CHƯƠNG II
Tôi lại thiếu tiền nhà. Tôi nghĩ bà Jekes đã yêu cầu tôi dọn đi, nếu bà đã tìm được người thuê nhà khác; nhưng chẳng ma dại nào thèm mướn căn phòng tôi đang ở, đồ đạc gẫy nát, trần nhà bụi bặm lớp lớp bám đầy như thời gian. Mặc dầu căn phòng tồi tàn như vậy, hễ tôi nhắc tới chuyện hơi sưởi là bà lại tỏ vẻ bực bội. «Đây không phải là khách sạn, bà nói, với cái giá rẻ mạt cậu trả, tôi làm gì nổi». Giọng quyết liệt, bà nói tiếp: «Thế bao giờ cậu mới tính trả tiền tôi đây.»
Tôi vốn sợ gặp bà ta. Bà đứng sững trước mặt tôi, miệng mím chặt, đôi bàn tay mỏng chắp trước bụng và cái nhìn của đôi mắt làm như bà nhìn thấu tâm can tôi, xoáy vào tương lai và thấy nó cũng vô vọng như quá khứ. Quý vị có thể ngạc nhiên hỏi sao tôi không dọn quách đi nơi khác, nhưng sự thực là tôi không có chỗ nào khác để đi. Những căn gác xép mướn giá rẻ rất khó kiếm; và ngoài ra hầu như lúc nào tôi cũng chậm trả tiền nhà, và trong những ngày ấy tôi chán nản nghĩ rằng đi đâu cũng vậy thôi nên đành ở lại.
Vào thời ấy khủng hoảng xảy ra khắp nơi. Những mối hận thù đụng độ, ác liệt ngay trên đỉnh đầu chúng ta, như những trận giao tranh trên thiên giới giữa các đẳng thiên thần và loài ác quỷ hồi mới khai thiên lập địa. Thế giới của họa sĩ là thế giới nào nhỉ! Blake, Goya, những tay danh họa, có thế giới riêng của họ. Còn tôi thì không. Tỏi không phải là người này, mà cũng không là người nọ, không thần bí mà cũng không cách mạng; đối với người trước, trong tôi còn quá nhiều ảnh hưởng của người cha gốc miền Trung Tây (1), và đối với người sau thì còn ảnh hưởng của bà ngoại gốc miền Tân Anh Cát Lợi (2). Ấy thế mà vòm trời của họ lại đã sáng láng niềm tin.
Tôi nghĩ rằng bà Jekes đä cảm phục những bức họa của tôi, mặc dầu bà chưa hề nói lên điều ấy. Bà thường đứng ngắm, môi mím chặt, vòng tay khoanh lại; đã có lần bà nhận một bức sơ họa một tỉnh lị bên dòng sông Pamer ở Truro để trừ một tuần tiền nhà. Bây giờ thì đắt hơn nhiều, tôi đoán vậy, nhưng tôi không biết bà ta có biết thế không. Tôi cũng không biết bà ta tìm thấy gì trong đó — một kỷ niệm nào đó, có lẽ, của những ngày nhiều nắng. Trong đó, tôi cố miêu tả vẻ cô tịch của mùa hạ, vẻ thanh bình của dòng sông trôi, vẻ lặng lờ của những chiếc thuyền len lỏi trong những khóm cỏ nước. Có thể bà ta nhận ra điều đó — hay mang máng nhận thấy; tôi không được rõ.
Bà không thèm lưu ý tới những bức tranh tôi vẽ thành phố. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy những bức tranh này nhắc cho bà ta câu chuyện cũ rích - quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có cái thành phố trong đó bà sa lầy như con ruồi sa phải đĩa mật. Bà ta để ý đến vòm trời hanh lạnh trên dòng sông, hay ngọn núi xanh đằng sau những con đường lộng gió, có bóng cây, làm gì. Chúng quen thuộc đối với bà ta quá rồi; suốt đời bà phải sống với chúng.
Nhưng tôi thấy tràn đầy hy vọng; hy vọng đủ ba ngày. Sau đó tôi lại nhận ra rằng kể cả tranh vẽ thành phố cũng chẳng bán được.
