Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu

Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 31 đến 57 trên tổng số 57 bài trong đề mục
Tác giả Bài
Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 02.05.2026 20:40:34
Kỳ 30
 
Trở về giáo xứ An Biên trong một dịp cấm phòng cuối năm, cha sở Luca bảo tôi nghỉ lại một đêm. Cũng sẵn đã muốn như thế để có cơ hội xin cha dạy nhiều điều tôi đang thắc mắc, tôi vâng lời ngay.
Cơm tối xong tôi vào phòng cha. Như thường lệ, cha con bắc ghế ngồi bên nhau hàn huyên như một người cha và một người con chia nhau tâm sự.
Tôi kể cha nghe một câu chuyện mà tôi cho là khó hiểu để xin cha giải thích hoặc cho vài ý kiến để đối phó. Tôi kể:
- Ở Long Thạnh có một giáo phái rất lạ. Cái lạ trước nhất là mỗi tháng tín đồ tụ họp nhau lại vào đêm trăng rằm ở một đền thờ là ngôi nhà bát giác, che chắn bít bùng kín mít như một kho lương thực. Cái lạ tiếp theo là tại đó họ quây quần xung quanh một bàn thờ tròn lớn bằng xi măng ở giữa phủ nhung đỏ, trên bàn thờ đặt một tô sành rất lớn chứa đầy máu tươi của khi thì bò, khi thì trâu, dê hay heo hoặc gà, vịt. Điều lạ nữa là họ thờ một vị thần tướng mạo mặt mũi trông rất dữ tợn và hung ác, ăn mặc như các mãnh tướng trong các tuồng cổ, một tay cầm kích, một tay cầm hình nhân một con người đang oằn oại đau đớn. Vị mãnh tướng đứng nghênh ngang trông rất uy dũng tên là Đức Thượng Thiên Hoằng Vĩ, họ cho là còn cao hơn Đức Chúa Giêsu của ta. Một điểm lạ khác, theo con dò hỏi, giáo lý của họ là diệt kẻ ác và điều ác bằng sự thịnh nộ, độc dữ và quyết liệt nhất; tín đồ nào diệt được nhiều người ác và nhiều sự ác sẽ được thăng thiên sau khi chết.
Cha sở Luca hỏi:
- Giáo phái này tên gì và có đông tín đồ không?
- Thưa cha, giáo phái đó tên là Tam Không, chủ trương “không người ác, không điều ác và không ý nghĩ ác”. Giáo phái có khoảng vài ngàn tín đồ chỉ tính riêng tại Long Thạnh, ở nơi khác có không và có bao nhiêu tín đồ thì con không được biết, nhưng hầu hết tín đồ người nào cũng có vẻ gì đó đằng đằng xác tín, khích khí sùng đạo… cứ xem họ uống máu sống một cách tự nhiên, ngon lành, không biết sợ… thì hiểu ngay họ không đùa khi theo đạo.
Tôi xin phép kể thêm về một số điểm đặc biệt của giáo phái này cho cha Luca rõ trước khi đi hỏi ý kiến của cha:
- Về mặt tổ chức, họ có nhiều điểm giống Công giáo, ví dụ thứ nhất họ có một vị Cao Pháp sư đứng đầu gọi là Pháp chủ Tối cao với quyền bính tuyệt đối như đức giáo hoàng bên ta. Ví dụ thứ hai là bên dưới vị Cao Pháp sư là cả một hệ thống gồm cấp đạo sư, cấp đạo sĩ và cấp học sĩ so như giáo sĩ và tu sĩ của ta, giới này không khác gì giới quý tộc, hưởng rất nhiều quyền lợi, ngày này qua ngày khác cứ ở không chẳng hề lao động, sản xuất… mà vẫn cứ được hưởng thụ đầy tràn, đã vậy lại còn được “ăn trên ngồi trốc”, được các tín đồ cung phụng hết chỗ nói, “phán” ra điều gì mọi tín đồ đều phải răm rắp vâng nghe… chính bởi vì thế mà giới quý tộc này -để bảo vệ quyền lợi quá to lớn của mình- đâm ra bảo vệ đạo giáo một cách điên cuồng đến không ngại đổ máu. Bên dưới giới này là tín đồ. Ví dụ thứ ba là ngoài những Đại lễ Trăng Rằm mỗi tháng một lần, họ còn tụ họp riêng từng nhóm gọi là Hộ lề mỗi tuần một lần, Khẩu lề mỗi ngày một lần, để trông nom, củng cố và giám sát tín đồ thật chặt chẽ. Ví dụ thứ tư là việc dâng cúng tuy không bị luật lệ bắt buộc, nhưng phương pháp khuyến khích, hô hào, cổ võ, tuyên truyền, xách động, khuyên nhủ… rất khôn ngoan khéo léo đã khiến tín đồ ồ ạt dâng cúng hàng bao nhiêu đất ruộng, đất vườn, nhà cửa, tài sản, tiền bạc… không chút tiếc xót. Ví dụ thứ năm là họ truyền đạo bằng phương thức rất thông minh, tức chung nhất và có hệ thống, họ dùng sự kín ẩn để gợi tính tò mò. Nói chung, giáo phái này tổ chức rất chặt chẽ, khôn ngoan và quy củ, chứng tỏ người sáng lập hẳn phải là người từ ở trong đạo Công giáo bước ra.
Tôi bước vào chuyện chính, tức xin lời dạy của cha Luca:
- Lần họp mặt tất cả các tôn giáo vùng Long Thạnh tại một ngôi chùa lớn, trong giờ họp và ăn trưa, con được ngồi cạnh một vị đạo sư trẻ của Tam Không giáo, diện mạo nghiêm trang và quyết đoán. Ông ta kết bạn và sau đó lui tới thăm con nhiều lần. Ông ta thay mặt các đạo sư cao cấp mời con đến thăm viếng và tham dự các nghi lễ của Tam Không giáo. Con có đến dự đôi ba lần, con quan sát, tìm hiểu và đã vừa trình bày cha rõ như trên. Họ rất quý con, tuy vậy cho đến nay con vẫn chưa được diện kiến vị Pháp chủ Tối cao của Tam Không giáo, và hình như họ đang cố gắng chiêu mộ con vào đạo của họ. Con xin cha cho con lời khuyên nên tiếp tục mối bang giao với họ hay nên cắt đứt.
Cha Luca từ đầu đã rất chăm chú lắng nghe mọi điều tôi nói. Ngài hỏi:
- Con có cảm giác thế nào mỗi khi đến tham dự nghi lễ của họ?
Tôi suy nghĩ một lúc rồi thưa:
- Thưa cha, con cảm thấy rờn rợn và có điều gì làm con hơi sợ hãi.
Cha Luca nói:
- Nghi lễ thờ phượng và tế tự là nơi phản chiếu tình trạng đức tin, tinh thần, giáo lý, lẫn văn hóa của một tôn giáo. Nếu nghi lễ của họ gây cho con một cảm giác như vậy, thì việc đầu tiên con không nên tham dự các nghi lễ của họ nữa, dù chỉ dự khán bàng quan.
Không đợi tôi hỏi, ngài nói tiếp:
- Còn mối bang giao, nếu thấy không cần thiết, con nên nhạt dần rồi cắt đứt. Nhất thiết đừng cho họ nuôi hy vọng sẽ thuyết phục con theo đạo.
Tôi hứa sẽ vâng theo lời khuyên của cha. Cha Luca kể chuyện.

Lần kia Ông Lực Lượng vào xưng tội, Ông nói:
- Chúng ta có thể tự biến mình thành những thiên thần chói lọi ánh sáng để lừa dối nhân loại huống hồ gì thành lập một vài tôn giáo, núp trong giáo sĩ, nhà tu đức, chuyên gia thần học, hoặc đưa ra những giáo thuyết xuất chúng, vẽ ra những lý tưởng mới lạ và hấp dẫn.
Vừa nghe xong tôi bắt giật mình ngạc nhiên, vì trí tôi lâu nay vẫn đơn sơ nghĩ rằng ma quỷ chỉ làm những chuyện xấu xa, đưa ra những cám dỗ nhãn tiền, nấp trong những kẻ thủ ác và độc hiểm… chớ đâu ngờ rằng ma quỷ có thể hóa trang thành những thiên thần sáng chói. Nếu đã cải trang thành những thiên thần sáng chói còn được, thì thử hỏi ma quỷ làm gì không dám ở trong giám mục, linh mục, tu sĩ, người thánh thiện đạo đức, kẻ danh giá đạo mạo… nào đó! Tôi kêu lên:
- Chết cha! Như vậy Các Ông đã gây hỗn loạn trên trái đất này hết rồi! Còn có gì đáng tin nữa hay nói đúng ra phải tỉnh táo sao đây để dò cho ra những gì của Các Ông và những gì không do Các Ông!
Ông Lực Lượng vừa xoa xoa cằm khoái chí vừa cười cười một cách nham hiểm:
- Chớ ông muốn Chúng ta phải như thế nào? Khờ khạo như loài người các ông ư? Không! Gây hỗn loạn, tạo “giả lộng thành chân”, gây hoang mang, ảo tưởng, nghi ngờ… là việc của Chúng ta. Loài người các ông sẽ ngày càng cực kỳ hoang mang, ngờ vực, lẫn lộn và nhầm lẫn. Sao Chúng ta có thể ngồi yên để cho loài người các ông thế chỗ của Chúng ta ở trên thiên đàng chứ? Chúng ta cố hết sức để một ngày nào đó nhân loại các người sẽ không còn đức tin nữa, Hãy nhớ lại Ông Chúa Giêsu đã nói: “Khi Con Người đến, liệu có tìm được đức tin trên mặt đất này hay không?”(*)
Tôi nhớ trong Phúc âm có câu đó, cho nên tôi chỉ biết thở dài, không còn biết nói thêm gì nữa. Ông Lực Lượng thấy tôi sợ hãi nên nói thêm:
- Chúng ta long trọng báo trước cho các người… Nói tới đây Ông ta thở dài và lắc đầu làm ra vẻ chán nản vì thương xót dòng giống loài người: - … Và cho dù có báo trước thế nào đi nữa, nhưng vì loài người các ông là thứ động vật đần độn mà lại hay tự phụ, nên lời cảnh báo có nghiêm trọng mấy cũng sẽ chẳng ăn thua gì đâu!... Chúng ta báo trước rằng Chúng ta sẽ còn làm nhiều điều gây hỗn loạn, gây hoang mang, gây vọng tưởng, gây ngờ vực và gây lầm lẫn… đến nỗi trí óc non nớt của các người không thể tưởng tượng ra nổi. Chúng ta đùa giỡn các người như ông chủ đùa giỡn với chó con khờ dại.
Từ ngày nói chuyện với Ông Lực Lượng, dù vẫn xác tín loài người là loài duy nhất được Chúa yêu thương tạo dựng giống hình ảnh Chúa và được Chúa đích thân xuống thế cứu chuộc v.v… nhưng tôi không còn cái tính tự phụ rằng loài người thông minh, khôn ngoan, thông suốt nữa. Cho nên khi Ông Lực Lượng tỏ vẻ miệt thị loài người, tôi cũng không thấy nổi giận trong lòng như lúc đầu mới trò chuyện với Ông ta… Tuy nhiên tôi cũng trả đũa lại Ông ta:
- Triết gia Seneca nói: “Errare humanum est; perseverare diabolicum”: Loài người hay sai lầm, quỷ dữ hay cố chấp. Chúng tôi ngu xuẩn thì đã nói, nhưng chúng tôi là loài hiền lành, khiêm tốn. Vì sao? Vì chúng tôi biết sửa sai sau đó, nghĩa là nếu phát hiện mình đi sai đường, chúng tôi biết quay đầu lại, đó là điều khiến Chúa thương chúng tôi. Còn Các Ông, đã sai thì sai luôn, đã đi lầm đường thì cứ lầm cho đến lúc phải diệt vong. Thưa Ông! Đằng nào tốt?
Tôi trưng ngạn ngữ Latin, lạy Chúa! Ông Lực Lượng cũng không chịu thua, xổ liền một tràng:
- Kịch tác gia Titus Maccius Plautus cũng nói: “Homo homini lupus est”, con người là chó sói của con người. Hai con chó đang quấn quít với nhau vui vẻ, thử ai ném xuống một cục xương, lập tức chúng sẽ quay ra hung hãn đối đầu, cắn xé nhau không thương xót để giành giật cục xương. Con người các ông không hề khác chút xíu nào! Quyền lợi, danh vọng, địa vị, lợi lộc, tiền bạc thậm chí cả phụ nữ… như những cục xương, có thể khiến các người nổ ra chiến tranh, chém giết hàng loạt, trừ khử và tru diệt lẫn nhau tàn nhẫn đến không còn chút tình người bằng mọi cách. Các ông có hơn gì những con chó!
Tôi bắt đầu bí. Ông ta không để tôi thua trong bình an:
- “Homines quod volunt credunt”. Julius Caesar, lãnh tụ quân sự và chính trị của người Rôma còn bảo như thế, nghĩa là con người tin điều gì họ muốn. Để phá cho hư nát cả nhân loại, Chúng ta tận dụng khai thác hai điểm này, ông nghe cho rõ! Một là Đạo Công giáo do Ông Chúa Giêsu đem xuống, là đạo đúng, đạo thật. Nhưng được bao nhiêu người nhận biết và đi theo? Đó! Nhân loại các người còn lập ra hàng trăm thứ đạo khác cho lẫn lộn thật giả. Sự ngu muội đó đã đánh đồng đạo Chúa với các thứ đạo lôm côm khác, khiến nhân loại lùng nhùng biết đâu mà phân tỏ. Hai là ngay giữa lòng Công giáo, chính người của các ông còn dựng lên hàng trăm điều buộc giáo dân phải tin, phải giữ, trong khi Ông Chúa Giêsu bảo: “Ách của Ta êm ái, gánh của Ta nhẹ nhàng”(**). Chế ra đủ thứ lỉnh kỉnh phụ thuộc như thế vừa là vô tình chống lại Ông Chúa, vừa làm cho đạo thật vốn rất giản đơn nhẹ nhàng ngày càng trở nên tù mù, rối rắm như tà đạo khiến nhiều kẻ cho rằng đạo chỉ là một mớ mê tín dị đoan, là á phiện ru ngủ nhân tâm.
Tôi hỏi như tuyệt vọng:
- Chúa ơi! Các Ông đang dùng chính những người trong đạo để phá đạo, phải vậy không?
Ông Lực Lượng phá lên cười:
- Phải! Cứ đi nói cho giám mục của ông nghe, xem ông ấy có làm được gì không.
Không còn biết nói gì nữa, tôi âm ư trong miệng bài hát: “Này con là Đá, trên viên đá này Cha xây Giáo Hội muôn đời kiên trung. Này con là Đá: Sa-tan sức hùng, mưu ma vẫy vùng không hề chuyển rung”.
Ông Lực Lượng nhìn tôi với vẻ tức giận một lát rồi bỏ đi.

Bước ra khỏi câu chuyện, cha sở kết luận:
- Ngày xưa người ta thường nói: “Đạo nào cũng tốt, vì đạo nào cũng dạy con người làm lành, lánh dữ”. Ngày nay không thể nói như thế được! Lý do ngày càng có nhiều thứ đạo kỳ quái với giáo thuyết kinh dị như đạo Klu Klux Klan ở Mỹ chuyên đóng đinh người da đen trên thập giá; giáo phái Đa Thê ở Texas Mỹ, giáo phái Aum ở Nhật, giáo phái Scientology, giáo phái Satan ở Ý gồm các hệ phái “Kẻ dữ của quỷ Satan”, “Các trẻ em của Satan”, “Giáo Hội của Satan Torino”, “Huynh đoàn Lucifer”, “Hội Satan”, “Các con cái của Satan”, “Ierudole của thần Ishtar”, đạo thờ Thần Chết, Tam Ðiểm, Mormon… và còn nhiều nữa không thể kể hết.
Tôi lắng nghe không bỏ sót chi tiết nào, lòng thầm khâm phục cha sở. Cha không cho tôi suy nghĩ thêm, cảnh báo ngay rằng:
- Nhưng vậy đã nói! Ngay trong những tôn giáo lớn thuộc loại vạn niên đại thụ như Công giáo, Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo… vẫn chứa chấp tà giáo bên trong. Đó là những lý thuyết sai lạc được phủ lên bằng những từ ngữ rất kêu, những lối sống hưởng thụ, ích kỷ được khoác lên bằng những chiêu bài rất bóng bẩy, hãm hại nhau bằng vỏ bọc bác ái v.v… Đó chính là những tà đạo nằm trong chính đạo.
Ngài vỗ nhẹ vào vai tôi bảo:
- Ma quỷ thì luôn rình rập chực chờ, còn chúng ta thì vô tư sơ hở. Cái gì cảm thấy không có lợi con cứ tránh đi để khỏi mất giờ, tốn công, đã vậy còn hàm ẩn nhiều nguy cơ nữa.
Tôi về Long Thạnh, cắt đứt dần mối quan hệ với Tam Không giáo.
 
 
(*) Lc 18:8b
(**) Mt 11: 28-30
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.05.2026 02:39:51 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 06.05.2026 10:05:56
Lâu lâu xin nhắc lại: truyện vẫn đang đăng dài kỳ trên Nguyệt san Thánh nhạc Ngày nay phát hành trong nước VN. Quý bạn đọc nào muốn theo dõi thường trực xin xem xét việc mua báo dài hạn để ủng hộ.
 
Cá nhân tôi chỉ là 1 người đọc thường, nhưng nhận thấy nhóm làm Nguyệt san này có tâm huyết, nên mới có mong muốn tờ báo được lan tỏa rộng hơn trong cộng đồng.
 
Kỳ 31
 
Khoảng ba giờ trưa, đang đi thăm nhà một số giáo dân vừa bị trúng đạn pháo kích sáng nay, một số em Thiếu nhi Thánh thể ngành Thiếu chạy hộc tốc đến gặp tôi. Vừa thở hổn hển các em ấy vừa báo tin:
- Thưa thầy, có cha đến!
Tôi ngạc nhiên. Nhưng gạn hỏi mãi các em cũng chẳng cho biết thêm được điều gì khác ngoại trừ “ông cha đó già như cha sở Chân Phúc”.
Tôi vội thu xếp mọi việc và trở về nhà xứ; vừa đi bộ, vừa thầm đoán xem ai mà lại là linh mục, đã vậy còn lớn tuổi… linh mục lớn tuổi nào mà dám đến đây, trừ duy nhất cha sở Chân Phúc. Nhớ lại một lần vào lễ Giáng sinh, cha sở Chân Phúc cử cha phó trẻ, tức linh mục hiệu trưởng trung học, đến đây để dâng thánh lễ. Cứ xem cái dáng vẻ cập rập, bồn chồn, âu lo… cứ để ý thấy ngài chỉ giảng vài ba câu qua quýt, dâng thánh lễ vội vàng, lễ xong chỉ uống một vài ngụm nước chứ không kịp ăn uống chút gì, lật đật ra xe bao (xe thuê trọn gói) trở về thị xã Chân Phúc ngay lập tức sau đó… thì ai cũng dư biết ngài sợ cái giáo họ bất hạnh này, nơi luôn phải hứng chịu pháo kích liên lỉ, đến mức nào! Bởi vậy từ khi tôi đến đây, không hề có ai viếng thăm tôi mà chi. Nay bỗng nhiên có một người lớn tuổi không ngại đường xa khó đi, người đó lại là một linh mục không ngại mất giờ mất việc, thậm chí không sợ cả hiểm nguy rình rập từng giờ từng phút… đến với chúng tôi.
Vừa đi vừa suy nghĩ miên man, tôi đã về đến nơi lúc nào không biết.
Vừa vào sân nhà thờ, tôi “hết hồn” khi thấy cha sở Luca, dáng vẫn cao gầy, đang được một số giáo dân của tôi vây quanh. Chắc những người giáo dân nghèo khó và chất phác ấy còn mừng hơn cả tôi nữa vì bỗng chốc có được một vị khách quý chiếu cố đến thăm họ giữa một hoàn cảnh bi đát như thế này.
Tôi bắt tay cha mà nước mắt cứ trào ra không sao kiềm giữ lại được. Tôi vô cùng xúc động bởi nhiều lý do, không thể diễn tả hết nhiều lý do ấy được trong một lúc.
Tôi và số giáo dân hiện diện, vì mừng rỡ tột bậc, cố tìm ra mọi cách tốt nhất để đón tiếp cha sở Luca; nhưng càng cố gắng, càng luýnh quýnh đến tức cười. Thật thế, ước chừng cha sở đặt chân đến đây có cả gần một tiếng đồng hồ qua, vậy mà bây giờ mấy ông Biện mới đánh trống ầm vang và liên hồi để chào đón cha, hoặc có ý báo tin cho toàn họ đạo kẻ xa người gần để cùng nhau mừng vui và hãnh diện cũng nên. Chẳng bao lâu sau, giáo dân kéo đến đông nghịt đầy nhà đầy sân, các ông các cậu thì đứng ngồi vây chung quanh cha, các bà các cô thì lăng xăng người đi chợ, kẻ về nhà bắt gà làm thịt, người khác lo chuẩn bị bếp núc để làm tiệc, người thì quét dọn nhà cửa, có người còn chu đáo lo đi gánh nước từ con sông biên giới gần đó về đổ cho đầy hết các lu hũ trong nhà dưới, trẻ em dự phần bằng cách quấn quýt, chạy nhảy, cười đùa nô nức khắp nơi.
Ngay chiều hôm đó chúng tôi được cha Luca giải tội, dâng thánh lễ, đặc biệt hơn, còn cử hành bí tích xức dầu cho những người xấu số đang hấp hối vì trúng đạn pháo kích mới sáng nay.
Khuya rồi mà giáo dân vẫn còn nấn ná ở khu nhà thờ, không ai muốn về.

Những ngày cha Luca lưu lại ở đây coi như là những ngày hội của cả giáo họ, tôi cảm thấy vui và ấm cúng biết bao! Cha và tôi, cả hai không thể chuyện vãn vào lúc đêm về như những khi ở giáo xứ An Biên, vì chiều tối nào, giáo dân cũng tập họp chung quanh rồi ở lại mãi bên cha cho đến tận khuya, vì cha luôn vui vẻ hiền lành chứ không nghiêm nghị như các linh mục thời bấy giờ, vì cha cởi mở chứ không thận trọng giữ ý như các giáo sĩ tu sĩ thường thấy.
Tôi kể cha nghe đủ mọi chuyện, đưa cha đi xem từng ngõ ngách của giáo họ Thạnh Lộc. Tôi nghĩ, riêng đối với cha Luca, chỉ cần một lần đến đây thôi, cha sẽ biết tất cả những gì tôi trải qua; quả thật, cha tỏ ra rất thông cảm cho hoàn cảnh của tôi ở đây; cha nói rằng dù tôi mới chỉ đi giúp xứ, tức đi thử (*) thôi mà đã gặp gấp nhiều lần gian khổ hơn một số đông linh mục.
Thảm hại làm sao! Cha vừa mới nêu nhận xét vào ngày hôm trước, thì ngay ngày hôm sau đã xảy ra chuyện.
Đó là chuyện một em huynh trưởng trong xứ đoàn Thiếu nhi Thánh thể Thạnh Lộc tên Mai Lan, tuổi 16. Cha Mai Lan mất sớm, em hiện ở với mẹ là người có đạo và với một ông dượng ghẻ người ngoại đạo; ông dượng ghẻ này lại đang là phó xã trưởng xã Thạnh Lộc. Dượng ghẻ có tà tâm nên luôn tìm mọi cách để chiếm đoạt em cho bằng được. Vì kháng cự kịch liệt mà em luôn bị dượng ghẻ trút giận bằng mọi cách hiểm độc và phi lý có thể.
Chuyện không dừng ở đó. Mai Lan rất nhiệt tình trong sinh hoạt Thiếu nhi Thánh Thể, nên ông dượng ghẻ đâm ra thù ghét nhà thờ, thù ghét Thiếu nhi Thánh thể, nhưng người mà ông thù ghét nhất là tôi - Mai Lan nhiều lần tỏ cho tôi biết như thế. Rất nhiều lần mượn rượu, ông dượng ghẻ của Mai Lan đã đến đứng trước nhà thờ và chửi tôi bằng những lời lẽ rất tục tĩu, chứa biết bao là sự vu khống nhơ bẩn. Do ông ta đang giữ chức vụ phó xã trưởng, nên chẳng ai trong họ đạo – toàn là dân hồi hương từ Campuchia - dám lên tiếng phản đối hay khuyên can; thấy vậy tôi cũng cứ một mực nhịn thua không dám tỏ thái độ gì.
Hôm đó là ngày thứ ba kể từ khi cha sở Luca đến thăm, đang giờ nghỉ trưa, bỗng ông Đức, dượng ghẻ của Mai Lan xuất hiện. Ông đến trước nhà thờ lớn tiếng chửi tôi như những lần trước; tuy nhiên, lần này, có lẽ ông ta uống nhiều rượu hơn lại còn mang theo một khẩu súng ngắn, cho nên sau một hồi chửi bới không thấy đã tức, ông ta rút súng xông vào nhà xứ tìm tôi.
Thời buổi loạn lạc này mạng sống của người dân ở vùng biên giới rất bị coi rẻ; kẻ có súng là kẻ có quyền trên tất cả; vả lại giáo dân là những người dân địa phương mà còn sợ hãi huống chi tôi là kẻ từ xa đến tạm ngụ trong mảnh đất quá dữ dằn này; đồng thời ở vùng biên giới giặc giã, cướp bóc và hỗn loạn như thế này những người có quyền, nhiều khi chỉ vì một cơn nóng giận, có thể dễ dàng bắn chết một người dân, xong đâu đó chỉ cần chụp lên nạn nhân một cái mũ gì đó là êm chuyện… Có lẽ biết hết những điều đó nên cha Luca bảo tôi:
- Thầy lánh mặt mau lên!
Tôi nhanh chân chạy vào nấp dưới chân cây thánh giá to cạnh bàn thờ, tai vẫn tiếp tục lắng nghe, trí vẫn lượng định trù tính xem sẽ phải chạy đi đâu tiếp theo nếu ông ta xông vào tận nơi đây. Đã vậy tôi lại còn hơi lo lắng cho cha Luca. Nhưng rồi chợt nghĩ, hình như cha không tỏ vẻ gì là lo sợ. Và thế là tôi tạm yên tâm.
Thông thường giọng nói ông dượng ghẻ của Mai Lan đã rất to và ồm oàm xứng với tướng mạo cao to vạm vỡ như đức hộ pháp của ông, giờ đây giọng nói khiếp khủng ấy lại đang luôn la hét thô tục, tru tréo ghê rợn và kèm theo cả nghiến răng, kêu tên tôi để rủa xả:
- Đ.m. thằng thầy đâu rồi? Đ.m. mày trốn hả! Đ.m. hôm nay mày tận số rồi! Tao bắn nát đầu mày cho coi!...
Miệng thì la hét vang dậy cả một vùng, tay thì lên đạn khẩu súng ngắn rôm rốp nghe phát rợn người. Chưa hết, ông ta lại còn bắn hai ba phát súng chỉ thiên cho tôi thêm hoảng sợ. Tôi biết lúc này giáo dân của tôi chỉ có nước trà trộn vào đám đông tụ tập trước cửa nhà thờ, hồi hộp đứng nhìn thôi, chứ chẳng có ai dám đứng ra lên tiếng bênh vực tôi đâu.
Nhưng không gian bỗng im bặt.

Khoảng năm ba phút sau tôi nghe tiếng cha sở Luca gọi:
- Thầy ơi!... Thầy ơi!... Ra phòng khách uống nước!
Nghe cha sở Luca gọi, tôi mừng rỡ, cảm thấy vững tâm nên liền rời cung thánh và ra ngoài phòng khách với cha. Cha Luca nói với tôi:
- Ông ta về nãy giờ rồi!
Thở ra một hơi dài tỏ vẻ thật buồn, cha Luca hỏi:
- Chuyện này xảy ra nhiều lần rồi! Có phải vậy không con?
Tôi vẫn còn run, thưa:
- Dạ phải! Nhưng mấy lần trước ông ta chỉ đứng ngoài nhà thờ chửi con đã rồi ra về. Lần này không ngờ lại dữ dằn đến như thế!
Đám đông tan dần. Giáo dân lục tục kéo đến xì xào ngoài sân. Các bà các cô đứng tụm vào nhau khóc vì chua xót cho tôi. Các ông Biện chưa hết sợ hãi, nhờ lẩn trong đám đông người ngoại đạo hiếu kỳ ngoài hàng rào dâm bụt của nhà thờ mà chứng kiến từ đầu đến cuối sự việc, bây giờ thì thào kể tôi nghe:
- Lạ lắm thầy ơi! Khi thằng cha Đức xông vô nhà thờ, gặp ngay cha Luca. Lạ lùng làm sao! Cha Luca chỉ đứng im nhìn thẳng vào chả, tự nhiên chả đứng sựng lại, câm họng rồi từ từ rút êm.
Giáo dân lẫn tôi, không ai hiểu nổi tại sao cha sở Luca chỉ nhìn thôi mà có thể khống chế ông Đức đang hung hăng như một con thú điên. Thử nghĩ, ông ta là phó xã trưởng lâu năm, rất có thế lực và luôn “coi trời bằng vung” ở vùng đất “chợ Đầu Hổ” lừng danh này, ông ta có bao giờ biết sợ ai. Người thì đoán thế này, kẻ thì suy thế khác. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng cha Luca, một con người dám đối thoại trực tiếp với ma, tranh cãi thẳng thắn với quỷ, hẳn đức độ và tâm khí của cha, khi cần, có thể làm cho người khác nao núng.
Việc tiếp theo là làm cách gì đó để đừng xảy ra sự việc tương tự. Mọi người bàn tán rất hăng, giải pháp được nhiều người nói tới là khuyên Mai Lan nên ra khỏi Thiếu nhi Thánh thể, không được sinh hoạt trong đoàn thể này nữa.
Vừa nghe kể giải pháp này, cha sở Luca nghiêm sắc mặt bác bỏ ngay lập tức. Cha cho rằng giải quyết như vậy là bất nhân, là loại trừ nhau, là thiếu bác ái một cách sơ đẳng.

Lúc còn riêng mình cha với tôi, tôi hỏi cha:
- Thưa cha, cha đã làm gì khiến ông Đức dừng lại?
Cha sở Luca trả lời:
- Cha không làm gì. Lúc đó cha suy nghĩ, nếu gặp một con trâu điên, cha cũng sẽ bỏ chạy như mọi người, nhưng với một con người thì khác. Ta có thể thuyết phục bằng cách nào đó.
Tôi tò mò:
- Xin cha dạy con đi! Cha đã dùng cách nào để thuyết phục ông ta?
Cha sở Luca đáp:
- Bằng cả tấm lòng hiền lành, cha nhìn ông ta.
Nghe cha sở Luca nói, tôi cảm thấy thất vọng, vì tôi không tin lắm vào điều đó.
Như đọc được từ ánh mắt tôi sự nghi nan, cha Luca nói thêm:
- Khi làm điều sai, dù thế nào thì tận đáy lòng người ta vẫn còn đó nỗi rụt rè nhát sợ. Sự hiền dịu của ta lúc ấy điểm vào trúng phần nhân tính còn sót lại ấy.
Cha Luca im lặng chốc lát rồi giải thích:
- Cha đã học được cách này ở Chúa Giêsu khi Người hiền lành nhìn môn đồ Phêrô sau khi ông này chối Chúa lần thứ ba (**). - Ngập ngừng giây lát cha lại nói tiếp - Cũng chẳng phải cha tự mình có thể rút ra bài học ấy, nhưng Ông Lực Lượng đã vô tình hé mở cho cha trong một lần nói chuyện. Ông ta nói: “… chính cái nhìn hiền lành của ông Chúa mà Chúng ta không giữ được cái tay Phêrô về phía Chúng ta…"
Đến đây thì tôi bị thuyết phục hoàn toàn, tôi sửng sốt vì cái bí quyết giản đơn mà linh nghiệm ấy.

Tôi suy nghĩ về điều đó nhiều đến nỗi cứ chập chờn suốt đêm.
Sáng ra, khi các ông Biện và một số giáo dân nhiệt thành tụ họp trước cửa nhà thờ sau thánh lễ để tiếp tục bàn bạc giải pháp sao cho ông phó xã trưởng không còn đến nhà thờ bức bách tôi nữa. Tôi khuyên họ:
- Xin quý ông bà yên tâm! Cha sở Luca đã truyền cho tôi cách để giữ mình. Tôi sẽ làm theo cách đó.
Họ xin tôi nói cho họ nghe. Tôi kể hết tất cả.
Mọi người, giống như tôi lúc đầu, không tiếp thu nổi bài học, nhưng vì thấy tôi vui vẻ và tin tưởng, nên họ đành xuôi theo cho tôi vui lòng.
Tuy nhiên, tôi không phải dùng đến bí quyết quý giá và linh diệu ấy dù chỉ một lần, vì ông Đức, phó xã trưởng, tức dượng ghẻ của Mai Lan, đã không bao giờ đến nhà thờ uy hiếp tôi nữa cho đến ngày tôi rời khỏi giáo họ Thạnh Lộc.
Trên đường đời về sau này, những khi tôi bị oan khuất, bị hiếp đáp, bị trù dập, bị đối xử tàn độc bất công… tôi đều đối phó bằng sự hiền lành - dĩ nhiên tôi không đủ lực để dùng cái nhìn hiền lành mà tức thời thu phục nhân tâm được giống như cha Luca, mà chỉ nín nhịn trong âm thầm - nhưng mỗi lần hiền lành nhịn nhục là một lần tôi vừa gặt hái thành công mỹ mãn, vừa thấy mình lớn thêm lên, còn những người hãm hại bức bách tôi đều trở nên không còn có thể làm gì được nữa, chỉ còn biết trở nên tốt hơn mà thôi.

Cha sở Luca ra về. Ngài đã để lại cho tôi một bài học vô giá.
 
(*) probation.
(**) Lc 22:61
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.05.2026 10:52:43 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 08.05.2026 09:32:59
Kỳ 32
 
Buổi tĩnh tâm tháng như thường lệ vừa kết thúc, đức giám mục hỏi tôi có về An Biên thăm cha sở Luca không thì cho ngài gửi một phong thư khẩn cho cha sở. Tôi lập tức quyết định về An Biên, nên lãnh ngay phong thư để gọi là có cớ về thăm cha Luca.
Khoảng 10 giờ sáng về đến nhà xứ, tôi thấy giáo dân đông nghịt từ trong ra ngoài. Tôi hốt hoảng với ý nghĩ không biết có chuyện gì chẳng lành xảy ra cho cha sở hay không. Nhưng những người giáo dân đứng bên ngoài tỏ vẻ mừng rỡ khi gặp lại tôi, họ làm cho tôi hết lo lắng bằng cách mau mắn thuật lại chuyện đã xảy ra hơn tuần qua và nay đang còn tiếp diễn bên trong phòng khách nhà xứ. Đó là chuyện giáo dân tổ chức mai phục gần một tháng trời ở đất thánh (*) để theo dõi và cuối cùng đã bắt giữ được một nhóm người lén lút đào huyệt mộ lấy cắp sọ người để luyện thiên linh cái (**). Hiện cha sở và chính quyền địa phương cấp xã đang hiệp nhau điều tra xét xử.
Bị trí tò mò thôi thúc, từ ngoài cổng, tôi nhích dần từng bước vào gần phòng khách nhà xứ để chứng kiến cho rõ. Những người giáo dân khác lại tóm tắt đầu đuôi câu chuyện cho tôi nghe thêm: Nhóm người này gồm một đàn ông trọng tuổi và hai thanh niên từ trên núi Tà Lơn (***) xuống, mua chuộc được một ông Biện tên X, nuôi giấu trong nhà, để cứ đến đêm khuya thì kéo nhau ra đất thánh đào mộ những cô gái đồng trinh, lấy cắp sọ để luyện âm binh. Từ sáng đến giờ họ không chịu khai nhận điều gì.
Trong phòng khách rộng của nhà xứ vọng ra giọng sang sảng của ông xã trưởng:
- Tôi hỏi lần nữa, các người đã đào xới bao nhiêu mộ? Đã lấy đi bao nhiêu sọ cô gái?
Im lặng.
- Các người cứ im lặng hoài. Tôi báo cho biết, nếu không khai, tôi sẽ tròng quần đàn bà đẻ lên đầu các người, để âm binh hành hại các người cho tới chết, chịu không?
“Đòn tâm lý” của ông xã trưởng lập tức hiệu nghiệm. Vừa nghe đến đó, một giọng đàn ông người Miên (Campuchia) nói tiếng Việt lơ lớ trả lời:
- Tui tui… đa lây đươc… hai, hai… cai so (Tụi tui đã lấy được hai cái sọ).
Giọng nói lơ lớ vừa dứt, giáo dân trong lẫn ngoài phòng họp gào thét lên:
- Mẹ nó! Dữ hôn! Nghe quần dơ của đàn bà đẻ mới chịu khai!
- Quân khốn kiếp! Mẹ chúng nó!
- Rồi thì cũng phải có cách để bọn này mở miệng chớ!
- Ai mách cho ông xã trưởng “nước cờ” đó vậy?
- Vừa rồi ông ta được bà xã nhắc tuồng thì phải!

Đợi cho mọi người nguôi bớt la ó, ông thiếu úy Trưởng cuộc Cảnh sát nói lớn:
- Các ông đã luyện được bùa phép gì chưa? Tại sao có bùa phép các ông vẫn bị bắt đây?
Im lặng tiếp. Không ai nghĩ nhóm người này sẽ trả lời câu hỏi khó chịu trên. Nhưng…
- Tai tương lanh cua tui thua tương lanh cua ông nay (Tại tướng lãnh của tui thua tướng lãnh của ông này).
Giáo dân phút chốc im bặt một giây, rồi đột ngột cười rộ lên cách khoái trá, người này liền nói cho người kia biết “ông này” mà ông thầy bùa người Miên muốn ám chỉ chính là cha sở Luca. Ông thầy bùa người Miên sau đó còn khai thêm:
- Tuong lanh cua ông nay là Mi-ka-e! (Tướng lãnh của ông này là Micae).
Nghe đến đó tôi thì bỗng rùng mình; còn tất cả những giáo dân An Biên có mặt ở đó thì phấn khích tột độ giống như họ vừa mới được chứng kiến một sự lạ. Đức tin bình dân và lòng đạo truyền thống bao đời của họ như sóng thần dâng cao.

Còn nhiều câu hỏi khác được đặt ra, kèm theo là những câu trả lời rất thú vị; qua đó mọi người biết được những thông tin chính, đại loại nhóm người có ba, gồm một thầy bùa cao tuổi và hai đệ tử khoảng trên dưới ba mươi tuổi. Họ nghĩ chỉ có ở các nghĩa trang người Công giáo, họ mới có thể biết chắc mộ nào là của các cô gái đồng trinh; đồng thời họ tin hồn của các cô gái đồng trinh người Công giáo có sức mạnh rất đặc biệt; chính vì những lý do đó mà nhóm người này liều lĩnh đến ngu xuẩn bất chấp hậu quả ra sao. Họ còn khai thêm, ông Biện X. ăn hối lộ của họ một số lớn vàng vòng và tiền bạc, nên chính ông là người giúp việc cho họ để họ luyện thiên linh cái trở thành những thầy bùa quyền lực v.v…
Ông Trùm họ đạo đã đặt một câu hỏi thú vị hơn:
- Biết thiên thần Micae mạnh hơn âm binh, vậy tại sao các ông không theo mà lại chọn theo âm binh?
Người đàn ông cao tuổi tức thầy bùa người Miên trả lời ngay không cần suy nghĩ:
- Vi chi co âm binh mơi chiu nghe tui tui sai khiên (Vì chỉ có âm binh mới chịu nghe tụi tui sai khiến).

Sau này theo tôi biết, vì vào thời buổi bấy giờ, pháp luật chưa quy định nghiêm minh việc xử phạt một số tội đặc biệt về mê tín dị đoan, cho nên chờ cho nhóm người luyện bùa khai nhận hết những hành vi bất chính bất nhân của họ xong, chính quyền giải họ về nhốt tại xã. Vài ba ngày sau, buộc họ nộp phạt một số tiền rất cao, rồi cho họ tự do.
Riêng ông Biện X. bị Ban Quý chức quyết định bãi chức, khai trừ khỏi hàng ngũ chức việc họ đạo; nhưng rồi vì không thể sống nổi với sự chỉ trích, miệt thị và tẩy chay để trả thù của giáo dân, ông ta đã dời nhà đi ra miền ngoài biệt tích. Sau đó, mọi người trong họ đạo sửa sang, tu bổ và đặt ra những biện pháp để bảo vệ đất thánh, vì đối với các giáo xứ thuộc Đàng Trong, gọi nghĩa trang bằng danh từ đất thánh không phải là vô căn vô cớ, nhưng hàm ý tỏ lòng trọng kính nơi ông bà tổ tiên của giáo dân họ đạo đang yên nghỉ, nơi chôn cất những người đã chịu phép rửa tội được cứu rỗi, nơi có thể có các vị thánh đang an vị, nơi đã được làm phép long trọng một lần khi khánh thành và nhiều lần làm phép huyệt mộ khi an táng ai đó, và vân vân….

Cha sở bảo tôi ngủ lại An Biên một đêm cho khỏe. Đêm đó cha dạy tôi.
- Thấy mọi sự xảy ra rành rạnh như thế ai cũng lên án nhóm người tà pháp. Thực ra chưa phải! Họ cũng đáng lên án thật nhưng có người và có thứ tội còn đáng bị lên án hơn. Thấy sự việc xảy ra kinh khủng như thế ai cũng sợ hãi, đề phòng và tránh xa bùa ngải tà mỵ. Thực ra chưa đúng lắm! Bùa ngải ma thuật cũng đáng sợ, đáng đề phòng và đáng tránh xa thật nhưng có cái đáng sợ hãi, đề phòng và tránh xa hơn gấp ngàn lần. Nhìn sự việc rồi phán đoán sai như thế tức là người Công giáo vẫn thường xuyên lầm lẫn và bị mắc lừa. Mắc lừa như vậy là đã trúng kế của quỷ ma rồi! Giao tiếp nhiều với Ông Lực Lượng qua năm này tháng nọ đã làm cho cha có được nhận xét như thế. Và đó là nhận xét đúng con ạ!
Tôi nôn nóng chờ đợi xem cha nói tiếp sự thể như thế nào thì cha bất ngờ lên cơn ho sặc sụa và liên hồi không dứt. Mặt cha từ đỏ như gấc chuyển dần qua xanh xám. Tôi dìu cha đến giường, đỡ cha nằm nghỉ, rót nước cho cha và cố làm mọi cái có thể để cha ngưng cơn ho đột ngột và lạ kỳ.
Tự dưng thoáng như ánh chớp lóe vụt qua trong đầu tôi một ý nghĩ hơi tầm bậy: hay cơn ho này do chính Ông Lực Lượng gây ra để ngăn cha nói chuyện tiếp với tôi. Tôi nhìn cha. Bất thần bốn mắt gặp nhau sao cảm như có gì đó giống nhau giữa hai cha con.

Tôi không phải chờ lâu. Cha Luca bớt ho dần, ngồi dậy, tiến về chiếc ghế phô-tơi để kể tiếp chuyện. Cha nói với giọng nho nhỏ nhưng không khó nghe:
- Cái nguy hại xấu xa đáng lên án và đáng đề phòng mà cha định nói đến đó là nết xấu ham mê tiền của. Trong vụ vừa qua chính ông Biện X. và nết xấu ham mê tiền của nơi ông ta đáng lên án, đáng sợ và đáng đề phòng, vì ông ta ham mê tiền của đến bán đứng cả họ đạo An Biên.
Ngừng lại giây lát, cha hỏi tôi:
- Tại sao vậy con có biết không? – Vì nết xấu ham mê tiền của vô cùng nguy hiểm. Trong Phúc âm Chúa cảnh báo nhiều lần lắm con ạ! Ví dụ khi có người nhờ Chúa phân xử vụ chia gia tài thì Người phán:“phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”; Chúa dạy người giàu có khó vào Nước Trời hơn con lạc đà chui qua lỗ kim; không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của; hãy về bán hết gia tài phân phát cho kẻ nghèo; Chúa còn lấy những dụ ngôn về số phận của những người phú hộ để dạy chúng ta; nhưng bài học đáng giá nhất là môn đồ Giuđa vì ham tiền mà sa xuống tận cùng vực thẳm v.v…
Chưa cần nói người đời, chỉ tạm lấy người tu chúng ta ra mà nói.
Ai cũng đổ xô xét nét người tu xem có nết xấu ham mê sắc dục hay không, trong khi nết xấu ham mê tiền của là cái đáng bị lên án thì lại bỏ qua. Tại sao? - Tại vì nết xấu ham mê sắc dục dễ bị bắt quả tang, còn nết xấu ham mê tiền của thì dễ che giấu, dễ ngụy trang và dễ phủ nhận.
Chính vì thế mà người tu chúng ta tha hồ ham mê tiền của, đôi khi lòng ham muốn bốc cháy với nhiệt độ cao hơn cả người đời. Con đừng tỏ ra “sốc”! Mà hãy sáng suốt nhìn nhận, để tự tránh về sau, rằng rất nhiều giáo sĩ ham mê tiền của đến chà đạp danh dự của Giáo hội và của cả Chúa Kitô mà chẳng bị ai lên án.
Thấy cha dừng nói một lúc để lấy sức, tôi đợi vài phút rồi hỏi:
- Thưa cha các dòng tu khấn ba lời khấn, trong đó có lời khấn sống khó nghèo cũng vì lý do đó phải không ạ?
Cha Luca cười tươi đáp:
- Phải rồi! Con đã hiểu ra! Tuy nhiên lời khấn đó dễ bị sai phạm nhất.
Cha nói tiếp:
- Không phải những nết xấu khác là vô hại, nhưng nết xấu ham mê tiền của nguy hại vô cùng! Lý do vì nó bị coi nhẹ, không bị chú ý, khó bị kiểm soát, ít ai đề phòng, giáo dân đã không nhắc giúp còn tạo thêm nhiều cơ hội để người tu sai phạm, nếu có sai phạm thì chẳng bị ai buộc tội và nguy hại nhất là sự sa ngã diễn biến là dần dần. Cả một hệ thống bẫy-thòng lọng của Satan.

