Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 48 bài trong đề mục
Tác giả Bài
Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 00:57:37
TÁC PHẨM ĐĂNG TRONG NGUYỆT SAN THÁNH NHẠC NGÀY NAY
TIỂU THUYẾT CÔNG GIÁO
QUỶ XƯNG TỘI
MA VĂN LIÊU
 
                    Kỳ 1
 
Chiếc trẹt nhỏ (1) cập bờ nhả ra vỏn vẹn ba người khách qua sông. Mưa suốt.
Tôi bước lên bờ dốc trơn trượt đất nhão. Lạ lẫm nhìn khắp một lượt. Đến bên chiếc xe lôi đạp gần nhất nằm đơn độc dưới tán lá xoài u tối bởi con mưa chiều.
Người đạp xe lôi đội chiếc nón rơm cũ sùm sụp che gần hết gương mặt, lên tiếng:
- Đi xe thầy ơi!
Tôi gật đầu giả bộ rành đường. Quăng túi xách nặng lên xe:
- Về nhà thờ An Biên.
Không trả lời một tiếng, người đạp xe lôi kéo xe ra khỏi chỗ đậu, nhảy thót lên yên bắt đầu đạp hướng về con đường đất âm u vắng vẻ trước mặt.
Tôi hơi an tâm vì như vậy chứng tỏ mình đang đi đúng đường về nhiệm sở. …
- Thầy về trường trung học Mê Linh hả?
Người đạp xe lôi đột nhiên hỏi.
Tôi định nói thật, nhưng thôi, giả bộ để dò xét:
- Ừ!… Mà sao ông biết?
- Đoán thôi! Vì người trẻ bảnh bao như thầy còn mặc đồ xi-vin (2) đi về hướng nhà thờ thì chém chết cũng phải về dạy trường trung học Mê Linh chớ đi đâu!
Tôi cười. Nghĩ nhanh: thời chiến thanh niên phải đi lính mặc đồ lính, ai còn ăng-tơ-nuy (3) như tôi kể là hiếm lạ. Cha này cũng nhiều chuyện, đường đất sình lầy trơn trượt lo giữ xe vừa thăng bằng vừa chạy tới được đã khó, vậy mà còn bắt chuyện tùm lum.
- Sời! Tôi chở mấy thầy như ông hoài sao lại không biết!
Nhìn hai bên đường thỉnh thoảng mới có nhà, tôi ái ngại cho cảnh buồn tênh ở nơi này, rồi hình dung mình sẽ ở đây những một năm mười hai tháng.
Càng đi, càng hiện ra nhiều ngôi nhà ở hai bên đường, cảnh vật hơi sáng sủa hơn.
Xe dừng lại. Bên trái đường là ngôi nhà thờ cổ kính cao ngất, bên phải đường là trường trung học tư thục Mê Linh rộng lớn khang trang.
Trả tiền xe xong tôi nhắm cổng nhà thờ đi vào. Nhà xứ hiện ra bên trái. Tôi mạnh dạn bước vô. Tối om và vắng lặng. Tôi tìm phòng cha sở. Gõ cửa mãi không có tiếng động nào đáp lại. Tôi ngơ ngác đi tới đi lui ở hành lang.
Năm phút rồi mười phút…
Bỗng có tiếng chân người từ bên nhà thờ đi qua, tôi đứng đón ở cửa phụ ra vào. Một người đàn ông cao to, vai ngang, mũi cao, nước da có lẽ trắng nhợt, mắt trũng sâu nhưng sáng quắc bước vào nhìn tôi chằm chặp.
-Chào bác!

- Chào bác!
- Tìm ai?
- Dạ muốn gặp cha sở…
-Cha sở ăn tối dưới bếp.
Tôi ngập ngừng. Người đàn ông vẫn nhìn tôi chăm chăm:
- Ổng đau nên xuống bếp ăn… Mày là cha hay là thầy vậy?
Tôi nhận thấy trong cách nói của người đàn ông có gì hơi lạ, nhưng trời đã âm u, bên trong ngôi nhà kiểu Âu châu cổ kính lại càng tối. Chịu! Không thể nhìn rõ mặt người đàn ông.
- Đi! Đi xuống gặp ông cha sở. Mày là cha hay là thầy hả?... Hả?...Hả?
- Là thầy giúp xứ.
- Tao biết rồi! Mấy ông phó (4) có nói rồi. Đi xuống cha sở
Trên đường đi băng qua sân rộng giữa nhà xứ và nhà bếp. Người đàn ông thì thào:
- Có tiền không cho tao năm đồng!
Tôi giật thót cả người ngạc nhiên. Im lặng một lúc. Móc trong túi hai đồng tiền thối cuốc xe lôi vừa rồi, tôi nhét hết vào tay người đàn ông coi như mua cảm tình để mai mốt có khi nhờ đến. Tôi nói:
- Đi xe hết rồi còn bấy nhiêu đó thôi bác ơi!
- Ừ! Kìa ổng đó, vô đi.
Người đàn ông tay nhét vội tiền vô túi tay đẩy lưng tôi vào bếp bằng sức mạnh thô bạo:
- Ông Út! Có thằng tướng này tới giúp xứ kìa!
Tôi bước vào chào cha sở. Thật trái ngược với cuộc “đón tiếp giáo đầu” vừa qua. Cha sở là một linh mục già tuổi ngoài sáu mươi tôi từng nghe nhưng chưa biết mặt, nhẹ nhàng vui vẻ dừng bữa ăn, bắt tay tôi cách trìu mến. Hỏi han ân cần đôi câu xong, cha bảo bà bếp dọn bữa cho tôi cùng ăn.
Trong bữa ăn, cha hỏi han thêm nhiều chuyện kèm theo những lời chỉ dẫn.
Tôi ăn ngon dù thức ăn chỉ có món cá tạp nhạp kho chung với trái bần..
Ăn xong cha hỏi:
- Lúc nãy thằng Đôm có xin tiền không?
Cha giải thích người đàn ông lúc nãy tên là Đôm, con rơi của lính Lê Dương thời Pháp thuộc, được các nữ tu dòng Chúa Quan Phòng nuôi dưỡng đến lớn, nay nhà xứ nuôi chỉ chuyên một chuyện gánh nước, tính hơi “tâng tâng” nhưng không đến nỗi..

Trời tối nhanh. Mới sáu giờ hơn mà trời đặc quánh một màu đen u buồn. Không tiện đi đâu đó vài vòng tò mò, tìm hai cha phó để chào nhưng các ngài đi vắng, tôi đóng cửa phòng ngủ một giấc vô tư đến khi chuông nhà thờ ầm ĩ đánh thức tôi dậy vào lúc 4 giờ sáng.
 
(1) Trẹt: tên gọi chiếc phà nhỏ bằng gỗ, chỉ có thể chở người, xe đạp, xe gắn máy, bất đắc dĩ mới chở được một xe ô tô con 4 chỗ ngồi.. thường thấy trẹt ở các con sông nhỏ vùng ĐBSCL.
(2) Xi-vin tức tiếng Pháp là civil nghĩa là dân thường.
(3) Ăng-te-nuy tiếng Pháp là entenue, nghĩa là ăn mặc quần tây bỏ áo trong quần nghiêm chỉnh.
(4) Ý nói hai linh mục phó xứ đang ở đó.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 07:43:02 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 01:08:53
Kỳ 2
 
Chẳng cần tốn nhiều giờ mới biết cha sở già hiền lành để mặc hai cha trẻ, tiếng là cha phó, nhưng chỉ lo việc trường học, một vị giữ chức hiệu trưởng, vị kia giữ chức giám đốc Trung học Tư thục Công giáo Mê Linh… thậm chí ai gọi các vị là “cha phó”, các vị còn giẫy nẩy tỏ vẻ không đồng ý.
Hai vị sống độc lập và rất tự do tựa hồ không phải dưới quyền cha sở.
Tôi cùng lúc làm việc cho hai “chính phủ”, giờ hành chánh dạy bên trường dưới sự điều động của hai cha phó. Những giờ còn lại giúp cha sở lo mục vụ, khi thì bên nhà thờ khi thì ở nhà xứ dưới quyền cha sở.
Nghe giáo dân xầm xì cha sở và hai cha phó có “khía cạnh” với nhau, nhưng tôi nghĩ không phải. Cha sở rất hiền chẳng nói động đến ai thì hai cha phó cũng vậy. Có lẽ do đôi bên phân chia quá rạch ròi ranh giới công việc, giao tế, phòng ốc, tài chánh nhất là bếp núc… khiến người ngoài nhìn vào đoán già đoán non.
Phần tôi chẳng có vấn đề! Chỉ hơi mệt vì dạy một lúc hai lớp nhất và nhì bậc tiểu học, mệt như thế rồi mà còn thường xuyên bị gọi dậy thay chỗ “không lương” cho bất kỳ giáo sư nào bên trung học vắng mặt.
Trưa và tối về ăn cơm với hai cha phó. Thỉnh thoảng hai vị đi vắng thì sang ăn với cha sở. Có lẽ biết tôi quần quật nên ngài thương hỏi han, chuyện trò ngọt ngào vui vẻ như cha với con. Đặc biệt tính cha đã bình dân giản dị còn rất khôi hài, khiến bất cứ lúc nào xong việc bên trường là tôi chạy đến ở bên ngài.
Tôi thương ngài còn vì thấy rõ ngài rất cô đơn, ít ai lui tới. Khu vực ngài ở tối tăm, vắng vẻ với mọi thứ đồ đạc cũ kỹ và lạnh ngắt.
Tôi thích kể linh tinh đủ chuyện cho ngài nghe. Tình cảm cha con ngày một sâu nặng.

Thấm thoát đã hai tháng.
Lúc này cha sở thường hỏi về tôi hơi nhiều. Tôi vẫn cứ thiệt thà.
Nhiều lúc nghe tôi kể những chuyện “dở hơi” của chính mình, cha cười ngặt nghẽo rồi chêm vào: “Hô hô hô!... Mày ngu quá!”, hay là “Hì hì hì!... Cái thằng! Coi vậy mà khờ quá thể!”.
Những câu mắng yêu đó làm tôi thấy thích trong bụng, vì được nghe nhiều câu lịch thiệp nhưng khiến nặng lòng.
Một buổi tối kia cha gọi:
- Con biết cạo gió hôn?
- Dạ biết!
- Vô… vô… cạo cho cha đi!
Cạo xong ngài bảo: “đợi cha một chút”. Cha sở đi lại giá treo áo, móc moi sục sạo hết trong túi hai ba cái áo dòng, đi lại bàn buya-rô kéo hết mọi ngăn tìm tòi, sắp sắp đếm đếm mãi… rồi dúi vào túi áo tôi, về phòng tôi đếm được đúng 34 đồng toàn là tiền lẻ. Thì ra ngài cho tôi tiền.
Sáng hôm sau lễ xong cha kêu lại hỏi:
- Tiền hôm qua còn không, cho cha mượn đỡ 20 đồng để đi Châu Long.
Tôi nghĩ hôm qua cha đã cho tôi hết số tiền cha có! Lòng tôi rưng rưng một nỗi niềm khó tả.

Cha sở dạy tôi hết chuyện này đến chuyện kia.
Suốt ngày trong tuần cha sở quẩn quanh ở tòa giải tội nằm gần phòng thánh nhìn ra nghĩa địa vắng tanh. Cha dạy tôi rằng, làm như thế để khuyến khích giáo dân không nhút nhát lại còn năng đi xưng tội, và cũng để ai rước cha đi kẻ liệt biết lối mà tìm và lúc nào cũng tìm ra cha sở.
Mỗi khi đi kẻ liệt, cha bảo tôi đi cùng.
Khi lập lời rao hôn phối, chứng giấy rửa tội, lập khẩu cung, dạy giáo lý hôn phối hay tân tòng, giáo lý thêm sức… cha đều cho tôi ở kề bên, tập cho tôi làm việc.
Một hôm cha hỏi:
- Con có sợ ma quỷ không?
Tuổi trẻ chưa tinh đời nên không biết sợ gì nhiều, tôi mạnh miệng trả lời ngay:
- Thưa không!
Cha cười rồi ngập ngừng không nói.
….
Hôm khác cha hỏi:
- Khi gặp ma gặp quỷ con phải làm sao?
Tôi lúng túng, chưa biết ý cha muốn dạy gì, nhưng cũng trả lời cách chân thành:
- Thưa… chắc con hỏi chuyện!... Vì ba con lúc xưa dạy, khi gặp ma quỷ, nên nhân danh Chúa hỏi nó muốn gì mà hiện ra, để nó có thể nói cho ta điều gì đó…
Cha sở gật gù cười rồi lại im lặng.

Hai cha phó sử dụng hết mọi phòng thuộc khu vực mình trong nhà xứ, nên chỉ cho tôi một góc hành lang đối diện cầu thang để làm chỗ ngủ và cất đồ dùng cá nhân… Thấy chỗ ngủ trống hoác, hàng ngày đầy dẫy kẻ lên người xuống trong số đó có nhiều phụ nữ… nhân dịp về nhà, tôi xin mẹ tôi tấm ri-đô để che chắn cho kín đáo. Một đêm mưa rỉ rả chừng như không dứt, lúc hơn mười một giờ, cha sở bỗng bước vào chỗ tôi đang ngủ, ngài gọi:
- Xuống phòng cha bảo!
Tôi mới lim dim ngủ, nên ngồi bật dậy, chỉ kịp thoáng thấy bóng cha lui ra, tôi nhanh nhẹn chạy theo nhưng cha đi nhanh quá, tôi không theo kịp cha đã mất hút ngay ở cầu thang.
Tôi chạy ngay xuống phòng cha sở..
Đến cửa phòng, nhìn vào tôi thấy nhiều người giáo dân lố nhố bên trong với vẻ khẩn trương và tất bật, nhưng khi tôi rón rén bước vào thì chẳng ai màng để ý đến tôi. Tôi định thần thì ra cha sở đang nằm trên giường và đang cơn bệnh nặng. Mọi người lăng xăng và khẩn trương lo lắng. Tôi đứng đó với tâm trạng bần thần cứ nghĩ mình đang mơ, rồi cũng chẳng biết làm gì. Xớ rớ coi có ai sai gì thì làm.
Mãi một lúc lâu sau, khi mọi người thưa dần, cha sở đã qua cơn nguy hiểm, ngài tỉnh lại và thều thào với bà bếp đang ở gần.
Bà bếp liếc nhìn tôi:
- Thưa cha có thầy Bảy đang ở đây.
Cha sở lại thều thào nói tiếp điều chi. Bà bếp ngoắc kêu tôi lại:
- Thầy Bảy lại gần đây! Cha muốn nói gì…
Cha sở ra hiệu cho mọi người lui ra ngồi ngoài hành lang, chỉ để lại mình tôi với ngài.
Cha sở mệt nhọc ra hiệu tôi kéo ghế ngồi gần bên ngài. Cha hắng giọng đôi ba lần rồi bắt đầu nói với giọng rất yếu ớt và vất vả.
- Tôi không biết nói sao, nhưng tôi phải kể một chuyện mà tôi cần phải để lại trước khi chết.
Tôi bàng hoàng cả người, không nói được lời nào, chỉ biết trố mắt im lặng lắng tai nghe từng lời ngài nói. Cha sở nói tiếp:
- Thầy phải hứa không được kể cho ai trừ… chỉ kể cho đức giám mục... Lẽ ra tôi phải kể cho ngài từ lâu, nhưng bao nhiêu lần tôi không làm được..
Cha sở có vẻ tỉnh táo hơn lên khi thốt ra được những lời như vậy. Tôi chưa tin lắm, nhưng hơi yên tâm nghe ngài nói tiếp:
- Tôi gặp một chuyện lạ đã từ ba bốn năm nay. Tôi không định kể ai nghe, nhưng tình hình sức khỏe… tôi thấy mình chắc không qua nổi đêm nay, nên nhờ thầy kể lại cho đức cha giùm… sau khi tôi nhắm mắt…
Tôi lắc đầu như cái máy. Nhớ lại lúc ba tôi hấp hối, ba nói gì nói, tôi không màng nghe, mà cứ lắc đầu phủ nhận thực tế giống như hôm nay.
Tôi vừa mong cha sở đừng nói để cha đừng chết, vừa tò mò muốn nghe chuyện bí mật và chắc là quan trọng lắm. Cha nhìn tôi như dò xét thêm, đo lường sự trung tín của tôi. Tôi hiểu ý:
- Thưa cha, con xin hứa giữ kín mọi chuyện cha giao, chỉ nói với đức cha thôi! Con thề có Chúa. Con xin thề có Chúa.
Cha sở có vẻ hài lòng. Sợ nghe không rõ, tôi gập người xuống sát bên cha. Cha nói tiếp:
- Vào buổi chiều thứ hai sau Phục sinh, chầu phép lành xong mọi người ra về, tôi nán lại tòa giải tội để đọc sách nguyện, có một người đàn ông từ nghĩa địa đi vào xưng tội, tôi không nhìn rõ mặt ông ta vì không cần...
……
- Ông ta quỳ xuống nhưng… không làm dấu thánh giá, cũng không nói gì như người ta thường xưng tội. Tôi cũng im lặng chờ đợi...
.…
- Một lúc lâu, ông ta thở dài rồi đứng lên đi ra. Ông ta không đi về hướng nghĩa địa nữa, mà đi nhanh ra phía trước cửa nhà thờ mà không thấy đi về hướng nào. Ông ta mặc quần đen áo trắng cũ kỹ và tầm thường...
..…
- Chuyện xảy ra đúng như vậy thêm nhiều lần nữa, nhưng cách nhau khi thì một tuần, khi thì một tháng. Nhưng tôi không tài nào giữ ông ta lại… Có lúc chỉ vừa mới mở miệng định khuyên nên mạnh dạn xưng tội… thì ông ta đứng lên đi nhanh và mất biệt.

- Tôi bắt đầu rùng mình hơi lo mỗi khi nghĩ tới ông ta, nhưng nhờ tràng hạt Mân Côi, nhờ Lời Chúa… nên tôi không sợ lắm, cứ bình thản để xem sự việc đến đâu.
Cha sở đổi thế nằm và im lặng. Tôi chờ đợi ngài nói tiếp.
Nhưng không, tiếng ngài thở đều rồi từ từ ngáy hơi lớn như đang ngủ say. Tôi vẫn im lặng chờ đợi. Một lúc sau vẫn thế, nên tôi đứng dậy và ra ngoài nói với mọi người:
- Cha ngủ rồi!
Mọi người “ồ” lên mừng rỡ bảo nhau cha sở ngủ được là đã qua cơn nguy hiểm. Ai về nhà nấy chỉ để lại ông biện già và chồng bà bếp canh chừng.
Tôi về phòng ngủ. Ngồi thừ suy nghĩ về câu chuyện tuy chưa đến đâu, nhưng lòng cứ sờ sợ.
Tôi bỗng giật mình nhớ lại và tự hỏi ai đánh thức tôi dậy? Cha sở đau nặng thì làm sao ngài có thể lên cầu thang và đánh thức tôi chứ!
Ai? Lòng tự trấn an rằng lúc đó mình mơ, nhưng trí vẫn nghi ngờ, mơ gì mà đúng lúc, mơ gì mà bóng đặc biệt của cha sở và giọng nói đặc trưng riêng của cha sở, lại còn biến mất ở cầu thang tối?
Gần sáng tôi mới chợp mắt được.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 10:48:18 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 04:08:03
Kỳ 3
 
Nhận nhiệm vụ ở bất kỳ giáo xứ nào, các cha, các thầy không cần tốn nhiều công sức tìm hiểu, giáo dân ở đó tự động cung cấp đầy đủ mọi loại thông tin từ thượng vàng đến hạ cám. Đặt chân đến đây mới non ba tháng, nhưng tôi biết rất nhiều về giáo xứ này. Đây là giáo xứ cổ kính nhất nhì miền Tây Nam bộ, chu vi rộng bao gồm vài ba xã, giáo dân gần mười ngàn người …
Nhiều di tích cổ xưa còn lưu giữ, nhiều câu chuyện lạ như huyền thoại thánh tích từ đây còn được kể lại cách trang trọng giữa một không gian gần như tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài đang sục sôi chiến sự. Kèm theo đó càng ngày tôi càng phát hiện nhiều thứ đồ đạc cổ quái từ trong phòng thánh, ngoài nghĩa địa, trong kho vật dụng của nhà xứ, kho sách vở, các mộ bia và cả đến quần thể kiến trúc khu nhà thờ v.v… Không biết khung cảnh các khu lâu đài cổ ở các nước châu Âu ra sao, nhưng dựa vào tiểu thuyết, tôi tưởng tượng ở đây đẹp gần như vậy. Ở đây, tôi cảm thấy rất thích, dù lắm lúc giữa ban ngày ban mặt có chuyện cần bước vào phòng thánh một mình đã cảm thấy sờ sợ bởi không khí vắng lặng, tịch nhiên, thật là đặc biệt.
Cha sở hồi phục sức khỏe dần dần.
Coi vậy mà cũng có rất nhiều giáo dân đến thăm ngài chứ không phải bỏ mặc ông già. Tôi cũng thăm nom ngài đều đều như đứa con đối với người cha, nhưng lúc nào tôi cũng nóng lòng muốn nghe ngài kể tiếp câu chuyện đêm đó ngài đang kể dang dở. Nhất là tôi đợi cho ngài khỏe để tôi sẽ kể ngài nghe hiện tượng rất lạ xảy ra cho tôi vào đêm ngài lâm bệnh nặng.
Hơn một tuần sau, cha sở gọi tôi vào ăn tối.
Thấy ngài tỉnh táo, ăn xong, tôi thuật lại chuyện lạ đêm đó.
Nghe xong cha sở lặng thinh không nói gì. Tôi không dám hỏi thêm.
Cuối bữa ăn, lúc tráng miệng, cha bảo ăn xong sẽ kể chuyện tiếp cho tôi nghe.
Tôi rót nước đem lại chiếc ghế phô-tơi cũ, khéo léo đặt trên chiếc đôn nhỏ bên cạnh chiếc ghế. Uống vài ngụm nước xong ngài hỏi:
- Con có hồ nghi người đánh thức con đêm đó là một ông biện nào đó không?
Tôi trả lời nhanh không suy nghĩ:
- Thưa không ạ! Vì người đánh thức con giống cha từ hình dạng cho đến giọng nói đến độ con không lầm với ai được ạ!
Cha sở già không tươi vui như nửa giờ trước đây nữa, ngài trở nên trầm mặc lạ thường.
Và bỗng dưng tôi cảm thấy lạnh rần cả chiều dài xương sống từ trên xuống dưới.
Im lặng một lúc, cha sở xua tay bảo:
- Tạm gác chuyện ấy lại sau này hẵng tính. Bây giờ tôi kể tiếp chuyện đêm đó còn dang dở. Có lẽ mỗi đêm tôi kể một chút, đêm nào mệt thì tôi kể ít hoặc không kể. Nhưng thầy phải hứa, trong thời gian này, không kể lại cho ai nghe những gì tôi nói.
Tôi ngồi bệt dưới nền gạch tàu cổ xưa và bóng loáng do đi lại và lau chùi quá nhiều nên lên nước, sát bên cạnh để ngài không phải nói to. Ngài bắt đầu kể:
- Cho đến một buổi chiều kia, linh tính báo tôi biết người đàn ông này hôm nay sẽ xưng tội, chí ít cũng nói gì đó, vì tôi chuẩn bị để nhất quyết lấy danh Chúa mà hỏi.
Cho nên khi ông ta vừa quỳ xuống tôi nói ngay:
- Con ơi! Con đến đây nhiều lần lắm rồi! Lần này con hãy can đảm xưng tội đi!
Im lặng.
Tôi gõ nhẹ vào tòa cáo giải vài tiếng để thúc giục. Sau đó tôi nói thêm:
- Con yên tâm! Không có tội nào là quá nặng để Chúa không tha và cha phải giật mình. Con nói đi cha đang nghe đây!
Người đàn ông thở ra, rồi “dạ” một tiếng thật nhẹ nhàng và dễ mến.
Nhưng sau đó lại im lặng.Tôi kiên nhẫn chờ đợi.
Khoảng mười phút sau, người đàn ông nói:
- Tôi không phải là người giáo dân bình thường như ông tưởng. Tôi là “Lực lượng”, từ lâu nhằm chọn ông để nói chuyện phải quấy. Ông nên chuẩn bị thật kỹ để nghe tội của tôi!
Cha sở bỗng nắm lấy tay tôi. Do bàn tay cha lạnh như nước đá cùng với cái nắm tay quá bất ngờ đã khiến tôi giật đến bắn người.
- Thầy biết không! Vừa nghe đến đó tôi muốn vùng đứng lên bỏ chạy. Nhưng không sao làm nổi chuyện quá đơn giản ấy. Có một sức mạnh gì đó đã ghì tôi ngồi lại cách nặng nề như bị dán trên ghế. Phải mất một thời gian khá lâu tôi mới dần dần bình tĩnh, hay đúng hơn là tỉnh lại.
Người đàn ông tên là “Lực lượng” nói tiếp:
- Chúng ta đây tuy vậy vẫn thích người khờ như ông, vì người khờ thì trung thực, có sao nói vậy không thêm bớt để truyền đạt lại đúng những gì Chúng ta đây muốn. Ngoài ông, không có ai có đủ mọi điều kiện cần thiết để Chúng ta nhờ được.
Im lặng một lúc, ông Lực lượng nói:
- Hôm nay vậy đã đủ. Thứ ba tuần sau chúng ta sẽ nói tiếp.
Nói xong hắn đứng lên và đi ra theo đúng hướng lâu nay hắn đã rời đi. Tôi ngồi đó cho đến khi thằng bé Lộc cháu bà bếp vào mời về nhà xứ ăn cơm tối, nếu không tôi sẽ ngồi ở đó luôn trong trạng thái bàng hoàng.
Tôi không dám rời phòng cha sở để ra ngoài khi bóng đêm bên ngoài tự bao giờ đã dày đặc. Cha sở hiểu chuyện, ngài đưa tôi chiếc áo Đức Bà Carmêlô để mang vào.
Đêm đó tôi cũng không ngủ được hoặc đúng hơn, giấc ngủ chỉ là những phút chập chờn nửa tỉnh nửa mê. Nằm co ro trong xó nhà tưởng tượng mình được bảo vệ chỉ bằng một bức màn vải mong manh bất định, thèm được ở trong phòng đóng kín cửa lại, cho nên tôi vặn đèn dầu sáng lên và chong như vậy suốt cả đêm. Giữa đêm khuya, tiếng mèo kêu rú trên nóc nhà bếp hoặc chỉ cần bất kỳ một tiếng động nhẹ nào đó cũng làm tôi giật mình sợ hãi.
Sáng ra, tôi dè chừng với hết mọi người tôi gặp phải…
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 04:12:52 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 04:16:21
Kỳ 4
 
Ở đời tránh tà lại cứ gặp ma, tôi cố gắng tránh phụ nữ, vậy mà cứ đụng mặt họ hoài, nào là các cô gái duyên dáng trong các hội đoàn như Huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội Con Đức Mẹ, giới Nữ thanh… nào là các thiếu nữ xinh đẹp trong họ đạo thường lui tới nhà thờ giúp việc quét dọn, chưa đủ, biết bao là các cô nữ sinh trung học áo dài trắng thướt tha quyến rũ có đạo lẫn ngoại đạo mà tôi phải tiếp xúc hằng ngày khi qua khu vực trường học.
Nói đúng ra tôi cũng ham thích và muốn gần phụ nữ lắm, vì mình cũng là trai mới lớn, đang thuộc lứa tuổi gái thở dài trai nằm sấp, mặc áo dòng đen ra bộ dạng thế chứ uy nghiêm cái nỗi gì! Nhưng vì biết thân biết phận: mình đang dốc chí đi tu, đã vậy bản chất lại yếu đuối dễ sa ngã do cái tính lãng mạn, mà điều này mẹ tôi thường nhắc nhở luôn miệng. Nhưng mà tránh làm sao được khi ở vị trí của tôi! Ngày nào như ngày ấy, lúc đang ngồi dạy học trong lớp bốn-lớp năm, cứ đến giờ ra chơi bên trường trung học là các cô nữ sinh như bầy tiên nữ kéo ùa sang đứng ở các cửa sổ nhìn vào xem tôi dạy, có khi còn bông đùa chọc ghẹo tôi nữa, trong số ấy có những cô hết sức xinh đẹp đúng với truyền khẩu dân gian trong vùng gái Cù lao anh hào cũng chết… .
Thế thôi thì cũng đã đủ chết! Đàng này khi thì tôi bị chặn đường, khi thì nhận được những lá thư mực tím tỏ tình qua tay các học trò bé bỏng của tôi vô tư chuyển giúp, lúc khác bị xông vào“phòng”, có lần bị một cô lù lù nằm ngay trên giường… cũng bởi các cô gái ra vào nhà xứ dễ dàng như tôi đã nói. Tôi nghĩ không biết mình ở đây suốt một năm dài rồi sẽ ra sao, đàn anh đã có mấy “đấng” xuất tu cũng bởi tự chốn này rồi, mình giỏi gì! Coi chừng còn rũ áo ra đi khi trời chưa sáng nữa ấy!
Ba hôm sau vào buổi trưa cha sở bảo tối hôm nay sẽ kể chuyện tiếp.
Ăn cơm tối xong cha ngồi chỗ cũ, tôi cũng vậy. Cha kể tiếp:
Đúng thứ ba sau người đàn ông tên Lực lượng đến. Lần này ông ta nói:
- Ông sợ lắm phải không?
Ông ta cười khì một tiếng rồi nói tiếp:
- Chúng ta đây sẽ chẳng làm gì động đến tinh thần lẫn thể xác ông đâu mà sợ! Chúng ta muốn làm gì con người và làm lúc nào mà chẳng được! Chúng ta đã chuẩn bị để ông bớt sợ. Rồi chúng mình sẽ trở thành như bạn bè với nhau cả cho mà coi!
Tôi chẳng biết nói gì hơn, chỉ lắng nghe với chút suy nghĩ: “… bạn bè gì với ma với quỷ các người!” Nhưng tôi chưa kịp nghĩ tiếp thì ông Lực lượng nói:
- Tại sao ông lại hẹp hòi như vậy? Rất nhiều người đã làm bạn mà là bạn thân thiết, làm đồng bọn với Chúng ta, thậm chí trở nên một với Chúng ta. Vậy thì hà cớ gì ông với tôi không thể làm bạn với nhau được? Có thể chúng ta làm bạn với nhau trong công việc.
Tôi hết hồn. Ông Lực lượng đọc thấu cả ý nghĩ. Ôi! Thật là không giống với xưa nay tôi tưởng ma quỷ không đọc được ý nghĩ của con người, nên chúng mới đến cám dỗ ngay Chúa Giêsu sau bốn mươi ngày đêm ăn chay trong sa mạc để thăm dò xem Người là con người thường như chúng ta hay là con người-Chúa.
Lúc này thấy cha sở nhấp miếng nước, tôi tranh thủ hỏi một câu mà mấy ngày qua thắc mắc:
- Nhưng thưa cha! Cho tới lúc đó, cha đã biết chắc ông Lực lượng này là quỷ chưa ạ?
Cha sở nhíu mày một chút để nhớ lại rồi trả lời:
- Ừ! Phải... Ông Lực lượng không nói ra từng chữ, nhưng có khả năng làm cho tôi thấy được ông chính là phát ngôn viên của hỏa ngục, ông ta là quỷ chính cống.
Tôi rùng mình một cái thật mạnh đến không thể giấu được. Cha sở kể tiếp với vẻ không lưu ý:
Tiếp theo, ông ta vừa hỏi vừa trả lời:
- Ông có biết tại sao Chúng ta dùng tòa cáo giải để nói chuyện với ông không?
- Vì đây là nơi quen thuộc Chúng ta rất thích lui tới.
Ông Lực lượng tiếp:
- Ông có biết tại sao Chúng ta dùng mưu kế xưng tội?
- Vì chỉ có nơi này thuận tiện nhất để chúng mình nói chuyện với nhau mà không ai làm phiền.
- Ông có biết xưng tội để làm gì không?
– Chúng ta đây xưng tội không để được xá giải, cũng không để giúp loài người các ông biết kế hoạch, mưu đồ, chiến thuật… của Chúng ta mà tránh tội, nhưng để loài người hiểu thêm về Chúng ta rằng: Chúng ta khôn ngoan không kém Thiên Chúa. Loài người phải thực sự kính phục Chúng ta. Tuy nhiên Chúng ta xưng tội còn với nhiều dụng ý khác nữa.
Bỗng ông Lực lượng thay đổi, giọng nói trở nên đanh thép rùng rợn, làm cho tôi nổi gai ốc và cảm thấy mình chưa từng gặp nỗi sợ hãi nào lớn hơn:
- Vì Chúng ta không xưng để được giải, nên ông không được làm dấu thánh giá trên Chúng ta.
Tôi gật đầu một cách vô ý thức. Ông ta đứng lên vừa nói tiếp:
- Hôm nay chúng mình giải quyết một số việc như thế, lần sau mọi chuyện sẽ bắt đầu.
Tôi để ý thấy cha sở hơi mệt và thở khò khè. Thật ra cha nói với tôi rất nhiều và rất chi tiết, tôi không thể ghi hết lại đây vì trí nhớ của tôi có hạn. Tôi lại có ba thắc mắc, một là cha chẳng cho tôi ghi lại trong lúc đang nghe lẫn sau đó, mà phải để yên trong bụng! Cha dặn hoài câu đó; hai là khi kể chuyện, cha thật nghiêm nghị và lịch sự, không gọi tôi bằng con, mầy, cái thằng, chú bé, thằng nhỏ… xưng bằng cha, bằng tao…, mà cứ luôn một điều thầy hai điều tôi xa lạ…; ba là tại sao cha có vẻ kính nể và gọi quỷ bằng ông, ông ta, ông Lực lượng….?
Phải nói bất cứ đêm nào sau khi nghe cha kể xong, tôi lại y như rằng: không ngủ được đêm đó dù tuổi trẻ và công việc cực nhọc ban ngày buộc ngủ vùi mới phải.
Vài hôm sau cha gọi tôi rồi kể tiếp:
Ông Lực lượng nói:
- Chúng ta sẽ bắt đầu bằng những câu chuyện ngay trong họ đạo của ông. Giáo xứ này cũ kỹ, vì cũ và kỹ chính là bảo thủ, bảo thủ luôn có cao ngạo tự đắc, ích kỷ và nhiều thứ khác nên là nơi Chúng ta trú ngụ và hoạt động tốt nhất. Chúng ta nấp thật sâu trong bóng tối của cũ kỹ, còn Ông Chúa Thánh Thần lại khác! Ông ấy là chính sự canh tân và đổi mới liên tục và mãi mãi.
Tôi giật mình vì nghĩ lại mình đã ngoài bảy mươi tuổi, cũ và kỹ lắm thay! Ông Lực lượng biết ngay liền trấn an:
- Không! Chúng ta không hàm ý nói cũ kỹ theo quan niệm thời gian.
Ông Lực lượng vừa nói vừa phì cười cho cái tính ngốc nghếch của tôi:
- Thì đấy! Trí con người nhỏ như hạt tiêu, nói đàng này hiểu đàng khác! Nhưng mà như thế thì tiện cho Chúng ta tha hồ khai thác cốt gây chia rẽ và bất hòa mãi mãi - khắp nơi giữa loài người.
Tôi đang định hỏi: “Các ông đã làm gì để phá giáo xứ tôi?” thì ông ta đã trả lời:
- Ô! Phá mà làm gì! Chúng ta chỉ “mượn gió bẻ măng” vì con người đã dọn sẵn tất cả, luôn sơ hở, cứ hớ hênh, hồn nhiên dọn cỗ, khờ khạo bày biện và coi như “lắp đạn” sẵn cho Chúng ta bắn, Chúng ta là mưu trí! Nên không cần làm gì cả!
Lúc này tôi quá sức thắc mắc, không còn kiềm chế được nữa nên hỏi cha sở:
- Thưa cha! Vậy thì cuộc nói chuyện giữa cha với quỷ không cần phải nói bằng môi miệng, chỉ nói với nhau bằng trí thôi ư?
Cha sở kêu lên:
- Có lúc tôi chỉ suy nghĩ, có lúc tôi buột miệng thành lời, nhưng ông Lực lượng thì hầu hết nói với tôi bằng ý nghĩ. Tôi thấy những lúc nói với nhau bằng ý nghĩ, câu chuyện trở nên nhanh, gọn và chính xác. Nhờ thế mà đôi khi có người qua lại vẫn không nghe thấy dù một tiếng xì xào nhỏ nào giữa tôi và ông Lực lượng. Nhưng dẫu có lúc ông ta mở miệng thì giọng nói cũng nhẹ nhàng, trong vắt, hiền lành, lịch sự và có khi còn ngọt ngào nữa là đàng khác.
Tôi ngạc nhiên quá sức! Nghĩ lại thấy ở loài người có lúc cũng nói với nhau bằng tư tưởng, bằng cảm giác hay linh cảm qua đôi mắt, qua cử chỉ, qua các giác quan hoặc nói bằng linh cảm… không dùng môi miệng thốt ra, kiểu nói đó thú vị làm sao! Chính xác, gọn nhẹ và nhất là không thể lầm lẫn! Tôi tưởng tượng sau này về bên kia thế giới, người ta đâu còn thân xác mà nói với nhau bằng âm thanh môi miệng, chỉ còn trao đổi với nhau bằng ý nghĩ mà thôi. Thật vậy, lời nói luôn hạn hẹp đủ điều, bị đóng khung trong ngôn ngữ từ vựng và văn hóa… gây méo mó, lời nói luôn bị xô lệch vì lẽ một lời bao giờ cũng có đôi ba nghĩa, ông bà xưa quá từng trải nên cảnh báo: “văn ngôn bất tận ý, ý bất tận cùng kỳ lý” hay “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, miệng không vành mới méo tứ tung”… Nhiều cuộc cãi nhau đến bất hòa sinh chém giết do lời nói, rất nhiều tội lỗi từ lời nói mà ra, lời nói có thể nhanh chóng hạ giá trị người nói… Chúa Kitô dạy chí lý… “nhưng cái gì miệng lưỡi thốt ra mới làm cho người ta trở nên nhơ nhớp” (Mt 15:11), vậy nên ông Lực lượng chẳng thèm dùng kiểu nói chuyện bằng lời nói của con người.
Hôm nay, cha sở không có vẻ mệt, nhưng ngài dừng lại bất chợt do bà bếp gõ cửa xin gặp để lấy tiền chợ cho tuần tới. Tôi lui về “phòng” với nhiều suy tư, nhưng cái tôi nghĩ ngợi nhiều nhất là bất ngờ khám phá Chúa Thánh Thần là canh tân và đổi mới, bất ngờ hiểu lời nói đôi lúc rất bất tiện.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 08:36:36 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 04:39:55
Kỳ 5
 
Sau khi nghe ông Lực lượng nói giáo xứ này cũ kỹ, tôi để ý thấy đúng. Đúng nhất là cũ kỹ về phong hóa. Giáo xứ còn giữ những phong tục cổ xưa như đàn ông mặc áo dài đen, phụ nữ trẻ để cả hai vú trần trước mặt nhiều người khi cho con bú dù trước hay ngay sau đó lại tỏ ra rất ý tứ, kín đáo và e thẹn, việc “giữ linh hồn” rùng rợn đến nỗi người hấp hối, theo tôi, có thể chết nhanh vì sợ hơn là vì bệnh, hiện tượng gì cũng được giải thích theo chiều hướng bùa ngải, quỷ ma, Chúa phạt, Đức Mẹ vặn cổ
Câu chuyện sau đây có thể minh họa phần nào tính cũ kỹ về phong tục, tập quán và nếp sống của họ đạo.
Sáng chiều đều đặn mỗi ngày có một người đàn bà sáng mắt dắt theo cô con gái khiếm thị tuổi trạc hai mươi đến ba mươi, thân hình nảy nở… đi nhà thờ. Họ đến nhà thờ hầu như luôn đúng vào lúc tôi từ nhà xứ đi qua. Ban đầu người mẹ chào tôi, còn cô gái hơi cúi đầu bẽn lẽn. Dần dần cô gái bạo dạn chào tôi còn nhanh trước hơn cả người mẹ do khả năng linh cảm nhạy bén của người khiếm thị bẩm sinh và chào với vẻ vui tươi lạ lùng… tôi luôn đáp lại lời chào bằng những câu hỏi thân tình vui vẻ.
Vì tôi có biết một ít nghề thuốc Nam như thăm mạch, đốt tiêm bức, chữa người bị thống phong, nấu các loại dầu trị bệnh, hốt vài ba loại thuốc thang trị bệnh thời tiết… và ít hiểu biết vặt về huyệt đạo nên ra tay giúp quý ông quý bà ở dưới nhà bếp khá kết quả, được giáo dân đồn đãi.
Một hôm người mẹ ấy nài nỉ tôi đến giúp con gái khiếm thị của bà đang bệnh. Tôi xin phép và cha sở đồng ý. Sau giờ chầu phép lành chiều tôi tranh thủ đi ngay cho kịp về ăn tối, cha sở cho một ông Giáp việc (người trong Ban Hành giáo) đi cùng. Tôi vào buồng ngồi trên chiếc ghế nhỏ kê cạnh giường cô gái để bắt mạch, ông Giáp việc và người mẹ ở bên ngoài ngăn cách bằng một bức màn nhỏ mỏng. Khi tôi đang bắt mạch, thình lình cô gái bật ngồi dậy, chồm lên, hai tay ôm chặt cổ tôi bằng một sức mạnh không thể kháng cự nổi.
Tôi kêu lên Cái gì vậy? Cái gì vậy? Ông Giáp việc và người mẹ xông vào gỡ tay cô gái ra, nhưng cả hai thất bại vì càng cố gỡ, hai tay cô gái càng xiết cổ tôi chặt đến muốn nghẹt thở, mặt cô gái chà vào mặt tôi, sẵn đà người mẹ nắm chân lôi ra, đôi chân cô gái lừa được thế kẹp chặt vào một đùi phải của tôi, rồi giằng co trong tư thế đó, cô gái giẫy dụa rên rỉ như sắp chết đến nơi. Ông Giáp việc tay thì tháo tháo gỡ gỡ miệng thì kêu Giêsu Maria Giuse liên hồi kỳ trận. Sau một lúc không xong, ông chạy ra đường kêu vài người đến giúp. Hai hay ba người nữa đến, kẻ kêu tên Chúa, người lấy sách kinh Mục lục đập phành phạch lên đầu cô gái, người khác rảy nước thánh lia lịa lên hai chúng tôi đang quằn quại… nhiều đến ướt cả người, mục đích để xua trừ ma quỷ.
Đến một lúc nào đó tôi không nhớ, cô gái bỗng giật giật cả người, miệng thở hào hển rồi từ từ nhão người ra, mềm nhũn như cọng bún buông tôi ra để nằm vật xuống giường, đôi mắt nhắm nghiền như người sắp chết. Vì nghề thuốc ấm ớ chẳng tới đâu, nên tôi hoảng sợ và cuống quít không biết phải làm gì, nhưng mọi người có mặt thì cho rằng kêu Chúa và rảy nước thánh thế là kết quả, họ dìu tôi đang tóc tai bù xù, quần áo xộc xệch như quân binh vừa thất trận… ra bàn thờ để cùng nhau đọc kinh Tôi thân Rất Thánh Thiên thần.
Ngày hôm sau tin đồn rùm beng lên trong cả họ đạo con Nhung quỷ ám, con Nhung thành tinh, thành quỷ… với đủ mọi tình tiết éo le và giật gân nghe đến chết khiếp. Trong khi mọi người rùng mình ghê sợ thì tôi, ký ức và linh tính chẳng cho một cảm giác gì hãi sợ, trái lại chỉ đơn thuần một cảm giác là lạ khi bỗng dưng cả thân hình con gái đồ sộ, mềm mại và nóng rực phủ chụp lên người từ trên xuống dưới.
Thương thay! Từ đó không thấy hai mẹ con cô gái khiếm thị ấy đến nhà thờ nữa có lẽ vì quan niệm cũ kỹ, phán quyết nặng nề đã chôn và vùi họ, hai phụ nữ vốn cô đơn-không chồng-vắng cha, và hoàn cảnh sẽ còn cô đơn hơn nữa.
Cha sở bảo tôi kể lại mọi chuyện. Nghe xong cha trầm ngâm một lúc rồi dặn:
- Sau này bất cứ đi đâu, làm gì, con nên giữ chiếc áo dòng. Chẳng gì! Đó trước tiên là dấu hiệu của những người tình nguyện theo Chúa.
Lúc đó tôi không hiểu hết ý cha, vì mãi nghĩ mình phạm lỗi tu sĩ: khi đi ra ngoài không mặc áo dòng. Sau này tôi mới hiểu được ý cha muốn khuyên chiếc áo dòng như hàng rào có thể giúp ngăn chặn một số hiểm nguy cho đời tu trì.
Vào một đêm sau đó hai hôm, cha sở kể tiếp:
Ông Lực lượng nói:
- Chúng ta làm cho giáo dân của ông cũ kỹ như một cỗ máy già nua rỉ sét, tâm hồn họ không có khả năng đón nhận điều gì mới. Vì “bình cũ không chứa được rượu mới”! Họ không thể đón nhận Phúc âm và mọi điều Phúc âm dạy mà Chúa muốn, cũng chính là họ sẽ không đón nhận được ơn Cứu độ dù họ đang ở kề bên chính kho báu quý giá vô song là Phúc âm.
Tôi hỏi:
- Chính các ông cũng cũ kỹ chớ nói chi ai! Cứ chống Đức Chúa Trời và cứ làm tình làm tội con người chúng tôi để phản nghịch cùng Chúa!
Ông Lực lượng trả lời:
- Đó là bản tính của Chúng ta rồi! Trong khi hoàn vũ đổi mới hằng giây, Thiên Chúa sáng tạo hằng tích tắc, thì Chúng ta kéo ngược trở lại bằng mọi cách. Rất đông con người đang tiếp sức Chúng ta.
Tôi hỏi:
- Ông có thể nói rõ ra hơn được không, vì tôi học hết Lý đoán, chưa bao giờ nghe tới cũ kỹ là xấu…
Ông Lực lượng cười to:
- Con người các ông lầm to! Chỗ hiểm yếu thì bỏ liều, nơi chẳng đáng thì cố làm cho to chuyện. Tôi sẽ kể ông nghe vài thí dụ nhỏ, đó là gia đình ông hương Tú Kỳ ở xóm Trên (ông Kỳ đỗ Tú tài, giữ chức hương cả thời 1945-1950, mọi người đã quen gọi thế dù nay chẳng có quyền hành gì; giàu có và rất được nể trọng). Ông ấy luôn tự hào về vốn kiến thức cũ kỹ của mình, ông ấy dạy con theo hướng cũ, ông ấy tự hào về danh dự rỗng tuếch, ông ấy không học hỏi thêm, đến nhà thờ ông ấy chỉ tìm tiếng chào hỏi, câu khen tặng, đi họp hành, tiệc tùng, ma chay, giỗ lỵ…ông ấy luôn khoe những thứ cũ kỹ như gia phong, nề nếp, thành tích xưa, kinh nghiệm cũ… Càng cao tuổi, ông ấy càng bám víu sự cũ kỹ để ẩn núp và tự bảo vệ đến vợ con cháu chắt họ hàng không ai có thể xâm phạm nói chi đến hàng xóm láng giềng. Cùng một cách đó, Chúng ta đã khiến bọn Pharisêu ngày xưa đóng đinh cả Con Thiên Chúa chứ đừng nói đến ông hương Tú Kỳ sẽ hư mất.
Thấy tôi vẫn chưa hiểu lắm, ông Lực lượng nêu thêm thí dụ:
- Ông cứ nghĩ sự cũ kỹ đã giết chết ông Galilê (nhà bác học quả quyết trái đất quay quanh mặt trời khiến Giáo hội trừng phạt), bà Jeanne d’Arc (thánh nữ người Pháp bị tòa án Giáo hội lúc đó tuyên án thiêu sống), làm Lutherô ly giáo, làm Giáo hội Công giáo chia rẽ, làm một số tôn giáo lớn trở nên cuồng tín đến phi luân…
Ông Lực lượng cười khẩy:
- Chẳng lẽ Chúng ta mà lại giảng cho ông tất cả để ông hiểu hay sao? Nói chung, cũ kỹ là tử huyệt có thể khai thác mãi để đánh đổ loài người. Vatican luôn có thói quen bầu lên những người có tinh thần đổi mới… làm giáo hoàng, rồi sau đó trói họ lại không cho họ đổi mới. Đó là công thức hành động của Chúng ta. Tuy nhiên cũng có lần Chúng ta phát hoảng lên khi ông Gioan Hai Mươi Ba và ông Phaolô Sáu tổ chức công đồng, nhưng hoảng là thừa! Vì công đồng đến nay vẫn chưa làm gì để đổi mới Giáo hội. Nói tóm, ông đã hiểu thế nào là cũ kỹ và sự nguy hiểm của nó. Chúng ta biết rằng về chuyện này, có nói ông cũng chẳng làm gì được vì nhiều guồng máy đồ sộ của loài người các ông sẽ vẫn còn nặng nề và cũ kỹ..
Ông Lực lượng giống như thở ra khoan khoái và kêu lên:
- Hoan nghênh sự cũ kỹ! Chúng ta còn khai thác nó lâu dài để kéo con người ù lỳ và làm hư công trình Cứu độ của ông Chúa Ngôi Hai.
Tới đây thì tôi đã hiểu. Bỗng tôi rùng mình khi thấy mình biết được một điều bí mật của hỏa ngục. Trong cái rùng mình dữ dội ấy, ông Lực lượng biến mất. Đây là lần đầu tiên ông ấy ra đi như thế.
Cha sở im lặng với gương mặt lo âu giống như chuyện vừa mới diễn ra. Tôi hỏi:
- Thưa cha, mình phải làm gì đi ạ! Con cũng cảm thấy ông ấy cho mình biết được một sự thật kinh khủng.
Cha sở lắc đầu chầm chậm:
- Làm gì bây giờ? Chuyện lớn như trái đất, hệ thống như cỗ máy… liệu tôi với thầy có thể làm gì được bây giờ! Chi bằng chúng ta mỗi người phải tự làm mới hằng ngày, rồi xin Đức Chúa Thánh Thần canh tân bộ mặt trái đất.
Nghe quen quen. A! Thì ra trong bài giảng lễ chúa nhật nào cha sở cũng lặp đi lặp lại cụm từ tự làm mới: Giờ tôi mới hiểu.
 