Vào ngày thứ tư buổi xế chiều, một khúc rẽ quan trọng đã đến. Chính lúc đó thì tôi không nghĩ là khúc quanh; đối với tôi chỉ là một chút may mắn, không hơn không kém.
Lúc đó tôi đang trên đường về, nặng nề lê gót qua đường phố, xấp tranh cồng kềnh dưới nách, tôi chợt thấy mình đứng trước phòng triển lãm hội họa Mathews. Tôi chưa đặt chân vào đó lần nào. Đây là một phòng tranh nhỏ hồi ấy nằm trên một phố nhánh thông ra Đại lộ số Sáu. Bữa đó đang có cuộc trưng bày tác phẩm của một họa sĩ trẻ tuổi — phần lớn vẽ chân dung và hoa; và vì đôi chút tò mò tôi bước vào. Tôi đang nhớn nhác nhìn quanh thì ông Mathews tiến lại phía tôi, ông hỏi tôi cần gì.
Bây giờ thì tôi quen với ông Henry Mathews, tôi biết tường tận về ông. Thực vậy, chính ông đã bán bức
Người thiếu nữ áo đen của tôi cho viện Bảo tàng Metropolitan cách đây sáu năm. Tôi biết ông vừa hiền lành vừa nhút nhát; đương nhiên là ông bực mình khi thấy tôi tiến vào, vì ông biết ngay tôi không phải là khách mua tranh. Lúc đó khá muộn rồi, ông muốn đóng cửa hàng, nên ông cần phải tống khứ tôi ngay. Cô Spinney quản lý gian hàng thay ông hồi đó, chính cô ta cũng về rồi, nếu không ông đã phái cô ta ra để tiếp chuyện tôi. Cô mới là tay thành thạo khi giao tiếp với họa sĩ muốn bán hàng cho ông.
Ông từ phòng giấy nhỏ bé, ở cuối gian triển lãm bước ra, gượng gạo mỉm cười. «Dạ thưa ông,» ông lên tiếng. «Chúng tôi có thể làm gì hầu ông đây?»
Tôi đưa mắt nhìn ông, rồi lại đưa mắt nhìn xấp tranh kẹp dưới nách. Việc gì mà phải ngượng ngập. Tôi đáp: «Tôi không biết ông có thể mua giùm tôi một bức tranh nào không?»
Ông Mathews đưa tay lên che miệng khẽ ho. «Tranh phong cảnh à» ông hỏi.
« Dạ vâng,» tôi đáp, «phần lớn là phong cảnh.»
Ông Mathews lại hắng giọng; tôi biết ông muốn bảo tôi rằng, Anh bạn trẻ ơi, không ăn giải gì rồi. Nhưng ông không đủ can đảm nói thẳng; vì ông vốn sợ nhìn thấy đôi mắt người khác khi bị ông khước từ. Nếu cô Spinney chưa về cô ta đã vắn tắt bảo tôi đi làm ăn nơi khác.
«Vậy à,» giọng ngờ vực ông nói. «Tôi không rõ nữa. Đương nhiên là ở đày chúng tôi mua ít lắm... hầu như chẳng mua gì.. nhất là thời thế này.. Nhưng dầu sao cậu cũng để tôi xem qua một chút. Phong cảnh ! Hừm,.. dở quả.»
Tôi cởi dây buộc xấp tranh ra, và dàn lên mặt bàn. Tôi chẳng hy vọng gì, nhưng dầu sao có dịp trình bày tác phẩm của mình, cũng là đáng kể rồi. Không khí trong phòng triển lãm ấm áp, trong khi đó tôi vừa rét vừa mệt. «Đây là mấy bức tranh nhìn từ đỉnh Cape Cod xuống.» Tôi nói. «Đây là mấy chỗ đánh cá ở vịnh Bắc Truro. Đây là mỏm Cornhill. Còn đây là ngôi thánh đường ở Mashpee.»
«Toàn phong cảnh,» ông Mathews buồn bã nói.