Đêm đó ngủ lại nhà xứ An Biên, tự nhiên trong lòng tôi cảm thấy bất an. Giấc ngủ chập chờn, mộng mị đan xen việc này lẫn việc kia.
Nửa đêm khi tôi đang chập chờn nửa tỉnh nửa mê, tôi nghe tiếng quát:
- May đưng xen vao viêc cua chung tao! Khong nghe đung co trach! (Mày đừng xen vào việc của chúng tao! Không nghe đừng có trách!) 
Tôi nghe giọng nói của ông thầy bùa người Miên lơ lớ lặp đi lặp lại, dù rằng đến lần thứ ba hay thứ tư tôi đã khá tỉnh táo. Tiếng nói có vẻ ma quái ấy nằm sâu ở đâu đó trong đầu, tôi nghe bằng ý nghĩ chứ không phải bằng tai.
Tôi không ngủ được từ đó cho đến sáng. Sáng ra tôi kể cho cha sở Luca. Cha bảo:
- Chắc tại con bị ám ảnh bởi giọng nói của ông thầy bùa người Miên hôm qua đó thôi!
Tuy tin vào mọi điều cha Luca nói, cha là người sống bằng tình cảm, nhưng lại luôn suy nghĩ và hành động bằng lý trí… nhưng trên đường về Long Thạnh, tôi cứ âu lo suy đoán xem mình đã làm gì để bị gọi là “xen vào việc của” ai đó.

15g30 tôi về đến nơi. Xe dừng trước cổng nhà thờ Long Thạnh, tôi chưa kịp bước xuống xe đã có ba người đàn bà ra đón. Dường như họ đợi tôi đã lâu nên hồn nhiên reo lên khi vừa thấy bóng tôi.
Ba người đàn bà đến học giáo lý tân tòng theo lời hẹn của tôi cách đây một tuần.
Và câu trả lời cho câu tôi miên man tự hỏi trong đầu từ sáng đến giờ “mình đã làm gì để bị gọi là xen vào việc của ai đó?” nằm ở trong ba người đàn bà này. Tôi xin phép sẽ kể vào dịp tới.
 
 
(*) đất thánh: cách gọi của giáo dân Đàng Trong khi nói đến nghĩa địa của một họ đạo.
(**) là thuật điều khiển các oan hồn gọi chung là âm binh của những người necrophilie. Necrophilie do sự kết hợp của hai từ Hy lạp là Nekro và Philie (nekro: xác chết, philie: sự yêu thích, sự ham muốn giao cấu); necrophilie được dùng để mô tả một hành động giao cấu với xác chết, bí quyết luyện hồn phổ biến trong giới thầy tu trên núi. Theo đó, ai luyện thành công thuật thiên linh cái sẽ có khả năng biết trước được tương lai, kêu được gió, bất khả xâm phạm, sai khiến được âm binh, có thể tàng hình, hãm hại người bằng mọi cách... Người sửa morasse xin chú thích thêm: Tháng 6.2002, Tòa án Tối Cao tại Tp HCM đã xử tử hình Phạm văn Tuấn, (sinh 1957, gốc người An Biên, Kiên Giang, có vợ và 3 con) thường trú tại ấp Hạ, xã Tân Quới, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp vì tội lần lượt giết chết 3 phụ nữ; với mỗi người sau khi giết chết xong, hắn giao cấu với xác chết rồi cắt đầu… để luyện thiên linh cái. Khi công an đến bắt, hắn tưởng mình có tà thuật thật, nên tỏ vẻ khinh khỉnh, xấc láo và thách thức công an.
(***) núi Tà Lơn thuộc tỉnh Kampot, Campuchia, nơi cư trú của đông đảo các giới tu sĩ chuyên tà thuật . 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.05.2026 00:24:33 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 09.05.2026 00:49:07
Kỳ 33
 
Như tôi đã thưa, tôi sẽ kể chuyện ba phụ nữ đến với tôi để học giáo lý tân tòng.
Bởi vì sau vụ xét xử đám người của ông thầy bùa người Miên, với sự tiếp tay của ông Biện X., đến giáo xứ An Biên quật mồ các thiếu nữ đồng trinh để moi sọ lên luyện thiên linh cái, tôi nghe tiếng văng vẳng trong đầu nhiều lần rằng: “Mày đừng xen vào việc của chúng tao! Không nghe đừng có trách!”, trùng hợp với việc bỗng dưng có ba phụ nữ mặc y phục toàn đen đến xin học đạo.
Gây ấn tượng cho tôi: một là việc cùng lúc có đến ba phụ nữ tuổi trung bình ngoài ba mươi đến bốn mươi, hai là cả ba thân thiết nhau như ba chị em ruột, ba là tất cả đều có chồng có con, đều có cảnh khổ như nhau, bốn là cả ba đều có cùng một động cơ thúc đẩy học đạo để được “nấp bóng đạo Công giáo”, năm là họ ăn mặc lúc nào cũng toàn đen và ai cũng có gương mặt trầm uất lạ lùng. Ba người cùng đến gặp tôi, rụt rè nhưng hết sức chân thành bày tỏ ý định tha thiết xin học đạo và theo đạo. Tuy không nói ra, nhưng lúc đó tôi rất mừng rỡ đón tiếp và hăng hái xếp giờ để dạy.
Càng dạy họ lâu tôi càng hiểu rõ ngọn nguồn về họ.
Người lớn tuổi nhất tên Lẹ. Chị Lẹ 36 tuổi. Đã có chồng và hai con. Sống với chồng bao nhiêu năm thì cũng bấy nhiêu năm bị chồng hành hạ, đánh đập và ngược đãi rất thương tâm. Nhân chồng có vợ bé, chị Lẹ nhờ chính quyền can thiệp cho chị ly dị để thoát khỏi tay người chồng quá vũ phu và độc ác; nhưng không được. Chị cầu cứu đến thế lực của một thầy bùa danh tiếng trong vùng và đã được toại nguyện.
Người thứ hai tên Mai. Chị Mai 33 tuổi. Đã có chồng và có con nhưng con chị đã mất từ lúc mới lên vài tháng tuổi; bị chồng đánh đập tàn nhẫn hầu như hằng ngày sau mỗi cơn nhậu say xỉn, nhất là sau những trận thua cờ bạc đến trắng tay… Sau một trận đòn chết đi sống lại lần cuối, chị Mai được chị Lẹ đưa đến với thầy bùa nói trên và cũng được cứu thoát.
Người thứ ba tên Liên. Chị Liên 32 tuổi. Đã có chồng và có một đứa con. Chồng chị Liên vì nghi ngờ cha ruột của anh ta có tình ý và thông dâm với vợ mình nên ghen tuông không thể tưởng rồi sau đó lao vào một đơn vị biệt kích cảm tử, từ đó vắng nhà biền biệt, thỉnh thoảng có về thăm nhưng là để đánh đập chị không nương tay. Chị Liên cũng nhờ đến cùng một thầy bùa như chị Lẹ và chị Mai và đã trút bỏ được người chồng tàn nhẫn.
Cả ba có hoàn cảnh đặc biệt đau khổ, đều rất căm hận đàn ông, nên dễ dàng đến với nhau kết thân rồi giúp đỡ nhau và nương tựa nhau đến độ trở nên thân thiết như ba chị em ruột.
Nhưng điều làm tôi vô cùng sửng sốt là cả ba đều đã, thông qua ông thầy bùa, ký công-tra(*) bán mình cho ma quỷ. Thoạt đầu tôi không tin, lại còn tưởng rằng các chị nói đùa cho vui; đó chẳng qua là vì tôi suy nghĩ, nếu thật sự đã bán cuộc đời mình cho ma quỷ, ba chị không thể nào đến nhà thờ được chứ đừng nói học giáo lý hoặc manh nha có ý đồ xin tòng đạo; tôi còn nghĩ thêm rằng, nếu thật sự các chị đã bán linh hồn cho ma quỷ thì hình hài dung mạo của các chị không thể bình thường quá đỗi như tôi đang trông thấy, nghĩa là hiện tôi trông thấy dung mạo và phong cách của ba chị vẫn cứ như người bình thường, lại còn có vẻ tiều tụy, nghèo hèn và đầy vẻ cam phận; tôi còn nghĩ xa hơn như thế này, nếu thật là những người của ma quỷ hẳn không hề thuận thảo nhau, huống chi đoàn kết, giúp đỡ nhau và cùng nhau hướng đến một điều gì tốt đẹp.
Nhưng dần dần qua câu chuyện, các chị đã giải đáp hết mọi thắc mắc đó của tôi, cho tôi biết thêm nhiều chuyện đặc biệt –thật là… trong giờ học giáo lý tôi là người dạy cho các chị, nhưng ngoài giờ học giáo lý các chị là những người dạy lại tôi-, các chị kể:
Một hôm chị Lẹ, người lớn tuổi nhất, tình cờ lượm được một xâu chuỗi trên đường ra chợ trở về. Tưởng đá quý, chị đem về nhà cất giữ. Sau một thời gian, chị nghiệm ra rằng, từ khi đem xâu chuỗi về nhà cất giữ chị bị những cơn đau dữ dội khi thì chỗ này khi thì chỗ khác trong cơ thể, kèm theo là những cơn bức bối trong thâm tâm lẫn thể xác vô cùng ray rức và khó chịu không thể tả; cứ mỗi lần xảy ra như thế chị thử vứt xâu chuỗi ra đống rác sau nhà thì mọi sự bỗng dưng biến mất, khỏe mạnh lại bình thường. Lẽ thường, ai gặp cảnh ngộ như thế hẳn sẽ rất mừng rỡ và vứt bỏ xâu chuỗi đi cho xa; chị Lẹ thì không; chị linh cảm có điều gì đó bí ẩn… chị liền tìm cách hỏi han một người có đạo bởi chị thấy ở đầu xâu chuỗi có gắn một cây thánh giá. Khi biết ra đó là một chuỗi kinh quan trọng của người Công giáo, chị Lẹ càng tò mò hơn gấp nhiều lần, chị lý luận: tại sao người Công giáo giữ nó bên mình thì không sao, còn mình giữ trong nhà thì sinh ra đủ mọi chuyện xấu. Còn nhiều chuyện khác nữa xảy ra chung quanh vụ xâu chuỗi khiến chị Lẹ ngày càng tin rằng có một quyền lực còn mạnh hơn thầy bùa và ma quỷ, quyền lực ấy nằm trong đạo Công giáo. Chị chia sẻ với chị Mai và chị Liên. Dần dần họ tìm đến người Công giáo trong xóm đạo để trao đổi, hỏi han và xin ý kiến. Tôi chỉ kể sơ qua chuyện xâu chuỗi, và chỉ kể một cách tóm tắt, vì còn rất nhiều chuyện không thể kể ra ở đây. Nói tóm, một duyên may kỳ lạ đã cứu ba người phụ nữ bất hạnh đang ở tận đáy vực sâu của đời người. Duyên may ấy chính là lòng xót thương của Đức Mẹ đối với những ai gìn giữ chuỗi Môi khôi, dù mới chỉ là cất giữ xâu chuỗi thôi. Tôi dám quả quyết như vậy.
Chuyện đi học giáo lý để xin tòng đạo cũng là kết quả của cả một hành trình gian lao khổ ải. Ai tinh ý một chút đều có thể có nhận xét rằng có những người đến với Chúa dễ dàng đến độ giản đơn, những cũng có những người để đến được với Chúa, họ phải nếm đủ mùi vị cay đắng tân toan; điều đó cho biết, Chúa chọn ai người đó được, Chúa không chọn thì ngay cả cái ước muốn cũng không có.
Ba chị học đạo rất chăm chỉ và đặc biệt là cố gắng vượt bậc, vì trong thời gian học, đã xảy ra nhiều trở ngại tưởng chừng như họ bị thất bại khiến phải “giữa đường gãy gánh”. Nhiều chuyện xảy ra liên tiếp, ví dụ chị Mai bị trộm vét sạch hết của cải trong nhà chỉ trong một đêm ngủ mê. Nào hai đứa con của chị Lẹ bỗng dưng thay nhau bị bạo bệnh tưởng không còn có thể giữ nổi mạng sống nữa. Nào là giữa đêm thanh vắng, nhà chị Liên phát hỏa cháy rụi mà không sao tìm được nguyên nhân. Thôi thì biết bao tai ương xảy đến cho ba chị, vừa dồn dập vừa oan nghiệt, may là tôi có chút ít hiểu biết cộng với chút ít kinh nghiệm nhỏ nhoi, nên biết dùng lời lẽ lẫn cử chỉ để trấn an, chia sẻ và nâng đỡ các chị, giúp các chị vượt qua.
Không chỉ các chị mà thôi, chính tôi đây, một hôm ông mặt dẹp đến đe dọa tôi đừng dạy ba người đàn bà ấy học đạo, vì họ là cán bộ CS nằm vùng, chính quyền đang theo dõi, và cả tôi cũng bị theo dõi lây v.v... Thời này dễ bị người khác chụp mũ và dễ mất mạng vì những lối chụp mũ như thế. Nhưng chuyện sau đây thì đúng là quá quắt! Một hôm vô cớ, có hai người đàn ông hung dữ đến gây sự với tôi và sau đó la ầm lên rằng tôi quyến rũ ba người phụ nữ để lấy cả ba làm vợ. Tôi bị mệnh danh là “thầy tu ba vợ” trong toàn vùng suốt từ đó cho đến ngày tôi ra đi khỏi Long Thạnh (**).
Trong suốt thời gian ba phụ nữ bất hạnh đang trên con đường đến với bí tích Rửa tội, tôi là người vừa dạy vừa cận kề để ủi an, nâng đỡ, cổ vũ và nhất là giải thích “điều hơn lẽ thiệt” họ; trong lúc ấy không ai biết, cha sở Chân Phúc và cha sở Luca lại là những người nâng đỡ, ủi an, nâng đỡ và cổ vũ lại tôi, -tôi thường xuyên liên lạc để xin ý kiến các ngài- nhờ một lực lượng cứng cáp sau lưng, tôi hoàn thành nhiệm vụ cực kỳ khó khăn mà với sức tôi, một mình tôi không thể làm được.

Đến ngày rửa tội, chuyện càng không đơn giản.
Ba người phụ nữ bị hành hạ đến tơi tả.
Khi cha sở Chân Phúc hỏi chị Lẹ:
- Con có từ bỏ ma quỷ không?
Chưa kịp trả lời, chị Lẹ ngã vật xuống đất mạnh đến nỗi nghe một tiếng “ạch”, đôi mắt trợn trừng, bọt mép sùi ra, giãy giụa như con cá bị đập đầu đánh vẩy.
Rất bình tĩnh và đầy kinh nghiệm, cha sở Chân Phúc lập tức ngồi thụp xuống theo, đổ nước trên đầu và đọc công thức rửa tội ngay cho chị. Chị dần bớt co giật, từ từ tỉnh lại rồi sau đó trở lại bình an như cũ.
Trong lúc đang rửa tội cho chị Lẹ, chị Liên thình lình vùng bỏ chạy như bị ai đuổi. Nhờ cha sở Chân Phúc đã tiên liệu, nên bố trí sẵn nhiều đàn ông và thanh niên để rượt đuổi theo chị. Bao nhiêu là đàn ông lẫn thanh niên mạnh khỏe nhanh nhẹn, nhưng không ai chạy kịp với chị Liên. Gần một giờ sau người ta mới đem được chị về trong tình trạng áo quần tả tơi, tóc tai bù xù và còn có cả một sợi dây luộc (***) đang quấn quanh cổ chứng tỏ có ai đó nhất định xiết cổ hay treo chị lên cây để giết chết chị.
Chị Mai thì khác. Cứ đứng nhe răng cười với nụ cười… đáng sợ. Dù không té vật, dù không bỏ chạy, nhưng cái cách của chị Mai làm mọi người ớn cả xương sống. Quả đúng như vậy! Khi cha sở Chân Phúc toan rửa tội cho chị, chị gạt phắt tay cha; những giáo dân đàn ông lao động với chân tay lộ rõ những bắp thịt cuồn cuộn, gân guốc chắc nịch… chỉ cố làm một việc là giữ chị lại thôi, vậy mà xem ra chẳng ăn nhằm gì. Thế là một cuộc đấu vật xảy ra giữa một người phụ nữ ốm yếu duy nhất với năm bảy người đàn ông sức lực ngay tại lòng nhà thờ. Cuối cùng phải vất vả lắm đám đàn ông kia mới người giữ tay người nắm chân chị Mai cho chị ở yên trong tích tắc. Cha sở Chân Phúc rảy nước thánh trên đầu chị và đọc công thức rửa tội, sau đó chị mới dịu dần lại và ngoan ngoãn lãnh nhận những nghi thức tiếp theo.
Sau khi đã rửa tội cho ba phụ nữ xong, mọi người thở phào nhẹ nhõm và tỏ ra rất vui mừng. Thánh lễ kết thúc, ba chị lại trở về trạng thái của những phụ nữ tay yếu chân mềm, mạnh khỏe và tươi tỉnh. Cha sở Chân Phúc cấm không cho ai tỏ vẻ hay bàn luận về bất cứ điều gì trong câu chuyện rửa tội vừa xảy ra. Mọi giáo dân có mặt trong thánh lễ hôm đó càng tin Chúa mạnh mẽ và quyết liệt hơn.
Bài giảng thánh lễ của cha sở Chân Phúc hôm đó có một câu rất hay:
- Chơi với ai, người đó sẽ chơi lại. Đi với ai, người đó sẽ ủng hộ. Tin vào ai, người đó sẽ giúp đỡ. Vậy nếu chúng ta chơi với ma quỷ, đi với ma quỷ và tin vào ma quỷ, tất ma quỷ sẽ xúm xít vây quanh lẩn quất ngày đêm bên chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta theo Chúa, tin Chúa và kết hiệp với Chúa… Chúa sẽ ở bên cạnh chúng ta.
Những lời trên rất thích hợp trong hoàn cảnh và nơi chốn này, vì dân vùng này rất tin nghe các thầy bùa, họ chạy đến thầy bùa nhanh, dễ, và tự nhiên như ta ghé nhà thuốc mỗi khi trái gió trở trời.

Tôi kể lại mọi việc với cha sở Luca sau đó, cha khuyên tôi:
- Hãy cẩn thận! Vì chuyện chưa chấm dứt ở đó đâu con ạ!
Đúng như thế.
Ông thầy bùa, người đã từng can dự vào cuộc đời của ba phụ nữ, sai người nhắn gửi tôi:
- Mày đã xen vào việc của chúng tao. Mày sẽ không yên với chúng tao đâu!
Vài ngày sau một người lạ hoắc khác đến cũng nhắc lại cùng một lời đe dọa như trên.
Khoảng năm bảy hôm gì đó, một người lạ mặt nữa cũng mang đến cho tôi “thông điệp” ấy lần nữa.
Tôi rất lo sợ. Không thể bất cứ lúc nào cũng chạy về cầu cứu với cha Luca; còn về cầu cứu với cha sở Chân Phúc thì dễ quá, nhưng ngài không phải là người để tôi trao đổi những chuyện đại loại như vậy.
Tôi ôn lại trong đầu tất cả những chuyện cha Luca kể cho tôi nghe, ôn lại những điều tôi đã thấy cha Luca làm để từ đó tôi rút ra cho mình một giải pháp tốt nhất.
Sau đó khoảng một tuần, giữa khuya đang ngủ, tôi giật mình vì nhiều tiếng động lạ lùng. Những tiếng động đó gồm có tiếng đoàn quân đi, tiếng ngựa hí, tiếng binh khí va nhau loảng xoảng, tiếng la hét, tiếng khóc than rên rỉ, gầm rú, chửi rủa, lẫn tiếng quát tháo ra lệnh và gắt gỏng. Tất cả cộng lại thành một thứ tiếng ồn nghe ghê rợn lạ –tôi không thể tả nổi cảm giác sợ hãi, cảm giác mà đến hôm nay tôi còn có thể hình dung lại được-, tiếng ồn ấy nghe hình như đang diễn ra trên hai con đường ôm sát cạnh khu vực nhà thờ.
Vì nhà xứ có một bức tường nằm sát đường, giường ngủ của tôi lại nằm sát bức tường ấy, nên tôi có thể nghe được tiếng chân người qua lại, chính vì vậy tôi nghe rõ tiếng ồn lạ như sát bên tai.
Tôi ngồi dậy đôi ba lần để định hướng tiếng ồn, nhưng không hề nghe tiếng ồn vào được trong sân nhà thờ, mà chỉ diễn ra ở ngoài đường, ở hai con đường một trước cửa nhà thờ, một bên hông phải nhà thờ.
Tiếng ồn kéo dài cho đến gần giờ xả lệnh giới nghiêm đêm của quân đội thì dứt. Rồi cứ diễn ra như vậy hằng đêm trong suốt hơn hai tuần.
Lúc đầu tôi không hiểu, nhưng dần dần tôi hiểu ra đó là trò của các thầy bùa muốn ám hại tôi; có điều tôi không hiểu ám hại kiểu gì kỳ lạ, tôi sợ hãi chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng không, sau hai tuần lễ -chỉ đơn giản làm tôi mất ngủ- mọi chuyện chấm dứt êm thắm.

Khi kể lại cho cha Luca nghe, cha hỏi tôi đã dùng giải pháp gì, tôi thưa bắt chước cha tôi luôn cứ chốc lát lại giục lòng tin Chúa tuyệt đối.
Còn cha thì lý giải cho tôi biết, đó là tiếng ồn của đám âm binh hùng hậu của ông thầy bùa định đến hãm hại tôi, nhưng do vào đến sân nhà thờ còn chưa được thì lấy gì mà hãm hại.
Câu chuyện dần dần cũng phai mờ theo thời gian và theo ký ức non trẻ của tôi. Tuy nhiên mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn sợ. Sợ thì sợ, nhưng tôi rất vững tâm, vì sự tin tưởng tuyệt đối vào Chúa chính là sức mạnh vạn năng không quyền lực nào có thể bức hiếp tôi được; nhớ lời cha sở Chân Phúc:
- Chơi với ai, người đó sẽ chơi lại. Đi với ai, người đó sẽ ủng hộ. Tin vào ai, người đó sẽ giúp đỡ. Vậy nếu chúng ta chơi với ma quỷ, đi với ma quỷ và tin vào ma quỷ, tất ma quỷ sẽ xúm xít vây quanh lẩn quất ngày đêm bên chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta theo Chúa, tin Chúa và kết hiệp với Chúa… Chúa sẽ ở bên cạnh chúng ta.
 
 
(*) Công-tra (contrat): hợp đồng.
(**) Sau ngày 30.4.1975, tôi có về thăm lại họ đạo Long Thạnh. Vừa đến bến xe, mấy tay chạy xe ôm ở đó nhác trông thấy tôi đã chào hỏi, cười đùa, chọc giỡn với vẻ thân thiện: “A! Ông thầy tu ba vợ!”; “Lâu quá rồi không gặp nghe!”; “Khổ cho ông! Có tiếng mà không có miếng!” v.v… Điều đó cho hay, tuy tôi bị người lương cả một vùng gán cho biệt danh không mấy tốt đẹp ấy, nhưng họ đã chẳng tin, trái lại còn dành cho tôi nhiều thiện cảm.
(***) Dây luộc: một loại dây bện bằng xơ dừa, rất chắc, thông dụng ở miền Tây Nam bộ.
 
Đã mang đến chương 33
<bài viết được chỉnh sửa lúc 14.05.2026 21:12:40 bởi Thanh Vân >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 15.05.2026 21:33:08
Kỳ 34
 
Sau khi ba người đàn bà “áo đen” gia nhập đạo Công giáo một cách suông sẻ, (nói suông sẻ cho oai kỳ thực tôi đã phải lắm phen “lên ruột”) tôi bắt đầu có linh cảm mình sẽ gặp nhiều rắc rối.
Đúng như vậy. Rắc rối thứ nhất bắt đầu.
Vào một ngày giữa tuần, đang nghỉ trưa, tôi nghe tiếng được tiếng mất giọng đàn ông say rượu chửi oang oang ở ngoài đường gần cổng nhà thờ. Tiếp theo là tiếng la ó có vẻ phản đối lại của những phụ nữ bán bánh, nước… người Công giáo gần đó; tuy nhiên giọng đàn ông kia vẫn cứ to ầm lấn át. Không khó lắm! Chỉ trong phút chốc tôi đã nhận biết cách đại khái, đó là những lời thóa mạ Đức Mẹ của một người đàn ông và những tiếng bênh vực của những người phụ nữ.
Tôi bước ra đứng ở ngạch cửa để biết cho rõ ai cả gan phạm thượng đến như thế vào thời buổi tôn giáo như một mồi lửa bén nhạy.
Đó là tay cảnh sát, sau này tôi mới biết, tên Thân, nhậu say vào giữa trưa rồi đến trước cổng nhà thờ, vô cớ chỉ thẳng tượng Đức Mẹ Phù hộ Các Giáo hữu đặt trên cao ở mặt tiền nhà thờ mà chửi bới sỉ mạ một cách hết sức hỗn láo và phạm thượng.
Tôi lúng túng chưa biết cách xử trí thế nào cho phải do luôn ghi nhớ quy luật: động đến những người thuộc chính quyền không hề hay ho chút nào.
Hình như có người đến dìu hắn đi.
Câu chuyện lập tức như lửa cháy bùng và lan rộng. Ban Quý chức và giáo dân bắt đầu tuôn đến nhà thờ như đi dự thánh lễ, gương mặt ai nấy lộ vẻ hết sức căng thẳng bởi nào là tức giận khi có kẻ xúc phạm đến Đức Mẹ, Đấng muôn người như một đều kính yêu; nào là căm giận kẻ đã chà đạp niềm tin của người Công giáo; nào là bị ức chế không dám phản ứng mạnh mẽ tức thời với những người thuộc ngành cảnh sát là ngành rất có thế ở các vùng biên giới hỗn loạn; nào là cảm thấy bị sỉ nhục khi có người dám xúc phạm đến nhà thờ của họ đạo, đến danh dự của họ đạo, đến hàng ngàn giáo dân... Nỗi thôi thúc nhất trong lòng họ lúc này là phải làm cái gì đó để trả đũa, trừng phạt… kẻo cha mẹ hiền lành con cái sẽ bị lấn hiếp về lâu về dài. Gần như sắp nổ ra một cuộc chiến tôn giáo tại giáo xứ Long Thạnh.
Từng nhóm người nam theo nam, nữ theo nữ, già theo già, trẻ theo trẻ… túm tụm vào nhau bàn tán huyên náo và nảy lửa. Nhưng bàn ra tán vào đủ cách qua nhiều giờ liền vẫn không ra giải pháp đối phó nào khả thi; tôi bỗng bị thôi thúc bởi một áp lực gì đó bên trong nên đưa ra ý kiến:
- Việc không giải quyết nổi này sao chúng ta không đem đến Chân Phúc trình với cha sở để ngài lo liệu giúp?
Ai nấy bỗng như sực tỉnh rồi nhiệt liệt tán đồng.
Tôi nảy ra tiếp một ý kiến nữa:
- Ai đi tìm ông Giáp Luông dùm tôi! Vì từ đầu đến giờ tôi không thấy ông ấy. Chắc ông ấy đang bận rộn công việc gì ở đâu đó.
Mọi người ú ớ. Kẻ hỏi xem mục đích, người rên rỉ “cái ông vô công rỗi nghề ấy hả?”, có kẻ không ngại miệng kêu lên “thầy tìm cái thằng cha vô tích sự ấy mà làm gì thầy ơi! Bao nhiêu người đây bàn còn chưa xong chuyện…” v.v…
Tôi trả lời:
- Cứ tìm cho được ông ấy về đây đã!
Cũng dễ! Cánh đàn ông không phải mất nhiều thời giờ và nhiều công sức cũng đã đưa ông ta từ mâm nhậu “cóc ổi” về tận nhà thờ; cái khổ người cao lêu nghêu, đen nhẻm và gầy đuột như cây cột cháy rất đặc trưng ấy chẳng làm ai thích thú, nhưng mọi người cũng cứ tò mò muốn xem ông ta được tôi “ưu ái” vì cái gì. Tôi nói với ông:
- Ông Giáp đã nghe hết sự việc rồi! Bây giờ phiền ông ngày mai đi ngay xuống gặp cha sở và trình bày mọi sự để xin cha giải quyết.
Mọi người cười ồ. Ông Giáp Luông, con người thất học, khoái rượu và mê đàn bà –ai đặt ông ta lên làm ông Giáp thì tôi chưa tìm ra- lại còn nổi tiếng ba xạo và ma mãnh… nhưng lúc này bỗng tỏ vẻ khiêm tốn và thành thật. Ông ta la rân như bị bỏng lửa:
- Không! Không được đâu! Thầy biểu tôi nhảy vào lửa tôi nhảy liền nhưng đừng sai tôi đi gặp cha sở, đừng bắt tôi trình thưa này nọ, bởi vì tôi đã không có “lời lẽ”, cái tội nhậu nhẹt lè phè của tôi cha sở còn chưa xử tội, giờ lại còn vác xác đến để lẻo mép… Không được đâu thầy ơi!...
Tôi chỉ chờ có thế. Tuy nhiên tôi vẫn làm ra vẻ cố thuyết phục:
- Vì ông chơi thân với chính quyền, bồ bịch với cảnh sát, nên ông sẽ thông suốt hơn mà trình bày mọi chuyện cho cha sở rõ… Chậc!... Hay là ông thấy ai ở đây có thể đại diện giáo dân đến gặp cha sở, xin thử đề cử!
Tôi hỏi cho có hỏi, ở đây ai mà không đồng lòng đề cử ông Biện Chắc lãnh nhiệm vụ ấy.
Chiều đến khi mọi người đã ra về, tôi nói với ông Biện Chắc rằng ngày mai không cần phải đi đâu, việc này chúng ta tự giải quyết được mà không cần đến cha sở. Tôi phân tích cho ông Biện Chắc rõ, chính ông Giáp Luông sẽ là người nhanh nhảu đi mật báo cho cảnh sát cuộc rõ ý định của chúng ta; mà giới chính quyền thì dư biết cha sở Chân Phúc là người rất có thế lực với tỉnh trưởng, quận trưởng… vậy khi biết điều đó, cả cuộc cảnh sát sẽ rung rinh, sau đó họ tự biết phải giải quyết ra sao cho đẹp lòng giáo dân của cha sở Chân Phúc.
Không sai. Vào khoảng 21 giờ, ông trung úy trưởng cuộc cảnh sát Long Thạnh đi cùng 2 sĩ quan đến xin gặp tôi, nói lời xin lỗi thay cho toàn cuộc và xin nhận hình phạt cho tay cảnh sát liều lĩnh ban trưa. Tôi nói sẽ cho người đi Chân Phúc xin ý kiến cha sở, rồi báo lại.
Ba hôm sau tôi mời ông trung úy trưởng cuộc đến và thông báo cha sở cho tôi và giáo dân tự quyền quyết định. Nhưng vì “tình làng nghĩa xóm” giữa họ đạo với cuộc cảnh sát địa phương, chúng tôi không đòi hỏi gì, chỉ cần phạm nhân làm một số việc có tính nghi thức trước mặt giáo dân là đủ.
10 giờ sáng hôm sau, trước sự chứng kiến của đông đảo giáo dân đứng chật sân nhà thờ, đích thân viên trung úy trưởng cuộc cảnh sát giải tên Thân đến giữa sân, sau khi nói lớn lời xin lỗi Đức Mẹ, quỳ lạy 3 lạy, hắn ta ngỏ lời xin lỗi giáo dân, xong xuôi dâng đôi đèn cầy lớn để làm lễ chuộc tội.
Ai nấy hả hê và truyền tụng cách giải quyết êm thắm vừa có tính răn đe của tôi. Lúc đó tôi cảm thấy tự hào và lên mặt kiêu hãnh. Ngày xưa, giới chủng sinh (từ tiểu chủng sinh cho đến đại chủng sinh) chúng tôi có tâm lý không mấy ngưỡng mộ những linh mục thánh thiện, bác ái, khiêm tốn, hiền lành… nhưng lại rất ngưỡng mộ những linh mục “hét ra lửa” tức có thế lực với chính quyền các cấp, những linh mục “ăn to nói lớn” chẳng sợ ai, những linh mục có phong cách ông lớn, hay những vị nhiều mưu kế chính trị và khôn lanh ứng phó với mọi người. Đành rằng chủng viện không trực tiếp dạy các môn học như ngoại giao, chính trị, lãnh đạo; đành rằng chủng viện không trực tiếp đào tạo tính quan liêu, tính quý tộc, tính kiêu căng, hống hách, óc địa chủ và thống trị… nhưng chủng viện cứ để mặc chủng sinh (là những người trẻ ở độ tuổi non nớt luôn tìm cho mình một vài thần tượng) tự do nuôi dưỡng những khát vọng rất đối nghịch với nếp sống tu (là sửa), nếp sống từ bỏ, nếp sống chứng nhân Tin mừng (về bác ái, khiêm tốn, hiền lành). Chính vì vậy tôi mau chóng và dễ dàng lầm tưởng và tự đắc rằng mình vừa mới làm nên một kỳ tích hiển hách.
Có lẽ chính vì vậy mà ngay lập tức sau đó, tôi gánh chịu một tai họa suýt mất mạng.

Ông Giáp Luông là người cáo giác hết tất cả những gì tôi phê bình chỉ trích chính quyền nhất là ngành cảnh sát. Thật vậy, vì bất bình, tôi theo gương một số linh mục lúc bấy giờ, dùng giảng đài trên cung thánh để lái mọi dịp giải thích Lời Chúa sang hướng nặng lời với chính quyền. Chính quyền nhất là cảnh sát cuộc có lẽ căm ghét tôi kinh khủng; vì thế chuyện họ tìm mọi cách triệt hạ tôi là điều không tránh khỏi.
Lần cấm phòng tháng kế tiếp, sau khi ra phòng, trên đường trở về Long Thạnh, tôi ghé chơi nhà xứ Chân Phúc; vì mải mê vui đùa với một vài người bạn tu mà lỡ quên cả giờ giấc cho đến khi giật mình nhìn đồng hồ thì trời đã qua buổi trưa, tôi hối hả lên đường. Sau khi sang sông, tôi kêu một chiếc xe Honda ôm thẳng về Long Thạnh.
Xe chạy ngon trớn, qua khỏi những ngôi làng âm u, tịch mịch và buồn tẻ của người Chăm thì trời cũng vừa sụp tối; lúc này xe bắt đầu tăng tốc để vượt nhanh qua vùng cây cối rậm rạp, hoang vắng và tối mù.
Bất ngờ có nhiều tiếng súng nổ.
Chiếc xe đang chạy với tốc độ cao bỗng như khựng lại, rú lên rồi quăng anh lái xe cùng với tôi xuống đường đất văng về phía trước; chúng tôi “bay” đi một quãng khá xa va vào các gốc cây ven đường. Trong khoảng thời gian nhanh như chớp ấy tôi còn kịp nghe ra được tiếng những viên đạn rít “chiu chíu” ồ ạt bay ngang qua tai gần như bao phủ lấy tôi. Sau đó tôi không còn biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy, tôi không còn nghe tiếng súng hay tiếng động gì nữa ở chung quanh. Mất khá lâu tôi mới nhận ra mình còn sống và đang nằm trên đất lạnh giữa trời tối đen như mực; chợt có tiếng người thì thào nói chuyện với nhau:
- Chết thiệt chưa?
- Đ.m. sao mà sống nổi!
- Thôi! Rút!
Tôi sợ quá nên giả bộ nằm im như chết. Thận trọng chờ đợi thật lâu đến lúc thấy đã chắc chắn không còn ai quẩn quanh nơi đó nữa, trong bóng đêm mịt mù, tôi từ từ nhổm dậy quan sát tới lui năm lần bảy lượt. Tôi cảm thấy đau đớn khắp người. Thử cử động từng bộ phận cơ thể xong, tôi cố gắng cho thật nhanh đứng lên và rời ngay khỏi nơi này.
Sự hoảng sợ khiến tôi quên mọi đau đớn đồng thời cho tôi thêm sức mạnh dù đầu đang nhức từng cơn như búa bổ, tứ chi gần như rơi rụng từng phần; tôi len lỏi trong hàng cây cao cao ven đường, vừa lê từng bước vừa nép sát lề đường và cũng vừa chong mắt nhìn vào bóng tối và lắng tai nghe từng tiếng động; tôi lếch thếch đi bộ thật êm hướng về Long Thạnh. Cứ đi một quãng ngắn, tôi lại ngồi xuống đất hay dựa vào thân cây để nghỉ mệt. Tuy mừng rỡ vì vừa thoát chết nhưng lòng vẫn nặng trĩu mối âu lo sợ hãi.

Khi còn cách Long Thạnh khoảng vài ba cây số thì trời đã mờ mờ sáng. Đói, khát, mệt và đau đớn; tôi thầm nghĩ trong đời mình chưa từng nếm trải mùi gian nan cam khổ như thế này. Tôi do dự mãi rồi sau cùng quyết định ghé vào một ngôi nhà nhỏ ven đường vừa mới mở cửa để xin nước uống. Nhìn thấy dáng dấp thê thảm, áo quần tả tơi của tôi chủ nhà ngạc nhiên, hỏi han. Khi biết tôi bị cướp, hai vợ chồng già giúp đỡ lau chùi và băng bó vết thương, cho uống nước và ăn một cái bánh ít, rồi người chồng đi ra xóm vắng; một lúc lâu ông đưa về một chiếc xe đạp kéo thùng; người đạp xe lôi thùng lặng lẽ chở tôi về nhà thờ Long Thạnh.

Khi xe dừng trước cổng nhà thờ, tôi thấy các ông Biện, Giáp và nhiều giáo dân đang tụ tập ở đó; tất cả đều nhất loạt reo lên mừng rỡ như tôi vừa “từ cõi chết” trở về. Họ đỡ xuống và dìu tôi vào nhà xứ.
Trong khi săn sóc vết thương cho tôi, mọi người phát hiện tôi bị nứt trán, rách da đầu, gẫy cánh tay phải, giập bàn chân trái và tưa tét đầu gối cùng rất nhiều vết thương do đạn gây xước da chằng chịt khắp người; rồi vì phải lê lết đi bộ suốt đêm trên một quãng đường dài gần hai mươi cây số nên vết thương ở bàn chân phải sưng phù và lở loét trông rất kinh khủng…
Thầy thuốc băng bó, chữa trị, kê đơn hốt thuốc, còn các bà thì lo cho tôi ăn uống… Khi cảm thấy sức khỏe đang dần hồi phục, tôi mới tuần tự kể lại mọi việc nhưng vẫn cứ với ý nghĩ cùng cái giọng của một người vừa thoát chết từ một vụ giết người cướp của… đến khi các ông Biện, Giáp và giáo dân thuật lại rằng vừa mới sáng sớm đã có một thanh niên lạ mặt đến kêu cửa nhà ông Biện Chắc báo tin: “… ông thầy nhà thờ của các ông bị VC bắn chết tại xóm Chàm, mau đi xuống lấy xác” thì ý nghĩ của tôi và mọi người bắt đầu thay đổi. Họ kể tiếp: Tin sét đánh đó làm chấn động mọi người. Nhưng phải chờ hết giờ giới nghiêm, một nhóm giáo dân tức tốc đi ngay đến xóm Chàm.
Mọi người chưa kịp kể xong câu chuyện thì nhóm giáo dân vừa nói đã về đến, họ ào ào vô nhà xứ. Tất cả những người này sững sờ và vui mừng khi nhìn thấy tôi. Họ kể đã gặp một xác chết nằm bên vệ đường với nhiều vết đạn ghim vào người. Họ mang về cho tôi túi xách bên trong vẫn còn đầy đủ giấy tờ tùy thân.
Càng ngày câu chuyện tôi bị “cướp” càng trở nên khó hiểu.
Nhưng rồi ngày qua ngày, bằng nhiều cách thăm dò, hỏi han, điều tra của nhiều giáo dân nam nữ già trẻ theo nhiều hướng khác nhau, cuối cùng mọi người xác định rằng tôi không bị cướp, nhưng bị một thế lực nào đó dàn dựng vở kịch “VC ám sát” để âm mưu giết tôi; thời buổi này người ta thường dùng mánh khóe tàn độc đó để thực hiện những cuộc thanh toán lẫn nhau.

Trong dịp về thăm cha Luca sau đó, khi nghe tôi kể hết đầu đuôi câu chuyện, cha hỏi:
- Nghe cách con kể, cha tin rằng con đã rút ra nhiều bài học, phải vậy không?
Tôi thưa:
- Thưa bài học đó là không được phép kiêu căng tự mãn; không bao giờ dùng giảng đài để chỉ trích ai.
Có vẻ chưa hài lòng, cha Luca hỏi
- Con không còn bài học nào nữa sao?
Khi thấy tôi ấp úng không thể nói thêm được điều gì khác, cha ôn tồn dạy:
- Mọi cảnh huống đều có thể xử trí bằng tinh thần Phúc âm! Tức bác ái yêu thương qua khiêm tốn và hiền lành.
Tôi xin cha giải thích cách xử trí bằng tinh thần Phúc âm khi đang đứng giữa người cảnh sát phạm thượng và giáo dân quyết đòi cho được danh dự. Cha không giải thích trực tiếp vào thẳng vấn đề, nhưng nêu lên ba yếu tố giúp tôi suy nghĩ sự việc cách giản đơn. Cha nói:
- Một là anh cảnh sát đó là người say rượu. Hai là người Công giáo thường coi trọng danh dự đến mất khôn. Ba là khiêm tốn và hiền lành có sức giải quyết mọi vấn đề cách tốt nhất.
Cha sở Luca nhắc thêm:
- Lẽ ra người tu chúng ta phải luôn nêu gương sống tinh thần Phúc âm trong mọi tình huống. Đằng này ngược lại.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 15.05.2026 22:09:34
Kỳ 35
 
Như tôi đã thưa, sau khi ba phụ nữ “áo đen” lãnh bí tích Thanh tẩy, tôi bắt đầu có linh cảm mình sẽ gặp nhiều rắc rối. Quả đúng như vậy! Rắc rối thứ nhất vừa xong, tôi gặp ngay rắc rối thứ hai.
Trước khi kể tiếp, tôi muốn nói chút suy nghĩ nhỏ. Phải thừa nhận Chúa vô cùng khôn ngoan, công bình, nhân hậu và đầy tình thương, đã an bài từ việc lớn đến việc nhỏ cho mọi con cái trên đời; một ví dụ mọn, dân quê hẩm hiu bị thiếu vắng bệnh viện, bác sĩ, thuốc men... thì Chúa liền bù đắp cho họ biết những phương thức lạ kỳ để chữa khỏi một số bệnh cách dễ dàng và mau chóng -dẫu dân thị thành không tin và có cười nhạo khinh dể. Ý tôi muốn nói, với những vết thương bị từ vụ chết hụt, nếu tôi đến bệnh viện tỉnh, chắc các bác sĩ sẽ chữa trị rườm rà và lâu lắc bằng thuốc men lỉnh kỉnh, chi phí tốn kém… trái lại, ở đây chỉ với ba ông thầy ta luôn sẵn lòng, tôi được chữa khỏi chỉ trong thời gian ngắn không ngờ: mười ngày. Một ông thầy chuyên về bó xương chẳng ồn ào, cách băng bó có vẻ thiếu vệ sinh nhưng chưa đầy một tuần, tay gãy của tôi lành lặn như cũ, trán bị nứt cũng chỉ bôi thuốc và bôi thuốc. Một ông thầy chuyên về các vết thương thuộc da thịt lại càng nhẹ nhàng hơn, xức thuốc tựa như bôi dầu nóng, vậy mà chỗ lở loét ghê nhất cũng chẳng có dịp để nhiễm trùng. Một ông thầy chuyên về nội thương chỉ cần bắt mạch hốt vài ba thang thuốc Bắc vừa trị bệnh vừa bồi bổ khiến tôi hoàn toàn khỏe mạnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Thật vậy! Mãi đến sau này tôi vẫn không bị một thứ bệnh hậu nào hành hạ.