Đêm đó về “phòng” tôi lặng lẽ ghi vài trang cảm tưởng và những dòng quyết tâm, để sau này phòng khi làm linh mục, tôi sẽ giúp giáo dân hiểu tội đầu tiên mà quỷ xưng là tội ngăn chặn sự đổi mới.
Sáng sớm khi chuông nhà thờ đổ, tôi thức dậy nhưng bỗng thấy xung quanh tối mù. Thì ra đèn chong đã tắt tự lúc nào. Tôi quờ quạng tìm nhưng mãi vẫn không thấy cây đèn trứng vịt quen thuộc nằm chỗ nào. Tôi xé quơ vội giấy để đốt soi tìm và mồi lửa. Đốt được ngọn đèn mới hay mình đã đốt rụi hết những tờ giấy ghi chép đêm qua. Tôi rùng mình sởn gáy với ý nghĩ ông Lực lượng đang ở đâu đây.     
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 08:33:54 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 05:06:44
Kỳ 6
 
Tôi không hiểu tại sao giáo xứ này có nhiều người mất trí như vậy.
Trước hết là người đàn ông tên Đôm tôi gặp ở hành lang nhà xứ buổi chiều tối hôm tôi mới đến đây. Người đàn ông này bất bình thường một cách khó hiểu. Tôi gọi bằng anh cho lịch sự nhưng cả giáo xứ chỉ gọi anh bằng “thằng”: thằng Đôm với vẻ thân mật, vừa do thói quen địa phương vừa do quen miệng từ lâu… chứ không phải khinh dể, ngược lại anh rất được mọi người, xin nhấn mạnh là mọi người không trừ ai, quý mến. Bất bình thường một cách khó hiểu… ra sao xin nghe tôi kể tiếp.
Tuổi của anh Đôm trạc bốn mươi lúc tôi đang ở đây, anh to xương, cao lớn, lưng thẳng, vai ngang, rắn rỏi, khỏe mạnh… đúng dáng của một người đàn ông lý tưởng. Da trắng, mắt đen nhưng sâu thăm thẳm, gò má thấp, mũi thẳng, miệng rộng… rất giống người Âu châu. Người ta truyền miệng nhau rằng anh Đôm là con lai giữa một phụ nữ VN với một anh lính Pháp dòng Lê dương (lính đánh thuê do Pháp tuyển mộ từ các thuộc địa của họ)… nên anh thừa hưởng được nhiều nét đẹp Âu châu.
Ăn nói thẳng tuột, thô thiển, đần độn nhưng có duyên. Siêng năng lao động với công việc đặc trưng là gánh nước miễn phí cho nhà xứ, cho bất kỳ gia đình nào dù lương dù giáo khi nhà đó có việc thuộc hôn, quan, tang hoặc tế… mà không đòi một điều kiện gì, thậm chí mỗi khi gánh nước xong, có xới cho anh Đôm một tô cơm, gặp lúc vui anh ăn, buồn buồn anh cũng từ chối luôn.
Dân xứ này dùng nước sông, nên việc gánh nước là việc nặng nhọc nhất là đối với những gia đình ở xa, cách con sông vài trăm mét hay hơn kém một cây số, dịp hội hè đình đám phải sử dụng nhiều nước cho nấu nướng, lau dọn, giặt rửa… cho nên anh Đôm đã phụ trách gánh nước cho nhà đám thì phải gánh nước suốt thời kỳ đám tiệc hai ba ngày liền. Không cần ai mời mọc, báo tin hay yêu cầu… thấy nhà nào rộn lên là anh đến làm “nhiệm vụ tự đặt”. Phải nói rằng, điều đó làm vừa lòng mọi gia chủ! Chuyện gánh nước tuy là chuyện nhỏ! Nhưng cảm tình anh tạo được lại rất to từ người lớn đến người nhỏ, cả đến các cha các thầy các sơ đâu đâu cũng thích và nhắc đến anh.
Riêng ở nhà xứ, anh Đôm dành riêng một thời biểu gánh nước tự nguyện thường xuyên, nghiêm túc và đầy tính kỷ luật: 2 lần một ngày vào 3g - 4g sáng, 15g -16g chiều, nhà xứ phải“thả lỏng” luôn luôn một cửa sau nhất định, suốt ngày lẫn đêm để anh đến nhẹ nhàng gánh nước châm đầy hết các nơi có thể chứa mà không làm phiền ai. Nói chung các bồn nước, phuy, lu, hũ, choé, thùng chậu… trong nhà xứ từ nhà trên xuống bếp dưới lúc nào cũng đầy nước, hễ lưng nước là anh Đôm có vẻ không chịu nổi.
Buồn cười thay! Trước khi gánh nước suất chiều (15g-16g), bao giờ anh cũng đi khắp nơi không kiêng dè chỗ nào và bất cứ ai để khua khoắng hết mọi người trong nhà xứ phải đi tắm bằng câu cửa miệng: “đi tắm đi nghe!”, để sau đó tiện cho anh lại cho châm đầy nước mà an tâm vào buổi tối… giả dụ cha sở có đang tiếp khách, cha phó có đang họp… anh Đôm cũng không từ, anh nhẹ nhàng ló đầu vô phòng khẽ khàng nhắc: “đi tắm đi nghe!”, thậm chí có những hôm vào dịp áp lễ trọng, các cha đang ngồi trong tòa giải tội làm nhiệm vụ, anh cũng đến đứng chỗ nào gần đó nhắc bằng giọng thì thào:“đi tắm đi nghe!”, vậy mà có cha nào cảm thấy phiền đâu! Trái lại giới giáo sĩ tu sĩ từng đến giáo xứ này đều nói đùa với nhau: đến xứ này ta được lo chu đáo đến cả việc nhắc đi tắm. Nói dối có tội! Có lần đức giám mục đến dâng lễ 10g, ở lại sau cơm trưa hơi muộn, cũng được anh Đôm thò đầu vào nhắc“đi tắm đi nghe!”, lúc đó cha sở không cần phải xin lỗi, bởi đức giám mục được dịp no cười và đối đáp bông đùa với anh vài câu để giải trí.
Anh Đôm không có nhà cửa để ở. Từ được nuôi trong viện mồ côi của các nữ tu dòng Chúa Quan Phòng (Providence) gần đó, anh bước ra đời với cách sống phiêu linh lãng tử như thế. Ở đâu cũng là nhà anh, anh muốn ăn ở đâu thì tới đó mà ăn – một tô cơm to có khi chan nước lã cũng được- anh muốn ngủ đâu thì ngủ –một chỗ ngả lưng không chăn lẫn gối cũng an giấc-, trái lại, ai cũng muốn anh đến ở nhà họ để họ được lo cho anh chút ít.
Chuyện về anh Đôm có thể kể hoài không hết, còn có nhiều người mất trí khác, mỗi người một vẻ “thời danh dị tích” khác nhau… như ông Tám Mú đêm nào trăng lên thì đi gom hết dép, guốc, thùng, xô, mũ, áo…. của gia đình nào đó lỡ quên hoặc để hớ hênh, đem chất đống ở đầu cầu gần nhà thờ xong, sáng ra đi báo tin cho mọi người đến nhận lại, hoặc sáng sớm đứng trước cổng nhà thờ đón người đi lễ bằng những tràng tiếng Pháp thật chuẩn, ngày kia cao hứng mở tủ cắt hết vạt sau áo dài của bà vợ… như thầy giáo Khéo lúc nào cũng khoe dạy học cho một lớp 80 học trò đi thi đỗ 100; như bà Chín Híp-py đi phát tiền cho người đi đường; như ông No-e đứng ở bến đò lăm le cái khăn lanh tay lau đầu lau mặt bất kỳ ai đi đò vào buổi sáng, ai nhìn thấy khách đi đò nhất là các cô gái chạy dạt ra, cười khanh khách rân một góc vừa né tránh là biết ngay đang bị ông rượt đuổi để lau mặt; như chú Tiết gặp ai cũng rủ: “đánh lộn với tao không”, “đánh lộn với tao đi!” v.v… Thật là một xứ sở đầy kỳ nhân dị vật, đầy chuyện cổ tích.
Cha sở kể tiếp:
Ông Lực Lượng bảo chính ông ấy làm rối tung cả họ đạo này… vì những người đó là những phát ngôn viên cho ông ấy.
Tôi hỏi:
- Quyền lực kinh khiếp như Các Ông… sao không dùng những người khôn ngoan mà lại dùng những kẻ mất trí?
Ông Lực Lượng trả lời ngay:
- Vì người ta rất tin vào những gì người mất trí nói.
Tôi hỏi:
-Trường hợp người “bị quỷ ám” thì sao? Có Các Ông nhúng tay vào đúng không?
Ông Lực Lượng trả lời:
- Những ai tin Chúng ta, thường xuyên nghĩ đến Chúng ta, cậy vào Chúng ta, tại sao Chúng ta làm ngơ? Nói tóm cả những ai phủ nhận Thiên Chúa, Chúng ta đến với họ.
- Tại sao Các Ông không mượn xác người bên lương?
- Á à! Người lương đôi khi tốt hơn người Công giáo các ông! Nhưng nói cho cùng, Chúng ta thích những tâm hồn bội phản Thiên Chúa hơn, để Chúng ta trả thù Thiên Chúa, Còn người lương, Chúng ta thật không thấy hứng thú.
Tôi hỏi:
-Như vậy những người mất trí ở đây đều được Các Ông nhập xác?
- Không! Chúng ta chỉ nương náu vào sự mất trí của họ..
Khi về phòng tôi bỗng nhớ lại, anh Đôm là người tốt, nhưng nhiều lúc anh hứng lên, khỏa thân tồng ngồng đi lại ở phía sau nhà bếp, nơi có các bà các cô đang làm việc, gây dao động cho nhiều người nhưng đó có ai trách cứ hay ngăn chặn được, lý do là vì anh là kẻ mất trí, không thể nào thuyết phục khuyên can hay nhắc nhở.
Người ta kể nhau nhiều về cô gái Tuyết Ma, thường đợi đến những đêm trăng, cô trần trưồng đi lại ở trường học - Tuyết Ma là cô gái khoảng đôi mươi tên Tuyết, cô nữ sinh thuộc hàng hoa khôi trường Mê Linh này bị cha mẹ hủy hoại mối tình đầu nên buồn quá sinh mất trí, cứ hình dung một cô gái đẹp khỏa thân xõa tóc đi dưới ánh trăng trông như ma quái thì đủ biết sẽ dấy lên bao là tư tưởng, ước muốn tà mỵ trong lòng giới nam nữ thanh niên cỡ nào!
Cha sở kể tiếp.
Tôi hỏi:
- Các Ông khôn ngoan quá thể! Cho nên còn nhiều cách khác để cám dỗ, sao lại dùng “chiêu” xem chừng hơi hèn hạ bẩn thỉu… để hại giáo dân của tôi!…
Ông Lực Lượng cười:
- Ai bảo với ông đó là phương kế hèn hạ và bẩn thỉu? Tự cổ chí kim anh hùng nào không sụp đổ vì nữ sắc và dục tính. Đã có bao nhiêu người chống đỡ nổi cái món này? Dục tính là nhu cầu, hành vi, nếp sinh hoạt và đời sống… rất cao đẹp tự bản chất cho đến dụng đích, nhưng chính con người đã nghĩ xấu về nó, biến nó thành hèn hạ và bẩn thỉu. Chúng ta chỉ nương vào tình thế ấy mà hành động.
Tôi đột ngột kết luận:
- À ra! Nhiều điều Chúa ban là cao đẹp và hữu ích, nhưng Các Ông đã biến thành hèn hạ và bẩn thỉu, đó là mưu chước “tương kế tựu kế” của Các Ông! Ôi Các Ông khôn ngoan và hiểm độc biết bao!
Ông Lực Lượng cười xòa:
- Vậy là ông hiểu Chúng ta thêm chút nữa rồi đấy! Chúc mừng!

Khi ngồi trong lớp dạy học cho các em học trò bé bỏng, tôi bỗng nghĩ: Mình chưa hiểu nổi cái cha sở phát hiện, chỉ mơ hồ thấy rằng làm hư những giá trị cuộc sống chính là một trong những mưu ma chước quỷ! Điểm lại tôi thấy câu chuyện người bạn cùng lớp của tôi ở tiểu chủng viện, việc anh đi tu là tốt, thấy không hợp anh xuất tu cũng là chuyện không xấu, nhưng cha mẹ anh ấy mắng nhiếc, hành hạ bằng đủ mọi cách khiến anh treo cổ tự tử ở sau nhà (chuyện xảy ra cách đây khoảng 5 năm) chẳng phải từ chuyện tốt trở nên xấu tệ là gì!
Bắt đầu từ hôm đó tôi cảm thấy sợ sự thâm hiểm của ma quỷ hơn.     
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.05.2026 22:57:24 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 05:20:03
Kỳ 7
 
Một hôm có hai người đàn ông tới gặp cha sở. Người đàn ông thứ nhất dáng cao to, mày dày, râu rậm, chừng bốn mươi tuổi. Người đàn ông thứ hai cao, gầy, mặt dẹp, khó đăm đăm, nhưng vai vế có vẻ bề trên của người đàn ông dữ tợn thứ nhất. Hai người bước vào phòng cha sở lúc tôi vừa có việc từ bên trường trở về phòng riêng. Khi vừa quay xuống cầu thang để sang bên trường lại đã nghe tiếng sang sảng của hai người khách lạ nói chuyện với cha sở, giọng nói khác xa giọng của giáo dân ở đây thưa chuyện lễ phép với cha sở, không giống giọng nói của giới sĩ quan quân đội hay giới chính quyền luôn lịch sự và nhún nhường trước cha sở, cũng không giống giọng của các linh mục có việc đến đây nói năng nhỏ nhẹ. Tôi tò mò vì giọng nói vang như lệnh vỡ, ẩn chứa uy lực khiến nghe vừa cảm thấy hấp dẫn vừa cảm thấy nể sợ của một trong hai người, nhưng không biết rõ của người đàn ông nào, người cao to mày dày râu rậm hay người cao gầy dáng điệu uy nghi khuôn phép. Khi tôi còn đang đi chầm chậm để lắng nghe thì bỗng cửa phụ phòng cha sở xịch mở, từ trong, người đàn ông cao to bước ra liếc nhìn tôi với đôi mắt sáng quắc, ánh nhìn sắc như dao chứa đầy vẻ đe dọa. Tôi sợ quá nên đi nhanh một mạch qua trường học.
Tối hôm đó thái độ cha sở hơi lạ, tôi hỏi cha điều gì cha cũng chậm trả lời, dáng như suy tư chuyện gì hoặc để lòng ở đâu đâu quên cả thực tại.
Nhưng rồi chuyện đó cũng trôi qua vì cha sở không kể ra điều gì về hai người đàn ông rất lạ lùng.
Câu chuyện tôi đang kể đây cũng như chuyện hai người đàn ông lạ… xảy ra vào năm 1972, mãi tám năm sau, năm 1980, lúc cha sở về lưu trú tại nhà hưu dưỡng giáo phận, tôi ghé thăm cha thường xuyên để cha kể cho hết chuyện, trong một lần kể, cha thuật lại câu chuyện hai người đàn ông lạ ấy chính là hai người khác cũng của Lực Lượng sai đến. Họ đưa ra hai đề nghị để cha chọn một.
Một là cha sở sẽ được về tòa giám mục, được trọng dụng và cất nhắc, cha sẽ làm được nhiều điều lớn lao khiến giám mục tin cậy, các linh mục khác vị nể đến có thể được cất nhắc lên cao nhất.
Hai là cha sở sẽ vẫn ở lại họ đạo, nhưng tiền bạc, của cải, phương tiện, sự sung sướng… sẽ rất dồi dào, đời sống trở nên sang trọng, may mắn, dễ chịu đến tận cuối cuộc đời.
Đổi lại, cha sở đừng bao giờ giảng về những gì thuộc đức bác ái như cha hằng nhắc đi nhắc lại trong mọi bài giảng.
Nhưng cha sở nói với tôi lúc đó –tức năm 1980- rằng, cha không nhận đề nghị nào cả. Thế là không biết có đúng như cha nghĩ không, kể từ đó trở đi, bệnh của cha càng ngày càng nặng, càng dây dưa và càng phi lý, hành hạ thể xác cha không ngừng.

Trở lại thời gian của câu chuyện tôi đang kể -năm 1972-
Hai cha phó bỗng dưng ngày càng tỏ ra cáu gắt, đi đến ghét cay ghét đắng cha sở. Hai cha bày kế cho một số giáo dân làm đơn gửi tòa giám mục yêu cầu thuyên chuyển cha sở đi nơi khác, rồi cắt nhấc “cha phó lớn” –giáo dân ở đây gọi linh mục hiệu trưởng nhiều tuổi hơn lại có dáng dấp bệ vệ… là “cha phó lớn”, còn linh mục giám đốc trẻ hơn, dáng nhỏ thó là “cha phó nhỏ”- lên làm cha sở.
Tôi biết được điều này không do cha sở kể, nhưng do giáo dân, bởi vì không có chuyện gì giấu nổi giáo dân, mà cũng chẳng có chuyện gì mà giáo dân không nhanh chóng thông tin cho nhau phút chốc lan rộng. Trong họ đạo lúc này xào xáo rất nhiều, người bênh vực cha sở, kẻ đứng về hai cha phó. Giờ cơm nào tôi cũng bị hai cha phó yêu cầu tuyên xưng đức tin với hai ngài. Tôi sợ quá nhưng đã quyết, vừa theo phương sách giả dại qua ải, vừa nhất nhất mọi chuyện đều xin ý kiến cha sở.
Thật có quá nhiều điều để kể ra trong vụ giáo xứ bị khủng hoảng quyền lực này! Có quá nhiều điều để kể về cử chỉ, hành động và lời nói của hai cha phó, của một số giáo dân theo đóm ăn tàn, nhưng tôi vốn không định kể những chuyện phụ thuộc như vậy, vì đó thuộc những“chuyện làng nhàng muôn thuở” ai đã từng sống đời mục vụ giáo xứ đều biết, nó “nhiều tập” đến nỗi chẳng khác “chuyện dài nhiều tập của mẹ chồng nàng dâu”; lại nữa chuyện cũng sẽ chẳng đi đến đâu vì lực lượng hai bên tương phản, bên hai cha phó ồn ào huyên náo, kẻ tụ tập người tới lui, kẻ lăng xăng người năng nổ… cứ ngày ngày tấp nập, xì xào bàn mưu tính kế, nói năng manh động và dễ gây xúc phạm, trong khi đó bên cha sở, một mình cha cứ im lặng thui thủi, thậm chí không hề động tĩnh, chẳng ai tới lui với cha để làm gì, cha cứ một mực làm việc bổn phận dường như chẳng hay biết có chuyện gì xảy ra. Hai bên lực lượng chẳng cân phân chút nào! Tôi đoán rồi chẳng bao lâu chuyện này sẽ xẹp xuống.
 
Cha sở vẫn kể chuyện tiếp cho tôi nghe. Một hôm cha kể:
Vào năm đó sau khi ông Lực Lượng đã đến xưng tội với tôi được khoảng vài tuần, trong giáo xứ xảy ra nhiều chuyện chia rẽ, phe này chống đối phe kia, nhóm nọ bàn mưu hại nhóm khác, thậm chí dòng họ Lê có nhiều người trong Ban Quý chức, cậy quyền cậy thế bắt nạt những người thuộc dòng họ Nguyễn. Tôi hỏi ông Lực Lượng:
- Hiện giáo xứ tôi đang loạn đả, hỗn độn do bất hòa chia rẽ đến… rối như canh hẹ, hẳn là có bàn tay Các Ông nhúng vào đấy nhỉ?
Ông Lực Lượng cười rung cả tòa giải tội. Cười xong một lúc sau Ông đáp:
- Các người cứ như con nít! Cái gì xấu cũng đổ trên đầu Chúng ta. Có nhớ một câu kinh trong đó các người nêu rằng: có tới “ba thù” tức ba kẻ thù là ma quỷ, thế gian và xác thịt.
Ông ngưng một chút rồi nói tiếp:
- Có nhiều việc không cần đến Chúng ta, vì có nhiều tội của các người thuộc bản năng xúi giục, có nhiều tội thuộc về xã hội của các người lôi cuốn nhau… Đôi lúc Chúng ta chẳng cần phải làm gì!
Tôi hỏi:
- Giáo xứ tôi hiện lộn xộn, Các Ông đứng ngoài? Hóa ra Các Ông có lúc cũng trong sạch đấy nhỉ?
Ông Lực Lượng trả lời ngay:
- Nguyên tắc của Chúng ta là phải làm những chuyện nhỏ để đưa đến kết quả lớn, chứ không làm những chuyện lớn chỉ đưa đến kết quả nhỏ. Đúng ra Chúng ta điều khiển mọi việc bằng nguyên lý. Giống như Thiên Chúa, Ông ấy cũng điều khiển vạn vật bằng nguyên lý. Các người trí mỏng nên suy nghĩ vụn vặt. Chuyện giáo xứ ông hiện giờ là chuyện thuộc bản năng và xã hội. Chúng ta không xúi giục, mà chỉ cần lái nó đi về hướng bất lợi cho Thiên Chúa.
Cha sở nhìn tôi với ánh mắt người thầy:
- Thầy thấy không! Chúng ta làm cớ cho ma quỷ lợi dụng mà thôi! Nhiều khi Họ chẳng cần làm gì động móng tay, Họ chỉ ngồi chờ thu lợi.
Tôi không biết cha nói chung chung hay có ý ám chỉ chuyện hai cha phó hiện đang âm mưu lật đổ cha. Nhưng tôi cảm thấy ở cha một tâm hồn đầy bình an và sâu lặng. Tôi ngập ngừng hỏi cha:
- Như vậy mình phải làm sao thưa cha?
Cha sở cười nhẹ nhàng, giọng trầm hơn dù vốn đã trầm, chậm và từ tốn:
- Sao mà kiểm soát nổi bản năng? Nó như con ngựa chứng. Sao mà an tĩnh giữa xã hội bất an và sóng gió? Đời như biển động.
Cha sở nói khẽ khàng như chỉ cho mình tôi nghe:
- Thầy hãy mặc lấy lòng bác ái.
 
Đêm đó tôi ngủ với một ác mộng:
Tôi thấy mình đi giữa hai bờ vực thẳm sâu hút hai bên. Nhưng sau lưng tôi có rất đông người đang bổ nhào đến rượt bắt tôi cùng với những tiếng gào thét:
- Mầy không thoát khỏi tao đâu!… Mầy không thoát khỏi tao đâu!...
Tôi vừa chạy thục mạng vừa la hét ú ớ. Sợ nhất là muốn chạy nhưng không sao nhấc chân lên nổi. Tiếp đến bị đánh thức do chính tiếng la của mình, nhưng tôi không sao mở mắt ra được dù rất muốn. Vật vã rất lâu tôi mới mở mắt ra. Cảm giác cho hay có một bóng đen to lớn đứng cạnh ngay đầu giường cùng với tiếng thì thầm đay nghiến kia:
- Mầy không thoát khỏi tay tao đâu!
Thức dậy được rồi, dù đã rất lâu tôi vẫn không phân biệt đâu là mộng đâu là thực. Bóng đen ở đầu giường đã biến mất, nhưng tôi vẫn còn mông muội lắm! Mồ hôi vã ra từng chân tơ kẽ tóc, làm ướt đẫm cả chiếc áo mai-ô dù trời lúc một giờ sáng đang trở lạnh. Tôi hết sức sợ hãi cứ ngồi bó gối trên giường mà chẳng dám động đậy, sau cùng chỉ còn biết bấm đốt ngón tay lần chuỗi cho đến sáng.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 10:53:48 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 05:42:53
Kỳ 8
 
Trong giáo xứ bỗng xảy ra một câu chuyện có thể gọi là hy hữu.
Một cô gái trẻ tuổi trạc đôi mươi, dễ nhìn, bỗng xưng mình được Đức Mẹ nhập vào. Cô gái từ thân phận con một gia đình nghèo, ít học, không có mặt trong bất kỳ hội đoàn nào như hội Con Đức Mẹ, hội Thiếu nhi Thánh Thể, hội Nữ Thanh giáo xứ, hội Legio… ít lui tới nhà thờ, ít ra đường, ít giao du, khép kín, nhút nhát và e lệ, nay bỗng dưng trở nên hoạt bát, nói nhiều, biết nhiều thậm chí có thể nói ra những lời thông thái.
Người ta kể: cô gái tên Ngoan một hôm sau giờ kinh mai của gia đình, cô kêu nhức đầu rồi bất tỉnh, một lúc sau tỉnh dậy cô nhất định bắt cha mẹ và các em phải quỳ gối dưới chân mình vì mình hiện đang là Đức Mẹ Maria.
Cha mẹ cô Ngoan ban đầu không chịu nổi, nhưng dần dần thấy cô gái nói năng khác thường, làm nhiều điều kinh dị ví dụ chẳng ăn chẳng uống lẫn ngủ nghỉ suốt nhiều ngày mà vẫn tỉnh khỏe, đặt tay chữa bệnh cho mẹ mình, hay ăn nói bạo dạn hẳn ra…Những gì thuộc hiện tượng không đáng được kể ra, xin vắn tắt để chỉ nói những kín ẩn bên trong.
Hàng xóm nhanh biết tin rồi dần dần tụ tập đến nhà cô Ngoan, vì đã có sẵn lòng thành tín với Đức Mẹ từ lâu nên nay dựa vào chuyện lạ này mà nảy sinh đủ điều mê tín. Ban đầu ít người tin, những người tin là chỉ giáo dân, nhưng dần có nhiều người tin là những ông giáp ông biện (thành viên ban Hành giáo ngày nay)… trong họ đạo. Chẳng trách! Vì cô gái nói nhiều điều cao siêu ngay đến trí khôn tôi cũng còn “bưng bưng chóng mặt” huống gì giáo hữu ở đây phần đông ít học, ví dụ câu:
- Mẹ là nhân chứng cho tình yêu Thiên Chúa…
Hoặc cô gái nói trước rằng ngày mai ai sẽ đến viếng cô. Chuyện này thì nhiều người phát hoảng: cô gái dùng tay bốc được ngọn lửa lớn ở cây nến sáp to đùng này, rồi mồi lửa sang những cây nến khác như ta bốc một nhúm bột.
Một đồn mười, mười đồn trăm… ngày càng nhiều người tuôn đến với cô Ngoan để xem vì tò mò, để cầu khấn ơn này ơn kia vì tin tưởng. Lúc đầu là giáo hữu địa phương, dần đến giáo hữu các giáo xứ lân cận, rồi người lương, cả đến quân nhân mặc quân phục cũng chen lấn với mọi người… khiến chính quyền địa phương phải nhọc mệt để giữ trật tự.
Ngay từ đầu vừa nghe chuyện xảy ra, tôi đã hỏi cha sở:
- Thưa cha! Phải cắt nghĩa làm sao khi các em lớp giáo lý hoặc những người lớn hỏi thực hư vụ này?
Cha sở bảo tôi:
- Thầy cứ trả lời rằng đừng tin vào những chuyện như thế với ba lý do: Một là từ ngàn xưa, Chúa lẫn Đức Mẹ đến với con cái bằng con đường quang minh chính đại chứ không nhập xác v.v…; hai là mỗi hiện tượng là do Chúa và Đức Mẹ làm, đều nhằm gửi đến con cái thông điệp chan chứa yêu thương và hữu ích; ba là phải chờ Giáo hội phán quyết.
Nghe cha sở dạy vậy, tôi thường xuyên nghe ngóng hiện tượng lạ ấy bằng khuôn mẫu phán đoán ngài vừa đưa ra, rồi an tâm và xác tín trả lời cho các em các lớp giáo lý và người lớn chung quanh khi họ hỏi ý kiến.
Một đêm kia, khi cha sở kể tiếp chuyện. Cha kể rằng:
Trước kia cũng có một chuyện không khác chuyện này. Người bị mượn xác cũng là một cô gái. Lúc đó tôi hỏi ông Lực lượng:
- Do các ông làm hết đó mà!
Ông ta thẳng thừng công nhận:
- Phải! Chúng ta đưa con người đến chỗ mơ hồ, hoang mang rồi lầm lạc.Ranh giới giữa thực và hư rất tốt để Chúng ta làm việc đó. Đầu óc con người các ông rất tò mò, cả tin. Chúng ta đưa con người đến chỗ hoang mang, mơ hồ và lung lạc họ. Dẫn con người đến chỗ lầm lạc là việc làm của Chúng ta.
- Các Ông đã làm thế với các bè rối xưa nay trong Giáo hội ư?
- Rất đúng! Những đầu óc thông minh tự kiêu, những đức tin yếu đuối, những hoang mang dốt nát, nhất là những ai chỉ cần có một chút dấu hiệu dựa vào Chúng ta… là Chúng ta đến ngay. Chúng ta làm cho con người hiểu sai cả Phúc âm, hiểu sai Phụng vụ, hiểu sai lòng yêu thương của Chúa, hiểu sai ơn cứu độ, hiểu sai về nhau và hiểu sai về Chúa.
Tôi hỏi ông Lực lượng:
- Hẳn chính tôi có lúc cũng sai!... Vậy sự sai lầm luôn do chính các Ông dựng lên?
Ông Lực lượng không chối:
- Phải! Chúng ta phải và sẽ còn phải gây sai lầm khắp mặt đất!
Tôi kể chuyện hôm trước tôi ngủ, sau cơn mơ tôi thấy những sự kiện giống như thật. Cha sở an ủi tôi và bảo đó hoàn toàn là sự mê muội do giấc ngủ mang đến. Đừng bao giờ để lý trí mình bị ám ảnh. Nói chung phải lánh thật xa những gì mơ hồ, đồn đoán, giả định… Đó là bài học rất lớn cho tôi cho đến suốt cuộc đời.
Không biết tại sao mỗi khi được ở kề bên cha sở, tôi cảm thấy vững dạ và an tâm không thể tả! Cho nên khi cha vừa dạy như vậy xong, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ. Tính tôi rất nhút nhát, dù được cha thương –tôi dám khẳng định như vậy- nhưng chưa bao giờ tôi bớt nể trọng, khâm phục và kính sợ cha. Bây giờ thì tiện thể tôi hỏi luôn câu hỏi còn giấu kín trong lòng:
- Thưa cha, hiện nay ông Lực lượng còn liên lạc với cha thường xuyên không ạ?
Cha sở gật đầu:
- Vẫn còn.
Tôi hơi rùng mình khi nghĩ rằng nếu vậy thì tôi cũng có liên can chi đó với quyền lực bóng tối. Hình như đoán biết tôi sợ hãi, cha trấn an:
- Không sao đâu con! Thân xác con người chúng ta luôn phản ứng trước siêu hình. Vì chịu không nổi bóng dáng của siêu hình, cho nên thân xác phản ứng tự vệ. Nếu bình tâm suy xét hẳn thấy siêu hình là một thế giới hấp dẫn, nếu được tiếp xúc lâu dần thân xác sẽ quen. Khi hấp hối người ta quá sợ hãi bởi vì chưa quen. Người ta sợ ma nhưng rất thích nghe kể chuyện ma là vì thế.
Tôi hỏi cha câu cuối:
- Con có cảm giác bị ông Lực lượng theo dõi. Có đúng vậy không?
Cha sở xoa đầu tôi:
- Vì con thay cha sẽ kể lại mọi chuyện với giám mục, nên con bị chú ý đặc biệt hơn mọi người.
Có lẽ đúng như thế thật! Bởi vì sau đó mấy hôm, tôi có việc đi về tỉnh.
Do sáng sớm đi vội, nên quên bẵng mang theo bóp ví, tất nhiên không có một mảnh giấy lộn nào để tùy thân, lại còn mặc xi-vin (thường phục) nữa!
Thời này trai tráng ra đường nếu không mặc quân phục thì phải có giấy tờ gì đó chứng minh rằng mình không “trốn quân dịch”. Các đại chủng sinh luôn được cấp giấy Hoãn dịch cấp hàng năm.
Từ bến đò vừa mới bước lên bến xe Honda ôm, ba người mặc quân phục Cảnh sát Dã chiến ập tới vây lấy tôi. Một người nghiêm chào rồi đòi xem giấy tờ. Tôi chỉ còn biết ấp úng viện lẽ mình là tu sĩ đang đi công vụ, nhiệm sở ở nhà thờ lớn bên sông, vì đi gấp nên quên mang theo giấy tờ.
Họ không chịu và bắt đầu hạch sách đủ điều rồi định áp giải tôi lên xe jeep gần đó để đưa đi.
Đúng vào lúc đó đám quân nhân đứng rải rác bên kia đường đông chừng hơn một tiểu đội bắt đầu cãi nhau về chuyện gì đó nghe rất gay cấn.
Tiếng chửi thề vang cả một góc trời. Súng ống bắt đầu khua và không lâu sau đó họ nổ súng thật. Dân chúng hai bên đường chạy dạt vô các dãy nhà gần đó, ba người lính định bắt giữ tôi giờ đã quên chuyện cũ, tham gia ngay vào cuộc ẩu đả để tôi trơ trọi một mình, nên tôi cũng bỏ chạy vào các dãy nhà để tránh lạc đạn. Không lâu, ba chiếc xe chất đầy lính Quân cảnh đến trấn áp và vãn hồi trật tự.
Tôi thoát nạn nhưng không còn dám đi nữa mà quay trở về nhà. 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 08:29:22 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 06:03:57
Kỳ 9
 
Chuyện cô Ngoan “được Đức Mẹ nhập tràng” ồn ào, kinh động và gây hiếu kỳ đến độ đi đâu cũng nghe người ta chỉ bàn tán xôn xao có bấy nhiêu, kèm theo đồn đại nhiều thông tin thất thiệt, nhiều kỳ tích lâm ly kỳ bí với niềm xác tín mạnh mẽ vững chắc không gì có thể làm suy suyển được… Nhưng rồi cũng tiêu tan nhanh chóng.
Số là từ khi bắt đầu xảy ra chuyện lạ, người này muốn cha sở công nhận, kẻ khác muốn cha lập kế hoạch để tôn kính Đức Mẹ cách đặc biệt hơn, người nọ lại còn đề nghị làm lễ rước cô Ngoan về nhà thờ v.v… phần đông dư luận muốn cha sở phải công bố trên tòa giảng những điều Đức Mẹ dạy, những điều Đức Mẹ làm qua miệng qua tay cô gái thất học và nhà quê này.
Cha sở dứt khoát từ chối mọi thỉnh cầu lẫn những lời đề nghị.
Tôi hết sức chăm chú dõi theo cha sở mong học được những gì hay nơi cha. Dịp này tôi mới thấy thật rõ cha có đức tính trầm tĩnh, kiên cường, can đảm và thận trọng toát lên từ óc sáng suốt chứ không phải thận trọng do tính nhút nhát, mông muội… những đức tính ấy của cha thể hiện ngay trong lúc mọi chuyện đang sáng-tối, trắng-đen, úp-mở… đôi bên chưa phân tỏ, mọi người cứ rối tinh lên. Cha thường đưa ra chỉ một câu trả lời ngắn gọn và đầy ý nghĩa cho nhiều loại câu hỏi ngây thơ tìm hiểu hay ma mãnh bắt bí:
- Tôi đang chờ lệnh của Tòa giám mục đây!
Tôi được đọc các sách nói về sự lạ Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (Bồ Đào Nha), hiện ra ở Lộ Đức (Pháp), ở Trà Kiệu hay Lavang (Việt Nam)… nên biết được mỗi sự kiện như thế, giáo quyền rất nhọc tâm để đi đến một quyết định, vì con người bản tính ưa đẻ ra nhiều luồng dư luận tương phản nhau trước mỗi sự kiện lạ, khiến sự việc đã rối rắm càng thêm rối rắm. Đây là sự kiện tôi may mắn chứng kiến để tận dụng học hỏi cách xử trí của các đấng bề trên cấp giáo phận và cấp giáo xứ.
Sự mù mờ hư thực ngày một dâng cao, giáo dân ngày càng nhốn nháo bất an, quan điểm ngày càng phân cực, giáo xứ ngày càng chia rẽ… tất cả hầu như đã đi đến đỉnh điểm khi bỗng dưng một hôm, cô Ngoan gửi sứ giả đến nhà xứ yêu cầu cha sở phải thân hành đến nhà cô để “lạy chầu Đức Mẹ”.
Từ đầu câu chuyện đến giờ tôi không thấy cha sở liên lạc gì với tòa giám mục, nhất nữa ngay trong lúc này đang xảy ra sự việc thì chiến sự quanh vùng lại nổ ra trầm trọng, đường sá bị tắt nghẽn, trong đó, con đường huyết mạch từ giáo xứ về tòa giám mục buộc phải đi qua hai con sông đã khó, lính tráng đầy dẫy tra xét và công sự phòng thủ rào rắp chốt chận… càng làm khó thêm người đi đường. Tôi lo lắng không biết cha sở làm sao lãnh ý của đức giám mục được, làm sao để xử trí với diễn tiến bất ngờ và bất lợi như thế. Trước những sự kiện có dính dáng đến yếu tố thiêng thánh, vừa mù mờ vừa nhạy cảm như thế này, giáo quyền im lặng thì dễ, nhưng buộc phải lên tiếng hay buộc ứng xử cho ra lẽ thì thật khó! Mấy ngày qua, mỗi khi gặp mặt cha sở, tôi chăm chú để ý những phản ứng gì của ngài, nhưng tuyệt nhiên không một dấu hiệu gì của lo âu, xao xuyến, căng thẳng ngoại trừ duy một nét đơn sơ, hồn hậu cố hữu của vị cha sở nhà quê đầy chất “xứ Ars”trong truyện thánh Jean Vianey. Ngược lại đôi lúc tôi cảm thấy mình bỗng trở nên bé nhỏ làm sao khi ở trước mặt cha! Vì thế tôi im thin thít không dám hỏi ngài bất kỳ một điều gì dù rất muốn.

Bỗng sáng hôm đó trước “thánh lễ đèn dầu” -mỗi buổi sáng ngày thường cha sở dâng thánh lễ với đèn dầu đốt leo lét đó đây trong thánh đường rộng lớn, nhưng thỉnh thoảng có buổi sáng nào một trong hai cha phó dâng lễ do nhu cầu đặc biệt thì thắp đèn điện sáng choang, cho nên giáo dân trìu mến gọi đùa những thánh lễ cha sở dâng buổi sáng ngày thường là những “thánh lễ đèn dầu”-, sau khi thuật sơ lại cho cộng đoàn việc cô Ngoan gửi sứ giả đến yêu cầu triệu tập cha sở, cha sở vẫn với giọng nhẹ nhàng, công bố:
- Tôi đã cử ông trùm Lê Văn Đầu đến trao cô Ngoan tờ lệnh, tôi xin đọc để mọi người được biết một cách thật tỏ tường. -Nhìn vào tờ giấy khổ lớn, cha sở đọc với giọng dõng dạc và chậm rãi- “Đấng bản quyền sở tại họ đạo An Biên, yêu cầu cô Têrêxa Phạm Thị Ngoan, 25 tuổi, con ông Phêrô Phạm Văn Chiêu và bà Anna Nguyễn Thị Xê, ngụ tại khu III, giáo xứ An Biên, người đã tự xưng được “Đức Mẹ nhập tràng”, trong vòng ba ngày, phải đến trình diện với cha sở tại nhà xứ.. Làm tại An Biên, thứ sáu, ngày 7 tháng 12 năm 1962, ký tên: linh mục Albeza Đặng Tuấn Anh.. Postscriptum: Lệnh này được ra lần thứ nhất.
Tôi hết sức bất ngờ, ngạc nhiên lẫn tò mò thú vị theo dõi. Ôi! Quả “ông già gân” – nhiều người gọi cha sở như vậy - đáng mặt một ông cha sở họ đạo lớn và phức tạp thế này! Đức cha không phân bổ sai ai bao giờ! Bề ngoài của cha sở hiền hậu rặt một chất “tiên phong đạo cốt” là thế! Nhưng bên trong, bây giờ tôi mới biết, bản lãnh, nghị lực và cứng rắn không thua gì thánh Ambrôsiô từng phạt đến cả vua (vua thánh Théodore) quỳ gối ngay trước tiền đình nhà thờ làm gương cho giáo dân ra vào! Có chết khiếp không chứ!
Suốt ba ngày sau đó không thấy cô Ngoan đến.
“Thánh lễ đèn dầu” sáng thứ hai tiếp theo, cha sở đọc lệnh triệu tập lần nữa, rồi cũng chấm dứt bằng câu:
- Post scriptum: Lệnh này được ra lần thứ hai.
Thêm ba ngày nữa vẫn không thấy cô Ngoan đến trình diện.
“Thánh lễ đèn dầu” sáng thứ năm trước đông đảo giáo dân hơn, cha sở đọc lệnh triệu tập lần thứ ba, cuối thư cũng kết thúc bằng câu cũ nhưng có dài hơn và hơi khác hơn:
- Post scriptum: Lệnh này được ra lần thứ ba. Sau ba lần triệu tập, nếu đương sự bất tuân vụ lệnh, giáo quyền sẽ có cách giải quyết.
Cô Ngoan cũng vẫn im hơi. Không đến.
Đúng là cha sở có ý đồ rõ rệt, cho nên chuyện sau đây rơi đúng vào sáng chúa nhật, trong thánh lễ đèn điện sáng choang và long trọng, cha sở mặc áo surplis (gọi nôm na là áo các phép) đeo dây stola (dây đeo cổ vòng ra trước ngực và buông thõng dài xuống đến dưới thắt lưng… để linh mục cử hành một số bí tích)… đường bệ và uy nghiêm công bố:
- Sau ba lần gửi lệnh triệu tập – cha sở giơ cao ba phong thư lên cho giáo dân xem – cô Têrêxa Phạm Thị Ngoan không vâng lời đấng Bản quyền sở tại... Nay tôi tuyên bố ra lệnh cấm cô Ngoan lấy danh Đức Mẹ Maria để hành sự mờ ám. Đồng thời tôi ra lệnh cấm mọi giáo hữu đến nhà đương sự.
Hình như có bóng dáng quyền uy của Thiên Chúa trong từng câu chữ… nên mọi người hiện diện ai nấy đều cảm thấy có một cái gì đó huyền bí thần tốc thần lực chuyển luân trong huyết quản khiến rần rần cả da thịt. Tất cả đều im phăng phắc với vẻ cung kính khiếp sợ.
Thánh lễ tiếp tục như mọi khi trong bầu khí sốt sắng lạ thường!
Sự kiện “cô Ngoan được Đức Mẹ nhập tràng” sau đó lụi tàn dần, vì giáo dân nào mà không tin nghe lời cha sở! Thế nên ngay lập tức, chẳng ai dám lui tới hoặc dám bén mảng đến nhà cô. Thật vậy! Giáo dân lúc nào cũng trông chờ sự hướng dẫn khôn ngoan, cả quyết của giáo quyền để họ được cung kính vâng lời, miễn sao với tư cách thay mặt Chúa quyết định dưới ơn soi sáng của Thánh khí và Sự thật.
 
Nhưng sự việc thế thôi mà xong thì còn gì để nói! Hai cha phó vốn đã chống đối và muốn trục xuất cha sở, nay được dịp nổi lên, hiệp lực với cô Ngoan và bè phái ủng hộ để lôi kéo thêm nhiều giáo dân chống đối cha sở một cách công khai… ngày càng dữ dội hơn.
Thật là lộn xộn! Tôi không nghi ngờ hai cha phó, mà tin rằng có ai đó hiểm độc hơn thừa nước đục thả câu thổi vào giáo dân luồng tư tưởng cho rằng cha sở là thành viên của hội Tam điểm (Franconnerie) -một thứ giáo phái chống phá Giáo hội và xã hội – qua việc cha sở phủ nhận “Đức Mẹ nhập tràng” thế kia! -. Thời điểm này ngoài đời trong đạo cũng râm ran nhiều dư luận cho những nhân vật chóp bu của thế quyền là người thuộc hội Tam điểm, cho những ai thành đạt trong chính trị, quân sự lẫn thương mại… đều là người hội Tam điểm. Chính vì vậy lúc này mà quy kết cha sở là người của hội Tam điểm thì còn gì thuận lợi cho bằng!
Nhưng như ngọn đèn lóe sáng để rồi phụt tắt, sự kiện cô Ngoan bùng lên dăm bữa nửa tháng rồi tàn lụi nhanh không ngờ. Thêm một coup de grâce! (nghĩa chữ là một cú ân huệ, có nghĩa tử tội bị xử bắn còn đang ngắc ngoái, người ta bắn cho một viên đạn vào đầu giúp chết nhanh tránh đau đớn). Tòa giám mục vào cuộc. Cha phó lớn bị thuyên chuyển ngay tắp lự đến không kịp ai biết.