Tất cả sự mệt nhọc, sự đói lạnh, sự chờ đợi lâu dài và niềm tuyệt vọng trào lên chặn lấy cổ họng tôi, và tôi lặng đi không nói được hồi lâu. Tôi muốn vơ lấy những bức tranh của mình rồi bỏ đi. Thay vì làm như vậy tôi lại lải nhải «Đây có vài bức phác họa cảnh thành phố. Đây là cây cầu — »
«Cầu nào?»
« Cầu mới,» tôi đáp.
Ông Mathews thở dài. «Tôi ngán nó muốn chết. » Ông nói.
«Và đây là phong cảnh công viên hướng Nam... »
«Khả trợ hơn.» Ông Mathews nói giọng chán nản. Ông ráng làm bộ không thất vọng nhưng tôi biết là ông không sung sướng gì. Dường như ông đang cố tìm xem phải nói với tôi điều gì. Không sao, tôi tự nghĩ. Có gì đâu sao ông không nói thẳng ra. Cứ việc đuổi tôi ra, ông không ưa nổi bức nào cả.
«Đây là khu hồ có đàn vịt được chăn nuôi...»
Bỗng đôi mắt ông ánh lên, ông với tay vồ lấy xấp tranh. «Đây rồi,» ông kêu lớn tiếng, «tranh gì đây?»
Đến lượt tôi, tôi tò mò nhìn bức tranh trên tay ông. «Sao vậy» giọng ngớ ngẩn tôi nói, «có gì đâu — đây là vài nét phác họa — đây chỉ là đứa con gái bé nhỏ tôi gặp trong công viên. Một kỷ niệm mà tôi ráng ghi lại bằng trí nhớ... Tôi không biết là mình đã mang nó theo.»
«A,» ông Mathews nói một cách vui vẻ. «Thế mà bức này mới thật là khác hẳn. Khá, khá lắm, cậu có biết vì sao tôi lại thích bức này không? Tôi tìm thấy quá khứ trong đó đấy. Thực vậy — thưa cậu, tôi nhớ trước đây đã có lần nhìn thấy con nhỏ này, ở đâu đó, tôi thật không nhớ nổi là ở đâu nữa.»
Ông ta giơ bức tranh ra trước mặt; rồi ông dựng vào chân tường, lùi lại ngắm rồi lại tiến lên. Ông có vẻ vui hẳn lên; tôi có ý nghĩ là ông sung sướng vì không phải mời tôi ra mà chẳng mua gì. Tim tôi bắt đầu đập, hai bàn tay tôi run lên.
«Đúng,» ông nói, «có một điểm nào đó nơi đứa trẻ nhắc tôi nhớ đến một chuyện gì lạ. Đây có phải đứa trẻ của Brush vẽ treo ở viện Bảo tàng không nhỉ?»
Tôi thở dồn dập; trong một lúc tôi như thấy lại tính chất mơ màng của buổi đi đạo trong sương mờ bên Jennie trong công viên. «Đây không phải là một bản sao» ông vội giải thích. «Cũng không phải đứa trẻ ấy; bút pháp thì chắc chắn là của cậu rồi. Có điều là bức nọ làm tôi liên tưởng đến bức kia.»
Ông nhanh nhẹn đứng thẳng người lên. «Để tôi mua bức này,» ông nói. Nhưng ngay sau đó mắt ông sa xuống, và tôi có thể thấy ngay ông băn khoăn vì không biết nên trả tôi bao nhiêu. Tôi cũng biết là bức họa chẳng đáng là bao, vài nét sơ sài theo lối vẽ thủy mạc... Nếu ông trả tôi theo đúng giá trị của nó, chắc không đủ để ăn một bữa kha khá. Bây giờ nhớ lại truyện ấy, tôi chắc là ông cũng nghĩ như tôi.
«Này anh bạn trẻ,» ông hỏi, «tên anh là gì nhỉ?»
Tôi khai tên.
«Được, anh Adams, tôi nói sao thì làm vậy. Tôi lấy đứa con gái — và cảnh công viên — và trả anh 25 mỹ kim cả hai bức đó.»