Khi tôi bắt đầu lao vào công việc thường ngày, bỗng một hôm có hai cô gái xinh đẹp lộng lẫy, tuổi độ đôi mươi cùng nhau đến xin học để được vào đạo Công giáo.
Như thường lệ, tôi sắp xếp lịch dạy vào 2 giờ trưa mỗi ngày trừ chúa nhật và hăng say đem hết những kiến thức giáo lý nói cho họ. Bù lại, hai cô gái chăm học, siêng năng và đúng giờ.
Tôi và hai cô gái mau chóng thân thiện với nhau vì họ thường hay nán lại một chút sau mỗi giờ học để trò chuyện, quét qua cái nhà, sắp xếp lại phòng khách, hoặc để giúp tôi vài việc lặt vặt trong nhà thờ. Thỉnh thoảng họ còn mua cho tôi đồ dùng linh tinh, quà bánh chút đỉnh… Nói chung, hai cô gái trẻ tuy rất đẹp nhưng cởi mở, ngoan hiền, duyên dáng và thật dễ mến.
Có vài lúc tâm tư tôi thoáng chút nghi ngờ, ý nghĩ tôi thoáng chút lo lắng khi chợt nghĩ rằng, hai cô gái dáng người của phố thị này do ai sai tới để hãm hại tôi cũng nên; hoặc họ ngụy trang người tốt với ý đồ xấu. Nghi ngờ, lo lắng chỉ thoáng qua rồi tôi lại quên ngay khi thấy càng ngày hai cô học trò dễ cưng càng quyến luyến tôi cách lạ kỳ, quyến luyến hơn mức bình thường. Tôi không dám chắc trăm phần trăm là cả hai cùng phải lòng tôi, nhưng ánh mắt, cử chỉ, lời nói và nụ cười của họ lúc nào cũng hàm ý, lúc nào cũng làm cho tôi ngây ngất.
Dần dần họ biết hết mọi ngõ ngách trong nhà. Đôi lúc họ còn sử dụng phòng vệ sinh, phòng tắm của tôi một cách rất thoải mái hồn nhiên. Thậm chí nhiều khi họ ra vô phòng ngủ rồi leo lên giường tôi để nghịch ngợm nằm thử.
Nghĩ cũng tội cho giáo dân! Tôi đoán có lẽ trong thời gian đó thể nào cũng có vài ông Biện, ông Giáp, hay vài giáo dân muốn nhắc nhở, cảnh giác, khuyên nhủ để tôi đừng buông thả, đừng trầm mình trong sự liều lĩnh, chí ít cũng nên thận trọng đừng quá tin ai, nhất nữa tin những cô gái trẻ đẹp không phải người trong họ đạo. Có lẽ tại vì thời này tuy là thời của chiến tranh hỗn loạn, nhưng những tệ nạn như lừa gạt, ăn trộm, cướp giật, lừa tình… tương đối ít. Thật vậy! Đây là thời mà để quên xe đạp hay xe gắn máy ngoài đường không mấy khi bị trộm; tối ngủ không cần đóng cửa nhà; các nhà thờ đâu đâu cũng đều mở toang mọi cánh cửa và để như vậy suốt cả ngày, mặc ai ra vô tùy ý mà chẳng có việc gì xảy ra; người ta chưa có khái niệm rõ ràng về hàng giả, người giả, kẻ gian, vì thế người ta ít nghi ngờ nhau… Hay cũng có lẽ vì giáo dân rất kiêng dè tôi nên tuyệt nhiên chẳng ai dám lên tiếng để nhắc nhở, khuyên răn tôi. Vậy là tôi mặc sức “tung hoành” làm theo bản năng, sở thích và phán đoán ngốc nghếch của mình.
Lâu ngày, hai cô học trò trẻ đẹp và quyến rũ ấy còn tìm mọi dịp để nắm tay tôi, để động chạm vào thân thể nhau, để đứng sát sạt như muốn dán vào người tôi dù miệng lúc nào cũng “thầy… thầy, trò… trò” ra vẻ nghiêm túc, ra cái điều chẳng có ý gì khác. Tôi cũng vậy nào có hơn gì!
Mới chỉ có non một tháng mà ba thầy trò đã thân thuộc nhau, quen hơi nhau như đã qua một năm dài.
Những giờ giáo lý ngày càng kéo dài ra hơn, vì tôi lúc nào cũng muốn được ở bên họ; lòng trí tôi đê mê quên hết thế sự khi có họ kề bên. Trong hai cô gái, tôi hứng thú nhiều hơn với cô tên Bích. Thấy tôi thiên vị như thế nhưng cô còn lại tên Loan chẳng những không ghen tuông, trái lại còn khuyến khích và giúp cho chúng tôi càng thân mật nhau hơn.
Có những hôm khi từ phòng tắm bước ra vừa vào đến cửa phòng ngủ tôi tá hỏa khi nhìn thấy hai cô gái trút bỏ hết áo quần, trần truồng nằm trên giường tôi, miệng còn kêu: “Phòng thầy nóng nực quá thầy ơi!” để giải thích cho việc lõa thể tự nhiên như vậy.
Có những lần cô Bích vào phòng tắm, rồi lấy lý do nhờ tôi việc gì đó, khi tôi bước vào thấy cô trần truồng. Đã không e thẹn, cô ta còn ra vẻ như tình thế bắt buộc phải vậy.
Có những lúc cả hai ôm lấy tôi và có những cử chỉ cực kỳ khêu gợi.
Tôi cứ để mọi việc trôi đi mà không có chút can ngăn. Đó là sự sai lầm và hư hỏng của tôi, điều làm tôi phải trả giá đắt. Sau này mỗi khi thưa chuyện với bất cứ bề trên nào, tôi đều thú nhận đúng sự thật, tuyệt không tìm cách biện minh cho mình, vì nhiều khi hậu quả xấu xảy đến chỉ vì mình buông mình trôi xuôi chưa cần phải có hành động xấu.

Rồi chuyện gì phải đến cũng đến. Tôi thường tắm rửa vào buổi trưa, vừa do thói quen, vừa do nắng xứ này –sát nách Campuchia- có vẻ quá nóng vào buổi trưa, nhưng cũng vừa do hoàn cảnh, tức trong thời dụng biểu hằng ngày của mình, từ trưa đến chiều và từ chiều cho đến tận mười giờ đêm, tôi không còn một chút thời giờ dư nào để lo việc riêng mình.
Chuyện xảy ra vào một ngày đầu tuần. Hôm đó nghỉ trưa vừa dậy, nghe tiếng chuyện trò ngoài sân nhà thờ tôi biết ngay hai cô học trò yêu dấu, Bích và Loan, đến học giáo lý như thường lệ. Nhìn đồng hồ thấy chưa tới giờ dạy, tôi vào phòng tắm.
Tắm gần xong, tôi bỗng nghe tiếng la hét vang dội ngoài cổng nhà thờ. Tiếp theo là những thứ tiếng ồn ào của một nhóm người.
Khi tôi chưa kịp nhận ra sự thể thì tiếng la hét ồn ào cùng tiếng chân chạy rầm rập của nhóm người đó tiến vào nhà xứ, xông vào tận phòng tôi đang tắm. Nhóm người đó vừa đập cửa phòng tắm vừa la hét ầm ĩ:
- Đ.m. mở cửa! Mở cửa! Mở cửa ra mau, thằng chó!
Không biết chuyện gì nhưng tôi không vội mở chốt cửa, để chờ xem có việc gì. Họ bắt đầu đập cửa mạnh hơn, dộng cửa, rồi mạnh tay đập phá đến tan tành cánh cửa gỗ mỏng manh, miệng la hét cách dữ tợn khi vừa thấy tôi:
- Nó đây rồi! Bắt nó! Bắt nó giải cho chính quyền! Thằng đội lốt thầy tu! Thằng đồi trụy! Thằng trốn quân dịch để đi bắt gái, để hiếp dâm con gái nhà lành! ...
Và còn nhiều tiếng la hét rủa xả thô bỉ nữa tôi không thể nào nhớ hết.
Tôi không hiểu nhóm người này là ai, động lực gì khiến họ căm ghét tôi đến vu khống trắng trợn như vậy; cũng có thể họ là cha, bác, chú, anh, em, bạn… gì của hai cô học trò xinh đẹp kia cũng nên! Nhưng cái gì khiến họ vu khống tôi tội “bắt gái”; tôi đã làm gì để họ trút lên đầu tôi tội “hãm hiếp con gái nhà lành”?
Phá được cửa, nhóm hung dữ ước độ bảy tám người phần đông là đàn ông trai tráng, xông vào túm chặt lấy tôi, lôi tôi ra ngoài không cho tôi kịp mặc áo quần; may là trên người tôi vẫn còn một chiếc quần đùi trắng, chiếc quần còn đang đẫm nước vì tôi đang tắm.
Họ quát nạt, trói và hung hăng đẩy tôi ra ngoài sân nhà thờ.
Ra tới sân, tôi còn hoảng hốt hơn khi nhìn thấy một cảnh tượng không thể ngờ. Hai cô học trò xinh đẹp kiều diễm ngày nào của tôi có mặt ở đó nhưng bỗng dưng họ như diễn viên đổi vai thay lốt; họ không còn là những cô học trò ngoan hiền, duyên dáng và dễ thương nữa rồi, mà đã trở thành những cô gái rất lạ lùng: già giặn, lõi đời, chua ngoa, đanh đá, dữ tợn và có vẻ gì đó rất gian manh xảo trá... tôi không thể tưởng tượng nổi! Cô gái tên Bích không một mảnh vải che thân, trần truồng như nhộng, hai tay bụm lại che phần thân thể phía dưới đang máu chảy đầm đìa, đứng dựa hờ vào tường vừa khóc rên ư ử vừa nhìn tôi với ánh mắt căm thù. Cùng lúc đó cô gái tên Loan với chiếc áo trắng mong manh dường như bị xé đến rách te tua, để lộ nguyên bộ ngực ra, đứng giữa sân dậm chân la hét một cách dữ dằn không ngớt những lời chửi bới tục tĩu và những lời nguyền rủa rất cay độc nhắm vào tôi.
Khi tôi bị đẩy ra sân, cô gái tên Loan còn chỉ thẳng vào mặt tôi hét to:
- Nó đó! Chính thằng khốn nạn này đây! Con quỷ râu xanh! Nó hãm hiếp hai chị em tôi! Nó làm hại đời con gái chúng tôi rồi!... Bà con tới đây mà xem! Thằng thầy tu hãm hiếp con gái… Trời tru đất diệt nó đi!... Đ.m. thằng thầy tu!
Cô gái tên Loan còn hét to bằng nhiều lời lẽ tục tĩu khác nữa mà tôi không thể kể ra đây.
Đến đây thì tôi bắt đầu dần hiểu ra mọi chuyện.
Như đất trời đảo lộn, tôi cảm thấy mình lâu nay bị hai cô gái này lừa dối khủng khiếp, nói là để học đạo, nhưng để gài bẫy.
Tuy nhiên, khi tôi quan sát thấy những người bắt trói mình đều là những người xa lạ, không hề có một giáo dân nào trong số họ, tôi liền cảm thấy bình tĩnh lại chút ít; vả lại, xô đẩy kéo lôi tôi ra được tới sân nhà thờ thì nhóm người này giờ đây hình như chẳng còn vẻ gì là hung dữ như ban đầu nữa, lại giống như chẳng còn việc gì để làm nữa, họ đứng xa xa có vẻ sớ rớ. Ngẫm nghĩ thấy đúng! Tự nãy giờ nhóm người này chung quy đã có đánh, có đá… tôi cái nào đâu! Còn nói trói thì cũng chỉ là buộc dây quanh hai cổ tay tôi một cách sơ sài đến nỗi tôi tin mình có thể bứt đứt dây trói dễ dàng. Nghĩ đến đó tôi có một cảm giác hơi yên tâm; cũng từ đó, tôi từ từ lấy lại chút ít bình tĩnh và đứng yên không nói tiếng nào.
Chỉ trong nháy mắt, có lẽ chưa đầy 5 phút từ khi diễn ra sự việc, như đã có sắp đặt và như đã chực chờ sẵn đâu đó từ lâu, đại diện chính quyền xã, ấp, đi cùng với hai viên cảnh sát viên áo trắng, vài anh lính thuộc lực lượng nhân dân tự vệ vác súng trường có mặt đầy đủ; đối với hai cô gái thì họ đưa quần áo cho mặc, đối với tôi thì không, ngược lại họ còn mắng mỏ, hăm dọa và nạt nộ tôi một lúc; họ vào phòng học lôi bàn ghế ra ngồi lấy lời khai của hai cô gái -phải nói hai cô gái khai toàn những lời láo xược, man trá và bịa đặt trắng trợn không chút ngượng ngùng.
Sau khi lập biên bản xong, họ đọc to rồi ép buộc tôi ký tên vào. Tôi nhất định không chịu ký. Họ quát tháo, mắng chửi rồi dọa sẽ giam tôi vào tù... Nhưng mặc cho họ nói gì, làm gì, tôi vẫn không ký tên vào tờ biên bản hình như đã được soạn sẵn từ trước.
Thấy không buộc tôi được, họ cùng ký tên với nhau, rồi sai người đi tìm các ông Biện, ông Giáp để ký vào biên bản; nhưng mãi vẫn không tìm được ông Quý chức hay giáo dân nào ngoại trừ một vài giáo dân lam lũ nghèo dốt lấp ló chen lẫn với những người hiếu kỳ ngoại đạo đứng quanh các hàng rào nhà thờ.
Nhóm người thuộc chính quyền lại sai nhau đi tìm ban Quý chức nhiều lần nữa.
Tôi thấy lạ và tự hỏi tại sao vào lúc này, ban Quý chức lẫn giáo dân đang ở nơi đâu mà mất tăm mất biệt. Họ có hay biết sự việc đang xảy ra hay không? Nếu biết thì họ ở đâu và làm gì? Nếu không hùa theo hai cô gái kia và nhóm người lạ mặt nọ thì cũng hiện diện chứng kiến vì tò mò; nếu không bênh vực tôi thì cũng có mặt để xem người ta uy hiếp một ông thầy từng giúp đỡ họ đạo của họ. Tôi thật không hiểu ra làm sao, mọi tình huống đều có vẻ khó hiểu.
Tôi còn đang nghĩ ngợi lung tung thì bỗng nghe tiếng huyên náo ở đoạn đường bên trái trước cổng nhà thờ. Một đám rất đông người có tổ chức kéo đến nhà thờ; đi đầu là một số ông trong ban Quý chức, sau đó là giáo dân. Tất cả rầm rập nhưng thinh lặng, tay không cầm gậy gộc hay một thứ gì... kéo đến đông đến nỗi đứng gần như chật kín sân nhà thờ, tràn ra ngoài đường.
Tôi vẫn kịp nhận thấy, khi đám đông giáo dân còn cách nhà thờ gần trăm mét, nhóm người vây bắt tôi lúc nãy bỗng nhiên nháo nhào bỏ chạy tán loạn chui trốn mất dạng vào các con hẻm gần đó; hai cô gái láo liên hết nhìn chính quyền lại nhìn đám người đang đi tới, hình như hai cô gái cực kỳ lúng túng vì sợ hãi chẳng biết tính sao, nhưng rồi chỉ trong phút chốc, họ cũng nhanh chân bỏ chạy ra khỏi sân nhà thờ, rồi trốn thoát mà chẳng ai buồn ngăn chặn. Vài anh lính nhân dân tự vệ nhân không ai để ý, cũng khéo léo lách mình qua những lổ hổng của hàng rào dâm bụt trốn ra khỏi sân nhà thờ.
Cũng vậy, khi ban Quý chức và giáo dân rầm rộ nhưng im lặng và trật tự tiến vào đứng chật kín sân nhà thờ, trong khi một vài ông Biện vội đi vào trong nhà lấy y phục ra cho tôi mặc, thì nhóm người thuộc chính quyền tự động đứng lên, nép vào nhau đứng ở dưới tán cây xoài, mất hết vẻ huênh hoang lúc ban đầu. Chỉ còn duy nhất ông đại diện Hội đồng xã là ngồi nhấp nhỏm trên ghế sau chiếc bàn; có vẻ như ông ta cố lấy hết can đảm để chìa tờ giấy biên bản hướng về phía các ông Biện ông Giáp và nói:
- Ông thầy tu của các người đã vi phạm thuần phong mỹ tục cách công khai giữa thanh thiên bạch nhật và bị bắt quả tang. Nay lấy lời khai của những cô gái nạn nhân với sự chứng kiến của nhiều người, chính quyền lập biên bản, nhưng ông ta không chịu ký tên thì các ông phải đứng ra đại diện ký thay để đưa về cấp trên giải quyết.
Các ông Biện, Giáp và giáo dân im phăng phắc, không ai lên tiếng.
Chờ một lúc ông đại diện Hội đồng xã lại nói tiếp:
- Ký hay không ký thì chúng tôi cũng phải giải ông ta về giam tại xã chờ ngày chuyển lên quận và tỉnh để đưa ra tòa...
Mọi người vẫn trả lời bằng sự im lặng tuyệt đối. Ông đại diện Hội đồng xã còn nói thêm vài câu nữa, nhưng cũng chỉ nhận được sự im lặng.
Đến hơn ba giờ chiều, nắng dịu, những người hiếu kỳ cũng nản lòng bỏ về dần, ông đại diện Hội đồng xã cuối cùng cũng đứng dậy rời khỏi ghế và nói một lần cuối:
- Hừm! Tôi cho các người suy nghĩ đêm nay. Nếu không ký chúng tôi sẽ hành động, lúc đó đừng có trách.
Ông lẹ làng ra về, nhóm tùy tùng cũng lẽo đẽo bước theo sau một cách rón rén.
...
Khi tôi kể lại mọi sự việc cho ban Quý chức và giáo dân thì mọi người cũng đua nhau kể cho tôi nghe rằng từ lâu tất cả đã bàn bạc và chuẩn bị tinh thần để đối phó với tình huống xấu mà chính quyền sẽ hãm hại tôi. Vì vậy khi vừa nghe xảy ra chuyện, trước hết không ai tin, kế đến họp bàn cách đối phó.
Nghe xong chuyện tôi mới biết họ đạo thực tình thương tôi, đồng thời nghiệm ra rằng, nhiều khi giáo dân biết hết và biết trước cả giáo sĩ tu sĩ, nhưng vì giáo dân không nói, khiến giáo sĩ tu sĩ cứ cho họ là ngu muội, dễ bảo... để rồi nhiều khi đi quá trớn và chuốc lấy thất bại.
...
Sau khi mọi người ra về, tôi dần dần rơi vào cơn khủng hoảng của sự chán nản cùng cực. Khoảng vài ngày sau, tôi có một quyết định hầu như rất chắc chắn trong đầu rằng mình sẽ không tiếp tục đi tu nữa. Tôi không tỏ cho ai biết ý định ấy của mình, tôi giấu cơn giông tố đang ầm ầm nổi lên trong tâm hồn bằng cách giả bệnh suốt một tuần. Tôi tránh cả việc vào nhà thờ để khỏi kinh sách gì nữa với giáo dân, chỉ còn giữ duy nhất việc lần chuỗi và lần trong nước mắt.
Tội nghiệp! Các ông Biện, ông Giáp… chia phiên canh giữ cho tôi khỏi bị hãm hại; nhưng họ đâu thể canh giữ nỗi buồn sầu chán nản lớn lao đang tấn công lòng tôi.
Thương cho giáo dân! Nhất là các bà, rán tìm cách an ủi tôi, nhưng đâu ai biết tôi đang tìm cách trốn chạy.
Lúc này tôi chỉ thèm về với má tôi thôi.
Suy đi tính lại nhiều lần, tôi quyết tâm trốn khỏi họ đạo vào sáng đầu tuần tới.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 15.05.2026 22:29:41
Kỳ 36 
 
Ý định trốn đi khỏi giáo xứ Long Thạnh, hay nói chính xác là trốn khỏi đời tu, vì quá chán mà không muốn tu nữa… đã nung nấu tâm can đến mức làm tôi mưu mô, khéo léo đóng kịch như đã vui vẻ trở lại với mọi người. Giáo dân ai cũng hớn hở vui mừng. Nhưng thật ra họ đâu ngờ rằng trong đầu, tôi đang lên kế hoạch ra đi rất chi tiết.
Sở dĩ phải lên kế hoạch vì sau lần thứ hai bị hãm hại, cả giáo xứ quyết tâm không bao giờ rời mắt khỏi tôi đến nửa giây để bảo vệ tôi nghiêm nhặt… bằng cách họ cắt đặt sao cho luân phiên, lúc nào cũng có hai người ở trong nhà xứ quanh quẩn bên tôi. Mục đích, nếu lỡ xảy ra chuyện, một người ở lại sát bên tôi còn người kia đi cấp báo ngay cho một trong năm điểm canh –năm điểm canh chẳng qua là năm gia đình rất nhiệt tình, hăng say, lại nữa đều ở gần nhà thờ- năm điểm canh sẽ tỏa ra đi thông báo ngay cho khắp giáo xứ. Vì vậy kế hoạch là mưu kế giúp tôi qua mặt được “hệ thống bảo vệ” tinh vi ấy để trốn khỏi giáo xứ cách trót lọt.
Tuy thấy trước mọi việc có vẻ sẽ rất khó khăn; nhưng vì quyết tâm quá mạnh mẽ, nên tôi vẫn có những toan tính có thể gọi là hoàn hảo.

Khoảng 9 giờ sáng thứ hai, thời gian đầu tuần và đầu ngày này là thời gian mọi người luôn tất bật đi làm, đi công việc hay đi học… Do đã giả đò bị đầy bụng từ ngày hôm trước, nên lúc này tôi dễ dàng lấy lý do mình bỗng dưng bị đau bụng dữ dội.
Tôi kêu Bên, một thiếu niên 16 tuổi, quê mùa, chân chất và cục mịch cạo gió và giác gió cho tôi.
Được một lúc, tôi sai Hùng, một thanh niên bị tật ở chân, 21 tuổi, khôn khéo và láu lỉnh, đến tiệm thuốc Bắc của thầy Kính người Hoa thân quen nằm ở giữa chợ Long Thạnh để mua cho tôi một ít thuốc trị bệnh trúng thực. Thoạt nghe tôi sai, Hùng hơi thừ người suy nghĩ trong thoáng chốc; nhưng rồi anh cũng đành vâng lời. Úp cái nón lên đầu, Hùng khập khiễng đi ra đường. Tôi đã ước tính từ trước rằng với cách đi đứng không bình thường đó, thời gian đi và về lẫn phải nhùng nhằng trả lời cho những câu hỏi ân cần quá mức của thầy Kính… Hùng sẽ mất khoảng trên dưới 30 phút mới về đến nơi.
Hùng vừa ra khỏi nhà, tôi lại ôm bụng lăn lộn, mặt thì nhăn nhó, miệng thì rên rỉ não nề… Thấy Bên đứng gần đó mặt cũng nhăn nhúm theo, tôi bảo Bên:
- Đến nhà… bà năm Nào… xin bà… bứt cho thầy… một bó lá xông đau bụng… mau… lên!
Không một chút do dự, Bên “dạ” rân một tiếng, rồi ba chân bốn cẳng phóng như bay ra khỏi cổng nhà xứ. Tôi cũng đã nhẩm tính từ lâu rằng chú bé này đi đến nhà bà năm Nào, cho dù hôm nay bà ấy có trở chứng, không đi lên vườn cách nhà non hai cây số để hái trầu về bán như thường nhật, thì mọi chuyện xảy ra dẫu suông sẻ lắm thì chú bé Bên cũng phải mất ít nhất 15 phút mới về đến nhà xứ.
Khi Bên vừa khuất sau dãy nhà trước mặt, tôi quơ vội chiếc túi hiệu Air France nhỏ gọn thời này mọi người thường dùng, chứa bên trong chỉ vỏn vẹn một bộ quần áo xi-vin (civil) và vài món đồ lặt vặt –còn hai chiếc áo dòng đen thì tôi đã cẩn thận xếp gọn và đặt dưới chân tượng Đức Mẹ trong nhà thờ cho giống với hạnh các thánh xưa kể về một vị thánh đã làm như thế khi trốn khỏi nhà dòng để đi hoang. Tôi cẩn thận bằng cách thập thò một lúc nơi cánh cửa ra vào của nhà xứ để lượng định tình hình.
Nhìn qua một lượt dãy hàng quán bánh nước phía bên kia đường chếch cổng nhà thờ, với đầy đủ các phụ nữ nhanh nhảu, háu chuyện và ưa rùm beng, tôi bỗng cảm thấy nên thay đổi một chút trong kế hoạch. Tôi bỏ lại hành lý, chỉ ra đi mình không.
Với phong cách đàng hoàng như mọi hôm, tôi bước ra khỏi cổng nhà thờ.
Tiến thẳng lại chỗ bán nước giải khát, tôi nói với chị đứng sau xe bán nước:
- Khoảng năm phút sau, chị Bảy cho bé Thảo bưng vào cho tôi 3 ly nước đá hột é. Vì một lát sau tôi có ba người khách.
Tôi vừa móc tiền ra trả vừa trò chuyện bâng quơ và vui vẻ với những phụ nữ còn lại ở các sạp bên cạnh. Đang nói chuyện này chuyện kia, tôi đột nhiên hỏi mọi người:
- Vào giờ này, bà năm Nào đi hái trầu đã về đến nhà chưa? Các chị có biết không?
Các phụ nữ đua nhau trả lời. Không màng nghe, tôi vội rảo bước tiến về một con hẻm vắng nhất trong số các con hẻm gần đó. Vừa đi, tai tôi vừa văng vẳng nghe các phụ nữ hỏi với theo:
- Ủa! Sao thầy đi lối đó?
- Đi đường này nè thầy ơi!
- Nhà bà năm Nào đi hướng này chớ! Sao thầy lại đi lối đó? …
Tôi luồn lách qua những con hẻm chằng chịt. Tôi vẫy tay thay cho lời đáp trả lại những lời chào, hỏi búa xua của những người đi đường lẫn những người trong nhà cạnh đường.
Thoát ra khỏi hẻm tôi gặp ngay khu chợ cá. Thoát ra khỏi chợ cá tôi bước vào khu phố bán nồi niêu xoong chảo, đồ gốm và bếp lò. Ở đầu kia của khu phố là rạp hát nhỏ; trước rạp hát tôi thấy khoảng đất trống có bãi xe ôm. Tôi ngồi lên một chiếc xe Honda 67 màu đen của người đàn ông thương phế binh trọng tuổi dáng vẻ hiền lành, ít nói rồi xin đi về bến đò Chân Phúc.
Khi xe đã chạy suôn sẻ thoát ra khỏi chợ Long Thạnh, tim tôi mới dịu lại, không còn đập loạn xạ như trước vì tin chắc rằng kế hoạch của mình đã thành công mỹ mãn.
Bây giờ đã đến lúc tôi phải quên hết quá khứ buồn tủi để chỉ nghĩ đến tương lai trước mặt, ngày mai sẽ làm gì, ngày mai sẽ ra sao... Tôi nghĩ rằng, một khi xuất tu thì phải đi lính tức vào quân đội ngay. Hoàn cảnh của tôi hiện giờ chỉ nên vào trường sĩ quan Thủ Đức mà thôi. Còn tương lai ra sao thì chỉ biết phó mặc cho định mệnh. Tuy nhiên trước hết phải về nhà và nói rõ ràng ngọn nguồn phân tỏ cho má tôi biết… Chắc má tôi khóc đến sưng cả mắt cho coi! Tôi không định ghé cha Luca.
Khi xe đã đi vào con đường độc đạo dẫn về bến đó Chân Phúc chừng vài cây số, khi đầu óc tôi còn đang lan man đủ chuyện thì thình lình người đàn ông thương phế binh lái xe ôm kêu lên:
- Cái gì nữa vậy trời?...
Tôi nhìn ra trước mặt.
Nhưng khi vừa kịp nhận ra thì cũng là lúc đám người cùng với xe cộ đã đứng dàn ra giữa đường cản hết lối đi.
Tôi vô cùng sửng sốt khi nhận ra đám người chận đường đó là những người đàn ông và phụ nữ giáo dân Long Thạnh. Có cả vài ông Biện, ông Giáp ở trong số đó nữa. Một vài người nói như quát với người lái xe ôm hiền lành:
- Yêu cầu dừng xe lại!
- Yêu cầu anh quay đầu xe trở về Long Thạnh ngay cho!
- Yêu cầu anh nhận tiền lộ phí rồi để thầy tui lại, quay trở về!
Để một hai người thu xếp với ông lái xe, số còn lại vây quanh vây lấy tôi vừa nắm áo nắm tay… vừa khóc lóc rên rỉ vang dậy cả một khúc đường:
- Thầy ơi thầy bỏ đi hả thầy?
- Thầy đành lòng bỏ chúng con sao thầy?
- Thầy ghét chúng con lắm hả thầy?
- Thầy ơi trở về với chúng con đi!
- Thầy ơi!... Thầy ơi!…
Tôi bàng hoàng, ngượng ngập, tiu nghỉu… chỉ biết đứng đờ ra đến không còn thốt ra được một lời nào.
Tôi im lặng riu ríu bước lên ngồi sau xe Honda của một ông Biện rồi cùng đoàn người trở về nhà xứ Long Thạnh.
Về đến nhà xứ tôi thấy giáo dân, có cả một số người lương, đã tu tập kín ngoài sân lẫn trong nhà; mọi người khóc như mưa; trong khi khóc, kẻ trách, người xin, kẻ than, người kể:
- … Cũng phải thôi! Giáo xứ này bạc bẽo với thầy quá nên thầy mới bỏ đi…
- Thầy ơi! Đi làm chi tức tưởi như vậy!...
- Chúng con có tội tình gì mà thầy đành lòng bỏ chúng con…

Họ làm tôi khóc mùi.
Nhưng tôi khóc vì chuyện khác. Chuyện tôi day dứt và trăn trở bao ngày với ý định muốn bỏ trốn khỏi đời tu nhưng số kiếp không cho. Thấy tôi khóc, mọi người già trẻ lớn bé càng khóc lớn.
Gần đến trưa, ban Quý chức tề tựu đầy đủ. Họ đại diện cho giáo xứ nói lên đủ mọi lời chân tình. Họ nhận về mình những lỗi mà họ không có. Tôi cảm thấy xót xa trong lòng không thể tả và thầm trách mình đã đối xử không tốt với họ đạo. Để đền đáp, tôi không ngần ngại hứa với họ sẽ không bỏ đi cho tới kỳ hạn bề trên ấn định. Nói gì thì nói, tôi vẫn cứ giấu việc tôi ra đi là vì quá chán đời tu, không muốn tu nữa… chứ nào có giận hờn gì giáo dân!
Giáo dân không chịu về nhà, chỉ một số ít ra về, số còn lại cứ nấn ná mãi ở nhà xứ.
Tối đến, một phần đông ra về, số ở lại, cánh đàn ông thì uống trà hút thuốc, các phụ nữ thì nấu nướng… tất cả cố tìm mọi cách làm cho tôi vui. Họ còn qua đêm ở nhà xứ với cái vẻ như sợ tôi lại bỏ đi lần nữa.

Vài ngày hôm sau, vì đã trải qua nhiều ngày ăn không trôi, nhiều đêm không chợp mắt, vì tâm trạng lúc nào cũng căng thẳng trong rối rắm bất an, buồn sầu chán nản, âu lo do dự… tôi thấy cơ thể có vấn đề, nghĩa là bỗng dưng tôi cảm thấy suy sụp và yếu dần. Tôi từ từ chìm vào cơn bệnh thương hàn kèm thêm suy nhược cơ thể.
Tôi mê man trong những cơn sốt liên tiếp và vật lộn với những ác mộng xảy ra không ngừng.

Tôi liệt giường suốt một thời gian dài. Nhờ giáo dân cùng với các thầy thuốc Bắc người Hoa, người Việt tận tình chạy chữa, chăm sóc… cuối cùng tôi thoát khỏi cơn nguy kịch, bình phục trở lại trong sự mừng rỡ của giáo dân họ đạo.
Tôi tin chắc có ai đó đã đến tận giáo xứ An Biên báo tin và kể hết tình hình của tôi nên cha sở Luca đến thăm tôi.
Ngày cha đến, tôi còn nằm liệt trên giường bệnh nên không hay biết. Một buổi trưa mở mắt ra tôi thấy cha ngồi cạnh giường, cầm tay tôi cha nhẹ nhàng an ủi:
- Rán đi con! Rồi mọi việc cũng sẽ qua thôi!

Cha ở lại với tôi đến hơn một tuần. Một hôm khi thấy tôi đã khỏe nhiều, cha hỏi:
- Con định bỏ tu phải không?
Tôi ngại sợ, tránh ánh mắt của cha và không biết thưa lại gì. Cha cũng im lặng.
Tôi thắc mắc không hiểu do đâu mà cha biết ý định thầm kín, ý định mà tôi chưa một lần nói ra với ai. Tuy nhiên khi nhìn thấy hai chiếc áo dòng đen được giặt ủi, treo cẩn thận trên mắc áo ở đầu giường, tôi đoán giáo dân đã hiểu được điều gì trong lòng tôi. Tôi khéo léo dò la tin tức nơi các phụ nữ, nhưng các bà này cũng úp mở rằng “trong những lần mê sảng, thầy ú ớ ghê lắm!
Khi thấy tôi gần trở lại bình thường, cha Luca khích lệ:
- Con can đảm và mạnh mẽ lắm! Ở trường hợp như con, khó ai có thể đứng vững được.
Cha im lặng một lúc rồi nói tiếp:
- Đây là trận đòn thứ ba mà ma quỷ muốn quật ngã con. Nhưng họ không làm được vì có Đức Mẹ phù hộ con đặc biệt.
Tôi sửng sốt hỏi:
- Thưa… làm sao cha có thể biết những chuyện đó?
Cha Luca trả lời ngay:
- Ông Lực Lượng nói cho cha biết. Cha còn đọc được trong cách nói, Ông ấy có vẻ nể nang con.
Cha khuyên nhủ:
- Tu hay không tu… không quan trọng con ạ! Quan trọng là có đi theo ơn gọi “làm theo Lời Chúa dạy bảo trong Phúc âm” hay không. Đó mới chính là ơn gọi Chúa đặt trong lòng mỗi người kể cả giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ… Ơn kêu gọi không phải là gọi đi tu, cho nên tu hay không tu… chỉ là những cách sống.
Cha cười nhẹ:
- Chỉ vì tìm tước lợi chứ không tìm việc “làm theo Lời Chúa”, nên một số người tu trở thành đứa con thứ trong dụ ngôn “Hai người con” Chúa kể… Miệng họ khấn, hứa leo lẻo “Thưa cha, con sẽ ra đồng làm việc với cha” nhưng chẳng đi (*).
Tôi cảm thấy nhẹ lòng. Cha Luca nói ít, nhưng tôi hiểu nhiều. Tu hay không tu không còn là vấn đề. Nếu tu tiếp, đó phải là sự tự nguyện cao. Ở đời, người ta nói “tự nguyện chịu bất an và đau khổ” chứ có ai lại nói “tự nguyện hưởng an ổn và tước lộc”? Bắt đầu từ hôm đó, tôi nhận thức được nhiều vấn đề một cách rất đúng đắn.
Cảm thấy vui vẻ và phấn chấn, tôi hỏi cha Luca:
- Thưa… cha vừa nói đây là trận đòn thứ ba mà… ma quỷ…
Cha Luca đọc được hết ý nghĩ của tôi, cha đáp:
- Phải! Hôm nay sau trận đòn động đến chính thân xác con xong, sẽ chẳng còn trận đòn nào xảy ra nữa. Con có thể yên tâm cho tới ngày trở lại đại chủng viện học tiếp.
Cha dạy tôi một bí quyết:
- Mỗi khi gặp âu lo, buồn sầu, sợ hãi… con hãy đọc to lên bất kỳ một câu nào do chính miệng Chúa phán. Con sẽ thấy ngay sự bình an.

Càng về sau, tôi càng nghiệm ra. Đó là ba trận đòn của ma quỷ nhằm triệt hạ tôi. Trận thứ ba khủng khiếp hơn, họ làm tôi buồn chán đến nỗi phải trốn cho được khỏi đời tu; may mà Đức Mẹ Phù hộ Các Giáo hữu đã khiến cả họ đạo giúp tôi quay lại; khi thấy mưu mô không thành, ma quỷ liền quay sang làm tôi lâm trọng bệnh; trong cơn bệnh nặng tôi lại phải gánh chịu một chuỗi những ác mộng kinh khiếp.
Dầu gì tôi cũng chỉ là một thanh niên mới lớn, non dạ, yếu lòng… nên tôi cứ rên rỉ với Chúa hoài:
- Người ta gặp được Chúa bằng hành trình êm ả. Còn con, để gặp được Ngài, phải lao đao lê lết mới được sao, lạy Chúa?
 
 
(*) Dụ ngôn hai người con (Mt 21:28).