Khi sự việc đã dần ổn định, một hôm tôi rụt rè hỏi cha sở:
- Thưa cha! Cha giải quyết hay và đúng quá! Nhờ đâu cha sáng suốt phân định thực hư…?
Cha sở vẫn với giọng người cha hiền lành:
- Đâu có gì là hay hở con! Dùng phép thử “vâng lời” mọi việc sẽ được sẽ sáng tỏ.
Thấy tôi ngơ ngác cha giải thích thêm:
- Không có gì bằng “thuốc thử vâng lời”. “Thuốc thử vâng lời” thử được lòng trung tín, đức khiêm nhu, sự thành thật, ý chí, sự nhẫn nại, đức công bình, lòng mến, đức tin và vân vân… Chính Chúa Con cũng vâng lời Chúa Cha cho đến chết, Đức Mẹ cũng vâng lời Thiên Chúa sát rạt. Rồi con thấy đó! Đầy dẫy trong Phúc âm những đòi buộc, gương sáng, chuyện kể, dụ ngôn… về lòng tin. Tin là vâng lời chứ gì nữa! Ngược lại ma quỷ vốn loài thiên thần kiêu ngạo, chúng không thể vâng lời. Dùng vâng lời làm “thuốc thử” để tách việc nào của Thiên Chúa, việc nào của ma quỷ. Con hiểu không?
Tôi nhanh miệng không ngờ:
- Tệ thật! Vậy mà nhiều lúc con xem nhẹ đức vâng lời.
Cha sở cười vừa gật đầu:
- Hoặc người ta nói tới “vâng lời có điều kiện, có trao đổi…”… Không đúng! Đã vâng lời thì không điều kiện, không trao đổi, vì người vâng lời rất có cá tính, họ quyết định dứt khoát đến không suy nghĩ, không cân nhắc, không đong-đo-tính-đếm hay trăn trở, băn khoăn… lựa chọn! Còn thế là còn chưa vâng lời! Còn trẻ người ta ít vâng lời, càng già càng dễ vâng lời! Người vâng lời thì khiêm tốn đến nhỏ bé, tin tưởng mạnh mẽ đến hoàn toàn phó thác, nhất nữa là… vâng lời cấp tốc.
Phải nói tôi học ở cha sở nhiều hơn tôi tưởng.
 Cũng nhờ đó đường tu trì của tôi bỗng sáng hơn lên khi tôi quyết định từ nay tôi sẽ vâng lời Chúa tuyệt đối và cấp tốc, nói đúng hơn là vâng lời bất kỳ điều gì Chúa quyết định nơi tôi.
Nhưng… có lẽ như thế mà đời tôi càng ngày càng gặp nhiều biến cố,  nhiều trở ngại, nhiều khổ đau!?
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.04.2026 08:26:15 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 06:20:51
Kỳ 10
 
Mới đó mà đã bốn tháng tôi giúp xứ An Biên. Do công việc bù đầu bù cổ cộng thêm nhiều biến cố nên tôi không để ý đến thời gian. Nói vậy chứ công việc hay biến cố gì cũng không bằng biến cố xảy ra ngay chính trong đời tôi, chính biến cố tôi sắp kể đã làm tôi quên thời gian giúp xứ cực nhọc của mình. Biến cố này đã gây nhiều hậu quả cho tôi về sau dù rằng, nhờ đó tôi hiểu thấu cuộc đời hơn các bạn đồng môn và có nhiều kinh nghiệm hơn trong cách xử sự. Tôi xin tóm tắt.
Trong giáo xứ có gia đình ông Bảy Quý nề nếp nhất họ đạo do ông vừa có phong thái hơn người, vừa có người anh ruột linh mục là bạn thân của cha sở, có lẽ vì thế gia đình ông Bảy Quý như là thân nhân của chính cha sở, hai cô con gái rất đẹp và hai người con trai đang đi tu đều gọi cha sở bằng bác.
Cô con gái lớn của ông bà Bảy Quý tên Mỹ Ca hơn tôi mười tuổi, đẹp như một thiên thần và hát hay như một ca sĩ –thời này ca sĩ là Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Julie Quang, là Thanh Tuyền, Giao Linh, Giáng Thu…- thường lân la đến với cha sở hơn cả. Những khi gặp nhau tôi gọi Mỹ Ca bằng chị, sở dĩ từ đầu đến giờ tôi không nhắc đến là để hôm nay tôi mới dồn hết sức mà kể một lần một mạch, vì đời tôi tuy mới hơn hai mươi tuổi, nhưng gặp nhiều cớ sự hơn người khác gấp không biết bao nhiêu lần, có cảm tưởng tôi sống một năm, bằng người khác trải qua dễ chừng cả mươi năm, cho nên để kể chuyện đời, có lần người bạn chí thân bảo tôi kể, tôi nổi hứng kể huyên thuyên chuyện mình từ mười giờ tối hôm trước cho đến giờ đi lễ sáng hôm sau, kể đến độ nằm trên giường bên kia nó ngáy khò khò lúc nào tôi cũng chẳng hay.
Những lúc đầu gặp Mỹ Ca, tôi kính nể như một người chị, đối lại chị quý tôi như người em. Nhưng vì quen lân la khắp nơi trong nhà xứ, nên chị cũng lui tới “phòng” tôi một cách tự nhiên và dễ dàng, lại còn tặng tôi khi cái lược, lúc cái khăn, khi quả ổi…
Khoảng bốn giờ rưỡi sáng hôm đó gần đến mùa Noel, trời trở lạnh, khi tôi đang chuẩn bị đi lễ thì chị bước vào ôm chầm lấy tôi khẽ bảo: “Sao chị lạnh quá Liêu ơi!”. Tôi cứ để mặc chị ôm, không chừng… tôi cũng có ôm lại. Trong lúc ôm tôi, chị sờ nắn khắp người tôi khiến tôi lơ mơ không còn biết gì nữa. Hai chị em quấn quýt với nhau một lúc rồi đi lễ. Lòng tôi bỗng thấy có cái gì đó khác lạ, nhưng trí ý vẫn cứ đơn sơ nghĩ đó là tình chị em.
Chuyện vậy cứ xảy ra đều đặn ít lâu thì chị hôn trên mặt, trên cổ… và một hôm chị dậy tôi hôn môi, những lúc như vậy chị rên khe khẽ: “Chị thương em lắm Liêu ơi!... Liêu có thương chị không hở Liêu?”... Trong suốt thời gian cứ sáng nào cũng xảy ra như thế –vào lúc không ai có thể ngờ được khi cha sở ở sâu trong nhà thờ, hai cha phó thì chốt chặt cửa ngủ vùi, nhà xứ tối mù và vắng lạnh- tôi không từ chối điều gì với chị chỉ vì cảm xúc và cảm giác rất lạ nhấn chìm tôi đến tận dưới đáy vực sâu.
Hai chị em bắt đầu thấy ghiền nhau. Nói đúng ra chị Mỹ Ca sành sõi hơn, nên hễ khi tôi ngần ngại hay tỏ ra sợ hãi, chị lại thì thầm để đánh lạc hướng “… chị thương em như em ruột của chị vậy” hoặc “chị lạnh quá”, “em xem giùm, chị đau chỗ này quá!” v.v…Đang ngụp lặn trong tình yêu chị em ngang trái, xảy ra ba hiện tượng làm tôi hơi hoảng.
Một là mỗi khi Mỹ Ca đè tôi hay tôi kéo lôi Mỹ Ca nằm xuống giường thì có tiếng đập trên thanh sắt cuối giường. Ban đầu tiếng đập nghe nhỏ như ai đó dùng tay đập lên thanh sắt một tiếng, ai nghe thế có thể giải thích mình nghe lầm hay tiếng gì đó trùng hợp, dù vậy cũng đủ làm chúng tôi giật mình mất hứng và buông nhau ra ngay. Những ngày tiếp theo, tiếng đập trở nên lớn hơn và mạnh hơn khiến không thể lầm với tiếng động gì khác được, có xem xét kỹ thì không thấy điều gì có thể va chạm đến cái giường. Chúng tôi nhìn nhau lo ngại. Tôi bắt đầu hơi sợ.
Cuối cùng là sáng hôm đó, lúc chúng tôi còn chưa đè nhau ra giường thì một tiếng đập thực sự nổ lớn giữa một thanh sắt khác đập vào thanh sắt cuối giường. Chúng tôi giật bắn người, kinh hoàng và kéo nhau chạy ra khỏi “phòng”. Không thể cắt nghĩa được và cũng chẳng dám hỏi ai, Mỹ Ca lại hay sợ ma, nên từ đó chị sợ đến nỗi không dám lên “phòng” tôi nữa.
Hai là một hôm đang dạy học, có hai người đàn bà đạo đức siêng đi lễ sáng kéo nhau đến nói cho tôi biết, gần mỗi sáng đi lễ, lúc trời còn tối mịt, họ thấy một quầng lửa bay chầm chậm từ cây me cổ thụ bên trường, đáp xuống rồi chui tọt vào đúng vị trí “phòng” của tôi. Hai người hỏi tôi có nhìn thấy giống như thế không, hoặc có cảm thấy cái gì khác lạ không, các bà hỏi tôi rằng, nghe họ kể như thế tôi có đoán ra được điều gì hay không? Vì sợ “có tật giật mình”, nên tôi không dám hỏi cha sở, dù cha luôn là người từ bao lâu nay được tôi kể và hỏi han đủ thứ chuyện.
Ba là tôi được phép về thăm nhà một ngày để cầu nguyện cho cha tôi. Cha tôi xưa đau bệnh rồi mất đúng vào ngày 24 tháng 12, thời đó trong đạo không có tục ăn giỗ như bây giờ, chỉ là dự thánh lễ cầu nguyện rồi ra thăm mộ. Khi tôi vừa về đến nhà, mọi người kêu lên sao tôi hốc hác và nước da nhất là nơi mặt, mũi, cổ và tay chân… sậm lại như bị bệnh nám da. Má tôi mời thầy thuốc đến bắt mạch thì thầy nói tôi bị một trong những thứ bệnh tà. Ai cũng lo nhưng tôi là người lo nhất vì tới lúc này tôi biết chắc là mình đang bị một vấn đề gì đó...
Trên đường trở về nhiệm sở, tôi suy đi nghĩ lại nhiều lắm, cuối cùng quyết định không thể giữ một mình nỗi lo sợ nữa. Tối hôm đó tôi vào phòng cha sở với ý định thú nhận hết với cha như một vị linh hướng.
Khi tôi mới bước vô phòng, cha sở nhìn tôi vừa hỏi vừa nói:
- Xảy ra chuyện gì đó với con rồi! Đúng không?
Không toan tính trước, cũng chẳng biết tại sao, tôi chạy đến quỳ sụp xuống bên chân cha bên bàn cha đang làm việc. Tôi khóc nức nở đến nỗi có cảm tưởng không gì có thể cầm lại được những dòng nước mắt ăn năn.
Cha sở đặt tay lên vai tôi rồi kiên nhẫn chờ tôi khóc mùi mẫn.
Khi tôi bớt khóc, tôi thưa:
- Con là kẻ có tội…
Cha sở không để tôi nói tiếp, cha nói bằng giọng của một người cha thật dịu hiền:
- Con không cần phải nói gì! Cha biết hết rồi!
Cha nắm lấy hai vai tôi và nói thêm:
- Chúa cũng không chấp tội! Con bình tĩnh và nhận phép giải tội nghe con!
Tôi lại khóc. Vừa khóc vừa đọc kinh ăn năn tội.…
Khi về “phòng” tôi suy nghĩ và tự hỏi mãi, cha đã biết gì? Tại sao cha biết? Tôi thật không dám hỏi cha sau đó, một phần mắc cỡ, một phần sợ sệt.
Mãi hơn hai mươi năm sau, khi cha gần lìa đời, không do tôi hỏi, nhưng cha tự kể:
Lúc đó Ông Lực Lượng kể tôi nghe hết chuyện của thầy và đứa cháu gái. Kể xong Ông ấy bảo:
- Chúng ta không muốn mất thằng nhỏ quá sớm! Nó nằm trong kế hoạch của Chúng ta.
Tôi kêu lên:
- Các Ông định làm gì thằng nhỏ? Hãy để nó yên có được không! Nó có bề gì tôi trả lời với đức cha thế nào đây!
Ông Lực Lượng trấn an tôi:
- Chúng ta đã làm gì thằng nhỏ đâu mà ông la hoác lên như thế! Trái lại Chúng ta đang đẩy nó thoát ra khỏi cái mớ ngùng ngoằng đó đấy! Con người các ông như một nhúm bùi nhùi nhậy bắt lửa, chỉ cần một tàn lửa nhỏ thôi là cháy thật sạch!
Thật vậy, chẳng ai có thể nên thánh nếu Chúa không nâng đỡ, vì chỉ một tích tắc bất cứ con người nào cũng có thể sa ngã, thực tế đã chứng minh ngựa bốn chân còn xảy, bảy mươi chưa gọi mình lành… không ai dám tự hào mình khôn giỏi, ngược lại kẻ càng khôn ngoan thì cũng có những kế hoạch khôn ngoan một khi kẻ đó muốn phạm tội, kẻ càng kín kẽ thì ngã sa càng bí mật nếu muốn, cũng thế, nếu kẻ đơn giản phạm tội giản đơn thì người già giặn phạm tội càng nhuần nhuyễn, lão luyện và ma mãnh.
Mỹ Ca được gia đình cho sang Pháp và ở đó luôn, đến tận bây giờ rồi mà tôi vẫn không gặp lại. Cuộc đời tôi sau này bị thay đổi rất nhiều bởi mối tình bị cuốn ngay vào vòng xoáy đam mê, vì từ trước cho đến lúc đó, những cô gái yêu tôi, tỏ tình với tôi, theo đuổi tôi… tất thảy đều đến bằng một thứ tình yêu bình dị, thông thường, không trái ngang và lâm ly như trong tiểu thuyết lãng mạn, cũng chưa ai chế ngự tôi bằng nỗi đam mê khủng khiếp như thế. Thường các cô gái quê mới lớn trong các xứ đạo yêu các thầy đại chủng sinh bằng một thứ tình yêu rất hồn nhiên, nhẹ nhàng và kín đáo, yêu chỉ biết đứng xa mà nhìn trộm, được dịp thì lân la rón rén, có cơ hội ở riêng thì e thẹn đến mặt đỏ lựng cũng chẳng nói được một câu, rời nhau ra thì quyến luyến, bạo lắm cũng chỉ biết viết thư ngụ ý tỏ tình cách vụng dại hoặc tặng nhau tấm ảnh, chiếc khăn làm kỷ vật gửi gắm nỗi ước mơ… làm gì có hò hẹn, làm gì có cho nhau những thứ trái cấm đầu đời…
Mỹ Ca đột ngột đến rồi đột ngột đi để lại tôi đau đớn da diết một mình, đã thế còn lưu lại trong tôi những vết hằn khó lòng gột bỏ.
Đôi lúc tôi cảm thấy đi tu sao khó quá!
Còn việc Ông Lực Lượng có kế hoạch trên tôi, tuy mãi đến sau này cha sở mới tiết lộ nhưng tôi đã sớm suy đoán. Có nghĩa là sau khi Mỹ Ca bí mật rời Việt Nam đi Pháp không một lời từ biệt, tôi dần dần suy ra từ chỗ luôn bị Ông Lực Lượng theo dõi, cho đến quấy phá “mối tình” chớm nở giữa chúng tôi là nhằm giữ cho tôi sống trong bậc tu trì, nếu có thể làm đến linh mục nữa, để họ sử dụng tôi cách đắc lực hơn. Như vậy đủ biết họ khôn ngoan và đa mưu túc trí dường nào, họ không dễ hiểu như chúng ta nghĩ, không phải lúc nào họ cũng làm trò ma mị, làm ông Ba Bị, làm những điều quấy quá phơi bày trước mắt, hay nói chung đúng như chúng ta nghĩ cả đâu!
Tôi sẽ kể tiếp chuyện này khi đến thời điểm của nó.   
<bài viết được chỉnh sửa lúc 20.04.2026 00:41:57 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 06:42:19
Kỳ 11
 
Tối thứ bảy cha sở gọi tôi vào phòng để kể tiếp câu chuyện. Với tư thế nửa nằm nửa ngồi lưng tựa vào đầu giường, ngài kể chuyện bằng giọng yếu ớt như vừa mới trải qua một cơn đau còn thấm mệt.
- Tôi sợ mình chết trước khi kể hết mọi chuyện cho thầy nghe. Cho nên, tôi sẽ kể khi nào thấy có thể được, để thầy tường thuật hết lại cho đức cha sau khi tôi mất.
Tôi lắc đầu nguầy nguậy theo quán tính, nhưng cha xua tay kịp chận lại những lời tôi định nói:
- Chết là chuyện thường! Con người ai cũng phải một lần bước qua! Bước qua với cung cách can đảm thì cái chết sẽ rụt rè, bước qua với tâm thái sợ hãi thì cái chết sẽ uy hiếp tinh thần chúng ta lắm lắm!
Tôi để yên cho ngài nói.
Cha sở nói tiếp sau khi bảo tôi kéo ghế ngồi thật gần:
Một lần khi ông Lực Lượng đến tòa cáo giải ở cuối nhà thờ nơi tôi đang ngồi, cũng vào lúc hoàng hôn nhá nhem tối như thường lệ, ông bảo:
- Ngày mai Chúng ta sẽ nhập vào xác cô gái ở cuối họ đạo ông, cô đó tên Bích, ông biết đó! Cô ta ít đi nhà thờ, sống lôi thôi gần như bỏ đạo…
Tôi hỏi:
- Để làm gì? Có phải để phát ngôn điều gì đó cho Các Ông hay không? Các Ông có đủ quyền phép và uy vũ làm những việc lớn lao, sao lại chọn hoài cái cách vụn vặt thô thiển này để nói…?
Ông Lực Lượng trả lời:
- Chuyện gì có thể gọi là lớn và chuyện gì có thể gọi là vụn vặt? Nhiều chuyện hô hoán là lớn lao mà thực tế thì rất nhỏ, nhiều chuyện có vẻ vặt vãnh mà thật ra to đùng! Chúng ta không chê bỏ dịp lớn nhỏ nào để có thể chứng minh cho con người biết sự có mặt và sức mạnh của Chúng ta.
Tôi hỏi:
- Các Ông làm gì cũng phải có phép của Chúa, đúng không? Chẳng lẽ Chúa để con cái Chúa mặc cho Các ông muốn làm gì thì làm… sao?
Ông Lực Lượng có vẻ bực mình:
- Chúa ban cho các người sự tự do, hàm nghĩa Chúa cũng cho Chúng ta được quấy phá trong phạm vi tự do đó. Ông thắc mắc chi nhiều quá vậy!
Tôi không nao núng, hỏi thêm:
- Nhưng phải nói, ai bị Các Ông mượn xác, sau đó cũng đều trở nên xác xơ thân thể đến là đau lòng! Chúa đầy lòng trắc ẩn lại cho phép cả điều đó xảy ra hay sao? Chúa nhân từ cả với Các Ông nữa chắc!
Ông Lực lượng trở mặt, đang bực bội lại vui vẻ trào lộng:
- Á à! Ông khôn ngoan và lém lỉnh như một chính trị gia chứ có thua ai! Vậy mà giám mục và các linh mục trong hàng ngũ ông lại cứ tưởng lầm! Ông định khai thác ở Chúng ta để hiểu thêm về Thiên Chúa nữa đấy! Tinh khôn phải biết!
Tôi gật đầu thừa nhận:
- “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.” Nói chuyện với Các Ông tôi phải tận dụng chứ! Các Ông buộc tôi làm việc cho Các Ông, tất phải trả lương! Bằng đó thôi có gì là quá đáng!
Ông Lực Lượng vui vẻ thật sự:
- Được rồi! Tôi trả lời ông: Thiên Chúa dĩ nhiên đầy lòng trắc ẩn, Thiên Chúa đương nhiên là nhân từ, nhưng Ông ấy luôn tôn trọng trật tự tự nhiên, trong đó có luật “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”(*), ai hướng chiều về Chúng ta là Chúng ta đến với người ấy, ai có khuynh hướng với Chúng ta thì Chúng ta lui tới, ai cầu Chúng ta thì Chúng ta giúp đỡ, thấy thế Thiên Chúa đau lòng lắm nhưng phải chấp nhận vì đó là trật tự tự nhiên, Ông ấy lập ra thì Ông ấy tuân theo, chính Con Ông ấy xuống thế làm người bị dập vùi tơi tả, Ông ấy vẫn không can thiệp. Vì Con Ông ấy gia nhập vào vòng luân của luật tự nhiên. Đã gia nhập vào luật tự nhiên sao còn rút ra bằng sự miễn trừ nào đó?
Tôi muốn hỏi thêm nhưng Ông Lực Lượng phác tay tỏ cử chỉ không muốn nói về đề tài ấy nữa. Ông ta nói:
- Ông đừng có mà giở trò “trừ tà” trên con bé Bích với Chúng ta đấy nhé! Chỉ tổ vô ích thôi!
Tôi im lặng không trả lời, nhưng cũng tránh cả suy nghĩ, sợ trong suy nghĩ sẽ để lộ ra toan tính, mà toan tính ấy ông Lực Lượng có thể biết được.
Nhưng tôi không tài nào xua trí khôn nghĩ về điều khác được.
Theo thói quen, tôi giục lòng cầu xin Đức Chúa Thánh Thần đến giúp sức.
Bỗng trong nháy mắt, cái gì đó giống như một tia chớp xẹt nhanh qua đỉnh đầu tôi làm tôi như ngất xỉu trong tích tắc. Có thể ví mọi chuyện xảy ra gần giống như người ta bị điện giật.
Hoàn hồn trở lại tôi nhận ra không còn Ông Lực Lượng ở đó nữa. Tôi mơ hồ thấy Ông muốn lánh mặt đi thật lẹ khi Đức Chúa Thánh Thần ngự đến.
Ngày hôm sau ông Lực Lượng lại đến. Ông cau có bảo tôi rằng hễ khi nào đang nói chuyện với Ông thì đừng cầu nguyện. Đúng là Ông ấy có dặn như vậy nhiều lần. Tôi thanh minh rằng do thói quen mỗi khi không kiểm soát được mình thì cầu nguyện. Ông Lực Lượng chấp nhận lời xin lỗi rồi từ đó không nhắc đến nữa.
Cha sở kết luận bằng một câu:
- Thầy thấy đó! Không phải khen Họ, nhưng tôi thấy Họ cư xử không tồi!

Cha sở kể tiếp sau một cơn ho dài làm tôi cảm thấy xót xa.
Thầy biết không! Tôi là một đứa trẻ lỳ lợm lúc còn niên thiếu, là một chàng trai bướng bỉnh lúc thanh niên và là một người can cường lúc trung niên cho đến bây giờ. Đâu dễ cho ai muốn nói gì thì nói. Cho nên sau ba ngày ăn chay và cầu nguyện như Chúa từng dạy trong Phúc âm, sáng ngày thứ bảy tiếp theo sau đó, theo lời yêu cầu của giáo hữu, đồng thời tự thấy không nên để trong họ đạo do mình coi sóc mất trật tự. Tôi muốn bất kỳ một biến cố dù lớn dù nhỏ hễ xảy ra trong địa hạt do mình coi sóc, là giáo quyền, mình phải có ngay sự hướng dẫn cho giáo dân biết lối mà lần. Tôi vận áo “Các phép”(**) một mình tản bộ lên xóm trên cuối họ đạo để trừ tà.
Khi tôi mới băng qua khoảng đất trống để bước đến chuồng bò nơi cô gái tội nghiệp tên Bích đang bị gia đình xích lỏng bằng lòi tói (***), cô gái đã nói oang oang với tôi:
- Ông cha đi về đi! Đừng xía vô chuyện của Chúng ta! Chúng ta đã thỏa thuận rồi kia mà!
Tôi không tháo lui hoặc dừng bước, cứ đến cho thật gần cái đã. Cô gái tội nghiệp ăn vận một bộ cánh giờ đã rách rưới tả tơi và dơ bẩn vì phân bò dù vẫn còn lấp lánh chút nhan sắc. Tôi nói:
- Các Ông nên tôn trọng nhân phẩm, dù sao cũng…
Cô gái tội nghiệp nói tiếp theo với kiểu nhại giọng đầy giễu cợt:
… là con cái của Chúa.
Nói vừa dứt, cô gái tội nghiệp cười sặc sụa, nhưng trong tiếng cười ấy có chứa chút gì đó sắc lạnh độc dữ nghe đến nổi gai ốc phát rùng mình.
Có đông người kể cả giáo dân đi theo và nấp sau lưng tôi có vẻ sợ hãi. Họ còn cho biết cô gái tội nghiệp ban ngày bốc ăn bất cứ thứ gì có chung quanh ở dưới đất, còn ban đêm thì thức trắng và tru tréo, đêm khuya ai nghe cũng kinh tâm tán đởm và sởn tóc gáy.
Tôi suy nghĩ giây lát rồi bất chợt đưa ngay một đề nghị:
- Các Ông tha cho cô gái đi!
Cô gái tội nghiệp trả lời:
- Dễ như thế mà nói làm gì! Dễ như thế mà nói làm gì!...
Lại cười sặc sụa. Tôi thăm dò:
- Vậy tôi làm gì để Các Ông tha cho cô gái?
Cũng chính miệng cô gái tội nghiệp đối đáp:
- Ông phải thực hiện ba điều kiện.
Tôi hỏi:
- Là gì?
Cô gái đáp:
- Một là ông không được giảng gì về đức Bác ái trong vòng một năm.
Tôi bình tĩnh:
- Các Ông cứ nói tiếp đi!
- Hai là ông không được giảng gì về đức Tin trong vòng một năm... Ba là bỏ ý định cổ xúy Lần chuỗi trong họ đạo.
Tôi vặn vẹo:
- Trước khi tôi quyết định có đồng ý ba điều kiện đó hay không, tôi hỏi nè! Những điều kiện lớn lao như vậy sao Các Ông không nói thẳng với tôi mà phải nói qua cô gái tội nghiệp? Các Ông không biết rằng nói theo cái kiểu này khác nào Các Ông đang giảng và cổ vũ những điều vừa nói thay cho tôi. Mà xem chừng… còn thuyết phục hơn gấp bao nhiêu lần!
Cô gái tên Bích tội nghiệp nghe đến đó liền trả lời:
- Chúng ta biết ông rất thương người, nên dùng cô gái này chận chẹt ông mới xong. Chúng ta dư biết những gì ông nói, nhưng lời ông nói bao giờ cũng được đón nhận nhiều hơn.
Tôi im lặng một lúc rồi chấp nhận ba điều kiện trên.
Vừa nghe tôi chấp nhận ba điều kiện, cô gái tội nghiệp ngồi phịch xuống góc chuồng bò thở hồng hộc.Tôi hiểu dấu hiệu ấy là gì, nên bình thản ra về.
Mọi người kể lại rằng bắt đầu từ sau khi tôi rời bỏ chuồng bò, cô gái tội nghiệp bỗng từ từ dịu đi những dấu hiệu bất thường, bình lặng dần, một tuần sau thì trở lại bình thường.
Sau sự kiện đó, giáo dân họ đạo chia làm hai phe với hai quan điểm. Một là tin cậy vào Chúa vì sợ ma quỷ. Hai là sợ ma quỷ hơn sợ Chúa. Đúng là Họ đã làm cho cha rối rắm và cực khổ thêm lên rất nhiều. Một cha sở có trách nhiệm không phải chỉ điều hành sinh hoạt cho họ đạo, nhưng quan trọng là phải biết quan sát, theo dõi, bắt mạch và thăm dò phần hồn của họ đạo mình, để kịp thời lo toan phòng chống hay bốc thuốc cứu chữa. Chính vì thế cha khuyên mọi người phải hướng về Chúa bằng bất cứ giá nào. Con cũng vậy nghe con!
Tôi ngoan ngoãn “dạ”, rồi nhân tiện, tôi rụt rè nêu câu hỏi, bởi trong lòng cảm thấy rất thắc mắc:
- Thưa… tại sao cha lại chấp nhận ba điều kiện bất lợi… ấy?
Cha sở nhẹ nhàng đáp:
- Cha chấp nhận là vì tin rằng, hễ không giảng bằng lời nói, người ta vẫn còn có cách khác để giảng, đó là giảng bằng việc làm, tức dùng cuộc sống để nêu gương. Giảng bằng cách nêu gương lại còn tốt hơn gấp nhiều lần!
Tôi vỡ lẽ. Giảng bằng cách nêu gương thì ai cũng có thể giảng được. Tôi ra ngay một quyết tâm cho mình.
 
 
* Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu: nghĩa cùng giọng thì hợp nhau, cùng khí chất thì tìm đến nhau.
** Tên tiếng Pháp là áo surplis, tên tiếng Latin là superpellicium, áo trắng mặc bên ngoài áo dòng đen (soutan) tay rộng bỏ lửng, được gấp nhiều nếp, có dây buộc cổ, dài tới gần đầu gối, dành cho linh mục mặc khi cử hành một số bí tích ngoài thánh lễ và dành cho các nam tu sĩ mặc dịp lễ trọng hay hát vêpre.
*** Lòi tói: một loại dây xích bằng sắt thô, rất nặng.  
<bài viết được chỉnh sửa lúc 20.04.2026 00:40:10 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.04.2026 06:57:15
Kỳ 12
 
Như đã nói, cha phó “lớn” bị thuyên chuyển nơi khác, một linh mục trung niên được sai đến thay chỗ để làm cha phó “lớn” khác. Tình hình trong họ đạo có hơi đổi mới nhờ sự thuyên chuyển này ví dụ thánh lễ mỗi chiều được chăm chút hơn vì trước đây mải mê việc nhà trường, nên hai cha phó dâng thánh lễ vào các buổi chiều có phần vội vã và chiếu lệ; ví dụ khác, số giáo dân theo phe hai cha phó để chống đối cha sở dần tan rã cho họ đạo trở lại bình an thuở nào, cha sở được mọi người kính trọng và vâng lời trở lại.
Cha phó “lớn” tuy không khéo léo trong việc quản trị trường học, không khéo léo trong việc giao tế với các tầng lớp trong xã hội liên quan đến giáo xứ, nhưng bù lại, theo nhận xét riêng của tôi, ngài khôn ngoan hơn cha phó “lớn” cũ qua tính cách trầm tĩnh, ôn hòa đặc biệt là rất lịch sự… những tính cách đó tương hợp với vẻ ngoài thấp người, hơi gầy, đầu hói, tóc quăn, đôi mắt trũng, sáng, luôn chứa một ánh nhìn dò xét và đặt nghi vấn.
Sau khi ổn định chỗ ở, vị trí và công việc, cha phó “lớn” gọi tôi hỏi chuyện. Tôi đơn sơ và chân thật trả lời hết mọi câu hỏi của ngài những gì mình nghe, thấy, biết và suy nghĩ. Nhưng sau đó, từ thái độ vui vẻ vô tư ban đầu, ngài dần thay đổi thành không còn vui vẻ như trước, mà luôn lạnh lùng và nghiêm khắc với tôi. Sau này tôi mới hiểu ra chính cha phó “nhỏ” đã khiến cho ngài coi tôi như “tên gián điệp” của cha sở.
Vì vẫn làm việc chung và ăn chung với hai cha phó, nên tôi thường xuyên nhận được những lời nói và cử chỉ bóng gió xa xôi. Cứ tưởng với cha phó “lớn” này, tôi sẽ bớt đi cực nhọc, bớt bị đối xử thù nghịch, được giải tỏa đi những gánh nặng của nghi ngờ, định kiến… nhưng không! Những thứ đó giờ đây ngày càng trở nên nặng nề hơn một cách có hệ thống.
Tôi đã dạy 2 lớp tiểu học, thường trực dạy bù cho những lớp bất ngờ trống giáo sư bên bậc trung học, nay lại phải dạy luôn môn Công dân Giáo dục cho tất cả các lớp đệ nhị cấp từ lớp đệ thất đến lớp đệ tứ (lớp 6 đến lớp 9 bây giờ), trước đây tôi chỉ thuần lo việc dạy học nay còn phải phụ việc cho văn phòng trong công tác tổ chức hồ sơ; trước đây tôi chỉ lo việc giáo dục nay lại còn phải làm những việc vặt vãnh của người tùy phái (gọi là người “chạy giấy” hay người dùng để người ta sai vặt) cho các cha phó; trước đây tôi chỉ chăm lo thánh lễ sáng và những công tác phụ giúp việc mục vụ của cha sở, nay phải phụ giúp luôn việc mục vụ của hai cha phó vào buổi chiều; còn nữa… nhưng phiền nhất vẫn là không được ăn no trong các bữa ăn thường ngày, vì các cha phó luôn than phiền bị thất thu tiền trường, bị nợ học phí v.v… để các bữa ăn cứ mỗi ngày một kham khổ hơn, thố cơm để trên bàn ăn dành cho ba người, hai cha phó và tôi, cứ vơi dần đi.
Thời bấy giờ râm ran trong giới các thầy giúp xứ - tức các đại chủng sinh sau khi học xong phân khoa triết học thì phải chịu hai năm “đi giúp xứ”, gọi cho đúng là “đi probation” nghĩa là đi thử: đi đến các giáo xứ để tập sự - nhiều lời khuyên về “phép lễ độ-ăn điểm-rắp-bo(*)” với các cha, trong đó có một lời khuyên về cách ăn uống chung bàn với các cha sở kể cả các cha phó trong các họ đạo mình đến giúp, đó là: “Trong bữa ăn lẫn tiệc tùng, người nhỏ không được phép ăn lâu hơn người lớn, không được phép buông đũa sau người lớn hay có nghĩa là không được phép để người lớn ăn xong còn phải chờ đợi mình để cùng ăn tráng miệng hoặc để cùng đứng lên đọc kinh kết thúc bữa ăn”, cụ thể là trong bàn ăn có cha sở hay các linh mục nói chung, các thầy phải liệu ăn sao cho thật nhanh để kết thúc bữa ăn trước khi các ngài buông đũa; nếu lỡ để các ngài xong trước, thầy giúp xứ phải liệu chấm dứt cho mau, không được ăn tiếp khi các cha đã thôi ăn…
Vì nỗi… “phép lễ độ-ăn điểm-rắp-bo” trên cộng thêm nỗi ngán sợ ngấm ngầm hai cha phó, nên mỗi bữa ăn nếu nói về cơm, tôi chỉ ăn được vỏn vẹn một đĩa ít cơm, do không dám lấy lần thứ hai; nếu nói về thức ăn, tôi phải liệu ăn những thức ăn nào gọn nhẹ, tránh thức ăn có xương gây mất giờ không cần thiết, tránh thức ăn nào cần phải đi chung với nước chấm gây phiền toái và nhất là tránh những thức ăn được bày biện ở cách xa chỗ mình ngồi, nghĩa là chỉ ăn những thức ăn nào nằm trong tầm tay mình có thể với tới để lấy dễ dàng… thêm nữa, do các cha phó ăn ít đã vậy, lại ăn uống với tốc độ khá nhanh để sau đó các ngài còn được đi ăn tiệc bên ngoài hay nhậu nhẹt đêm với các giáo sư ở phòng khách riêng trên lầu một... nên không bữa cơm nào tôi được ăn no hay ăn nghiêm chỉnh, mà chỉ ăn như ăn lén ăn lút, ăn kiểu “nhà binh” tức ăn không kịp nuốt... Tệ hơn, gặp những khi các ngài được mời đi ăn tiệc xa, một phần vì công việc quá nhiều, phần nữa vì đường xa phải đi xe gắn máy, trong khi tôi không có xe để đi cùng, khiến tôi phải từ chối lời “mời lạy trời đừng ăn” ấy của các ngài, thì y như rằng hôm đó tôi buộc phải nhịn đói do nhà bếp đóng cửa.
Trước kia, những lúc không có cơm, tôi còn chạy sang xin cha sở cho ăn nhờ, nhưng về sau, cha sở đau ốm triền miên, giờ ăn bất định, thức ăn đặc chủng, nhà bếp của cha sở đôi lần tỏ ra khó chịu… tôi khó bề xin ăn ké, nói chung, đã bất tiện nhiều nỗi lại còn nghĩ ngợi “miếng ăn là miếng tồi tàn” nên tôi thấy thà nhịn đói còn dễ chịu hơn.
Đôi lúc do quá khổ, tôi muốn thưa hết mọi chuyện với cha sở, nhưng suy đi nghĩ lại tôi không dám. Tôi nghĩ nên rút kinh nghiệm trước đây chuyện gì tôi cũng kể lể, có lẽ đến tai các cha phó, giờ ra nông nỗi, nếu còn kể lể nữa rồi sẽ còn ra sao? Thân phận thầy giúp xứ thời bấy giờ có ai đó đã ví như thân phận người phụ nữ làm vợ làm dâu, cũng “mười hai bến nước - bến đục bến trong” chứ không phải giỡn! Thỉnh thoảng tôi dò trên cuốn lịch treo tường phòng khách nhà xứ để xem mình còn bao lâu nữa thì mãn một năm giúp xứ tại nơi này.
Tôi gầy đi thấy rõ nhưng không dám hé răng với ai lấy một lời, vì giáo dân thì đầy ra đó, nhưng là con người, ai ra làm sao đố biết!
Ở xứ này không có nhiều hàng quán trừ một vài người bán hàng rong cho học sinh trước cổng trường vào buổi sáng cho đến trưa. Nhưng làm sao tôi có tiền để bù những bữa trưa bữa tối ăn còn đói! Nếu có tiền liệu tôi có dám đi mua! Thế gian mấy ai biết giữa những người no nê đôi khi có kẻ âm thầm đói lả, giữa cảnh hạnh phúc tràn trề đôi lúc có kẻ lặng lẽ đớn đau mạt phận.
Có những cái đói đến hai ba lần đói, có những nỗi khổ chồng lên nỗi khổ. Tôi không hé răng với má tôi mỗi lần được về thăm, chỉ biết trả lời công việc nhiều mà gầy đi, đen đủi đi và nếu má tôi thở than thì tôi thường kêu lên để má tôi đừng xót ruột:
- Má ơi! Thời gian này là thời gian thử luyện mà!
Vì thường xuyên đói, thường xuyên cực nhọc và thường xuyên không ngủ đủ, nên mọi việc dường như trở nên nặng nề và mắc nhiều khinh xuất, sơ sót hoặc hỏng hóc, những lần như thế tôi bị hai cha phó mắng mỏ nặng lời. Chính những lần mắng nhiếc đó lâu ngày khiến tôi hiểu ra tội lớn nhất của mình là tội làm tác nhân gây ra thuyên chuyển cha phó “lớn” cũ, từ đó tôi dần đọc ra được hết những ánh mắt hằn học và những lời nói châm biếm của hai cha phó nấp sau những “công thức lịch sự”. Tôi rất chậm trong việc nhận biết những lời nói xa xôi, nhưng đến khi nhận ra được tôi cũng không biết phải đối phó cách nào đành nuốt cay ngậm đắng cho qua.
Lối tu hành thời này vẫn còn cho mọi chuyện bất công do người lớn hiểu lầm mà gây ra cho mình là ý Chúa, là sự thử thách; ăn uống cực khổ thiếu thốn là sự hy sinh hãm mình; chịu đựng mọi nỗi oan trái nhưng tuyệt đối không kêu van là vâng phục; im lặng đón nhận mọi thua thiệt là khiêm tốn… quan niệm đó xem ra có ích cho tôi lúc này, vì nó khiến tôi không đi dần đến chỗ bị chán nản, tuyệt vọng, suy sụp… ngày nay người ta gọi đó là trạng thái trầm cảm. Thỉnh thoảng gặp bạn bè tôi than thở chút ít cho nhẹ bớt, còn với bề trên thì tôi vẫn một lòng… vâng phục.
Tôi rất dễ bị cảm lạnh, đau lưng, nhức đầu, đau vai, đơ cổ, dễ bị ho và dễ bị sốt, kiến thức y học không có bao nhiêu nên nhiều khi bị sốt mà cứ tưởng mình bị nóng trong người. Những lúc đói hay đau ốm như vậy, tôi thường rón rén dạo một vòng xuống nhà bếp, đứng ngoài cửa sổ nhìn vào xem có gì có thể giúp được cho mình không, nhưng không có chút cơm nguội, không có thức uống lẫn tủ thuốc gia đình… để ăn đỡ lòng, uống đỡ khát và giúp xoa dịu những cơn khó chịu. Thỉnh thoảng anh Đôm cho tôi trái chuối, quả ổi.
Một tối thứ sáu lúc trời bắt đầu sụp tối, cha sở cho gọi tôi. Mới đặt chân ở ngưỡng cửa bước vào phòng, cha bỗng kêu lên:
- Sao hồi này con gầy ốm quá vậy?
Không đợi hỏi đến câu thứ hai, tôi òa khóc ngon lành.
Cha sở đoán biết, ngài an ủi xong bảo tôi cùng đi kẻ liệt với cha.
Ở vùng này kênh rạch chằng chịt, nên sau khi đi bộ một quãng, cha và tôi cùng xuống một chiếc xuồng nhỏ đang có người đợi sẵn.
Đến nhà người bệnh liệt giường, cha sở đi thẳng vào buồng để cho người bệnh xưng tội.
Đang ngồi bên ngoài bỗng tôi thấy người bệnh chồm lên ôm cổ cha sở vật xuống. Cùng lúc tôi nghe tiếng cha sở ú ớ kêu:
- Thầy ơ… i….
Tôi và người bơi xuồng lúc nãy cùng chạy vào thấy người bệnh tuy đã yếu liệt nhưng vẫn còn sức khỏe lắm. Hai tay ông ôm cổ cha sở chặt và cứng đến nỗi chúng tôi cảm thấy không dễ dàng và mau chóng gỡ ra được. Đó là một người đàn ông trên sáu mươi tuổi, to lớn, dềnh dàng với hai bàn tay hộ pháp to xù, chai cứng và lạnh ngắt như hai miếng thớt, nếu không vì cơn bệnh chắc ông ta phải vạm vỡ, lực lưỡng và mạnh mẽ như con gấu. Ông ta rít qua kẽ răng:
- Tao không có tội! Tao không xưng tội gì hết!
Mắt ông ta long lên, miệng ông ta nhe ra, nếu chỉ cần gắn thêm hai răng nanh vào cái miệng bạnh ra ấy nữa chắc tôi hãi hùng đến bỏ của chạy lấy người. Nhờ bài học trước đây với cô gái mù, tôi chộp lấy quyển sách kinh của cha sở để gần đấy đập lia lịa lên đầu ông ta miệng tôi kêu:
- Giêsu Maria Giuse! Giêsu Maria Giuse!...
Phải thật lâu cha sở mới thoát ra khỏi đôi cánh tay gọng kềm của ông ta. Người bệnh nằm vật ra miệng ú ớ. Cha sở để yên cho người bệnh bây giờ thì mắt đang lờ đờ giống như ngủ, ra ngoài nghỉ mệt. Cha thở một lúc rồi kể chầm chậm cho tôi nghe:
- Đây là người đàn ông cô độc nhất trong họ đạo chúng ta. Thầy xem ông ta nghèo tiền nghèo tình… nghèo đến tận số phận!
Lúc này tôi mới nhìn lại. Chúng tôi đang ở trong căn nhà trống trước trống sau, cũng có sàn nhà như những ngôi nhà trung bình ở miền châu thổ này, nhưng vì nghèo quá nên nhà chỉ còn lại một bức vách trước nhà bằng gỗ tạp và một bức vách ngăn đôi căn nhà thành gian ngoài và buồng trong, còn mái nhà thì dột nát từ dưới nhìn lên không khác gì một cái rổ úp. Trong nhà trống huơ không có gì gọi là đồ đạc gia dụng, chỉ còn độc nhất một chiếc giường người bệnh đang nằm. Nhà tối om mà chỉ thắp một ngọn đèn mù u (**). Cha sở nói tiếp:
- Ông ta bị vợ bỏ lúc ngoài ba mươi, vợ đi giông bão cuốn theo hết tài sản và hai đứa con để lấy một người đàn ông khác. Từ đó ông ta không mở miệng nói chuyện, không tiếp xúc với bất kỳ ai và tuyệt đối không đi nhà thờ nữa!
Người đàn ông bơi xuồng chở chúng tôi, cũng là người vừa mới phụ tôi giúp cha sở thoát khỏi “ông gọng kềm” chỉ là người hàng xóm. Ông ta kể tiếp theo cha sở:
- Thấy ổng nằm đến mấy ngày không ra khỏi nhà tôi mới sang thăm và tự lên rước cha. –Người đàn ông lắc đầu ra vẻ nể nang – Cái tay Bảy Hổ này khỏe lắm! Tới lúc này rồi mà còn ôm cha sở chặt đến không dễ mà gỡ ra!
Người đàn ông thì thào kể tiếp:
- Ông thầy biết không! Tay này có nhiều “tật”(***) khủng khiếp! Cơm ăn một lần một hai lít gạo rồi nghỉ không ăn đến vài ngày. Mò bắt tôm, cua, cá, ốc… dưới sông giỏi như rái, bắt lên con nào ăn sống ngay con nấy. Hút những điếu thuốc vấn to bằng nửa cổ tay – người đàn ông ra hiệu - Tay Bảy Hổ này có thể dùng tay không bốc cục than hồng đỏ rực từ bếp ra để mồi lửa cho điếu thuốc ngậm trên môi, mồi lửa xong từ từ bỏ cục lửa vào bếp lại mà không bị phỏng tay. Cầm hai chân sau của con chó xé toạc ra dễ như ta xé con ếch. Còn nhiều “tật” khủng khiếp lắm ông ơi!…
Cha sở kể tiếp theo:
- Tuy không nói cười với ai một tiếng từ ngày vợ con bỏ đi, nhưng ông ta không làm phiền gì hàng xóm, cứ thui thủi một mình như bóng ma, ngày này qua tháng khác……
Đến đây mọi người nghe tiếng ông Bảy Hổ ú ớ, cha sở bước lại gần giường bệnh dò xét.
Bỗng ông ta ngồi bật dậy như người khỏe mạnh, hét lớn:
- Tao không có tội! Nó mới có tội!
Giọng ông Bảy Hổ vang rền, rổn rảng như tiếng một con sư tử gầm rống, nhưng lại cũng có vẻ nói qua nước mắt. Cha sở đau xót bước lại gần nói với giọng thật êm:
- Con ơi! Con nói đúng! Con không có tội gì đâu! Mà giả sử có đi nữa thì Chúa cũng đã tha hết cho con từ lâu rồi. Bây giờ con không cần xưng tội, cha chỉ ban phép Xức dầu cho con thôi!
Ông Bảy Hổ lặng thinh, nằm xuống lại, mắt nhắm nghiền.
Cha sở lấy dầu thánh ra, nhẹ nhàng làm mọi nghi thức. Người liệt để mặc cha sở làm gì thì làm, ông chỉ nhắm mắt.
Xong xuôi cha sở và tôi ra ngoài. Cha sở ra lệnh những giáo dân trong xóm và cả những người từ đầu đến giờ đứng lố nhố ngoài sân, tập họp ở ngôi nhà bên cạnh để ngài hỏi han, bàn bạc và cắt đặt người này người kia dưới trách nhiệm của một ông Giáp nhà ở trong khu vực đó để lo cho ông Bảy Hổ từ nay đến giờ sau hết.
Nghe lời cha, mọi người vui vẻ nhận nhiệm vụ.Thật ra bấy lâu nay mọi người muốn giúp ông ta, nhưng không ai dám đến gần vì ông Bảy Hổ luôn lầm lì, không tiếp xúc, hỏi không nói, chào không thưa, cho không lấy… sống như một người rừng, bắt cá bắt tôm đổi thành gạo, mắm, đá lửa, thuốc hút và những thứ cần dùng. Con nít gặp ông là trốn biệt từ xa. Nay có cha sở tổ chức, mọi người hồ hởi răm rắp tuân theo, bởi ai cũng thương cảm cho cảnh đời đau khổ của ông.…
Không lâu sau, ông Bảy Hổ qua đời.
Sau khi đưa linh cữu ông Bảy Hổ ra phần mộ, trên đường trở về cha sở nói với tôi:
- Tuy người đàn ông này nguội lạnh gần như bỏ đạo, nhưng ông Lực Lượng không làm gì được vì trong lòng ông ta không chứa chấp nỗi u uất của oán ghét và thù hận.
Tôi ấp úng mãi một lúc mới dám hỏi cha:
- Thưa cha, hẳn ông Bảy Hổ có nói sao cha mới biết ông ta không oán hận vợ con…?
Cha sở nhân hậu trả lời:
- Chính ông Lực Lượng nói với cha chứ chẳng ai! Rằng ai không nuôi trong lòng một sự thù hận, oán ghét… nào, tà khí khó mà nhập vào, vì trong lòng họ không có góc khuất cho Bóng tối.
 