Lần này thì tay tôi run bắn lên. 25 mỹ kim... Số tiền lớn lắm đối với tôi hồi ấy. Nhưng tôi không muốn tỏ ra sốt sắng quá. Mình có thiệt thòi gì đâu trong lúc cố gắng lừa phỉnh một người đã nhìn rõ tâm can mình rồi.
«Dạ vâng,» tôi đáp, «ông tính thế là được rồi.»
Trước khi ông trở lại bàn giấy lấy tiền trả tôi, ông rút một tập giấy nhỏ trong túi ra và viết lên đó mấy chữ. Tôi liếc mắt đọc vì ông để xấp giấy ngửa trên mặt bàn. Tập giấy có lẽ là sổ xuất nhập của phòng tranh, vì nó có hai cột số, một bên ghi Bán, một bên ghi Chi. Dưới chữ Bán ông ghi: 1 tranh khắc, cảnh sông nước, của Marin, ấn bản kỳ hai, $35; một ấn phẩm màu, hoa xanh, của Cezanne, $7.50; một thạch bản, Công viên, của Sawyer, khung bằng gỗ lê, $45.
Dưới cột Chi ông viết:
Cơm trưa, có la-de - $0. 80
Xì-gà .10
Chải mũ .10
Xe buýt (đi, về) .20
Tem thư .39
Họa sĩ Spinney 5.00
Phù hiệu đeo trên mũ
của hội cựu chiến binh .10
2 tranh mầu, Adams 15.00
Lòng tôi se lại mất một lúc, vì tôi nghĩ là ông ta bảo 25 mỹ kim. Nhưng trước khi tôi có đủ thời giờ để lại đau xót thêm nữa thì ông ta đã trở lại với số tiền đầy đủ, hai tấm giấy 10 đồng và một tờ 5 đồng. Tôi ấp úng cảm ơn nhưng ông gạt đi. «Không phải cám ơn,» ông nói «biết đâu rồi ra tôi lại chẳng phải cảm ơn cậu đấy.»
Ông e dè mỉm cười. «Điều buồn chán là,» ông nói, «không ai vẽ lại buổi đương thời. Không ai vẽ lại thời đại mà chúng ta đang sống».
Tôi lầu bầu nhắc đến tên Penton và John Steuart Curry. «Không phải,» ông nói, «chúng ta không thể khám phá nổi cái sắc thái của thời đại bằng cách ngắm nhìn một bức tranh phong cảnh.»
Tôi bắt giựt mình khi nghe tiếng ông ho có vẻ không tán thành. «Để tôi nói cho cậu nghe, cậu Adams à,» ông nói. «Để tôi cho cậu vài lời khuyên. Thế giới này thiếu gì phong cảnh; ngày nào tôi cũng nhận được hàng lố. Cậu về vẽ cho tôi bức chân dung đứa con gái nhỏ ở Công viên đi. Tôi sẽ mua tranh đó. Bao nhiêu tranh loại đó tôi cũng mua hết. Đừng thèm để ý đến những cây cầu; thế giới đầy dẫy những cầu. Ráng vẽ một bức chân dung thật vĩ đại, và tôi sẽ làm cho cậu trở thành nổi tiếng.»
Vỗ lên vai tôi một cách dụt dè, ông tiễn tôi vào khí lạnh mùa đông, xanh xanh dưới bóng hoàng hôn. Nhưng tôi không còn biết trời đang mùa đông hay là mùa gì. Hai-mươi-lăm mỹ kim...
Mãi đến sau này tôi mới tìm ra ý nghĩa của con số 15 ghi trong cột Chi. Đó là thực giá theo ông, ông sợ sáng hôm sau cô Spinney sẽ cằn nhằn ông. Ông đã có ý trả số sai biệt bằng riêng tiền túi của ông.
(1) Miền Trung Tây (Middle-West) : miền đồng cỏ, nơi hoạt động của những tay anh hùng hảo hớn; lưng ngựa, tay súng; dân chúng thực tế tháo vát.
(2) Miền Tân Anh Cát Lợi (New England) : nơi tồn tại những truyền thống lâu đời. Dân chúng bảo thủ.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 3 giờ bởi huytran >