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 15.05.2026 22:54:38
Kỳ 37
 
Sau khi sóng gió qua đi, tôi lẫn mọi người trong họ đạo đều sống trong sự thận trọng tuyệt đối. Cũng nhờ những gian nan khổ ải, mà giữa tôi và họ đạo có một tình thương sâu đậm đặc biệt. Chẳng những vậy, những người lương sống quanh vùng cũng dành cho tôi những cảm tình nồng ấm.
Tôi được cha sở Chân Phúc cho phép nghỉ ngơi mười ngày. Tôi liền về thăm má vài ngày rồi xin phép má tôi đến An Biên thăm cha sở Luca. Những ngày ở bên cha, cha và tôi trò chuyện hết sức thú vị. Buổi tối ngày đầu tiên trong lúc nói chuyện cha hỏi tôi:
- Con có muốn tranh luận với ma quỷ không?
Tôi hết hồn. Vì thời gian này nghe đến ma quỷ là tôi sợ khiếp vía. Nhưng vẫn còn sót lại trong đáy lòng một chút xíu tò mò, tôi hỏi:
- Thưa cha… tranh luận là sao ạ?
- Nói nôm na là cãi nhau với ông Lực Lượng đó!
Tôi buột miệng thốt lên:
- Chúa Bà! Sức con làm sao có thể sánh bằng ai huống chi đọ sức với ông Lực Lượng…!
Cha sở phì cười, ngài bảo mai cứ đi với ngài.
Sáng hôm sau, điểm tâm xong, cha dẫn tôi băng ruộng, vào tận một xóm nhỏ nằm trọi lõi giữa đồng vắng, đến một ngôi nhà lợp ngói, cổ kính nhưng gần như hoang tàn. Thấy cha con chúng tôi đến, những người hàng xóm đoán đúng chúng tôi muốn đi đâu, nên lục tục kéo nhau theo chúng tôi. Vài người phụ nữ than thở:
- Ông cố (*) ơi! Mấy hôm rồi nó làm cả xóm không ai ngủ nghê gì được.
Vài người chen vào kể “tội”. Một ông lớn tuổi hỏi:
- Có phải hôm nay ông cố và ông thầy đến để bắt quỷ cho nó phải không?
Cha sở trả lời:
- Không phải! Chỉ đến thăm thôi.
Trả lời xong, cha sở chuyện trò với mọi người một lúc, sau đó dắt tôi vào căn nhà trống trước trống sau, gần như chỉ còn lại những hàng cột to tròn và những bức tường loang lỗ. Cha sở và tôi bước vào. Những người hàng xóm cũng vào theo và lớn tiếng gọi:
- Nga ơi! Có cha sở đến thăm. Bà thánh ơi! Tiên Nga ơi!...
Xem cái cách gọi vui vẻ, cái cách không chút gì sợ hãi và còn cư xử khá thân tình của hàng xóm, tôi bớt đi sự sợ hãi lúc ban đầu khi nghe cha sở nói về người bị quỷ ám này.
Một lúc lâu, từ nhà sau có tiếng chân người bước ra. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy đó là một cô gái đẹp, phải nói là đẹp như những hình vẽ trong các bìa tập học sinh hay các bức liễn truyện cổ treo tường thời đó. Một nét đẹp, tôi không hiểu “liêu trai chí dị” là gì, nhưng tôi nghĩ đẹp cổ quái chắc là như thế. Nhìn vào mái tóc đen dày xõa dài, khuôn mặt trang nghiêm, nước da trắng nhợt và đôi mắt to đen thăm thẳm… gợi lên trong tôi một cảm giác vừa ngưỡng mộ nhưng cũng vừa lo lắng.
Cô gái mà cha sở nói là người bị quỷ ám, hàng xóm gọi là “bà thánh”, là “tiên nga” có vẻ lớn tuổi hơn tôi… nhìn tôi bằng một ánh mắt lạ kỳ, nếu như không có cha Luca ở cạnh, tôi bỏ chạy liền. Cô gái nói mà ánh mắt không rời khỏi tôi:
- Chào ông cố…
Chào cha sở cho có lệ xong, chị dùng ngón trỏ chỉ thẳng vào mặt tôi nói:
- Người quen mà!...
Gai ốc trong người tôi nổi rợn lên hết, tôi chỉ còn có một việc duy nhất là cố gắng đứng yên không vùng chạy ra khỏi nhà kẻo giáo dân chê cười.
Cha sở Luca thì lại tỉnh queo. Ngài gọi tên chị là Nga và hỏi thăm xã giao. Chị Nga không trả lời hết những câu cha sở Luca hỏi, ngược lại chị tỏ vẻ phòng thủ, đồng thời mắt không rời khỏi tôi.
Cha Luca kéo tôi đến ngồi trên băng ghế dài gần đó, chị Nga đi vài vòng xung quanh nhìn chằm chằm vào chúng tôi một lúc rồi cũng ngồi xuống chiếc võng mắc giữa hai cây cột to cách xa chúng tôi khoảng vài mét. Cha Luca hỏi:
- Con ăn uống gì chưa?
Chị Nga tỏ vẻ không nghe. Cha Luca nhắc lại câu hỏi hai lần nữa. Chị tỏ vẻ khó chịu trả lời:
- Ăn gì mà ăn! Loài người các ông chỉ ham ăn ham uống!
Cha sở Luca cười đáp:
- Không ăn không uống làm sao mà sống?
Chị Nga liếc. Vẫn còn đó cái nét đáng yêu của một người con gái đẹp khi liếc mắt mà tôi nhìn thấy trên phim ảnh; bây giờ tôi mới phát giác ra chính cặp mắt của chị vừa quyến rũ tôi vừa làm tôi lo sợ. Chị gắt gỏng với cha sở:
- Đó! Chính lối nói đó che đậy thói mê ăn tham uống của con người. Con người mất nhiều giờ nhiều sức cho ăn uống. Bất cứ công cuộc gì, một đám người làm việc thì cũng có một đám người dưới bếp lo ăn uống. Thánh lễ lớn nào của các người lại chẳng khởi sự bằng rước nhau và kết thúc bằng ăn nhậu… Ăn nhậu đến coi Chúa Bà không ra gì.
Cha sở gật đầu. Tôi cũng thấy đúng. Nhưng tôi bỗng ngứa miệng đến nỗi quên hết sợ hãi, hỏi:
- Nhưng cái bụng đâu để cho người ta quên nó quá sáu giờ đồng hồ?
Chị Nga liếc tôi một cái sắc như dao cạo, cái kiểu như ngầm nói “thằng ranh con! mày mà cũng ọ ẹ nữa ư?” Tôi nhìn chỗ khác. Chị nói ngay không cần suy nghĩ:
- Đức Chúa Giêsu nhịn đến bốn mươi đêm ngày thì sao? Tại sao không bắt chước Chúa khống chế cái bụng đi! Hở ra là ăn, hở ra là nhậu như những thằng Pharisêu! Càng lớn chức to quyền càng phàm ăn… (Ban Biên tập xin được đục bỏ một số dòng)
Cha Luca cười trong ánh mắt khi nhìn sang tôi. Cha hỏi chị Nga:
- Trời đất! Không phải vạn vật Chúa ban để loài người hưởng dùng sao? Con nhìn mà xem! Dưới sông toàn là đồ ăn thức uống. Trên bờ cũng thức uống đồ ăn… thôi thì đủ loại đủ món; thậm chí trên trời chim muông cũng là thực phẩm. Nói chi! Cây cối rau cỏ mọc đầy quanh ta, xem ra nơi nào cũng là những thức ăn ngon lành do Chúa dọn sẵn cho con cái?
Chị Nga “hứ” một tiếng rồi trả lời:
- Cái tội đầu tiên con người phạm trên mặt đất khi vừa được dựng nên có phải là do ăn mà ra hay không? Chúa ban cho cả vườn địa đàng “muốn ăn gì thì ăn”. Nhưng có phải vì tham ăn mà mất cả vườn địa đàng không? Sao không biết rút kinh nghiệm?
Hiện giờ thì tôi mạnh dạn hơn một chút. Tôi vặn vẹo:
- Đó là lối tường thuật ám chỉ, không có thực. Chúa nhân lành nào mà bắt tội thèm ăn, phạt tội lỡ ăn bằng một hình phạt quá nặng, lại còn tru di “truy sát” đến tận cả trăm, ngàn, muôn, triệu… đời tử tôn con cháu hở chị! Chị hiểu sai về Đức Chúa Trời rồi!
Tôi những tưởng chị Nga nổi khùng lên. Nhưng không, chị vẫn bình tĩnh, vẫn coi tôi là một chú học trò dám chọc thầy giáo. Chị thủng thẳng nói:
- Nhưng sự ám chỉ ấy cũng là do thấy con người là loài tham ăn sinh hư việc. Sao không trích từ đó ra bài học?
Tôi có cảm tưởng chị Nga có thể đứng trên bục giảng của trường đại học. Tôi cảm thấy lúng túng. Cha sở Luca hỏi:
- Con ơi! Loài người, xét cho cùng, cũng chỉ là loài động vật thôi con ạ! Sự cần ăn cần uống là lẽ tự nhiên của bản năng sinh tồn. Tội từ đó mà công cũng từ đó. Còn có biết bao thánh nhân hãm ăn hãm uống, còn có rất nhiều người ăn uống chỉ đủ để sống thôi. Sự quá đà ở một số người cũng là việc bình thường thôi!
Tôi nghĩ chị Nga sẽ chấm dứt chuyện ăn uống để đổi đề tài. Nhưng không, chị phản bác:
- Nhưng mọi chuyện xấu như chiến tranh, cướp bóc, giành giật… xảy ra trên đời này đều có phải bắt nguồn từ tranh giành thực phẩm hay không?
Im lặng. Thình lình chị Nga nhìn tôi và nói: “Lần này mày đừng mong chạy thoát” rồi nhanh như cắt nhảy xổ vào ôm chặt lấy tôi bằng đôi cánh tay cứng chắc như gọng kềm.
Với sức trai trẻ, tôi cố hết sức để vùng ra nhưng không được.
Những người đàn bà lẩn quẩn gần đó đồng loạt chạy tới để cùng với cha sở Luca giúp gỡ tay chị ra. Nhưng mọi người loay hoay, hì hục và cố hết sức vẫn không tài nào gỡ chị ra khỏi tôi cho được. Phần tôi, tôi có cảm tưởng như đang bị một quả núi đè lên; hoặc đôi lúc có cảm tưởng như bị nén chặt trong một cái khung bằng xương cứng ngắt, vì tạng người chị Nga gầy.
Đột ngột chị cắn vào bên phải gần phía sau cổ tôi. Vì đau và vì hốt hoảng nên tôi la:
- Giêsu Maria Giuse…!
Chị Nga bỗng buông tôi ra, ỉu xìu để mặc cho mọi người lôi chị trở về chỗ cái võng.
Ngồi xuống võng, chị vẫn tỉnh táo như không có chuyện gì xảy ra, tuy đôi mắt vẫn còn đỏ ngầu lừ lừ nhìn tôi. Cha sở Luca ngồi xuống ghế; mọi người lấy thuốc lá rịt vào vết cắn để cầm máu cho tôi. Một lúc sau cha sở hỏi chị:
- Sao con lại làm như thế với khách?
Không trả lời, chị nhìn tôi rồi phá lên cười:
- Sợ rồi phải không? Đ.m. mới lớn có chừng ấy mà đã bày trò này trò nọ cản đường Chúng tao!
Đang lúc tôi chưa hiểu ra ất giáp gì thì cha Luca hiểu và trả lời thay tôi:
- Có gì đâu mà gọi là cản đường cản lối hở con! Nó chỉ làm theo bổn phận thôi mà!
Tôi chỉ muốn ra về thôi, nên xin cha sở:
- Thưa cha con muốn về…
Cha sở Luca bảo tôi:
- Con đã sợ rồi ư? Chúng ta có Chúa bên cạnh mà! Chẳng phải vừa rồi chỉ vì con kêu tên Chúa mà thoát nạn đó sao? –Chợt cha nhìn lên cổ tôi, cha nói tiếp- Ừ! Cũng phải về thôi! Chắc con đau lắm hả?
Tôi vẫn còn hốt hoảng. Mấy người phụ nữ nói chen vào:
- Cho thầy về đi cha ơi! Về xức thuốc đỏ để vết cắn đừng làm độc.
Người đàn ông đang đứng gần đó cũng nói:
- Người cắn coi vậy mà độc như chó cắn chớ không phải chơi! Cái con này xưa nay có từng cắn ai bao giờ đâu! Đồ quỷ yêu!
Câu chửi “đồ quỷ yêu” vừa dứt, chị Nga đứng phắt dậy. Mọi người chỉ nghe một tiếng “hự” khô khốc, người đàn ông to xương cao kều và khệnh khạng là thế, vậy mà tức khắc bị quăng gọn ơ, bay ra khỏi cửa, vứt nằm chỏng gọng ở bụi chuối trước cửa nhà cách xa chỗ chúng tôi ngồi dễ chừng có đến mươi mét.
Mọi người sợ tái mặt. Cha Luca bình tĩnh hơn, hỏi:
- Ủa! Sao vậy?...
Chị Nga nghiến răng trả lời:
- Chúng tao không phải là “đồ”, cũng không phải là “quỷ’ là “ yêu”. Phải giữ mồm giữ miệng! Đừng có muốn nói gì là hả họng ra mà nói nghe chưa bọn con người!
Cha sở hỏi ngay:
- Nếu vậy thì con là ai?
Không trả lời thẳng vào câu hỏi cha sở vừa nêu, chị Nga nói:
- Con người có quyền gì mà ăn nói với Chúng tao như thế?
Cha sở nghiêm sắc mặt, vặn lại:
- Vậy thì… con người có làm gì mà Các Ông cứ tìm cách hãm hại? Cô gái này đã làm gì nên tội mà Các Ông mượn hình mượn xác để hành khổ cô bé?
Chị Nga trả lời:
- Ai tin Chúng tao thì Chúng tao tới. Nhà nào mở cửa thì Chúng tao vô.
Đến đây thì tôi đã quá sợ, quá ao ước được nhanh chóng rời khỏi chốn này, vậy mà cha Luca vẫn cứ nhùng nhằng với quỷ. Tôi thấy trong lòng hơi tức cha. Đã vậy cha còn vừa chỉ vào tôi vừa hỏi:
- Thằng nhỏ đã làm gì nên tội mà Các Ông thù hằn nó?
Chị Nga trả lời:
- Chẳng những thế, Chúng tao sẽ còn quấy phá nó suốt cuộc đời.
Khi chúng tôi bước ra khỏi cửa, sau lưng chúng tôi rộ lên nhiều tiếng cười. Tôi đi thật nhanh, cảm thấy lạnh cả sống lưng vì những tràng cười đó.

Về đến nhà, tôi hỏi cha sở lúc nãy sao cha không trừ quỷ. Cha sở trả lời:
- Cha đã trừ quỷ có đến mấy lần. Tuy nhiên trừ xong thì quỷ lại nhập tiếp. Lần nhập sau nặng hơn lần trước. Lý do cô gái này là con duy nhất của đôi vợ chồng khá giả. Con nhìn những tàn tích còn sót lại của căn nhà thì đủ biết. Nhưng hai vợ chồng đam mê tiền của, nguội lạnh như những người không có đạo… Rồi xảy ra là, trong một lần làm ăn thất bại, chồng bắn chết vợ xong rồi thắt cổ tự tử. Hai ngôi mộ nằm chềnh ềnh bên trái trước nhà con thấy đó! Không ai và cũng không biết bao nhiêu lần mọi người bất lực không thể cải táng dời đi nơi khác được. Thế là từ đó cứ nhập vào đứa con gái.
Cha Luca thêm:
- Mỗi lần gặp, nó lý sự ghê lắm! Có điều cha đâu ngờ lần này nó dữ đến như vậy!
Tôi hỏi ngay vào vấn đề khiến tôi quá đỗi lo sợ:
- Thưa cha, quỷ nói sẽ quấy phá con suốt đời…
Cha Luca trấn an tôi ngay:
- Con ơi! Còn có Chúa mà con! Có Chúa thì ai làm gì được chúng ta! Dù sống ở hoàn cảnh nào, cha khuyên con: hãy coi việc “tin vào Chúa” là tất cả. Con hãy nhớ, nếu con luyện được đức tin kiên vững, cuộc đời của con kể như thành đạt mỹ mãn.
Thình lình tôi nhớ lại, suốt lúc ở nhà chị Nga, giữa bầy hồn ma và quỷ dữ, không lúc nào tôi thấy cha Luca mất bình tĩnh; ngược lại, cha vẫn giữ một phong thái ung dung đĩnh đạc của một bề trên.
Nghĩ vậy tôi bỗng cảm thấy hết sức yên tâm. Ngay lập tức, tôi bắt đầu lên kế hoạch cho đời mình: luyện đức tin kiên vững vào Chúa. Khi nghe tôi nói vậy, bạn bè nhạo: “Vậy những người Công giáo đều không có đức tin ư?”. Nhất thời lúc đó tôi không nghĩ ra câu trả lời, về sau tôi nghĩ ra, đức tin của những người khổ đau khác xa đức tin của những người giàu sang, hiển vinh và may mắn.
 
 
(*) “ông cố” là cách giáo dân các họ đạo miền Nam từ thời các cố Tây xưng hô với các linh mục.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 17.05.2026 06:53:53
Kỳ 38
 
Tôi nấn ná lưu lại An Biên gần hết thời gian nghỉ phép. Trong suốt thời gian đó, cha sở Luca kể cho tôi nghe nhiều chuyện bổ ích. Buối tối ngày thứ ba, sau khi dùng bữa xong, cha sở ngồi trên ghế phô-tơi, tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu bắc bên cạnh. Cha kể cho tôi một câu chuyện rất thú vị:
Thời gian tôi bắt đầu nhận nhiệm sở An Biên này, có hai gia đình kia tranh chấp đất đai lâu ngày không ai giải quyết nổi; từ bất đồng, bất hòa đến ghét nhau, ganh nhau rồi hận thù nhau cay độc và truyền kiếp không dứt. Đó là gia đình ông Thỏa và gia đình bà Thê. Ông Thỏa là anh ruột của bà Thê; cả hai anh em đều là con ruột của ông bà hương cả Quỳnh giàu có nức tiếng vùng này. Khi cha mẹ mất, hai anh em chia đôi tài sản; người ta đồn đãi họ tính toán chi li sòng phẳng với nhau đến từng cái chén, đôi đũa. Tuy vậy, vẫn có sự chênh nhau, dù chỉ vài khẩu đìa (*) thôi mà đã làm cho hai bên tranh chấp quyết liệt rồi thù hận triền miên đến đời con đời cháu đời chắt; hai bên đã nhiều lần xô xát với nhau đến đổ máu… Giáo quyền lẫn chính quyền bao thời chịu thua không phân xử nổi.
Một hôm Ông Lực Lượng vào xưng tội. Sau khi chỉ rõ cho tôi về mối hận thù của hai gia tộc trên, Ông ta thách thức:
- Có bàn tay của Chúng ta ở trong ấy. Ông giải quyết thử coi?
Thực lòng tôi chẳng biết nói sao, một phần do xưa nay, những tranh chấp về đất đai thừa kế là những vụ rất khó giải quyết; một phần nữa do tôi nghĩ “mình tài cán đến đâu mà đòi giải quyết mối hận thù các cha sở trước đã bất lực!”. Nghĩ như thế nên tôi “tương kế tựu kế” trả lời:
- Loài người chúng tôi làm sao có thể phá đổ nổi mưu đồ của Các Ông!
Chưa thấy Ông ta nói gì, tôi nói tiếp theo:
- Tuy nhiên “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”…
Giọng nói của Ông ta bỗng dưng có vẻ lạ thường:
- Chúng ta chưa từng nhận được chút nhân từ nào của Ông Chúa. Vì thế Chúng ta là sự Thù Hận. Thử hỏi còn có gì tệ hại hơn sự trầm luân trong lửa cháy thù hận mà nói rằng “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”?
Tôi như bắt được cơ hội hiếm có để bày tỏ ý kiến của mình đã ấp ủ từ lâu:
- Đừng trách Chúa không nhân từ đối với Các Ông, vì lòng kiêu căng không bao giờ có thể gặp được sự nhân từ. Các Ông đã nghe: "…Nhưng ai nói phạm đến Đức Chúa Thánh Thần thì sẽ chẳng bao giờ được tha mà còn mắc tội đến muôn đời” (**).
Ông Lực Lượng thách đố:
- Chúng ta truyền đi sự thù hận khắp nơi. Ông đưa hai gia tộc đó ra khỏi mối thù hận truyền kiếp đó được không?
- Tôi chẳng dám “cá” với Các Ông, tôi chỉ biết làm theo bổn phận mình.

Sau đó tôi dành nhiều thời gian để tìm hiểu cặn kẽ hai gia tộc trên qua nhiều nguồn tin khác nhau. Sau khi nắm vững mọi chuyện, tôi tính toán kỹ lưỡng và bắt đầu cầu nguyện.
Khi đang trong tâm thế cầu nguyện, tôi làm những gì tâm trí tôi nhận thức được.
Trước tiên tôi thay đổi nếp sống của mình. Trước kia tôi vẫn cứ mong mình sẽ có sức hoán cải ai đó, nhưng giờ tôi bỏ hẳn ý tưởng ngông nghênh ấy vì hiểu rằng việc đó là việc của riêng Đức Chúa Thánh Thần, tôi chỉ nên lo hoán cải chính mình mà thôi.
Từ hôm đó, tôi khoan dung với hết mọi lỗi lầm của người khác bằng xử sự nhẹ nhàng và dịu dàng với hết mọi người dù tính tôi vốn khá nóng nảy và thẳng thắn. Ông cha ta nói “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” (***). Nhớ câu ấy nên tôi chỉ lo sửa mình mà không dám sửa ai khác.
Tôi từ từ lột xác thật sự.
Tôi thấy không cần đi thăm hay đi gặp gỡ hai nhà đó như thói thường vẫn làm. Thay vào đó, tôi cầu nguyện cho họ một cách tha thiết bởi vì nghĩ họ đích thực là anh em ruột thịt của tôi.
Trong suốt thời gian đó, Ông Lực Lượng cứ lui tới chọc tức tôi. Khi thì Ông ta hỏi: “Sao? Không dám làm gì à?” Lúc thì Ông ta châm biếm: “Ủa! “Chăn chiên” mà đứng im cho bầy chiên cắn xé nhau sao?”… Có lần Ông ta đoán biết tôi đang làm cái gì đó, nên hỏi dò:
- Định làm gì đó ông già?... Đừng hòng qua mắt Chúng ta!

Thế rồi việc gì phải đến sẽ đến. Lê, cháu trai gọi ông Thỏa bằng ông nội, Hà, cháu gái gọi bà Thê bằng bà ngoại, cả hai ngẫu nhiên cùng được gia đình gửi lên Sài gòn học chung một trường đại học. Tuổi trẻ chưa biết thù hận, cả hai lén lút yêu nhau không ai hay biết.
Một anh lính trẻ người Mỹ -sinh viên đi quân dịch- ngay thời điểm đó cũng phải lòng và yêu Hà cuồng si, dù biết Hà đã có người yêu, dù Hà đã cương quyết từ chối.
Chuyện tình hai chàng trai, một Việt một Mỹ, cùng yêu mê say một cô gái nổi đình nổi đám ở trường đại học y khoa lúc bấy giờ. Tình thế luôn luôn căng thẳng, bi tráng, phức tạp nhưng rất lãng mạn… tựa như một vở bi hài kịch diễn ra trong một thời gian khá dài.
Nhưng bất kỳ vở bi hài kịch nào dù dài mấy cũng phải có một ngày phải chấm dứt.
Đau đớn thay! Những thiên tình sử kinh điển luôn chấm dứt bằng sự bi ai, thiên tình sử này không ngoại lệ, đã kết thúc bằng một vụ đổ máu thương tâm. Lê bị Asley, tay lính Mỹ cuồng tình, bắn chết.
Xác Lê được bạn bè đưa về tận quê, quàng tại nhà. Toàn thể gia tộc lẫn láng giềng những tưởng Lê chết vì một cô gái nào khác xa lạ. Nào ngờ…!
Giữa đêm khuya vắng lặng vào ngay ngày đưa xác Lê về, khi mọi người đang nửa tỉnh nửa mê vì mỏi mệt, kẻ nằm người ngồi quanh thi hài Lê, Hà bỗng đột nhập, vật vã ôm xác Lê khóc lóc thảm thiết. Khi mọi người tỉnh dậy, chưa kịp hoàn hồn thì cô gái xinh đẹp đã uống thuốc độc. Trong vài giây, cô gái giãy giụa rồi xuôi tay chết bên xác Lê. Chẳng ai trở tay kịp.
Chuyện vẫn chưa dừng ở đó.
Mọi người còn chưa hết bàng hoàng hay nói đúng hơn, chưa ai kịp hiểu ra vấn đề thì anh lính Mỹ tên Asley xông vào nhà. Khi đến bên hai xác chết, anh ta lẳng lặng rút súng tự bắn vào thái dương rồi ngã vật bên cạnh hai xác chết.
Tình thế thật bất ngờ và thương tâm không thể tả!
Mọi người của hai gia tộc đều tập họp quanh ba xác chết. Tình cảm của họ lúc thì quá đau đớn, khi thì quá nổi giận, có lúc quá xót thương, rồi trong bàng hoàng tột cùng họ không biết nên phản ứng gì với nhau hơn là cùng nhau lo tổ chức ma chay. Sau khi vượt qua mọi thủ tục điều tra của hệ thống chằng chịt chính quyền Việt, Mỹ, thánh lễ an táng được cử hành.
Trong thánh lễ, giáo dân dành riêng những hàng ghế đầu cho hai gia tộc nổi tiếng này ngồi. Giáo dân họ đạo kẻ hiếu kỳ, người cảm thương, số đông còn lại thì lo lắng cho cuộc “nội chiến” giữa hai gia tộc sẽ bùng nổ ngay tại nhà thờ hay ngoài nghĩa trang… nên đã đi dự thánh lễ an táng hi hữu này rất đông. Người không có đạo quanh vùng cũng đồng loạt kéo đến tham dự; số người nhiều đến nỗi trong ngoài nhà thờ đều không còn chỗ đứng.
Trong thánh lễ, vì nhận thấy ba cỗ quan tài song song đặt giữa nhà thờ cùng câu chuyện tình chấn động khắp vùng… đã đủ làm mọi người suy nghĩ và xúc động mãnh liệt, nên tôi không giảng một lời nào nữa hết. Nhưng đến lúc đọc kinh Lạy Cha, tôi đột nhiên sực nghĩ ra và nói với mọi người:
- Bây giờ đến kinh Lạy Cha, hãy để tôi đọc trước từng câu thế nào, thì anh chị em cứ lập lại theo tôi thế ấy, cùng với trọn tâm tình dâng lên Đức Chúa Cha.
Tôi đọc chậm rãi từng câu theo giọng thưa chuyện với Đấng bề trên. Cả nhà thờ cũng chậm rãi lặp lại theo.

Khi đọc đến câu “VÀ THA NỢ CHÚNG CON… NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON…” tôi đọc chậm hơn, mọi người lập lại lần thứ nhất.
Tôi đọc lại lần thứ hai cũng câu ấy nhưng chậm hơn lần thứ nhất; mọi người lặp lại nhưng hình như có vẻ yếu ớt, thay vào đó là vài tiếng sụt sùi..
Sau khi tôi đọc lần thứ ba, mọi người lặp lại càng yếu ớt hơn vì đã có tiếng khóc.
Bỗng không ai có thể ngờ, người trong hai gia tộc ngập ngừng trong giây lát, rồi ùa sang nhau nắm tay, bắt tay, thậm chí có nhiều người còn ôm chầm lấy nhau.
Cả nhà thờ thấy vậy liền vang tiếng khóc lẫn tiếng vỗ tay vì vui sướng mừng rỡ, vì cảm động và vì không thể tin được.
Xác anh lính Mỹ được đưa về Sài gòn, xác của Lê và Hà được chôn ở nghĩa trang họ đạo nằm cạnh bên nhau với hoa tươi không ngớt suốt một thời gian dài do thanh niên thiếu nữ trong họ đạo đến viếng liên tục.
Hai gia tộc hòa nhau và thuận thảo với nhau kể từ đó. Khi thầy về đây giúp xứ thì mọi chuyện đã nguội nên chắc chẳng biết gì.
Ông Lực Lượng biệt tăm không đến xưng tội mãi cho đến gần hai năm sau.

Tôi hỏi cha Luca:
- Thưa cha con chưa được học qua, nhưng tự tử là tội trọng, người chết không được đem vào nhà thờ và không được chôn đất thánh… Vậy… ?
Cha Luca trả lời:
- Đúng vậy! Nhưng giải gỡ nhiều người khỏi sự thù hận truyền kiếp thì cần thiết và quan trọng hơn lề luật như Đức Chúa Giêsu Kitô đã từng làm và phán dạy (****).
Tôi hỏi thêm:
- Thưa cha! Cho phép con nghĩ sao nói vậy. Chúa là Đấng rất nhân từ. Vậy tại sao Người không nhân từ với ma quỷ, tức tha thứ cho họ; hoặc ban cho họ lòng biết ăn năn?
Cha Luca giải thích:
- Đúng là Chúa rất nhân từ, nhưng vì Lucifer quá kiêu ngạo, không ăn năn, nên biến thành ma quỷ. Điều này Chúa đã nói rồi: "…Nhưng ai nói phạm đến Đức Chúa Thánh Thần thì sẽ chẳng bao giờ được tha mà còn mắc tội đến muôn đời” (**).
Tôi hỏi:
- Về phía ma quỷ, lúc còn là thiên thần Lucifer, họ rất khôn ngoan sáng suốt. Tại sao họ không nhận ra con đường mình đang đi là quá sai lầm?
Cha Luca cười:
- Kiêu ngạo! Kiêu ngạo phá hủy sự khôn ngoan sáng suốt và nói chung, phá hủy tất cả.
Tôi thích quá vì không ngờ lần này về chơi lại được học hỏi nhiều điều hay từ cha Luca.
Cha đã dạy tôi biết sự cầu nguyện có sức mạnh đến mức nào.
Cha dạy tôi đừng mong mình sẽ biến đổi người khác mà phải tự hoán cải bản thân.
Cha dạy tôi sự tha thứ cao trọng vô cùng.
Cha còn dạy tôi, nhất là sự kiêu ngạo là tai họa! Kiêu ngạo biến thiên thần thành quỷ dữ; kiêu ngạo khiến mọi loài thụ tạo không thể nhận được lòng nhân từ của Thiên Chúa; kiêu ngạo cắt đứt hẳn mối tương quan phụ tử giữa chúng ta với Thiên Chúa.. 
 
 
(*) Khẩu đìa: phương ngữ thường dùng ở miền Tây Nam bộ. Khẩu là cái. Đìa: là chỗ trũng ở ngoài đồng được nông dân đào múc dựa trên sự tính toán hướng mặt trời và dòng nước, có đắp bờ đê, có xẻ đuôi gọi là “lung” để hàng năm vào mùa lũ, nước tràn về rồi rút đi, đọng lại ở đìa nước và cá. Tháng giáp tết, rảnh việc, nông dân tát đìa bắt cá. Mỗi khẩu đìa cho đủ loại cá, tôm, cua, ốc lớn nhỏ với số lượng nhiều đến hàng mấy tấn; trong số đó nhiều nhất là cá bông to, cá lóc loại lớn; đặc biệt có rất nhiều cá sặc, một loài cá dùng để làm ra “mắm sặc” rất ngon và rất đặc trưng. Dân gian có câu: “Nay tát đầm, mai tát đìa, ngày kia giỗ hậu”. (Tục ngữ).
(**) Mc 3:29; Mt 12:32; Lc 12:10. Tội phạm đến Đức Chúa Thánh Thần là tội kiêu căng, dám từ chối, ruồng rẫy và khinh chê ơn Chúa Thánh Thần soi sáng và thúc giục ta ăn năn hoán cải.
(***) Trách: hỏi tội (Hán Việt tự điển)
(****) Lc 13:10-17.
 
Đã mang vào thư viện kỳ 38
<bài viết được chỉnh sửa lúc 17.05.2026 23:22:56 bởi Thanh Vân >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 17.05.2026 10:06:22
Kỳ 39
 
(Phần đầu kỳ 39)
 
Tôi trở về họ đạo Long Thạnh sau kỳ nghỉ mười ngày thú vị. 
Trong thời gian tiếp theo sau đó xảy ra một câu chuyện khiến mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn còn sợ, sợ run, sợ đến toát mồ hôi. Tôi xin phép được kể lại.
Trên chuyến xe đò từ bến phà Chân Phúc về Long Thạnh, tôi ngồi cạnh một người đàn ông trạc ba mươi tuổi. Chuyện trò mới được mấy câu tôi cảm thấy mến ông hành khách này; ngược lại, hình như ông ta cũng có thiện cảm đặc biệt với tôi. Tên ông ta là Cô, con thứ tư trong một gia đình đông con nên hàng xóm gọi là Tư Cô.
Vì xe đò cũ kỹ, đường xấu, lại đón khách, tiễn khách cùng hành lý rườm rà của họ nên chuyến đi trở nên lâu dài mệt mỏi, khiến câu chuyện giữa chúng tôi kéo dài dường như không dứt. Ban đầu hai bên tự giới thiệu nhau cách dè dặt, nhưng dần dần cái cách nói chuyện lôi cuốn của Tư Cô đã khiến tôi cởi mở hơn để rồi khi ông xuống xe trước tôi -ở một địa chỉ không xa họ đạo Long Thạnh là bao- thì chúng tôi đã trở nên thân thiết và quyến luyến nhau thật sự.
Về đến họ đạo, nhiều công việc dồn ứ sau mười ngày bỏ dở đã khiến tôi quên ngay Tư Cô. Nhưng khoảng ba bốn hôm sau bất ngờ Tư Cô tìm đến đúng nơi để thăm tôi. Chúng tôi lại tiếp tục chuyện trò vui vẻ và thân thiết nhau đến nỗi cùng nhau dùng bữa trưa, rồi dùng luôn cả bữa chiều một cách tự nhiên đến chẳng còn chút gì là ranh giới giữa chủ khách. Xế chiều, khi từ giã, Tư Cô khẩn khoản mời tôi đến thăm nhà. Tôi nhận lời ngay không do dự. Vài hôm sau tôi phấn khởi đến thăm nhà Tư Cô thật.
Nhà của Tư Cô gần như nằm tách biệt hẳn với hàng xóm, nhưng cảnh quan khu vực thì sầm uất, ra vẻ phồn thịnh, giàu sang và bề thế. Theo cách chỉ đường của anh, tôi tìm ra không khó bởi xung quanh ngôi nhà có nhiều cổ thụ cao to hùng vĩ và xum xuê bóng mát. Vì miền Tây Nam bộ hàng năm nước dâng cao, đặc biệt ở vùng này đất trũng năm nào nước cũng dâng cao khoảng 0,5 đến 1 mét, nên dân địa phương cất nhà sàn cao lêu nghêu. Nhà của Tư Cô có sàn cao quá đầu người, tôi ước định chừng hai mét hoặc hơn; điểm nổi bật này còn được cộng thêm với cách bố trí cây trồng quanh nhà thật khéo léo, tất cả đã đem lại cho ngôi nhà một vẻ gì đó vừa uy nghi, vừa phong quang, nói cho quá đi một chút thì nơi này gần giống chốn bồng lai tiên cảnh mà các bức tranh thủy mạc miêu tả...
Bước lên các nấc thang bằng đá, tôi bước vào ngôi nhà toàn gỗ đen. Tất cả mọi vật dụng trong nhà hầu như đều được đánh bóng rất kỹ và được sắp xếp theo một thứ bố cục thật tinh tế. Tư Cô nói rằng mình đang ở với cha mẹ và anh chị em, nhưng tôi không thấy bóng dáng ai, dù chỉ là một hai lần, dù chỉ là thấp thoáng. Nhưng vì phải giữ sự tế nhị cho giống phong cách của anh, nên tôi không dám tỏ ra một chút gì gọi là thắc mắc. Cũng phải! Điều gì người ta không đề cập tức người ta không muốn.
Chúng tôi lại chuyện trò vui vẻ, cởi mở, thân thiết nhau như hai người bạn mặc dù tôi thua Tư Cô đến hơn mười tuổi. Những lúc câu chuyện nguôi bớt, tôi tò mò đi tới đi lui trong khuôn khổ gian ngoài của ngôi nhà với ý đồ nhìn ngắm, xem xét; phải nói tất cả mọi thứ đều lạ mắt, tôi chưa từng thấy có ở đâu. Đôi lần bước đến trước gần các cửa buồng được buông màn nhung đen dày một cách đài các, tôi liếc nhìn vào bên trong qua khe hở, chỉ thấy nguyên một màu tối đen và vắng lặng kín ẩn.
Thời này thanh niên cỡ Tư Cô không đi lính là điều lạ; vì nếu tuổi đó ai không đi lính chỉ có thể là tu sĩ của một tôn giáo nào đó hay là người bị tật hoặc bị bệnh. Khi tôi hỏi điều đó, Tư Cô nói ngay mình bị bệnh. Tôi hỏi bệnh gì, anh ấp úng một hồi rồi trả lời mình đang bị bệnh tim. Tôi lại chẳng biết bệnh tim ra làm sao, nên gật đầu đại cho rồi.
Tình bạn của chúng tôi ngày thêm thắm thiết dù không đồng tuổi, không cùng tôn giáo –Tư Cô theo đạo Ông Bà- cũng không đồng chí hướng lẫn tư tưởng. Tất cả giáo dân trong họ đạo đều thấy anh ta lui tới thăm tôi hoặc mỗi lần tôi đến thăm nhà anh ta, mọi người đều biết và không ai có ý kiến. Đôi lần tôi ngấm ngầm có ý nghĩ tận dụng tình bạn gắn bó này để lôi kéo anh ta dần đến đức tin Công giáo.
Tuy nhiên, tôi đã lầm. Chính anh ta mới là người lôi kéo tôi. Sau này tôi mới “ớ” ra.
Còn bằng chứng của sự lôi kéo ấy chính là những điều tôi sắp kể tiếp theo đây. Một hôm, khi tôi đến chơi nhà anh, tôi vô cùng ngạc nhiên chứng kiến vài ba con chim ngũ sắc nho nhỏ rất xinh đẹp bay lượn trong nhà; lạ một điều chúng không hề ra vẻ mình bị khống chế, bị mất tự do; ngược lại những con chim ngũ sắc cứ tung tăng nhảy nhót, líu lo “ca hát” khi thì trên trần nhà, khi thì trên tủ giường bàn ghế, lúc lại đuổi nhau ra vườn rồi vụt bay trở vào nhà đậu trên một đầu bàn cách chỗ chúng tôi ngồi chừng một với tay. Ngạc nhiên quá tôi kêu lên và hỏi Tư Cô:
- Ủa! Những con chim này… anh Tư nuôi hay chúng tự bay đến?
Tư Cô thản nhiên trả lời:
- Nuôi làm gì cho tốn lúa hao gạo hả Liêu! Chúng tự đến… Có lúc chúng kéo đến hàng đàn.
Tôi thích quá hỏi tiếp:
- Làm thế nào để được những con chim đẹp đẽ và quý hiếm thế kia kéo đến nhà?
Tư Cô vẫn thản nhiên:
- Có cách của nó Liêu à!
Thấy tôi quá ham thích, Tư Cô hứa sẽ chỉ cho tôi cách gọi chim đến nhà. Tôi mừng rỡ và háo hức mong chờ tới ngày anh ta chỉ cách gọi chim về nhà.
Một lần khác, tôi và Tư Cô đang cùng nhau đứng ở lan can nhà anh nhìn ra đường. Một bầy bốn năm con chó hàng xóm la sủa ỏm tỏi, đuổi cắn nhau dài dài từ đâu kéo đến ngay trước cổng nhà Tư Cô. Thấy khó chịu, Tư Cô càu nhàu một mình: “Phải đuổi mấy con chó này đi mới được! Ồn ào quá!” Nói xong, anh khom người xuống vẽ… vẽ… gì đó trên mu bàn chân trần của anh. Vẽ xong đứng thẳng người lên, anh đá nhẹ vào không khí. Lạ thay! Cứ mỗi cú đá nhẹ vào không khí thì bầy chó từng con la “ẳng… ẳng…” lên đau đớn như bị ai đánh hoặc đá; hễ đá nhẹ thì chúng la nhỏ, hễ đá mạnh thì chúng la lớn… Cứ như thế mà nhanh chóng, đàn chó bỏ chạy tán loạn vừa trốn vừa la inh ỏi. Tôi quá sức ngạc nhiên, trố mắt nhìn anh hỏi:
- Ủa! Anh làm cái gì ngộ vậy, anh Tư?
- …
- Ủa! Sao có thể đá khơi khơi ở đây mà trúng mấy con chó ngoài kia?
Tôi còn hỏi huyên thuyên nhiều nữa, nhưng vẫn với phong thái điềm đạm thản nhiên, Tư Cô trả lời:
- Vậy cho nó khỏe. Hơi đâu mà chạy ra tận nơi mới đánh đuổi được bọn chúng đi chỗ khác!
Có lẽ thấy tôi còn kinh ngạc há hốc mồm ra trông buồn cười lắm hay sao mà anh phá lên cười sặc sụa, nói:
- Thì từ từ anh sẽ chỉ cho Liêu!... Ôi…z…z… Anh biết gì thì Liêu cũng sẽ biết nấy thôi mà!
Thế là từ đó, tôi rất siêng năng đến nhà Tư Cô, vì anh luôn làm tôi thích thú chẳng phải chỉ vì cách nói chuyện thân tình mà lôi cuốn hấp dẫn, chẳng phải chỉ do kiến thức sâu rộng hoặc những lời khuyên thông minh và chí lý, cũng chẳng phải chỉ vì cách đối đãi lịch sự, phong nhã, quảng đại hết mức coi bạn bè như anh em ruột thịt của anh… mà còn vì ở anh có quá nhiều chuyện lạ khiến tôi không ngờ, không đoán ra và không hiểu nổi.
Trong mọi chuyện lạ tôi chứng kiến nơi Tư Cô, có chuyện lạ sau đây làm tôi vừa vô cùng kinh ngạc, vừa vô cùng thán phục.
Đó là câu chuyện xử bắn tử tù VC. Như tôi đã kể từ trước, thị trấn Long Thạnh xưa vốn tên là chợ Đầu Hổ, do tướng cướp Đầu Hổ hùng cứ. Vùng đất dữ này nay lại có người tàn độc không kém kế tục trấn giữ đó là thiếu tá Dẻo, chỉ huy trưởng tiểu đoàn lính địa phương quân, mặc đồ quân đội nhưng bản chất và hành vi là một tướng cướp. Người ta kể có một thời gian, mỗi đầu ngày, y phải tự tay bắn chết vài người thì ăn sáng mới cảm thấy ngon miệng. Cứ một hoặc hai tuần, y xua cả tiểu đoàn vượt biên giới sang Campuchia gọi là để “hành quân”, nhưng thực chất là cướp phá; khi trở về mang theo bao là chiến lợi phẩm, thỉnh thoảng có mang theo vài tù binh, rồi tổ chức xử bắn cho dân trong vùng ai muốn xem thì đến xem. Pháp trường là một bãi đất trống nằm gần nhà Tư Cô; gần đến độ chỉ cần lội bộ qua một khu vài công đất (1) là tới.
Sáng hôm đó, vào khoảng chín hoặc mười giờ, khi đang ngồi ở nhà Tư Cô, tôi bỗng nghe có tiếng la hét, tiếng vũ khí va chạm, tiếng chạy rầm rập. Tư Cô bảo:
- Sắp có một vụ xử bắn nữa đó!
- …
- Đi xem một lần cho biết nghe Liêu!
Tôi lắc đầu nguầy nguậy. Nhưng Tư Cô nói thế nào một hồi khiến tôi cũng phải đi, nhưng đi với tâm trạng hồi hộp và lo sợ.
Không có đông người dân đến xem, nếu đếm chắc cũng chỉ độ vài mươi người, số còn lại toàn lính tráng. Tư Cô chọn một gò đất cao, gò đất này ở cách xa dãy cột gỗ dựng thành hàng ngang nằm trước gò cát lớn… chừng một hai trăm mét. Tôi đoán hàng cột gỗ đó là nơi trói các tử tù.
Không đầy 10 phút sau, xe chở tử tù đến. Theo xe chở tử tù là vài xe GMC chở đầy lính. Tiếng la hét văng tục nghe rất thô bạo của một vài sĩ quan áp giải khiến không khí càng thêm căng thẳng. Người ta kéo lôi các tử tù từ xe đến dãy cột; trong số 5 tử tù, chỉ có 2 người là đi đứng bình thường, 3 người còn lại, có lẽ vì bị đánh đến trọng thương hay vì sợ sệt đến không nhấc chân nổi, nên họ bị lôi đi xềnh xệch.
Tôi chờ để xem các tử tù là những ai, nam hay nữ.
Khi bọn lính trói mỗi tử tù vào một cột gỗ xong, họ lùi ra xa. Lúc này tôi mới thấy rõ từng người. Tất cả đều là đàn ông, có lớn tuổi có trẻ tuổi. Nhưng nếu tôi không lầm, tất cả đều là dân thường người Campuchia hay người Campuchia gốc Việt. Vì cứ nhìn quần áo họ đang mặc, dáng dấp hiền lành sợ sệt thì không thể họ là “quân ác ôn” như lời một sĩ quan la hét mắng chửi… được!
Tuy nhiên, để gọi là “nhân đạo”, bọn lính bịt mặt mỗi từ tù bằng một mảnh vải đen. Vì trói quá chặt nên không ai có thể cử động, những người vì quá sợ thì khuỵu xuống như chiếc lá rũ. Gương mặt ai cũng trắng bệch vì hoảng sợ trông thật hết sức đau lòng. Tôi không dám nhìn họ thêm nữa. Lúc này tôi mới cảm nhận được thân phận của con người quá mong manh và cùng khốn.
Một tiểu đội khoảng 12 tên lính dàn hàng ngang đứng trước và cách xa các tử tù khoảng trên dưới 10 mét.
Mọi người nín lặng và hồi hộp đợi chờ. Không thấy ai đọc án lệnh.
Một tiếng la to lệnh cho tiểu đội lính đưa súng lên vai. Vì căng thẳng nên tiếng la làm nhiều người giật nẩy mình.
Tư Cô bỗng nói vào tai tôi:
- Cho bọn này “quê một cục”!
Tôi lặng thinh không trả lời vì không hiểu anh muốn nói gì. Tôi liếc nhanh thấy môi anh mím chặt và gương mặt anh tự dưng trở nên lạnh như tiền.
Bỗng có tiếng la từ xa:
- Dừng lại! Thiếu tá đ…ế…n!
Tôi nhìn Tư Cô để dò hỏi. Tư Cô bảo:
- Thằng cha Dẻo chớ ai!
Bọn lính vốn đã trật tự, nay nghe thiếu tá Dẻo đến càng tỏ ra chỉnh tề hàng ngũ hơn.
Chiếc xe díp (jeep) loại lùn, oai vệ từ ngoài chạy vào. Xe đảo một vòng rồi dừng lại đậu ngay trước hàng cột trói các tử tù. Ông Dẻo bước xuống xe rảo qua một lượt để xem xét các tử tù. Ông ta dùng cây ba-tong (bâton) ngắn chọc chọc vào người của họ với thái độ khinh bỉ. Cũng nên nói thêm. Ông Dẻo như một con cáo già quỷ quyệt, biết “dựa hơi” ai có sức mạnh hơn hắn ta. Vì thế cho nên khi hắn đến thăm cha sở Chân Phúc để lấy lòng –vì vị tỉnh trưởng Chân Phúc là người Công giáo, nên rất kính nể cha sở Chân Phúc- lúc ấy nhìn hắn khúm núm như một con chó phạm tội; còn bây giờ, hắn giương oai chẳng khác nào một con cọp dữ. Thật trái ngược!
Xem xét xong một lượt, ông Dẻo leo lên xe đứng nói với đám đông đại ý các tử tù này là VC bị bắt sống trong cuộc hành quân vừa qua. Ai theo VC cũng sẽ bị chung một số phận v.v… Hắn nói xong, chiếc xe díp lùi qua một bên phía tay phải, gần như đối diện với chỗ tôi và Tư Cô đang đứng, để chứng kiến cuộc hành quyết.
Tên sĩ quan la lớn:
- Bồng súng!

- Chuẩn b… ị……ị…!

- B…ắn… n… !
Cùng lúc với chữ “bắn”, tôi vừa nghe tiếng lạch cạch của các cây súng, vừa nghe tiếng Tư Cô văng vẳng bên tai những âm thanh mơ hồ như:
- A lu a la hu… (?)…
Chẳng một tiếng súng nổ. Trong khi các tay súng đều đang nghiêng đầu về một bên nghiêm túc ngắm bắn. Tiếng la rân của tay trung sĩ chỉ huy:
- Bắn! Bắn!... Đ.m. bắn!
Từng tay súng vừa luống cuống lên ‘quy lát” súng lại nghe rôm rốp vừa lắc đầu lia lịa. Tay trung sĩ móc súng ngắn chĩa về phía những người lính tội nghiệp:
- Đ.m. có bắn không?
Nhưng hình như súng của hắn cũng kẹt đạn hay hỏng hóc gì đó, nên hắn cũng vừa loay hoay vừa lắc đầu.
Đến lượt ông Dẻo. Đứng trên xe chẳng hiểu chuyện gì cũng quát to:
- Đ.m. cái gì vậy?

- Đ.m. làm loạn phải không?
Nhảy phóc xuống khỏi xe, hắn móc súng ra chạy đến chĩa thẳng vào đầu tay trung sĩ chỉ huy đội hành quyết, bóp cò vài ba lần… rồi rảy rảy cây súng. Quăng súng. Lại tiến đến giật lấy cây súng của một người lính đứng gần chĩa về phía các tử tù. Bóp cò. Không nổ. Quăng súng giật lấy cây khác, lên đạn. Bóp cò. Không nổ. Và cứ như thế cho đến cây súng thứ ba thứ tư, hắn mới chịu lắc đầu. Suy nghĩ trong tích tắc. Hắn ra lệnh.
- Bãi cuộc!… Giải tất cả về trại giam!
Nét sửng sốt hiện lên từng khuôn mặt của mọi người hiện diện, nhất là của mọi người lính. Tất cả giải tán trong im lặng và trật tự.
Tôi ngạc nhiên quá sức tưởng tượng. Nhìn sang thấy Tư Cô vẫn đứng thư thái, khuôn mặt thản nhiên như chẳng có chuyện gì xảy ra, tôi hỏi anh:
- Chuyện gì vậy anh Tư?... Anh có biết tại sao không?... Hay là anh đã làm gì…?
- Đã bảo, cho bọn này “quê một cục” mà! Thôi đi về!
Trên đường về tôi nghĩ chắc Tư Cô ít nhiều có nhúng tay vào việc vừa rồi. Nhưng vì tôi ghét ông Dẻo và bọn lính của ông ta, nên cũng có chút hả dạ.
Tôi không thể hiểu nổi tại sao Tư Cô có thể làm được chuyện động trời như vậy.
Tôi càng khâm phục Tư Cô biết bao về những tài năng mà anh có được.
Về nhà. Buổi chiều tôi nghe sự việc được đồn đãi um sùm lên khắp Long Thạnh, nhất là tin tức rằng có vài binh sĩ tử nạn do thử lại súng. Điều đó cho hay, súng chỉ bị hỏng hóc ở bãi bắn thôi, nhưng khi ra khỏi đó thì mọi việc trở lại bình thường.
 