 
 
* Rapport: Bản tường trình của cha sở gửi về cho giám mục và giám đốc đại chủng viện biết hạnh kiểm và khả năng của thầy giúp xứ sau một năm thử thách. Điểm tường trình này trong tương lai sẽ ảnh hưởng đến sự xét duyệt đương sự có được chịu chức linh mục hay không.
**Đèn Mù u: loại đèn tiêm vải, thắp bằng dầu lấy từ cây có tên gọi là Mù u, cho một thứ ánh sáng đỏ lờ mờ. Thập niên 40 trở về trước, ở thôn quê chưa có dầu lửa, người ta dùng dầu lấy từ quả Mù u.
*** Người quê dùng chữ “tật” đôi khi bóng gió ám chỉ cái tài cái đức, ví dụ “cái tật hay thương người”…
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.04.2026 05:20:45 bởi Sun Ming >

Ct.Ly

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 20.04.2026 23:37:06
Thưa vâng, truyện này đăng dài kỳ từ năm 2008 đến nay, và tác giả vẫn chưa chấm hết. :-)
Ct.Ly


Chào Sun Ming 
Truyện này chắc chưa hết phải không Sun Ming

 
Kỳ 13
 
Một buổi chiều từ bên trường trở về, cha sở gọi tôi cho biết ngài muốn nói chuyện với tôi vào tối nay.
Cơm nước xong tôi gõ cửa phòng cha sở và bước vào.
Như thường lệ cha ngồi trên ghế fauteuil (ghế xếp bằng vải bố), tôi ngồi ngay bên cạnh trên chiếc ghế nhỏ và thấp. Cha kể:
Một hôm ông Lực Lượng đến xưng tội tiếp. Ông ta nói với giọng bực dọc thấy rõ:
- Ông lại còn tổ chức phong trào Tôn Nữ Vương Gia đình và Gia đình Đền tạ Trái tim Đức Mẹ nữa đấy! Sao ông lắm chuyện thế? Ở yên cho khỏe không sướng hơn à?
Tôi hỏi:
- Điều đó làm Các Ông sợ hay sao?
Ông Lực Lượng im lặng mấy giây rồi trả lời:
- Ông tưởng Chúng ta thích à? Từ bao đời, Người Phụ Nữ ấy gây cho Chúng ta bao điều rắc rối. Chúng ta rất thù nghịch với Người Phụ Nữ ấy, vì Ông Chúa muốn Chúng ta phải chịu thua Bà ta một phép, trong khi Bà ta thuộc loài người như các ông thôi! Chúng ta đâu có chịu!
Nghe Ông Lực Lượng cằn nhằn rất tức cười. Tôi hỏi:
- Các Ông định làm gì với Đức Mẹ Maria Đấng mà chúng tôi ai cũng rất kính mến?
- Chúng ta nhất quyết hễ đâu tôn sùng Bà ta thì Chúng ta phải phá - Ông Lực lượng vừa nói vừa nghiến răng nghe rợn cả người.
Tôi lo ngại hỏi:
- Liệu các Ông phá cách nào và phá có được không? Xưa nay tình mẫu tử là thứ bất khả xâm phạm.
- Chúng ta luôn có kế hoạch tinh vi đâu ra đó. Đó là kế hoạch phá hại nhân phẩm phụ nữ.
Tôi rùng mình:
- Các Ông cho tôi biết điều ghê gớm này để làm gì?
- Để các người biết Chúng ta là một lực lượng đáng sợ. Các người làm gì cũng sẽ phải thua mà thôi. Cứ nhìn đi! Bọn lính Mỹ và Đồng minh đang mua bán và chà đạp nhân phẩm phụ nữ công khai và hợp pháp thế nào! Tất cả đều nằm trong kế hoạch của Chúng ta.
Tôi nói:
- Tôi biết con người làm sao khôn lanh quỷ quyệt bằng Các Ông, nhưng chúng tôi có Chúa.
Ông Lực Lượng trước khi ra đi, bảo:
- Ông có biết ở Xóm Trên cuối họ đạo của ông, có cả một ổ gái điếm to tướng. Dẹp được thì hẵng Tôn Nữ Vương và gì gì đó…!
Cha sở nói với tôi rằng cha rất biết ơn Ông ấy đã vô tình hay cố ý… cho biết một thực trạng xã hội đáng xót xa của họ đạo đang diễn ra mà từ lâu nay cha đã không hay biết.
Cha nói bắt đầu từ hôm đó trở đi, cha đã tổ chức nhiều đợt Tôn Nữ Vương Gia đình và Gia đình Đền tạ Trái tim Đức Mẹ để tạo thế đối trọng chống đỡ lại nạn mại dâm trong họ đạo. Cha tổ chức kiệu Đức Mẹ đi đến từng nhà, mỗi gia đình sẽ luân phiên được Đức Mẹ ngự đến và ở trong nhà một ngày một đêm. Trong thời gian có kiệu Đức Mẹ cư ngụ, người ta tôn Đức Mẹ làm Nữ Vương Gia đình và làm việc Đền tạ Trái tim Đức Mẹ; việc làm này tạo cho những người trong xóm mỗi chiều quen tụ họp khi thì ở nhà này, khi thì ở nhà kia… để đọc kinh, lần chuỗi, cầu nguyện, ca hát vang trời, thương nhau, hiệp nhất nhau… nói chung, tạo một bầu không khí rất đặc biệt. Cha sở ngầm bố trí sao cho kiệu Đức Mẹ lưu lại thật lâu ở Xóm Trên, nơi nạn mại dâm hoành hành. Một thời gian sau, Ông Lực Lượng đến xưng tội, qua cách Ông hăm he dọa nạt đủ điều, cha biết được nạn mại dâm đã giảm.
Cha sở kể tiếp.
Bỗng một hôm, có hai người đàn ông một già một trẻ đến gặp tôi. Sau một lượt trà nước, người đàn ông tuổi trạc sáu mươi ngoài nói với tôi:
- Chúng tôi không động phạm gì đến ông cha, nhưng tại sao ông cha lại phá chuyện làm ăn của chúng tôi?
Chưa hiểu ra ý nghĩa câu nói, tôi đáp:
- Tôi với quý ông vừa quen nhau qua chỉ mới một vài tách trà, thì làm sao nói được rằng tôi phá chuyện làm ăn của quý ông?
- Vậy mà ông cha phá mới chết! Không giấu gì! Anh em chúng tôi là những người sống bằng nghề bùa ngải, phù chú, nhập đồng, gọi hồn, bói bang, cầu ma khấn quỷ… gọi tắt là “Nghiệp đoàn Giới linh”. Chúng tôi hiểu cảm rằng, vì không biết mà ông làm như thế, nên chúng tôi lịch sự đến nói chuyện phải quấy, không đến nỗi càn hung bạo ngược ra oai với ông cha mà không nói trước. Vậy xin ông cha ngưng lại mọi việc để chúng tôi làm ăn, nếu không, coi như gặp nhau lần này lần đầu cũng là lần cuối.
Tôi hết sức ngạc nhiên, nhưng cũng lờ mờ hiểu ra việc mình xới tung cả họ đạo lên bằng việc tổ chức từng nhà rước kiệu Đức Mẹ, việc Tôn Nữ vương Gia đình và Gia đình Đền tạ Trái tim Đức Mẹ, cả đến việc lập đài Đức Mẹ ở từng khu xóm để mỗi chiều mọi người già trẻ lớn bé đến lần chuỗi hát vang kính Đức Mẹ, rồi cả đến việc chia nhau Chuỗi sống trong toàn thể họ đạo, tôi còn phát ảnh Đức Mẹ làm phép lạ cho hết mọi người trong họ đạo và khuyến khích họ đeo trong người, chưa nói đến việc hỗ trợ hết mình cho hội Legio hoạt động thật mạnh mẽ, cho hội Thiếu Nhi Thánh Thể làm Giờ thánh, thay nhau Viếng và Chầu Chúa Giêsu Thánh Thể thường trực, nhưng mạnh nhất là việc cấp vốn cho các cô gái lỡ lầm hoàn lương, rồi việc lập Mặt trận Người Lớn tuổi Canh thức luân phiên trong suốt hai mươi bốn giờ một ngày để cầu nguyện và vân vân…
Bây giờ tôi mới thật sự giật mình khi nghĩ lại: lâu nay đúng là mình đã khiến cho họ đạo lúc nào cũng như ở trong mùa chiến dịch vậy! Chẳng gì! Chiến dịch chống tội lỗi... Thế nên chẳng trách hôm nay hai người đàn ông đại diện “Nghiệp đoàn Giới linh” đến ra tối hậu thư bắt tôi phải ngưng ngay mọi hoạt động.
Đâu dễ bị khuất phục, tôi hỏi:
- Đó là việc nội bộ của họ đạo tôi, nào tôi có động chạm hay phá phách gì các ông!
Người đàn ông trẻ quấn khăn đỏ, miệng cũng đỏ tươi vì liên tục nhai trầu, chốc chốc lại lau miệng cũng bằng chiếc khăn tay màu đỏ như máu… cho thấy đó là dấu hiệu đặc trưng của những tay thầy bùa thuộc môn phái Lỗ ban thứ thiệt, hung hăng khoa tay múa chân phát biểu:
- Chúng tôi là người thuộc Nghiệp đoàn Giới linh, làm ăn những chuyện thuộc tâm linh, toàn cái xứ này tính ra đã hết hơn phân nửa là giáo dân của ông, ông làm vậy chúng tôi làm sao có thể làm ăn được.
Tôi cương quyết phủ nhận những lời buộc tội vô lý.
Họ giận dữ khác với lúc đến, dọa nạt tôi một lúc rồi ra về mà không thèm chào hỏi.
Những ngày sau đó mỗi sáng thức dậy đi từ nhà xứ sang nhà thờ, tôi đạp phải nhiều mẩu giấy đỏ rải đầy trên đường đi, rải rác cả ở chung quanh nhà, đôi lúc có vài mảnh giấy đỏ trên đó vẽ nguệch ngoạc những ký hiệu khó hiểu ai quăng vào phòng tôi lúc tôi đi vắng. Ban đầu chưa hiểu, nhưng nhanh chóng sau đó tôi biết rằng Nghiệp đoàn Giới linh đang ếm bùa tôi. Một thời gian sau đó hầu như tất cả những người giúp việc nhà xứ ở dưới bếp đều lần lượt bị bệnh rất lạ và rất nặng, các bệnh viện đều không tìm ra bệnh.
Chuyện bắt đầu lớn, nhưng chỉ mình tôi hiểu, mọi người không hiểu ất giáp gì. Thật tội nghiệp!
Tôi chẳng mảy may lo lắng vì lúc nào cũng tin tưởng vững vàng họ đạo luôn có Chúa bảo vệ và Đức Mẹ gìn giữ. Tôi tỉnh bơ.
Nửa tháng sau ngày gặp tôi lần đầu tiên, Nghiệp đoàn Giới linh quay lại gặp tôi vào buổi sáng thứ hai vắng người. Họ bảo:
- Ông khá lắm! Nhưng chưa đâu! Đó chỉ là màn cảnh cáo. Âm binh của chúng tôi sẽ làm cho những người giúp việc ông bỏ đi hết nếu ông không ngưng mọi việc.
Tôi không sợ:
- Các ông không nên làm như vậy! Vì họ không có tội tình chi!
Họ hăm dọa:
- Rồi đây giáo dân họ đạo ông sẽ bị bạo bệnh và người chết sẽ la liệt.
Tôi không còn giữ thái độ hiền lành với họ được nữa. Tôi nghiêm sắc mặt và đanh giọng lại:
- Ngược lại, tôi cảnh cáo các ông, nếu các ông động vào giáo dân của tôi, các ông sẽ lãnh hậu quả khủng khiếp hơn ngàn lần những gì các ông tưởng là sẽ tác hại.
Họ nóng giận và hung dữ chửi rủa thô tục nhiều lần rồi ra về.
Trong họ đạo bắt đầu có nhiều người mắc bệnh lạ. Nhưng kiệu Đức Mẹ thì vẫn luân chuyển khắp nơi, mọi việc vẫn hoạt động như cũ. Tôi quyết định bắt đầu chương trình đi thăm họ đạo suốt ngày, khi nơi này khi nơi khác, đến đâu tôi cũng kêu gọi, nhắc nhở, động viên mọi người luôn tin tưởng chạy đến Chúa và lần chuỗi để luôn gần bên Đức Mẹ; nơi nào bệnh lạ xuất hiện, tôi đến nhiều hơn, thắp đèn, rảy nước thánh, ban phép lành, làm dấu thánh giá trên họ và kín đáo cầu nguyện cho họ hay cùng với họ cầu nguyện chung và nhất là tổ chức ăn chay hãm mình.
Cứ thế suốt ngày tôi đi khắp họ đạo dù bất cứ nơi đâu, có những nơi phải đi bộ vất vả băng qua đồng ruộng, băng qua kênh rạch chằng chịt, chui vào những khu vắng vẻ nhất để cho mọi người thấy bóng dáng tôi có mặt khắp nơi trong họ đạo. Tôi đi hầu như mỗi ngày và đi suốt cả ngày, tới giờ ăn trưa đang ở đâu, tôi ghé mâm cơm nào của giáo dân ở đó dọn ra, xin ngồi vào ăn cùng họ dù chỉ một chén cơm lạt, làm như vậy tôi mới có đủ giờ để đi suốt ngày quẩn quanh khắp đầu trên xóm dưới, khắp ngõ cụt hang cùng của họ đạo. Chẳng ai biết xảy ra chuyện gì ngoại trừ mình tôi, cho nên mọi người cứ tưởng tôi đi thăm họ đạo thường kỳ mà thôi. Tôi cảm nhận tâm trạng của mọi người đang bình an và vui vẻ.
Tuy nhiên không phải đơn giản có vậy, không phải tôi đi thăm họ đạo cách yên ổn dễ dàng! Có những hôm gặp phải những người lạ hoắc, hoặc gặp phải những giáo dân nổi tiếng khô khan nguội lạnh… họ bỗng dưng mắng xéo cũng có, chửi thẳng cũng có khi thấy bóng tôi đi qua; có những người mượn rượu gây sự với ý định hành hung tôi, có những người phụ nữ bỗng chửi tôi như tát nước, có nơi ai đó giả bộ vô tình tạt nước dơ vào người tôi…
Cho đến một hôm kia, có người bảo một gia đình nghèo có người đau ốm cần gặp tôi. Theo lời chỉ dẫn, tôi tới nơi gặp một ngôi nhà rất nghèo nằm trong góc cánh đồng vắng dưới tàn lá của những bụi tre gai. Đón tôi không phải là đôi vợ chồng trẻ chủ nhà như người chỉ đường căn dặn, nhưng là một số đông khoảng hơn mươi người gồm đàn ông lẫn đàn bà mặt mày bặm trợn, bất lịch sự… ngồi lố nhố trong nhà. Một người ngồi giữa có vẻ thủ lãnh nói khi tôi vừa bước vào:
- Nếu ông cha rảnh, hãy cùng chúng tôi thử sức một phen coi ai mạnh hơn ai, rồi chúng ta chia nhau lãnh thổ mà làm ăn, không ai xâm phạm ai, cũng không để chập chờn kiểu này hoài được!
Tôi đáp:
- Tôi chẳng có sức mạnh nào, chẳng lãnh thổ hay làm ăn chi, cũng chẳng xâm phạm đến ai.
Nhưng biết họ cố chấp, nên tôi nói liền không để họ nói thêm:
- Tôi chỉ làm nhiệm vụ Trên giao, tuyệt đối không tranh chấp “kèn co đọ sức” với ai. Nhưng mà… các ông các bà đã muốn thử sức thì cứ thử!
Người đàn ông thách đố:
- Ông cha ngồi xuống đi! Nếu tôi niệm chú mà âm binh không vô nổi ông cha thì tôi bỏ xứ này đi ngay lập tức. Tôi không phải là dân ở đây, nhưng từ núi Tà Lơn hạ sơn giúp đám đệ tử – ông ta chỉ tay một lượt đám đàn ông đàn bà ngồi vây quanh, người nào cũng dáng vẻ dữ dằn, kẻ nhai trầu người ngậm thuốc.
Tôi thầm thì đọc kinh Đức Chúa Thánh Thần. Bên kia ông ta nhắm mắt lâm râm niệm chú. Tôi vừa đọc đến câu: “… chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con là kẻ…” lập tức bên kia ông ta té nhào đến phịch một tiếng văng khỏi ghế rơi xuống đất như một đứa trẻ rồi sau đó với chiếc gậy trong tay, ông ta tự quật thật mạnh vào tay chân, vào ngực, vào lưng rồi vào mặt vào đầu mình cách không thương xót. Chỉ một loáng sau là máu đổ ròng ròng chảy từ đầu xuống mặt xuống cổ, trông rất ghê rợn. Những người còn lại không ai dám can ngăn, người nào người nấy cứ ngồi nhắm mắt như pho tượng và lâm râm niệm chú.
Tôi thấy bất nhẫn quá liền kêu lên:
- Dừng tay lại đi!
Hình như tiếng nói của tôi có tác dụng lớn, ông ta ngưng lại ngay lập tức và thở hồng hộc, sau đó là rên rỉ vì đau đớn. Tôi nói:
- Lần sau đừng thử phép Chúa nữa nghe không!
Nói xong tôi bước ra khỏi nhà bỏ bọn họ một nước. Kể từ hôm đó, tôi không còn bị quấy hại nữa.
Vài hôm sau Ông Lực Lượng đến xưng tội. Lần này tôi trách:
- Ông để những người của Ông phá tôi chi vậy? Nhắm có được không mà phá?
Ông ta đáp:
- Mạnh được yếu thua. Ông đừng tự hào! Cẩn thận đấy!
Nói xong ông Lực Lượng bắt qua chuyện khác. Thầy biết đó! Ông bà xưa thường nói: “Đức trọng quỷ thần kinh”, hễ ai sống có đức độ, quỷ ma cũng phải kiêng dè…

Cha sở còn kể cho tôi nhiều chuyện ly kỳ nữa. Tôi được nghe, được hiểu và được học rất nhiều kiến thức lẫn kinh nghiệm của cha; nhưng trong dịp này, đáng nhớ nhất là câu tóm tắt quý giá: “Đức trọng quỷ thần kinh”. Tôi quyết từ nay làm gì thì làm, phải cố sống sao cho có đức mới được.   
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.04.2026 04:13:22 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 22.04.2026 11:18:31
Kỳ 14
 
Một đêm khác, cha sở kể:
Có lẽ Ông Lực lượng giận lắm vì những gì tôi đã tổ chức cho họ đạo như phong trào Tôn Nữ Vương Gia đình và Gia đình Đền tạ Trái tim Đức Mẹ, phong trào rước kiệu Đức Mẹ đến từng gia đình, phong trào Lần Chuỗi sống, phong trào Ông Môisen trong đó những người già luân phiên và liên lỉ chầu Thánh Thể thay cho họ đạo v.v… nên Ông ấy đến và đấu khẩu với tôi từ chiều cho đến tận đêm. Ông ấy bảo:
 - Tất cả mọi thứ đang diễn ra phần lớn do con người các ông bày ra chứ Chúa nào thiết lập! Ôi chà! Phong thánh với phong tướng! Thiêng với chả tục!... Cái đầu của các người giống Ông Chúa, luôn “chớp lóe-sáng tạo” (nguyên văn). Các người theo đuôi Ông Chúa để tiếp tục sáng tạo thế giới chứ gì! Nhưng khốn nỗi, các người không phải là Chúa Trời, cho nên sáng tạo đầu này thì phá hoại đầu kia, đập đổ bằng với xây dựng và Chúng ta đã thâm nhập vào chính cái “chớp lóe-sáng tạo” ấy của các người rồi, biết chưa? Các người đâu biết chính Chúng ta luôn đưa ngụy biện vào lý luận, đưa hoang tưởng vào giả thuyết, đưa thủ đoạn vào mưu kế, đưa thâm hiểm vào khôn ngoan, dùng hệ thống để biến giả dối và bất công thành nguyên tắc… câu nói: “Si vis pacem, para bellum”(1) là điển hình. Các người không biết Chúng ta có mặt trong từng “chớp lóe-sáng tạo” của các người đâu!
Tôi trả lời:
 - Nhưng con người sẽ làm gì nếu không biết sáng tạo?
Ông Lực lượng nghiến răng:
- Nhưng Chúng ta căm ghét sự sáng tạo như Ông Chúa khinh tởm sự kiêu căng!
Tôi im lặng vì thấy không nên nói gì hơn là cứ để cho Ông ta “xưng tội”. Ông ta tiếp:
 - Trong khi Chúng ta muốn thế giới các người phải bị tiêu diệt vì sự lặp lại thì sự sáng tạo làm cho nó ngày càng bền vững hơn.
Ông Lực lượng đột ngột đề nghị:
 - Ông cứ ở yên được không? Đừng làm gì cả! Hăng say và sáng tác này nọ mà làm gì!
Tôi trả lời:
 - Các Ông có phá cách nào thì phá chứ tôi không thể ngồi yên khi lãnh nhiệm vụ dẫn dắt họ đạo.
Ông Lực lượng nóng nảy trả lời:
 - Nếu phá được Chúng ta đã chẳng bàn bạc với ông mọi lẽ!
Tôi nhún vai:
 - Vậy Các Ông còn định làm gì?
- Chúng ta đề nghị ông ngưng mọi hoạt động đang diễn ra, đổi lại họ đạo ông liên tiếp trúng mùa trong vòng mười năm liền, dân tình thuận thảo phú túc, chiến tranh không thể đến được nơi này, mọi người được yên ổn làm ăn.
Tôi hỏi:
- Còn nếu không…?
- Họ đạo này sẽ chịu nhiều thảm cảnh ngược lại.
Vì lần này Ông Lực lượng dùng chiến thuật “đánh úp”, tức bất ngờ đưa đề nghị làm tôi không phản ứng theo kịp, nên tôi xin ba ngày suy nghĩ.

Sau ba ngày, Ông ta đến. Tôi trả lời:
- Mọi việc nằm trong tay Chúa, Các Ông không làm gì được đâu nếu Chúa không muốn.
Ông ta không nói gì, chỉ “Hừ” một tiếng rồi ra đi. Tôi ngã bệnh nặng liền sau đó đúng một tháng. Cơn bệnh không thuốc nào chữa khỏi, vì các bác sĩ không thể nào định bệnh được. Tôi không buồn uống thuốc thêm khi các bác sĩ tỏ vẻ đầu hàng, chỉ cầu nguyện và dâng những cơn đau như nghiến như xé ấy để đền tội. Rồi thì cơn bệnh cũng phải thuyên giảm và hết dần, bù lại họ đạo chẳng xảy ra việc gì.
Cha sở dạy tôi:
- Ở đời trớ trêu ở chỗ trong số những người thầy dạy chúng ta đôi khi có cả kẻ thù, kẻ nói ngược với chúng ta, những nghịch cảnh, những mâu thuẫn, trái khoáy chung quanh. Từ sau hôm nghe Ông Lực lượng nói, tôi quyết không cho mình ở không. Phải làm việc và sáng tạo. Đó là bí quyết sống còn và thăng tiến.

Sáng thứ năm giữa tháng giêng, cha sở gọi tôi vào. Sau khi hỏi han chuyện sức khỏe, công việc… cha trao tôi xem “bài sai” (2) của đức cha, chỉ định tôi về giúp xứ Cao Đằng cách đó 12 km bên kia sông. Thấy tôi buồn cha sở an ủi:
- Đây là lúc thể hiện tính tu hành con ạ! Tu là sửa, là từ bỏ, không bám trụ mọc rễ, không dây dưa vướng lụy, không hai áo và túi gậy, không chào hỏi ai dọc đường… Vâng phục lập tức không đắn đo.
Sau khi nghe cha sở giải thích thêm vài thắc mắc, tôi lặng lẽ đi thu xếp công việc, hành lý… chuẩn bị sáng mai rời khỏi An Biên không cần chào hỏi ai.
Tôi đến Cao Đằng mất một giờ vì phà đông người mỗi buổi sáng, vì đường xấu mà xe lôi thùng gắn máy cũ kỹ thì rề rà như chạy bộ.
Nhà xứ Cao Đằng không đẹp như nhà xứ An Biên, nhưng sáng sủa và quang đãng. Khi tôi đến nhà xứ đóng kín cửa, tôi tìm lối đi vào khu nhà bếp bằng con đường bên hông, gặp một phụ nữ trạc sáu mươi. Người phụ nữ xưng là người nấu bếp tỏ ra không ngạc nhiên khi thấy tôi đến, bà truyền đạt ý cha sở muốn tôi phải đến với cha đang ở nhà cha mẹ ngài, vì người cha già của ngài đang lâm trọng bệnh. Tôi ăn qua loa bữa trưa được dọn sẵn trên bàn rồi ra đi.
Tìm nhà ở chốn thôn quê không khó! Chỉ cần mở miệng hỏi một câu là bất kỳ ai đó sẽ vô cùng quảng đại trả lời cho bạn cả một thôi dài… đã đầy đủ mà còn dư dả thông tin kể cả những thông tin không cần; nếu có thêm vài người nào đó đứng gần thì bạn có khi còn bị tìm hiểu ngược lại đến là phiền….
Tôi đến nơi. Đó là giáo xứ Thanh Lộc, quê nhà của cha sở Cao Đằng cách họ đạo Cao Đằng tám cây số. Khi tôi bước vào nhà, trình “bài sai” và thư từ cho cha sở đang ngồi bên giường bệnh của cha mình… thì thấy có ba nữ tu đang giúp xứ Cao Đằng cũng có mặt ở đó, trong số đó có một nữ tu trẻ được gọi là dì Út có vẻ đang chăm chú theo dõi tôi nhất cử nhất động.
Buổi chiều tôi với các nữ tu trở về giáo xứ. Trước khi lên xe, cha sở dặn dò rằng cha sở An Biên và cha đã thỏa thuận: tôi được phép hai tuần một lần trở về thăm cha sở An Biên, nếu gặp chuyện, tôi có thể về An Biên bất kể lúc nào. Cha càng nói tôi càng hiểu hai cha sở là bạn của nhau, cha Tôma đây có lẽ nhỏ tuổi hơn cha Luca ở An Biên hay sao mà dáng người quắc thước, nhanh nhẹn, linh hoạt và cởi mở. Tuy nhiên tôi rất mừng, vì chuyện trở về thăm cha Luca luôn lởn vởn trong đầu nhưng tôi không dám nói ra.
Khi tôi về đến nơi, nhà xứ Cao Đằng vẫn đóng cửa im ỉm. Tôi đi vòng ra nhà bếp, xin bà bếp chỉ phòng nào tôi được phép ở. Bà bếp gọi một tiếng lớn: “Hoa ơi!”. Một chị “con bà phước” (3) có vẻ vụng về, lập tức trao tôi một chùm chìa khóa và một “cây lồng” (4) hái trái cây. Tôi ngạc nhiên quá sức! Chìa khóa thì để mở cửa phòng, còn cái lồng hái trái cây thì để làm gì…? Nhưng tính tôi không bao giờ nhanh miệng hỏi ngay mà không thận trọng suy nghĩ thật kỹ, cứ từ từ xem sao.
Người phụ nữ mồ côi chẳng nói với tôi một lời, nhưng đon đả đi trước dẫn tôi lên lầu và chỉ phòng rồi đi xuống.
Tôi mở cửa vào phòng. Sau khi sắp xếp đồ đạc, tắm rửa, tôi đứng bên cửa sổ để ngắm cảnh một chút, bất ngờ phác giác: À thì ra chiếc lồng hái trái cây để tôi được tự do hái những trái vú sữa trắng, to kềnh, căng mọng và hấp dẫn trên những cây sai trái đến oằn nhánh xung quanh nhà xứ đây mà! Tôi cảm thấy thú vị với nơi ở mới.
 
 
(1) “Si vis pacem, para bellum” câu nói La ngữ này nghĩa là nếu muốn hòa bình anh hãy chuẩn bị chiến tranh, hàm ý cảnh báo nhân loại luôn có chiến tranh mà không bao giờ có hòa bình.
(2) “Bài sai” là lệnh thuyên chuyển giáo sĩ, tu sĩ.
(3) “Con bà phước” là kiểu gọi những người xuất thân từ cô nhi viện của các nữ tu dòng Chúa Quan Phòng, các nữ tu nuôi dạy thế nào mà những “con bà phước” đều giống rập khuôn cách ăn ở, cách nói năng lẫn văn hóa giao tiếp… khiến người dân vùng này dùng kiểu gọi riêng như vậy để khái quát sự… ngạc nhiên của họ.
(4) “Cây lồng” là một cây trúc dài, thẳng và nhẹ, trên đầu cây trúc có gắn một cái lồng cũng bằng trúc vừa để hái trái chín trên cao vừa để giữ trong lồng không cho rơi xuống đất… của các loại cây ăn trái như ổi, xoài, mận…
<bài viết được chỉnh sửa lúc 22.04.2026 11:22:06 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 22.04.2026 11:34:48
Kỳ 15
 
Giáo xứ Cao Đằng tôi vừa mới đến giúp, là một giáo xứ sông rạch, bởi bao là sông, kênh, rạch, mương… lớn, nhỏ, ngoằn ngoèo và chằng chịt chia ngang xẻ dọc, cắt chia giáo xứ này ra thành từng mảnh gọi là các khu như khu Trong, khu Giữa, khu Ngoài… và thành các xóm như xóm Rạch Lươn, xóm Mương Trê... Một giáo xứ khá cổ với nhà thờ được xây dựng vào năm 1920, lối kiến trúc Đông Tây lai tạp, vừa nhỏ, vừa không bắt mắt. Tôi ước lượng, với nhà thờ có sức chứa khoảng năm trăm người như thế thì giáo xứ có quá lắm cũng chỉ hai ngàn giáo dân là cùng. Ngược lại, khuôn viên nhà thờ là một khu đất rộng mênh mông và rất đẹp; ba mặt được bao bởi các con kênh, con rạch rộng sáu, bảy mét ngang, sâu vài ba mét đứng, lúc nào nước cũng trong vắt lượn lờ chảy thông ra con sông Hậu Giang bao la hùng vĩ. Trong khuôn viên nhà thờ có nhiều cây cổ thụ lớn nhỏ. Nằm ở một góc khuất râm mát thật đẹp là ngôi nhà các nữ tu Chúa Quan Phòng; nghe nói ngôi nhà này thưở xưa là nhà xứ, nhưng vì nằm khá xa nhà thờ, không tiện mục vụ, nên cha sở đời trước đổi cho các nữ tu, để ra ở ngôi nhà hiện nay nằm gần trục đường qua lại của giáo dân. Kiến trúc của ngôi nhà xứ bất đắc dĩ này thật tệ! Tôi đoán do những người thợ vườn vừa vẽ kiểu vừa xây dựng.
Cha sở sử dụng tất cả tầng trệt, một mình tôi ở trọn hết tầng trên của ngôi nhà một trệt một lầu. Nhà bếp nằm sau vừa tách biệt hẳn nhà xứ với bà bếp lớn tuổi nóng nảy, đanh đá; phụ bếp là một cô gái mồ côi, lỡ thời, dáng nảy nở, hừng hực sức sống và tràn trề sinh lực, áo mặc lúc nào cũng như muốn nổ tung bung các nút ra… nhưng tính thì “tưng tửng”, nói năng thì ngang như “bò lật ách”; có cả một chú bé hơn mười tuổi gọi bà bếp bằng cô, hình như được nuôi chỉ để sai vặt. Tuy nhiên vì cha sở luôn vắng nhà, nên “nhà trên” –cách gọi của cánh nhà bếp khi nói về nhà xứ- vẫn cứ như “nhà hoang chết chủ”.
Tôi không thích lắm sự vắng vẻ, nhưng vì không còn cách nào hơn nên lập tức, tôi tập thích nghi với sự tịch liêu này bằng cách đọc cho thật nhiều sách để trau dồi kiến thức và luyện võ thuật để tăng cường sức khỏe; nhờ đó không bao lâu, tôi cảm thấy cuộc sống vui hơn. Đúng ra cha sở Cao Đằng có giao tôi vài việc nhẹ: dạy giáo lý hằng ngày cho tất cả các lớp tiểu học của nhà thờ vào mỗi buổi sáng -thời này giáo xứ nào cũng đều có trường tiểu học, giáo xứ lớn có cả trường trung học- ngài còn giao tôi nhiệm vụ sinh hoạt với hội Con Đức Mẹ với hơn bốn mươi chị và hội Thiếu nhi Thánh Thể hơn trăm hội viên.
Cuộc sống đang trôi yên ổn, bỗng một hôm đang tắm vào buổi chiều, tôi nghe có tiếng lạ ở đâu đó rất gần phòng tắm. Đó là tiếng giống như ai rên rỉ vì đau đớn, có lúc nghe như tiếng khóc nấc tức tưởi. Tôi kịp giữ bình tĩnh, đứng yên để lượng định. Nhưng khi tôi không cử động thì tiếng lạ ấy cũng ngưng. Tôi thử tiếp tục kỳ cọ thì tiếng rên lại tiếp diễn. Lần này lắng tai nghe cho thật kỹ, tôi nhận thấy không phải chỉ đơn thuần là tiếng rên, mà còn pha thêm tiếng những người thợ xẻ gỗ thời xưa đang kéo cưa cách nặng nhọc. Thật không thể nào định hình nổi cái gì làm ra thứ tiếng rất lạ ấy.
Tắm xong, tôi mặc quần áo vào rồi đi vòng vòng khắp bên ngoài phòng tắm ở những nơi tôi có thể đi được để rà soát, xem xét. Tôi hoàn toàn không tìm ra được manh mối nào có thể nghi là nơi phát ra tiếng lạ kia. Chung quanh vẫn vắng lặng, khó ai hoặc loài thú nào có thể lai vãng.
Tôi mau quên chuyện này chỉ sau vài giờ.
Hôm sau vào giờ tắm, sự việc lại tái diễn. Tôi cố gắng tìm mọi cách để hiểu cho ra tiếng lạ ấy. Tôi thủng thẳng tắm để nghiệm ngẫm thứ tiếng lạ kỳ ấy là gì, ở đâu… tôi cố lắng tai để định hướng xem tiếng ấy vọng đến từ hướng nào. Lạ thật! Cũng không sao đoán định được nơi xuất phát. Tắm rửa đã xong mà vẫn không hiểu thêm hơn hôm qua một chút nào.
Sau khi tắm, tôi lại xem xét xung quanh “hiện trường” vài lần nữa, vậy mà chẳng mảy may lộ diện một manh mối dù chỉ để nghi ngờ, bởi như đã nói, khu nhà xứ hoàn toàn tách biệt hẳn với nhà ở của giáo dân bên ngoài bằng ba mặt đều là những khúc kênh rạch rộng, còn lại mặt kia là nhà thờ luôn vắng vẻ, dù có trường học nhưng dãy trường tiểu học tọa lạc ở rất xa, đã vậy riêng nhà xứ thôi thì đã tách biệt hẳn với nhà bếp, người nhà bếp không ai dám bén mảng lên nhà xứ, nơi cửa to cửa nhỏ đều lạnh lùng đóng kín, khi chẳng có việc gì, đã vậy bốn bề bao quanh khu vực nhà xứ vắng lặng không có tiếng động nào lọt vào vì cách rất xa đường xe cơ giới qua lại, vì sông rạch không thông thương chẳng mấy khi có xuồng ghe qua lại.
Ba bốn hôm sau ngày nào cũng vậy, hễ tắm một lúc tôi lại tiếp tục nghe thứ tiếng lạ ấy phát ra. Vốn quen với những chuyện ly kỳ trước đây ở giáo xứ An Biên, linh tính lúc này cho tôi cảm giác sợ hãi.
Khốn nỗi, sự sợ hãi bị đẩy đến mức độ lớn dữ khi một số Huynh trưởng Thiếu nhi Thánh thể trong giờ giải lao giữa buổi sinh hoạt chúa nhật kế tiếp, vô tình hay hữu ý không biết, hỏi tôi:
- Từ ngày thầy về đây đến giờ có gặp ma chưa?
- Thầy có thấy gì chưa?
- Thầy có gặp gì lạ hôn?

Tôi còn đang ngơ ngác chưa hiểu các Huynh trưởng ấy hỏi với ý gì thì một Huynh trưởng nữ khác khúc khích cười và cảnh báo:
- Ở khu nhà thờ này nhiều ma lắm thầy ơi! Nếu thầy sợ ma thì không nên ở Cao Đằng này!
Một Huynh trưởng nam khác nghiêm nghị nói:
- Thầy thấy không! Giáo dân các họ đạo khác đi lễ sáng từ rất sớm, mới ba giờ rưỡi hoặc bốn giờ đã có người đến nhà thờ rồi!… Còn họ đạo này tuyệt nhiên không ai dám đến nhà thờ vào lúc đó. Thậm chí ngay cả đến lúc gà gáy sáng, đến lúc hừng đông ló dạng… còn chưa ai dám léo hánh tới nhà thờ…
Tôi bán tín bán nghi. Dù vậy không dám hỏi gì thêm; nghĩ bụng: gạn hỏi kỹ lưỡng thì kỳ quá đi! Tôi đành giả bộ không quan tâm những gì các Huynh trưởng ấy nói, nhưng khi họ ra về để tôi lại một mình, đến lúc ấy tôi cảm thấy chột dạ vì có ma hay không, chưa biết, nhưng hiện tượng lạ thì đã có.
Khi cha sở về, tôi kể lại cho ngài nghe và xin ý kiến. Cha sở tỏ ra rất ngạc nhiên, nhưng sau một buổi tìm hiểu, hỏi han người này người kia không kết quả, cha sở, người sôi nổi hoạt động và thích di chuyển, chẳng mấy chốc quên khuấy đi mọi việc và không còn hỏi han gì tôi nữa.
Suốt cả tuần tiếp theo không tìm ra manh mối về tính chất và nơi phát ra tiếng lạ, tôi sống trong sự nghi nan, thắc mắc và sợ hãi. Nhiều lần tôi nghĩ đến Ông Lực Lượng; nghĩ ông ấy luôn theo dõi tôi, có thể đang làm gì đó hại tôi… chưa chừng! Tôi gia tăng cầu nguyện, lần chuỗi, viếng Chúa, ngắm Đàng Thánh giá, Tôi không còn dám vô nhà tắm để tắm rửa và làm mọi việc cần thiết một cách tự nhiên nữa, mà là vội vã trong sợ sệt. Cũng nên nói thêm, chuyện tắm rửa ở đây có hơi nhiêu khê phức tạp, vì không điện, không nước, nên mỗi lần muốn tắm phải báo nhà bếp để bà bếp sai cô gái mồ côi-lỡ thời xách hai thùng nước lên, tức là không phải muốn tắm lúc nào cũng được.
Tôi còn sống thêm một tuần nữa trong căng thẳng dù đã tìm hết cách để làm sáng tỏ mọi chuyện xem ra không phải ngẫu nhiên này.
Tới ngày tôi được trở về An Biên theo định kỳ để thăm cha Luca, cha sở cũ. Gặp ngài tôi kể và hỏi cha về tiếng lạ ấy. Cha sở hỏi han thật rõ mọi chi tiết rồi ngài im lặng suy nghĩ, sau đó bảo tôi đừng sợ, cứ về để ngài sẽ giải quyết cho.
Trở về nhà xứ, dù mọi việc vẫn diễn ra như cũ, nhưng tôi hơi vững dạ vì một khi cha sở Luca hứa thì ngài nhất định sẽ can thiệp đến nới đến chốn.
Rồi một hôm tôi đang tắm cùng với tiếng rên rỉ-khóc lóc-kéo cưa như cũ, bỗng tôi giật nảy mình khi có tiếng quát to gọi giật ngược một cách nóng nảy của ai đó từ dưới nhà gọi vọng lên, giọng nữ to khỏe và chát chúa nghe dữ đến phát sợ:
  - Hoa! Hoa đâu rồi!... Con Hoa!...
Ở khu nhà xứ này Hoa là tên chỉ duy nhất của cô gái-mồ côi-lỡ thời. Càng giật thót khi tôi nghe một tiếng “Dạ” thật lớn phát ra từ địa điểm nào đó hình như quanh quẩn gần bên tôi, rồi tiếng chân từ trên lầu một hối hả chạy xuống. Lúc này tôi mới định thần để nghe rõ mồn một tiếng bà bếp quát:
- Mày làm gì trên đó? Hả? Mày làm gì trên đó?
Không có tiếng trả lời. Bà bếp quát:
- Mày làm gì mà áo vặn quần vo thế kia? Hả? Mày thành tinh rồi hả? Tao hỏi mày làm gì trên đó? Đồ yêu tinh nè…! Yêu tinh nè…!...
Tiếng roi quất tới tấp cùng với tiếng la mắng, tiếng khóc, tiếng van xin… xa dần nhỏ dần.., lòng tôi càng thêm nghi vấn. Tôi tự nhủ: Ở đây có lẽ có nhiều chuyện còn bí hiểm hơn ở An Biên nữa! Thật không hiểu nổi!
Sau đó tôi không còn nghe tiếng rên rỉ-khóc lóc-kéo cưa mỗi khi tắm rửa nữa. Tôi thấy có gì đó không bình thường, nhưng nghĩ chắc cha sở Luca làm gì đó giúp tôi, nên Ông Lực Lượng thôi không phá tôi nữa.
Cho đến khi gặp lại cha sở Luca lần tiếp theo, ngài hỏi tôi:
- Con có còn nghe thấy tiếng lạ nữa không?
Tôi thưa “đã hết” rồi kể lại mọi việc vừa xảy ra. Nghe xong suy nghĩ một lúc, cha sở lắc đầu nói với giọng cảm thán:
- Ôi thân phận con người! Ai cũng như ai, đều yếu đuối dưới sức nặng của đam mê!
<bài viết được chỉnh sửa lúc 22.04.2026 12:05:26 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 22.04.2026 11:52:04
Kỳ 16
 
Sau vụ tiếng lạ ở phòng tắm, tôi phải mất hai ba tuần mới ổn định được tâm lý. Tôi nghĩ, phái nữ vì là phái đẹp, phái yếu, họ rất mong manh, dễ tan dễ vỡ nên Chúa trang bị cho họ trí khôn “mẫn cảm”, linh cảm nhạy bén, trực giác chính xác, giác quan tinh tường… làm vũ khí tự vệ; còn phái nam ngược hẳn, vì đã có thể hình to khỏe cứng chắc với sức mạnh làm vũ khí, nên so với phụ nữ họ thô thiển hơn, chậm chạp hơn, cẩu thả lại hay quên sót… bằng tuổi nhau phái nữ đã khôn lanh hơn phái nam. Vậy giả sử ở vào trường hợp tôi, một cô gái sẽ nhanh chóng nhận định và đưa ra kết luận về bản chất sự việc. Vậy mà tôi ngu ngốc, lớ ngớ cho đến giờ vẫn chưa phân tỏ sự việc, chỉ lờ mớ đoán già đoán non. Các cha sở thời xưa rất kỹ tính, không dễ nói toạc ra mọi chuyện, do đó trong khi tôi cứ nhằm Ông Lực Lượng mà nghi hoặc thì cha sở Luca ở An Biên lại bảo không phải.

Cha sở Cao Đằng đi vắng luôn, thường khi chỉ trở về vào mỗi chiều thứ bảy. Về đến nhà xứ, có khi rửa mặt xong cha lại cỡi xe Honda-dame đi ngay lên giáo họ cách đó bốn cây số để giải tội, dâng thánh lễ chúa nhật, giải quyết mục vụ rồi quay về giáo xứ ăn tối, chuẩn bị cho sáng chúa nhật dâng thánh lễ ở giáo xứ chính, chiều chúa nhật cử hành chầu phép lành, sáng thứ hai lại ra đi tiếp, để lại tôi một mình ở nhà lo liệu mọi việc.
Trong những việc tôi được giao, có việc dạy giáo lý Tân tòng và giáo lý Hôn nhân. Tân tòng thì ít, nhưng Hôn nhân thì nhiều. Dù suốt thời kỳ tiểu chủng viện từ thưở mười hai đến nay đã hăm hai tuổi, được học giáo lý hầu như mỗi ngày, lúc này lại còn vừa học xong phân khoa Triết… nhưng khả năng am tường mọi “lẽ đạo” (1) thì chưa đến đâu, bởi vậy dạy giáo lý Tân tòng cứ một chiều trên nói dưới nghe thì được, nhưng để đối phó với những câu hỏi “dọc ngang” thì chết không kịp trối; cũng thế, dạy giáo lý Hôn nhân nói năng leo lẻo là thế, nhưng đụng phải những câu hỏi thuộc hàng “em biết hỏi ai” thì lớ ngớ như “học trò ăn vụng cá kho”.
Cần phải nói rõ hơn, giáo xứ này là giáo xứ khá đặc biệt. Thật vậy! Phải sau một thời gian tôi mới biết rằng, nếu từ ngoài nhìn vào ai cũng tưởng trình độ giáo dân chỉ ở mức trung bình vùng quê, nhưng ngờ đâu! Không phải vậy! Giáo xứ ẩn chứa bên trong nhiều người có kiến thức lẫn tri thức nhưng khiêm tốn; nhiều bậc thức giả về tôn giáo, nhiều người có đầu óc tiến bộ về mọi mặt nhưng kín đáo; đặc biệt vùng này nhiều tôn giáo như Công giáo, Tin Lành giáo, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Bà-la-môn giáo, Bà Hai giáo, đạo Ông Bà… sống chung thuận thảo hòa ái.
Trước tiên xin kể việc tôi dạy giáo lý Tân tòng.
Khi Ban Quý chức dẫn người nào đó đến cha sở xin vào đạo, cha sở vui mừng nhận ngay sau một vài câu hỏi về nguồn gốc và thân thế; cha sở gọi tôi và giao tôi dạy với vài lời dặn dò đại loại như: “Người này vô đạo để có chồng đạo”, “Anh này vào đạo để lấy vợ đạo”, “Bác này vô đạo vì mộ đạo”, “người này vốn đạo Ông Bà”, “người này đang đạo Phật giáo Hòa Hảo”, “ông A đây cao tuổi, học ít thôi!”, “cô B cần học ba tháng” v.v… Tôi xếp thời khóa biểu học cho từng người.
Điều đặc biệt, cha sở không bao giờ cho phép tôi dạy nhiều người học chung một lớp, cha thường nhắc đi nhắc lại câu: “Dạy giáo lý là dạy tâm tính!”. Sau này tôi mới thấy quả đúng vậy thật! Đức tin là tâm tính mới của người gia nhập đạo Công giáo. Cũng vì thế, từng người một, ai học xong sẽ được lãnh bí tích Thanh tẩy vào đúng ngày chúa nhật. Tân tín hữu thường mời cha sở và tôi dự một bữa tiệc nhỏ hay một bữa cơm gia đình sau đó, nhưng cha sở cũng lại giao tôi đi đại diện. Giáo dân thấy thế gọi đùa tôi là “cha phó”. Đã không ngăn, cha sở lại còn đùa theo “Ừ! Cha phó nhỏ của tôi đó! Rán mà giữ, mất đền không nổi đâu đấy!”.
Nhưng cha sở đâu ngờ chính những bữa ăn đó lại là nỗi ngại sợ của tôi trong toàn bộ công việc dạy giáo lý. Rất nhiều lần tôi nuốt không trôi vì trong lúc ăn với nhiều thành phần thuộc các tôn giáo khác cùng dự tiệc, có những lão ông râu tóc bạc phơ, có những người ăn vận như những anh hùng áo vải kháng chiến chống Pháp thời Đề Thám, Phan Đình Phùng, có những người tóc dài chấm vai, gương mặt trắng xanh lúc nào cũng nghiêm nghị… họ đặt cho tôi những câu hỏi về “lẽ đạo” rất hiểm hóc làm tôi mắc cở đến tái người vì không sao giải đáp nổi, lúc ấy vì bí tịt, mặt tôi có lẽ thộn ra trông buồn cười lắm! Lại còn thế này nữa! Chính thái độ rộng lượng và tử tế của họ lại càng làm tôi như muốn chui xuống đất mà trốn. Còn nhớ trong bữa tiệc kia chừng vài mươi người, một ông tóc đen búi sau gáy, áo dài đen, thuộc Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương hỏi tôi:
- Đạo nào cũng tốt nhưng tại sao phải theo đạo Công giáo?
Tôi ấp úng một lúc rồi trả lời quanh co chi đó bây giờ tôi không còn nhớ mình nói gì nữa, chỉ nghe một tiếng cười rần rồi im bặt. Một ông lão mặc áo bà ba vải satanh trắng trách móc mọi người:
- Các người mời ông thầy về đây để chung vui hay để bắt bí người ta?

