim sẽ gây ra chết do phù nước trong phổi (pulmonary edema) như đã nói ở trên, hoặc trong 30% - 40% trường hợp, người bệnh sẽ chết bất thình lình vì tâm thất đập sai nhịp (ventricular arrythmia).

                          Nguyên nhân gây ra suy tim có rất nhiều bệnh khác nhau. Tại Hoa Kỳ, khoảng từ 50% đến 70% trường hợp là do bệnh nghẽn động mạch tim (ischemic heart disease). Bệnh này làm chết một phần các bắp thịt tim nên sẽ làm suy yếu tâm thất và gây ra suy tim.

                          Những nguyên nhân còn lại là các bệnh gây ra trương tim (dilated cardiomyopathy) như bị sưng bắp thịt tim do cực vi trùng, uống rượu nhiều quá ảnh hưởng làm lớn tim, thiếu sinh tố B1 (beri-beri), bệnh này giờ ít thấy; bệnh lớn tim do di truyền(hypertrophic cardiomyopathy), bệnh này hay gây ra chết bất thình lình do nhịp tim rối loạn nơi những người chơi thể thao mạnh như football.

                          Ngoài ra đặc biệt một số phụ nữ mang thai trong tam cá nguyệt cuối hay sau khi sinh con xong có thể bị bệnh nở lớn tim (peripartum cardiomyopathy), làm suy tim. Số người bị bệnh này không phải ít vì cứ 10,000 trường hợp mang thai có thể có 1 người bị suy tim loại này.Tuy nửa số trường hợp sẽ tự khỏi, nửa số còn lại sẽ bị suy tim một ngày một nặng hơn. Nếu đã bị suy tim sau khi sinh này, lại còn có bầu tiếp sẽ làm bệnh trầm trọng hơn nhiều và phải chấm dứt thai kỳ sớm nếu không muốn bệnh nặng hơn và có thể gây ra chết.

                          Những nguyên nhân gây ra suy tim khác là những bệnh về van tim, bệnh tim bẩm sinh và sau cùng là suy tim do bệnh áp huyết cao không chịu chữa trị sớm. Tại Hoa Kỳ, những nguyên nhân gây ra suy tim này tương đối ít vì phần lớn các bệnh van tim hay tim bẩm sinh đều được chữa trị từ nhỏ nên suy tim do các bệnh này ít hơn.

                          Ngoài ra, tại Hoa Kỳ tương đối bệnh áp huyết cao đều được nhận biết sớm và chữa trị ngay nên biến chứng suy tim do áp huyết cao giờ đây ít thấy hơn. Đối với người Việt sinh sống tại đây, thứ tự quan trọng của những nguyên nhân bệnh gây ra chứng suy tim có lẽ khác với người Hoa Kỳ. Mặc dù số người Việt bị bệnh nghẽn động mạch tim một ngày một thấy nhiều, tỷ lệ này ở người Việt vẫn ít hơn.

                          Gây ra suy tim ở người Việt quan trọng hơn cả là những bệnh về van tim. Lý do vì phần lớn những bệnh van tim này là do bệnh sốt thấp khớp hồi nhỏ gây ra (rheumatic fever). Bệnh sốt thấp khớp xảy ra rất nhiều ở Việt Nam. Bệnh này là hậu quả của nhiễm trùng cổ họng do vi trùng Streptococcus, không được chữa trị như phần lớn trẻ em tại Việt Nam, gây ra sốt thấp khớp và tấn công các van tim.

                          Sau một thời gian, sốt thấp khớp sẽ để lại biến chứng tai hại là bệnh van tim sau 10, 20 năm, hay cả hàng 30 năm sau. Những bệnh về van tim này gồm bệnh nghẹt van hình chóp (mitral stenosis), hở van hình chóp (mitral insufficiency), hở van đại động mạch (aortic insufficiency), lâu ngày sẽ bị nghẹt hoặc hở van một ngày một nhiều và sau cùng gây ra suy tim.

                          Ngoài ra người Việt sang đây thường hay thấy bị suy tim do chứng bệnh tim bẩm sinh. Ngược lại với Hoa Kỳ, bệnh tim bẩm sinh thường đưọc định bệnh sớm từ nhỏ và giải phẫu ngay, người Việt bị bệnh tim bẩm sinh sang đến Hoa Kỳ mới được khám phá ra nên nhiều người đã bị nặng và suy tim.

                          Những bệnh hay thấy là lỗ hở vách ngăn tâm nhĩ (atrial septal defect), hở vách ngăn tâm thất (ventricular septa ldefect), ống thông động-tĩnh mạch không được đóng kín (patent ductus arteriosus), nghẹt đại động mạch (coarctation of aorta). Những bệnh này để lâu không được giải phẫu sẽ đưa đến suy tim khi bệnh nhân trưởng thành.

                          Như vậy với những triệu chứng như khó thở, ngồi lên mới thở dễ được, đi lại nhiều hay leo thang gác không được vì khó thở và phù chân như trường hợp bệnh nhân Nguyễn Thị L. K. trong câu hỏi trên, cần phải đi khám và làm thử nghiệm để định bệnh suy tim.

                          Thường khám bệnh nghe tim sẽ thấy tim lớn ra, có những tiếng thổi trong tim (murmur), tùy theo ở thời kỳ co dãn của tim ( systolic & diastolic) sẽ chẩn đoán được bị suy tim và có thể bị bệnh van tim loại gì. Đo tâm điện kế (EKG) và chụp hình sẽ thấy được tim lớn.