(còn tiếp phần cuối của kỳ 39)
 
(1) Một sào Bắc bộ = 360 m2; 1 sào Trung bộ = 497 m2; 1 sào Nam bộ = 1000 m2. Sào Nam bộ còn gọi là công. Càng vào Nam, sản địa càng phong nhiêu, lòng người càng hào phóng, thoáng đãng và rộng rãi, nên ngay cả cách tính địa thổ cũng dư dả hào phóng.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 17.05.2026 11:26:38 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 18.05.2026 09:32:38
Kỳ 39 (tt)
 
(Phần giữa kỳ 39
Càng gần gũi Tư Cô, tôi càng thấy bị cuốn hút, vì cảm nhận hình như xung quanh anh là một thế giới khác hẳn so với thế giới chiến tranh, nghèo đói, đau khổ, bệnh tật và chết chóc… tôi đang sống.
Tư Cô bắt đầu tỏ ý muốn dạy tôi một số bí thuật lặt vặt như mở ống khóa các loại mà không cần chìa khóa, gây thiện cảm với bất kỳ ai mà không cần phải hao tốn bất cứ thứ gì, biết hết số tiền nằm trong túi người đối diện, gọi muông thú đến nhà và nhiều “phép mầu” khác rất thú vị. Ai sao không biết, tôi thì… đồng ý ngay mà còn mừng rỡ háo hức vô cùng.

Những gì tôi học được thật đúng là những “phép mầu”! Ta chỉ làm vài động tác dễ ợt, thế là tất cả đều xảy ra đúng theo ý muốn một cách vô cùng ngoan ngoãn. Học được gì, tôi về làm thử ngay.
Trước hết tôi thử bí thuật gây thiện cảm.
Ông Ba Búa là một giáo dân khô khan đến mức kể như bỏ đạo; tính tình thô bạo và hung hãn; ông ta dạy dỗ đứa con trai 11 tuổi của mình bằng những cách thức rất tàn ác; ví dụ như có lần ông ta đóng đinh lỗ tai đứa nhỏ dính vào cột nhà để nó đừng đi chơi lông ngông nữa; ông ta sống bằng nghề chuyên giết mổ chó; vì giết mổ chó quá nhiều nên hễ thấy bóng ông đi đến nơi nào thì tất cả các con chó lớn nhỏ quanh đó đều đồng loạt sủa ầm lên, sủa dai dẳng và kịch liệt cho đến khi ông ta đi khuất khá lâu chúng mới im dần một cách tức tối.
Tôi ghét ông Ba Búa vì lần nào đi ngang nhà thờ ông cũng chửi ầm ĩ át cả tiếng chó sủa; thì hẳn là ông ta chửi tôi chứ chửi ai nữa với cái câu này: “Đ.m. đi tu mà ở nhà lầu!”(1) “Tu gì tu!...Tu gì mà thấy gái cứ tươm tướp! Tu con cặt!...” Vào buổi sáng hôm đó nghe tiếng chó sủa rân trời từ xa, tôi biết ông Ba Búa sắp đi ngang qua nhà thờ. Ra trước cổng, tôi kín đáo quan sát. Nhác thấy bóng dáng to kềnh, nghênh ngang như một con gấu đen lừng lững đi tới, tôi nín thở, hơi chúm môi, đẩy luồng hơi từ miệng thổi ra vẽ trong không khí một hình vẽ đã học thuộc làu, vừa thổi hơi vừa hướng tầm ngắm và ý nghĩ về hướng ông ta, cuối hình vẽ tôi tống hết hơi còn sót lại tưởng tượng như đang tống vào mặt ông ta. Lạ thay! Ông Ba Búa đến. Ông không còn gầm gừ chửi bới như trước nữa, ngược lại vừa nhìn thấy tôi, ông giơ bàn tay hộ pháp sần sùi lên:
- Chào ông… xầy…ỳ…ỳ…!
Sau đó ông xăm xăm bước vào sân nhà thờ chắp hai tay xá Đức Mẹ trên mặt tiền nhà thờ vài xá. Chuyện lạ đây! Quay trở ra, trước khi rời đi, ông Ba Búa còn giơ tay lên chào tôi lần nữa:
- Chào hen…n…n!
Thật bất ngờ và không thể tin nổi!
Tôi còn thử nghiệm bí thuật gây thiện cảm lên cả các người lính xa lạ ở bến đò mà tôi sang sông mỗi sáng để đến nhà thờ bên đất Campuchia. Mươi lần đều có kết quả như nhau. Thật không thể ngờ!

Tôi thử bí thuật mở khóa.
Tôi mượn nhiều ống khóa to nhỏ đủ chủng loại, trong đó có những ống khóa Mỹ rắc rối vì dùng lực của nam châm để khóa mở. Tôi gom tất cả lại rồi đóng cửa nhà xứ để tránh không bị ai dòm ngó. Tôi cẩn thận bóp khóa tất cả gần 20 ống khóa ấy lại rồi để rải rác trước mặt. Và rồi… chỉ với một động tác khẽ khàng và kín đáo; tất cả mọi ống khóa đều nhất loạt tự động bung bật ra, kèm theo những tiếng khua “lách kách lụp kụp” vang lên. Buồn cười làm sao!... Sực nhớ, tôi chạy ra xem ống khóa to đùng bằng cả một cuốn sổ tay đang bị bóp khóa im ỉm ở cổng nhà thờ… xem có động tịnh gì không. Lạy Chúa lòng lành! Chẳng ai nghĩ tới ”hắn”, thế mà “hắn” cũng ngoan ngoãn vâng lệnh tự mở tung ra.
Không thể tả hết nỗi ngạc nhiên thú vị và mừng rỡ trong tôi đến mức nào. Tôi nghĩ thầm: mình mà đi ăn trộm thì… chết hết con người ta!
Tôi nghịch ngợm thử đi thử lại đến chục lần cho thỏa thích trước khi giao trả các ống khóa lại cho mọi người.

Tiếp theo, tôi thử đến ngón nghề thứ ba, một ngón nghề cũng khá là thú vị.
Khi ông Biện Chắc, người thật thà và hiền hậu, vừa bước chân vào nhà xứ có việc, tôi nói ngay:
- Ông Biện ơi! Làm ơn cho tôi mượn hết số tiền 32 đồng năm cắc(2) đang nằm trong túi ông Biện! Mai tôi sẽ trả lại đủ.
Lúc ban đầu ông Biện Chắc không để ý lời tôi nói, mà chỉ biết nhanh nhẹn cho tay vào túi quần lôi ra một nắm tiền nhăn nhúm, đếm; lại thọc tay vào túi khác, móc ra thêm, đếm đi, rồi đếm lại… lục tìm hết các túi lần nữa, lại đếm… Đến lúc này ông mới trợn cặp mắt trắng dã nổi bật trên làn da đen sạm, há hốc vì kinh ngạc. Ông lẩm bẩm:
- Đúng là 32 đồng năm cắc thiệt! Ủa! Sao thầy biết…. Có nhiêu đó thiệt… thầy ơi!
Tôi im lặng nhìn ông. Ông Biện Chắc còn thì thào nhiều tiếng vô nghĩa khác nữa.
Để chấm dứt, tôi lên tiếng minh định:
- Không! Tôi nói đại mà trúng chứ có biết gì đâu!
Tuy hiền lành và chân thật, nhưng ông Biện Chắc phải có bản lãnh thế nào đó mới được giáo dân vùng đất dữ này tin cậy bầu lên làm ông trùm họ đạo; nói như thế để thấy rằng ông không dễ gì tin tôi chỉ đoán mò. Phần tôi, phải nói vì ngạc nhiên và thích thú quá nên tôi ngày càng mất ý tứ. Tôi muốn nói là tôi còn dùng ngón nghề thứ ba này để chọc ghẹo nhiều chú bé, cô bé Thiếu nhi Thánh Thể. Mất ý tứ là chỗ đó.

Tôi lại đến học với Tư Cô những bí thuật khác nữa. Mỗi lần đến, Tư Cô dạy tôi một phép. Học xong phép nào thì tôi háo hức thử đi thử lại nhiều lần. Đi đâu tôi cũng áp dụng những điều đã học một cách rất chăm chỉ; nhất nữa khi gặp lúc ngẫu hứng, gặp những cảnh trái tai gay mắt, chuyện bất bình.
Ví dụ có một hôm đi đò ngang sang bên kia biên giới, trên đò thấy một tên lính trẻ có vẻ xấc xược và hỗn láo với ông lái đò già tội nghiệp, tôi làm phép cho hắn không thể nào nhấc lên rời khỏi đò được nữa, cứ ngồi dính chặt trên be chiếc đò, miệng la oang oác cho đến lúc tôi xong việc quay trở; về đến bờ Việt Nam, trước khi lên khỏi đò, tôi xả phép thì lúc đó hắn mới đứng lên được. Khỏi phải nói! Mặt hắn tái mét đến cắt không ra một giọt máu! Hắn thất kinh hồn vía đến độ tôi tưởng hắn sẽ chẳng còn dám du côn với ai nữa.
Ví dụ anh lơ xe đò -trong chuyến tôi có việc đi Chân Phúc trở về- đã dùng những lời lẽ và cử chỉ dâm đãng để trêu chọc 2 cô gái trẻ hiền lành; khi bà mẹ của 2 cô gái này phản đối, hắn liền chửi bới thóa mạ nghe rất đỗi thô tục; tức quá tôi làm phép cho quần dài lẫn quần lót hắn đang mặc bỗng tụt xuống rồi biến mất; thế là người hắn trở nên rất tức cười: bên trên còn dính được chiếc áo thun 3 lỗ ngắn cũn cỡn, bên dưới thì truồng như nhộng, tênh hênh tố hố trưng bày tất cả mọi sự ra… cảnh tượng ấy làm cho mọi người có mặt ở bến xe hôm ấy cánh đàn ông con trai thì cười rũ ra, cánh đàn bà con gái thì rủa xả ì xèo. Còn nhiều ví dụ khác nữa không thể kể hết. Nói chung, tôi làm được rất nhiều điều “vĩ đại” mà hữu ích.
Từ đó trở đi, cuộc đời tôi gần như trở nên khác lạ. Tôi có một nếp sinh hoạt cộng theo một luồng suy nghĩ cũng rất lạ. Tôi dần trở nên sống khép kín. Tôi bắt đầu xa rời giáo dân. Tôi vào nhà thờ một cách lơ đãng cốt qua lần chiếu lệ cho xong. Dù vậy, tôi vẫn còn nhận ra mình đang thay đổi, đang dần khác đi theo một hướng nào đó. Tâm lý tôi lúc bấy giờ một đàng thì rất vui, một đàng thì hơi xuyến xao lo lắng không biết mình rồi đây sẽ ra sao.
Một hôm tôi đem chuyện ấy tâm sự với Tư Cô. Nghe xong anh cười ngất một lúc rồi nói:
- “Già cơm, non hột”! “Già cơm, non hột”!
Thấy tôi ngơ ngác không hiểu, Tư Cô càng cười to hơn; cười đã một hồi anh mới ngồi xuống bên cạnh và ngọt ngào khuyên giải:
- Liêu ơi! Có thật là Liêu không hiểu gì hết hay không?
Nhìn chằm chằm vào tôi, Tư Cô tiếp:
- Có phải hiện nay, Liêu làm được một số việc “kinh thiên động địa” hay không?
Tôi gật đầu. Tư Cô có vẻ hài lòng. Rồi anh nói thêm:
- Chưa đâu! Đó mới chỉ là những trò chơi lặt vặt.
Thấy tôi ngạc nhiên, Tư Cô giải thích:
- Thế giới có rất nhiều tầng. Mọi người chỉ biết có một tầng họ đang sống. Còn Liêu, tuy đang sống ở tầng này mà đã bước được sang một tầng khác…
Tôi vẫn chăm chú lắng nghe.
- Bước sang một tầng khác của thế giới là chuyện lớn đến độ có thể ví như đang từ cõi sống bước sang cõi chết vậy. Làm sao mà Liêu không lạ lẫm, bỡ ngỡ và hụt chân cho được?
Tôi tò mò:
- Vậy thì thế giới mà em đang bước sang là thế giới gì? Thế giới ấy có tên là gì?
Tư Cô bỗng nhìn tôi bằng ánh mắt sắc lạnh:
- Liêu sẽ tự trả lời câu hỏi này khi nào Liêu học xong một số bí thuật nữa. Đừng nôn nóng mà hư việc! –như đọc được ý nghĩ trong đầu tôi, anh cười mỉm- Nhưng hoàn toàn không phải là thế giới của tà ma, bùa ngải, pháp thuật..…
Để trấn an tôi, Tư Cô dạy cho tôi thêm một bí thuật mới. Đó là bí thuật tụ họp nhiều người lại thành một đám đông. Trước khi dạy, Tư Cô nói:
- Anh sẽ chỉ cho Liêu bí thuật này, một bí thuật giúp ích cho nghề nghiệp của Liêu rất nhiều. Bởi vì anh biết Liêu cần quy tụ được nhiều giáo hữu đến nhà thờ, làm cho nhiều người bỏ sòng bài, mâm nhậu, ổ xóc đĩa, bãi đá gà, nhà chứa… để đọc kinh cầu nguyện như một con chiên ngoan đạo thứ thiệt mà không cần phải khản cổ kêu gào, tốn công thuyết phục, tốn giờ dẫn dụ.
Tư Cô xuống giọng:
- Nhưng Liêu phải hứa với anh một điều.
Tôi tò mò:
- Em phải hứa điều gì?
Im lặng một lúc lâu cho tôi thật căng thẳng, sau đó Tư Cô mới nói:
- Em phải hứa là em không được dùng bí thuật này để làm điều xằng bậy, ví dụ…
Nói đến đó Tư Cô im bặt. Tôi không đoán ra điều gì là xằng bậy -về sau tôi đoán ra. Kẻ xấu có thể dùng bí thuật này để quy tụ đám đông quấy rối ai đó, quy tụ các cô gái để làm chuyện bậy bạ, quy tụ đám đông để ủng hộ mình trong việc phi nghĩa, hay trong việc mua danh chuốc tiếng- dầu lúc đó chưa biết nhưng tôi vẫn hứa:
- Em xin hứa với anh, em học những gì anh dạy cốt để giúp ích mọi người, trừ gian diệt ác để cứu đời.
Tư Cô nói thêm:
- Nếu sai lời hứa, sẽ chẳng có gì xảy ra cho em đâu! Nhưng nên nhớ là anh sẽ rất buồn.

Tuy nhiên tôi đã phạm một sai lầm lớn. Khi đề cập từ “sai lầm”, chắc chắn ai cũng nghĩ đến thất bại hay đổ vỡ. Nhưng không! Điều sai lầm tôi sắp mắc phải thì ngược lại, là điều rất may mắn cho tôi.
Mang bí thuật mới học về nhà, tôi không đủ kiên nhẫn để đợi ba hôm nữa là ngày chúa nhật. Ngay chiều hôm đó thứ năm, tôi dùng trí lực như đã học để khiến được tất cả mọi giáo dân nam phụ lão ấu trong họ đạo, nghĩa là hơn 800 giáo dân đồng loạt đến nhà thờ đọc kinh chiều lúc 17g. Họ đến đông như ngày đón đức giám mục về ban phép Thêm sức. Mọi người chen chúc nhau chật cứng như nêm trong nhà thờ, mà gian nhà thờ này thì sức chứa chỉ khoảng 200 người; số còn lại tràn ra bên ngoài đứng ngồi đầy kín sân nhà thờ. Ôi! Khỏi phải nói! Tôi vô cùng thích thú với việc làm này.
Người ta nô nức đến nhà thờ với áo quần tề chỉnh mà chẳng biết để làm gì. Tôi nghe loáng thoáng người này hỏi, người kia đáp:
- Ủa! Hôm nay ông cũng đi nhà thờ nữa hả?
- Chà! Lâu lâu cũng nên đi đọc kinh chiều một lần!
- Hôm nay rảnh rỗi chớ mọi hôm phải lo mần ăn.
- Tự nhiên bữa nay thấy thèm đến nhà thờ vậy thôi!
Và vân vân…
Vui nhất là các ông Biện ông Giáp… cứ luôn miệng hỏi nhau:
- Kỳ vậy! Tại sao bỗng dưng đi đọc kinh đông dữ… là sao?
Có nhiều người yếu bóng yếu vía đoán mò:
- Chúa ơi! Hay là sắp có chuyện gì chẳng lành xảy ra cho họ đạo?
Nhiều người quá khích:
- Thôi rồi! Có thể sắp đến ngày tận thế…
Tôi thật sự choáng ngợp và không biết nói sao, chỉ biết im lặng hoặc ai hỏi quá thì trấn an:
- Thôi… khi nào giáo dân đến nhà thờ đông thì cứ mừng… chứ lo gì nữa!
Khi tôi thực hiện được bí thuật này thì tôi càng tin Tư Cô hơn nữa, bởi vì nếu những bí thuật tôi học được là bùa chú, tà thuật, phép ma phép quỷ thì sao có thể dùng nó để làm nên việc tốt hoặc đưa người ta đến với Chúa cho được.
Thật thì có lúc tôi cũng xao xuyến về những gì mình đã học đã làm, nhưng lại cũng có những lúc như lúc này đây, tôi cảm thấy tâm hồn mình khá bình an.
Từ sau giờ đọc kinh chiều lạ thường ấy, các ông Biện, ông Giáp và những giáo dân đạo đức cứ bàn đi tán lại hoài không dứt. Từ ngạc nhiên, họ dần đi đến đặt ra nhiều giả thuyết, nhiều nghi vấn.
Những tưởng mọi chuyện rồi cũng sẽ trôi qua, nào ngờ mọi người ngày càng làm cho chuyện lớn ra thêm. Chẳng ai nói gì với tôi, nhưng tôi cảm nhận một điều gì đó đang xảy ra ở giữa các ông Biện, ông Giáp và những người giáo dân đạo đức; tôi cũng cảm nhận hình như có một thứ không khí gì lạ đang bao trùm mọi người. Thế là tôi không biết có nên dùng bí thuật tụ họp mọi người đến nhà thờ lần nữa trong ngày chúa nhật tiếp theo hay không.
(còn tiếp phần cuối kỳ 39)
 
 
(1) Nhà lầu: chỉ nhà nhiều tầng sang trọng.
(2) Thời trước, một đồng bạc gồm 2 đồng năm cắc..

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 19.05.2026 14:21:15
Kỳ 39 (phần 3)
 
(Phần cuối và hết kỳ 39)
Như đã thưa, tôi linh cảm một bầu không khí là lạ giữa các ông Biện, ông Giáp và những giáo dân đạo đức, thì có đúng như vậy.
Tôi xin kể ngay đây.
Xảy ra một hôm tôi có việc về tòa giám mục. Trên đường đi tiện thể tôi ghé thăm má tôi.
Trong câu chuyện tôi vui vẻ và hào hứng khoe với má những gì tôi biết được. Nghe xong má tôi im lặng không nói gì.
Tôi có người cô ruột thứ Năm, cô Năm có nhiều người con, trong số đó có người con gái lớn thứ Hai tên Thu. Chị Hai Thu có người chồng tên Thơm, mọi người gọi là Hai Thơm. Đó là một người đàn ông giỏi giang, chân thật, hiền lành, đặc biệt lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ hàng xóm láng giềng không trừ một ai. Lối ăn ở tốt bụng như vậy khiến làng xóm ai cũng đẹp lòng. Má tôi rất thương anh Hai Thơm vì anh coi cha má tôi như cha mẹ ruột, nhất là từ khi cha tôi khuất bóng, anh Hai Thơm hay lui tới nhà tôi để an ủi, để coi má tôi có cần gì thì mau mắn và tận tình giúp đỡ tới nơi tới chốn.
Khi tôi ở tòa giám mục trở về Long Thạnh được vài ba ngày, bỗng một hôm vào giờ sắp ăn trưa, anh Hai Thơm lù lù từ ngoài cổng nhà thờ đi vào. Tôi hết hồn:
- Ủa! Anh Hai!...
Tim tôi đập loạn hồi hộp vì bao nghi vấn trong đầu, trong đó nghi vấn lớn nhất đó là: không biết má tôi ở nhà có chuyện gì xảy ra hay không. Đoán được ý tôi, anh Hai Thơm cười khì, nói:
- Mợ Bảy biểu tôi đi kêu cậu về gấp cho Mợ Bảy nói chuyện...
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Ủa! Có chuyện gì mà má tui kêu về bất tử vậy anh Hai?
Anh Hai Thơm lắc đầu không nói. Cơm trưa xong tôi thu xếp và lên đường cùng với anh Hai Thơm về nhà.

Buổi tối má tôi nằm trên võng, tôi ngồi dưới sàn ván kế bên. Má tôi hỏi chuyện bâng quơ một lúc rồi đi thẳng vào vấn đề:
- Dòng họ nhà mình có dượng Tám Khôi, đi nhà trường La-tinh (1), thông minh đến nỗi ai cũng khen ngợi và kính nể. Nhưng rồi tự nhiên bỏ ra, không tu nữa, ai cũng tiếc. Sau đó nghe lời rủ ren, bỏ vợ con lên Miên, qua Xiêm rồi qua Lèo (2)… học bùa học ngải đến gần mười năm; khi về nước đã trở thành một thầy bùa rất mạnh, rất quyền phép nổi tiếng khắp vùng này, các thầy bùa khác nghe tên ổng ai cũng khiếp sợ. Chúa thương linh hồn ổng, khiến ổng cuối đời lâm trọng bệnh, hối cải ăn năn, rồi từ bỏ tất cả để trở lại cùng Chúa. Nhưng dù chết đã lâu mà cả gánh con cháu của ổng cho đến tận bây giờ vẫn còn chịu sự tác hại, quấy nhiễu của âm binh ma quỷ không biết làm sao hay nhờ ai mà giải gỡ. Bài học đó trong dòng họ mình ai cũng ghi nhớ.
Tôi tò mò và ngây thơ hỏi tới... Má tôi trả lời qua quýt rồi bất thần hỏi tôi:
- Ai dạy con bùa Lỗ ban?
Đến đây tôi mới hiểu mọi lẽ, liền thưa:
- Không phải bùa má ơi! Đó là những bí thuật… - nói đến đây lòng tôi chợt nao núng và lúng túng vì câu trả lời của chính mình; nhưng tôi vẫn cố gắng thưa tiếp - do một người bạn thân lớn tuổi dạy con. Đâu phải là Lỗ ban lỗ biếc gì đâu má!
Má tôi lắc đầu:
- Anh Hai Thơm biết rất rõ dượng Tám Khôi của con, đồng thời đã đi đó đây nhiều, khi nghe má kể những gì con khoe, anh Hai Thơm của con quả quyết đó là bùa Lỗ ban.
Tôi ngồi lặng im cố vận dụng mọi lý lẽ, nhưng vẫn không biết phải trả lời với má tôi làm sao. Chợt má tôi hỏi:
- Con biết và làm được những gì? Kể cho má nghe hết coi!
Tôi kể tới đâu má tôi trợn mắt lên tới đó; vì quả tình tôi học tuy chỉ hơn mười “món”, nhưng mỗi “món” có thể biến hóa ra không biết bao nhiêu “phép” mà kể.
Nghe xong, má tôi ngập ngừng giây lát rồi ngồi bật dậy, nhìn thẳng vào mắt tôi nói:
- Má cấm con! Con phải bỏ hết! Nghe chưa!
Tôi “dạ” nhỏ xíu. Chừng như biết tôi còn tiếc rẻ, má tôi liền nói thêm:
- Con có thương má không? – chờ cho tôi gật đầu lia lịa như mọi khi, má tôi nói tiếp - Vậy thì phải vâng lời má.

Trở về Long Thạnh với bao ngổn ngang suy đi tính lại: bùa hay không bùa; bỏ hay không bỏ. Dù chưa dứt khoát điều gì, nhưng tôi tạm không đến nhà Tư Cô như thường lệ.
Một hôm Tư Cô đến thăm tôi. Vừa bước vào cửa, anh hỏi ngay:
- Sao? Có chuyện gì vậy Liêu?
Tôi giấu kín mọi chuyện trong lòng, chỉ trò chuyện bâng quơ. Một lúc sau anh kêu bận rồi đứng lên ra về. Ra đến cổng, trước khi chia tay, lặng nhìn tôi một vài giây bằng cặp mắt sắc lạnh, Tư Cô nói:
- Không chuyện gì có thể qua mắt anh được. Liêu hãy nhớ như vậy.
Tôi càng bối rối nhiều hơn nữa.

Khoảng hai ba hôm sau, bỗng có một linh mục cao tuổi ốm và cao đến thăm họ đạo Long Thạnh. Đó là “cố Dư”, cách gọi xưa cũ bình dân của giáo dân trong vùng đối với một linh mục lão thành tốt bụng; tuy đang hưu trí, nhưng “cố Dư” vẫn luôn sẵn lòng đến với bất cứ ai cần sự giúp đỡ của ngài. Thấy “cố” đến, tôi ngạc nhiên tự hỏi có phải vì lúc này Long Thạnh bớt bị pháo kích nên ngài đến thăm chơi cho khuây khỏa tuổi già?… Có thể ngài đi ủy lạo một đại chủng sinh non nớt mà lại phải ở một mình nơi đầu sóng ngọn gió như tôi chăng?... Hay là ai đó trong họ đạo cần đến ngài?...
Mọi thắc mắc trong tôi nhanh chóng biến tan, vì khi vừa gặp tôi, “cố Dư” nhìn trân trối, miệng hỏi hai ông Biện và một ông Giáp đi cùng:
- Nó đấy hở?
Tôi kính cẩn chào nhưng “cố Dư” không thèm đáp lại đến nửa lời; “cố” cứ phớt lờ đi xăm xăm vào hết phòng tiếp khách, sang phòng ngủ, xuống gian bếp, vô thẳng nhà tắm… bước ra nhìn quanh quất khắp nơi rồi ngửa lên trần, cúi xuống nền gạch xem xem xét xét… sau đó quầy quả bước sang nhà thờ, không bao lâu lại ra sân, ra sân chưa kịp quan sát gì đã quẹo ngay vô nhà thờ tiếp… vừa đi miệng “cố” vừa nói:
- Không được ở chung với quỷ một ngày nào sốt! Không được ở chung với quỷ một ngày nào sốt!...ngheo… ngheo…! Chậc chậc… chậc…!
Các ông Biện, ông Giáp đi theo dạ rân sau mỗi câu nói của “cố”.
Đi khắp nơi đã đời xong, “cố Dư” quay về lại phòng tiếp khách. Lúc tôi chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì thình lình các ông Biện ông Giáp nhào tới túm lấy tôi, vật tôi ngã “ịch” xuống đất, dù tôi không làm gì để chống cự. Rồi một ông ngồi đè trên người tôi để tôi đừng xổng mất; một ông khóa hai tay tôi quặc ngược ra sau lưng đau điếng; một ông gài chặt hai chân tôi vào hai chân ông ấy… tất cả đều dùng hết sức lực có được một cách không cần thiết.
Khi đã đè tôi xuống nền nhà xong thì “cố Dư” rút “dây bảy mối” (3) ra đập lên đầu tôi lia lịa, đập xong thì tròng luôn sợi dây vào cổ tôi…
Hay thiệt! Ai đã sắp sẵn một bình nước thánh đặt ở đâu đó tự hồi nào mà từ sáng tới giờ tôi không để ý. “Cố Dư” không rảy nước thánh bình thường mà là chụp lấy nguyên bình nước thánh úp hết cả lên đầu tôi với một động tác nhanh gọn và khẩn trương. “Cố” lanh lẹ lùi ra xa rồi luýnh quýnh mở sách kinh ra đọc bằng tiếng La-tinh… đọc tới đâu “cố” ban phép lành tới đó. Ban nhiều phép lành như thế thấy vẫn chưa đủ, “cố” xếp sách kinh lại, vói tay đập lên đầu tôi liên hồi kỳ trận, vừa đập miệng “cố” vừa quát:
- Hỡi Sa-tan! Hãy ra khỏi người này. Hỡi Lu-xi-phe! Hãy cút xéo!...

Khi mọi việc đã xong, các ông Biện lơi tay dần để xem tôi có động tịnh gì không. Khi thấy tôi vẫn nằm im, các ông ấy buông tôi ra dần rồi thả tôi ra, đỡ tôi dậy. Giáo dân kéo đến coi đông nghịt.
Đến lúc này tôi mới hiểu ra rằng từ lâu tôi bị mọi người coi là bị quỷ ám, và hôm nay thì mời “cố Dư” về để trừ quỷ cho tôi.
Lúc mọi chuyện trở lại bình thường, các ông Biện ông Giáp nói lời xin lỗi tôi với lý do “vì đức vâng lời”, “vì lợi ích Giáo hội”. Còn “cố Dư” thì nở một nụ cười mãn nguyện cho rằng hôm nay đã “trục” được “con quỷ cả” xuất khỏi tôi. “Cố” tỏ vẻ ân cần hỏi tôi:
- Sao? Con thấy trong người như thế nào rồi?
Tôi vừa lau mặt mày cho khô nước thánh, vừa ngây thơ trả lời:
- Thưa… bình thường như mọi khi!
Mặt “cố Dư” lập tức sưng đỏ lên. “Cố” phản đối ầm lên:
- Ơ! “Bình thường như mọi khi” là thế nào!...
“Cố” nhại lời tôi nhưng kéo dài ra và gằn giọng từng chữ cách nóng giận:
- Bình… thường… như… … mọi… khi! Vô lý! Trước khác, giờ khác! Làm sao mầy biết được mầy! Bình… thường… như… mọi… khi! Dào!... Chậc chậc… chậc…!
“Cố Dư” còn ở nán lại chơi vài hôm mới về. Ban đầu tôi chưa thấy gì, nhưng càng ngày tôi càng cảm thấy tức đến khóc được.

Khi tôi còn chưa nguôi ngoai tổn thương trong tâm hồn vì chuyện “cố Dư” đè tôi ra trừ quỷ, tổn thương nặng hơn khi bị các ông Biện và ông Giáp đối xử thô bạo với tôi, nhưng tổn thương thâm sâu hơn hết khi giáo dân họ đạo nghi ngờ tôi bị quỷ ám- thì bỗng dưng cha sở Luca từ An Biên đến.
Tôi mừng rỡ vô cùng vì ngài là một điểm tựa lớn cho tôi. Cũng vẫn với phong cách khoan thai điềm đạm, nhã nhặn và ân cần, ngài an ủi và nâng đỡ tôi. Cha ruột tôi khuất bóng từ lâu, nhớ lại ngày xưa mỗi buổi sáng cha ngồi uống trà, tôi ngồi bên cạnh líu lo đủ điều khiến cha vui mà tôi cũng cảm thấy thích; nay tôi xem cha sở Luca như người cha ruột ấy vậy, lòng tôi vừa kính phục vừa cứ muốn giải bày.
Tôi ấm ức kể hết mọi chuyện cho cha Luca nghe. An ủi xong cha nhận xét:
- Cha đến đây và thấy con vẫn còn xưng tội với cha, còn rước lễ… thì cha biết chắc con vẫn bình an vô sự. Người bị quỷ ám có 2 dấu hiệu dễ nhận biết, đó là mất thăng bằng trong sinh hoạt của một con người bình thường và thần thái xanh xao vàng vọt lạ thường.
Cha Luca không bao giờ nói dối hay giấu giếm tôi điều gì, cho nên cha nói tiếp:
- Lần này cha lên thăm con cũng vì việc đó.
Không đợi tôi hỏi, cha Luca cho biết giáo dân đến gặp cha kể rõ sự tình, vì thương mến tôi mà họ luôn bảo vệ tôi. Chính điều đó làm họ biết hết mọi việc tôi làm. Họ không thống nhất được với nhau về cách giải quyết nên có một số người nhờ đến “cố Dư” và đã vô tình gây tổn thương cho tôi v.v…
Gần suốt một đêm nói chuyện với cha Luca, tôi không giấu giếm cha một điều gì; còn cha, cha cũng phân định cho tôi trắng đen mọi việc. Khi tôi kể lại rằng má tôi cấm không cho tiếp tục theo đuổi những bí thuật mà tôi say mê học hỏi, cha Luca cũng đồng tình và khuyên tôi nên bỏ hẳn. Cha nói:
- Sức người có hạn. Vậy điều gì vượt ra ngoài giới hạn ấy đều không bình thường con ạ!
Tôi hỏi cha:
- Thưa cha, những bí thuật con học có phải là bùa ngải không? Hay đó là những phép thuật… của… ma quỷ?
Cha Luca lặng im suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
- Mỗi khi bỗng nhiên Ông Lực Lượng mất tăm mất dạng, không lui tới xưng tội… là cha biết Ông Ấy sắp làm một việc gì đó.
Rồi cha vừa cười mỉm vừa lắc đầu:
- Cha không sao nghĩ ra được Ông ấy làm chuyện gì. Cho đến khi các ông Biện đến kể chuyện về con, cha giật thót người và đi ngay đến với con đây.
Suy nghĩ một lúc lâu, cha Luca đưa tay vuốt tóc tôi vừa ngập ngừng hỏi:
- Con có định vâng lời má con mà bỏ hết những tà thuật đã học đi không?
Tôi quỳ sụp xuống trước mặt cha:
- Thưa cha con vâng lời má con và vâng lời cha nữa. Con bỏ.
Bỗng dưng tôi không cầm được nước mắt. Khóc òa lên trước mặt cha.
Khi tôi cầm được nước mắt, cha Luca nói:
- Lúc nào con cũng chân thành. Lúc nào con cũng chân thành...
Cha lại nói tiếp:
- Sự chân thành đã luôn cứu con, sẽ còn cứu con nữa… Con người mà còn yêu thích sự chân thành thì Chúa sẽ yêu thích đến đâu!
Chưa đêm nào tôi ngủ ngon và bình an như đêm đó dù chỉ còn lại vài tiếng đồng hồ trước khi trời sáng.

Lễ sáng và điểm tâm xong, cha Luca bảo tôi dắt cha đến thăm nhà Tư Cô.
Khi đến nơi bỗng dưng tôi tìm hoài không ra nhà Tư Cô.
Tôi vô cùng bối rối và tự hỏi:
Làm sao có thể như thế được vì nhà Tư Cô luôn được tôi đánh dấu trong đầu bằng những hàng cổ thụ cao ngất và những lùm cây bụi cỏ xanh ngát cạnh lối vào! Tất cả vẫn còn đây nhưng sao tôi lại không tìm ra nhà Tư Cô.
Làm sao tôi lầm được khi nhà Tư Cô ở chỗ vừa qua khỏi khúc cua quẹo khá gắt, đã vậy gần khúc cua ấy là mặt đường bị hư hỏng nặng, nước đọng triền miên; và… tất cả vẫn còn đây!
Thử hỏi lầm sao được khi gần nhà Tư Cô nhất, có một ngôi nhà lá lụp xụp của hàng xóm! Thì ngôi nhà ấy vẫn đang lù lù kia!
Không thể nào lầm cho được khi tôi đến nhà Tư Cô gần như mỗi ngày! Mỗi lần đến như vậy, vì thuộc nhão đường đi lối đến, tôi cứ đi băng băng dẫu cho có phải nhắm mắt.
Không tin vào mắt mình nữa tôi bèn tìm một dấu vết khác, dấu vết mà tôi nhớ nhất. Đây rồi! Bụi chuối gần mười cây ở bên kia đường nhìn qua con đường nhỏ trải đá dẫn vào nhà Tư Cô. Tuy nhiên, lạ lùng không thể tả! Khi tôi đến đứng ở bụi chuối nhìn qua bên đường thì không còn thấy có con đường nhỏ trải đá nào dẫn vào khu vực thanh cảnh với ngôi nhà cổ sang trọng, uy nghi và bề thế như trước nữa… tất cả chỉ còn là một khu đất hoang vu, cây dại chen nhau mọc bừa bãi, rải rác là những nấm mộ đắp đất… cảnh vật thật vắng lạnh và buồn thảm.
Thấy tôi đi tới đi lui, ngẩn ngơ, lúng túng và dáo dác tìm kiếm nhà Tư Cô, cha Luca giúp ý kiến:
- Có con đường nào khác chăng?
- Thưa không! Chỉ có một con đường duy nhất ở vùng này thôi ạ!
- Con đã đến đây nhiều lần chưa?
- Thưa rất… rất nhiều lần… ạ!
Tôi đi ngược trở lại nhắm phía ngôi nhà hàng xóm gần nhất, cách đó chừng trăm mét. Cha Luca cũng đi theo.
Đến trước cửa nhà tôi lớn tiếng kêu người hàng xóm:
- Bác chủ nhà ơi! Bác chủ nhà ơi! Bác chủ nhà… cho xin hỏi thăm!
Còn đang ơi ới thì một người đàn bà nghèo đầu tóc rối tung từ trong bước ra. Tôi hỏi:
- Dì ơi! Dì có biết nhà anh Tư Cô ở gần đây không?
- Tư Cô nào? Ở đây có Tư Cô nào đâu?
Tôi chợt rùng mình.
Lấy lại bình tĩnh, tôi khẩn khoản mời người đàn bà bước ra khỏi nhà, đồng thời tay tôi chỉ về hướng nhà Tư Cô.
Người đàn bà trố mắt nhìn tôi rồi trả lời với giọng hơi xẵng:
- Chỗ đó là bãi tha ma chôn những người bị lính ông Dẻo xử bắn. Làm gì có nhà ai!
Tôi lạnh cả sống lưng. Người đàn bà nói như để phân bua:
- Kìa! Chỗ có tán cây gừa lùm xùm… là bãi bắn. Lính ông Dẻo bắn đó rồi chôn đó! Làm gì có nhà ai ở trỏng! –Chợt người đàn bà nghèo nhìn tôi trân trân một vài giây, rồi chỉ thẳng vào mặt tôi nói- Chú này tới lui đây thường xuyên sao còn giả ngộ (4)?
Có vẻ như không muốn nói những chuyện tào lao, người đàn bà quày quả bước vô nhà. Nhưng vừa đi được vài bước, quay lại nhìn cha sở Luca, người đàn bà dịu giọng:
- Chỉ… vì tui nghèo không có đất, mới liều ở đây… chớ ai dám tới chỗ cô hồn các đẳng này mà ở!... Đêm nào mà chẳng nghe họ tru tréo!
Nói xong người đàn bà chui vào trong nhà, tuy vậy vẫn còn lấp ló ở phên cửa nhìn ra.
Cha sở Luca lặng im nhìn tôi. Tôi nhìn cha Luca trân trối.
Có lẽ do thấy tôi hoảng sợ nên cha Luca nắm lấy vai tôi truyền sự bình tĩnh:
- Rõ rồi!... Thôi ta về đi con!
Cha Luca nắm tay dìu tôi đi. Tôi muốn khuỵu xuống. Hai đầu gối run bần bật, tôi bước đi một cách khó nhọc.

Về đến nhà, cha Luca dắt tôi đi ngay vào cung thánh. Quỳ xuống, cha dâng lời tạ ơn Chúa, tôi thì thầm nói theo.
Tôi không thể nuốt cơm nổi suốt ba bốn ngày liền sau đó vì thất đảm kinh hoàng. Càng kinh hãi hơn khi, với sự chứng kiến của cha Luca, các ông Biện ông Giáp và những người giáo dân đạo đức thi nhau kể lại rằng, họ từng đi theo tôi đến tận nơi ấy; thậm chí nhiều lần thấy tôi băng băng đi vào bãi tha ma, họ cũng bấm bụng đi theo… Nhưng quái lạ thay! Tôi luôn mất hút nhanh như cắt trong đám mồ mả lạnh ngắt ấy khiến họ không bao giờ bắt kịp…
Rất may có cha Luca đã kịp thời cứu tôi và ở bên cạnh tôi ngay lúc này. Cứ thỉnh thoảng cha sở Luca lại nhắc, đại ý:
- Họ muốn dắt con vào con đường của Họ bằng lối đi hấp dẫn. Họ điểm trúng “huyệt tò mò” của tuổi trẻ nơi con. Nói chung, Họ rất khôn ngoan và sành tâm lý!
Cha sở Luca ra về. Tôi sợ đến độ không còn dám động đến bất kỳ một bí thuật nào. Mãi cho đến vài năm sau, những lúc nguôi sợ, tôi lén thử một vài “món”, nhưng chẳng “món’ nào còn tác dụng.
Giờ đây đã vài chục năm trôi qua, kể lại thôi mà tôi vẫn còn sởn gai ốc.
 
 
(1) Nhà trường La-tinh: tiểu chủng viện. Xưa vào tiểu chủng viện khoảng 12 tuổi, tiểu chủng sinh được học ngay tiếng La-tinh.
(2) Miên là Campuchia, Xiêm là Thái Lan và Lèo là Lào.
(3) Khi mặc áo alba trắng bên trong áo lễ, chủ tế thắt một sợi dây lưng bằng chỉ gai. Dây đó tên là dây cordon. Vì dây này thắt 7 gút nên giáo dân ngày xưa gọi là “dây bảy mối”.
(4) Giả ngộ: phương ngữ có nghĩa giả bộ.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 21.05.2026 03:38:55
Kỳ 40
 
Biến cố kinh hoàng nhất trong đời tôi vừa kết thúc, cũng vừa đúng kỳ hạn đức giám mục giáo phận ấn định, tôi giã từ Long Thạnh. Về nhà tôi nhớ họ đạo như người bị bệnh tương tư khiến má tôi rất xót xa. Nhờ đó tôi biết được các linh mục, nhất là các linh mục chánh xứ, khi bị thuyên chuyển khỏi giáo xứ đã từng ở lâu năm, cũng “tương tư” một thời gian; dù biết rằng giáo dân linh đình đưa tiễn, nước mắt lênh láng thế mấy chẳng qua cũng chỉ là trò hồn nhiên, vì tất cả đều chóng phai như sương mai gặp nắng sớm.
Trở lại đại chủng viện, tôi bắt đầu học năm thứ I trong số 4 năm thần học.
Như trước đây tôi đã thưa, có người tuy sống 1 năm mà bằng người khác sống 5, 7 năm; nghĩa là cuộc đời nhiều nỗi thăng trầm khiến họ có nhiều trải nghiệm, rất nhạy cảm trong cảm xúc và tình cảm… ngược lại, những người có cuộc đời may mắn, thảnh thơi và bình ổn sẽ không thể nào có được diễm phúc ấy. Chỉ riêng vấn đề này thôi, người ta có thể chiêm nghiệm được nhiều điều hay ho bổ ích. Chính vì vậy tuy ngồi cùng lớp, nhưng tôi khác với các bạn đồng môn trong nhận định và suy nghĩ, thậm chí nhiều khi có những quan điểm trái ngược nhau. Có những việc các bạn xem thường thì tôi lại thấy quan trọng.
Nêu lên như thế để tôi nhập đề những chuyện sắp kể tương đối dài và tương đối đau lòng.
Ai cảm thấy mình yếu đức tin, xin đừng đọc tiếp, vì biết đâu đức tin bị lung lay (!?). Bởi nếu coi những chuyện kể trong 39 kỳ vừa qua là chuyện ma, thì những kỳ sắp tới là chuyện quỷ; nếu trước là những chuyện đọc để vui cười, giờ là những chuyện đọc để gẫm suy và thấm thía.
 