Lần khác trong một bữa tiệc, một ông lão có vẻ người đọc nhiều sách, hỏi tôi sau khi đã rào trước đón sau năm lần bảy lượt:
- Bẩm thầy! Phúc âm ghi “các con tha tội ai, nấy được tha…” tôi trộm hỏi, tại sao phạm lỗi với người này mà người khác tha, nếu tôi xúc phạm người hàng xóm, tôi đến với linh mục là được tha… như vậy có trớ trêu quái đản lắm không, hay ta đã hiểu sai lời Chúa nói… ? Thưa thầy!
Mồ hôi đẫm ướt hết lưng áo, tôi khó nhọc lắm mới nói xong lời xin lỗi rồi xin khất, để về hỏi cha sở và sẽ tìm đến tận nhà ông cụ mà trả lời sau.

Một lần khác, trong bữa tiệc có nhiều bàn ăn, bàn bên cạnh ồn ào luận lẽ, sau đó cử đại diện sang nhờ tôi giải đáp cho họ câu hỏi:
- Nếu Chúa nhân từ hẳn đã tha cho phẩm thiên thần Lucifer đã phản nghịch cùng Chúa, để họ không trở thành quỷ? Hoặc giả bây giờ Chúa tha cũng còn kịp mà?
Tôi còn chưa kịp hoàn hồn thì bàn bên trái có người đứng lên hỏi:
- Thưa… thầy học rộng hiểu cao, nghe cha sở nói đã qua phi-lô (2), vậy xin thầy giảng nghĩa đôi chút về tội nguyên tổ: Rằng nếu Chúa là Đấng công minh, nhân ái và đặc biệt… chính Người là Tình yêu, sao Người còn chấp chi thứ tội cỏn con như “ăn trái cấm” của Ông Bà Nguyên Tổ, lại chấp chi mà chấp cho đến nay trên hàng triệu triệu thế hệ con cháu, tất cả đều là những kẻ không hề biết ất giáp gì… vả lại thứ tội ấy đâu trọng nặng bằng bao nhiêu thứ tội ngày nay chúng ta có thể biết… ?
Như được đà, lần lượt hết bàn này đến bàn khác trong nhà đám đều có người nêu câu hỏi, đại loại câu nào cũng nặng đến hàng tấn, đè tôi đến bẹp dí:
- Mọi thứ tội sau khi “nhúng vào” phép Giải tội đều sạch tuyệt đối, vì thế người Công giáo tha hồ phạm tội và phạm tội nhiều hơn người lương, đúng không? Vì họ đã có phép thần thông, cây đũa thần, nước phép hồ lô… mà người lương không có…?
- Câu truyền phép khác câu thần chú chỗ nào?
- Tại sao người Công giáo đi lễ hoài vẫn trơ ra không hề biến đổi tốt hơn?

Còn nữa và còn nữa. Phải nói tôi “từ chết đến bị thương”; tôi chết chìm trong bao là thắc mắc của mọi người. Tuy nhiên tôi có cảm giác không ai có ác ý, tất cả họ chỉ có ước muốn tìm hiểu thêm về giáo lý, ngặt nỗi xưa nay cha sở ở quá xa họ, bây giờ họ đạo lần đầu tiên có tôi là thầy giúp xứ, đi đến với họ và thường xuyên gần gũi họ hơn, họ muốn giải bày để được hiểu biết thêm mà thôi. Uổng cho tôi! Quá non nớt nên bất lực mà còn gặp đúng ngay giáo xứ quá đam mê “lẽ đạo”. Ban đầu tôi ngượng ngùng, xấu hổ, mặc cảm đến sợ sệt việc đi dự các bữa tiệc vì vâng lời cha sở, thêm vào, chẳng bao giờ tôi kêu gào mà được các ông Quý Chức chịu đoái hoài để đi cùng… May! Trong tôi còn chút bản tính gan liều nên lần nào cũng bấm bụng đi ăn tiệc mà như đi vào trận mặc với tâm lý “thua là cái chắc!”.
Một hôm khi tôi đang bị vây khốn tứ bề, mặt mày có lẽ xanh như tàu lá chuối, mồ hôi mẹ mồ hôi con tuôn rơi lã chã… bỗng một ông già dáng hiền từ đáng kính, đến đứng sau lưng vỗ vai tôi nhè nhẹ bảo:
- Ông thầy ơi! Ông thầy đừng sợ! Ông thầy không cần phải trả lời hết mọi câu hỏi của họ đâu! Không ai buộc thầy! Vì kiến thức nằm trong các câu hỏi chứ không hẳn lúc nào cũng nằm trong các câu trả lời…
Lẽ thường, giáo xứ nào và lúc nào cũng có một số giáo dân chống đối cha sở. Nếu nghĩ có một giáo xứ nào nơi đó giáo dân tất thảy đều răm rắp một lòng tùng phục cha xứ thì ý nghĩ đó là không thực, vì trong bất kỳ một tập thể nào, sự phát sinh nhóm người chống đối luôn nằm trong quy trình phát triển tự nhiên, nhờ đó, mọi sinh hoạt tâm lý lẫn thể lý của tập thể trở nên quân bình, khiến không gì có thể đi đến chỗ hoặc thái quá, hoặc bất cập. Cho nên có thể có những người chống đối cha sở nằm trong số những người chất vấn tôi, nhưng trong trí óc non nớt của tôi lúc đó, tôi nghĩ cha sở cần biết hết những suy nghĩ của giáo dân thì hay biết mấy!
Một hôm dự tiệc của một tân tín hữu ở xa nhà thờ phía bên kia cánh đồng nhỏ khoản đãi. Bữa tiệc tổ chức vào lúc trưa kéo dài đến gần chiều. Có tất cả ba bàn ăn, hai bàn đàn ông và một bàn phụ nữ với hơn ba mươi thực khách. Sau gần một giờ, số thực khách phụ nữ rút lui để lại hai bàn ăn của đàn ông. Họ vừa uống rượu vừa bàn luận việc đời, việc đạo. Riêng việc đạo, ban đầu người ta xoay quanh chuyện cha sở, dần đi đến những việc thuộc lãnh vực giáo lý rồi giáo luật. Tôi nhận xét thấy hơn hai mươi người còn ngồi lại thuộc nhiều thành phần, phần đông là giáo dân, một số người còn lại thuộc các tôn giáo khác, đa số có học thức trình độ từ tú tài, trung học… trở xuống, cũng có những người có vẻ nông dân đặc sệt.
Sau khi nói chán chê về những tật xấu của cha sở cách tự nhiên không dè chừng sự có mặt của tôi, họ bắt đầu cãi nhau về bác ái của Công giáo khác với từ bi của Phật giáo, tội và căn tội theo quan niệm của hai bên, ăn chay theo quan niệm mỗi bên, thiên đàng và niết bàn, tu hành của các đạo, tương lai của con người sau khi chết và cuối cùng không tránh khỏi so sánh Chúa và Phật.
Bỗng tôi bị một Phật tử ăn mặc theo lối cư sĩ (3) chất vấn:
- Tại sao tu sĩ Phật giáo “xuống tóc” còn tu sĩ Công giáo vẫn để tóc?
Tôi trả lời:
- Vì bên Phật giáo tu là bỏ và lánh xa đời, còn chúng tôi tu là đi với đời.
Vị cư sĩ Phật giáo kia hỏi:
- Nhưng điều gì để người ta nhận ra các tu sĩ Công giáo thật sự đang tu? Vì độc thân là điều ai cũng có thể kiểm soát, nhưng chế ngự “tình riêng” ai mà kiểm soát được? (NV: xin chỉ ghi lại đại ý)
Khi tôi còn chưa biết trả lời ra sao thì một người đàn ông cao tuổi giúp trả lời thay:
- Chính vì vượt ra sự kiểm soát, nên tiết chế phải là một quyết định có tính tự nguyện hoàn toàn và mạnh mẽ. Sự tiết chế vì thế sẽ có giá trị hơn!
Vị cư sĩ Phật giáo kia chưa chịu:
- Đó vẫn còn trên lý thuyết, đạo là lý thuyết chuyển thành thực sống dù bất cứ trong phạm vi nào. Nếu vẫn còn lý thuyết sao gọi được là đạo? Có người còn nói nhìn mấy ông cha bên ngoài ăn mặc chải chuốt, bảnh bao, nhà lầu xe hơi sang trọng hơn người, làm sao chắc được bên trong có tiết chế?
Tôi cũng không thể trả lời, để mặc những giáo dân trong hai bàn ăn xoay trở giúp. Họ cũng đưa ra nhiều câu trả lời, nhưng một lúc sau có một người đàn ông trung niên giải đáp khá rành rọt:
- Tu là chính, đã có chí tu thì y phục, phong cách chỉ là phụ thuộc, vì có câu “chiếc áo không làm nên thầy tu”.
Xem ra vị cư sĩ Phật giáo kia không hài lòng cho lắm, nhưng thay vì đối chất thì ông vừa cười nụ vừa lầm bầm với những người ngồi cùng bàn “nhưng không tu, ai mặc áo làm gì!”.
Từ câu trả lời trên tôi học thêm một điều: có hai cách tu, một là tu bên trong, hai là tu bên ngoài. Người Biệt phái có nhiều lần trách Chúa sao không tu bên ngoài.

Tất cả các câu chất vấn đều được tôi ghi nhớ và đem về trình cha sở khi ngài về. Có câu cha giải đáp được, có câu cha lúng túng một lúc. Nhưng có một câu chất vấn gay gắt nhất tôi không dám trình ngài, câu này do một người ngồi cạnh trong một lần ăn bữa tiệc lớn, khi mọi người đặt câu hỏi rồi ồn ào bàn luận, người đó hỏi nhỏ vào tai tôi. Tôi cố tìm gặp lại người đó, nhưng dò la hỏi han cặn kẽ thì không ai đoán ra được. Khi đặt câu hỏi cho tôi xong, người lạ đó bảo không cần trả lời ngay, có thể sau này khi nào làm linh mục xong, trả lời cũng được.
Tôi sẽ đọc câu chất vấn ấy ra vào lúc nào câu chuyện tôi kể đến chỗ cần phải nêu.
 
 
(1) “lẽ đạo”: từ ngữ nhà đạo xưa, nghĩa là tất cả những gì thuộc về đạo Công giáo.
(2) “phi-lô”: nói tắt của chữ philosophie: triết học.
(3) cư sĩ: người tu tại gia.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 22.04.2026 12:00:00 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 22.04.2026 12:24:17
Kỳ 17
 
Lần thứ ba về thăm lại cha sở Luca ở An Biên, cha kể tiếp:
- Ông Lực lượng đã làm một vụ “kinh thiên động địa” tại giáo xứ này vào lúc đó. Trong những ngày ở tại An Biên, thầy đã có nghe giáo dân kể lại rồi chưa và thầy thấy sao không biết, chứ chuyện này không làm tôi quên một chi tiết nào. Đó là xúi giục một người đàn ông bỗng dưng đòi phong thánh.
Tôi thưa ngay:
- Thưa cha người đó là ông Tư Đúng, phải không ạ?
Cha sở gật đầu xác nhận xong, hỏi tôi có nghe người nào đó kể lại rõ ràng chưa. Tôi thưa nghe nhiều người kể, nhưng mỗi người kể một nẻo, mỗi chuyện theo một phách, làm tôi không còn muốn nghe nữa và không lưu giữ chi trong đầu. Cha sở bắt đầu kể:
Đó là vụ mà qua nó, tôi học hỏi và rút tỉa cho mình rất nhiều bài học và kinh nghiệm. Tưởng cũng nên chia sẻ cho thầy, để rút bớt thời gian tôi luyện trong đường tu.
Ông Tư Đúng là một giáo dân khoảng trên bốn mươi tuổi, bị phong hủi, nhờ uống thuốc của cha Tê-phan dòng Phanxicô, bệnh không tiếp tục phát triển, nhưng cũng để lại những di chứng trên thân thể. Không vợ con, rất nguội lạnh chuyện giữ đạo, chuyên bán vé số bằng xe đạp khắp cù lao này từ An Biên qua kênh Hội Đồng, Thuận Hảo, Tấn Hòa và Tấn Quý. Bỗng một hôm nào đó, ông bỗng quay ngoắt một trăm tám mươi độ trở lại với nhà thờ. Sáng lễ chiều chầu phép lành, sau phép lành còn đọc kinh nhiều Đài Đức Mẹ ở nhà thờ lẫn trong xóm. Một thời gian sau ông còn gia nhập nhóm Môi-sen -những người già luân phiên chầu Thánh Thể hai mươi bốn giờ mỗi ngày-, còn ở Legio ư? Cũng có mặt ông luôn. Giờ phụng vụ nào của nhà thờ đều không vắng ông: ông đến sớm, mở cửa sổ, đốt đèn, phụ ông Từ Nhà thờ đủ việc, sau ba hồi chuông ông đọc kinh sang sảng với mọi người, dần dà các ông Ban Quý chức vui lòng nhường cho ông xướng kinh sáng chiều ngày thường chỉ trừ chúa nhật… Nói chung bỗng dưng do một động cơ nào đó ông bỗng trở thành một tín hữu hết sức sốt sắng và vô cùng nhiệt thành. Lạ mãi hóa quen, giáo xứ bỗng gọi ông là “ông thánh Đúng”.
Một hôm ông đến gặp tôi thưa:
- Con có một sứ điệp của Chúa gửi đến cha.
Tôi hỏi:
- Sao Chúa không bày tỏ thánh ý Người trực tiếp cho tôi mà lại nói qua ông?
Ông Tư Đúng trả lời:
- Vì cha là người tội lỗi, nên Chúa không nói trực tiếp cho cha.
Tôi ngập ngừng giây lát rồi gật đầu chấp nhận mình là người tội lỗi, liền hỏi thêm:
- Sứ điệp ấy thế nào?
Ông Tư Đúng lấy trong túi ra một tờ giấy vàng nhạt, hơi nhàu nát, nhỏ bằng bàn tay, bảo tôi quỳ xuống để đón nhận sứ điệp -lúc đó ông vẫn đứng giữa phòng tôi như từ khi mới bước vào-. 
Tôi bối rối vì nghĩ mưu kế này của ông cũng khá hiểm, là con dao hai lưỡi: nếu tôi không quỳ, có nghĩa là tôi không muốn nghe Lời Chúa, nếu tôi quỳ, tôi trở thành một diễn viên trong vở kịch của ông. Tôi đưa ra đề nghị vừa tránh phải nghe lời ông, vừa để “dục hoãn cầu mưu”:
- Người có chức thánh chỉ quỳ trước người có chức thánh. Việc này khó quá! Thôi thì ông tóm ý Chúa nói gì, không cần đọc nguyên văn!
Giằng co mãi cuối cùng ông Tư Đúng phải chịu. Ông tóm ý:
- Chúa muốn cha phải phong thánh cho tôi.
Tôi ngỡ ngàng đến giật thót cả người. Nhưng rồi tôi cố trấn tĩnh, cố kiên nhẫn để tìm cách đưa ông ra về sao cho êm thắm. Tôi tỏ vẻ tiếc rẻ:
- Chậc! Không có vị thánh nào được phong khi còn sống. Được! Tôi sẽ xin đức giám mục đệ trình tòa thánh sau khi ông chết.
Ông Tư Đúng không bối rối như tôi tưởng, nhưng nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu vì tôi quá bảo thủ:
- Cha cứ cho tôi là người đầu tiên được phong thánh khi còn đang sống đi!
- Chậc! Chậc! Chậc!... Tôi đồng ý! Nhưng vị thánh nào cũng phải có vài phép lạ “bỏ túi”. Ông đã có mấy phép lạ và đó là những phép lạ gì?
Tới đây những tưởng ông sẽ rút lui. Nhưng không! Ông Tư Đúng sừng sỏ hơn tôi tưởng:
- Chuyện đó có gì là khó! Một là tôi tự chữa mình hết hẳn phong cùi. Hai là tôi từng là người môi giới mại dâm bỗng bỏ ngang và trở nên người thánh thiện. Ba là làm phép ly nước lã trở nên thuốc chữa bệnh cho không biết bao nhiêu người. Không phải một, hai, ba… mà là hàng chục phép lạ.
Nghe ông nói, tự dưng tôi nghĩ ông bà mình nói đúng: “Một người nói ngang ba làng cãi không lại”. Tôi tự nhủ phải thật kiên nhẫn và bình tĩnh với người giở chứng này. Đây là một việc mà các cha sở phải quan tâm giải quyết chứ không nóng nảy xua đuổi người ta đi cho xong chuyện. Tôi giải thích:
- Theo ông Tư, mọi điều kiện để được phong thánh coi như đã đủ, phải vậy không?
Ông Tư Đúng gật đầu đồng ý cái rụp. Tôi nói tiếp:
- Việc này phải có chữ ký của một số đông giáo dân đồng thanh xin phong thánh cho ông Tư.
Tôi nhận ra mình đã lầm đánh giá thấp người giáo dân này của tôi khi ông lập tức móc trong túi ra tờ giấy to gần bằng chiếc bàn giấy của tôi, trong đó chi chít có lẽ đến cả vài trăm chữ ký, dấu gạch thập, dấu lăn tay, đã thế còn kèm theo họ tên người ký v.v…. Tôi càng choáng váng hơn khi thấy tên của một hay hai ông Biện trong Ban Quý chức.
Lạy Chúa! Tới nước này tôi phải bước hẳn vào một chiến thuật nghiêm túc. Tôi yêu cầu:
- Đông người là thế! Nhưng tôi thì chưa thuận tin. Ông Tư làm gì đó cho tôi tin xem!
Nói có Chúa! Ông Tư Đúng không ngần ngại cầm lấy cây thước sắt vuông trên bàn giấy, bỗng cây thước sắt hóa nên mềm nhũn, ông quấn cây thước vào ngón tay cái của mình như ta cuốn một sợi dây. Tôi thấy ngay đây là chuyện có liên quan đến ông Lực lượng chứ không phải chuyện đùa. Tôi hoàn hồn trong tích tắc và giữ vững tinh thần:
- Được! Tôi sẽ cho ông Biện Việc (1) thu thập đủ mọi chứng cớ, rồi trình lên đức giám mục.
Tỏ vẻ hơi do dự chút ít, ông Tư Đúng cũng hài lòng và gật đầu nói:
- Phải mau lên! Vì thời gian không còn nhiều.
Nói xong ông ra về.
Cha sở đứng lên lại bàn nước uống một ngụm nước rồi ngồi xuống kể tiếp:
Tôi triệu tập Ban Quý chức ngay tối hôm đó. Tôi vỡ lẽ. Thì ra đã từ lâu có quá nhiều người chạy theo ông Tư Đúng. Tôi càng sửng sốt khi đếm được gần nửa số các ông trong Ban Quý chức bênh vực ông Tư Đúng. Tôi phải mất non một giờ để làm cho họ đồng nhất trở lại, rồi mới bàn tiếp giải pháp xử sự. Chỉ vì không đi thăm họ đạo, không theo dõi sát sao họ đạo, không quan tâm sức khỏe của họ đạo dù chỉ một thời gian ngắn, tôi đã buông họ đạo rơi vào cơn khủng hoảng đức tin nặng không thể tả.
Sau khi bàn luận xong xuôi, thống nhất ý kiến và quyết tâm với đường hướng và kế hoạch mới, các ông ra về, tôi cầu nguyện và ăn chay, vì tôi tin ông Lực lượng chủ mưu việc này. Những lúc thế này ông Lực lượng không đi xưng tội nữa, vì nếu vậy thì sự đối thoại sẽ làm vấn đề rõ ra.
Không cần tôi cho mời, ông Tư Đúng lại đến xin biết kết quả. Tôi nói:
- Muốn được phong thánh, ông Tư phải xưng tội mỗi ba ngày một lần, rước lễ mỗi ngày, chầu Thánh Thể mỗi ngày mười hai giờ, học thuộc và đọc lớn tiếng một trăm lần mỗi ngày câu Phúc âm Gioan đoạn mười bốn câu sáu: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, không ai đến được với CHA mà không qua Thầy”…
Vừa nói tôi vừa đưa mảnh giấy ghi như ghi thực đơn những việc vừa kể. Ông Tư Đúng cười khảy:
- Nhằm nhò gì ba chuyện lẻ tẻ đó!
Thấy tôi còn chưa tin, còn có vẻ “người phàm xác thịt” ông “bật mí”:
- Cha biết tôi sống bằng gì hai năm qua mà không cần đi bán vé số hay làm lụng nuôi tôi và hai ông bà già (2)… không?
Tôi chưa kịp trả lời, ông nói:
- Tự nhiên có người cho tiền, cho mượn tiền, trả tiền, gửi cất giữ giùm tiền, bỏ quên tiền… liên tục. Chúa nuôi tôi đó! Và đó cũng là một phép lạ lớn lao rùng rợn nữa!
Đợi cho ông nói xong, tôi nói tiếp:
- Và một điều kiện này để được phong thánh: Đó là từ hôm nay trở đi, ông Tư ngưng hết mọi việc xướng kinh, hoặc đọc thưa kinh to tiếng trong nhà thờ, trước và sau mỗi thánh lễ hoặc chầu phép lành, hãy quỳ gối trước cửa nhà thờ nơi mọi người ra vô, ông Tư đeo trên cổ một tấm bảng nhỏ có ghi: “Tôi là kẻ có tội” như vua thánh Theodorio (Tê-ô-đô-ri-ô) ngày xưa từng quỳ gối trước cửa nhà thờ chính tòa của thánh giám mục Ambrosio (Am-brô-si-ô).
Khi vừa nghe đến đây, ông Tư Đúng “nhảy dựng” lên, mắt long lên, miệng hoác ra, quơ tay chỉ trỏ:
- Ê! Đâu có được! Tôi là thánh mà sao phải quỳ gối? Làm sao xưng mình là kẻ có tội?
Tôi bình tĩnh trả lời:
- Không vị thánh nào là không nhận mình “Tôi là kẻ có tội”. Nếu ông Tư làm đủ và đúng những điều trên, tôi lập tức chuyển hồ sơ phong thánh ông Tư sang tòa giám mục và đề nghị tòa giám mục chuyển về Rôma xin đức giáo tông, vì phong thánh thuộc thẩm quyền của đức giáo tông (3) bên tòa thánh Vatican.
Ông Tư Đúng bắt đầu chỉ trích tôi, ông cho tôi là người chống lệnh Chúa và cuối cùng ông cho tôi là người của Satan và là người “giáo hội lầm”… rồi nóng nảy bực tức ra về. Ra đường ông còn la to hơn. Nghe nói ông la mắng tôi từ đầu trên xóm dưới bằng bao lời tục tĩu bẩn thỉu.
Những tháng ngày tiếp theo, tôi không sống yên. Nào là thư nặc danh, nào là truyền đơn rơi vãi khắp nơi “cha sở ăn nằm với bà bếp”, nào là xúi người biểu tình chống đối tôi, giữa đêm ném đá vào phòng tôi, thư tới tấp gửi về tòa giám mục yêu cầu thuyên chuyển tôi đi nơi khác… Ôi thôi! Đủ thứ trò chơi xấu tôi phải lãnh chịu không thể kể xiết.
Cha sở bảo tôi ăn cơm trưa với ngài rồi hãy về. Trong bữa ăn ngài tóm tắt:
- Ma quỷ thường gây xáo trộn, hỗn loạn, bùng nhùng và mông muội, rối tinh lên… để tạo sự lầm lẫn rồi thu hoạch những tâm hồn hoang mang, yếu đuối…
Nhưng tôi nhớ và tâm đắc nhất câu cha dạy:
- Vẻ bề ngoài “người của ma quỷ” không khác “người của Chúa Thánh Thần”. Dùng đức Khiêm nhường làm thuốc thử sẽ phân biệt được ngay. 
 
 
1) Biện Việc là chức danh do các Cố Tây đặt ra cho một người trong Ban Quý chức lo việc văn phòng và kế toán của giáo xứ.
2) Cách gọi kính cẩn ám chỉ cha và mẹ ruột mình khi nói chuyện với người khác.
3) Ngày xưa gọi đức giáo hoàng bằng: đức giáo tông, đức thánh Phapha…
<bài viết được chỉnh sửa lúc 23.04.2026 01:45:16 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 23.04.2026 06:38:53
Truyện càng về sau càng nảy sinh nhiều tình tiết đa dạng, mới mẻ, mong sẽ được nhiều bạn đọc đón xem. 

Hiện giờ truyện vẫn được tiếp tục đăng dài kỳ trên Nguyệt san Thánh nhạc Ngày nay. Để theo dõi truyện liên tục và mau chóng, bạn đọc sống tại VN nên đặt mua Nguyệt san này, xem như 1 cách khuyến khích tác giả. Dùng Google sẽ tìm ra phương cách liên hệ.

 
Kỳ 18
 
 Ngoài việc dạy giáo lý tân tòng, tôi còn dạy giáo lý hôn nhân như đã nói trước đây.
Có lần tôi hỏi cha sở sao không nhờ những ông Biện ông Giáp hoặc những người lớn tuổi đáng kính trong họ đạo dạy giáo lý hôn nhân, cha sở trả lời rằng vì giáo dân đặt tin tưởng vào giáo sĩ hay tu sĩ hơn, đã có lần trao việc đó cho các ông Biện cao tuổi, nhưng cách dạy của các ông không có sư phạm, nên cha không giao nữa, mà chính cha trực tiếp dạy.
Tôi chia việc dạy giáo lý hôn nhân thành hai phần, một là phần giáo lý về bí tích hôn phối, hai là phần đời sống gia đình. Về bí tích hôn phối tôi không rành bao nhiêu vì chưa học thần học, về đời sống gia đình tôi cũng không am hiểu, nên cũng rất ấp úng. Nhưng vì cha sở đã giao, nên tôi phải tự rèn luyện mình cho có kiến thức tối thiểu để dạy. Tôi đi tìm sách vở nơi các nhà sách và tự nghiên cứu.
Tôi lại chia phần giáo lý làm hai phần: phần một ý nghĩa, mục đích, tôn chỉ, đường hướng hôn nhân; phần hai cách sống đời tín hữu trong hôn nhân công giáo.
Tôi cũng lại chia phần đời sống hôn nhân làm hai phần: phần một lý thuyết phần hai thực tế.
Nói chung, tôi dạy cũng tạm được, tức cũng có cái để nói, nhưng ngẫm lại, chỉ toàn là kiến thức từ sách vở chứ chưa có kiến thức từ kinh nghiệm. Vì vậy một hôm, có đôi nam nữ kia hỏi tôi:
- Thưa thầy! Làm sao để được hạnh phúc trong chăn gối lẫn trong đời thường?
Theo đánh giá lúc đó, tôi thấy họ hỏi thật lòng chứ không có ý bắt bí. Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
- Dù ở đâu, quý anh chị cần quan tâm và hy sinh cho nhau.
Cũng may là câu trả lời như vậy càng về sau này tôi càng thấy tuy không chu đáo nhưng không sai.
Tuy nhiên chuyện dạy giáo lý hôn nhân không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Có một đôi nam nữ sau khi học xong làm đám cưới. Sau đám cưới vài ngày nổ ra chuyện lớn, cô dâu bỗng dưng bỏ chồng để trở về lại nhà cha mẹ vì xích mích to với chồng; chuyện ngày càng nổ ra lớn. Ban đầu chỉ trong phạm vi hai vợ chồng, dần dần đến hai gia đình, rồi đến hai dòng họ vì đôi bên đều là những gia đình thuộc giới “danh gia vọng tộc” trong họ đạo.
Chuyện cãi vã nhanh chóng biến thành bạo động rồi thù hận… Ban Quý chức nhiệt thành can thiệp nhưng không giải quyết được. Người ta đưa nhau đến cha sở vào mỗi chúa nhật, nhưng vẫn không tốt hơn. Cha sở bàn bạc với ban Quý chức và sau đó giao tôi thử gọi đôi vợ chồng đến để hỏi han cho ra lẽ.
Tôi suy tới tính lui liền gọi cô dâu trước. Khi cô dâu đến, tôi hỏi:
- Tại sao em bỏ chồng?
Cô dâu trả lời dễ dàng đến không ngờ:
- Thưa thầy! Em lấy lầm phải một “con trâu điên”.
- Trời! Sao em nói vậy?
- Thưa thầy! Đêm động phòng thôi mà “nó” hành hạ em đến bảy lần. Phải đi nhà thương thầy ơi!
Tôi ngây ngô:
- Tại sao hành hạ? Hành hạ là làm sao? Và hành hạ gì… mà đến bảy lần lại còn phải đi nhà thương?
Tức giận nên xổ ra một tràng, sực tỉnh, cô dâu đỏ mặt. Lúc đó tôi cũng vừa hiểu ra, liền nhỏ nhẹ hỏi:
- Hậu quả như vậy nên phải to chuyện đến không nhìn mặt nhau nữa?
Cô dâu trả lời:
- “Nó” còn bảo nó có quyền làm gì thì làm… ! Em thấy không thể sống nổi với loài súc vật ấy được!
Tôi hỏi:
- Nếu “nó” không làm như thế nữa, em có trở lại với “nó” không để thầy biết mà khuyên “nó”? Cũng nên có ai khuyên giải chứ! Chừng nào “nó” không nghe mới tính tiếp…!
Cô dâu ấp úng lâu lắm. Khóc. Suy nghĩ đắn đo một lúc lâu mới thẫn thờ trả lời:
- … Dù sao em cũng một đời chồng! Cũng khổ tâm lắm thầy ơi!...
Tôi lờ mờ hiểu ở thôn quê nước ta, phận nhi nữ nhiều nỗi oan khiên như câu tục ngữ phong dao xưa:
Trai chê vợ, mất của tay không
Gái chê chồng, một đồng đền bốn …
Tôi đợi cho cha sở về vào chúa nhật kế tiếp, kể tự sự cho ngài nghe, ngài “Ồ” lên một tiếng như đã thấy được manh mối. Nghe lời cha chỉ dẫn mọi lẽ, vài hôm sau tôi gọi chàng rể đến. Chú rể đến với tâm trạng bực dọc và trả lời tôi bằng những câu nhát gừng.
Nhưng khi nghe tôi giải thích những khó khăn của phụ nữ trong việc chăn gối, quan niệm của họ về tính giao, sự thụ động của họ trong tính giao, sự ham thích không đồng đều của đôi bên, nhất là cơ quan tế nhị của họ là nhạy cảm, mỏng manh và dễ bị tổn thương v.v… những điều mà khi dạy giáo lý hôn nhân vì ngại miệng tôi không nói.
Tôi phải dùng tình cảm thầy trò, phải kiên nhẫn, mềm mỏng, khéo léo và phải mất đến đôi ba ngày tôi mới thuyết phục nổi chú rể, nhờ cho chú rể xem thêm sách, xem thêm tranh minh họa, chú rể dần dần hiểu ra và bắt đầu đổi lòng từ giận ghét ra thương cảm vợ.
Tôi rất mừng khi chú rể đồng ý gặp vợ có sự chứng kiến của tôi. Tôi hẹn một ngày hai người gặp nhau để giải hòa. Trong cuộc giải hòa anh chồng trẻ nhận lỗi là mình không biết, hứa sẽ không tái phạm nữa v.v… Hai anh chị nắm tay nhau. Tiếp theo sau đó là gia đình đôi bên dần hòa thuận lại và đôi vợ chồng tái xum họp.
Sau “trận” đó, tôi mắc cỡ và cảm thấy mình có lỗi. Đó là lỗi không biết gì về hôn nhân mà dạy giáo lý hôn nhân. Tuy nhiên ngộ ra đời sống hôn nhân có hai mặt, nổi và chìm. Mặt chìm có nhiều khả năng tác động mạnh và gây ảnh hưởng nặng nề đến mặt nổi.
Hôn nhân là cuộc phối hợp hai tâm hồn và hai thân xác. Giáo lý hôn nhân cần chỉ ra cách phối hợp hai tâm hồn tức phối hợp tínhnết; tính gồm có tâm lý, quan niệm, quan điểm, tình cảm, trí óc, suy nghĩ… nết gồm có sở thích, thói quen, khuynh hướng, khả năng, sở trường sở đoản… Giáo lý hôn nhân còn phải chỉ ra cách phối hợp hai thể xác gồm có quan năngcảm xúc; quan năng là sắp xếp sao cho các cơ quan tác hợp tương ứng; cảm xúc là làm cho sự vui thích, cảm động… được giao phối cách hài hòa.
Người như tôi chưa có khả năng dạy giáo lý hôn nhân, nếu nói những đôi vợ chồng khác do tôi dạy vẫn suôn sẻ thì xin thưa, họ có may mắn là tự tìm ra sự phối ngẫu dần dần; còn không, chắc là họ chịu đựng nhau tức một thứ hôn nhân lấy đạo đức ra chế ngự. Tôi trộm nghĩ: rất nhiều những cuộc hôn nhân do đạo đức chế ngự, ít có cuộc hôn nhân lý tưởng. Tôi lại nghĩ thêm: có thể có nhiều vị thánh trong các cuộc đời hôn nhân, nếu hiểu rộng ra nghĩa “thánh” là nhịn nhục liên tục, chịu đựng nhau liên tục, tha thứ nhau liên tục, quảng đại với nhau liên tục, nâng đỡ và giúp đỡ nhau, nêu gương cho con cái liên tục… “thánh” do xử sự theo Tin Mừng đối với người gần gũi mình nhất. Tôi thầm cảm phục những đôi vợ chồng trên đời này, nhất là các đôi vợ chồng thời xưa.
Có lần cha sở Luca nói: “đời sống gia đình vui ít buồn nhiều, quyền lợi ít trách nhiệm nhiều, chỉ một bước người ta có thể nên thánh…”. Lúc ấy nghe vậy tôi không hiểu, nay mới hiểu.
Sau vụ kể trên, bắt đầu từ hôm đó, có nhiều người vợ, thỉnh thoảng vài người chồng, đến với tôi để than thở, tâm sự về chuyện gia đình mình. Ngày tôi càng xác tín hơn lên cuộc sống gia đình là cuộc sống không dễ dàng.
Trong số những người vợ đến tâm sự, có một người vợ cứ vài ba ngày lại đến than thở với tôi về người chồng “nát rượu” và hành hung vợ mỗi khi say. Ban đầu tôi chỉ nghe mà không biết khuyên nhủ làm sao. Đến lần thứ ba, tôi đề nghị với chị một giải pháp. Tôi sẽ hợp tác cùng với chị để cầu nguyện và ăn chay, cùng lúc chị phải cố gắng im lặng nhẫn nhịn và vẫn cứ một mực yêu thương và kính trọng chồng, đừng nói bất cứ lời nào xúc phạm nhất là lúc chồng đang say.
Một người vợ khác đến tâm sự chồng mình đam mê cờ bạc làm tán gia bại sản. Tôi cũng dùng cách trên để khuyên giải.
Còn thêm một vài trường hợp nan giải nữa gần giống vậy, tôi thường không biết làm sao chỉ có một lời khuyên giống nhau cho mọi người vì cứ như trí óc nông cạn của tôi suy: nhất hạng là cầu nguyện và ăn chay, nhì hạng là theo Chúa dạy nhẫn nhịn, tha thứ và yêu thương. Thật ra tôi cũng không biết những người vợ ấy có về làm theo tôi bày ra hay không và sự thể ra sao… vì ít ai quay trở lại cho tôi biết kết quả.

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 25.04.2026 02:17:27
Kỳ 19
 
Sự đời dễ đoán định. Hễ bây giờ sáng quá thì ngày sau sẽ không sáng; bây giờ sướng quá thì ngày sau sẽ không sướng nữa. Chúa Kitô xưa dùng dụ ngôn người giàu có và ông La-da-rô hành khất để nói điều này. Nhờ đi giúp xứ, nhờ đi tới đi lui, tôi thấy nhiều cảnh đời quá cơ cực, hình như sinh ra để lãnh phần cơ cực. Nếu chỉ ở trong tháp ngà như chủng viện với bao tiện nghi, làm sao thấy được những kiếp người nghèo đến tận tủy, làm sao hiểu được những cảnh đời khổ đến tột cùng. Nếu nhìn trời đất muôn vật biết ngay có Đấng dựng nên thì nhìn cảnh bần khổ đến rát da, cảnh đau thương đến xót ruột… cũng sẽ biết ngay phải có sự đền trả công bằng trong ngày sau.
Khi tôi trở về thăm cha Luca ở An Biên, nói lên điều này liền được cha khen:
- Cái thằng!... Mới xa cha có vài tháng mà đã giỏi thêm rồi!... Đúng đấy con ạ! Con phải cố sống sao cho đơn giản trong phận mình mới mong sau này khá hơn. Tiện nghi sung sướng mà làm gì! Theo Chúa mới là chuyện chính cần phải làm và cần phải tô đắp cho ngày càng vững mạnh hơn. Cha kể vụ này con nghe…
Một hôm vào “xưng tội”, Ông Lực Lượng cười và chê:
- Sống trên đời Chúa cho vạn vật thì phải hưởng dùng. Như ông chỉ mấy bộ áo cũ xì, ăn uống sơ sài, đi đứng thì cứ bằng xe lôi thùng (1), ngủ trên ván gỗ tạp, đồ dùng chẳng có gì quý trừ quyển sách kinh Nhật tụng…
Tôi trả lời:
- Sống được bao năm là để ca ngợi thờ phượng Chúa, chứ cứ nhắm hưởng thụ thì được ích gì!
Ông Lực Lượng nói:
- Nếu ông muốn, cứ nói một tiếng tôi có thể cho ông tất cả!
Tôi cám ơn và bảo:
- Của cải lôi mình đi xuống chứ không kéo mình đi lên bao giờ!
Ông Lực Lượng ngụy biện:
- Có tiện nghi để mọi người nhìn vào thấy gương “theo Chúa được sung sướng” khiến cho họ ham thích theo Chúa... chứ như ông, ai thấy cũng sợ không còn dám nghĩ đến việc đi theo Chúa nữa…
Tôi cãi lại ngay:
- Theo Chúa vì được tiền của, vì được tiện nghi sung sướng hay sao! Xưa Chúa có làm phép lạ ra tiền để lôi cuốn người ta đâu? Chính vì thấy theo Chúa không hào nhoáng mà số người theo sẽ được luyện lọc thanh trừ đến ít đi nên Chúa mới nói: “gọi thì nhiều chọn thì ít” đó thôi!
Ông Lực Lượng cố lý luận:
- Nhưng dù sao “có thực mới vực được đạo”, nếu các ông Biện ông Giáp của ông nghèo đói liệu họ có làm việc Chúa với ông được nữa hay không?
Bỗng dưng ông ấy thách đố:
- Ông dám thử hay không? Tôi với ông cùng thử!
Tôi với Ông Lực Lượng làm giao kèo bằng miệng thử thách đức tin của năm người bất kỳ trong Ban Quý Chức, nếu đa số khi bị hoạn nạn bỏ cả việc nhà thờ thì tôi sẽ là người thua cuộc. Tôi liền đi xin phép đức giám mục để cho Ông Lực Lượng thử các ông Biện ông Giáp trong Ban Quý Chức của họ đạo An Biên này.
….
Bắt đầu ông Câu Bảnh. Hai người con trai ông đang làm ruộng ngoài đồng bỗng bị lính bố ráp vây bắt được cả hai cho vào quân trường đi lính; cùng lúc đó đứa con gái trưởng nữ của ông sẩy thai bị hành đau tới đau lui tốn cả trăm ngàn đồng (2); chưa hết, vợ ông đau buồn quá sinh ra tâm bệnh. Ông Câu Bảnh vẫn đến nhà thờ, vẫn làm việc bổn phận.
Kế đến ông Biện Thường, gia đình đang yên ổn bỗng vợ chồng xào xáo, bà bỏ ông trở về nhà cha mẹ ở Bảy Núi, cửa tiệm chạp-phô dùng để mưu sinh hằng ngày đành phải đóng cửa... Ông Biện Thường vẫn đến nhà thờ và lo việc bổn phận.
Tiếp theo ông Biện Chắc đang buôn cây, xẻ gỗ bỗng bị chìm ghe trong chuyến buôn gỗ to làm lỗ lã cả mấy trăm ngàn đồng v.v… Ông Biện Chắc vẫn đều đặn đến nhà thờ và xướng kinh to trong các giờ kinh ở nhà thờ không bỏ buổi nào.
Tiếp theo ông Giáp Chẩn, đang làm giàu với ruộng lúa Thần Nông (3), bỗng dưng thất mùa do sâu bệnh và nước lũ kéo về quá nhanh. Hai mươi tám công đất chỉ thu về chưa tới một trăm giạ (4) lúa v.v… nhưng vẫn không thấy ông vắmg mặt ở nhà thờ…
Tiếp theo ông Biện Hộ, vợ và các con làm rẫy bái đang thịnh vượng bỗng thất mùa không rõ nguyên cớ, phải cầm cố đất để lấy tiền trả nợ... Tuy vậy vẫn đến nhà xứ đều đặn để lo việc chung.
Và khi thử thách xong năm ông gồm có Câu, Biện, Giáp do chính ông Lực Lượng lựa chọn tùy ý… không có lấy một ông vì hoạn nạn mà bỏ bê việc nhà Chúa. Coi như tôi thắng đậm!
Nhân dịp này tôi rất đỗi vui mừng khi thấy rõ đức tin của các ông Câu, ông Biện ông Giáp thế nào… quả đúng là họ đạo tốt phúc! Có Ban Quý Chức rất gương mẫu, dù sóng gió trong gia cảnh nhưng chẳng ông nào bỏ việc chung, việc nhà thờ nhà thánh, không ông nào bỏ bê việc bổn phận giáo dân tin tưởng trao phó.
Sau đó rất lâu không thấy Ông Lực Lượng đến “xưng tội”, tôi biết ông đã thua nên lánh mặt một thời gian cho quên đi. Tôi thầm cám ơn Chúa và khấn xin Chúa thương nhìn lại, ban ơn lại cho các tôi tớ trung kiên của Chúa nhiều ơn lành trở lại. Quả thật sóng gió với năm ông đều dần dần tan, sự tốt lành bắt đầu trở lại cho từng ông. Tôi theo dõi rất kỹ mọi diễn biến và ghi nhận rất chi tiết để trình cho đức giám mục.
Tuy cơn thử thách cho năm ông gồm có Câu, Biện, Giáp… không giống cơn thử thách xưa của ông Gióp, tức nhẹ hơn nhiều, nhưng các ông trong Ban Quý Chức vẫn ung dung tự tại bày tỏ đức tin, an ủi và nhắc nhở nhau vượt qua cơn khốn khó, làm cho lòng tôi phấn khởi trước họ đạo của mình.

Trên đường trở về họ đạo Cao Đằng, tôi miên man suy nghĩ chuyện cha sở Luca kể, rồi cứ tự hỏi mình hoài, nếu trường hợp là mình, mình có vững lòng như các ông Câu, Biện, Giáp… ấy không.
Tôi lại nhận ra, hình như đức tin của người Công giáo Việt Nam khá vững chắc. Nhớ lại tôi đã từng chứng kiến người Công giáo Việt Nam theo Chúa không phải vì tiền của; gia cảnh nào hầu hết người Công giáo Việt Nam cũng đều một lòng theo Chúa chứ không dễ buông xuôi, chịu thua, khuất phục. Đó có lẽ nhờ ở công các Cố Tây truyền một thứ đạo “chất phác nhưng mạnh mẽ”, còn nhờ ở người Công giáo Việt Nam từng trải qua những cơn sóng to gió lớn của các cơn bắt đạo kinh hoàng, nhờ ở dòng giống người Việt Nam có khí chất kiêu hùng, nhờ ở ân đức Ông Bà Tổ tiên di truyền huyết thống anh dũng lại cho cháu con… thì phải!
Tôi còn nghĩ cha sở Luca thắng đậm là do nhân đức, trí khôn ngoan và tài lãnh đạo của chính ngài khiến ngài lèo lái họ đạo đi trong con đường đức tin cách vững vàng, chứ không phải gì khác mặc dù không phủ nhận đức tin quần chúng và có truyền thống của họ đạo này rất vững mạnh và sắc nét.
Tôi nhớ cha xứ Ars tức thánh Gioan Via-nây (Jean Vianey) bổn mạng các cha sở xưa từng nói: “nếu cha sở thánh thiện, giáo dân sẽ đạo đức, nếu cha sở đạo đức, giáo dân sẽ tốt lành, nếu cha sở tốt lành giáo dân sẽ nguội lạnh v.v…”
Từ những suy nghĩ trên tôi rút được hai kết luận cho riêng mình. Một là bây giờ cứ “tối” như cha Luca, tức sống với những gì mình có, đừng tìm danh vọng, của cải, tiện nghi, hưởng thụ hoặc lời khen... Hai là dù giàu hay nghèo dù sướng hay khổ, không gì quan trọng bằng theo Chúa qua việc thực thi Phúc âm. Chính ma quỷ còn đánh giá cao đức tin mạnh mẽ.
Lạ một điều, ba lần trở về thăm lại cha sở Luca, tôi định kể cha nghe câu hỏi do một người lạ ở xứ đạo Cao Đằng đạt ra cho tôi khiến tôi hoảng sợ; câu hỏi này cứ luôn hiện ra lởn vởn trong đầu óc tôi, nhưng lần này lại một lần nữa tôi quên khuấy đi, dù vừa gặp cha tôi còn nhớ và quyết tâm hỏi. Nhất định lần sau ghi ra giấy để không thể nào quên hỏi.
 