                          Tuy nhiên thử nghiệm quan trọng nhất là siêu âm tim (echocardiography). Siêu âm tim sẽ cho biết tâm thất hay tâm nhĩ nào lớn, dung tích và bề dầy của các buồng tim, định được chính xác bệnh van tim thuộc loại gì hay có bị bệnh tim bẩm sinh thuộc loại nào.

                          Ngoài ra, siêu âm sẽ giúp đo mức tỷ số bơm của tim gọi là ejection fraction. Tỷ số này là phần trăm của dung tích máu bơm ra của tâm thất trái chia cho lượng máu nằm trong tâm thất, xác định mức làm việc của tim. Nếu tỷ số này thấp hơn 40%, có thể xác định được là người bệnh bị suy tim.

                          Việc chữa trị suy tim quan trọng nhất là chữa nguyên nhân, như giải phẫu thay van tim nếu bị hở van, đóng lại lỗ hở giữa hai tâm nhĩ hay tâm thất, thông tim hay ghép mạch máu tim nếu bị bệnh nghẽn động mạch tim... Tuy nhiên nếu không giải phẫu được, sẽ phải dùng thuốc để chữa bệnh suy tim.

                          Thuốc quan trọng để chữa suy tim theo những hiểu biết mới nhất hiện nay là loại thuốcgọi là ACE inhibitor (angiotensin converting enzyme). Thuốc này cũng dùng để chữa áp huyết cao như loại enalapril hay Vasotec, Captopril, lisinopril hay Zestril...nên những người vừa bị áp huyết cao vừa suy tim phải dùng thuốc loại này.

                          Lý do là hệ thống renin - angiotensin của thận bị kích thích nhiều khi suy tim nên những thuốc trên làm ngăn chặn phân hóa tố sản xuất ra angiotensin sẽ làm những tiến triển của suy tim ngưng lại và kéo dài được đời sống cho bệnh nhân. Khi dùng thuốc này phải dùng từ lượng nhỏ tăng lên dần dần và phải theo dõi cẩn thận.

                          Loại thuốc kế tiếp phải dùng cho suy tim là thuốc lợi tiểu (diuretics). Thuốc này sẽ làm giảm phù và làm giảm lượng nước nhờ tác dụng trên thận làm đi tiểu nhiều nên làm giảm những triệu chứng khó thở, phù chân...Hai loại chính của thuốc lợi tiểu là loại thiazides và loại furosemide (Lasix). Dùng thuốc lợi tiểu phải coi chừng về mất chất potassium nên thường sẽ phải uống thêm chất potassium để bồi bổ lại.

                          Theo những khám phá mới hiện nay, một loại thuốc khác có thể giúp ích nhiều cho suy tim là loại thuốc beta-blockers như atenolol, metoprolol...Những thuốc này trưóc kia cấm dùng vì cho rằng làm suy tim thêm. Nhưng hiện nay những hiểu biết mới cho thấy hệ thống giao cảm (sympathetic) của cơ thể bị kích thích do suy tim nên dùng những thuốc chống hệ thống này như kể trên sẽ giúp ngăn chặn sự phát triển của suy tim. Dùng thuốc này cũng phải rất cẩn thận và phải từ từ dùng từ lượng nhỏ lên rất chậm và theo dõi cẩn thận.

                          Thuốc loại digitalis như Digoxin trước kia là thuốc chính để chữa suy tim nay không còn được coi trọng bằng các loại thuốc vừa kể trên. Tuy nhiên Digoxin cũng tiếp tục được dùng để chữa suy tim, nhất là khi tim lớn nhiều. Loại thuốc làm dãn nở mạch máu gọi là vasodilators như Hydralazine, nitrates cũng được dùng để chữa suy tim, tuy không hiệu quả nhiều bằng loại ACE inhibitor như đã nói trên.

                          Ngoài ra, khi bị suy tim nặng, người bệnh thường phải kiêng ăn mặn, để tránh phù lên nhiều và làm suy tim thêm. Mức muối ăn mỗi ngày chỉ đưọc ở khoảng 2 grams. Hơn nữa, người bệnh phải cân mỗi ngày để xem có lên ký nhiều, tức là bị phù thêm hay không?Theo dõi mức cân mỗi ngày sẽ giúp cho việc chữa trị bệnh suy tim hiệu quả hơn vì nhờ thế sẽ biết để cần tăng giảm thuốc như thế nào.

                          Như vậy bệnh suy tim trong những năm gần đây đã chữa được với khá nhiều hiệu quả hơn trước cho những trường hợp không thể giải phẫu và phải dùng thuốc để ngăn chặn bệnh phát triển. Tuy nhiên, dù đã tăng đời sống và làm người bệnh khỏe khoắn hơn, các thuốc này cũng chỉ để cầm chừng và đến giai đoạn chót, khi suy tim phát triển thêm và thuốc không ngăn được, phương pháp cuối là thay tim (cardiac transplantation) bằng tim người mới chết.

                          Gần đây nhất, tim nhân tạo đã được dùng trên vài người bệnh với nhiều hiệu quả, có thể dùng trong một thời gian khá dài để những người bệnh suy tim ở giai đoạn chót này chờ đợi đến phiên được thay tim bằng tim người chết. Tuy khan hiếm và phải chờ lâu, thay tim hiện nay đã kéo dài đời sống cho bệnh nhân rất nhiều. Sau 5 năm, số người được may mắn thay tim và sống bình thường lên tới 75-80%, nên nếu được thay tim trước khi quá nặng bị chết, đây là hy vọng cuối cùng cho những bệnh nhân suy tim đến giai đoạn cuối này.
                          #13
                            Chuyển nhanh đến:

                            Thống kê hiện tại

                            Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
                            Kiểu:
                            2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9