 
Đọc Lời Chúa câu: “...Trên đá này Thầy sẽ xây Giáo hội của Thầy, và quyền lực của tử thần sẽ không thắng nổi!” (Mt 16:18) do Đức Giêsu Kitô phán với môn đệ Phêrô, nếu ai xem đó là lời cảnh báo thì sẽ thấy: rõ ràng quyền lực ấy phải có tấn công Giáo hội Đức Giêsu Kitô mới đề cập chuyện thắng, thua. Vậy chuyện Giáo hội bị quyền lực của tử thần (ma quỷ) tấn công là chuyện hiển nhiên.
Tuy vậy, đa số người Công giáo chỉ quan tâm đến những đòn tấn công bên ngoài, ít chịu nghĩ còn có rất nhiều đòn tấn công bên trong, sâu ẩn và tinh vi khéo léo mà vô cùng sâu độc… Đằng khác, lại còn quan niệm Giáo hội và các vị lãnh đạo luôn thánh thiện, luôn “miễn nhiễm” đến “vô trùng” là một quan niệm sai.
Nói rõ hơn, phần đông người Công giáo nghĩ ma quỷ chỉ cám dỗ chúng ta vi phạm “Mười điều răn Đức Chúa Trời", “Sáu điều răn Hội thánh” hay sa vào “Bảy mối tội đầu”… quên rằng họ còn có vô số kế hoạch, mánh khóe, mưu chước… thông minh, ngọt ngào và hiệu quả.
Đọc những trang tiếp theo, xin đừng ngạc nhiên khi phát hiện cái xấu thâm nhập vào tận bên trong Giáo hội; hơn nữa ngay từ trong trứng nước của những cơ sở đào tạo giáo sĩ, tu sĩ.
Đúng là như vậy! Nếu loài người trí thấp mưu non mà còn nghĩ ra được: nào “Tam thập lục kế” (36 kế sách dùng trong chính trị, quân sự…), nào sách dạy những thủ đoạn chính trị tàn độc (sách gối đầu giường của chính trị gia) (1), nào Binh pháp Tôn tử, nào những kỹ thuật này nọ để thắng nhau… hà cớ gì ma quỷ không có những mưu sâu chước độc siêu… kinh dị để đánh đổ chúng ta!
Tại sao người Công giáo không nghĩ: ma quỷ có cả một “chiến lược thánh thiện”. Đó là một thứ chiến lược đi theo ước mơ thánh thiện của chúng ta để giết chúng ta. Để hiểu thế nào là những “chiến lược thánh thiện” xin đọc lại câu chuyện vui giả sử, tuy cũ, nhưng còn đúng “đô” cảnh báo bổ ích:
Ngày kia, quỷ vương Satan hỏi các quỉ nhỏ:
- Làm thế nào để bắt được các linh hồn?
Quỉ thứ nhất trả lời:
- Tôi sẽ rỉ bên tai họ câu này:“Không có Chúa! Không có Chúa!”.
Satan nhíu mày suy nghĩ vài giây rồi nói:
- Mưu kế này không hay! Nhìn vũ trụ họ không thể nào chối bỏ Chúa được.
Quỉ thứ hai giơ tay phát biểu:
- Tôi sẽ rỉ tai họ: «Chết là hết! Chết là hết!».
Satan nhìn ra xa tư lự một lát rồi cũng lắc đầu phủ quyết:
- Mưu kế này cũng không ổn. Sự đời đời đã được khắc sâu vào chính giữa trái tim của con người.
Satan và các quỉ trầm ngâm nghĩ ngợi.
Bỗng quỉ thứ ba trông già khú, từ từ đứng dậy thận trọng phát biểu:
- Tôi sẽ nhắc đi nhắc lại cho mọi người rằng: «Có Chúa. Chết chưa hết đâu! Có đời đời. Có thiên đàng, có hỏa ngục. Hãy ăn năn trở về cùng Chúa. Nhưng tôi sẽ rỉ tai họ: «Vội gì! Cứ từ từ! Còn nhiều thời gian. Để tính sau. Cứ từ từ! Cứ từ từ!».
Vừa nghe xong, quỉ vương Satan đứng bật dậy vừa đập bàn vừa cười rú lên:
- Tuyệt! Tuyệt! Cứ theo kế hoạch này mà làm! Chắc chắn chúng ta sẽ thành công.
Người dệt ra câu chuyện vui giả sử này muốn gửi đến chúng ta một thông điệp: Ma quỷ mượn chính đức tin (tin vào Chúa là ân sủng, là sự công chính, là điều thánh thiện) để đập phá chúng ta. Đây mới chỉ là một ví dụ nhỏ của “chiến lược thánh thiện”.

Lớp thần học năm thứ I của tôi có khoảng 40 thầy thuộc nhiều “sắc tộc” (tức đa số là người của 4 giáo phận khác nhau gửi tới, một số ít là người của 5 dòng tu gửi tới, 2 thầy Hoa tức từ tiểu chủng viện người Hoa sang, 3 thầy Việt kiều Campuchia về). Vì đa sắc tộc (2), cho nên khởi đầu cảm thấy xa lạ với nhau, nhưng “tuổi trẻ dễ gần”, chỉ sau chừng nửa tháng tất cả đều trở thành anh em một nhà.
Nói là nói theo bên ngoài vậy, sâu kín bên trong còn bao nhiêu nỗi!
Dễ hiểu thôi! Sự khác nhau về nền giáo dục, nếp nghĩ, trí phán đoán, tập quán, văn hóa, phong tục cho đến ý hướng tu trì, quan niệm tu đức... tất cả còn lâu mới xếp lại cho đồng đều được (3).
Tôi xin phép kể lại một câu chuyện nhỏ vào năm đầu tiên mới bước vào đại chủng viện học lớp Triết I, qua đó mọi người sẽ biết thêm về những khác biệt giữa các đại chủng sinh trong một đại chủng viện.
Ban đêm tiểu chủng viện tỉnh lẻ nơi tôi tu học từ nhỏ (khoảng 11-12 tuổi) cho đến lớn (18-19 tuổi) cho phép tiểu chủng sinh mặc quần đùi, áo thun có tay ngắn (không được phép mặc áo thun 3 lỗ, tức áo thun khoét nách) để ngủ; còn tiểu chủng viện ở thủ đô thì lại buộc tiểu chủng sinh của họ phải mặc tuy cùng loại áo thun như trên, nhưng với quần dài (may bằng vải thô màu đen gọi là quần bà ba vì lưng quần luồn dây thun) khi lên giường. Chỉ là sự khác biệt chút ít, thế nhưng đối với một thiểu số -vài ba thầy có cái nhìn khắt khe câu nệ, có óc “kỳ thị bẩm sinh” vùng miền- chuyện mặc quần đùi đi ngủ như vậy đã trở thành chuyện lớn gần như vi phạm đến thuần phong mỹ tục; tệ hơn, các thầy ấy hóa phép thành sự khác biệt văn hóa giữa họ là những “người hiện đại” với chúng tôi là những “người rừng”. Sau những màn phê bình, chế giễu, cãi cọ, thậm chí có cả những pha “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”… là sự kỳ thị vùng miền kéo dài đến bất tận.
Mọi khác biệt làm nên sự kỳ thị hay chính sự kỳ thị làm nên mọi khác biệt (?)
Sự kỳ thị giữa những người có học đã tinh vi thì sự kỳ thị giữa những người vừa có học, học về tư tưởng, học về tu đức… sẽ càng khó giải quyết hơn nữa.
Suy cho cùng, nếu không có chuyện nhỏ trên, các đại chủng sinh cũng đã kỳ thị nhau rồi. Vì mọi người đều lẫn lộn giữa loại quần tụ những người cùng có điểm chung để phát triển… với loại quần tụ nhau để chống trả những gì khác biệt với mình. Loại quần tụ trước là lập hội hè, lập đoàn thể, dòng tu… loại quần tụ sau là lập bè, lập phe, lập phái, lập nhóm… để đánh dấu, phân biệt, kỳ thị rồi loại trừ nhau. Ma quỷ cố gắng làm cho lẫn lộn tất cả để gây hại cho các đại chủng sinh.
Thế nên trong đại chủng viện tôi đang theo học lúc này tuy chỉ có khoảng hơn 200 thầy, vừa tựu lại không lâu đã tế phân, đã “vón cục” thành rất nhiều nhóm thuộc đủ mọi màu sắc: nào là màu sắc tỉnh-thành: các thầy phố thị lập thành nhóm phân biệt với các thầy ở tỉnh lẻ; màu sắc giáo phận: các thầy giáo phận này phân biệt với các thầy giáo phận khác; màu sắc “địa phận gốc” Bắc (tức các địa phận trước di cư năm 1954, ví dụ địa phận Hà Nội, Thái Bình, Phát Diệm,Thanh Hóa, Bùi Chu…): các thầy gốc địa phận này phân biệt với các thầy gốc địa phận khác; màu sắc dòng-triều: tức các thầy tu dòng phân biệt với các thầy tu triều; màu sắc vùng-miền (Nam, Trung, Bắc): các thầy ở miền này phân biệt với các thầy ở miền khác; ngoài ra còn nhiều màu sắc khác nữa như màu sắc cha đỡ đầu; màu sắc giàu-nghèo, sang-hèn v.v…
Dù ít ai để ý, nhưng sự kỳ thị cho người ta xa dần đức bác ái; từ đó người ta chia rẽ, ganh ghét, tiến dần đến thù nghịch, đố kỵ, ích kỷ, kiêu căng, giả dối… thử hỏi sự kỳ thị làm tiêu tan hy vọng hiệp nhất và chắc chắn bóp nghẹt lòng nhân ái thì còn gì là đức bác ái –trong khi đức bác ái là tất cả của đạo Công giáo.
Ban giám đốc và các linh mục giáo sư không hay biết sự phân rã nhiều đến như thế, vì ở đại chủng viện, không còn chế độ giám thị như ở tiểu chủng viện. Chúng tôi được giải thích rằng làm như thế để tập chủng sinh trưởng thành. Cho nên các linh mục giáo sư thường đóng cửa ở trong phòng mình sau giờ lên lớp; nói chung, các thầy tự do độc lập cách thoải mái. Môi trường này rất thuận lợi cho ma quỷ khai thác các loại tính xấu, ở đây đang nói đến tính kỳ thị.
Tôi xin kể hai trường hợp tiêu biểu về sự tác hại của óc kỳ thị.
Bạn tôi cùng lúc là thành viên của 4 nhóm: nhóm tỉnh lẻ, nhóm giáo phận Phát Diệm, nhóm người Bắc di cư vào miền Tây năm 1954, nhóm có cha bố là những linh mục thành lập các chiến khu; dù có bố đỡ đầu oách như thế nhưng vì nhà nghèo, cha mẹ sống bằng nghề nông, tiền bạc hạn chế, không thể sắm xe gắn máy (4) như người ta; mỗi chúa nhật và thứ năm đại chủng viện cho các thầy “xoọt-ty líp” (sortie-libre: ra ngoài tự do) anh mặc áo thụng cuốc bộ lọc cọc “đi thì chẳng đến đâu, về nhà chẳng làm gì”. Thầy Phúc không đành lòng, nhất là khi bị người của nhóm này nhóm khác khinh khi ra mặt và kỳ thị hẳn hòi. Thầy Phúc nghe ai đó mách nước, đi tìm một bà mẹ nuôi để lợi dụng tiền bạc sắm xe cho “bằng chị bằng em”. Lúc đầu chỉ có vậy, nhưng càng ngày thầy Phúc càng dồn tim óc vào những chuyện sắm sửa những phương tiện hào nhoáng, không còn chuyên tâm tu học như mọi người.

Thầy Quỳnh thì khác, vì mang nặng óc kỳ thị vùng miền nên thầy đâm ghét những người gốc khác với mình. Mở miệng ra là chế giễu, nhại giọng, tru tréo chỉ trích giọng nói, phong hóa, ẩm thực, tập quán của những người miền này miền nọ. Khi tiếp xúc với thầy Quỳnh, người ta thấy một bầu không khí ganh ghét, giận hờn, đố kỵ...
Đi đêm có ngày gặp ma, một hôm thầy Thắng, một đại chủng sinh lớp trên bị thầy Quỳnh nhại giọng ngay sau khi thầy Thắng vừa dứt lời nêu câu hỏi với cha giáo trong lớp Thần học Luân lý Cơ bản –thầy Thắng tuy lớp trên nhưng xin dự thính.
Đợi cha giáo giải thích xong, thầy Thắng lễ phép đứng lên nêu rõ lý do và xin phép cha giáo rồi quay xuống nói với thầy Quỳnh đang ngồi cuối lớp:
- Thầy Lâm Tấn Quỳnh kính mến! Từ ngày tựu trường đến giờ, tôi nhận xét thầy chuyên bôi bác giọng nói và văn hóa của người khác. Thầy cư xử như vậy để làm chi? Thầy khó chịu với giọng nói của miền khác vì họ không nói đúng giọng của thầy, giọng mà thầy tự cho là chuẩn nhất? Vậy xin hỏi thầy: Chuẩn ấy lấy đâu ra?... Nếu như thế thì chắc thầy phải điên lên vì giọng nói của người nước ngoài mất!
Nghe nói vậy, các thầy khác người thì nhao nhao đồng tình, người thì cười pha trò, còn thầy Quỳnh thì im phăng phắc. Thầy Thắng nói tiếp:
- Ông bà ta thường nói: “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, để khuyên chúng ta nên kính trọng và bảo vệ bản sắc riêng của nhau. Đó là phẩm hạnh của người khôn ngoan, thông thái và văn minh. Tôi mong thầy sớm trở nên người khôn ngoan, thông thái và văn minh...
May sao cha giáo cũng cùng tâm trạng, nên tiếp lời thầy Thắng, ngài cho một bài “đíts-cua”(discourt: bài diễn văn) ra trò về vấn đề kỳ thị vùng miền và văn hóa.
 
 
Đúng như vậy thật, óc kỳ thị là óc bảo thủ cực đoan; bảo thủ cực đoan là tình trạng bệnh hoạn tâm lý, thiểu năng trí thông minh, thui chột trí phán đoán, chậm phát triển nhân cách… những điều đó chỉ có nơi những người lòng dạ hẹp hòi, đầu óc u tối, tính khí ích kỷ và bản chất kiêu căng.
Mưu kế của ma quỷ không đánh thẳng vào bác ái… mà dùng kỳ thị để ủ lửa.
Giáo hội Việt Nam luôn trong tình trạng ủ lửa bằng óc kỳ thị để rồi hễ có dịp, lửa ấy bùng lên thành những kiểu chống phá, đạp đổ nhau không thương tiếc.
Tôi đã nhìn thấy thật rõ điều này và thưa lại với cha Luca qua một lá thư dài.
Cha Luca rất đồng ý với nhận định của tôi. Trong một lá thư hồi âm cha khuyên: “Hễ có dịp, thầy nên nói cho nhiều người nhận thức điều đó!
 
(1) Le Prince của N.B. Machiavelli, người Ý (1469-1527).
(2) Ngày xưa, thiếu nhân lực và tài lực, nên nhiều giáo phận, nhiều dòng tu... hùn nhau mở một đại chủng viện để đào tạo chung. Thế nên ngay từ khi gia nhập đại chủng viện, các thầy lớp triết học thuộc nhiều “sắc tộc” tụ về, đã chênh nhau nhiều mặt khó thấy... ra sao thì các lớp thần học cũng không giảm bớt, các lớp đầu ngành bao giờ cũng xô bồ.
(3) Ngày xưa để thành linh mục, phải 2 nấc đào tạo: nấc thứ 1 ở tiểu chủng viện (từ lớp 6-12); nấc thứ 2 ở đại chủng viện (2 hoặc 3 năm triết học, 2 năm giúp xứ và 4 năm thần học).
(4) Chỉ nói về một đại chủng viện nhất định, không có ý “quơ đũa cả nắm”. Để đi ra ngoài, các thầy phải tự lo phương tiện. Phương tiện di chuyển ấy được chia thành nhiều đẳng cấp như sau: Cao cấp là Vespa Sprint, Lambretta, Vespa Super, Honda phân khối lớn; trung cấp là Honda SS, Honda Dame, hạ cấp là xe Sach, Goebel, Mobylette, Velo-Solex (tức gồm hổ lốn những loại xe 2 bánh có nổ máy), hạ-hạ cấp là xe đạp; còn “bần cố nông vô sản” thường bị trêu chọc là “các thánh đồng trinh” ra ngoài mọi đẳng cấp là “cuốc bộ-thường niên”. Mỗi sáng, chiều chúa nhật và thứ năm (2 ngày sortie-libre) sự phân chia giai cấp ấy luôn diễn ra ở nhà xe nằm giữa lòng đại chủng viện.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 27.05.2026 11:05:05 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 22.05.2026 11:11:03
Kỳ 41
 
Người ta không ai có thể nói ra hết mọi cảm nhận hay suy nghĩ của mình, mà chỉ nói được phần nào. Đơn giản vì có nhiều điều không thể nói ra. Cũng thế, những gì tôi nói đây, không phải là tất cả, chỉ một phần nhỏ; vì có nhiều điều sợ nói ra sẽ gây hại, hoặc nói huỵch toẹt sẽ trở thành người đạp đổ, kẻ phá hoại v.v… Vậy nên tôi chỉ nói những gì có lợi cho mục tiêu đặt ra mà thôi. Còn nhiều điều phải giấu đi.

Phải nói những ngày đầu bước vào đại chủng viện khi còn là một “cậu học sinh” vừa xong lớp đệ nhất (lớp 12 bây giờ), tôi ngây thơ không biết gì. Bây giờ nhập trường lần nữa sau hai năm triết học và hai năm giúp xứ đa truân, tôi bỗng nhận ra nhiều điều mới, nhiều điều trước kia không nhận thấy.
Trong số những điều tôi nhận ra, có một điều gây nguy hại vô cùng cho chủng sinh và cho cả Giáo hội. Đó là sự kính trọng quá mức của mọi người đặt vào một con người nào đó sẽ làm hư hại họ ngang bằng với sự chà đạp vùi dập xuống tận bùn đen một ai đó.
Vậy mà ở đây, sự kính trọng quá mức cần thiết lại đặt vào những con người còn non nớt. Tôi muốn nói các đại chủng sinh được kính trọng vượt quá giới hạn. Đây là một sơ hở nữa khiến ma quỷ lợi dụng tấn công Giáo hội bằng nhiều đòn trí mạng.
Sự kính trọng này rất có cơ sở và hệ thống.
Trước hết nó được xây dựng trên những câu slogan (1) có tự xa xưa, thử thí dụ một hai câu: “Linh mục là alter Christus”.“Alter Christus” nghĩa là Chúa Kitô khác, tức Chúa Kitô thứ hai; “Linh mục là hiện thân Chúa Kitô” (2) ý nói nhìn thấy linh mục là nhìn thấy Chúa Kitô v.v… Những câu slogan đó cốt đưa linh mục lên đỉnh cao chót vót không còn có thể cao hơn được nữa; gọi linh mục bằng “cha” chưa đủ, phải kính trọng hầu như một cách tuyệt đối. Cơ sở của những câu slogan đó là dụng ý.
Sự kính trọng này được trang bị bằng vũ khí cực “khủng”, đó là “chức thánh” với những lời răn đe “không được động đến người có chức thánh” v.v…Tất cả được xây dựng có bài bản và cơ sở lý luận hoàn hảo, lại nhồi sọ giáo dân liên tục kiểu “cha truyền con nối”. Từ đó, những người được đào tạo để làm linh mục cũng được kính trọng đặc biệt một cách tất nhiên; kính trọng gần như thần thánh hóa người được kính trọng về mọi phương diện. Kính trọng một cách “khơi khơi” không cần suy xét, giống như người quê mùa thất học ở Việt Nam dễ dàng gọi một người nào đó bằng “thầy” cách ngon lành chỉ vì lý do nghe ai đó gọi như vậy.
Xin hãy trở lại với các đại chủng sinh xem sự kính trọng bắt đầu được “xây thành đắp lũy” như thế nào.
Trước hết nói về sự kính trọng khởi từ cách xưng hô vô tội vạ. Khi mới bước vào năm thứ nhất thần học, tôi đã nghe nhiều cách xưng hô lạ lùng giữa các thầy với nhau. Trước tiên tôi nghe mọi người gọi các đại chủng sinh lớp thần học năm thứ tư bằng “các cụ, các cụ sáu, cụ sáu Anh, cụ sáu Thỏa, cụ sáu Hoạch”…(3) mặc dù tuổi đời chỉ hăm sáu, hăm bảy… nếu đã gọi “cụ” hẳn phải xưng bằng “con”. Nội cách xưng hô thôi đã phủ lên họ một hào quang dù họ chẳng khác gì một anh sinh viên ngoài đời, cũng “ăn tục nói phét”, cũng ganh, giận, ghét, thù… với tất cả sự thô lỗ có thể, cũng tranh ăn giành ngủ… thậm chí nhìn theo mút mắt một cô nhà bếp xinh xắn nào đó tình cờ đi qua dưới sân, với cặp mắt thèm thuồng đến ngây dại…
Kế tiếp là gọi nhau bằng “thầy” xưng bằng “con” ngay giữa bạn bè cùng lớp và trạc tuổi nhau, dù ở ngoài sân banh vừa mới xưng hô với nhau “mày mày”, “tao tao” ỏm tỏi…. Có rất nhiều đại chủng sinh vừa tỏ ra khiêm nhường, vừa tỏ ra kiểu giả bằng cách gọi người bạn cùng lớp bằng “thầy” xưng “con” một cách xảo trá, một trò môi mép giả dị.
Các cha giáo gọi học trò mình bằng “thầy”; trước khi nói gì đó thì mở lời bằng điệp ngữ “kính thưa quý thầy”. Thậm chí vụ này, thầy trưởng nhạc được bầu ra, mỗi lần tập hát cho anh em đều môi mép kịch trường “kính thưa quý thầy… con xin tập bài…”. Ngoài xã hội cứ vậy mà theo, nhất nhất tỏ lộ sự kính trọng. Trong gia đình của một số vùng miền cứ vậy mà bắt chước, các đại chủng sinh còn được chính cha mẹ, anh chị em ruột gọi bằng “thầy” xưng “con” một cách rất nghiêm túc.
Nói về sự kính trọng khởi từ cách ăn mặc và phong cách khác biệt. Câu nói: “Habitus non facit monachum” (chiếc áo không làm nên thầy tu) không luôn đúng, vì “cậu học sinh” ngày nào vừa mặc chiếc áo dòng đen (soutane) vào bỗng nhiên trở thành người hoàn toàn khác.
Tại sao thế? – Thưa tại vì chiếc áo dòng đen do người châu Âu xưa kia thiết kế khéo tạo một phong cách đặc biệt cho người mặc: màu đen mang lại vẻ trang nghiêm siêu thoát, chiều dài chiếc áo tạo dáng bệ vệ, vai ngang và hàng nút đen bóng từ cổ chạy dài xuống đôi giầy đen bóng tạo dáng quý phái của một quý tộc, cổ áo cao hé mở một khoảng cồn trắng tạo vẻ thanh tú. Thiết kế như thế tạo cho đại chủng sinh và linh mục một hình ảnh “đáng kính” qua y phục. Có lần một người bạn cùng lớp bị đàn anh mắng xối xả vì tuổi trẻ ngứa tay ngứa chân, bản năng đã khiến đùa giỡn bằng động tay động chân, để kết thúc, người đàn anh nhắc nhở thêm một câu:
- Phải giữ cái noblesse chứ!
Noblesse” (nóp-bléts, tiếng Pháp) là tính quý phái. Ý nói phải tỏ ra mình luôn là giới quý tộc, người quý phái…
Nói về sự kính trọng khởi từ cách đối đãi và suy nghĩ.
Các đại chủng sinh được mọi người từ lớn tới nhỏ đối xử rất tử tế, dành cho những biệt đãi.
Mọi người luôn nghĩ các đại chủng sinh là những bậc hơn người, là siêu nhân ở ba phương diện: Kiến thức bao la -cái gì cũng biết-, tư chất thánh thiện đạo đức, ý chí thoát tục, từ bỏ, lánh xa đời phàm. Từ suy nghĩ non nớt ấy đã dẫn đến sự kính trọng rồi dẫn đến cách đối đãi kính nể một phép. Ở nhiều giáo xứ, các đại chủng sinh khi về nghỉ hè, được cha sở xếp cho quỳ riêng một bàn quỳ trên cung thánh trong giờ phụng vụ, tách biệt, cao xa để giáo dân tha hồ ngưỡng vọng; được ngồi “mâm thượng chiếu trên” trong các bữa tiệc và được mọi người gật gù sau mỗi phát ngôn, cho dù vẫn còn rất “bừa bộn”.…
Từ sự kính trọng quá mức ấy, các đại chủng sinh luôn tỏ ra kiêu hãnh, xa cách và rất giả hình. Và Giáo hội đã “hở sườn” cho ma quỷ mặc sức chưa tấn công đã chiến thắng dòn dã.
Tôi còn nhớ cha sở Luca từng dạy: Ma quỷ luôn tấn công chúng ta qua 3 mặt. Một là kiêu ngạo, hai là tự lừa dối và ba là tham danh. Đó chính là ba chước mà Họ đã dùng để cám dỗ Chúa trong sa mạc sau 40 ngày chay tịnh. Họ chỉ cần giương bẫy “kính trọng” thôi là người ta sa vào 3 chước đó. Thật vậy, giả sử các linh mục có phạm thứ tội gì đi nữa, đều khởi từ 3 mối tội ấy; thậm chí “bảy mối tội đầu” cũng khởi từ 3 cội ấy.
Cha Luca kể một câu chuyện -kèm theo lời căn dặn ấy- giúp tôi nhớ dai.
Cha kể:
Một hôm tôi ngạc nhiên khi thấy ông giáo dân nổi tiếng khó tính, hay lý sự và ngông nghênh nhất họ đạo mời tôi và hai cha phó đến nhà ông ăn giỗ.
Tôi từ chối. Người đàn ông bằng vẻ mặt chân thành thuyết phục:
- Từ bao đời dòng họ con không bao giờ mời những người có chức quyền đạo lẫn đời… đến nhà để tránh tiếng xu nịnh. Đây là lần đầu tiên do kính trọng cha đặc biệt, nên con mời.
….
Đến nhà ông sớm một chút cốt để tiếp xúc thêm với giáo dân, nhưng tôi và hai cha phó hoài công, vì chờ mãi vẫn không thấy có thêm thực khách nào nữa đến dự. Hơi thắc mắc, tôi hỏi:
- Nghĩa là chỉ có ba chúng tôi thôi?
Người đàn ông vừa gật đầu vừa “dạ”, tiếp theo là im bặt không nói gì thêm. Tôi muốn gạn hỏi lý do nhưng thôi, vì nghĩ rằng không có thêm ai nữa biết đâu lại hay, thay vì tìm hiểu chủ nhà qua đám đông thực khách thì tìm hiểu trực tiếp qua chuyện trò.
Khi chiếc đồng hồ cổ trong nhà của ông ta gõ 12 tiếng cùng lúc với chuông nhà thờ ngân vang, người đàn ông mời ba chúng tôi vào gian nhà trong nhập tiệc. Chúng tôi vào bàn ăn trải khăn trắng, trên bàn chỉ đặt có 3 cái chén đá -loại chén bình dân nhất- và 3 đôi đũa tre. Thấy tôi dù có bỡ ngỡ nhưng vẫn thản nhiên tươi tỉnh, hai cha phó cũng cố nén nỗi khó chịu mà giữ ý tứ theo.
Người nhà bưng lên một dĩa cá linh kho (4), một tô cũng cá linh nhưng nấu canh chua.
Biết hai cha phó rất bực mình, tôi làm bộ vui vẻ phá tan bầu khí căng thẳng:
- À!... Một bữa tiệc khác thường! Ngon đây! Thấy cá linh là biết sắp tới mùa nước rồi.
Người đàn ông xá một xá, thưa:
- Kính mời quý cha dùng tiệc!
Sau đó ông đứng khoanh tay ra dáng người hầu bàn. Mặc cho tôi thuyết phục thế nào đi nữa, ông cũng vẫn không chịu ngồi ăn.
Tôi vừa ăn được vài đũa thì hai cha phó cùng đứng lên xin kiếu, viện lẽ có việc ở trường trung học. Tôi thừa biết hai cha cảm thấy bị “chơi đau” nhưng vì “vuốt mặt phải nể mũi” nên ra về lịch sự; nếu không có tôi, hai cha phó “mần thịt” người đàn ông lập dị và xấc láo này rồi.
Tôi cố gắng giữ mình cho thật bình tĩnh bằng cách vừa ăn tiếp để tìm hiểu căn nguyên sự việc, vừa xét xem rồi những đòn phép gì sẽ tới. Tôi nói với người đàn ông cốt để thăm dò:
- Ông Tư đừng để bụng! Chỉ tại chúng tôi nghe lầm là “tiệc giỗ”… hóa ra bữa cơm gia đình…
Người đàn ông không có vẻ hề hấn gì, trái lại còn chậm rãi phân bua:
- Thưa cha! Đây là tiệc chứ không phải là bữa cơm gia đình, vì người trong gia đình không ngồi ăn cùng khách mời.
Ông ta nói tiếp theo ngay:
- Ai không biết những gì các cha ăn hằng ngày toàn là “cao lương mỹ vị”. Vậy mời các cha đến để lại cũng ăn “cao lương mỹ vị” liệu như thế có phải là đãi tiệc không?
Tôi rất bất ngờ với lối “lý sự” như thế, nhưng lòng yêu thương giáo dân khiến tôi không bao giờ mất đi sự bình tĩnh. Tôi làm bộ cười sảng khoái:
- Hay à!... Ông Tư nói tiếp đi!
Người đàn ông có vẻ phấn khích, lên giọng nói thêm:
- Vả lại, với những người chuyên nói, chuyên giảng và chuyên sống theo Ê-vang (5) như các cha, hà cớ gì lại không ăn cả… Ê-vang? Và bữa tiệc này chính là bữa tiệc Ê-vang. Hai cha phó…
Người đàn ông nói năng rất gãy gọn bằng một giọng nói đanh thép rõ rạc, xứng tầm một tay lý sự chốn công đường. Biết ông sắp tấn công hai cha phó, tôi cười khì khì chặn lại, lái liền sang hướng khác:
- Thế nào là tiệc Ê-vang? À… tiệc Phúc âm?
Mặc cho tôi cười kiểu gì thì cười, người đàn ông vẫn vẻ mặt trang nghiêm để tôi thấy rằng ông không có ý gì là đùa giỡn, trêu cợt hay “chơi một vố”. Ông đường hoàng xá một cái rồi thưa:
- Kính thưa cha! Có 3 đặc tính để được gọi là tiệc Phúc âm: Một là tiệc không lấy thức ăn làm trọng, như Chúa phán: “Người ta sống không nguyên bởi bánh…”(6). Hai là tiệc không ồn ào, vì ồn ào khiến người ta sống trong ảo tưởng, lừa dối và trí trá. Ba là tiệc không đông người vì đông người tất ghế trên ghế dưới, mâm thượng mâm hạ… mọi người sẽ đắm chìm trong danh vọng.
Nghe đến đây tôi không cười được nữa, mà thấy cần phải để tâm học hỏi, học hỏi ở chính giáo dân của mình, một giáo dân mà mọi người có ý hơi dè bỉu mỗi khi nhắc đến. Tôi tiếc cho hai cha phó không bình tĩnh ở lại để học một bài học hiếm.
Kể đến đây cha Luca kết luận:
- Người đàn ông kia muốn cảnh báo giới nhà tu về 3 mưu chước ma quỷ dùng để cám dỗ Chúa. Giáo sĩ tu sĩ hằng ngày rơi vào 3 cạm bẫy của Họ: một là ham ăn ngon và ham tiền; hai là tự lừa dối mình và lừa dối giáo dân, ba là kiêu ngạo và ham danh vọng.
Tiếp theo chuyện trên, cha Luca còn kể tôi nghe tiếp cuộc đối thoại giữa cha và ông Lực Lượng trong một lần Ông ta đến để “xưng tội”.

Ông ta bảo:
- Ông nên nhớ, Chúng ta không bao giờ đưa cạm bẫy từ đâu đâu đến để gài bắt con người. Mọi cạm bẫy đều nằm sẵn trong con người.
Tôi gật đầu chân nhận, rồi hỏi:
- “Cạm bẫy nằm sẵn” nào… nguy hiểm nhất?
Ông Lực Lượng trừng mắt:
- Ông hỏi để làm gì? –bỗng Ông ta dịu giọng- Nhưng mà… có nói ra cho con người biết, cũng chẳng ăn nhằm gì! Vì tính chủ quan lại chính là một cạm bẫy khác khiến con người cứ hết mắc bẫy này đến mắc bẫy khác. Cạm bẫy lớn nhất là thích danh vọng.
Xét mình thật nhanh, tôi tự tin phản bác:
- Ông nói sai rồi! Ít ra là với tôi. Vì còn nhiều người không thích danh vọng.
Ông Lực Lượng cười ha hả:
- Chúng ta sai hay ông sai? Chỉ là nhiều hay ít, để lộ hoặc che giấu… con người, chém chết ai cũng thích danh vọng. Ông xét mình kỹ chưa? Chúng ta gặt hái biết bao linh hồn chỉ bằng “cạm bẫy nằm sẵn” này, nhất là những người tu như ông… mệnh danh là tu hành, nhưng chỉ sống có độc thân mà thôi, ngoài ra chẳng có gì khác với giáo dân, với mọi người.
Tôi vặn hỏi:
- Sao lại… như thế…?
Ông Lực Lượng kêu lên:
- Á à! Vậy mới nói!
Nói xong, Ông ta cười khoái chí trước sự ngờ nghệch của tôi. Ông Lực Lượng bồi thêm:
- Này! Thôi thì đã lỡ “ngố” tôi cho ông “ngố” luôn: Kế hoạch của Chúng ta là làm cho linh mục ngày càng che khuất Chúa đi.
Cha Luca nói với tôi:
- Thực ra cha không ngố, nhưng cha ngỡ ngàng quá thể trước sự tiết lộ này. Một phần bởi vì cha thấy quá đúng!
Bài học từ chuyện kể của cha Luca đã cho tôi nhận thấy tôi và các bạn luôn tự làm mồi cho ma quỷ. Thay vì học hỏi và luyện tập để hãm dẹp lòng ham thích danh vọng, thì chúng tôi ngày đêm đang tu bổ cho bản năng ấy. Từ đó, khi ra làm linh mục, chúng tôi sẽ lấy bản thân mình che khuất Chúa là Đấng lẽ ra chúng tôi phải trưng bày. Thánh Gioan Tẩy Giả nói: “Người phải lớn lên, tôi phải nhỏ dần đi…” (Ga 3:30) thì chúng tôi làm ngược lại.
Ôi! Giá như ai đi tu cũng biết rằng tu là từ bỏ, trong đó có từ bỏ lòng thèm khát sự kính trọng.
 
 
(1) Slogan là khẩu hiệu thương mại, nguyên nghĩa cổ là tiếng hô trước khi xung trận của những chiến binh Scotland. Ngày nay trong thương mại, slogan được hiểu như là khẩu hiệu thương mại của một công ty. Slogan thường được coi là một phần tài sản vô hình của công ty dù rằng nó chỉ là một câu nói.
(2) Hiện thân: danh từ Phật giáo chỉ Phật hiện làm thân một con người.
(3) Ngày xưa để lên đến chức linh mục, có 4 nấc tức 4 năm: Học hết năm thần học thứ I được lãnh chức cắt tóc, chức 1 & 2; học hết năm thần học thứ II được lãnh chức 3 & 4; học hết năm thần học thứ III được lãnh chức 5 & 6 (chức 5 còn gọi là chức phụ phó tế và chức 6 còn gọi là chức phó tế); học hết năm thần học thứ IV được lãnh chức linh mục..
(4) Cá linh: loại cá rẻ tiền của người nghèo ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
(5) Ê-vang: Evangelium= Phúc âm. Các cố Tây phiên âm cho giáo dân dễ đọc.
(6) Mt 4: 1-11.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 27.05.2026 10:57:07
Kỳ 42 
 
Loài người là động vật rất hay đóng kịch. Ngay từ còn nhỏ, để lôi kéo sự chú ý của cha mẹ, không biết bao lần bé đã đóng kịch dù rất vụng về; lớn lên đóng kịch với bạn bè và thầy cô; khi biết yêu chú chàng nhất là cô nàng đóng không biết bao nhiêu vở kịch dài, ngắn; trên thương trường, trên chính trường… ôi thôi! kịch là kịch; về già đóng kịch càng giỏi với con cháu –có hẳn một vị giám mục sắp về hưu đóng kịch “nặng” một tai, một cha sở già đương nhiệm đóng kịch mờ hai mắt… để làm gì thì ai cũng biết-; người ta còn xây dựng cả một nền kịch nghệ, điện ảnh… để nâng việc đóng kịch lên thành một khoa học, nghệ thuật; có người đóng kịch liên tục suốt đời; nhà lãnh đạo càng tài giỏi càng đóng nhiều kịch; những người có khiếu kể chuyện, có tài hùng biện, những “người của quần chúng như các sao”, những ai ham danh háo tiếng, giả dối, bon chen, lừa đảo… ngay cả kẻ hành khất cũng đều là những kịch sĩ có tài.
Vẫn với ý hướng vạch trần âm mưu thâm độc của ma quỷ, tôi xin kể chuyện tiếp.
 
 
Tôi đang ở đại chủng viện với độ tuổi thanh niên; thanh niên là độ tuổi ít đóng kịch nhất, vì phần đông thanh niên ham tra cứu, mổ xẻ, học hỏi. Tuy nhiên đóng kịch là ngụy trang, là ẩn mình, là che đậy, cho nên không tránh khỏi bản năng đóng kịch vẫn còn đó ở thanh niên để khi cần thì “móc ra” sử dụng... nhưng nói chung là ít; vậy mà ma quỷ đã khích động tính đóng kịch ngay trong đại chủng viện một cách rất khéo léo.
Trước tiên ma quỷ dựa vào sự kính trọng của mọi người dành cho linh mục và những người được huấn luyện làm linh mục. Kế hoạch của ma quỷ là:
- Vì được kính trọng về mặt đạo đức, nên các đại chủng sinh mỗi khi xuất hiện trước đám đông, ma quỷ liền xúi giục họ phải ra vẻ đạo đức.
- Vì được kính trọng về phong cách qua chiếc áo dòng đen, nên các đại chủng sinh luôn bị ma quỷ xúi giục tỏ vẻ đạo mạo như một vị chân tu dày dạn.
- Vì được kính trọng về mặt kiến thức nên các đại chủng sinh luôn bị xúi giục tỏ vẻ mình là bậc uyên bác, cái gì cũng biết và luôn cao hơn mọi người.
Còn nhiều nữa.
Khi một bong bóng bơm căng thì nhẹ và dễ bay lên. Ma quỷ bơm căng cảm giác được kính trọng khiến đương sự nhẹ (dạ) và bay lên (vọng tưởng). Sống với vọng tưởng ấy là đóng kịch.
Thật quá dễ cho ma quỷ làm được điều đó, vì nhiều khi để nô đùa chọc ghẹo ai tý chút, chúng ta cũng làm theo phương thức đó, ví dụ:
Trong phòng tôi có 5 anh em, trong đó có thầy Chiến thích táy máy chiếc radio, tháo ráp chiếc xe gắn máy… nói chung thích sửa chữa máy móc. Thấy vậy 4 anh em còn lại trong phòng liền vô tư gán cho Chiến chức danh “kỹ sư của phòng” kèm theo những câu nịnh nọt mà ngày nay chúng ta gọi là “những lời nói có cánh”. Từ đó Chiến - tội nghiệp luôn sẵn sàng tình nguyện sửa chữa bất cứ máy móc gì anh em nhờ hoặc chưa kịp nhờ bất kể giờ giấc… có lần tôi thức dậy sau một đêm ngủ say, hoảng hồn khi biết Chiến thức trắng đêm “vật lộn” với chiếc máy chụp ảnh Kodak của thầy bạn.
Rất nhiều chuyện tương tự xảy ra với những thầy có khiếu đi mua sắm, ngày nay gọi là “đi shopping”, những thầy thích vẽ vời trang trí, những thầy thích “chạy” giấy tờ cách miễn phí cho bạn bè v.v… chỉ với vài lời khen đúng lúc đủ khiến “nạn nhân” cày cục trối chết, dù “nạn nhân” biết trong số những lời khen ấy có nhiều lời nịnh hót du dương chứ không có thật.
Cứ thế suy ra ma quỷ đã làm gì với các đại chủng sinh. Quá dễ để Họ đẩy các đại chủng sinh đi đến chỗ đóng kịch cách vô ý thức; và ai cũng biết: “gieo thói quen sẽ gặt tính cách”.
Tôi có ghi chép một câu chuyện do cha Luca kể lại:
 
 
Lần đó Ông Lực lượng vào xưng tội và tiết lộ: Loài người luôn bị Họ lèo lái dẫn dắt một cách dễ dàng như người ta xỏ dây vào mũi của con trâu con bò và nắm dây dắt đi.
Ông Lực lượng nói:
- Đừng tưởng mình khôn giỏi! Loài người bị Chúng ta xỏ mũi dắt đi. Chỉ trừ những ai tin và trung thành phó mình cho Ông Chúa.
Tôi hỏi:
- Ông nói thế để khinh bỉ chúng tôi phải không?
- Sự thật đúng như vậy! Loài người dở mà cứ tưởng mình giỏi, ngu mà cứ tưởng mình khôn. Loài người xảo trá không kém cạnh Chúng ta chút nào.
Tôi nhận thấy từ khi tiếp xúc với Ông Lực lượng đến giờ, Ông luôn khinh bỉ loài người. Lúc đầu tôi tưởng vì ganh ghét con người, nhưng càng về sau, tôi càng thấy sự khinh bỉ của Ông ta do nhiều nguyên cớ. Trong số đó có nguyên cớ này: “Dù là loài mỏng dòn, ươn dở… nhưng Chúa thương cách đặc biệt; dù thương cách đặc biệt đến gửi Con Một xuống trần dạy dỗ, cứu vớt… nhưng loài người vẫn cứ ngu đần và khó thương”. Ông ta có lần nói gần như nguyên văn như vậy.
Ông Lực lượng nói thêm:
- Chỉ có ông, hỡi cái ông già khó ưa! Ông hiền như đất, ông thật như đếm… nên tôi mới nói chuyện với ông những điều lẽ ra phải giấu đi. Loài người có tính giả dối còn hơn ma quỷ nữa.
Tôi ngạc nhiên, nhưng chưa kịp hỏi thì Ông ta nói tiếp:
- Loài người các ông chuyên đóng kịch. Đóng kịch với nhau và đóng kịch luôn với cả Ông Chúa nữa.
Tôi vội nói khi chưa kịp suy nghĩ:
- Điều đó có gì là ghê gớm…!
Ông Lực lượng trừng mắt nhìn tôi, dù trong bóng tối mờ mờ nhưng vẫn thấy được ánh sắt thép lóe lên trong đôi mắt Ông, lộ vẻ dữ tợn:
- Ông lại ngu rồi! Vừa khen xong ông trở nên tệ. Đóng kịch là điều xấu ngay cả Chúng ta là quỷ dữ mà còn căm ghét.
Tôi hỏi Ông ta:
- Tôi chưa rõ ý Ông lắm. Loài người đóng kịch làm sao? Và vì sao Ông lại căm ghét đóng kịch?
Có vẻ như Ông Lực lượng cố kiềm chế bực bội trước sự ngu dốt của tôi. Ông ta nói:
- Ai trong các ông cũng khoác lên mình cái vỏ đạo đức, hoặc cái vỏ chân chính, khôn ngoan, giỏi giang, hay tốt bụng… mà thực chất thì không có. Đó là đóng kịch. Còn căm ghét vì đóng kịch là sự bỉ ổi, sự bẩn thỉu nhất; Chúng ta muốn loài người lâm vào nết xấu đó dù đó là nết xấu Chúng ta ghét nhất… cũng giống như ông thích kẻ thù của ông người dính đầy phân thối, thứ mà ông ghê tởm; bực mình nhất là thói đóng kịch của loài người ranh ma đến độ nhiều lúc Chúng ta còn phải lẫn lộn. Chỉ Ông Chúa mới thấu suốt các người.
Tôi hiểu dần. Trí tôi bắt đầu thấy ra rằng, ngay cả chính tôi có lúc cũng đã đóng kịch đạo đức trước mặt giáo dân.
Chắc chắn Ông Lực lượng đọc được ý nghĩ của tôi nên Ông cười mỉa và nói:
- Ai trong các người dám tự hào mình chưa bao giờ đóng kịch? Lớn đóng kịch lớn, khôn đóng kịch khôn, dở đóng kịch dở… vì kẻ thông minh phạm tội nặng hơn người ngu dốt. Lớn tài thì lớn tật!
Ông ta cười cách khinh bỉ:
- Đóng kịch thường xuyên đến nỗi có người đội lốt suốt đời không còn trở lại con người thật của mình. Màn chỉ vén lên, xiêm y áo mão chỉ được trút bỏ… khi hấp hối.
Bất giác tôi rùng mình nghĩ Ông Lực lượng nói đúng. Nhiều lúc chính tôi nguội lạnh nhưng cố đóng kịch sốt sắng với lý do để nêu gương cho giáo dân. Nhiều lúc tôi chán ghét nhưng cố đóng kịch yêu thương giáo dân để họ ngoan ngoãn. Nhiều lần tôi âm thầm chấp nhặt nhưng ngoài mặt cố đóng kịch khoan nhân độ lượng để những giáo dân cương ngạnh không nổi lên chống đối…
Chắc chắn đọc được ý nghĩ của tôi nên Ông Lực lượng cười kiểu chế nhạo:
- Đóng kịch là gian trá, nguồn căn sản sinh trăm tội. Điều đó khiến thế gian ngày càng thêm tăm tối. Chúng ta thúc đẩy điều đó để thế gian mau chóng trở nên nơi bóng tối ngự trị, nhờ đó Chúng ta dễ hoạt động. Sợ lắm rồi phải không ông già?
Nhìn quanh, tôi thấy Ông Lực lượng không nói sai. Bởi tôi biết rất rõ các ông Biện ông Giáp ai ra sao, vậy mà lúc nào cũng tỏ ra đạo mạo, áo dài khăn đóng, chỗ ngồi ưu tiên trong nhà thờ với bàn quỳ riêng có chạm khắc danh tính… các bà đạo đức thiếu đức bác ái nhưng lúc nào cũng trịnh trọng… những người trong các hội đoàn luôn chia rẽ bất hòa nhưng miệng bi bô Lời Chúa… Nhìn lên các cha phó, rồi nhìn lên nữa… tôi thấy nhiều bóng tối che phủ.
Bây giờ tôi thật sự hiểu được câu Chúa phán: "Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống." (1) Ánh sáng đó là sự thật. Bóng tối là sự giả dối gian tà.