 
(1) Xe lôi thùng: là những chiếc xe gắn máy hiệu Sach, Goebel, Mobilette… cũ, đuôi xe được gắn một cái thùng để kéo ở phía sau, làm vậy để chở nhiều khách đi lộ trình ngắn.
(2) Thời này trăm ngàn đồng rất lớn, một chiếc xe Honda nguyên thùng giá chỉ 35.000 đồng VN, ai có bạc triệu đều gọi là triệu phú.
(3) Miền Tây vốn mỗi năm có nước lũ, nên người ta làm chỉ một vụ lúa, gọi là lúa mùa, thứ lúa mọc cao theo mặt nước. Bấy giờ mới du nhập vào loại lúa một năm có thể làm 3 vụ gọi là lúa Thần Nông.
(4) Giạ: một thứ đồ chứa lúa gạo được đan bằng cật (vỏ) cây tre, hình cái thau lớn, rất tiện và rất bền...vừa làm đơn vị đo lường khi mua bán lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 25.04.2026 02:39:26
Kỳ 20
 
Lần thứ sáu về thăm cha sở Luca ở An Biên, tôi được cha kể tiếp chuyện ông Lực Lượng xưng tội.
Ông ta chỉ trích và châm biếm việc tôn sùng phép Thánh Thể và việc đi lễ nhà thờ của chúng ta. Ông ấy bảo:
- Tôi buồn cười: Ông Chúa Giêsu nói một đằng, các ông hiểu một nẻo.
Tôi ngạc nhiên và tò mò muốn biết:
- Ông cứ cho thí dụ xem!
Ông Lực Lượng đưa ra hai thí dụ:
- Về phép Thánh Thể, các ông lầm ẩn dụ với thực tế, về đạo nhà thờ các ông lầm giữa đức tin và sự yên trí.
Tôi càng tò mò hơn nên chất vấn:
- Trước hết về phép Thánh Thể, ông nói xem thế nào là lầm lẫn giữa dụ ngôn với thực tế?
Ông Lực Lượng chậm rãi nói:
- Ông Chúa Giêsu bảo hãy ăn thịt Ta và uống máu Ta. Đó chỉ là kiểu nói ẩn dụ (1) ám chỉ ăn Thịt là sống Lời Chúa; uống Máu là sống Ý Chúa.
Tôi nóng lòng hỏi:
- Còn đạo nhà thờ?
Ông Lực Lượng chậm rãi trả lời:
- Đến nhà thờ cho nhiều mà không gắng thực hiện những gì Lời Chúa phán dạy ở tại gia đình và ở ngoài xã hội.
Tôi hỏi:
- Tôi chưa nhìn ra hậu quả.
Ông Lực Lượng lim dim đôi mắt bảo:
- Hậu quả là các ông… thay vì thực hiện Lời Chúa dạy thì chỉ lo rước Mình Chúa cho nhiều khiến cho đời sống tín hữu không khá hơn, cứ ì ạch tại chỗ; thay vì thực hiện Lời Chúa dạy ở gia đình và ở khu xóm thì cứ đến nhà thờ cho thật nhiều khiến đạo Công giáo gần như một thứ đạo nhà thờ, từ đó, phát sinh nhiều nhầm lẫn tệ hại khác(2). Chúng ta không ngại khi nói ra những điều này với ông, vì một mình ông chẳng thể làm gì được để cải cách cả một Giáo hội….
Đâu có dễ dàng để ông ấy muốn nói gì thì nói. Tôi đáp lại:
- Giả dụ những lời ông nói là đúng thì ông nói ra để làm gì? Tôi không nghĩ ông kể để chơi, càng không để khoe khoang tự đắc suông… bởi vì các ông thâm độc đến nỗi loài người không ai theo kịp….
Ông Lực Lượng vừa nói vừa nghiến răng nghe phát sợ:
- Chúng ta muốn báo cho các ông biết một tin buồn. Đó là nước Chúng ta sắp “trị đến” chứ không phải nước Chúa “trị đến”. Theo Chúng ta đi thì sẽ sướng tột bậc.
Tôi đang đăm chiêu trước ý đồ của ông Lực Lượng. Ông Lực Lượng nói tiếp:
- Hiện trên thế giới số người theo Chúng ta rất đông. Ông cứ suy nghĩ kỹ đi rồi trả lời cho Chúng ta quyết định của ông.
Tôi biết ông Lực Lượng sau khi tìm mọi cách để hạ gục tôi nhưng không được, nay cố tình khuynh đảo đức tin của tôi. Tôi bảo:
- Ông không thể lôi kéo tôi đi theo ông được đâu! Vì tôi tự biết mình dốt nát, nên tôi cứ một mực bám sát Giáo hội, không bao giờ tôi nghi ngờ hoặc rời xa Giáo hội của tôi.
Tôi bỗng nhớ ra:
- Sao ông không nói điều này với các nhà thần học mà lại đi nói với tôi?
Ông Lực Lượng “đánh trống lảng” rồi bắt qua chuyện khác:
Cuối cùng ông Lực Lượng cũng rời tòa giải tội đi ra ngả tiền đình nhà thờ rồi mất hút.

Trong lúc cha Luca kể, tôi bồn chồn tự nãy giờ, nhưng thấy cha Luca đang nói, không thể ngắt lời cha. Bỗng cha lặng im, tôi nghĩ đây là cơ hội tốt nên thưa:
- Thưa cha, con cũng bị một giáo dân họ đạo Cao Đằng thường xuyên hỏi con. Đó là một người đàn ông trung niên, mỗi lần gặp mặt ông ấy, con có cảm giác ghê rợn vì khuôn mặt dẹp như trăng lưỡi liềm, đôi mắt rất sâu và có vẻ nguy hiểm, giọng nói khẽ khàng như hơi thở: “Thầy có muốn theo tôi không? Theo tôi sẽ được “thăng quan tiến chức” như thầy muốn, lại danh giá tràn ngập”.
Thấy cha sở chăm chú lắng nghe, tôi thật thà trút hết:
- Người đàn ông ấy cứ hỏi con năm lần bảy lượt chỉ một câu hỏi và lời hứa như thế khi gặp nhau trong những bữa tiệc ở nhà giáo dân.
Cha sở dạy tôi:
- Khi nào gặp và nghe ông ta nói nữa thì thầy hỏi ngay: “Anh là ai, ở đâu và làm nghề gì?”. “Phía sau anh còn có ai nữa?”. Nhất là thầy hỏi: “Đi theo anh bằng cách nào và cần phải làm những gì?”
Cha sở Luca khuyên tôi lúc nào cũng phải thật bình tĩnh, đừng quyết định điều gì khi chưa được ý kiến của một trong hai cha sở, An Biên và Cao Đằng. Cha nhắc đi nhắc lại câu này:
- Con cần phải luôn tin tưởng điều này: chúng ta lúc nào cũng cần phải đi trong đường lối của Giáo hội, nơi duy nhất để chúng ta được an toàn trước bất kỳ loại nguy cơ nào. …
Sau đó vài tuần, một số tân Kitô hữu ở Cao Đằng hùn nhau mở tiệc ăn mừng được nhận bí tích Rửa tội và trở thành người Công giáo, tôi đến dự và khi tiệc gần tàn, tôi lại gặp người đàn ông mặt dẹp, ông ta cũng hỏi tôi cùng một câu hỏi như những lần trước, tôi nhắc lại từng câu cha sở Luca dạy tôi:
- Xin lỗi cho tôi hỏi anh là ai?
Anh ta đáp:
- Tôi là giáo dân họ đạo này.
Tôi hỏi tiếp:
- Anh ở đâu và làm nghề gì?
Anh ta tránh né thấy rõ:
- Tôi ở trong họ đạo này và làm nghề tay chân.
Tôi hỏi tiếp:
- Phía sau anh còn có ai nữa không?
Anh ta trả lời ngay:
- Phía sau tôi là rất… rất… đông.
- Anh bảo đi theo anh, nhưng đi theo anh bằng cách nào và cần phải làm những gì?
Anh ta đáp không do dự:
- Theo tôi bằng ý muốn và không cần phải làm gì. Thầy cứ sống như đang sống, làm mọi việc như đang làm nhưng thỉnh thoảng tôi ra chỉ thị cho thầy phải làm gì.
“Dục hoãn cầu mưu”, tôi trả lời:
- Để tôi trình lại và xin phép cha sở vì tôi thuộc quyền Ngài.
Ông ta nhún vai rồi vài giây sau thì gật đầu.

Vài tuần sau trở lại thăm cha sở Luca, tôi kể lại cho cha nghe từng chi tiết. Cha không tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng vẫn chăm chú lắng nghe. Khi tôi kể xong, cha Luca bảo:
- Tôi nghi người đàn ông ấy thuộc hội Tam Điểm.
Cha sở nói tiếp:
- Tốt nhất, chúng ta phải bám sát Giáo hội, chớ bao giờ rời xa, vì chúng ta nhỏ bé và chân thật, không ai che chở cho chúng ta nếu chúng ta bước đi ngoài con đường của Giáo hội. Mỗi lần thấy nguy nan, bối rối, chao đảo… con hãy cầu cùng Chúa Thánh Thần và quyết không xa rời Giáo hội..
...
Một hôm đang ngồi trên bàn giấy kê trong phòng nhỏ của tôi trên lầu. Bàn giấy kê sát cửa sổ để tôi ngồi quay lưng ra cửa phòng, nhưng lại tiện nhìn xuống toàn bộ khoảng sân rộng trước nhà thờ và nhà xứ, dễ nhìn thấy kẻ lui người tới. Đang viết lách, bỗng tôi có cảm giác có người đứng sau lưng. Quay lại tôi muốn đứng tim khi nhận ra người đàn ông mặt dẹp đứng sau lưng tôi tự bao giờ. Tôi giật mình và hoảng hồn. Người đàn ông không tỏ vẻ gì là hối tiếc vì đã làm tôi hốt hoảng, nhưng tự tiện không cần mời, ông ngồi ngay xuống mép chiếc giường ngủ của tôi. Ông hỏi:
- Làm gì mà giật mình dữ vậy ông thầy? Có ai làm gì đâu!
Tôi chống chế. Người đàn ông nói:
- Thầy đã suy nghĩ kỹ lời tôi nói chưa?
Tôi đáp:
- Tôi, thân đi tu, phải vâng lời bề trên tức cha sở Cao Đằng đây. Muốn làm gì cũng phải có phép của cha sở. Nếu tôi tự tiện quyết định, tôi sẽ mắc lỗi.
Người đàn ông nói:
- Chuyện đời mình phải do mình quyết định chứ giao cho người khác sao được! Nói thật với thầy, không phải ai tôi cũng mời, vì nếu thầy chấp nhận lời mời của tôi, lập tức sẽ mở ra cho thầy một chân trời tương lai sáng rực hạnh phúc và quyền lực. Nhưng thầy đã nói với cha sở chưa?
Tôi trả lời:
- Chưa.
Ông mặt dẹp cười nửa miệng nói:
- Vậy mà tôi biết thầy nói rồi đấy!
Tôi hơi chột dạ, lòng nghĩ đến cha sở Luca ở An Biên, nhưng tôi cũng bình tĩnh nói:
- Nếu anh biết rồi thì hỏi để làm chi?
Người đàn ông nói với hàm răng cắn lại đến khít rịt nghe rõ giọng vừa hứa vừa đe:
- Tôi muốn cho thầy biết một khi tôi chấm điểm thầy, thì tôi biết hết tất cả. Thầy không giấu tôi chuyện gì được đâu! Thầy cứ kể hết chuyện hôm nay tôi đến… với linh mục Luca đi! Không hề gì!
Người đàn ông nói xong thì đứng lên bắt tay tôi, hẹn gặp nhau lần sau.
Ông ta đi về, xuống cầu thang rồi biến mất không hề có một động tĩnh gì giống như lúc đến.
Phải một lúc sau tôi mới hoàn hồn. Càng bình tĩnh càng nghĩ ra thì lại càng thấy lạ vì hành tung của người đàn ông này. Nếu người bình thường đi vào nhà xứ phải qua sân nhà thờ hẳn tôi đã thấy; rồi muốn vô nhà xứ phải có một trận sủa rầm rộ đến đinh tai nhức óc của bầy gồm tám con chó khỏe mạnh; càng không thể nào không bị nhà bếp tra hỏi khi cửa trước luôn đóng kín, buộc phải đi vòng ra phía sau nhà bếp, lúc ấy hẳn rằng nhà bếp đâu đã làm thinh cho người lạ đi lên cầu thang dễ dàng… Nhưng không! Ông ta không lướt qua sân nhà thờ, sau đó làm cho lũ chó lặng im, tàng hình để nhà bếp không thấy gì cả, rồi ông ta phải nhẹ nhàng lắm mới đứng sau lưng tôi lúc nào tôi không hay biết.
Vừa nghĩ lại đến đó tôi chợt rùng mình, gai ốc nổi lên khắp cả vì sợ. Rồi tôi thấy lạnh cả xương sống khi nghĩ người đàn ông này có liên quan tới ông Lực Lượng.
 
(1) Lời tiên tri về Chúa Giêsu của các ngôn sứ: “Mở miệng ra là ta kể dụ ngôn. Ta sẽ rao các điều bí ẩn ngay từ khi tạo thành thế gian (Mt 13:35). (Chú thích của tác giả Ma Văn Liêu).
(2) Xin tóm gọn những gì cha Luca thuật ông Lực Lượng đã nói; đồng thời xin được miễn nói hết những điều ông Lực Lượng bêu rếu đạo Công giáo và người Kitô hữu.
 
(Đã đem đến kỳ 20)
<bài viết được chỉnh sửa lúc 29.04.2026 14:58:59 bởi Thanh Vân >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 30.04.2026 02:24:17
Kỳ 21
 
Gần đến ngày tôi phải rời giáo xứ để về quê nhà nghỉ hè một tháng, đi dự tập huấn khóa đặc biệt dành cho các chủng sinh trong toàn địa phận vào mỗi kỳ hè trong vòng một tháng, sau đó tôi lại tiếp tục nhận “bài sai” (tờ lệnh) đi giúp ở một xứ đạo khác đúng một năm nữa rồi mới được trở về đại chủng viện học thần học.
Tôi đến cha sở Luca lần tiếp theo, thuật lại cho Cha hết sự tình cuộc gặp người đàn ông mặt dẹp trong phòng tôi lần thứ nhất. Cha sở Luca bảo tôi cứ bình tĩnh, cứ vui vẻ chuyện trò với ông ấy, nhưng đừng làm bất cứ điều gì ông ta yêu cầu.
Tôi cũng kể tự sự từ đầu cho cha sở Cao Đằng, nhưng cha sở Cao Đằng bảo, cứ theo lời tôi kể thì cha chẳng biết đàn ông ấy là ai. Cha sở Cao Đằng còn bảo rằng trí nhớ cha không tệ, cộng thêm cha ở họ đạo này đã khá lâu, trên mười năm, cha lại còn có bí quyết riêng để nhớ được gương mặt của từng giáo dân của mình… vậy thì người đàn ông này chắc phải mới từ đâu đến đây cư trú và lập nghiệp, thế nên cha chịu, không hình dung ra người đàn ông đó. Tuy vậy ngài không gọi ai để hỏi han thêm thì phải.
Xét thấy rằng nếu cha và tôi biết người đàn ông mặt dẹp ấy là ai hẳn sẽ tốt hơn, nên tôi bày ra mưu kế chụp ảnh lưu niệm. Vì biết hầu như lần dự tiệc của tân Kitô hữu nào cũng có mặt người đàn ông mặt dẹp, nên từ đó trở đi, mỗi lần đi dự tiệc, tôi mượn máy ảnh của một giáo dân khá giả trong họ đạo, mua phim, mang máy theo sẵn bên mình, để gọi là chụp ảnh lưu niệm của tôi với các học trò mà tôi dạy giáo lý tân tòng, tôi sẽ chụp được luôn cả người đàn ông mặt dẹp để trình cho hai cha sở xem.
Không lâu sau đó, hai phụ nữ tân Kitô hữu mở tiệc khoán đãi, mọi chuyện xảy ra đúng như tiên liệu. Tôi chụp vài tấm ảnh hai cô Tân tòng vừa chịu Phép rửa, rồi làm bộ mời mọi người có mặt vào hàng ngũ để tôi chụp một tấm ảnh chung. Tôi cố nhớ vị trí người đàn ông mặt dẹp đứng, bấm máy và tin chắc sẽ có ảnh đem về trình hai cha sở.
Dù chưa chụp hết cuốn phim 24 “pô”, nhưng tôi cũng gửi đi rửa bên chợ.
Vào ngày đi đến giáo xứ An Biên gặp cha sở Luca, trước khi đi, tôi chạy vội đến lấy ảnh ở nhà anh học trò, người tôi nhờ đi rửa ảnh giúp. Vì vội vàng nên tôi không kịp xem trước những tấm ảnh vừa được rửa xong. Tôi cỡi xe Honda ù chạy qua An Biên.
Khi gặp cha sở Luca, tôi vui vẻ và hấp tấp móc từ túi xách ra mấy tấm ảnh đưa cha xem.
Cha với tôi cùng xem, nhưng khi cha hỏi tôi người đàn ông mặt dẹp đứng ở đâu trong tấm ảnh, tôi tìm mãi vẫn không thấy.
Cha hỏi tôi nhớ kỹ lại ông ta có vào đứng chung với mọi người để chụp ảnh không, và đứng ở đâu, tôi vừa trả lời vừa dùng ngón tay chỉ:
- Thưa đứng giữa hai người này.
Nói thế nhưng tôi quá sức ngạc nhiên vì không thấy có ông ta, vả lại giữa hai người đàn ông kia lại cũng chẳng có lấy một khoảng cách… chứng tỏ hai người đàn ông kia không nhường chỗ cho người đàn ông mặt dẹp.
Trán tôi đẫm mồ hôi.
Cha sở Luca trấn an để tôi đừng sợ, cha lấy nước cho tôi uống và giúp tôi bình tĩnh lại.
Cha sở im lặng một lúc rồi cũng phải lên tiếng:
- Con cũng đang ở trong tầm ngắm của họ rồi đấy!
Tôi nhìn cha. Cha nói tiếp:
- Nhưng có Chúa chúng ta không có việc gì phải sợ!
Cha kể tiếp tôi nghe chuyện ông Lực Lượng xưng tội để tôi can đảm thêm.
Một hôm Ông ấy vào tòa giải tội với vẻ bực dọc. Vừa quỳ xuống Ông ấy vừa nói:
- Có vẻ như ông không biết sợ Chúng ta là gì đâu phỏng?
Tôi im lặng dò ý, rồi trả lời:
- Là con người, tôi sợ Các Ông lắm chứ! Nhưng vì có Chúa nên chỉ sợ phút chốc rồi thôi!
Ông ta liếc mắt, tia mắt sắc như dao thợ cạo:
- Hừ…
Tôi hỏi:
- Nhưng sao Ông hỏi như vậy?
Ông ấy nói với giọng càu nhàu:
- Đã lôi kéo người ta vào đạo, ông còn bầy trò dâng mình dâng xác cho Đức Mẹ nữa kia!
Tôi thốt lên:
- À thì ra…
Không kịp giữ miệng, tôi nói:
- Vì người Tân tòng nào cũng yếu đuối. Các Ông làm hại người ta đến mức có người đâm đầu chạy trốn (1). Rửa tội xong chúng tôi phải làm thế để củng cố đức tin của họ.
Rít lên trong họng xong, Ông ấy hỏi:
- Có biết rằng cứ mỗi một người trở lại đạo, chịu phép Rửa là Chúng ta một lần thua đau đớn không? Thường Chúng ta còn tấn công họ nhiều lắm một thời gian sau đó. Vì họ như một chiếc áo trắng sạch tinh, dễ để Chúng ta bôi bẩn. Ông cho họ dâng mình cho Đức Mẹ đương nhiên Chúng ta không có thể làm gì được người ấy nữa. Ông tưởng Chúng ta vui được hay sao! Ông đừng làm như thế có được không? Nhiều linh mục có làm thế bao giờ đâu? Ai dạy cho ông làm thế?
Ông Lực lượng hỏi dồn tôi bằng nhiều câu hỏi nữa. Nhưng tôi cứ thinh lặng để cho Ông ấy nói cho hả dạ. Khi Ông ấy ngưng tôi nhẹ nhàng hỏi:
- Tôi đâu cùng một chiến tuyến với Ông mắc gì tôi phải nghe Ông? Tôi cố gắng cho cuộc sống của tôi trên đời luôn hướng mình cho Nước Chúa “trị đến”.
Ông ấy nổi giận:
- Ông có biết Ông chống Chúng ta, ông sẽ “chuốc họa vào thân”như thế nào không?
Tôi cương luôn:
- Còn Các Ông, Các Ông có biết Các Ông dưới quyền Thiên Chúa vì Các Ông cũng do Người dựng nên như Người đã dựng nên chúng tôi không?
Gần như chúng tôi cãi nhau tựa người ta cãi nhau thực sự. Ông Lực lượng còn mắng mỏ tôi và hăm dọa tôi nhiều. Nhưng thầy biết đấy! Đối mặt với hiểm nguy, có khi người ta không còn sợ như khi chờ đợi nó.
Cha sở Luca củng cố lòng tin cho tôi. Tôi cầm lấy xấp ảnh ra về để chờ cha sở Cao Đằng về kể cho cha nghe mọi sự. Tôi học ở cha sở Luca bài học lòng dũng cảm, niềm tin vào Chúa, nên tôi dần quên được sự việc lạ kể trên.
Một hôm tôi đang ngủ trưa, nhà xứ vắng lặng trong sự yên tĩnh của trưa đầu hè. Đang ngủ tôi bỗng giật mình ngồi bật dậy hoảng hốt khi người đàn ông mặt dẹp đứng bên giường tự lúc nào. Tôi hỏi trong sự sợ hãi:
- Cái gì vậy? Ông đến đây làm gì vậy?
Người đàn ông mặt dẹp lúc nào cũng nói với cái giọng thì thào nhẹ như hơi thở:
- Đừng cố gắng chụp ảnh tôi cậu bé ạ! Đừng nghe! Tôi nói rồi! Đừng cố gắng chụp ảnh tôi.
Tôi chưa kịp trả lời thì ông ta ra đi về phía cầu thang rồi đi xuống không nhìn lại. Khi ông ta ra đi rồi, tôi ngồi run bần bật một lúc lâu, đầu choáng váng ngỡ như mình còn ngủ. Phải rất lâu tôi mới tỉnh dậy thực sự.
Nhưng khi tỉnh dậy rồi, tôi không còn phân biệt được lúc nãy là thật hay là mộng, là mơ hay tỉnh. Tôi tự kiểm tra mình xem mới vừa nằm ngủ trong tư thế nào, có gác tay lên ngực không, có bị nắng nóng làm mê sảng không. Tôi ngồi đó đến cả tiếng đồng hồ không biết mỏi. Tôi bỗng chán, muốn gom hết đồ đạc rồi đi về với má. Cha sở Luca gan dạ chứ tôi thì không.
Tôi nghĩ thế. Tôi cảm thấy chán cuộc sống chiến đấu như thế này. Tôi lấy chuỗi ra lần hạt. Tôi cứ ngồi trên giường mà lần đến mười lăm ngắm, cho đến khi nhà bếp gọi đã đến giờ ăn chiều.

Cũng ngay đêm đó, nửa đêm khi tôi đang ngủ, có tiếng khóc rấm rứt bên dưới phía chân giường. Tôi giật mình từ từ tỉnh giấc, ý nghĩ đầu tiên tôi nghĩ ông mặt dẹp lại đến quấy rầy điều gì nữa. Tôi sợ đến toát mồ hôi hột, tôi lặng im nằm lắng tai nghe một lúc. Trong tiếng khóc thỉnh thoảng có những tiếng:
- Hư hư hư…thầy! Hư hư hư thầy ơi!...
Sau một lúc bình tĩnh, tôi nhận ra đó là tiếng khóc của một người con gái. Tôi càng lặng thinh để xem xét người con gái ấy là ai; liên quan gì đến ông mặt dẹp; tại sao vào phòng tôi, lại còn khóc lóc.
Nhưng mãi tôi vẫn không hiểu được ai, tại sao? Tuy vậy tôi hơi bớt sợ vì biết chắc không phải ma với quỷ gì ở đây.
Tôi càng lúc càng bình tĩnh thêm.
Vì tôi có thói quen mở toang hết cửa phòng trong lúc ngủ, chẳng những cửa sổ mở để gió lùa vào, mà cả cửa ra vào tôi cũng mở toang để thông thoáng và mát mẻ. Ánh trăng mờ khiến một nửa phòng sáng mờ mờ cho tôi nhìn thấy bóng ai như cô Hoa. Phải rồi! Cô Hoa mồ côi nấu bếp ngồi thụp dưới chân giường, úp mặt trong đôi tay khóc nỉ non.
Có điều tôi rất thắc mắc không biết tại sao cô ấy lại vào phòng tôi và khóc trong phòng tôi.
Hồi tưởng lại tôi lơ mơ nhớ có lẽ cô Hoa đã vào phòng tôi khóc dễ có đến mấy lần rồi, nhưng vì tôi ngủ mê quá nên mơ mơ màng màng, ngổn ngang giữa thực và mộng. Hôm nay thì khác! Do hơi sợ sệt ông mặt dẹp nên tôi dễ thức, tôi mới phát hiện được cô Hoa khóc dưới chân giường tôi.
Thật là chẳng hiểu nổi!
Khóc thêm một lúc nữa cô Hoa đứng dậy rón rén lui ra ngoài và nhẹ nhàng xuống lối cầu thang và mất tăm.
Chuyện này xem ra kỳ quặc nhưng vì lòng thoáng có chút trắc ẩn cho nên tôi không trình với cha sở Cao Đằng, vì nghĩ: nếu trình, ngài sẽ hạch hỏi rồi lại mắng bà bếp, thế là cô Hoa bị bà bếp mắng dây chuyền, rồi quản thúc cô Hoa cách này cách khác v.v…giống như lần trước.
Tôi tự ý giữ kín vì muốn tôn trọng niềm tâm sự bí ẩn của cô Hoa hơn là tỏ ra cho mọi người biết để cô ấy phải khổ. Tôi cũng quyết định sẽ từ từ tìm mọi cách để hiểu cho ra lẽ, tại sao cô gái mồ côi ngây thơ này làm như vậy.
Từ hôm ấy trở đi, tôi ráng ngủ sao cho thật tỉnh, để xem cô Hoa còn lên khóc như vậy nữa hay không. Tôi đếm được vài lần nữa, lần này cách lần kia khoảng một đến hai tuần.
Tôi đoán ra uẩn khúc bằng quan sát, suy luận và dùng cả linh tính. Nhưng mãi vẫn không đoán biết tại sao có hiện tượng lạ như thế ở cô gái mồ côi nấu bếp.
Tôi cũng không dám nói với cả cha sở Luca, người mà bất cứ chuyện gì tôi cũng muốn bộc bạch, bởi vì cảm thấy tội nghiệp cho cô gái. Vả lại tôi thấy đây đâu phải chuyện ma quỷ, mà là chuyện hoàn toàn con người.
 
 
(1) Thời xưa nghe các “cha già” (linh mục cao tuổi) kể những tân tòng sắp chịu phép Rửa tội, có người còn vùng ra chạy trốn, mọi người phải đuổi theo bắt lại.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.04.2026 02:28:47 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 30.04.2026 02:50:58
Kỳ 22
 
Thời gian gần đây tôi “mệt” với quý cô… gái, tuy được họ thương nhưng tôi không dám dùng từ ngữ “đeo đuổi”, sợ mất đi lòng kính trọng họ mà mẹ tôi thường căn dặn, vì họ là con người, lại đến tuổi thanh xuân, hướng về đàn ông là chuyện rất tự nhiên, hướng về những ông thầy giúp xứ “nai tơ ngơ ngác” càng là chuyện tự nhiên biết bao! Tôi không biết gọi tên gì cho những chuyện như thế xảy ra trong đời một thanh niên đi tu như tôi, thôi tôi gọi là “tình sử” giống như “Tình sử A Nàng”, tên một ca khúc thuở trước năm 1975 ở Sài Gòn… cho có tính mỉa mai. Ba “tình sử” đậm nét nhất đến với tôi lúc này, đó là:
Tình sử một nữ tu trẻ đang phục vụ giáo xứ Cao Đằng. Vì trẻ nhất trong cộng đoàn các nữ tu đang ở đó, nên giáo dân gọi vị nữ tu này là “dì út”. Sơ “dì út” không đẹp nhưng mặn mòi, nhìn vào sơ, người ta có cảm tưởng sơ đang ngùn ngụt sức sống bởi người thì tròn lẳn và cái ức (1) thì vung đầy. Biết sơ yêu tôi nhờ ba dấu hiệu. Một là có một sơ trọng tuổi trong cùng cộng đoàn cảnh báo tôi rằng, trong giấc ngủ “dì út” thường hay mớ (2), đặc biệt gần đây khi mớ thường lớn tiếng gọi tên tôi rồi cười khanh khách. Hai là “dì út” thường nhờ các học trò nhỏ thuộc lớp Một hay lớp Hai gửi cho tôi những mảnh giấy nho nhỏ xinh xinh, trong đó khi thì dặn dò, nhắn gửi, khi thì một câu thơ mùi mẫn và đẹp cỡ như thơ của thi sĩ Xuân Diệu, thi sĩ Nguyễn Bính; khi khác lại chép một câu ca từ diễm lệ trong nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương… thịnh hành lúc bấy giờ; có lắm khi gửi tôi hai trái ổi hoặc hai trái mận, có khi hai cái bánh hay hai viên kẹo v.v… buộc tôi phải hiểu “dì út” rất mực thương yêu và chăm sóc tôi, Ba là “dì út” gặp dịp tiện thì cầm giữ tôi lại để nói chuyện không ngớt với gương mặt ửng hồng rất khác biệt. Sau này tôi mới biết chuyện “dì út” đem lòng thương tôi đã đến tai bề trên dòng ở trung ương, bề trên sai một nữ tu lớn tuổi đích thân đến điều tra, nhưng khi thấy tôi đi đàng thánh giá lúc hai giờ trưa mỗi ngày một mình trong nhà thờ, vị nữ tu ấy đón gặp tôi, giả vờ hỏi han một số chuyện bâng quơ để dò la ý tứ. Nói thật bụng, tôi không tơ hào muốn đáp trả gì với “dì út”, vì lúc đó tôi nghĩ yêu một thiếu nữ đã là tội, yêu một nữ tu tội sẽ tăng gấp đôi.
Tình sử thứ hai do cháu gái ruột của cha sở Cao Đằng tên V. viết nên trong đời tôi. Cô V. không đẹp lắm nhưng khá hào nhoáng và lộng lẫy, nghĩa là nhan sắc gây chú ý với ai thoạt nhìn. Cha sở cho cô cháu gái làm nghề giáo viên tiểu học này ở ngay trong phòng lỡ (3) nhà xứ, để dạy học lớp Năm trường Tiểu học của họ đạo. Lúc đầu cô V. tỏ ra nghiêm nghị có phần lạnh nhạt với tôi; về sau tiến tới gần gũi dần, tiến đến trao đổi vài câu ngắn, dần dà đi đến lân la lên phòng tôi nói chuyện khi cha sở đi vắng, khi nhà bếp đóng cửa ngủ. Sở dĩ tôi biết được cô V. yêu tôi là qua việc cô tâm sự đời mình và nói bóng nói gió xa xôi. Một đêm mưa kia, khi gió lạnh đột nhiên quất mạnh và ùa vào phòng, cô V. nhảy ào vào lòng tôi, vừa ôm lấy tôi miệng vừa kêu lên:
- Em lạnh quá thầy ơi! Em sợ quá thầy ơi!
Tôi không kịp phản ứng và cũng chẳng biết phản ứng ra sao, tiện tay ôm luôn cô ấy trong lòng. Rất lâu mà cô ấy không lui ra. Tuy vậy đó không phải là mối tình của tôi, vì tôi luôn nghĩ đấy là cháu ruột kêu cha sở bằng chú, léng phéng có mà chết… chìm! Sau cái vụ “sẵn tiện ôm luôn” ấy tôi phải trả giá bằng nhiều lần mè nheo rất là phiền phức, nhưng vì tôi không có chủ ý tiến tới, nên tình sử này không có kết cục.
Tình sử thứ ba được viết nên trong đời tôi bởi một cô gái mà gia đình rất quen thân với nhà bếp, cô tên K. rất đẹp, hay lui tới nhà xứ nên mỗi khi gặp tôi, cô đều gửi tôi những ánh mắt vô cùng sắc bén và đầy ngụ ý. Cô cũng nhờ các cô em gái nhỏ của cô gửi cho tôi những món quà đắt tiền như cây bút máy, chiếc radio nhỏ, lọ nước hoa… Vì đây là một cô gái đẹp nhất nhì trong họ đạo (cánh thanh niên hóng chuyện thường râm ran bầu chọn như thế), cho nên tôi chú ý nhiều nhất, có cả đem lòng thương yêu nữa. Bốn năm sau khi tôi đang ở đại chủng viện học cho xong thần học thì một hôm cô K. đến thăm và nói với tôi:
- Ngày mai người ta đến nhà em “cho đồ” (4). Má em hỏi thầy có định cưới em không để má em từ chối đám này và chờ đợi thầy.
Lạy Chúa! Một câu hỏi thẳng thừng thuộc loại “dễ ợt” như vậy làm tôi điên cái đầu chứ đâu phải chơi. May sao được ai mở miệng mà tôi cũng trả lời một câu “dễ ợt” không kém:
- Thầy mắc… đi tu.
Cô K. ra về, sau đó cắt phăng mái tóc thề và có chồng. Gần mười năm sau, khi tình cờ gặp lại tôi, cô nhéo tôi một cái đau điếng miệng nói:
- Ừ! Thầy mà cưới vợ là chết… với em!
Ôi! Nhiều khi nghĩ lại, tôi thấy con người tôi không đàng hoàng chút nào, trợt bên này, trầy bên nọ. Đã vậy, ngoài ra tôi còn có một số huynh trưởng nữ Thiếu Nhi Thánh Thể lúc nào cũng dập dìu trước mặt, họ dám lập ra một “hội” lấy tên tôi mà đặt. Tếu táo hết biết!
Đâu đã hết! Còn có một “băng” gồm toàn những cô gái trẻ bên Hội Con Đức Mẹ luôn giống như là “fan” (5) ủng hộ tôi hết mình.
Nói chung, tôi rất thích địa vị mình lúc đó, nhưng có một điều may duy nhất cứu tôi, đó là tính nhát gan; tính ấy cho tôi không làm gì quá đáng, cũng không ngả bên nào, không tỏ ra mặn mà với cô gái nào, vậy nên lắm lúc thấy mình như làm xiếc đi trên dây, ăn nói nhìn trái ngó phải, đứng đi luôn nhắm trước nhìn sau, nhiều lúc thấy khó kinh khủng! Nhưng “mệt” thì có “mệt”, thích thì vẫn thích vì thấy mình hơi đào hoa. Có biết đâu chính lợi thế đó đã hại tôi sau này một “cú” rất lớn, và di căn đến cả cuộc đời.

Cô gái mồ côi nấu bếp lại lên phòng tôi khóc nữa. Có lúc tôi muốn ngồi dậy hỏi cho ra lẽ, nhưng tôi lại nhát sợ, khi nghĩ rằng hỏi sẽ thêm lôi thôi ra vì tôi đã mơ hồ biết cô gái làm mọi chuyện như thế là do yêu tôi.
Ban ngày, khi tôi xuống bếp ăn cơm lúc vắng cha sở, cô gái dọn ăn cho tôi thường hay trao cho tôi những tia mắt tha thiết, có lúc đắm đuối như muốn thốt thành lời, đôi lúc cô gái tên Hoa này còn đi sát vào người tôi, thậm chí không ít lần cố tình để đôi gò bồng đảo tròn lẳn và căng cứng của cô cọ vào người tôi, khiến tôi nóng ran cả người.
Tất cả những chuyện trên tôi không hề kể cho cha sở An Biên, vì tự thấy mình có thể giải quyết được hay do cảm thấy thích thú không biết! Có ngờ đâu, sau này tôi mới hay, đó là những đòn bẫy, là những mưu ma chước quỷ thâm độc của ông mặt dẹp hay của bè cánh Ông Lực Lượng nói chung. Nghĩ lại, nếu tôi khôn ngoan thì đã kể ra hết cho cha Luca, hẳn ngài sẽ chỉ cách cho tôi đối phó, đàng này tính kiêu ngạo kèm theo sự khoái trá, niềm hãnh diện hão huyền vì thấy đàn bà con gái cuốn theo mình; tính kiêu ngạo và lòng hướng chiều sai trái đó đã làm tôi u mê tăm tối. Thật! Tội lỗi và sự xấu đều theo con đường ấy mà đến chứ chẳng đâu xa khó hiểu!
Thật vậy, nếu tôi trình bày hết cho cha sở Luca, hẳn ngài sẽ chỉ cho tôi rằng, trong khi tôi đề phòng sự tấn công ở phương diện ma quỷ ẩn trong hành tung đáng ghê sợ thì tôi bỏ ngỏ ma quỷ ẩn trong những hình dạng đẹp đẽ, mê ly và hấp dẫn. Mỗi người ma quỷ có cách cám dỗ riêng, cha sở Luca khác với tôi. Tôi chỉ là một chú bé mới lớn háo thắng, mơ mộng, nhẹ dạ… những mưu chước dành cho tôi không thể nào như những mưu chước dành cho cha Luca, một vị chân tu sừng sỏ… được!
Hình như trong thời gian đó, có một lần cha Luca kể tôi nghe tiếp chuyện Ông Lực Lượng xưng tội.
Cha Luca kể:
Ông ta nói với tôi:
- Chúng ta đã rất thành công khi làm cho một nữ tu trọng tuổi phải ra đi khỏi nhà dòng vĩnh viễn.
Tôi hỏi chuyện ấy xảy ra ở đâu thì Ông ta trả lời:
- Ở gần đây thôi! Chúng ta xúi giục một người đàn ông xin vào làm vườn cho một cộng đoàn gồm ba nữ tu. Ba năm sau, không phải nữ tu trẻ nhất trong cộng đoàn, mà chính nữ tu lớn tuổi nhất, đứng đầu cộng đoàn, đã xách gói theo người đàn ông đó, cả hai trốn đến thị trấn CĐ. lập nghiệp.
Tôi hỏi:
- Sao các ông ác quá vậy?
Ông Lực Lượng cười trả lời:
- Đó là việc của Chúng ta, là bản tính của Chúng ta, không ai có thể trách Chúng ta được!
Tôi hỏi:
- Các Ông đã làm cách nào vậy?
Ông ta trả lời ngay:
- Đó là cách của Chúng ta.
Ngưng một vài giây Ông ta nói tiếp:
- Chúng ta thường chỉ làm với những gì con người các ông sẵn có. Đó là lòng tự kiêu. Cũng vì chị trưởng cộng đoàn nghĩ mình không thể nào sa ngã thì lại sa ngã, trong khi đó, hai nữ tu kia vì sợ sệt, vì ý thức mình non kém nên phòng thủ… họ lại tránh được. Tính kiêu ngạo trong mỗi người đều có sẵn. Kẻ làm lớn có nhiều hơn kẻ nhỏ; giáo sĩ, tu sĩ có nhiều hơn giáo dân, nên ngạn ngữ có câu “Càng cao danh vọng càng đầy gian nan”. Giáo sĩ tu sĩ thấy đầy đống đấy, nhưng kẻ nhúng chàm (6), người sa bẫy… rất nhiều. Kẻ đang mới đạp chân xuống vũng bùn, người ngập sâu tới mắc cá chân, kẻ tới đầu gối, người tới thắt lưng hoặc đã chìm sâu không thể nào bước ra khỏi đó được…
Ông Lực Lượng có vẻ tự hào:
- Nhưng bên ngoài mấy ai thấy được điều đó, cứ tưởng tốt tất cả. Vì ai cũng có lòng kiêu ngạo. Người kiêu ngạo nhiều thì sa ngã dễ và nhiều, kẻ kiêu ngạo ít thì sa ngã ít. Chúng ta chỉ lợi dụng vào tính kiêu căng thôi cũng đủ! Đâu cần làm gì nhọc công! Con người các ông dở tệ! Vậy mà lúc nào cũng cứ lên mặt với nhau!
Tôi kêu lên:
- Chúa Giêsu! Cứ theo ông nói thì con người sa ngã rất nhiều?
Ông Lực Lượng đáp:
- Phải! Ai càng kiêu ngạo càng sa ngã mau chóng và thâm lậm thật sâu. Trong bảy mối tội đầu, tội kiêu ngạo đứng hàng đầu. Nó làm ung hoại tất cả dù đã đạt tới mức độ ông thánh bà thánh. Chính Chúng ta đã bị vùi dập cũng bởi kiêu ngạo, nên Chúng ta hiểu hơn ai hết.
Tôi nói:
- Thôi! Tôi biết rồi! Ông nói đúng! Một khi kiêu ngạo đã trở thành trạng thái thì sự sa ngã cũng là trạng thái. Sa ngã trong sự kiêu ngạo và sa ngã trong hàng lô hàng lốc các thứ tội hệ lụy. Ôi ghê gớm thật!
Thật ra lúc đó tôi chưa thông hiểu những gì cha Luca kể lại. Sau này tôi mới rõ thì đã quá muộn.
Có điều khi nghe cha Luca kể, tôi lấy gương vị nữ tu trưởng cộng đoàn sa ngã làm bài học cho mình, nhưng tôi chưa có kế sách gì riêng cho mình mà cứ lần lựa mãi.
Sa ngã trong kiêu ngạo là để mình rơi vào hố kiêu ngạo. Khi rơi vào đó thì không còn thấy gì được nữa, tiếp tục sa vào những thứ tội khác mà không hề hay biết. Sau này tôi mới biết điều này và về sau tôi mới biết người sa ngã trong kiêu ngạo khó biết mình, đó chính là mối hiểm nguy cực lớn. Kiêu ngạo giống như vi trùng trong cơ thể, hay giống như vi-rút trong máy tính… chúng tỏa ra khắp cơ thể khiến mọi bộ phận trong con người đều bị nhiễm.
Chính vì kiêu ngạo nên tôi coi khinh hết những cám dỗ của bản năng, tự cho mình là thanh niên đào hoa, tự cho mình được hai cha sở tin tưởng, được học ở cha Luca nhiều bài học, được hiểu biết hơn người, nhất là tự cho mình là thành phần ưu tú trong xã hội, giữa giáo dân… Chính vì sa ngã trong kiêu ngạo, tôi rơi dần sa ngã trong những nếp nghĩ, từ đó khinh thường cả những gì mình có thể sa ngã. Tôi tuột hết dốc này đến dốc nọ, và sẽ đi đến đâu nếu không có những biến cố trong đời xảy ra kéo tôi lại.
 
 
(1) Ức: ngực.
(2) Mớ là nói thành tiếng trong khi đang ngủ.
(3) Phòng lỡ: một gác xếp nhỏ, lệch tầng.
(4) Cho đồ là từ bình dân gọi đàng trai đến nhà đàng gái hỏi vợ mang theo đồ sính lễ.
(5) Fan: tiếng Anh nghĩa là cái quạt, người ủng hộ, người hâm mộ, người say mê.
(6) Nhúng chàm: nghĩa bóng là phạm tội.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.04.2026 04:56:23 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 01.05.2026 12:17:49
Kỳ 23
 
Hè đến. Cũng là lúc tôi mãn năm thứ nhất giúp xứ. Luật của Đức giám mục giáo phận ra buộc phải giúp xứ hai năm, tôi đã giúp được một năm, còn phải thêm một năm nữa, nên tôi được phép về nhà nghỉ một tháng, đi tập huấn chuyên môn một tháng rồi mới đi giúp xứ năm hai.
Sau thời gian hai tháng hè, trước khi lên đường đi giúp xứ năm thứ hai, tôi đến giáo xứ An Biên chào cha sở Luca. Đã hai tháng không thăm cha, nên tôi nôn nao muốn đến gặp ngài biết bao!
Cha sở kể tôi nghe tiếp chuyện ông Lực Lượng:
Thật ra còn rất nhiều chuyện tôi không sao kể hết để thầy nghe, không có thời gian cho nên tôi chỉ kể những chuyện quan trọng nhất.
Một hôm ông Lực Lượng hỏi tôi:
- Tại sao ở yên không muốn, ông cứ muốn bày trò ra chi cho lắm hả?
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Tôi đã bày trò gì đâu?
Ông Lực Lượng rít qua kẽ răng:
- Hừ, thì ông bày trò lần chuỗi trên loa phóng thanh giúp giáo dân siêng năng lần chuỗi. Làm như vậy có ích gì!
Tôi hiểu ra.
- Đó là một cách để họ đạo tôi được chìm ngập trong chuỗi Môi Khôi.
Sở dĩ ông Lực Lượng càm ràm là vì trong tháng năm và tháng mười hằng năm, cứ lối bắt đầu một giờ, tôi đích thân đọc một ngắm với mười kinh Kính Mừng tiếp theo trên loa phóng thanh vang dội khắp họ đạo. Thế là mỗi ngày họ đạo đọc được mười lăm ngắm, tôi gọi chương trình này là chương trình “Họ đạo lần chuỗi”. Và thế là ông Lực Lượng ngứa tai không chịu nổi, nên mới càm ràm như thế.
Ông Lực Lượng dèm pha:
- Đọc kinh không sốt sắng, đọc kinh không cầm trí, cứ nghêu ngao như thế mà làm gì?
Tôi không chịu:
- Chúa và Đức Mẹ luôn hiểu thấu loài người hằng bị phân tâm. Nhưng các Ngài đâu đòi luôn phải cầm trí, mà đòi tấm lòng.
Ông Lực Lượng bắt bẻ:
- Đọc kinh như thế không có chất lượng thà đừng đọc! Dâng cho ai món quà không có chất lượng, thử hỏi có quý giá gì và có thảo hiếu gì!
Tôi đáp:
- Của cho không bằng cách cho. Lòng trí con người yếu đuối, lần chuỗi ít mấy cũng bị chia trí lo ra, chi bằng tìm ra mọi cách để đọc được nhiều chuỗi dâng kính Đức Mẹ thì vẫn hơn là thụ động vì chỉ một nỗi sợ: sợ lo ra.
Ông Lực Lượng vẫn giọng dèm pha bác bỏ:
- Dù sao như thế vẫn là đọc trên môi miệng mà lòng trí thì xa vời tận đẩu tận đâu.
Tôi quyết bênh vực cho cách làm của mình, vì vốn dĩ mỗi giờ đọc kinh Môi Khôi, khiến cho suốt trong tháng, chính tôi không rời chuỗi tràng hạt, chính tôi còn cảm thấy lòng mình quấn quít bên Mẹ lành, suy ra lòng trí giáo dân họ đạo dù họ có đọc theo hay không đọc theo, lòng họ vẫn được gần gũi Đức Mẹ.
Tôi biện minh:
- Lần chuỗi còn để gần gũi với Đức Mẹ, mà “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, đã vậy lần chuỗi lại còn có một phản ứng ngược, giúp tâm hồn chìm đắm trong tụng niệm, trong tĩnh tại và trong an thái của bầu khí siêu nhiên.
Ông Lực Lượng “hừ” một tiếng rồi xỉa xói:
- Ông duy hình thức thì thôi! Cứ bày ra hết trò này đến trò kia không biết chán. Già rồi nghỉ ngơi cho khỏe, cứ nay hình thức này mai hình thức khác giáo dân không theo kịp ông thì phải!
Tôi đáp lại ngay:
- Thà giáo dân không theo kịp cha sở còn hơn cha sở không theo kịp giáo dân. Vả lại giáo dân ở thôn quê rất cần có hình thức để lôi kéo tinh thần họ. La ngữ có câu “natura supponit supernaturam” tức là cái tự nhiên nâng đỡ cái siêu nhiên mà!
Thấy tôi đối đáp hăng quá ông Lực Lượng nổi giận:
- Ông là một ông linh mục già cứng đầu. Ông không chịu nổi những quấy nhiễu của Chúng ta đâu một khi Chúng ta đã ra tay.
Tôi cương nghị:
- Tôi không thách thức với Các Ông, nhưng tôi cũng cảnh báo với Các Ông – tôi chỉ tay về bức tượng Đức Mẹ đạp đầu con rắn dưới chân đang được chưng trên bàn thờ nhỏ của hội Lê-giô nằm gần đó – Các Ông không thắng nổi Đức Mẹ đâu!
Ông Lực Lượng ra đi với thái độ cực kỳ bực dọc.
Lại một bài học nữa cho tôi về việc siêng năng lần chuỗi do cha Luca dạy. Từ hôm đó, tôi coi trọng việc lần chuỗi mà trước đây có lúc tôi cũng nghĩ đọc nhiều mà lo ra chia trí có ích chi.
Sau một tháng vừa học khóa tập huấn vừa nghỉ ngơi, tôi lên đường đến họ đạo mà Đức Giám mục bổ tôi đến. Đây là một họ đạo lớn, cổ kính, nằm ngay trong một thành phố nơi đặt trụ sở của một tỉnh. Tôi đến trình diện cha sở Chân Phúc.
Tôi ở đó mới hơn một tuần, Đức Giám mục sai thêm một đại chủng sinh tu muộn (1) nữa đến để đi họ lẻ (2). Tôi phán đoán thầy ấy nên và cần ở lại giáo xứ hơn, tôi nhường chỗ và xin cha sở cho tôi đi giúp ở giáo họ. Cha sở đồng ý, ngài cử tôi đi giáo họ Thánh Tâm, một vùng đất thuộc địa đầu luôn xảy ra chiến sự. Chưa kịp lên đường, vài ngày sau ban Quý Chức của giáo họ Thánh Tâm cử đại diện đến gặp cha sở thưa rằng tình hình giáo họ nằm trong vùng bị pháo kích liên miên, không thể đón thầy giúp xứ về được. Cha sở quyết định tôi nên đi giáo họ Long Thạnh nằm ở biên giới Việt –Campuchia.
Ba hôm sau tôi lên đường đi đến giáo họ Long Thạnh.
Thời này giáo sĩ, tu sĩ nam nữ đi ra đường đều buộc phải mặc tu phục, cho nên tôi cũng mặc áo dòng đen, mặc cho người người nhìn ngó, tay xách cặp trong có chứa một cái áo dòng để thay đổi với cái áo đang mặc, một bộ đồ mặc ngủ, một bộ đồ lót… vài trăm đồng để đi xe. Chỉ có thế, nghe theo cha sở chỉ, tôi đi lên mép sông phía Bắc thành phố mua vé qua đò. Lên bến tìm xe hỏi đường về Long Thạnh.
Chờ đợi thật lâu! Có đến bốn tiếng đồng hồ chuyến xe độc nhất về Long Thạnh mới khởi hành. Xe chật cứng người là người, phần lớn là phụ nữ mua gánh bán bưng, buôn chuyến hay lao động tay chân lam lũ. Mùi cá, khô, hàng hóa và mùi mồ hôi cộng thêm cái không khí oi bức buổi trưa hè, cộng thêm tiếng ồn và sự chen lấn khiến tôi muốn quay về ngay lập tức.
Quá mười hai giờ xe chuyển bánh. Nhìn thấy hình dáng chiếc xe ai cũng dễ dàng đoán biết tốc độ của nó, nó cổ lỗ sĩ như xe bị phế thải trong các ga-ra, biết bao nhiêu lần xe dừng, anh lơ xe (3) nhảy xuống giúp đỡ người xuống xe hay rước thêm người lên xe xong, dù xe đã chạy một quãng xa, anh đuổi theo xe còn kịp để nhảy lên xe đi tiếp.
Xe đi vào nhiều làng mạc người Chăm với nhiều thánh đường Hồi giáo. Nhìn khung cảnh cây cối bên đường rậm rạp, làng mạc trầm khuất, cộng thêm những dãy nhà sàn cao kều, cánh đàn ông quấn xà-rông (4) đầu đội polo đen (5), phụ nữ cũng quấn xà-rông, tôi thấy mình như lạc vào một xứ sở khác hoàn toàn.
Đường quá xấu, cuối cùng cũng đến nơi vào lúc 17g hơn.
Tôi tìm đến nhà bảo sanh như cha sở đã dặn, nằm trong một con phố nhỏ của thị trấn mang tên chợ Đầu Hổ nằm sát con sông biên giới.
Mở cửa mời tôi vào là cô mụ (6) tự giới thiệu là mụ Bảy, giống như cha sở Chân Phúc đã giới thiệu.
Cô mụ Bảy vóc dáng đẫy đà, trắng trẻo trạc bốn mươi tuổi, vui vẻ chỉ tôi lên căn gác của nhà bảo sanh nhỏ hẹp để lưu trú tại đó trong năm giúp xứ thứ hai này.
Tôi chưa kịp thay bộ đồ ngủ thì tiếng đạn tru tréo trên bầu trời nghe thật ghê rợn. Đây đó có tiếng người la rân:
- Xuống trãng-xê (7) lẹ lên! Mau xuống công sự (7)! Mọi người vào chỗ núp!...
Tôi mau mắn chạy xuống khỏi căn gác trần thấp lè tè nếu phải đứng lên giường thì đầu đụng trần. Xuống đến nơi tôi vừa chạy ùa vào trãng-xê, nhưng nhìn thấy toàn phụ nữ: các bà bầu, các bà vừa sinh con xong, các bà các cô nuôi sản phụ đầy nhóc cả một hầm trú ẩn, tôi tự thấy không nên chen lấn với họ, nên tôi trở ra nấp vào dưới gầm cầu thang gỗ chịu trận.
Tiếng pháo kích thưa dần rồi im lặng kiểu hù dọa. Đã đủ nửa giờ, mọi người cảm thấy cần phải rời khỏi chỗ nấp nên lục tục kéo nhau ra.
Cô mụ Bảy đon đả hỏi tôi ở đâu vào lúc pháo kích. Tôi đáp:
- Phải ở dưới gầm cầu thang thôi! Vì tôi được chào đón cẩn thận như vậy đó cô Bảy ơi!
Tôi hỏi:
- Còn cô nấp ở đâu?
- Ở dưới chiếc bàn sắt.
Nhưng trả lời xong cô đanh mặt lại:
- Tình hình như thế này mà cha sở gửi thầy lên đây làm gì không biết nữa! Lỡ thầy có bề gì chắc tôi bị cạo đầu quá!
- Thường bao lâu mới xảy ra một vụ pháo kích?
- Không thể đoán trước được, nhưng đã có một đêm nọ, pháo kích đến ba lần.
Tôi lo lắng hỏi:
- Có khi nào người trong họ đạo bị thương hay tử nạn không?
Cô mụ Bảy nhìn tôi lo lắng càng thêm:
- Có chứ! Tháng trước họ đạo mất đến hai người.
- Do đâu mà bị trúng đạn?
- Do không nấp vào công sự.
Tôi thấy bớt lo. Nhìn lại cầu thang, tôi ước lượng nếu quả đạn rơi nhầm chỗ này thì chiếc cầu thang có thể che chở cho tôi chút ít.
Tôi không nói gì với cô mụ Bảy, nhưng lòng thầm nghĩ cứ phó hết cho Chúa, Chúa sẽ lo.
 
 
(1) Tu muộn: Xưa, ai “tu ngang hông” không qua tiểu chủng viện gọi là tu muộn.
(2) Họ lẻ: giáo họ
(3) Lơ xe: là phụ xế hiện nay
(4) Xà rông: khăn choàng quấn từ thắt lưng đổ xuống thay cho quần.
(5) Polo: nón Indonesia bằng nhung đen.
(6) Mụ: là tên gọi những người phụ nữ chuyên đỡ đẻ ở thôn quê miền Nam.
(7) Trẵng xê: tiếng Pháp là transée: hầm trú ẩn.

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 01.05.2026 12:30:37
Kỳ 24
 
Mỗi tháng tôi phải quay về tòa giám mục tĩnh tâm một ngày từ chiều hôm trước đến sau điểm tâm ngày hôm sau.
Nói là tĩnh tâm, kỳ thực chỉ để anh em gặp lại nhau, nghe đức giám mục huấn đức một giờ, ăn một bữa tối ngon lành và đùa giỡn với nhau sau giờ cơm tối, tâm sự với nhau đến tận khuya cho vơi bớt căng thẳng nếu có khi giúp xứ. Sáng ra điểm tâm xong lại trở về giáo xứ. Vì tôi ở xa nhất trong số anh em, nên đức giám mục thường cho nhiều tiền để đi xe, mỗi anh em lãnh hai trăm đồng thì tôi những hai ngàn đồng.
Sau khi chia tay với anh em, tôi về giáo xứ An Biên thăm cha Luca một lát, có khi ở hết một buổi mới quay về giáo xứ Long Thạnh.
Về lần này tôi kể lại nơi tôi giúp xứ cho cha sở An Biên nghe, cha hết chậc chậc lưỡi chua xót đến xuýt xoa thương cảm cho tôi tình nguyện đi về một nơi cùng cực, có đêm phải chui nhủi dưới gầm cầu thang gỗ trốn đạn pháo kích đến hai, ba lần, ăn uống thì qua quít đạm bạc, ở thì trong một căn gác tồi tàn… nhất là làm việc trong điều kiện và hoàn cảnh quá thiếu thốn.
Cha khuyến khích tôi bằng cách kể chuyện tiếp theo.
Một hôm vào xưng tội, ông Lực Lượng nói như trách móc tôi:
- Việc gì mà một ông cha sở của họ đạo lớn như ông phải ăn uống kham khổ quá thể! Ông không thấy hai cha phó của ông bên phòng ăn cạnh đó ăn uống thế nào à? Họ ăn thịt thà thoải mái suốt tuần, họ uống bia rượu lênh láng, họ ăn trái cây đắt tiền, họ dùng những đồ hộp nước ngoài xả láng… Sao ông không làm thế mà chỉ ăn toàn cơm rau cháo muối rẻ mạt… Tiền có thì xài, có xài của ai đâu mà sợ!
Tôi trả lời:
- Cái ăn cái uống chẳng có ý nghĩa gì nếu người ta còn có cái khác lớn lao và quan trọng hơn. Ăn qua loa hay tiệc tùng đình đám tất cả rồi cũng xong, không làm tăng thêm hay giảm đi giá trị cho người ta. Đâu biết rằng ăn sang cũng “chết thối” như người ăn nghèo.
Ông Lực Luợng tỏ vẻ bực mình:
- Phải biết hưởng thụ cuộc sống để biết rằng cuộc sống tươi đẹp! Mọi người mà gàn dở hết như ông thì thử hỏi cuộc đời này còn có nghĩa lý gì nữa! Hưởng thụ trọn vẹn cuộc sống còn là để ca ngợi Ông Chúa của ông nữa ông có biết không!
Tôi phản bác ngay:
- Nhưng hưởng thụ sẽ lôi kéo người ta đi xuống ngang bằng với vật chất. Bản tính con người chúng tôi là bất cập và thái quá. Cần đề phòng trước sẽ tốt hơn.
Ông Lực Lượng dẫn chứng:
- Đồng ý của cải dễ lôi kéo người ta đi xuống, nhưng đó là đối với những ai non kém. Với ông thì không thể như thế. Vậy thì phải bắt vật chất phục vụ cho tinh thần. Đó mới là việc làm của những người tâm cao đức trọng. Ông còn nhớ dụ ngôn tên quản lý bất lương, dùng của cải để mưu lợi cho cuộc sống của mình sau này... không?
Tôi không dễ bị mắc mưu ông Lực Lượng:
- Tôi không phải là người tâm cao đức trọng, tôi chỉ là một ông già nhà quê lẩn thẩn. Tôi thấy đường nào chắc ăn nhất để vào thiên đàng là tôi chọn đường ấy mà đi. Không dại gì đi đánh đố bằng cả cuộc đời của mình.
Ông Lực Lượng bực mình ra mặt, có vẻ mất bình tĩnh:
- Ông là một ông cha già gàn dở! Nói với ông chỉ tổ mệt mà thôi! Các linh mục khác ăn uống sang trọng đã có sao đâu! Tôi biết có những linh mục chè chén say sưa nhưng tới giờ vẫn dâng thánh lễ. “Thợ đáng ăn lương của mình”. Họ có ăn của ai đâu mà nói họ! Họ ăn để có sức phục vụ, như thế chẳng hơn ông ho sù sụ, đau nhức gần như hết mọi khớp xương, không có thêm chất bổ khiến ông nhức đầu, cao máu, loét dạ dày và bệnh táo bón sinh ra trĩ nội trĩ ngoại um sùm… ông quản lý thân xác do Ông Chúa ban kiểu gì thế? Đó không phải là một thứ bất cập hay thái quá sao? Đó không phải là một thứ trách nhiệm phải trả lẽ trước mặt Ông Chúa của ông sao?
Tôi hỏi:
- Ô lạ quá! Sao hôm nay ông thuyết phục tôi về những lẽ đạo đức! Ông làm sao vậy?
- Chúng ta biết hết mọi lẽ đạo đức nhưng Chúng ta không làm. Loài người không thể sáng suốt hơn Chúng ta về tu đức đâu!
Tôi vặn vẹo:
- Và ông muốn cho tôi nên đạo đức hơn phải không nào?
- Phải! Nhưng đạo đức phải phù hợp với thực tế.
Cha sở Luca chấm dứt câu chuyện bằng cách khuyên tôi:
- Thầy biết đó! Thầy can đảm chấp nhận đi giúp một họ đạo vừa ở xa, vừa nguy hiểm đến tánh mạng vì đạn pháo kích, vì chiến sự nóng bỏng xảy ra hằng ngày… là một điều tốt lắm! Cố gắng lên! Chỉ trong gian khổ và kiêng khem, người ta mới có cuộc sống thú vị và giá trị. Đừng tưởng! Giàu sang, chức quyền, an ổn chính lại là một thứ thử thách còn đáng ngại hơn!
Tôi mừng rỡ nắm chặt tư tưởng ấy qua câu chuyện, qua lời khuyên của cha sở và trở về giáo xứ.
Tôi vận dụng sức trẻ của mình để dùng tư tưởng ấy mà vượt qua những khó khăn.
Khó khăn đầu tiên là phải ở trên một gác trọ nhỏ hẹp và nóng bức. Mái tôn sắt ban trưa phả hơi nóng hừng hực khiến tôi không thể ngủ trưa được. Hơi nóng kéo dài trên gác đến buổi tối mới dịu dần. Nhưng khi hơi nóng dịu đi vào khoảng chín giờ tối thì tôi lại phải chịu đựng tiếng ồn ào huyên náo trong khu phố lao động này, người lớn nói chuyện rân trời, gọi nhau í ới, trẻ em nô đùa la hét inh ỏi. Cứ như vậy cho đến hơn kém mười một giờ khuya người dân trong phố mới chịu tản ra đi vào nhà. Nhưng rồi khi tiếng ồn này tan thì gác trọ kề bên lại ầm ĩ nhậu nhẹt và đùa giỡn giữa bọn đàn ông thuê phòng và gái điếm, họ sinh hoạt huyên náo bất chấp có ai chịu nổi hay không…
Trên gác là thế, dưới nhà bảo sanh thì giấc khuya chính là giờ các cháu bé ưa chọn để chào đời. Tiếng người vừa đập vách vừa gọi cửa, tiếng rên la chen lẫn tiếng cười đùa, tiếng cháu bé khóc cùng với tiếng dụng cụ khua động… Đến hai giờ khuya khi căn gác trọ kề bên bắt đầu đi ngủ, nhà bảo sanh bắt đầu vắng dịu đi một chút thì lúc ấy lại là giờ mổ heo của lò heo đằng sau nhà bên cạnh. Tiếng heo la, tiếng dao thớt, tiếng cười chọc, tiếng chửi bới của những người thợ mổ heo vang rền một góc phố… Cứ như thế cho đến năm giờ sáng là giờ tôi phải chỗi dậy để lội bộ đến nhà thờ cách đó gần năm trăm mét để đánh chuông hồi một. Tôi phải chịu cảnh ban đêm như thế không thể nào chợp mắt suốt hai tuần đầu, về sau quen dần đi và tôi luôn ngủ giữa mọi thứ tiếng động của thế giới chợ búa tỉnh lẻ lúc về đêm, những thói quen bất tận của khu phố sầm uất náo nhiệt toàn dân lao động. Sau hai tuần có lẽ tôi ngủ được vì mệt quá, nhưng về sau tôi ngủ được vì cơ thể đã thích nghi với khung cảnh ồn ào của xóm lao động.
Đó là nỗi khó khăn đầu tiên khi mới về đây tôi phải đón chịu
...
Theo sự chỉ dẫn của các ông Câu, ông Biện, ông Giáp, tôi còn có trách nhiệm với một ngôi nhà thờ bên kia sông biên giới dành cho những người Việt chạy trốn nạn cáp-duồng (1) năm 1969 đổ về biên giới Việt Miên nhưng chưa chịu về hẳn ở Việt Nam.
Nói là nhà thờ, nhưng đó chỉ là một ngôi nhà lá to xập xệ, bên trong chỉ có bàn thờ và cây thánh giá. Không có bàn ghế nên giáo dân chỉ trải chiếu trên nền đất để ngồi đọc kinh. Cứ mỗi năm giờ sáng tôi phải thức dậy đến nhà thờ Long Thạnh kéo chuông, sau đó ra bến đò, sang sông đến nhà thờ lá cũng đánh kẻng (2) gọi mọi người tới, tôi tổ chức đọc kinh, đọc bài Phúc âm trong sách lễ hàng ngày, giải thích Lời Chúa cho họ rồi trở về nhà thờ Long Thạnh đánh hồi chuông thứ hai, cũng lại tổ chức đọc kinh giống như ở nhà thờ bên kia sông.
Vùng này là vùng nóng bỏng chiến sự hạng nhất, thường hay có lệnh giới nghiêm vào ban đêm của chính quyền sở tại. Những khi có lệnh giới nghiêm, không ai dám đi ra đường là thế, nhưng tôi bao giờ cũng được miễn chuẩn. Buổi sáng nào tôi cũng đi ra bến đò, lính tráng đóng chốt ở khắp nơi quen mặt, cứ thấy bóng áo dòng đen tôi đi tới, họ đều tháo công sự ra cho tôi đi qua, thậm chí ra đến bến đò, những anh lính trẻ vui tính còn gọi lái đò giúp tôi nữa..
Đó là nỗi khó khăn thứ hai tôi về đây phải thực hiện.
...
Vì mỗi sáng mỗi chiều tôi phải tập họp giáo dân lại suy tôn Lời Chúa, nên tôi buộc phải giải thích Phúc âm. Lúc đầu tôi cảm thấy khó khăn, nhưng với quyết tâm coi đây như là chuyện tập giảng cho tương lai sau này, nên tôi say sưa giảng sáng, giảng chiều cho giáo dân, làm thế vừa để cầu mong họ ham tới nhà thờ đọc kinh chung, để nghe giảng dạy và để hát thánh ca.
Đây không hẳn là nỗi khó khăn, mà là sự lợi dụng thời cơ để tự rèn luyện.
...
Sau giờ kinh sáng, tôi được Ban Quý chức cho điểm tâm tại nhà thờ.
Đến tám giờ, tôi dạy học. Lớp học tôi dạy là một phòng học mái lá vách lá, rộng bốn mét dài sáu mét, trong đó tôi dạy từ lớp năm xuống đến lớp mẫu giáo, mỗi lớp vài chục em trong họ đạo, thỉnh thoảng có con em người lương trong vùng cũng đến xin học. Phải nói giáo viên dạy mẫu giáo là tôi, giáo viên dạy tiểu học cũng là tôi, trường cũng là tôi, văn phòng cũng là tôi mà hiệu trưởng cũng là tôi nốt… Thời này Công giáo được phép mở trường tư thục tại các giáo xứ, cho nên tôi được lệnh cha sở mở trường dạy cho con em trong họ đạo. Trường tôi dễ chừng còn đông học sinh hơn cả trường Nhà Nước lúc bấy giờ, những hơn một trăm học sinh thuộc các lớp cộng lại, nhưng tất cả đều học miễn phí. Còn cầu mong các em đến trường chứ... ở đó mà mong thu học phí! Tôi phải về ghé nhà mỗi tháng xin mẹ tôi thêm ít tiền để mua khi thì tập sách, khi thì bút mực, khi thì xin bà con quần áo cũ để các em có quần áo mặc đi học. Thỉnh thoảng có một ủy ban quốc tế gì đó ghé ngang thăm viếng trong lúc tôi đang dạy học, họ trố mắt ngạc nhiên khi thấy có vài em trai ở trần trùng trục ngồi học tỉnh bơ.
Đây là nỗi khó khăn, nhưng những tu sĩ trẻ như tôi được chủng viện huấn luyện về tinh thần truyền giáo, nên tự coi đó là trách nhiệm khi phải về chịu trách nhiệm một giáo xứ nghèo tinh thần lẫn vật chất, từ đó dấn thân không kêu ca.
...
Trưa tôi về nhà bảo sanh ăn cơm, không nghỉ trưa được vì căn gác trọ nóng quá, tôi ngồi vật dựa đâu đó rồi đến nhà thờ để dành nguyên buổi chiều chuyên dạy giáo lý cho các lớp rước lễ vỡ lòng lúc hai giờ, lớp thêm sức vào lúc ba giờ và lớp tân tòng vào lúc bốn giờ. Sau đó đánh chuông mời mọi người đến nhà thờ đọc kinh chiều.
Ăn chiều xong tôi lại đến nhà thờ để tập hát cho một ban hát (3) gồm vài chục thanh niên thiếu nữ. Tập hát xong loay hoay cũng gần chín giờ, tôi mới về gác trọ ở nhà bảo sanh.
Đây không hẳn là nỗi khó khăn, nhưng tôi cũng như anh em đồng liêu, thấy việc là làm và sáng tạo ra việc mà làm.
Thời khóa biểu của tôi trong sáu ngày của một tuần là thế. Riêng ngày chúa nhật thì giờ kinh sáng, chiều của hai bên nhà thờ kéo dài ra hơn, người ta đi đông thay cho đi lễ chúa nhật, nên tôi mệt hơn. Tôi cũng dùng ngày chúa nhật để họp các ông Câu, các ông Biện, các ông Giáp lại để tạo cho họ có một nếp sinh hoạt riêng, tạo cho họ sự đoàn kết và cùng với họ tổ chức lại họ đạo về cơ sở tinh thần lẫn cơ sở vật chất.
Đó mới chỉ là vài khổ cực ban đầu tạm kể.
Thực ra với lời khuyên của cha Luca: “Chỉ trong gian khổ và kiêng khem, người ta mới có cuộc sống thú vị và giá trị… Đừng tưởng! Giàu sang, chức quyền, an ổn chính lại là một thứ thử thách còn đáng ngại hơn!”... kèm theo sức trẻ, những khổ cực ấy được tôi chịu đựng cách vui vẻ và vô tư, được tôi vượt qua cách khá dễ dàng dần dần biến thành niềm đam mê lúc nào không biết.
 
 
(1) Cáp duồng: là chặt đầu người rồi thả trôi sông vào năm 1969, do người Campuchia nổi dậy phản kháng người Việt ở trên lãnh thổ của họ..
(2) Kẻng: là một mâm của bánh xe hơi cũ bằng sắt được treo lên rồi dùng thanh sắt gõ, tiếng kêu khá trong và vang khá xa.
(3) Ban hát: thời này chưa có danh từ ca đoàn.

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 02.05.2026 01:51:50
Kỳ 25
 
Về thăm cha sở Luca ở An Biên lần này, cha giữ tôi ngủ lại một đêm để kể thêm chuyện.
Có lẽ cha định kể cho tôi chuyện gì đó về ông Lực Lượng, nhưng khi nghe tôi tả về nơi tôi đang giúp xứ là một vùng đất đầy sự mê tín lẫn lộn với lối sống thực dụng, có nghĩa là người ta tin vào thế giới “tâm linh” qua bùa ngải hòa trộn với lối chụp giựt để tranh sống, quả xứ Thạnh Lộc này còn có tên là chợ Đầu Hổ thật xứng danh; tương truyền sở dĩ Thạnh Lộc còn có tên chợ Đầu Hổ là do thị trấn này lấy tên tướng cướp Đầu Hổ để đặt cho cứ địa của hắn - lâu ngày biến thành chợ - nơi hắn quay về trú ẩn sau mỗi lần sang Miên (1) cướp bóc. Tướng cướp Đầu Hổ đã chết từ lâu, để lại ngôi chợ và một vùng lãnh địa cực kỳ hỗn độn về mọi mặt, tôi xin kể sau, còn bây giờ, tôi để tâm nghe cha sở Luca kể chuyện. Cha nói:
Thầy đừng nghĩ bùa ngải là sự bịa đặt. Không! Đó là thể hiện bàn tay của ma quỷ cách cụ thể nhất.
Một hôm ông Lực Lượng vào xưng tội, khi thấy tôi nói về con người sau khi chết, ông ấy bảo:
- Loài người sau khi chết, có một số lượng rất đông làm âm binh (3) cho Chúng ta. Đó là những hạng người chết oan, tự tử, bị xử tử hình, thậm chí cả những người đang sống nhưng tin vào quyền lực Chúng ta hơn tin vào quyền lực của Ông Chúa, sợ quyền lực của Chúng ta hơn sợ quyền uy của Chúa, nhất là những người đang sống nhưng ngả theo Chúng ta… họ chịu sự sai khiến của Chúng ta.
Nói đến đây ông Lực Lượng khoát tay một cái.
Lạy Chúa! Tôi bỗng rợn cả người khi thấy trước mặt và chung quanh tôi lố nhố người là người, nhưng tất thảy tôi đều không rõ nhân dạng, mặt mày, chỉ thấy hình nhân, kèm theo là tiếng xôn xao cực kỳ khó chịu dù không rõ là tiếng nói chuyện hay tiếng cãi cọ, chỉ là tiếng ồn ào xạo xự thế nào ấy.
Thấy tôi toát đẫm mồ hôi vì sợ hãi, ông Lực Lượng khẽ phất tay, mọi sự trở lại im lặng như cũ. Ông ta nói liền:
- Đó là đám cộng sự đắc lực cho Chúng ta, sai đâu làm đấy, sai gì làm nấy. Cứ mỗi lần có một người hấp hối, tùy theo Chúng ta muốn, bọn này sẽ tới vây chung quanh nhiều hay ít và để làm gì ư? Để lôi kéo người đó về phe với Chúng ta sau khi họ chết.
Tôi hỏi:
- Còn nếu chúng tôi vây quanh cầu nguyện cho người hấp hối để gọi là “giữ linh hồn”?
Ông Lực Lượng liền đáp ngay:
- Chúng ta rất ghét cái trò đó! Thường thì gặp những trường hợp đó Chúng ta mười mươi chịu thất bại, vì lẽ người hấp hối chỉ cần một thoáng ăn năn sám hối, Ông Chúa tha thứ ngay. Thế là Chúng ta mất toi. Sự nhân từ độ lượng quá lớn của Ông Chúa là vũ khí cực mạnh chống lại Chúng ta và để lôi kéo nhiều người rời khỏi tay Chúng ta.
Tôi hỏi:
- Như vậy người hấp hối chỉ cần một thoáng giục lòng trở về với Chúa là thoát khỏi tay Các Ông ngay ạ?
- Đúng như vậy! Nhưng đừng vội mừng! Số người hấp hối bị mê man vì mù quáng, vì cố chấp, vì quen tật, hoặc có khi vì bệnh nặng đến không còn khả năng nhận thức v.v… không phải là ít! Cần phải dọn lòng từ trước. Khổ nỗi lúc khỏe mạnh ít ai nghĩ đến cái chết!
Tôi hỏi:
- Các ông còn sử dụng đám âm binh vào việc gì nữa?
Ông Lực Lượng đáp:
- Chúng ta còn sử dụng vào nhiều việc khác, nhất là việc làm lung lạc đức tin của con người vào Ông Chúa cụ thể qua việc chơi với bùa ngải, bói toán, lên đồng, pháp thuật, cám dỗ, xúi bẩy, tạo điều kiện…
Tôi tò mò hỏi:
- Ông vừa nói cả những người còn đang sống vẫn có thể là âm binh cho Các ông. Vậy đó là những hạng người nào?
- Đó là những thầy bùa, thầy ngải, thầy pháp, đồng bóng, những người thâm nham hiểm độc, những người tin Chúng ta, theo Chúng ta, sợ Chúng ta hơn là nhớ tới Ông Chúa, hoặc những người nửa tin theo Ông Chúa nửa tin theo Chúng ta. Nói tóm, những ai ngả theo Chúng ta qua sử dụng bùa ngải, phép thuật, giao du với giới phù thủy, thầy bùa, bói toán, bốc phệ… Vì ai tin cậy Chúng ta thì tất nhiên Chúng ta đến với người đó, chứ sao nữa!
Tôi hỏi:
- Âm binh thường trú ngụ ở đâu nhất?
Ông Lực Lượng đáp không ngần ngại:
- Ở nơi các thầy bùa, thầy ngải, thầy pháp, thầy cúng, đồng cốt, hoặc những nơi cúng bái, những chùa chiền không chịu chuyên tu, nơi các miếu mộ cô hồn, nơi cúng kiếng nhập nhằng, nơi những người bệnh nặng hấp hối, nơi những người tin và cầu vọng vào Chúng ta… chứ không phải ở nghĩa địa, ở nhà xác, ở bãi tha ma, nơi hoang vắng như loài người các ông vẫn tưởng.
Cha sở còn nói nhiều về cuộc đối thoại này, nhưng tôi thấy đã đủ sợ, nên sau câu chuyện, tôi suy nghĩ miên man về vùng đất tôi đang ở, hiện đầy dẫy thầy bùa, thầy ngải, thầy pháp, thầy cúng, ông đồng bà bóng, những người luyện âm binh từ Campuchia xuống, những thuật sĩ Lỗ ban kỳ nhân dị sĩ... Tôi kể cho cha sở nghe những chuyện tôi vừa chứng kiến trong mới có hơn vài tháng ở giáo họ Thạnh Lộc. Tôi kể cha sở nghe cảm tưởng của tôi, thấy hình như vùng đất này tuy nằm ở bìa đất nước, nhưng địa thế rất tốt để trở thành nơi tụ hội mọi thứ chuyện trên đời. Đây tôi xin điểm qua.
Trước hết nói về chủng tộc, ở đây có nhiều chủng người: người Kinh chiếm đa số, người Hoa Lan -là chủng người Hoa lai Miên- cũng khá nhiều, người Miên, người Chàm kha khá, người Hoa thiểu số nhưng rất mạnh, người Ấn thuần chủng và người Ấn lai chuyên buôn bán vải vóc lụa là.
Kế tiếp, nói đến đời sống kinh tế ở đây có người cực giàu cũng có người cùng khổ không đủ cơm ăn áo mặc.
Nói đến nghề nghiệp người ta làm đủ mọi nghề, có những nghề lương thiện lẫn những nghề quá sức bất lương, không thiếu những tay du thủ du thực, hành khất lẫn trộm đạo.
Nói đến thành phần thôi thì đủ mặt: dân chúng, các cấp chính quyền đông đến độ làm thành một giới, binh lính, thanh niên trốn quân dịch, người buôn lậu, kẻ tu hành, đạo sĩ lẫn người ăn cướp, thầy giáo hay những công an chìm, và những người sống hai ba mặt, dân vượt ngục, đào binh… có đủ, gái điếm và cư sĩ sống sát vách nhau.
Nếu kể đến tình hình an ninh trật tự thì chỉ cần kể ra vụ này, có một tiểu đoàn lính địa phương quân do một tay thiếu tá hung hãn khét tiếng biệt danh là “ông Dẻo” làm tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn này ít lâu lại kéo qua Campuchia cướp, phá, hãm hiếp và tàn sát thường dân Campuchia để sau đó khi họ trở về, cả vùng Thạnh Lộc tức chợ Đầu Hổ phải lãnh chịu những trận pháo kích trả đũa kinh hoàng.
Nói đến đời sống tôn giáo, nơi đây có lẽ là nơi có nhiều loại tôn giáo nhất: Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Khổng giáo, Lão giáo, đạo Ông Bà, Bà La môn, Bà Hai giáo, Ấn giáo, Hồi giáo v.v…
Vùng đất này ví như như một nồi “tả-pín-lù” về mọi phương diện, cho nên tôi tin chắc thế giới tâm linh cũng vô cùng phức tạp, tôi kể và nêu nhận xét này cho cha sở nghe, ngài gật đầu đồng ý.
Tôi còn kể cha nghe:
  - Một hôm vào buổi sáng chúa nhật, con đang cho các em lớp giáo lý trẻ em sinh hoạt thiếu nhi, có một cô gái người Hoa Lan đứng ngoài hàng rào nhà thờ gọi một em thiếu nhi ra, nói gì đó và nhờ em đó mang vào cho con một ly nước đá giải khát đặt trên bàn trong lớp học. Em bé ấy ra vòng tay “Thưa thầy, có chị kia biếu thầy một ly sôđa hột gà để thầy giải khát ạ”. Con nhìn ra thấy cô gái cúi đầu chào. Sau giờ sinh hoạt khô khốc cả cổ họng, con định quay vào lớp uống ly nước, nhưng không được vì ly nước bị bể làm đôi từ trên xuống, nước trong ly đổ hết ra bàn. Con nghĩ có lẽ ly nước bị một con mèo nhà ai làm đổ và vỡ đôi. Con không còn nhớ tới ly nước ấy nữa vì coi như chuyện ngẫu nhiên. Sau đó không lâu, một cô gái Hoa Lan đến thú thật với con rằng, do cô đã yêu thầm trộm nhớ con, nên chính cô là tác giả của ly nước trong đó chứa bùa yêu dùng để bắt con đến với cô ta. Những tưởng sau khi uống xong, con sẽ đi tìm cô ta. Nhưng con đã không bị “trúng bùa”, khiến cô ấy rất ngạc nhiên và khiếp sợ, thầy bùa giải thích với cô ấy rằng, âm binh của ông ta không thể nào thâm nhập được con, vì con đã được bảo vệ rất tốt. Cô ấy trình bày xong mọi lẽ thì xin học giáo lý để gia nhập đạo vì lý do “Chúa của đạo Công giáo quá mạnh!”.
Nghe tôi kể xong, cha sở căn dặn thêm rằng, ở giữa xứ sở đầy dẫy những nguy hiểm hồn xác, tôi phải cố gắng giữ sao cho thật kiên vững đức tin vào Chúa, đừng bao giờ lo sợ vì Chúa luôn bảo vệ ai tin tưởng và đặt hết lòng trông cậy nơi Người. Cha nhắc lại câu trước đây đã nói: “Đức trọng quỷ thần kinh”, đức ở đây vừa là nhân đức, vừa là đức tin; phải rèn luyện nhân đức cho nhiều và đức tin phải luôn thật vững chắc, như thế ma quỷ mới kiêng dè.
 
 
(1) Miên hay Cao Miên là cách gọi người và nước Campuchia của dân vùng biên giới ở đây.
(2) Âm binh theo quan niệm của dân chúng là những linh hồn còn lê la vất vưởng, được các thầy bùa thu phục làm người phục dịch cho họ sai khiến trong những việc xấu như hại người, gây bất hòa, gây bệnh hoạn, giết chóc v.v…
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.05.2026 03:44:13 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 02.05.2026 02:09:12
Kỳ 26
 
Tính ra tôi đã rời khỏi Cao Đằng được bốn tháng. Thời gian này cũng đủ để tôi yên tâm rằng, mình không còn dây mơ rễ má gì với người của giáo xứ Cao Đằng. Nhưng tôi đã lầm. Một hôm trên đường từ chỗ ở trọ trong nhà bảo sanh đến nhà thờ, khi đi gần đến nhà thờ, một chú bé học lớp ba đón tôi mách: “Thưa thầy có khách”. Tôi hỏi lại: “Khách ở xa đến phải không?”. Chú bé “Dạ”.
Vừa bước vào cổng nhà thờ, tôi giật thót cả người khi thoáng thấy ông “mặt dẹp” ngồi rung đùi trên chiếc ghế trước cửa phòng học chờ tôi. Tôi rất miễn cưỡng:
- Chào chú.
Ông “mặt dẹp” nhếch môi chào lại miệng không hề hé nở nụ cười. Tôi làm ra vẻ đon đả mời ông vào ngồi cùng với tôi ở bàn dạy học. Tôi sai học trò mua một ly nước để đãi khách. Ông “mặt dẹp” không chịu ngồi ở chỗ tôi mời, nhưng xách chiếc ghế ra ngồi cạnh cửa phòng học. An vị xong ông nói:
- Tôi biết ông thầy không ngờ rằng tôi đến được tận đây để thăm ông thầy phải không?
Tôi cười, chắc là giống như đang mếu:
- Dạ… ạ… Sao chú biết đường đến tận nơi khỉ ho cò gáy này?
Ông “mặt dẹp” cự:
- Khỉ ho cò gáy… cái nỗi gì! Cũng chợ búa phố xá ì xèo đấy chớ! Vui vẻ dữ!
Ông “mặt dẹp” thở ra có vẻ như chán nản vì phải nói chuyện với tôi:
- Hơ… ơi… ! Chỗ nào mà tôi không biết! Nơi nào mà tôi không tới được!
Thấy tôi có vẻ căng thẳng, ông “mặt dẹp” trấn an kiểu đàn anh đàn chị đối với em út:
- Đừng lo! Tôi chỉ nói chuyện với ông thầy mấy câu là đi ngay thôi! Cho mấy đứa nhỏ chuẩn bị vào lớp đi! Tôi không làm phiền giờ giấc của ông thầy đâu!
Ly nước được bưng vào, tôi mời ông uống và kiên nhẫn chờ đợi xem vụ gì. Nhấp một miếng nước để lấy lòng, ông “mặt dẹp” hỏi:
- Sao? Vụ hôm trước tôi nói, ông thầy nghĩ sao và tính sao?
Tôi nhớ rất rõ, nhưng vẫn cố giả bộ không nhớ:
- Thưa vụ gì ạ?
- Thì vụ tôi mời ông làm việc với tôi đó! -Nói dứt lời ông lại thở ra kiểu như hơi hờn dỗi.
Tôi nói một câu mà về sau này cứ hối hận mãi rằng mình không chịu suy nghĩ kỹ:
- Tôi sẽ được lợi gì trong vụ cộng tác với chú?
Giống như ông “mặt dẹp” vớ bở, ông cười nhếch mép nói ngay:
- Được nhiều! Được nhiều! Để rồi coi!
Ông “mặt dẹp” đứng dậy úp chiếc nón nỉ màu đen lên đầu rồi ra đi. Tôi thực sự chưa hiểu sao ông lại đột ngột ra đi khi tôi chưa trả lời dứt khoát. Nhưng tôi đã lầm. Tôi xin kể dần.

Các em nữ huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể kể tôi nghe trong vùng này có một người đàn ông khoảng năm sáu mươi tuổi, không rõ thuộc tôn giáo nào nhưng có lối sống kỳ dị, mặc quần áo nâu, tóc để dài chấm vai và cứ đi làm phước (từ thiện) cho mọi người bất phân tôn giáo, giàu nghèo, sang hèn… nên người ta gọi là “ông đạo”. Việc làm phước của ông không lớn lao, chỉ là chuyện đi cạo gió và khám chữa bệnh cho bất kỳ ai nhờ.
Cách ông cạo gió rất đặc biệt là cạo rất nhẹ, rất lâu, có khi hết cả một buổi vẫn chưa xong, vừa cạo vừa lai rai “giảng đạo” khi thì những câu kinh Phật, khi thì những câu sấm giảng của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ sáng lập đạo Phật giáo Hòa hảo, các em nói đôi khi có cả những câu Phúc âm… bằng một giọng trầm trầm đều đều làm người được cạo nghe êm tai ngủ hồi nào không hay, người được cạo gió thức hay ngủ không màng, ông cứ nói như đọc kinh.
Cách chữa bệnh của ông cũng dị hợm. Sau khi xem mạch biết bệnh xong, ông kêu lấy cho ông khi thì lá trầu, khi thì lá xoài, lá ổi… khi thì nhúm hột tiêu, lúc thì nhúm hột đậu… gì đó, khi thì con thằn lằn, lúc con rắn mối, con giun, con dế… Cứ đòi thứ gì khi người nhà đem đến ông đều bỏ hết vào miệng nhai, tất cả dồn vào một họng ngồm ngoàm, nhai cho đến khi nhuyễn sệt thì tùy bệnh nhả ra lấy đó mà xức, mà băng bó, mà thoa hoặc giả có bệnh ông nhai xong cứ để trong miệng mà phun vào chỗ đau nhức… ai chứng kiến cũng thấy rùng mình ghê tởm. Bệnh gì ông cũng chữa, không ngán bệnh nhẹ lẫn nan y. Khỏi hay không thì còn phải bàn thêm vì người ở đây nói thế này, người ở kia nói thế khác, không biết đâu mà tin, chỉ thấy dễ kêu ông đến, dễ nhờ ông cạo gió chữa bệnh, được miễn phí, còn được lợi cả một giấc ngủ say, tới bữa cho ông ăn cơm thì ông ăn, không cho thì thôi không kêu ca đòi hỏi… vậy là cả một vùng đua nhau gọi “ông đạo” khi nhức đầu xổ mũi.
Một hôm “ông đạo” ghé thăm tôi vào buổi trưa. Tôi rất ngạc nhiên vì mình không ốm đau cũng chẳng gọi ông, nhưng ông nói ngay:
- Ông thầy! Tôi được lệnh đến ông đây!
Tôi nghe nói nhiều về ông, thấp thoáng thấy bóng ông đôi ba lần ở xa xa, nay được gặp mặt nhãn tiền thấy cũng thú vị. Tôi trả lời:
- Kính chào “ông đạo”! Tôi nghe đồn đại về ông rất nhiều nay mới được hân hạnh gặp mặt. Thật mãn nhãn!
- Còn tôi thì biết ông thầy rất rõ ngay từ khi ông thầy mới được thuyên chuyển về chợ Đầu Hổ này. - Ông đáp lại bằng chất giọng trơn tru, rõ ràng, gãy gọn, lịch sự và dễ có thiện cảm.
Tôi mời ông vào phòng học, bắt một chiếc ghế ngồi cạnh bàn dạy học đối diện với tôi, nhưng đồng thời chiếc ghế này cũng đối diện với cây thánh giá treo không cao lắm trên vách nhà. Ông định ngồi xuống nhưng chợt điều gì đó làm ông giãy nảy:
- Ý không được, không được…! Ra ngồi ngoài này cho mát mẻ!
Nói xong ông cầm chiếc ghế bước ra khỏi lớp, ngồi bên ngoài nhìn vào nói chuyện. Bất giác tôi rùng mình khi nhớ lại ông “mặt dẹp” cũng không chịu ngồi trước cây thánh giá. Họ là ai thì chỉ cần một cử chỉ nhỏ đó thôi mà nhận biết. Tôi học được cái “phép” này từ cha sở Luca dạy: dùng cây thánh giá để phân biệt người này người nọ. Tôi làm ra vẻ tỉnh bơ nói chuyện tiếp:
- Vậy sao? Hôm nay ông đến thăm hay có chuyện gì ạ?
“Ông đạo” dè dặt trả lời:
- Biết được “người mình”, tôi tới thăm xã giao để giúp nhau đó mà!
Tôi thực sự không hiểu ất giáp gì. Tôi thấy khó hiểu nhất là cái chữ “người mình”. “Ông đạo” chẳng màng giải thích, rút từ trong túi áo bà ba nâu sòng ra một gói đầy tiền trao cho tôi:
- Người ta gửi tiền cho ông thầy xài. Cứ tiêu xài thỏa thích, khi nào xài hết, báo cho tôi hay tôi sẽ đem đến. Về mặt tiền bạc hả? Ông thầy khỏi phải lo!
Không dám nhận, nhưng tôi cũng mở ra xem qua thì thấy toàn giấy bạc một trăm, hai trăm… mới tinh, với số lượng đang cầm trong tay, tôi đoán, có thể lên tới chục ngàn hay trăm ngàn đồng. Đây là một số tiền lớn có thể mua một lúc được một hoặc hai chiếc xe Honda SS 72 mới cáu, hợp thời, loại ba mươi lăm ngàn đồng một chiếc, đồng thời so với hiện trạng trong túi tôi chỉ còn không tới bốn trăm đồng… thì số tiền này quả là quá lớn!
Tuy nhiên chính vì số tiền lớn quá lại là nguyên cớ gây cho tôi sợ hãi. Tôi đưa lại cho “ông đạo”:
- Của ai? Tại sao? Để làm gì? Thôi!... Tôi không dám lấy đâu!
Mẹ tôi từng dạy: “tiền nhiều thì nợ nhiều”, cha sở Luca dạy giống như vậy: “Ân huệ lớn trách nhiệm lớn”. Nhớ như in những câu nói đó nên tôi không dám ham muốn món tiền không lý do. “Ông đạo” ép tôi vài ba lần vừa giải thích “của một người quen với ông thầy, vì thấy ông thầy cần tiền để làm việc…” nhưng nỗi sợ trong tôi lớn hơn lòng ham thích nên tôi vẫn một mực từ chối.
Có tiếng bước chân người đến học giáo lý, “ông đạo” ra về không quên hẹn sẽ đến vào một ngày gần.

Về thăm cha Luca lần kế đó tôi kể hết cho ngài. Cha sở im lặng, trầm ngâm rồi giải thích từng chuyện cho tôi nghe, ngài trách tôi nói câu nói hớ hênh:“Tôi sẽ được lợi gì trong vụ cộng tác với chú?”, nhưng rồi lại cười xòa và trấn an tôi. Quả thật, có những điều lúc trẻ ta cho là khôn ngoan, đến khi về già ta mới thấy lố bịch.
Cha sở dặn dò tôi cách xử sự với “ông đạo”. Cha kể tôi nghe tiếp chuyện.
Một hôm Ông Lực Lượng vào tòa giải tội nói với tôi:
- Nếu ông muốn, tôi sẽ cho ông tiền và phương tiện để trải nhựa hết con đường vòng quanh cù lao này, ông sẽ xây lại hai nhà thờ hai đầu họ đạo thật khang trang, ông sẽ tôn tạo lại họ đạo về mọi mặt, ông sẽ thu được nhiều lợi nhuận đem về tòa giám mục, mọi người sẽ nể trọng ông và cho ông nhiều vinh dự.
Tôi thăm dò:
- Đổi lại tôi sẽ phải làm gì?
Ông Lực Lượng đáp ngay:
- Chẳng phải làm gì hết! Tôi chẳng đòi ông làm gì cả đâu!
Tôi ương ngạnh:
- Vậy thì ông tốt quá! Nhưng ma quỷ không bao giờ tốt bụng, chắc chắn ông phải trói tôi bằng điều gì đó.
Ông Lực Lượng trả lời:
- Hoặc là tôi chỉ yêu cầu ông ít thôi! Đó là hãy nghĩ đến mình.
Tôi im lặng suy nghĩ. Tôi nghĩ chắc chắn phải có điều gì đó quái gở trong câu nói “hãy nghĩ đến mình” của ông Lực Lượng, bởi vì ông ta không bao giờ thương tôi hay thương ai cả. “Hãy nghĩ đến mình” chẳng lẽ là vì tôi bệnh lên bệnh xuống, đau rề rề tối ngày. “Hãy nghĩ đến mình” chẳng lẽ là vì tôi để cho các cha phó tự do, tôn trọng Hội đồng Giáo xứ? “Hãy nghĩ đến mình” chẳng lẽ vì tôi suốt ngày ngồi ở tòa cáo giải đợi giáo dân? V.v…
Tôi chưa trả lời vội là được hay không. Thế nên khi về nhà suy nghĩ và cầu nguyện, tôi dần ngộ ra rằng điều kiện “Hãy nghĩ đến mình” thật là lớn lao và nguy hiểm: Một là làm cho người ta có nguy cơ vi phạm đức thờ phượng, trong phụng vụ không toàn tâm thờ lạy duy nhất Thiên Chúa mà còn thờ lạy chính mình. Hai là làm cho người ta có nguy cơ vi phạm đức bác ái vì không toàn ý yêu thương người khác. Phạm hai đức này: thờ phượng Thiên Chúa và yêu thương mọi người là hai điều răn tóm hết mọi điều răn. Ôi điều kiện “Hãy nghĩ đến mình” thật là lớn lao và nặng nề!
Vài ngày hôm sau tôi trả lời cho ông Lực Lượng rằng tôi không chấp nhận điều kiện ông đưa ra.
Ông Lực Lượng nổi giận bỏ đi bằng một luồng gió mạnh đến kinh hồn thổi ra hướng nghĩa địa làm ngã rạp hết những cây cỏ ở nghĩa địa, gần nơi tôi ngồi.
Sau đó tôi bị bệnh rất lâu, và rất lâu sau ông Lực Lượng mới trở lại.
Nghe cha sở kể chuyện, tôi cảm thấy mình được củng cố thêm niềm tin và lòng can đảm.
Về Thạnh Lộc, vài hôm sau “ông đạo” lại đến. Lần này ông trao gói tiền cũng giống như hôm trước, tôi không nhận ông ta cũng không nài nỉ ép uổng.
“Ông đạo” còn đến nhiều lần nữa, nhưng càng những lần sau tôi càng quyết tâm hơn, vì ân huệ nào dễ đạt quá thì ân huệ đó có kèm theo những điều kiện trói buộc ngặt nghèo.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.05.2026 03:31:42 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 02.05.2026 02:24:58
Kỳ 27
 
Đang nghỉ trưa sau một buổi dạy học căng thẳng, tôi nghe có tiếng thanh niên gọi: “Thầy ơi! Thầy ơi!” dồn dập. Bước ra hiên gác trọ nhìn xuống phố, tôi thấy có hai thanh niên trẻ tuổi mặc đồng phục học sinh trung học, đi xe gắn máy nhìn lên gọi.
Xuống nhà dưới mở cửa, tôi đón phong thư, mở ra đọc. Cha sở gọi tôi về Chân Phúc gấp. Hai học sinh thấy tôi đọc xong, xin phép rút lui. Tôi ngẫm không thể hỏi thêm được thông tin gì ở hai người thừa phái trẻ tuổi có vẻ ngu ngơ này nữa, tôi cho họ đi.
Trở lên gác, tôi ngồi suy nghĩ nhanh, rồi quyết định phải đi về gặp cha sở mới biết chuyện gì, có hồi hộp mà ngồi nán lại cũng bằng thừa.
Tôi báo tin cho cô mụ Bảy, chủ nhà bảo sanh tôi đang trọ. Nhanh chóng ra bến xe thuê một xe Honda ôm, tức tốc hướng về Chân Phúc.
6g chiều tôi có mặt tại nhà xứ giáo xứ Chân Phúc. Đón tôi lại cũng bằng một phong thư nữa, nhưng lần này thì loại phong thư to kềnh, trang trọng và dầy cộm. Vì cha sở Chân Phúc là cậu ruột của tôi, nên tôi hỏi:
- Thưa cậu, đây là thư gì và do ai gửi?
Cha sở Chân Phúc lắc đầu:
- Tôi có xem, mà chung quy chẳng hiểu gì. Con cứ mở ra, xem có hiểu gì không.
Cậu tôi giải thích trong lúc tôi vừa mở phong thư đã được tháo niêm chì ra rồi, chứng tỏ cha sở hay cha phó đã có “nghiên cứu”.
- Tôi có bàn với cha Hiệu trưởng rằng, tuy không hiểu mô-tê gì, nhưng có vẻ chuyện chi đó rất quan trọng, vả lại không nguy hại, nên cứ cử con đi xem sao vì người ta điền đích danh con trong hết mọi thứ giấy tờ chứa trong đó.
Cha sở cười. Tôi xem toàn bộ và hiểu ra chút ít. Đây là một khóa học kéo dài 4 năm, mỗi năm chỉ học vào 3 tháng hè, do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam phối hợp với Bộ Giáo Dục Mỹ mở tại Bình Thới thành phố Cần Thơ, dành cho mỗi trường Trung học Đệ nhị cấp Công lập của Khu Học chánh IV một giáo sư được chọn theo một số tiêu chuẩn… để đào tạo thành hiệu trưởng kiêm giám đốc Trung học cho hệ giáo dục mới. Tôi trình bày sơ cho cha sở cậu tôi. Đúng lúc đó cha phó kiêm Hiệu trưởng Trung học từ bên trong nhà xứ đi ra, cha bảo:
- Cậu hay thế! Ở tận chốn khỉ ho cò gáy mà cũng được người ta mời đích danh để đi học. Làm sao hay thế? Trong khi người ta tuyển chọn toàn các trường công lập, trường mình là tư thục, đàng khác cậu có về đây dạy được ngày nào đâu!
Tôi trả lời gượng gạo:
- Con thật là không làm gì cả và cũng không thể hiểu nổi. Chỉ còn nước đi đến nơi mới biết rõ thực hư.
Tôi xem lại ngày nhập học và phát hiện:
- Thưa cậu, thưa cha, đã trễ hạn nhập học những 2 ngày rồi!