Hôm sau thứ bảy đầu tháng. Thứ bảy đầu tháng luôn có phiên họp thường kỳ của Ban Quý chức. Cuối buổi họp tôi hỏi chung mọi người:
- Có bao giờ chúng ta đóng kịch với mọi người không?
Im lặng một lúc lâu, một ông Biện già hiền lành đứng lên xin trả lời:
- Thưa cha sở! Ai không có… chớ con thì có.
Nói xong ông Biện già thú nhận những gì mình đã đóng kịch. Ông thú tội cách hồn nhiên làm mọi người cười ồ ồ. Nhưng nhờ như vậy mà các ông Biện ông Giáp tiếp nối thú tội đã giả bộ trước giáo dân ra sao, dù rằng sau mỗi lời thú tội đều có nêu lý do để che chắn mình –vẫn đóng kịch, vẫn còn nắm níu vai diễn. Phiên họp bỗng trở nên vui vẻ lạ thường. Tôi hơi bỡ ngỡ.
Mọi người đang cười vui vì có nhiều lời thú tội rất hồn nhiên gây buồn cười, có nhiều lời thú tội hơi tếu táo v.v…
Bỗng một ông Giáp trẻ tên Cương, dáng người chắc nịch đứng lên nói bằng giọng đanh thép:
- Chắc gì các ông đã lột trần mình ra! Chắc gì các ông đã cởi bỏ hết xiêm y tuồng kịch!
Khi mọi người còn ngơ ngác thì ông Giáp Cương nói tiếp:
- Thưa cha sở! Nếu không đóng kịch thì làm sao có thể làm việc được?
Các ông Biện ông Giáp thi nhau trả lời thay cho tôi. Tuy nhiên không có câu trả lời nào thỏa đáng, cho nên cả hội trường quay ra cãi nhau ỏm tỏi.
Trong khi họ cãi nhau, tôi tranh thủ suy nghĩ những gì ông Giáp Cương vừa nói.
Thật là gay go!
Mãi tôi không tìm ra lý gì để nói với Ban Quý chức. Thấy mình bí lối, tôi nói với họ:
- Các ông về! Ngày mai là ngày chúa nhật, theo thông lệ, thứ bảy đầu tháng họp bàn chưa xong thì 9 giờ sáng chúa nhật hôm sau họp bàn tiếp. Ngày mai khi các ông không tìm ra câu trả lời, lúc đó tôi mới giải.
Nói xong, tôi giật mình nhận ra mình lại đang đóng kịch.
Tôi đang lúng túng thì đúng vào buổi chiều, Ông Lực lượng lại đến.
Câu đầu tiên khi vừa gặp tôi, Ông Lực lượng nói ngay:
- Ông thấy tôi nói đúng chưa? Ai mà không đóng kịch? Nếu ông đóng kịch thì tại sao người khác không đóng kịch? Tất cả đều đóng kịch với nhau… điều đó khiến thế gian này ngày thêm tăm tối! Và tất cả sẽ nằm gọn trong tay thống trị của Chúng ta.
Tôi gật đầu thừa nhận:
- Phải! Ông nói không sai. Nhưng chắc chắn Các Ông có xúi giục.
Ông Lực lượng không chống chế:
- Bản tính con người vốn dĩ như thế, Chúng ta chỉ tận dụng và khai thác thôi mà!
Tôi nói ngay:
- Các Ông lái mọi chuyện đi về hướng xấu…

Đêm đó tôi thao thức vì suy nghĩ.
Sáng hôm sau tôi có một đúc kết và trong buổi họp lúc 9 giờ, tôi nói với Ban Quý chức:
- Đóng kịch là giấu ý nghĩ thật, là giấu tình trạng thật, là giấu hành động thật của mình… với mục đích tốt hay xấu. Tuy nhiên đóng kịch sẽ trở thành xấu khi đóng kịch để dối gạt người khác và đóng kịch liên miên đến nỗi trở thành thói quen dẫn đến giả dối.
Ông Giáp Cương đứng lên xin nói:
- Nếu lúc nào cũng trần trụi chân chất thì “thiệt thà là cha dại”, thưa cha!
Tôi đã chuẩn bị sẵn, nên đáp lại cách dứt khoát và gãy gọn cho ông Giáp Cương lẫn cho toàn thể Ban Quý chức:
- Câu trả lời đúng nhất dành cho tất cả chúng ta, những người lãnh đạo họ đạo là Lời Chúa phán: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em" (2)
Không có tiếng trả lời. Tất cả đều im lặng.

Từ đó, tôi và Ban Quý chức cùng nhau khởi sự tập sống nhỏ bé. Vì muốn làm người phục vụ thì phải nhỏ bé. Khi đã nhỏ bé thì cần gì phải đóng kịch nữa.
 
 
(1) Ga 8:12
(2) Mt 20:26.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 30.05.2026 12:47:53
Kỳ 43
 
Loài người có những mâu thuẫn không thể lý giải.
Một trong những mâu thuẫn ấy là vừa cứng đầu vừa nhẹ dạ, vừa cương ngạnh vừa mềm yếu; tỏ ra cứng lòng tin rồi lại dễ tin như trẻ nít. Ta thường nghe có người luôn cảnh giác với hết mọi người nhưng vẫn bị lừa dễ ợt. Bạn của cha tôi là một ông Chệt (người Tàu) chủ tiệm thuốc Bắc lớn, tinh như cáo già, đến cả vợ con chưa chắc ông đã tin… vậy mà một anh chàng thư sinh “khố rách áo ôm” từ đâu đến và bằng cách nào đó đã chiếm được lòng tin của ông; chẳng lâu la gì, ông Chệt to sầm ấy lần lượt “dâng” cho hắn nhiều tiền, của… và để kết thúc, ông “dâng” nguyên một cô con gái rượu xinh đẹp của mình cho hắn để gia nghiệp sụp đổ tan tành..
Chỉ riêng việc tin-không tin mà cũng còn nhiều mâu thuẫn, ví dụ cái đáng tin, người đáng tin thì không được tin, việc giả tạo, người giả dối thì được “tin sái cổ” chỉ vì “tốt sơn, tốt gỗ”… Nhưng có lẽ mâu thuẫn “kỳ vĩ” nhất là phần lớn người Công giáo nhầm lẫn về đức tin của mình.
 
 
Nói những điều trên để dẫn đến chuyện đức tin của số đông giáo dân là đức tin không thật.
Đức tin không thật à? – Thưa phải! Đúng là đức tin không thật.
Không thật ở chỗ có hình thức mà không có nội dung. Nghĩa là giáo dân chỉ giữ đạo nhà thờ mà không giữ đạo Lời Chúa. Lẽ ra họ phải hiểu rằng tin Chúa là thực hiện mọi điều Chúa dạy thì số đông giáo dân đã hiểu tin Chúa là đi lễ thật siêng, đọc kinh thật nhiều, xin lễ nhiều tiền nhiều lần, sinh hoạt hội đoàn, tham dự phong trào, rước xách, hành hương, dâng cúng, làm từ thiện… Từ cách hiểu sai ấy đã nảy sinh biết bao rối rắm dây chuyền, trí khôn ra mông muội không sao hiểu Lời Chúa và những diễn biến chung quanh, theo đuôi rồi mù quáng đến độ sống ngược lại với cả Phúc âm và v.v…
Sau đây là một mẫu chuyện nhỏ trong đại chủng viện lúc tôi đang theo học.
Trong giờ học tín lý, một đại chủng sinh đứng lên xin phát biểu:
- Thưa cha, cho phép con đặt nghi vấn. Đó là: có thể đức tin của chúng ta ngày nay rất khác với đức tin người Do Thái, hơn nữa, với đức tin của những người ngoại đạo lúc ấy như phụ nữ Samaritana bên bờ giếng Giacóp chẳng hạn? Cũng là tin Đức Chúa Giêsu Kitô, nhưng 2 loại đức tin rất khác nhau.
Cha giáo gõ gõ nhẹ ngón tay trên mặt bàn trong tâm thế có vẻ thú vị; trong khi đó, cả lớp gần 80 thầy bỗng như tỉnh ngủ, cựa mình nhìn về phía phát ra tiếng phát biểu.
Cha giáo mỉm cười hỏi:
- Khác làm sao? Thầy cứ nói tiếp xem nào!
Thầy “Vân đù” -vì cận thị nặng, đi đứng lù đù nên bạn bè đùa giỡn đặt tên như vậy- thưa:
- Thưa cha, khác nhau về bản chất và về chiều sâu cạn. Nghĩa là bản chất đức tin ngày hôm nay của chúng ta không phải là bản chất thật của đức tin; từ đó sinh ra nông cạn và nông nổi.
Cả lớp lao xao, kẻ cười cợt người bàn tán.
Cha giáo thích thú ra mặt. Nhìn cả lớp một lượt xong cha hỏi:
- Thầy nói có cơ sở chứ?
Có vẻ như đã chuẩn bị đâu vào đó, thầy “Vân đù” nghiêm chỉnh trình bày:
- Thưa cha! Con nghĩ rằng nếu đức tin của những người xưa là đức tin vận động, thì đức tin của chúng ta ngày nay là đức tin thụ động; nghĩa là chúng ta tin kiểu bị cuốn đi mà chẳng có chút gì gọi là phấn đấu, lựa chọn… nói trắng ra chúng ta ngày nay tin mà chẳng bỏ ra một “xu” máu, mồ hôi hay nước mắt… nào cả! Tin dễ ợt!
Cha giáo mà còn bật cười thành tiếng.
Một vài thầy khác đứng lên xin phản bác. Nói là phản bác, thực ra cũng chỉ giống như người ta lượm đá cuội ném vào xe tăng, vì thói thường trong các lớp học ở đại chủng viện, chẳng ai đối thoại gì với giáo sư thì thôi, hễ có ai lên tiếng thì lập tức nhiều người hùa nhau đến như tranh nói.
Cha giáo chẳng mấy để ý đến những gì khác ngoài những lời phát biểu của thầy “Vân đù”, bằng chứng là ngài cứ chốc chốc lại nhìn cái tay “lù đù vác bảy tám cái lu” kia. Chờ cho có được một khoảnh khắc im ắng nhỏ nhoi, cha giáo nói:
- Thầy nghi ngờ có cơ sở, và cơ sở khá tốt. Tôi đồng ý. Chính vì thế nhiều vấn đề về đức tin cần phải được đặt lại. Thật vậy! Tin Chúa đâu phải chuyện chơi.
...
Câu chuyện còn dài, nhưng cho thấy giáo dân thụ hưởng chiến lợi phẩm của đức tin thời cha ông, hoàn toàn không phải là đức tin tự mình phấn đấu, trả giá mà có được. Chiến lợi phẩm do tiền nhân, gần đây nhất là 117 vị thánh và biết bao anh hùng tử đạo thầm lặng khác, đã chiến đấu đổ máu. Vì tin Chúa không phải là chuyện dễ. Không phải trả giá, sẽ không có đức tin.
Trong đại chủng viện lúc đó có một số thầy chạy theo phong trào Cấp tiến, đêm ngày chẳng chịu lo học hành cứ lo tiếp xúc với những linh mục và những trí thức cấp tiến bên ngoài… sau đó họp bàn, cho ra những tuyên ngôn, tuyên bố, gửi những yêu sách, thỉnh cầu, kiến nghị này nọ lên hết ban giám đốc đại chủng viện, đến các đức giám mục… vì đi đến chỗ quá đà nên cả nhóm hơn mười thầy đều bị đuổi khỏi đại chủng viện. Ngày xách va-ly ra về, nhóm này gặp anh em còn ở lại tuyên bố một câu xanh rờn:
- Các cậu ở lại mà hưởng những thành quả của tụi tớ làm nên nhé!
Đó là một kiểu làm linh tinh. Tin Chúa đúng nghĩa không làm những chuyện khờ dại như thế.
Thêm một chuyện nữa.
Thông lệ năm nào cũng vậy, các thầy thần học năm I được ban giám đốc cho tổ chức một buổi hội thảo mang tên: “Chuyện những người lính từ tiền tuyến trở về”. Buổi hội thảo là dịp để các thầy vừa đi giúp xứ (gọi là những người lính) 2 năm trở về bắt đầu nhập học thần học, kể lại chuyện mình đi giúp xứ để làm kinh nghiệm cho các thầy triết học chuẩn bị đi giúp xứ tiếp theo. Sau phần trình bày, các thầy triết học thi nhau đặt câu hỏi.
Suốt buổi hội thảo, tất cả hội trường chỉ xoay tới xoay lui quanh những chuyện vui buồn giữa thầy giúp xứ với cha sở, với bà bếp và với giáo dân, thậm chí nêu lên những mánh khóe đối phó với cha sở và những người vừa kể… Thật là vô bổ! Lẽ ra phải trao nhau những kinh nghiệm sống đức tin, làm chứng niềm tin vào Chúa trong cuộc sống…
Đó cũng là một kiểu linh tinh khác. Tin Chúa thật sự sẽ thấy rõ việc gì cần làm, việc gì không. Việc cần làm là hết mình lo thực thi Lời Chúa.
Tôi chỉ kể vài điển hình của người có đức tin không thật.
Kẻ tin thật vừa không rảnh rỗi, vừa phải trả giá đắt cho niềm tin của mình. Ví dụ vì tin vào Lời Chúa dạy nên thực thi sự hiền lành; vì hiền lành là lội ngược dòng với thế tục nên bị dập vùi; vì bị dập vùi nên thua thiệt, bị hàm oan, bị đau đớn; dẫu thế vẫn kiên gan làm theo Lời Chúa. Đó là tin Chúa. Đó là đức tin có thật. Ngược lại, người giữ đạo hình thức luôn xuôi dòng với thế tục (có khi còn ở trong một phe nhóm như thế tục vẫn làm) bình ổn, trơn tru, may mắn và an lành… Tin như thế thật dễ! Ai mà không tin được! Tin như thế không trả giá gì! Nhưng đó không phải là tin Chúa. Tin Chúa sao có thể dễ đến như vậy! Không! Tin Chúa phải khó nhọc, nhục tủi và gian truân.
Nguy hơn! Ma quỷ khôn ngoan dụ dẫn, đưa dắt và ru ngủ người ta đi vào con đường tin Chúa hình thức: con đường tin Chúa lót hoa trải thảm, trơn tru, êm ái, dễ chịu, vinh sang… ngay từ trong chủng viện, để sau này các chủng sinh cũng sẽ dắt theo bao nhiêu giáo dân cùng đi con đường dễ dãi đó.
 
 
 
Trong khi kể lại câu chuyện quỷ xưng tội, cha Luca tự thuật chuyện riêng đời mình:
Đang ở một giáo xứ nhỏ vùng ngoại ô sau khi chịu chức linh mục được 5 năm, một đêm kia tôi bị đánh thức tầm 1 giờ sáng để “đi kẻ liệt” tức đi giải tội, trao Mình Chúa và xức dầu cho bệnh nhân hấp hối.
Khi đến nơi tôi làm các phép bí tích một cách qua quýt cho mau để về còn ngủ tiếp; mai là một ngày nhiều việc. Về đến nhà tôi phóng vô giường chìm ngay vào một giấc ngủ sâu.

Đang ngủ say, tôi nghe tiếng đập cửa và nói:
- Ông cố ơi! Tôi mất linh hồn rồi!
Tôi giật mình nhưng cứ tưởng mình nằm mơ.
Tiếng đập cửa kèm theo tiếng nói lặp lại với âm thanh vừa như ở gần vừa như từ xa vọng lại:
- Ông cố ơi! Tôi mất linh hồn rồi!
Theo phản xạ tôi vừa vùng dậy tốc mùng xỏ chân vào dép vừa hỏi:
- Ai đó? Ai kêu…
Nhưng mới chỉ vừa hỏi tới đó tôi đã kịp định thần với câu nói đầy ấn tượng: “tôi mất linh hồn rồi!”. Tôi khựng lại. Cùng lúc, tiếng đập cửa và tiếng nói lại oang oang lần nữa:
- Tôi là Ba Nhơn! Tôi mất linh hồn rồi! Tôi mất linh hồn rồi ông biết không?
Nghe đến đây tôi rút hai chân lên giường, thụt lui chui nhanh vào trong mùng, tim đập mạnh và người bắt đầu run… trí óc dần nhớ ra mình vừa “đi kẻ liệt” cho một người đàn ông tên Ba Nhơn.
Tôi không dám lên tiếng nữa mà chỉ biết ngồi thu lu một góc. Tôi run đến nỗi giường chiếu mùng mền đều như run theo bần bật.
Tiếng nói bắt đầu đổi sang giọng kể lể xen lẫn tiếng khóc nức nở:
- Tại tôi hết! Hm. Hm. Hm… Tôi đọc kinh xem lễ mà vẫn chạy theo bùa phép. Tôi tin Chúa mà làm theo ma quỷ. Hm. Hm. Hm… Tại tôi hết! Hm. Hm. Hm… Tôi đọc kinh xem lễ mà vẫn chạy theo bùa phép. Hm. Hm. Hm… Tôi tin Chúa mà làm theo ma quỷ. Tại tôi hết! Hm. Hm. Hm… Tôi đọc kinh xem lễ mà vẫn chạy theo bùa phép. Tôi tin Chúa mà làm theo ma quỷ… Hm. Hm. Hm…
Ba Nhơn cứ lặp đi lặp lại tới lui những câu ấy. Sau đó có vẻ như ông ta bị ai đưa đi, nên tiếng nói nhỏ lại và xa dần.
Tôi cứ ngồi ở góc mùng cho tới sáng, giáo dân phải đến dẫn tôi qua nhà thờ dâng thánh lễ.
Tôi sợ đến nỗi từ hôm đó, đêm không dám ngủ một mình suốt một thời gian dài.
Dẫu sợ, nhưng tôi thấy mình đã học được một bài học quý giá về đức tin. Đó là có hai cách tin: tin bằng hành động và tin bằng hình thức. Nếu ai tin bằng hành động thì sẽ không hình thức; nếu ai tin bằng hình thức thì sẽ không hành động. Tin bằng hành động là làm theo Lời Chúa dạy. Tin bằng hình thức là chỉ đọc kinh xem lễ… rồi hết.
 
 
 
Cha Luca truyền lại cho tôi bài học đó, tôi sống theo và hai năm giúp xứ của tôi là hai năm đầy sóng gió gian truân, nhiều lúc tưởng chừng bị gãy đổ. Trở về đại chủng viện, bằng cái nhìn ấy, tôi nhận ra, ngay trong nơi đào tạo linh mục rõ ràng có hai loại đức tin, một là đức tin thật và hai là đức tin không thật. Đức tin thật là thực hành Lời Chúa để rồi phải trả giá đắt bằng mọi đau khổ; đức tin không thật là không thực hành Lời Chúa -chỉ sống hình thức- để rồi an nhàn, thảnh thơi trôi theo thói đời và ngày càng bị chính hình thức cuốn trôi. Thú thực, trong những năm học ở đây, tôi không tìm ra được ai tin Chúa thật. Cũng phải! Vì người có đức tin thật thì thầm lặng và kín tiếng, khó lòng nhận ra họ.
Người Công giáo thì đông, nhà thờ lúc nào cũng tấp nập, hội đoàn hoạt động luôn rôm rả, nhưng ít người có đức tin thật, vì đời sống của những người có đức tin thật thì lặng lẽ, không ồn ào, không gây chú ý cho ai và không hấp dẫn ai, đã vậy có khi họ còn là những người bị lên án, bị rẻ rúng và vu khống… thậm chí có khi còn bị loại trừ.
Ma quỷ đã thành công trong việc kéo lôi người Công giáo đi theo hướng hình thức để tránh xa đức tin thật, rồi sau cùng sẽ rơi vào quỹ đạo của chúng.
Tôi có thử đề cập như vậy với hai người bạn cùng lớp, nhưng một người nghe xong thì ậm ừ cho qua, người kia thì quyết liệt phản bác quan điểm của tôi với lý do rất buồn cười là: “chả lẽ đông người đi con đường ấy mà lại là sai quấy hay sao?
 
 
 
Xin hãy nghe cha Luca kể tiếp một câu chuyện nữa.
Có một lần Ông Lực lượng hỏi tôi:
- Ông có chắc giáo dân của ông thật sự tin Chúa không?
Vì câu hỏi rơi vào đúng vấn đề tôi trăn trở từ lâu, nên tôi hiểu ngay cụm từ “tin Chúa” hàm nghĩa gì. Nhưng tôi nhanh trí quyết chộp lấy cơ hội này để học hỏi. Tôi giả vờ đáp:
- Nếu không tin Chúa, họ đi lễ ì xèo làm chi? Họ đọc kinh um sùm làm gì? Và nếu không tin Chúa thì miệng họ đâu thể lúc nào cũng lấy danh Chúa và kêu cầu danh kêu tên Chúa?
Ông Lực lượng quét cặp mắt sắc như dao cạo trên người tôi. Tôi nghĩ: loài người ai mà có cặp mắt như thế ấy là người rất… rất…thông minh. Tôi tự nhủ: không được coi thường!
Ông ta nhún vai nói:
- Đó là tin… sao?
Tuy vậy tôi vẫn hơi có chút bất ngờ. Nhưng đã có ý thăm dò, nên tôi tiếp tục đẩy đưa câu chuyện trong sự vu vơ và ám chỉ, tuyệt nhiên không để lộ điều gì mình biết:
- Chắc Chúa cũng nhân từ chấp nhận.
Ông Lực lượng nói ngay:
- Không đâu! Những người ấy sớm muộn gì cũng thuộc về Chúng ta.
Tôi vui mừng nghĩ: Phải vậy chứ! Ma quỷ thì ma quỷ! Phải có lúc thua trí con người! Ông ta rơi vào bẫy của tôi. Tôi làm bộ không chịu:
- Chúa rất nhân lành, thợ đến muộn cũng được trả công 1 đồng như thợ đến sớm.(1)
Ông Lực lượng lại rơi vào bẫy lần nữa khi Ông cười gằn đắc thắng:
- Ông lão gàn dở khó ưa! Đến giờ chết những người không tin Chúa thật sẽ cảm thấy điều gì biết không?... Họ cảm thấy thua đến trắng tay. Thế là nuối tiếc! Thế là thất vọng! Thế là họ chỉ còn biết lao theo Chúng ta. Hm… hm… hm…
Cha Luca giải thích cho tôi hiểu rằng, trong câu chuyện của cha với Ông Lực lượng, cha muốn tìm biết điều cha suy nghĩ có đúng hay không.
Một là: toàn thể người Công giáo được chia làm 2 loại, loại tin Chúa thật và loại tin Chúa không thật.
Hai là: số phận của những người tin Chúa không thật mai này khi chết sẽ ra sao?
Nhưng nếu hỏi thẳng, đời nào Ông Lực lượng nói thật. Cha Luca phải dùng mưu mẹo để khai thác Ông ấy, và cha đã thành công.
Tôi nghĩ trong Ngày Chung thẩm, thiên thần chia đôi nhân loại ra làm hai.
- Những người tin Chúa thật ở một bên, vì họ thực thi Lời Chúa: “khi Ta đói các con cho Ta ăn…” và những người không tin Chúa thật sẽ ở một bên: “vì khi Ta đói các người không cho Ta ăn…” (2)
- Những người tin Chúa không thật và những kẻ không có đức tin ở một bên là vì họ không tin Chúa hoặc tin bằng miệng lưỡi “Lạy Chúa! Lạy Chúa…” (3)
Bất giác tôi nhớ lại Lời Chúa phán:
- Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất này nữa chăng? (4)
Câu nói thật ý nghĩa và thấu thị! Chúa nhìn thấy trước nên ngao ngán phán như vậy.
Tôi quyết tâm, sẽ tìm mọi cách cho bằng được, đứng vào số những người tin Chúa thật.
 
   Chú thích:
(1) Mt 20:1-16.
(2) Mt 25:35-36.
(3) Mt 7:21.
(4) Lc 18:8.
 
Đã mang đến chương này
<bài viết được chỉnh sửa lúc 01.06.2026 02:16:10 bởi Thanh Vân >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 31.05.2026 10:32:03
Kỳ 44
(Phần đầu của kỳ 44)

Công giáo là đạo yêu thương. Đó là điều Giáo hội hằng dạy và mọi người hằng nghe, vì Chúa Kitô xuống trần lập đạo yêu thương bằng cách rao giảng lòng yêu thương, đề ra giới luật yêu thương, ban những huấn lệnh yêu thương, luôn nhắc nhở yêu thương và nhất là chính Người đã trở nên hiện thân lòng yêu thương của Thiên Chúa.
Người Đức nói đúng: “Con đường từ trí óc đến bàn tay là con đường dài nhất”, nghĩa là nghĩ thì hay nhưng đôi khi khó hành động; ý tôi muốn nói biết rõ, hiểu rành, thông quán về bản chất đạo mình, là đạo yêu thương, nhưng thử hỏi có được bao nhiêu người Công giáo sống đúng yêu thương?
Đừng nói rằng họ biết yêu thương nhưng không biết cách sống yêu thương! Không! Tôi không chịu! Bởi vì kẻ đã yêu thương tự khắc biết muôn ngàn vạn ức cách sống yêu thương. Thánh Augustinô nói: “Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. Không sống yêu thương tức là không yêu thương. Cho nên thật đau lòng mà nói: Công giáo là đạo yêu thương gồm chứa những tín đồ không sống yêu thương. Nói như vậy vì người các đạo khác sống yêu thương hơn người Công giáo.
 
 
Đại chủng viện là nơi đào tạo các linh mục, những cán bộ cao cấp và ưu tú của đạo Công giáo, vậy mà không rốt ráo dạy sống bác ái yêu thương.
Tôi nói có bằng chứng.
Bằng chứng thứ nhất: Chủng viện không luôn nhấn mạnh căn cơ của “giữ đạo” là sống bác ái.
Tôi học võ thuật đạo gia Thái cực quyền suốt 9 năm liền. Vừa vào học đã được dạy thuộc câu: “Thái cực quyền trước để tu tâm dưỡng tính, kế đến nâng cao sức khỏe, sau cùng mới kỷ kích phòng thân”. Ngày nào cũng được sư phụ nhắc và nhấn mạnh hoài đến nỗi người nội lực càng thâm hậu, thần thái càng giống “tiên phong đạo cốt” (phong thái của tiên ông, cốt cách của đạo sĩ) tức sức khỏe sung mãn, thần khí hiền hòa.
Học hết đại chủng viện mà đại chủng sinh vẫn không biết rõ “giữ đạo” tức theo Chúa, theo Chúa tức làm theo Lời Người trong Phúc âm, làm theo Lời Người tức sống bác ái; cũng không biết chính vì vậy mà ngày chung thẩm Chúa chỉ lấy bác ái ra mà phán xét. Đại chủng sinh không nắm vững điểu cốt thiết đó, nên không hiểu câu Chúa nói: “kẻ được gọi thì nhiều, kẻ được chọn thì ít” (Mt 22,14) áp dụng cho ơn cứu độ: nhiều người “giữ đạo”, nhưng ít kẻ làm theo Lời Chúa sống bác ái để được cứu độ… hoàn toàn không phải áp dụng cho việc đi tu: vào chủng viện thì đông, tốt nghiệp linh mục thì ít (lầm tưởng như vậy nên cứ hãnh diện hão rồi giải thích bậy cho giáo dân để rồi truyền nhau ý tưởng sai ấy mà tôn vinh linh mục lên quá mức).
Dịp hè năm 1972, nhân giúp xứ 1 tháng ở họ đạo lớn và cổ kính kia, tôi ghé thăm nhà ông Biện sở Hậu, người nổi tiếng văn hay chữ tốt, nho học uyên thâm, giáo lý thông thạo... được cha sở lẫn giáo dân trong họ đạo kính nể và tín nhiệm. Thấy tôi còn trẻ, ông nói năng luôn ra vẻ mình là một giáo sư. Tôi lại một mực lễ độ lắng nghe nên ông càng thích thú “tuôn ra” hết những gì ông tâm đắc. Ông kể nhiều chuyện, trong đó có câu chuyện này.
Xưa có đoàn truyền giáo gồm 2 linh mục và 1 thầy trợ sĩ người Bồ Đào Nha (1), người nào người nấy râu tóc xồm xoàm… vào nước ta. Giảng đạo một thời gian, vua nghe lời gièm pha nên muốn đuổi. Nhưng để đuổi cho khéo, vua cho vời cha bề trên vào rồi đưa ra 3 câu hỏi với điều kiện sau 3 ngày nếu giải được trót lọt hết 3 câu thì ở, giải không được, dù một câu, phải bị trục xuất.
Cha bề trên ghi chép cẩn thận 3 câu hỏi:
- Câu hỏi thứ nhất: “Mặt trời nặng bao nhiêu cân?”.
- Câu hỏi thứ hai: “Đương kim Thánh thượng giá bao nhiêu tiền?”.
- Câu hỏi thứ ba: “Nói xem hiện Thánh thượng đang nghĩ gì trong đầu?”.
Lãnh 3 câu hỏi trở về, cả cha bề trên lẫn cha phó bề trên đều vò đầu bứt tóc suy nghĩ thâu đêm suốt sáng, suy nghĩ đến bỏ cả ăn uống quên luôn cả ngủ nghỉ. Riêng ông thầy nấu bếp vì luôn bị coi là ít học, địa vị trợ sĩ thấp bé, ở trong đoàn truyền giáo chẳng qua như người giúp việc để lo các bữa ăn và làm những việc chân tay mà thôi… nên thầy không được ai hỏi ý kiến; sở dĩ biết được sự việc kèm theo nội dung 3 câu hỏi chẳng qua nhờ nghe loáng thoáng lúc 2 cha bàn bạc với nhau; vì vậy thầy tự nghĩ không phải phận sự của mình; dẫu cùng chung nỗi âu lo, nhưng thầy không dám hó hé lấy nửa lời.
Đến gần hết ngày thứ ba, ngày cuối cùng của hạn định vua ra, cơm trên bàn 5 lần 7 lượt bị bỏ phế lạnh tanh vì chẳng ai ngó ngàng tới, hai cha cứ thay nhau đi tới đi lui, lắc đầu, thở dài… đến giữa khuya rồi mà chẳng ai tìm ra lời giải dù chỉ để trả lời cho một câu trong 3 câu hỏi quá hóc búa.
Khi trời gần sáng, thầy nấu bếp vì thức theo nên ngủ gà ngủ gật… bỗng thầy cảm thấy quá bức xúc không chịu nổi nữa nên quyết định thức dậy hẳn, dụi hai mắt, bước lên nhà trên gặp hai cha thưa:
- Bẩm hai cha!... Việc này xin hai cha giao con lo liệu có được không?... Họ hỏi cối chày thì chúng ta phải đáp lại bằng chày và cối; mà chày… cối… là việc của con, không đến lượt quý cha phải bận tâm đâu ạ!... Sáng nay xin cho một mình con đi trả lời cho nhà vua. Con hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Giờ xin hai cha ăn chút gì rồi đi nghỉ kẻo đổ bệnh.
Thoạt nghe, hai cha giẫy nẫy lên kêu:
- Không được! Không thể được!... Đừng có mà nói liều! v.v…
Nhưng nghĩ kỹ một hồi thấy không còn cách nào khác; Thật vậy! Suy cho cùng, đàng nào cũng bị đuổi. Còn tí hy vọng gì cứ thắp hết lên.
Cha bề trên lột áo mình ra mặc cho thầy nấu bếp, lấy đai lưng của mình thắt cho thầy, lấy mão gậy mình trao cho thầy ấy luôn... Nhìn qua không ai có thể ngờ đó là thầy nấu bếp.
Trời đã thật sáng, thầy nấu bếp đến gặp vua thật đúng giờ như đã hẹn. Vào sân rồng thầy nấu bếp trông thấy các quan văn võ, ai nấy đều ung dung chễm chệ, vừa quạt phe phẩy vừa vuốt râu trê rung đùi cười nói ra cái điều đắc ý, cộng thêm vẻ khinh khi thách thức làm sao!…
Hiệu lệnh nổi lên, vua ra.
Thầy nấu bếp rón rén quỳ gối giữa sân chầu xin trả lời 3 câu hỏi. Cứ mỗi câu được một vị quan to tiếng xướng lên để nhắc lại cho có đầu có đuôi; dứt tiếng thì thầy nấu bếp mới trả lời. Viên quan xướng câu đầu tiên:
- Câu thứ nhất: “Mặt trời cân nặng nhiêu cân?”
Thầy nấu bếp trả lời:
– Muôn tâu Thánh thượng, mặt trời cân nặng 6 cân.
- Ồ!!!... - cả triều đình ngạc nhiên “ồ” lên to tiếng kèm theo là những cặp mắt trợn ngược.
Vua cũng thế. Nhưng sau một lúc bình tĩnh, vua đập long án chỉ tay vào thầy nấu bếp quát:
- Láo! Đừng nói liều!... Nhà ngươi đã cân chưa mà biết? Ngươi khá giải thích cho tường tận!... Không xong ta chém bay đầu!
Thầy nấu bếp có vẻ đã không run sợ thì chớ, lại còn tỉnh rụi như không. Ông thưa ngay chẳng thèm suy nghĩ:
- Muôn tâu Thánh thượng! Vì cứ 6 giờ sáng nó mọc lên, rồi thì 6 giờ chiều nó lại lặn xuống. Không 6 cân thì nặng nhiêu cân đây! Nếu bệ hạ và quý quan ai không tin cứ cân thử!
Có đến cả… giờ đồng hồ cho vua lẫn đám quan lại mặc tình chụm đầu vào nhau thì thào luận đàm, bàn bạc, lắm lúc còn có tiếng cãi cọ, gầm gừ… nữa.
Mãi vẫn không xong. Thấy không cách gì bẻ lại cái lý luận cối chày kia, nhà vua đành miễn cưỡng chấp nhận câu trả lời. Đến đây thì vẻ hống hách đe dọa, vẻ cao ngạo thách thức của vua quan lúc đầu mười phần giảm đi năm. Ông quan to bụng kia tuyên đọc câu thứ hai:
- Câu hỏi thứ hai: “Đương kim Thánh thượng giá nhiêu tiền?”
Đúng là hỏi để bắt chết; tuy nhiên thầy nấu bếp vẫn không hề hấn gì, trái lại còn ung dung thoải mái là khác! Thầy dõng dạc thưa:
- Muôn tâu Thánh thượng! Thánh thượng giá 29 đồng.
Cả triều thần hoảng hốt kêu ầm lên “Khi quân đại tội!... Khi quân đại tội!...”; còn vua thì bật đứng lên, mặt đỏ bừng, mắt lộ thần, lông mày vốn đã xếch giờ như dựng ngược cả lên… đập long án “chát chát ầm ầm” quát to như sấm nổ:
- Khi quân phạm thượng! Bây đâu! Chém!
Các quan hùa theo. Nhưng có vài vị quan già quỳ gối:
- Xin hãy khoan!
- Xin bệ hạ bớt giận!
- Xin hãy để hắn giải thích rồi chém cũng chưa muộn.
Vân vân…
Vua ngồi xuống, từ từ rồi cũng bớt giận, cho nói.
Thầy nấu bếp giập đầu xuống đất -giấu cái cười trong hàng râu rậm xì- nhưng vẫn còn nguyên cái phong thái coi chốn “đạn lạc tên bay” này chẳng ra cái thá gì. Ông tâu:
- Muôn tâu! Hạ thần nói có căn cơ sách vở. Đó là vì Chúa của hạ thần kính thờ đích thị là Thiên Chúa, Chúa tể trời đất và muôn loài... thế mà người ta bán Người chỉ với giá 30 đồng sách sử còn ghi rành rạnh. Thánh thượng chỉ là vua có một cõi, giá sao bằng. Bất quá 29 đồng mà thôi. Thế là được giá lắm rồi ạ!
Vì chẳng ai hiểu ất giáp, mặt cứ ngơ ngơ, nên thầy nấu bếp chộp lấy cơ hội làm thêm một ‘tăng” giảng đạo giữa triều đình ngoại giáo, khiển được vua quan im ắng lắng nghe. Họ nghe mà lòng hừng hực nộ khí bởi không ai chịu nổi sự đánh giá nhà vua rẻ bèo như thế, càng tức hơn khi chẳng ai có nổi một lý lẽ gì để đánh bạt, để xóa bỏ, để dập tắt dù biết rằng lý lẽ thầy nấu bếp đưa ra chỉ là thứ lý lẽ chày cối. Tức nhất là tội khi quân nặng thế mà chẳng cách nào bắt tội cho được.
Rồi thì mọi sự cũng dần lắng dịu, bá quan văn võ ai nấy đều hy vọng tiếp theo đây nhất định bắt bí được để tống cổ nhóm Tây dương bạch quỷ này. Vị quan độc chúc trừng trừng cặp mắt đọc tiếp câu thứ ba:
- Câu hỏi thứ ba: “Hiện Thánh thượng đang nghĩ gì trong đầu?”
Câu hỏi thứ ba vừa được ban ra, các quan lập tức xì xầm tiên đoán “Phen này hắn không thoát khỏi tội chết!”, “lần này cho mầy chết nhé!”, “đừng có mà khua môi múa mép!” v.v… kèm theo là những tiếng cười gằn nghiến răng trèo trẹo đe dọa.
Thầy nấu bếp không chút nao núng lo âu, thần sắc vẫn an định như thường, xin trả lời:
- Muôn tâu bệ hạ! Bệ hạ đang nghĩ thần là cha bề trên.
Nhà vua nói:
- Thì đúng vậy!
- Muôn tâu! Dù hạ thần chỉ là một ông thầy nấu bếp, mà Thánh thượng vẫn nghĩ thần là cha bề trên. Đó không phải là hạ thần đã đọc được ý nghĩ của Thánh thượng sao?
Cả triều đình im phăng phắc. Thầy nấu bếp tâu:
- Muôn tâu Thánh thượng! Trước triều đình chúng thần không nói sai điều gì, tất sẽ không đem những điều tà mỵ mà giảng dạy cho dân chúng. Cúi xin Thánh thượng anh minh xét định cho chúng thần được tự do giảng đạo như bệ hạ đã minh hứa.
Sau đó ngót một triều đại dài trước khi nhà vua băng hà, đoàn truyền giáo ấy được giảng đạo tự do không ai làm khó. Số người tin Chúa ngày một tăng.
Câu chuyện không mang lại điều gì sâu sắc để học hỏi, nhưng lại được ông Biện sở đắc ý vì cho rằng Công giáo là đạo khôn ngoan hơn hẳn vua quan v.v... trong khi lẽ ra phải truyền dạy mọi người Công giáo là đạo bác ái yêu thương, ai theo đạo phải sống bác ái, đó mới thật là theo Chúa.
 
 
Bằng chứng thứ hai là: chủng viện không dạy chủng sinh làm gì để có bác ái mà sống.
Chủng viện chỉ dạy kiến thức triết lý, thần học, tín lý, giáo luật, thánh kinh, giáo sử, tu đức… mỗi chiều tối có giờ huấn đức, tuy nhiên giờ huấn đức cũng chỉ dạy nhân bản. Mỗi đại chủng sinh khi nhập đại chủng viện phải chọn cho mình một cha giáo sư làm linh hướng, kỳ thực những vị giáo sư đó chưa đủ sức hướng dẫn một người thật sự khao khát và quyết tâm sống trọn lành bằng bác ái. Chưa có một vị chân sư dạn dày kinh nghiệm về đường thiêng liêng, nhất là về tu đức Phúc âm để dạy dỗ, hướng dẫn, dìu dắt các đại chủng sinh. Lý lẽ của bằng chứng này là: không ai dạy và không ai nêu tấm gương để chỉ đường bác ái.
Tôi có 1 người bác ruột và 2 người cậu ruột đều làm linh mục. Đó là những cha sở đầy uy quyền. tôi còn nhớ những năm của thập niên 50, khi vùng quê tôi vô cùng biến động vì loạn lạc, linh mục là những quan lớn, vì kính trọng linh mục nên ngôi nhà tôi ở, ai đi ngang qua cũng đứng lại cúi chào, ít lắm cũng giở nón… vì đó là nhà có người làm linh mục; giữa đêm khuya chỉ linh mục mới được đi từ làng này qua quận nọ mà không hề sợ băng nhóm nào bắt nạt; một số linh mục lúc đó có cả ôtô con nhập từ nước ngoài vào. Từ nhỏ đến lớn, tôi chỉ biết có một điều: đi tu cho giống bác và hai cậu, đi tu là sang trọng, tuyệt nhiên tôi không hề biết bác ái là tất cả.
May mắn làm sao tôi được gặp cha Luca! Từ đó trở đi tôi mới biết từ gốc rễ cho đến ngọn ngành mọi việc. Từ đó tôi mới biết không thể đi tu như bác và hai cậu. Nhưng các bạn của tôi thì sao?
 
 
Bằng chứng thứ ba là: chủng sinh không sống bác ái và coi nhẹ bác ái.
Như tôi đã thưa, các chủng sinh không biết rằng mình phải sống bác ái; nhưng đó chưa phải là vấn đề; vấn đề là nếu có biết đi nữa, các chủng sinh cũng không sống bác ái. Lý lẽ thuyết phục nhất của bằng chứng này là các đại chủng sinh, như tôi nói ngay từ đầu, không biết và có biết cũng không muốn đi vào đường trọn lành bằng sống đức bác ái; tại sao? - Vì một lẽ đơn giản: đi vào đường trọn lành này là đi ngược dòng với những người khác; mà hễ đi ngược tất khó “sống còn”. Chuyện này không hẳn chỉ do con người mà còn do chính ma quỷ; ma quỷ đã cố quyết ngăn chặn ngay từ đầu. Tôi biết ma quỷ ngăn chặn nhờ nghe được câu chuyện sau đây:
Người bạn cùng phòng cũng dân lục tỉnh như tôi, một hôm không có chỗ ra ngoài đi chơi (2), anh ta ở lại phòng. Trong phòng lúc này chỉ còn 2 đứa, anh ta và tôi. Anh ta tâm sự:
- Mình thấy anh có cái gì đó làm mình thích, nhưng tính mình nhút nhát chưa có dịp tâm sự với anh như 2 người bạn thân. May sao hôm nay được dịp.
Người bạn, tên Hiền, hỏi tôi:
- Anh có sợ ma không?
Thấy tôi có vẻ chưa hiểu mục đích của câu hỏi, Hiền giải thích:
- Ý mình muốn hỏi để xem có nên kể chuyện này hay không. Thôi kệ! Mình cứ kể đại nó đi, vì mình ấm ức để trong lòng không yên, mà kể ra bừa bãi sợ bạn bè có đứa nhạo cười.
Đổi tư thế ngồi, Hiền bắt đầu kể:
- Tính mình thì nhút nhát đối với người ta, nhưng không nhát lắm đối với ma quỷ hoặc với những hiện tượng siêu hình; trái lại mình rất tò mò là đàng khác. Trong năm giúp xứ đầu tiên có một dạo cha sở sai mình đến thăm viếng, ủi an và săn sóc ông cậu của cha đang rất cô đơn trong cảnh bệnh hoạn sắp chết… ở cách đó hơn 10 cây số. Tới lui hoài đâm ra mình rất được lòng ông già. Kêu là ông già nhưng ông tuổi chỉ ngoài 60, hiền lành, bị vợ con bỏ đi đâu mất –mình không dám hỏi- để mặc ông sống cô độc trong yếu đau. Ông già thấy mình chăm sóc chu đáo và hết tình nên coi mình như con. Cũng đáng! Vì cứ 3 ngày mình chạy xe gắn máy sang với ông già. Thế rồi bạo bệnh khiến ông già chết sau đó không lâu. Biết mình sẽ chết, ông già trối trăn lung tung. Đặc biệt trước khi ông già từ giã cõi đời khoảng một hai tuần, mình có xin ông già một điều.
Vừa nói tới đó Hiền ngưng lại nhìn tôi một lúc rồi hỏi:
- Nè! Có tin những gì mình nói không đó?
- Hỏi gì kỳ vậy ông! –tôi cười thân mật- Không tin mà chịu ngồi đây nghe ông kể…!
Hiền gật đầu tỏ vẻ yên tâm, kể tiếp:
- Liêu có biết mình xin điều gì không?... Mình nói với ông già: “Khi nào về với Chúa, bác xin Chúa cho bác được về thăm con và nói con nghe chuyện bên ấy”. Ông già hứa. Đã vậy ông còn đùa: “Nếu Chúa cho về thiên đàng, bác nhất định về thăm con rồi mới về trên ấy”. Mình còn căn dặn: “Nhưng khi về thăm con, bác đừng làm con sợ nghe! Sợ là con chạy đó!”… Hai bác cháu xiết tay nhau cam kết thật chắc chắn.
Nhìn Hiền tôi nghĩ cái anh chàng gầy yếu này coi vậy mà “bạo gan bạo phổi” hơn tôi nhiều. Tôi mỉm cười chăm chú nghe anh kể tiếp:
- Mai táng ông già xong, nhằm lúc mình quá nhiều việc khiến quên khuấy chuyện ông già hứa về thăm. Nhẩm tính đã gần hai tuần. Mình nghĩ đơn giản chắc Chúa không cho phép nên ông già không về thăm mình. Nhưng rồi mình nghĩ tiếp: sao không tạo cơ hội thử xem, vì những ngày qua bận rộn và ì xèo quá làm sao ông già về thăm cho được. Nghĩ là làm, mình liền xin phép cha sở chạy xe về nhà ông già bất chấp trời chiều đang mưa dầm ướt đẫm.
Tôi chợt rùng mình:
- Anh quả là gan dạ! Tôi chịu thua anh luôn!
Hiền kể tiếp:
- Đến trước ngôi nhà hoang vắng nằm tách biệt hẳn với hàng xóm, quanh nhà cây cối rậm rạp um tùm… vả lại đang mưa dầm nên mình cảm thấy bầu không khí lạnh lẽo thê lương. Vừa dựng xe ở hàng hiên, mình đã nghe có tiếng động như nhà đang có người ở bên trong. Mình cố tự trấn an bằng ý nghĩ nhà vắng thì ắt có mèo quậy chuột phá. Ngần ngại một lúc lâu, mình lấy hết can đảm tiến đến cửa chính, tra chìa khóa vào ổ khóa, sau đó từ từ mở cửa nhà. Anh đoán xem mình thấy gì khi mở cửa ra…?
Tôi lắc đầu ra hiệu không đoán nổi. Hiền tiếp:
- Mình thấy giữa bóng tối thâm u của căn nhà có một vệt sáng ở sát cạnh bàn thờ giữa nhà. Ban đầu mình ngỡ là ánh sáng từ mái nhà dọi xuống… nhưng khi định rời mắt đi thì bỗng thấy vệt sáng ấy động đậy… Tim mình đập mạnh, nhưng vì chủ đích muốn được gặp ông già nên mình đứng nán lại ở cửa nhìn cho kỹ… Lạy Chúa! Bóng một người đang như mặc áo dòng trắng đứng thù lù ra đó. Phản xạ tự nhiên, mình phóng một cái… bay ra đến tận ngõ.
Khi đã đứng đó thở hào hển một lúc, mình thấy xấu hổ liền quay vào. Vừa đi vài bước mình nghe văng vẳng tiếng gọi:
- Hiền!... Hiền!... Hiền ơi!…!
Mình thu hết bình tĩnh, lần mò từng bước đi vào. Vào giữa sân lại nghe tiếng ông già:
- Bác Bảy đây! Bác cháu mình hứa với nhau rồi mà!
Tôi mở miệng nhưng miệng nói lập cập và giọng nói thì cứ run lẩy bẩy:
- Bác Bảy đừng làm con sợ nghe!... Bác đừng làm con sợ nghe!
Ông già đáp lại bằng giọng nói nho nhỏ như hồi còn trên giường bệnh:
- Không! Bác cháu mình mà! Bác không làm gì con đâu!
Dần dần, tính tò mò bên trong trỗi dậy, mình đã vào được quá giữa sân, đứng tại chỗ run lập cập không phải vì lạnh mưa, mà vì lạnh sợ….
 