Sáng hôm sau tôi lên đường đến Cần Thơ. Vừa bước vào cổng trường, xuất trình giấy tờ cho nhân viên gác cổng xong, tiếng người oang oang trên loa phóng thanh chào tôi, một học viên mới đến. Tôi được dẫn đi nhận phòng và nhận mọi thứ lỉnh kỉnh trang bị cho việc học tập, tôi ngỡ ngàng bước vào giảng đường rộng nơi mọi ngươi đang chăm chú dạy và học, để bắt đầu khóa học. Tôi đếm được 66 học viên, phần lớn đứng tuổi, là những giáo sư (1) công lập mái đầu hầu hết đã hói hoặc đã hoa râm, chỉ lác đác vài người trẻ, tôi là người trẻ tuổi nhất. Phần lớn là nam giáo sư, chỉ có 8 giáo sư nữ đa số đẹp và quý phái. Nói chung vừa nhìn vào đã thấy tất cả đều thuộc thành phần được ưu tuyển.
Chương trình sinh hoạt trong một ngày rất sít sao và nặng nề. 5g sáng thức, thể dục, điểm tâm. 7g học đến 12g ăn trưa. 13g học đến 18g tắm rửa và ăn tối. 20g học đến 22g ngủ. Các giảng viên toàn những người danh tiếng trên Sài Gòn, hoặc nhân viên các phái bộ, hoặc từ tổ chức UNESCO các nước gửi qua. Tuy cách tổ chức làm ta cảm thấy rất tự do, nhưng nội dung học quá nặng khiến sự tự do, thoải mái và được tôn trọng hầu như không còn ý nghĩa gì nữa. Thứ bảy và chúa nhật được nghỉ và “xả trại” hoàn toàn, đi đâu tùy ý, nếu ai về nhà hoặc đi xa… sẽ được hoàn lại tiền lộ phí. Mỗi tháng mỗi người được lĩnh lương vì công tham gia khóa học. Tôi dần quen với nếp sinh hoạt, vì mới tạm ngưng học hơn một năm qua để đi giúp xứ, sức lại trẻ, lại vừa độc thân và sống nghiêm túc nên học rất suôn sẻ, dễ chịu và mỗi ngày càng thêm tiến bộ ở mọi lĩnh vực, còn các anh, các chú, các bác khác học cùng khóa ai nấy tỏ vẻ ngán ngẩm vì lẽ bận bịu vợ con, gia đình, trách nhiệm, nên trí óc họ không còn dễ tập trung hay linh hoạt trong việc tiếp thu, hầu hết họ học có vẻ thật khổ sở.
Khóa I kết thúc sau 3 tháng. Tôi về kể cho cha sở Chân Phúc và cha phó kiêm Hiệu trưởng vanh vách mọi điều, ai nấy đều mừng rỡ cho tôi vì đã may mắn, bất ngờ nhận được một suất học quá ích lợi. Những kiến thức sau ba tháng đầy ắp giống như đã học một chương trình những ba năm, dường như cái gì cũng được người ta nhồi nhét vào đầu. Trở về giáo xứ Long Thạnh, tôi tha hồ áp dụng ngay những điều mình vừa học. Thật là thú vị!
Một buổi sáng sau đó khoảng trên dưới một tuần, đang loay hoay chuẩn bị ăn sáng, nghe tiếng xe, nhìn ra cổng, tôi giật thót mình khi người ngồi sau xe Honda SS 72 màu đỏ bước xuống là ông “mặt dẹp”.
Thoáng một cái ông đã vào tận nơi tôi đang ngồi trên ngôi nhà sàn cao.
- Chào ông thầy! Đi học về khỏe chứ?
Tôi nghĩ ngay: Lạy Chúa! Ông ta biết hết mọi chuyện tôi làm rồi còn gì! Tôi vừa cười vừa giả bộ:
- Chú nói ai? Tôi có đi học gì đâu?
Ông ta “hừ” một tiếng rồi nhìn ra ngoài sân tỏ vẻ như đang nói chuyện nghiêm chỉnh chứ không đùa. Sau một vài hơi thuốc, ông ta nói tiếp:
- Có biết ai lo cho… được đi học kh…ô…ng? - Ông cao giọng vào cuối câu như một ông chủ điền hách dịch hỏi xách mé tá điền của mình.
Tôi bỗng đoán ông ta đang muốn xía vô để kể công… gì đây, nên hỏi cho rõ:
- Thưa ai lo ạ?
Ông ta gằn giọng:
- Tổ chức lo chứ còn ai nữa…! Có tiền cũng không vào được khóa học đó đâu…!
Tôi tức anh ách vì tuy vào đầu khóa học, tôi không hiểu ất giáp, không đoán ra tại sao mình được chọn đi học, nhưng sau khi một hôm phát hiện trong số bạn học có một sư huynh Lasan, vị này nói cho tôi biết là hệ giáo dục mới nhắm đến hệ thống trường công lập, chỉ chọn hai trường tư thục Công giáo làm thí điểm, sư huynh và tôi là hai nhân tố được chọn làm thí điểm ấy… lúc đó tôi mới biết chẳng có gì là ưu tuyển trong việc được vào học khóa học này… Nay nghe ông “mặt dẹp” kể công, tôi thấy không đúng sự thật. Tôi nói:
- Khóa học ấy chỉ là thí nghiệm. Mọi chuyện còn dò dẫm và nghiên cứu. Không có gì là ghê gớm hết chú ơi!
Ông “mặt dẹp” đã không tức giận, còn tỏ ra khá điềm tĩnh:
- Hừ! Chuyện gì rõ sẽ rõ. Tôi không đùa. Ông thầy sẽ đỗ đạt hiển vinh trong khóa học này. Tất cả mọi sự đều lo vun quén cho ông thầy, ông thầy chớ phủi ơn!
Tôi cũng mất hứng, hay đúng ra mất hết can đảm để cãi thêm, nhưng suy nghĩ nhanh: chuyện này phải gặp cha Luca để cha tìm cách can thiệp chứ tôi không muốn dính dáng gì đến Ông Lực Lượng một chút nào, cũng chẳng muốn nhờ ơn ai ngoại trừ nhờ ơn Chúa như cha Luca đã từng dạy và đã từng nêu tấm gương quá rõ ràng rằng chỉ nhờ vào duy nhất ơn của Chúa, thế nên chẳng ai làm gì được cha.
Tôi lặng thinh không nói thêm một câu nào nữa. Ông “mặt dẹp” cầm nón phớt đứng lên từ giã:
- Tôi nói vậy thôi chứ đã làm gì đâu!
Từ trên nhà sàn xuống, khi chân chạm tới đất, ông “mặt dẹp” ngoái đầu lên nói thêm một câu làm tôi cảm thấy càng thêm nặng nề và căng thẳng:
- Nhưng “ăn trái” phải nhớ “kẻ trồng cây”... Vậy th…ô…i…!

Lần về thăm cha Luca tiếp theo sau, tôi kể hết cho cha nghe.
Nghe xong cha kể lại cho tôi nghe một câu chuyện.
Vào năm đó giặc giã nổi lên dữ dội, chiến tranh ngày càng khốc liệt, có chuyện tôi phải về tòa giám mục. Trên con đường lúc trở về lại An Biên, đến bến phà Châu Long thì trời đã chạng vạng tối, lính tráng xung công hết số phà, đò, ghe ở bến phà để vận chuyển xác người chết và thương binh, tôi bắt buộc phải cùng vài người nữa thuê một chiếc xuồng (2) để sang con sông Hậu rất rộng. Xuồng thì nhỏ, chở năm người đã khá chòng chành lại phải băng qua một con sông có nhiều sóng dữ vào lúc trời nhá nhem tối. Tình thế thật nguy hiểm, nhưng phải đi vì không còn cách nào khác.
Khi ra giữa sông, mọi người thất kinh vì gió và sóng ngày càng nhiều, với một chiếc dầm (3) nho nhỏ, gió ngược làm cho ta có cảm tưởng gần như chiếc xuồng không nhích tới trước được bao nhiêu. Thế là sóng từng cơn làm chao đảo, trồi hụp chiếc xuồng, mười phần tôi thấy hết tám phần là hứa hẹn sẽ bị nhấn chìm xuống sông sâu. Tôi bắt đầu cởi giày, lột áo dòng ra chuẩn bị sẽ phải bơi vào bờ, nhưng nhìn vào bờ… ôi còn ở xa thăm thẳm và mịt mờ. Tôi liệu sức, chắc không thể bơi vào nổi nếu chẳng may xuồng bị sóng dữ nhấn chìm. Tôi chỉ còn nghĩ đến cái chết trong khi miệng cầu xin liên hồi.
Đúng vào lúc chiếc xuồng sắp chìm, đúng vào lúc mọi người la lên hoảng loạn thì chiếc xuồng bỗng dưng nhẹ tênh lướt tới như có ai kéo đi trượt êm trên mặt nước. Nhìn ra phía trước tôi càng ngạc nhiên khi thấy mờ mờ một bóng người mặc áo choàng trắng đang lom khom đi trước kéo chiếc xuồng trườn theo sau, bóng người như đi trên mặt nước. Mọi người há hốc đến im phăng phắt. Chỉ trong phút chốc, chiếc xuồng đã tiến vào còn cách bờ chỉ chừng trăm mét, bóng trắng biến mất.
Lúc này mấy người đàn bà mới buộc miệng thét lên:
- Ma! Ma!
Vài người khác lại thét to vì vui:
- Ma kéo xuồng! Ma kéo xuồng!
Xuồng cặp bến dễ dàng và an toàn. Lên bờ ai nấy hoàn hồn nhưng càng lúc càng bàng hoàng như vừa mới bước ra khỏi cơn ác mộng vì không biết hương hồn của những người lính chết trận hay ma đã dắt thuyền vào bờ. Mọi người tụ tập bàn tán rất hăng. Khách trên bờ nhìn chiếc xuồng lắc đầu:
- Mấy ông mấy bà gan quá! Xuồng nhỏ xíu vầy mà dám qua sông lớn!

Vài hôm sau Ông Lực Lượng vào xưng tội, Ông nói chính ông đã cứu chúng tôi thoát chết.
Trong lúc còn bán tín bán nghi, tôi nói vài lời cám ơn Ông. Không bỏ lỡ cơ hội, Ông ra cho tôi một số yêu cầu phải làm.
Tuy nhiên tôi không dễ dàng bị thuyết phục vì trí tôi cảm thấy có vấn đề.
Câu chuyện nhùng nhằng khá lâu rồi cũng thôi.
Cha Luca kết luận:
- Đôi khi ân nghĩa cũng là một thứ bẫy đáng ngại mà ma quỷ dùng để bẫy ta con ạ!
Cha khuyên tôi một lời khuyên, nhưng lời khuyên ấy có sức mang lại bình an cho tâm hồn:
- Việc gì con cũng cứ ưu tiên và đặc biệt cám ơn Chúa. Thế là an tâm!
 
 
(1) Ngày xưa giáo viên trung học được gọi là giáo sư.
(2) Xuồng là vật dụng dùng để lưu thông thuộc hàng nhỏ nhất trên sông, chở được 5 đến 6 người
(3) Dầm là một loại mái chèo nhưng nhỏ gọn và cầm tay dùng để bơi xuồng
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.05.2026 03:39:32 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 02.05.2026 10:04:46
Kỳ 28
 
Về đến giáo xứ An Biên, bước vào nhà xứ mới hay cha sở Luca đang bệnh nặng, tuy nhiên đã qua cơn nguy kịch, tôi vào thăm thấy ngài cũng đã tỉnh táo hơn lời người ta thuật lại.
Thấy tôi về thăm, cha mừng rỡ ra mặt như được gặp lại người thân trong gia đình. Tôi bắc ghế ngồi ngay cạnh giường cha và lặng im không dám hỏi han gì sợ làm cha mệt.
Sau bữa ăn trưa, tôi quyết định ở lại với cha một đêm túc trực bên cạnh cha với những người giáo dân tốt bụng trong họ đạo, để xem có thể an ủi hay giúp cha được gì.
Buổi chiều cha có thể ngồi dậy được và giọng nói bắt đầu khá liên tục do sức khỏe dần hồi phục ngày một tốt hơn. Cha bảo sẽ kể tiếp cho tôi nghe một câu chuyện.
Và đúng như thế, sau bữa ăn tối, cha bắt đầu kể.
Trong thời gian Ông Lực Lượng còn đang xưng tội, bẵng đi một thời gian có đến gần ba tháng không thấy Ông ấy tới lui, tôi nghĩ sẽ không gặp Ông ấy nữa thì xảy ra một câu chuyện. Câu chuyện tôi sắp kể gần như là một trang tâm sự giữa hai người cùng đi tu, một người đi trước nói với một người đi sau.
Lúc đó có một phụ nữ ở Sài gòn về đây nói để lập nghiệp và sinh sống. Đó là một người đàn bà tuổi chừng trên dưới bốn mươi trông duyên dáng, thông minh và sắc sảo. Bà ta đến trình diện với tôi và nói ý định của mình vì chồng bà đi lính chẳng may tử trận đã vài năm qua, vì không con cái nên thấy không tiện ở lại nhà chồng, do đó muốn về giáo xứ này để nương náu cho cuộc đời còn lại.
Sau lần trình diện ấy, bà ta cứ đến thăm tôi ngày càng nhiều, mỗi lần đều đi với quà cáp, nếu không quà cáp thì săn sóc cho tôi từng ly từng tý, càng ngày càng chăm sóc cho tôi cả những chuyện vặt vãnh.
Vì thông minh, nên bà ta biết cách khen tôi đủ điều, đúng cách và đánh trúng tâm lý của tôi dù tôi rất cảnh giác trước những lời khen. Vì sắc sảo nên bà ta biết cách đọc được những ước muốn, những niềm vui, nỗi buồn, tâm trạng nói chung… của tôi qua những lời tôi nói, những việc tôi làm, qua những biến cố xảy ra trong họ đạo, từ đó có cách an ủi, trấn an, góp ý, lẫn khuyên can v.v… Vì duyên dáng cho nên bà ta chinh phục cảm tình tôi không biết từ lúc nào, khiến lúc nào tôi cũng nghĩ đến bà ta… cho đến một ngày kia tôi cảm thấy cần biết bao đến sự hiện diện của bà ta bên cạnh mình!
Ngưng kể một lúc để thở. Cha nói tiếp.
Gần như một quy luật, hễ khi nào Ông Lực Lượng không đến xưng tội, thì y như rằng, sẽ có một chuyện gì đó xảy ra cho tôi.
Cha sở Luca gật gù với nhận xét trên, uống ngụm nước rồi kể tiếp.
Cảnh giác hết sức, nghiêm nhặt hết sức, cầu nguyện và lo việc bổn phận hết mình vậy mà tôi vẫn ở mấp mé bờ vực của sự sa ngã.
Khi người đàn bà thấy rằng tôi có cảm tình với bà ta, tôi cần bà ta và tôi có nhu cầu không thể thiếu bà ta thì bà ta bắt đầu tiến thêm một bước nữa. Đó là bà ta lui tới vào những giờ “ngặt nghèo” như buổi trưa, buổi tối vắng người, đôi lúc giả làm người đi xưng tội để được đến bên tôi… những lúc ấy ăn mặc thật gợi cảm nhưng luôn tỏ vẻ trang nghiêm vô tội.
Đến lúc này giáo dân bắt đầu xì xầm bàn tán. Cũng có lúc có những giáo dân đạo đức nói những lời ngụ ý cảnh báo… nhưng tôi để ngoài tai và tự biện minh rằng mình chưa phạm lỗi gì.
Một đêm mưa gió, đang giữa khuya, bà ta đến đập cửa. Mở cửa nhà xứ ra tôi bàng hoàng nhìn thấy bà ta đứng ở hàng hiên khép nép run rẩy trong một lớp quần áo rất mỏng, vì ướt sũng nên lụa mỏng cứ dán sát vào da thịt. Bà ta bảo đi công việc trên đường về bị mưa đột ngột không chuẩn bị.
Tôi đưa bà ta vào phòng, lấy khăn cho bà ta lau, và đưa một cái áo sơ-mi trắng của tôi cho bà ta mặc. Bà ta cởi áo ngay trước mặt tôi.
Lúc này trong phòng chỉ còn một chiếc đèn dầu leo lét, ngoài trời mưa to đến độ không ai có thể nghe tiếng gì ngoài tiếng mưa sầm sập, tiếng gió thổi thật mạnh, và tiếng sấm chớp. Khi tôi chỉ còn cách sự sa ngã trong gang tấc, thì bỗng một tia chớp rọi sáng xuyên qua màn lưới cửa sổ mở, tôi thấy bà ta bỗng khác lạ, khác hơn hình dáng thật trong những lúc bình thường ban ngày, tiếp theo là tiếng sét nổ to đùng một cách thất thường, tất cả như đánh thức tôi và làm cho tôi đột nhiên tỉnh ngộ.
Tôi trao bà ta cây dù đen thường dùng và hối thúc bà ta ra về ngay giữa mưa to gió lớn và đêm khuya. Lúc đó thì bà ta không còn ngần ngại gì nữa, ôm chầm lấy tôi, quấn chặt lấy tôi với những lời van xin, nhưng lúc này là lúc tôi cương quyết hơn hết, nên bà ta phải ngậm ngùi ra về.
Với tang vật là chiếc áo sơ-mi trắng và cây dù đen, tôi bị tai tiếng một thời gian rất lâu sau đó, nhưng rồi từ từ người ta mới hiểu lại cho tôi.
Cha sở ngưng kể, thở dốc vì mệt. Tôi lắng nghe với tất cả sự chân thành và thông cảm. Cha bảo:
- Thầy ạ! Bất cứ điều gì cũng có thể xảy đến cho con người chúng ta. Cho nên tốt nhất chúng ta đừng bao giờ mất cảnh giác và ngạo mạn tự cho mình là vững mạnh, hoàn hảo và lớn tiếng lên án kẻ khác.
Tôi trở về lại giáo xứ Long Thạnh, trên đường đi nghiệm ngẫm những gì cha sở Luca tâm sự. Tôi nghĩ ra một điều, thì ra tất cả loài người chúng ta đều yếu ớt, đều mỏng dòn, dễ vỡ, không ai có thể tự cho mình là mạnh mẽ. Cứ như cha Luca, tôi luôn cho ngài sừng sững như cổ thụ, vậy mà cũng vẫn có những lúc yếu đuối… thì tôi là ai đây? Tôi nghĩ ra: muốn thắng cơn cám dỗ như cha Luca, hẳn phải có ơn Chúa; muốn có ơn Chúa, phải thành tâm cầu nguyện, khiêm nhường và tỉnh thức.

Tôi không phải đợi lâu mới tới lượt mình.
Một phụ nữ người Việt có đạo sống ở Campuchia, lấy chồng là một sĩ quan hàm thiếu tá người Campuchia có được một con nhỏ, không biết lý do gì, trốn về Việt Nam và trôi dạt đến ở trong đất thuộc giáo họ Long Thạnh.
Người phụ nữ quá đẹp, nhưng nổi bật là khuôn mặt u uất với đôi mắt đen thăm thẳm. Khi vừa gặp tôi nàng đã nhìn tôi không rời, nhìn với cái cách như đã quen nhau từ hồi nào. Tôi thì không thấy quen, nhưng cái nhìn “nuốt chửng” của nàng đã làm tôi bối rối và có chút xao xuyến.
Thế rồi nàng không bỏ một buổi đọc kinh sáng chiều nào do tôi tổ chức ở nhà thờ, chăm chỉ như một giáo dân đạo hạnh. Sau những giờ kinh, nàng thường lưu lại, nấn ná và tìm cách để tôi hỏi chuyện. Vì khuôn viên nhà thờ nhỏ hẹp, đi ra đi vô không sao tránh khỏi gặp nhau, nên tôi với nàng sớm quen nhau và dần dần trao đổi với nhau nhiều chuyện. Tôi không bị ai cản trở, đã vậy còn có lợi thế là hầu hết giáo dân đều muốn tôi an ủi, chia sẻ, khuyên nhủ người thiếu phụ kia để đừng trở về Campuchia “sống trong tội” với người chồng “mọi rợ” kia nữa để còn lo cho con cái sau này giữ đạo. Với “sứ mạng thiêng liêng cao cả” coi như của mọi người trao cho như thế, tha hồ tôi và nàng nói chuyện với nhau đến bao lâu tùy thích.
Khác với cha Luca bị người đàn bà kia tấn công rất có bài bản và cấp tập, tôi không hoàn toàn bị tấn công mà còn vui vẻ cầu mong cho mình được “bị tấn công” khi thấy rằng tình cảm của mình bắt đầu chớm nở với người thiếu phụ tên Mỵ Lan này. Lúc này tôi mới hai mươi ba tuổi, nàng hơn tôi năm tuổi, vì thế nàng tỏ ra rất khôn khéo sành sỏi như một người đàn bà đứng tuổi, nàng có thể đoán biết suy nghĩ của tôi và thường biết tôi sắp nói điều gì, vậy mà tôi lại không thấy mình như một cậu học trò nhỏ bé trước cô giáo lão luyện về cuộc đời, cũng không thấy mình là một cậu em lẽo đẽo theo sau một bà chị sành sỏi. Không! Nàng khôn khéo đến độ làm tôi thú vị trước sự sành đời, đồng thời lúc nào cũng vẫn thấy mình như một anh hùng trước một mỹ nhân yếu đuối.
Đâu có lâu lắc gì! Tình yêu nảy nở nhanh gọn và dễ dàng. Và lúc này trong tình yêu, nàng mới thật là “gia sư nhũ mẫu” của tôi. Những gì tôi chập chững bước, nàng dìu tôi đi vững chãi, cả những khái niệm về tình yêu cũng trở nên rõ hơn khi được nàng giảng nghĩa.
Nếu đừng có biến cố này, có lẽ đời tôi sẽ khác so với bây giờ biết bao!
Vào buổi trưa chúa nhật giữa tháng, khi cùng với nàng chuyện vãn, bỗng từ ngoài cổng nhà thờ bước vào là hai người đàn ông da ngăm đen, tóc quăn và có vẻ ngoài hung hãn dữ tợn. Sau khi chào hỏi tôi cách miễn cưỡng, một người đàn ông nói với nàng bằng tiếng Campuchia, người kia nói bằng tiếng Việt:
- Nhắm thử xem bà có trốn khỏi chúng tôi được không bà thiếu tá?
Cứ người này nói một câu tiếng Campuchia thì người kia nói một câu tiếng Việt:
- Bây giờ yêu cầu bà theo chúng tôi về nước, ở đó ông thiếu tá sẽ nói chuyện với bà.
Trái với tôi tưởng, sắc mặt của nàng vẫn lạnh băng. Ngồi im mươi giây, nàng trả lời:
- Các anh đi về đi! Nói với ông ấy tôi không bao giờ về đó nữa. Có chết, tôi sẽ chết ở Việt Nam quê tôi.
Hai người đàn ông trao đổi với nhau một hồi bằng tiếng Campuchia, rồi ra đi. Trước khi ra đi còn hăm dọa:
- Bà là vợ của cấp trên chúng tôi, nhưng nếu ông thiếu tá ra lệnh chúng tôi phải làm gì thì chúng tôi tuân hành không nương nể đâu đó!
Khi hai người đàn ông đi khỏi, nàng cũng vẫn gương mặt u uất, mắt đen thăm thẳm như đáy đại dương chứ không lộ vẻ xúc động nhất là không hề tỏ ra sợ hãi. Nàng bảo:
- Em đoán đúng! Sẽ có lúc họ tìm ra em ở nơi này.
Im lặng vài giây bỗng nàng hỏi tôi:
- Anh có muốn cùng em đi thật xa không?
Nàng vẫn gọi tôi là “thầy”, nhưng lúc này đã đổi từ “thầy” ra “anh”. Tôi không màng chuyện đó, mà chỉ nghĩ là dứt khoát không thể đi với nàng được, vì tôi chưa có một ý nghĩ gì ngoài chút tình yêu vô vọng với nàng. Tôi im lặng giả vờ còn đang suy nghĩ.
Không đợi tôi trả lời, nàng nói:
- Thôi! Từ từ tính. Chẳng gì phải lo!
Nàng đứng dậy chào:
- Xin phép thầy em về.
Chúng tôi vẫn gặp nhau, nhưng trong khi tôi lo lắng hồi hộp cho số phận của nàng thì nàng vẫn lạnh như một tảng băng, chuyện trò rỉ rả như không có chuyện gì xảy ra. Một hôm nàng nói với tôi nhiều câu nghe kỳ lạ, nhưng có câu này nàng nhắc tới nhắc lui làm tôi nhớ mãi:
- Dù em ra sao và ở phương trời nào, em vẫn nhớ đến thầy. Còn thầy thì sao? 

Một buổi sáng chúa nhật, có đông người đến nhà thờ đọc kinh và tham dự nghi thức phụng vụ Lời Chúa, vì nhà thờ nhỏ hơn so với số giáo dân đông đảo và siêng năng, nên số người phải đứng ngoài nhà thờ khá đông, khiến cho sân nhà thờ càng trở nên chật chội và bất tiện. Giờ đọc kinh đã xong, khi mọi người từ trong nhà thờ kéo nhau ra về, tôi bỗng nghe hai tiếng súng nổ chát chúa. Tiếng mọi người la lối hoảng loạn:
- Chúa ơi… có giết người!
- Chết người rồi!
- Bắt tụi nó! Chạy theo bắt tụi nó!
Tôi hốt hoảng chạy ra tiền đình nhà thờ. Chưa tới nơi đã có tiếng các bà thảng thốt:
- Mỵ Lan bị bắn rồi!
- Họ bắn chết Mỵ Lan rồi!
Khi tôi ra đến nơi thì thấy nàng nằm sấp, máu đỏ thắm từ cổ chảy ra thành dòng. Mỵ Lan bất động trong y phục áo sơ-mi trắng quần đen, trông thật hiền lành, thanh thoát đến tội nghiệp.
Tôi sững sờ trong lúc mọi người cố gắng đưa nàng đến bệnh viện nhỏ trong thị trấn để may ra còn cứu vớt được gì. Nhưng nàng đã ra đi vĩnh viễn.
Mọi người đồn đại nhau rằng thấy hai người mặc quân phục, họ đoán là lính ông thiếu tá Dẻo, một tiểu đoàn trưởng ăn chơi và khát máu, ra tay thanh toán Mỵ Lan do nguyên cớ gì đó bí ẩn. Chỉ có mình tôi là biết rõ sự việc: chồng nàng, tay thiếu tá người Campuchia, đã sai đàn em vượt biên giới đến giết nàng do nàng không chịu trở về Campuchia để quay lại sống với hắn ta.
Mỵ Lan chết thật đau thương làm tôi nhớ mãi. Cuộc tình chớm nở rồi nhanh chóng tiêu tan. Tuy nhiên ở một góc độ khác mà xét, nếu Mỵ Lan còn sống, liệu tôi có thoát ra khỏi sự cám dỗ mà cha sở Luca đã thoát ra một cách anh dũng không? Tôi là một tay mơ, mới lớn, non nớt, háo thắng, lãng mạn và ướt át, nếu không có sự kiện đau lòng kia chắc tôi đại bại và mất trắng trong cơn cám dỗ ngọt ngào kia.
Ngẫm nghĩ lại, không có tuổi nào, không có chức vụ nào, không có bậc nào và chắc chắn không có ai trong loài người không luôn bị nguy cơ của những cơn cám dỗ rình rập, không bị những cơn cám dỗ công khai thì bị những cơn cám dỗ thầm kín tấn công, và cũng chẳng ai dám tự hào mình đủ mạnh để chiến thắng nếu không có ơn Chúa trợ lực.
Tôi tự rút cho mình một bài học: từ nay không nhanh mồm lẹ miệng khuyên người này, nhủ người khác, chỉ khi nào ai xin ý kiến tôi mới dám thận trọng thử đưa ra lời đề nghị.

Sun Ming
  • Số bài : 367
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 02.05.2026 10:35:47
Kỳ 29
 
Long Thạnh ngày càng đúng với câu “đất bằng dậy sóng” của người xưa khi nói về chiến tranh, tai ương, tang tóc bỗng xảy ra cho một vùng đất, những cơn pháo kích ngày càng không còn quy luật gì nữa -trước đây mỗi khi tiểu đoàn của ông thiếu tá Dẻo tàn độc hành quân qua biên giới, nói là hành quân thực ra giết người cướp của, trở về, lập tức Long Thạnh hứng chịu một đợt pháo kích dữ dội vào ban đêm ngay sau đó; nay quy luật đó không còn nữa- pháo kích ngày lẫn đêm không rõ lý do, làm người dân phải gánh chịu tai ương với biết bao thương đau tang tóc.
Một sáng sớm kia sau một đêm tàn khốc vì pháo kích, tôi đến nhà thờ vào lúc bốn giờ rưỡi như thường lệ. Mở cửa nhà thờ bước vào, chân tôi đạp phải rất nhiều mảnh vụn gì đó dưới chân, đoán mãi cũng không biết đó là những gì và tại sao. Tôi mò mẫm lên đến bàn thờ trên cung thánh, bật diêm châm nến. Tôi hãi hùng khi thấy cảnh tượng đổ nát khắp nơi, bàn ghế bị gãy đổ, sàn nhà la liệt mảnh vụn nào của vụn gỗ, nào của mảnh tôle, nào của bê-tông, thậm chí của cả sắt thép. Tôi nhìn lên, nóc nhà thờ bị xé toang đến trống lơ trống lốc. Thì ra đêm vừa qua đạn pháo kích trúng ngay giữa nhà thờ.
Giáo dân giáo xứ Long Thạnh đa số rất nghèo, từ Campuchia hồi hương, cắm dùi trên phần đất hoang sát bờ sông biên giới, che những căn nhà thô sơ hay những nơi ở nửa nhà nửa lều, vậy thì làm thế nào để có thể tránh đạn pháo kích! Tìm hiểu tôi mới biết thực trạng đau lòng, mỗi khi có pháo kích, cả gia đình nhảy ùm xuống sông, khi nghe tiếng đạn rít bay trên đầu, người ta hụp xuống nước, khi nghe hoặc đoán chừng đạn nổ xong thì trồi đầu lên. Cứ hễ khi nào có pháo kích người ta đều làm vậy cho nên sáng ra khi dạy học, tôi thấy nhiều em học trò lớn nhỏ của tôi mắt đỏ lừ vì phải lặn hụp dưới nước nhiều lần, mỗi lần nhiều giờ trong một đêm; hoặc các em đi học phải cởi trần vì không còn áo khô mặc.
Nạn pháo kích bừa bãi cũng làm tôi thoát chết một lần.
Một buổi trưa tôi vừa dạy học xong thì pháo kích ập đến. Tôi và các em học sinh như thói quen cũ, chạy vảo nhà thờ trú ẩn; thầy trò vừa nấp dọc theo bức tường nhà thờ vừa đọc kinh to tiếng xin Đức Mẹ Phù hộ Các Giáo hữu, quan thầy của nhà thờ, cứu cho tai qua nạn khỏi. Sau khi cơn pháo kích ngưng độ vài giờ, có người do cô mụ Bảy sai đến gọi tôi về nhà bảo sanh, nơi tôi ở trọ. Về đến nơi tôi thất kinh vì nhìn thấy căn phòng trên gác trọ của tôi tan nát đến không còn gì nguyên vẹn. Tôi sững sờ nhìn chiếc áo sơ-mi mới má tôi vừa sắm cho tháng trước còn đang xếp cất trong chiếc túi Air France, lỗ chỗ có đến vài ba chục lỗ thủng, tôi thầm nghĩ nếu mình đang ở phòng trọ lúc đó có lẽ cũng nát như chiếc áo sơ-mi thôi. Lúc đó tôi chỉ còn theo phản xạ tự nhiên làm dấu thánh giá tạ ơn Chúa rồi mau mau đi về nhà thờ.
Dân ở vùng này thường có câu nói cửa miệng: “Đạn tránh người chứ người làm sao tránh đạn”. Chính vì thái độ chấp nhận và cam chịu đó, nên người ta dần trở nên chai đá trước những cái chết thương tâm do đạn pháo kích gây ra, thường khi dứt tiếng pháo kích, xong đâu đó việc cứu hộ, người ta lại lao vào tất bật làm ăn sinh sống, coi như pháo kích là một phần trong chương trình sinh hoạt hằng ngày của họ. Tôi thì không được như họ, cứ sống trong trạng thái phập phồng lo sợ, và mỗi khi có người trong họ đạo chết hay bị thương tật vì đạn pháo kích, tôi lại xót xa thương cảm khó nguôi. Tôi biết rõ bản thân mình lắm! Không thể nào quen được với những đau thương tang tóc cứ liên tiếp diễn ra hoài hoài; chính tính đa cảm lại là một nỗi khổ nữa đeo bám tôi suốt năm giúp xứ này.
Chính sự đa cảm mà tôi đau khổ với câu chuyện sau đây rất lâu.
Trong xứ đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Long Thạnh do tôi lập ra tại đây, có một gia cảnh rất đáng thương, đó là hai chị em ruột trong đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Long Thạnh, cô bé lớn mười sáu tuổi tên Đào, cô bé nhỏ mười hai tuổi tên Lan. Hai cô gái rất hồn nhiên vô tư và gương mặt bầu bĩnh dễ thương. Cả hai cô bé, nếu không ai nói thì không biết, có gia cảnh rất khổ: mẹ bỏ đi để lại ba cha con từ rất lâu, người cha lớn tuổi yếu đau bệnh hoạn triền miên nên làm lụng vất vả cho lắm cũng không đủ ngày hai bữa cơm. Các em phải phụ giúp cha ngày ngày sang vùng đất Campuchia nằm sát sông biên giới để làm cỏ lúa hay cỏ rẫy thuê.
Như mọi hôm, hai em đang làm cỏ với nhiều người, pháo kích bất ngờ xảy ra. Theo kinh nghiệm dân gian, xưa nay đạn pháo kích không bao giờ rơi lặp lại đúng một chỗ hai lần. Vì ở giữa cánh đồng mênh mông trống trải không có chỗ nấp, nên khi quả đạn pháo kích trước vừa rơi xuống, nổ toang đào một hố to, những người làm cỏ thường nhảy xuống hố đó để bình an tránh đạn. Vậy mà đối với hai em Đào và Lan cái xưa nay ấy lại không xảy ra. Vừa thấy quả đạn trước nổ xong, hai chị em nhảy xuống hố đạn để nấp, lập tức quả thứ hai rơi ngay vào chỗ cũ. Hai em chết tan thây không có lấy một mảnh vụn của thân thể.
Chuyện về pháo kích ở giáo xứ Long Thạnh còn nhiều, không thể kể hết những nỗi bi thương của giáo dân họ đạo.
Vì nhà thờ nằm ngay ngã ba đường, trước nhà thờ có sân tương đối rộng, nhà thờ lại chẳng có cổng, ai muốn ra vào đều tự do thoải mái, nên mỗi lần lính ông Dẻo đi hành quân hay quân đội đụng độ ở đâu đó, những xác chết vô thừa nhận đều đem về đặt ngay trong sân trước cửa nhà thờ. Chuyện này có từ trước khi tôi về đây. Tôi không phản đối, các ông Biện lại cũng thương người, nên nhà thờ thường phải lo việc tống táng các xác chết do lính mang tới, lâu ngày trở thành chuyện bình thường.
Nhưng như thế thì kéo theo nhiều chuyện khó tin.
Một hôm đang nghỉ trưa ở nhà sàn nhỏ bé ở cuối sân nằm cạnh nhà thờ, tôi nghe tiếng ồn lớn giống như ai đó đang sắp xếp lại những băng ghế ngồi trong nhà thờ. Ngạc nhiên hồi lâu, tôi đi ra nhà thờ để xem ai sắp xếp ghế và sắp xếp để làm gì. Nhưng khi ra đến nơi, tôi không thấy ai, mà ghế thì cũng còn nguyên vị trí cũ, không hề có một xê dịch nhỏ.
Nhiều chuyện xảy ra lắm lắm, nhưng tôi chỉ kể thêm một chuyện nhỏ nữa.
Một buổi sáng tôi đến nhà thờ vào sáng sớm như thường lệ, cả thị trấn còn chìm trong lệnh giới nghiêm thường xuyên -thời này người ta còn tôn trọng bóng áo dòng, nên tôi được đi đứng tự do không bị ai tra hỏi hay ngăn cấm- đường xá vắng tanh, trời mờ mờ trăng, ngoài ra không có một chút ánh sáng vì ở thị trấn heo hút này không có đèn đường, vừa đến cổng nhà thờ nhìn vào tôi thấy nhiều người đi qua đi lại trước cửa nhà thờ, tôi nghĩ đó là những người lính gác muốn vào nhà thờ nghỉ ngơi. Nhưng không, tôi đứng lại tường rào nhìn vào cho kỹ thì nhận ra không ai có gương mặt cả, hình như chỗ lẽ ra là gương mặt thì không có mắt, mũi, miệng… Tôi kinh hãi, chạy vội qua ông Biện Chắc nhà gần đó, đánh thức ông dậy. Khi cả hai đi đến nơi thì không còn ai ở đó nữa.
Chính vì có nhiều chuyện lạ, nên giáo dân Long Thạnh không ai dám đến nhà thờ một mình vào mỗi sáng nếu tôi chưa đánh trống và đốt đèn trong nhà thờ; hoặc chẳng ai dám bén mảng đến khu vực nhà thờ mỗi khi chiều xuống cho đến đêm hôm. Có người còn nghe tiếng đọc kinh cầu râm ran thưa đáp trong nhà thờ lúc vắng người vào các buổi trưa. Người khác nghe tiếng khóc, Người khác kể thấy bóng người ngồi ủ rũ ở trước nhà thờ thường xuyên.
Nói chung, tất cả gợi lên trong tôi những sợ hãi, nhưng tôi nghĩ mình không được phép sợ, mà phải kiên vững để mọi người dựa vào.
Còn đang sống trong tình trạng căng thẳng và sợ hãi thì cha sở Chân Phúc cho thợ đến cất nhà xứ cho tôi ở, để khỏi phải ở nhà bảo sanh đã trở nên quá nguy hiểm.
Nghe tin đó tôi rụng rời cả tay chân vì nghĩ rằng sẽ phải về ở chung với các hồn ma. Nhưng tôi không dám hé răng một lời để xin cha sở từ bỏ kế hoạch.
Ngôi nhà xứ dính liền với lớp học, cả hai được xây dựng nhẹ nhàng bằng chất liệu gỗ và tôle dựng trên nền xi-măng, hợp với môi trường địa ốc của dân cư trong vùng. Nhà xây xong, tôi cắn răng để đè nén sự sợ hãi và dọn đến ở.
Tuy nhiên, từ khi tôi về ở tại nhà xứ mới, khu nhà thờ dần hết hoang vắng, vì giáo dân bạo dạn tới lui để thăm nom, chuyện vãn, biếu tặng thức ăn, hay giúp đỡ chút ít… nhất là từ chiều cho đến tối mỗi ngày, họ đến và ở chơi cho đến tận giờ giới nghiêm mới ra về, khu nhà thờ trở nên nhộn nhịp và vui vẻ, mất hẳn không khí ảm đạm, buồn bã và ghê rợn như trước đây. Cũng nhờ có tôi ở, người ta không còn dám đem xác người về bỏ mặc tại sân nhà thờ nữa. Tôi lại còn tổ chức cầu nguyện cho những vong linh đã từng được đặt nằm ở sân nhà thờ, tối tổ chức nhiều buổi cầu nguyện, tổ chức rước kiệu, làm Giờ Thánh, Đi đàng Thánh giá, tổ chức hội họp, sinh hoạt, cắm trại, đốt lửa trại, văn nghệ nhỏ cho Thiếu Nhi Thánh Thể, ca đoàn… nói chung, thanh niên, thiếu nữ, người lớn, trẻ em nhộn nhịp ca hát nhảy múa vui đùa khiến bên trong ngôi nhà thờ ngày trở nên chốn thờ phượng linh thiêng, ngoài sân nhà thờ và lớp học trở nên chốn “nhà chung” ấm áp tình thương xua đuổi những tà khí trước đây hằng lẩn khuất. Tôi học được những gì trong những tháng ngày ở cạnh cha Luca, giờ đem ra áp dụng.
Khi tôi về kể hết mọi chuyện cho cha Luca nghe, cha rất tán thành và dạy tôi thêm nhiều ý rất hay. Cha kể chuyện thêm:
Một hôm Ông Lực Lượng đến xưng tội, ông nói:
- Loài người các ông miệng thì nói tin Chúa, nhưng đều nói dối.
Tôi hỏi:
- Tại sao Ông nói vậy? Giáo dân các nơi vẫn đông đúc kéo nhau đến nhà thờ để thờ phượng Chúa đó thôi!
Ông Lực Lượng nhún vai:
- Đâu phải hễ đến nhà thờ là tin Chúa! Đó chẳng qua chỉ là nghe nhau mà đi, tin nhau mà làm, truyền thống, tập tục, nề nếp thúc đẩy, thói quen dẫn dắt, ấn tượng xui khiến, óc bầy đàn và tính tập thể lôi cuốn… Thực tế người ta vẫn còn tin nghe ma quỷ Chúng ta, nể sợ Chúng ta, thậm chí có người nói tin Chúa nhưng tin Chúng ta, chạy theo Chúng ta...
Tôi hỏi:
- Cho nên Các Ông mới làm ma làm quỷ hù nhát dọa nạt người ta để hòng gây sự tin tưởng hơn tin tưởng Chúa chớ gì?
Ông Lực Lượng đáp:
- Phải! Nhưng cũng có phần của loài người tin Chúa không vững; phần của các oan hồn. Các oan hồn là những người cướp quyền Chúa mà tự sát, hoặc là những người bị sát hại cách oan tủi, những người chưa tới giờ Chúa định mà bị chết oan… họ tìm cách nhắc mọi người nhớ đến họ nên quấy phá một số nơi, tạo những hiện tượng kỳ quặc gây sợ hãi, hoặc một số oan hồn xấu trở thành những âm binh, tức tay sai cho các thầy bùa thầy pháp… giúp đỡ những ai cầu đến họ…
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Vậy là có cả một thế giới bóng tối áp đảo con người, khiến nhiều người nói tin Chúa nhưng không theo Chúa phải vậy không?
Ông Lực Lượng tiếp lời:
- Và đó là cả một kế hoạch của Chúng ta. Con người không thắng nổi Chúng ta đâu! Vì con người vẫn còn tin tưởng Chúng ta lắm! Ông không tin à? Rồi ông sẽ thấy.   
Sau đó mấy ngày, tôi nghe vài ông Biện ông Giáp kể lại, một người giáo dân trong họ đạo An Biên mắc bệnh lạ, bụng to, thân mình gầy nhom, đau đớn, không ăn không uống bao nhiêu nhưng vẫn sống lây lất; đặc biệt hàng đêm có những cơn ho như chó tru kéo dài. Sau khi đi bệnh viện khám chữa tìm hoài vẫn không biết bệnh gì, người ta đã đưa ông ta lên gặp một ông thầy bùa ở vùng Châu Giang, cách Châu Đốc một con sông, ở đó là nơi quần tụ những người thuộc dân tộc Chăm sinh sống. Tại nhà ông thầy bùa, người ta kể bệnh nhân đã được định bệnh bị thư ếm và cho uống một thứ thuốc nước, một giờ đồng hồ sau, bệnh nhân nôn ói ra một búi tóc đen to, những chiếc đinh dài nhọn hoắc và vài thứ vật dụng khác.
Về nhà mọi người kinh ngạc và tin tưởng ông thầy bùa ở Châu Giang tuyệt đối. Các ông Biện ông Giáp còn kể, đó không phải là trường hợp duy nhất đi lên thầy bà ở Châu Giang, trong giáo xứ An Biên từ lâu đã có nhiều người đi lên đi về nườm nượp trên đó để chữa bệnh, mở bùa, coi vận mạng thậm chí thư thuốc làm hại người khác.
Cha Luca dặn tôi:
- Bất kỳ lúc nào phải tin tưởng Chúa tuyệt đối. Niềm tin mạnh sẽ làm cho ma quỷ phải kiêng dè. Tin ai, người đó sẽ đến trợ giúp... nghe thầy!

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 48 bài trong đề mục