(còn tiếp phần cuối của kỳ 44)
 
 
(1) Bồ Đào Nha: tên chính thức là Cộng hòa Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: República Portuguesa), là một quốc gia nằm ở Tây Nam châu Âu trên bán đảo Iberia
(2) Ra ngoài tự do: Mỗi tuần 2 lần vào chúa nhật và thứ năm, đại chủng viện mở cửa cho các thầy ra ngoài tự do (sortie libre).
<bài viết được chỉnh sửa lúc 01.06.2026 00:06:59 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 04.06.2026 02:24:13
Kỳ 44
(Phần cuối của kỳ 44) 
 
 … 
Tiếng ông già nói tiếp, tuy khẽ khàng nhưng rất rõ: 
- Bác về thăm con như đã hẹn với nhau. Bác vẫn bình thường chỉ là ở thế giới khác thôi! 
Mình đã vào được sâu hơn, đứng dưới đất ở hàng hiên mà lòng vẫn còn sợ lắm; tuy nhiên mình hơi bình tĩnh hơn trước. 
Hiền nhận xét thêm: Con người tự nhiên không chịu nổi cái gì thuộc về siêu nhiên vô hình...
Ông già lặng thinh. Vì run sợ nên mình hỏi mà tự nghe giọng mình nó lạc…lạc… làm sao!:
 - Bác đang ở đâu? Thiên đàng hay luyện ngục? 
Ông già lặng thinh như có điều gì đó không tiện nói. Mình đoán mò:
 - Bác đang ở luyện ngục phải hôn? 
Hỏi đến đây gai ốc ở sống lưng cứ từng cơn, từng cơn rợn lên dồn dập. Mình cắn chặt hai hàm răng trấn áp nỗi sợ để không bỏ chạy lần nữa… nhưng do nghĩ đây là cơ hội hiếm có, chỉ lần duy nhất này mà thôi nên mình ráng. Mình gạn hỏi thêm:
 - Ủa sao con hỏi mà bác không trả lời? Khó nói lắm hả? 
Không có tiếng trả lời. Mình nghĩ: Ông già đã im lặng như thế thì chính là xác nhận rồi còn gì! 
Mình bỗng cảm thấy cám cảnh cho ông già, vì trước khi chết, ông đã chịu quá nhiều đau đớn thể xác do bệnh tật, đau đớn linh hồn do bị vợ con và người thân bỏ rơi trong đơn côi thui thủi… lẽ ra bây giờ đừng nên chịu đau khổ thêm ở luyện ngục nữa! Không biết nói lời gì để an ủi ông già, mình đành nói lảng tránh qua chuyện khác. 
Còn tôi thì vẫn đang miên man suy nghĩ về chuyện thiên đàng luyện ngục:
 - Phải rồi Hiền ạ! Nếu đã ở thiên đàng thì phải toát ra một thứ ánh sáng rực rỡ gì đó chứ đâu tối mù… rồi còn đứng im thù lù một góc như nhát ma người ta…! Phải không?... 
Hiền gật đầu lia lịa. Đột nhiên thay đổi giọng kể. 
Thì đó! Liêu biết không! Bỗng dưng mình nghe có một thứ tiếng động rất kỳ dị! Tiếng ấy hiện giờ tuy đã hơn 1 năm qua, vậy mà mình vẫn còn nhớ như in. Tiếng động ấy giống như tiếng một thanh kiếm dài mài liếc rất mạnh tay trên tảng đá sần sùi to lớn; nhưng tiếng ấy lại còn vừa nghe giông giống tiếng xé một mảnh lụa dài… Tiếng động kỳ dị khiến mình giật thót cả tim gan và lòng bỗng cảm thấy rất sợ. Nhưng liền sau sự sợ hãi khủng khiếp ấy là sự bình yên trở lại, mình bớt sợ dần đi vì phát hiện gian nhà nhỏ u ám lạnh lẽo của ông già bỗng sáng trưng lên như ta bật đèn nê-ông, - Hiền cười - dù nhà ông già chẳng có lấy một bóng đèn điện (1). Liêu thử nghĩ xem cái gì vậy? - Hiền im lặng chờ tôi suy nghĩ. 
Hiền lại đổi tư thế và kể tiếp khi thấy tôi tỏ ra bất lực. 
Mình hỏi ông già liền:
 - Bác Bảy ơi! Có chuyện gì vậy? Hồi nãy tối bây giờ bỗng dưng sáng choang…? 
Giọng ông già đang rầu rĩ đổi thành vừa vui, vừa thật so với giọng hồi còn sống, ông già lại còn nói to hơn, dõng dạc hơn và thân mật hơn hồi đầu đến giờ; tắt một điều là ông già đổi giọng nói khác trước đây mấy phút… hoàn toàn:
 - Bác vừa đánh đuổi bọn “giới linh” (2). Từ nãy giờ chúng quấy phá con đó!
 - Ủa! “Giới linh” là cái gì?
 - Là những người chết oan khuất, chết tức tưởi vì chưa đến giờ Chúa định… ví dụ những người tự tử, tai nạn vô ưng… họ chưa được Chúa phán xét, số phận đời đời của họ chưa được định đoạt nên cứ phải đi rong ruổi lang thang khắp chốn, rồi làm chuyện này chuyện nọ mà người đời ưa gọi là “ma”, “hồn ma”… với mong muốn được mọi người nhớ đến họ. 
Mình quá đỗi ngạc nhiên. Không đợi ông già nói thêm, mình hỏi ngay:
 - Ủa! Có cả những linh hồn như vậy nữa sao? Những linh hồn ấy vừa mới quấy phá con… vậy thì trong lúc đó Bác đang ở đâu và làm gì?
 - Bác vừa đánh đuổi họ đi rồi! Con yên tâm đừng sợ nữa! Bác từ thiên đàng về với con đây! 
Không hỏi thêm ba cái vụ lung tung ấy nữa, vì từ lâu trong trí mình có sẵn hàng trăm thắc mắc nên bây giờ mình cứ để mặc chúng tuôn ra, bụng cứ nơm nớp sợ ông già đi mất: 
 - Thiên đàng ra sao thưa Bác?
 - Thiên đàng là tình trạng đứa con đi lạc tìm lại được cha mẹ yêu thương mình.
 - Luyện ngục ra sao?
 - Luyện ngục là nơi “hy vọng - chắc chắn” (3), nên dù khổ đau mấy người ta cũng chịu được!
 - Hỏa ngục thì sao?
 - Đó là nơi không còn một chút hy vọng nào, ngược lại chứa toàn sự tuyệt vọng (4), cho nên đau khổ lại càng đau khổ hơn… một tình trạng cuồng điên đi tới mãi. 
Lúc đó mình thấy hiểu rõ và hiểu cạn, nên không hỏi gì thêm. – Hiền cười bẽn lẽn - Mình quả vội vàng hấp tấp! Bây giờ lại thấy tiếc! Giá như hỏi cho kỹ cho rõ có hay hơn không!... 
Giọng ông già rất thân thương ngọt ngào hơn cả trước kia làm cho mình không còn sợ hãi gì nữa! Mình hỏi tiếp:
 - Chết ra sao? Bác có thể nói sơ cho con biết được không?
 - Thế giới vật chất là ngục tù, đau khổ phần hồn hay phần xác cũng là ngục tù, thậm chí nếu có hạnh phúc, những thứ hạnh phúc trần gian sơ sài bèo bọt ấy cũng chỉ là một thứ ngục tù khác mà thôi. Còn chết là được ra tù, được phóng thích, được đi vào thế giới tự do, về nhà, tất cả ví như từ trong khoang hầm chật chội, u tối, ngột ngạt và bức bách… bỗng được vuột thoát, bay ra bầu trời lồng lộng ánh sáng, không khí trong lành của sự sống. 
Mình hỏi:
 - Vậy chết là sướng chớ đâu là ghê rợn! 
Ông già giải thích:
 - Vì hình ảnh của sự chết là hủy diệt, tiêu vong, không còn tồn tại, chia lìa… nên ai cũng hiểu lầm và sợ hãi. Tuy nhiên với kẻ ác thì chết đúng là đi xuống, nhưng đối với người lành chết là đi lên, đã chẳng những sống tiếp mà còn thăng hoa. 
Ông già nói năng lưu loát như một tay có ăn có học. Khác trước như trời vực! Dân ở thiên đàng về có khác! Mình hỏi tiếp:
 - Bác có bị phán xét không? Phán xét ra sao?
 - Bác có chịu phán xét. Phán xét là thức dậy, là mở mắt tỉnh dậy khỏi giấc ngủ mê muội của vật chất để tự thấy ra mọi tư tưởng, lời nói và hành vi tốt xấu của mình từ thuở tuổi khôn cho đến khi chết. Tất cả được phơi bày minh bạch; thậm chí dù chỉ một lời nói ức hiếp người khác, cũng sẽ phải trả giá đến cùng. Phán xét tương tự như một tấm màn chiếu phim trắng khổng lồ (5), bất kỳ một lỗi dù rất nhỏ nào cũng đều được phóng lớn và chiếu lại trên tấm màn ấy không sai không sót một chi tiết.
 - Chúa ra sao hở Bác? 
Ông già hơi ngập ngừng… rồi trả lời bằng một giọng xúc động:
 - Không thể tả Chúa được con ơi! Nhưng không phải chết xong mới thấy được Người, mà có thể thấy được Chúa ngay ở trần gian khi con còn đang sống. Đó là mỗi khi lòng con yêu thương, quảng đại, nhân ái, thứ tha… cho người khác, lòng con xúc động và bồi hồi yêu thương. Chúa là lòng yêu thương đó đấy con ạ! 
Mình bỗng nhìn thấy Chúa ngay sau lời ông già vừa nói:
 - A! Vì vậy mà Chúa mới lập đạo yêu thương là đạo Công giáo mình… 
Ông già nói tiếp theo:
 - Chỉ bác ái yêu thương là đủ một đạo; có đức tin hay không có đức tin, thiên đàng hỏa ngục, ơn cứu độ, ân sủng v.v… thảy đều nằm ở chỗ có bác ái hay không… 
Mình nghe giọng ông già trầm hẳn:
 - Rất tiếc hồi còn sống, không ai dạy Bác điều đó, Bác đã không xem bác ái yêu thương là điều cốt yếu trong việc giữ đạo, cho nên trên thiên đàng, bác chỉ là một người rất nhỏ. May mà Bác chịu nhiều đau khổ và biết quên điều ác vợ Bác gây cho. 
Mình bạo dạn hỏi:
 - Vậy ai không sống bác ái yêu thương đều xuống hỏa ngục hết phải vậy không? 
Ông già nói:
 - Chúa là lòng yêu thương, thiên đàng là nơi yêu thương, ai không có lòng yêu thương bác ái làm sao vào chốn đó được? 
Nói đến đây Hiền vung tay đấm vào không khí với vẻ bực tức:
- Coi như mình đã nắm rõ được vấn đề. Đạo là đường dẫn ta đến Chúa. Toàn bộ đạo Công giáo là yêu thương. Toàn bộ đức tin Công giáo là bác ái yêu thương. Chu mẹ! Học đến thần học mới biết điều “cốt tử” ấy; lại biết do người chết dạy! 
Tôi an ủi Hiền:
 - Dù gì… biết còn hơn không! Tội cho nhiều người không biết! Tội hơn nữa cho người biết mà không làm! 
… 
Thầy Hiền bạn tôi còn kể tiếp; qua anh, tôi càng hiểu rõ: đức tin là sống yêu thương như Chúa đã xuống thế giảng dạy. Yêu thương là tất cả, đến nỗi ai đọc kinh ra rả sáng chiều, ai đến nhà thờ siêng năng, ai cúng nhiều tiền cho nhà thờ, hay dù ai có bạt núi lấp biển… không bác ái thì mọi việc trở thành không. 



Sau đó không bao lâu, thầy Hiền xuất tu mà không nói lý do - chỉ anh và cha linh hướng của anh biết mà thôi. Anh lập gia đình, sống giản dị và thầm lặng cho đến hôm nay. 
Tất cả những dòng trên đây đều được anh xem qua.. 
 
(hết phần 44, sẽ tiếp phần 45 vào kỳ tới



(1) Thời kỳ này điện chưa về đến nông thôn, nhà nhà còn thắp đèn dầu lửa. 
(2) “Giới linh” là cách gọi các cô hồn, oan hồn, âm hồn, âm binh… của linh mục nhạc sĩ Gioan Minh (Gioan Nguyễn Văn Minh, chánh xứ Hiển Linh, gp.Tp.HCM). Ở các tôn giáo khác, người ta gọi là cô hồn rồi ân cần lập miếu mạo bên vệ đường hoặc những nơi họ chết… để an ủi họ. 
(3) Ở trần gian, mọi hy vọng đều không chắc chắn, ví dụ hy vọng thi đậu, hy vọng trúng số, hy vọng giàu sang, hy vọng sống lâu… bởi vì “đời là phù vân”. 
(4) Đang sống, không ai thiếu sự hy vọng; nếu không còn gì để hy vọng, - dù hy vọng không chắc chắn - người ta sẽ sống như chết. 
(5) Ngày xưa để chiếu phim ở ngoài trời cho đám đông, người ta căng một tấm màn rất lớn màu trắng ở đằng xa và trên cao, rồi dùng máy chiếu phim to kềnh chạy sè sè chiếu hình ảnh động đậy lên trên tấm màn ấy. 



LTS - Vì là tiểu thuyết, nên những gì trên đây không cần phải tin.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2026 04:37:53 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 05.06.2026 02:30:27
Kỳ 45 


Sau khi thầy Hiền xuất tu, tôi cảm thấy mất đi một người bạn để sớm tối chia sẻ tâm tư một cách ưng ý. Trong nỗi tiếc nuối, thoạt đầu tôi nghĩ quấy: thầy Hiền đã phạm một sai lầm gì đó kín đáo đến nỗi không thể nói cho tôi biết. Nhưng càng ngày tôi càng hiểu ra mình đã nghĩ sai! Vì khoảng hơn một tháng sau đó, tôi nhận được thư của anh, trong nhiều lá thư, anh viết rất dài để tôi thấy rằng người chết trở về còn nói nhiều điều gì đó khiến anh lo âu cho cuộc sống mai sau hơn là cuộc sống hiện tại, vì có câu anh viết thế này: “… Liêu cứ tu tiếp nếu thấy hạp; riêng mình, tự liệu sức không thể nên thánh qua con đường làm ‘cha thiên hạ’… mình coi là quan trọng lắm cuộc sống sau, cuộc sống bây giờ thì ăn nhằm gì!...” . Lúc đầu tôi cho suy nghĩ đó là lập dị, nhưng chiêm nghiệm nếp sống tu luyện thực tế trong đại chủng viện và soi nếp sống của các linh mục khắp nơi, ngày tôi càng nghĩ Hiền có lý, vì chỉ cần lấy một điều sau đây ra mà nói, sẽ đủ thấy ra nhiều điều khác rất đáng suy nghĩ. 



Đó là điều không mấy ai, từ đại chủng sinh cho đến các linh mục, chịu học bài học đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu nhất do Chúa Kitô, Thầy Chí Thánh, đã ân cần dạy bảo:
 - Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng (1). 
Có phải Chúa Kitô là Vị Giáo sư trên hết mọi giáo sư hay không? Có phải bài học của Người cao siêu, trọng đại, tuyệt vời, vô cùng giá trị và vô cùng cần thiết… hơn hết mọi bài học (về thần học, tín lý, triết lý, tu đức, giáo sử, giáo luật, Kinh thánh…) hay không? 
Vậy tại sao chẳng đại chủng sinh nào chịu học, thậm chí còn không nhắc đến bài học lớn lao, cao trọng và tiên quyết ấy đến nửa lời, trong khi xuýt xoa khen ngợi, chăm chăm chú chú ghi chép giữ gìn, học đi học lại và nhắc tới nhắc lui những bài học khác do người đời giảng dạy…? Thật là một nghịch lý! Nghịch lạ kỳ quái đến chướng tai gai mắt không thể tưởng! Tôi nghĩ: chắc là thầy Hiền bỏ tu vì lý do đó (!?) 
Quả thật! Vì khinh thường, lảng tránh bài học cao vời của Chúa Kitô, nên các đại chủng sinh - sau này ra làm linh mục - luôn là những người hung dữ và kiêu ngạo, đối nghịch với những lời dạy trong bài học của Chúa; hơn nữa, trở thành những “phản-nhân-chứng-Phúc âm”. 
Tôi trộm nghĩ: Chỉ cần là một người dân bình thường, nếu chúng ta chưa biết gì về một tập thể hay tôn giáo nào đó, nhưng nhìn xem bộ phận nòng cốt của tập thể hay tôn giáo ấy biểu hiện sự hung dữ và kiêu ngạo, ắt chúng ta sẽ xa lánh ngay. Vậy nếu bộ phận nòng cốt và ưu tú của Công giáo hung dữ và kiêu ngạo, chúng ta sẽ nghĩ sao? Xa hơn, liệu chúng ta có dám đề cập việc truyền giáo nữa hay không? 
Về vấn đề này, khi giảng cho tôi về bài học của Chúa Kitô, cha sở Luca kể một câu chuyện đúng ngay vào trọng tâm. Cha kể: 
Một hôm Ông Lực lượng đến xưng tội. Ông nói:
 - Gán cho Chúng ta tội luôn rình rập cám dỗ loài người thì đúng là loài người các ông chẳng hiểu ất giáp gì! Vì loài người các ông bản chất quá cứng đầu cứng cổ! Đây! Chúng ta chỉ cho ông thấy. Ông Chúa từng dạy và nêu gương sống hiền lành và khiêm tốn, thế mà giáo sĩ các ông đã không theo thì thôi, lại còn đi ngược; từ đó khiến giáo dân đi lạc đường tất cả… Thế thì việc gì Chúng ta phải cám dỗ! Cứ ngồi xem giáo sĩ đầu mục “mù dắt mù cả hai rơi xuống hố” thôi! 
Dứt lời Ông Lực lượng cười vang với vẻ thỏa thê khoái chí. 
Quả thực lúc đó tôi rất bất ngờ trước thông tin này, và chỉ thoáng nghĩ là tôi thấy hết sự việc. Đúng là các “cố đạo” nhà mình đều hung dữ và kiêu ngạo cách này hay cách khác! 
Không dám gật đầu công nhận ngay, nhưng tôi cũng chẳng cách gì biện bạch hay tránh né. Ông Lực lượng đề nghị:
 - Muốn không? Chúng ta sẽ đưa ông đi gặp vài kiểu mẫu sống động? 
Tôi chưa kịp trả lời gì thì Ông Lực lượng rời khỏi tòa cáo giải nhanh như lúc Ông ấy đến. 
… 
Sáng sớm hôm sau, dâng lễ xong, lúc vừa bước ra cửa sau phòng thánh, tôi bỗng thấy có một người đứng chờ; thấy tôi, người ấy trao một phong thư có con niêm của tòa giám mục. Mở ra xem. Tôi quày quả về nhà điểm tâm qua loa rồi vội vã khăn áo lên đường về tòa giám mục. 
Bước vào phòng đức giám mục, tôi thấy ngài đang chờ sẵn. Ngài nói:
 - Anh Luca! Tôi nhờ anh đi CT và RG thay tôi! Có xe chờ sẵn dưới nhà. Anh đi ngay cho! 
Đứng lên như giục đi cho lẹ, đức giám mục còn trao tôi thư giới thiệu và một sơ-mi dày cộm giấy là giấy… ngài bảo:
 - Ngồi trên xe anh có giờ mà đọc hết những thứ này; đọc xong anh sẽ hiểu anh phải thay tôi làm gì. 
Ngồi trên xe - chiếc Peugeot màu mỡ gà êm như ru của đức giám mục - tôi tự hỏi: Việc gì thì việc! Còn có nhiều “đấng bậc sang cả” và giỏi giang hơn mình, sao đức giám mục lại sai mình? Ấy là vì lúc đó tôi quên biệt những gì Ông Lực lượng nói với tôi vừa mới hôm qua. 
Tôi lần lượt đọc hết những lá đơn giáo dân của họ đạo lớn ở tỉnh CT và ở vùng RG kiện hai cha sở của họ, kèm theo mỗi lá đơn là những lời đe dọa đại loại nếu tòa giám mục không hoặc giải quyết không tới nơi tới chốn, họ sẽ bỏ đạo theo Việt Cộng. 
Phần lớn thời gian còn lại ngồi trên xe tôi chỉ biết cầu nguyện xen lần chuỗi và moi cái trí khôn bé bỏng thấp hèn của mình ra mà nghĩ xem phải làm gì khi đến với hai “ông cha” từng nổi tiếng “trời ơi đất hỡi” này. 
Quá trưa tôi đến giáo xứ HG tỉnh CT. Đi vào khu vực nhà thờ được xây dựng như một khu quân sự (doanh trại quân đội), dù nhiều người nhận ra xe của đức giám mục, nhưng tôi vẫn bị chặn đi chặn lại nhiều lần mất bộn giờ mới vào được đến nhà xứ. Cha sở, bạn học cùng lớp của tôi, mặc quân phục sĩ quan với quân hàm cấp tá trông rất oai vệ, đón tôi không được vui vẻ tự nhiên như mọi khi… Có lẽ anh ta “đánh hơi” chuyện chẳng vui… khi thấy một tay “nhà tu quèn” như tôi bỗng ngồi xe đức giám mục đến đại bản doanh của anh. 
Tôi lưu lại ba ngày, nắm được tổng quát sự việc. Sự việc ấy là: cha sở lập tiểu khu tuyển thanh niên họ đạo “đi lính” để họ vừa được khỏi bị bắt quân dịch (2) vừa tự bảo vệ được giáo xứ. Nhưng như người đời đúc kết kinh nghiệm: “Quyền lực càng cao, người sẵn tính nóng càng nóng dữ”, anh bạn tôi vốn tính đã nóng nảy, nên giờ đây anh trở thành một hung thần khét tiếng khắp vùng; giáo dân kể lại nhiều việc nghe thương tâm, ví dụ mới đây anh tiện tay chộp lấy một khúc gỗ mới, to đến 10 phân vuông, đánh một anh lính đến vào quân y viện rồi tử thương luôn trong đó v.v… 
Suốt ba ngày tôi chỉ nghe mà không biết phải nói gì, làm gì. Sáng ngày thứ ba, thấy ở lại cũng chẳng ích gì, tôi ra về. Lúc bắt tay từ biệt anh, tôi nói nhỏ kiểu… vớt vát:
 - Anh biết mình đến đây không phải để thăm anh chứ? 
Cha sở-thiếu tá-bạn tôi nhướng đôi lông mày rậm như hai con sâu róm… thay cho gật đầu. Tôi nói:
 - Đồng ý chứ? 
Anh bỗng choàng tay qua vai tôi. Im lặng vài mươi giây… anh nói với giọng nhỏ như con gái:
 - Về thưa lại với “Ông già” (3) giùm: Ông già đừng lo! Mình sẽ tự thu xếp tất cả. 
Bạn tôi cho lính mang ra xe đủ thứ linh tinh quà cáp gửi “Ông già” có lẽ để… làm tin; tôi cũng được anh tặng cho một cây thuốc lá Dunhill sang trọng và một hộp quẹt Zippo mới cáu. 
Ngồi vào xe tôi nghĩ: Công vụ này là thế, công vụ sắp tới không biết ra sao đây? 
… 
Tài xế cho xe trực chỉ vùng RG không bình yên. 
Gần trưa tôi đến nơi; xe phải đi thật chậm qua nhiều chốt kiểm soát quân sự mới vào được khu vực họ đạo, giáo dân nhìn thấy xe tưởng lầm đức giám mục đến, nên tụ tập ngày càng đông dần rồi kéo nhau chạy theo xe, vừa chạy, họ vừa vung giơ biểu ngữ, miệng la lối:
 - Đả đảo cha xứ!
 - Đả đảo cha xứ ác ôn côn đồ!
 - Trả cha xứ về tòa giám mục đi!
 - Cha xứ cút đi! 
… 
Tôi cảm thấy chóng mặt, ù tai, hoa mắt. Dù rất khó khăn, nhưng xe cũng dần dần vào được trước cổng nhà xứ. Nhưng khi nhìn thấy tôi bước xuống xe mà không phải là đức giám mục, đám đông giáo dân kêu “Ồ!” lên một tiếng tỏ vẻ thất vọng. Tôi bắt tay một vài người đứng gần vừa tự giới thiệu:
 - Tôi là linh mục Luca… được đức cha sai đến. 
Đám đông giáo dân tỏ vẻ hung hăng, nóng nảy tranh nhau nói, kể, trách, chất vấn, chửi và hăm dọa… cha sở bằng nhiều lời lẽ nặng nề, số khác trao những bức thư, những tờ đơn; số đông người còn lại giương biểu ngữ “Đuổi xéo cha xứ”, “Cha xứ cút đi!”, “Cha xứ là chó sói ăn thịt chiên non!” v.v… 
Tôi không dám nói gì khi chưa gặp mặt chủ nhà. Sau một lúc bị giáo dân vây chặt để van vỉ, thuyết phục, trách móc, xỏ xiên, thách thức, hăm dọa… tôi bắt đầu bị họ dùng đến tay chân, kẻ nắm áo, người lôi kéo, kẻ xô đẩy… May mà tài xế được sự giúp đỡ của những anh lính gác gần đó dùng hết sức lực giúp tôi từ từ thoát khỏi đám đông để vào nhà xứ. 
Đón tôi bằng ánh mắt lạnh như băng và cử chỉ gượng gạo, cha xứ - thuộc lớp đàn anh - hất hàm hỏi:
 - Ông xuống đây làm gì? Bắt tôi phỏng? 
Tôi trao thư giới thiệu của đức giám mục và cố tỏ ra cứng rắn thưa lại:
 - Thưa anh! Không phải vậy! Đức cha bảo em xuống anh thì em xuống; ngài có bảo em nói gì hay làm gì đâu…! 
Cha sở nhìn tôi với ánh mắt có vẻ hơi ấm lại, sau đó ngài xé thư, đọc lướt thật nhanh rồi hơi mím môi giấu một nụ cười, mời tôi:
 - Ngồi! Ngồi đi! Tưởng mấy ông làm khó tôi chứ! 
Nói xong chìa thư đức giám mục ra cho tôi xem. Tôi cũng tranh thủ vội vàng liếc nhanh: thư chỉ có vài dòng ngắn ngủn, nét chữ lại to như con gà mái -đức giám mục thường viết thư như thế, chữ thì to kềnh, lời thì gọn lỏn-, vài dòng chữ ấy nếu tôi không lầm thì là: “Cha khỏe chứ? Luca đến chơi với cha. Liệu mà vui vẻ mí nhau!”. 
Mặc cho giáo dân la hét bên ngoài rồi tan dần, cha sở từ từ vui vẻ với tôi khi thấy đức giám mục viết thư vẫn xuề xòa, còn tôi thì chẳng mang theo bất cứ sứ mạng gì. Tuy nhiên lòng tôi vẫn ấm ức, không biết phải nói gì với giáo dân, không biết làm gì để hòa giải cha sở và bổn đạo. Buổi chiều tôi đọc hết những lá thư và các tờ đơn giáo dân dúi vào tay, vào túi áo tôi lúc trưa mới đến, tôi bàng hoàng nhận ra cha xứ đã làm nhiều chuyện kinh thiên động địa, nói chung là ngài như một lãnh chúa ở vùng này. Tôi tin vào những lá thư và những đơn thưa ấy khi nhìn thấy một điều nhỏ diễn ra trước mắt: đó là hiện tượng giáo dân chỉ đến được nhà thờ bằng một lối nhỏ duy nhất vào đúng giờ “mở cửa”, ngoài ra không ai có thể mon men đến gần nhà xứ. 
Sau hai ngày lưu lại, tôi từ biệt ra về với lòng buồn rười rượi khi thấy mình chẳng làm được điều gì cho giáo dân tội nghiệp. 
Nghe tôi kể lại mọi việc và thú tội “chẳng làm được việc gì!” đức giám mục chẳng những không nổi giận mà còn cười cười rồi nhẹ nhàng an ủi:
 - “Đem an hòa vào nơi tranh chấp”. Thánh Phanxicô đã cầu nguyện như thế! 
Trao tôi cây bút Parker ngài đang dùng:
 - Thưởng cho Luca! Đem về mà viết bài giảng! 
… 
Chẳng cần phải chờ đợi, ngay chiều hôm tôi về đến nhà, Ông Lực lượng đến “xưng tội”. Nhếch mép cười mỉa Ông ta nói như một người rất có tinh thần trách nhiệm:
 - Còn rất nhiều giáo sĩ dữ tợn và kiêu căng như vậy hoặc hơn… Họ dắt giáo dân đi ngược chiều Phúc âm. Đúng không? 
Tôi chống chế cách yếu ớt:
 - Thời buổi… chiến tranh… mọi sự đều... bất ổn… 
Không để tôi nói hết, Ông ta chặn liền:
 - Đừng xạo! Xưa nay giáo sĩ đều như thế! Làm ngược với những điều chính miệng họ rao giảng. Chúng ta đây chẳng cần gì cám dỗ. Ông không thấy à? 
Tôi có cảm giác buồn lo, giống y cái cảm giác lúc trưa khi ngồi trong phòng đức giám mục. Tôi hỏi:
 - Ông tỏ cho tôi biết tất cả chuyện này để làm gì? 
Ông Lực Lượng cười cách cay độc xong trợn mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, gằn giọng:
 - Để… nhạo… các ông!... Giả hình!... Dị hợm!...  
… 
Những lá thư sau, thầy Hiền có đề cập nhiều điều, trong đó điều làm tôi suy nghĩ nhất là: 
Sức người có hạn; mỗi người chỉ nên chuyên một việc; ai ôm đồm nhiều việc cùng lúc chắc chắn sẽ không hoàn tất việc nào. Cha ông từng dạy: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” (một nghề mà tinh xảo, ắt một đời hiển vinh); “Một nghề thì kín, chín nghề thì hở”... 
Linh mục chuyên lo việc phần hồn; nếu chuyên chú chỉ một việc ấy, việc ấy sẽ được hoàn tất mà chính linh mục cũng sẽ lành... 
Nhưng linh mục đã “coi xứ”. “Coi xứ” là việc hành chánh – đúng ra đó là việc phần hồn, nhưng từ lâu những việc phần hồn ấy đã bị hành chánh hóa, cơ chế hóa, thủ tục hóa… ví dụ lo cho trẻ em học giáo lý để lãnh nhận các bí tích v.v.; việc hành chánh (4) khiến chức linh mục trở thành một chức quan nhỏ; đã là nhân viên hành chánh, hơn nữa, đã là một viên quan thì nhiều lúc hoặc vĩnh viễn không thể giữ tác phong của một người hướng đạo tinh thần, của một người chuyên lo việc phần hồn; nói tóm, linh mục không thể giữ “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” như Chúa dạy. Từ đó nảy sinh nhiều chuyện bất ổn, trái khoáy khác không kể xiết. 



(1) Mt 11:25-30. 
(2) Bắt quân dịch: trước năm 1975, thanh niên tới tuổi 17 hay 18 phải vào quân đội theo lệnh tổng động viên; vì thế, các lực lượng cảnh sát ngày đêm lùng sục khắp nơi để “bắt lính” còn gọi là “bắt quân dịch”. Vì chiến tranh khốc liệt, nên ai đi quân dịch sẽ dễ chết, hoặc khổ vì bị đưa đi thật xa khiến cha mẹ đau xót… cho nên “bắt quân dịch” bị người dân xem là một tai họa cho gia đình. 
(3) Vì đức giám mục giáo phận sống rất có tình có tình nghĩa, nên các linh mục thường gọi bằng “Ông già” hàm ý tôn kính ngài như một người cha. 
(4) Một khi việc phần hồn bị biến thành việc hành chính, Đạo Mới Chúa Kitô thiết lập đã trở thành Đạo Cũ với quân Pharisêu là hình tượng, từ đó, giáo dân cảm thấy “ách” Chúa không còn êm ái, “gánh” Chúa không còn nhẹ nhàng; vì “hành… là chánh” nên giáo dân thường thở than với nhau: “luật đời gánh đã nặng, luật đạo còn đè nặng thêm”.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 05.06.2026 02:37:01
Kỳ 46 
 
Ai nghĩ sao thì nghĩ, phần tôi, tôi cứ nghĩ sự ngộ nhận là một căn nguyên gây nhiều hậu quả tai hại nhất; vì sự ngộ nhận dẫn dắt con người đi theo hướng lệch lạc – có khi đi ngược sự thật - đồng thời từ đó phát sinh nhiều tội lỗi. 
Có người tự ngộ nhận; có người do người khác làm cho ngộ nhận hoặc do cả một hệ thống ngộ nhận rồi kéo mình theo. Có kẻ ngộ nhận mà vô tư không biết mình đang sai lầm, nhưng cũng có kẻ biết mình đang ngộ nhận mà vẫn cứ để mặc sự ngộ nhận ấy liên tiếp xảy ra vì thấy mình đang được lợi lộc. 
Đọc Phúc âm tới chỗ Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse lên đền thờ Giêrusalem để dâng Chúa Hài Nhi vào đền thánh theo luật định, người ta thấy ngay đoạn tiên tri Simêon tiên đoán về Chúa Hài Nhi; trong lời tiên đoán ấy có một câu rất đáng chú ý:
 - …Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel phải vấp ngã hay được chỗi dậy… (1) 
Lời tiên tri trên rõ ràng đã được ứng nghiệm! Chẳng những bản thân Chúa Kitô, mà cả những lời Người dạy trong Phúc âm cũng làm cớ cho nhiều người vấp phạm hay được chỗi dậy. Vì trong khi có người tìm thấy trong Phúc âm sự sáng soi để chỗi dậy đến với Nước Trời, thì có rất nhiều người chẳng những đã không chịu mở mắt ra để thấy và chỗi dậy, lại còn bằng tà dục, “đập dập bẻ cong” Lời Chúa theo hướng kiêu căng, ích kỷ, cầu danh cầu lợi, làm cho mình và cả những người khác hiểu lầm (ngộ nhận) luôn Lời Chúa. Chính vì vậy nên thánh Gioan Tẩy Giả mới có những lời kêu gọi vô cùng thực tiễn:
 - Hãy dọn con đường cho Đức Chúa; sửa lối cho thẳng để Người đi; mọi thung lũng, phải lấp cho đầy; mọi núi đồi phải bạt cho thấp; quanh co phải uốn cho ngay; đường lồi lõm, phải san cho bằng (2) 
Dọn con đường cho Đức Chúa; sửa lối cho thẳng để Người đi” có nghĩa là đọc hay nghe và đón nhận Lời của Chúa dạy trong Phúc âm: nếu đọc hay nghe Phúc âm với lòng đã được dọn kỹ khiêm tốn, vô tư, ngay lành như thánh Gioan Tẩy Giả đã bảo, thì lập tức sẽ thông hiểu Chúa nói gì và thích thú thực hành chăm chỉ, Lời Chúa lúc này khiến họ chỗi dậy và thẳng tiến đến Nước Trời; còn ngược lại, nếu đọc hay nghe Phúc âm với lòng không được dọn dẹp – không bạt núi kiêu căng, không lấp hố tham, không sửa ý gian trá tà mỵ - như thánh Gioan Tẩy Giả đã rao thì có đọc nhiều, nghe nhiều bao nhiêu cũng sẽ chẳng hiểu, chẳng thông và chẳng biết Chúa nói gì, hoặc hiểu nhưng cắt nghĩa sai rồi đi sai và lôi kéo nhiều người cùng sa xuống vực sâu tăm tối với mình. 


May mắn cho tôi làm sao! Được cha sở Luca dạy dỗ, uốn nắn, cho nên trong những tháng ngày tuy còn học tập ở đại chủng viện, nhưng tôi đã sớm nhận ra được rằng: tu sĩ, giáo sĩ của chúng ta mắc nhiều ngộ nhận; đặc biệt những ngộ nhận về Lời Chúa trong Phúc âm (3). Với nhiều ngộ nhận lớn nhỏ, chúng ta đã đi lệch đường, rồi kéo theo những thế hệ giáo dân cùng đi lệch theo với chúng ta – phải cậy vào lòng nhân hậu Chúa tôi mới tin nổi nhiều thế hệ giáo dân vô tội vẫn được hưởng ơn cứu độ dù ngộ nhận đủ điều. 
Rõ ràng đại chủng viện không dạy, nhưng chẳng hiểu sao từng lớp từng lớp người cứ mãi theo nhau mà ngộ nhận; tôi xin kể đại khái vài ngộ nhận phổ biến như sau: 
Ngộ nhận linh mục là “cha dưới đất” trong kinh Lạy Cha. 
Ngộ nhận mình là người thánh. 
Ngộ nhận về đức tin. 
Ngộ nhận người đi tu là theo Chúa, giáo dân không phải và cũng không thể theo Chúa. 
Ngộ nhận chỉ có giáo sĩ mới là môn đệ, tông đồ, là thợ gặt, là ngư phủ đánh cá người, là men, là muối… còn giáo dân chẳng là gì hoặc chỉ là những thứ còn lại. 
Ngộ nhận ý mình là ý Chúa. 
Ngộ nhận để được rỗi linh hồn phải giữ đạo, mà giữ đạo gồm: siêng năng đi lễ, rước lễ và chịu các phép bí tích, năng xin lễ cho các linh hồn và lần chuỗi, đọc kinh hôm và kinh mai, vào hội đoàn... 
Ngộ nhận phạm đến giáo sĩ là phạm đến Chúa, gọi tội ấy là phạm thượng. 
Ngộ nhận ơn kêu gọi. 
Ngộ nhận Giáo hội là tập thể giáo sĩ gồm linh mục trở lên. 


Sau khi thầy Hiền xuất tu được khoảng vài ba tháng, trong đại chủng viện có xảy ra một chuyện nho nhỏ, nhưng cũng đánh thức được một số thầy. 
Lớp Triết Hai bên dưới tôi 3 lớp có một đại chủng sinh tên Giảng. 
Đang tu học bỗng dưng Giảng trở chứng: có những lời nói, cử chỉ và hành động bất thường không giống ai. Những biểu hiện lạ ấy ngày càng kỳ hơn cho đến một hôm, giữa đêm khuya lúc mọi người đang ngủ, Giảng thức dậy đạp đổ lung tung rồi chạy xồng xộc đi khắp nơi trong khuôn viên đại chủng viện, vừa chạy Giảng vừa la hét kèm theo hành vi xé quần xé áo, bứt tóc bứt tai. 
Sau khi vất vả đưa Giảng đến được bệnh viện, các bác sĩ giúp ổn định, khám chữa và săn sóc cho cậu ta được hơn 3 ngày thì bỗng dưng Giảng trở chứng với những biểu hiện còn lạ kỳ hơn: không ăn không uống, cặp mắt đỏ ngầu, nhìn trừng trừng, hai tay luôn khua khoắng vẽ trong không khí những hình thù khó hiểu, tự xưng mình là Hitler (4) tái thế, có lúc thuyết giảng huyên thuyên về nòi giống loài người. 
Đại chủng viện là nơi đông người; đông người thì có nhiều ý kiến; nhiều ý kiến góp lại thành sáng kiến. Sau khi kể cho các cha giáo nghe lý lịch sơ sơ: thầy Giảng là một người rất đam mê luyện võ và khí công, nhưng là luyện võ và khí công qua tiểu thuyết kiếm hiệp của tác giả Kim Dung, qua những thông tin về thần tượng võ thuật lừng danh bấy giờ là Lý Tiểu Long, và qua những thầy dạy cùng nhiều tài liệu có vẻ rất bí ẩn ngay từ khi còn ở tiểu chủng viện v.v… mọi người được các cha giáo cho phép tức tốc đi tìm một thầy võ nổi tiếng để đến thử thăm bệnh cho thầy Giảng. 
Sau khi xem xét, vị võ sư cho biết thầy Giảng luyện khí công sai phương pháp nên bị tắc huyệt và loạn khí ở thể rất trầm trọng. Vị võ sư được các bác sĩ cho phép, dành 3 ngày vừa chữa trị vừa ở kề bên theo dõi thật sát. Tuy nhiên mới sau hơn một ngày, vị võ sư cho biết mình đã làm hết sức; trước khi rút lui ông để lại một lời khuyên gây nhiều kinh ngạc:
 - Nên tìm thầy bùa. 
Ban Giám đốc hội ý rất nhanh và quyết định không mời thầy bùa, nhưng mời linh mục K., một linh mục lão thành nức tiếng thánh thiện, đến với thầy Giảng. 
Vừa thấy vị linh mục già bước vào phòng, thầy Giảng nói ngay:
 - Ta là Hitler tái thế. Làm gì được ta? Làm gì được ta? 
Linh mục K. mỉm một nụ cười hiền khô:
 - Hitler hả? Hitler hả? Quá rồi…! Quá rồi…! Đọc sách Hitler (5) nhiều quá sinh “lậm thuốc” phải hôn? 
Cuộc đấu khẩu mất đến năm ba phút, xoay quanh chỉ một việc: việc thầy Giảng mắt long lên bảo mình là Hitler còn linh mục K. cứ tưng tửng giễu cợt và phủ nhận. 
Đến một lúc giống như không còn kiên nhẫn được nữa với ông linh mục già cứng đầu, thầy Giảng nhào vô xiết cổ linh mục K. 
Với tất cả sức lực trai tráng của một anh y tá và 3 đại chủng sinh, bốn người hì hục vất vả lắm mới gỡ được tay thầy Giảng ra khỏi cổ linh mục K, đưa thầy Giảng về lại giường và giữ chặt ở đó. Sự việc tồi tệ đến như thế… vậy mà lạ thay! Linh mục K. vẫn cứ tỉnh rụi, lại còn bảo chúng tôi:
 - …Nhẹ nhẹ tay! Đừng làm thầy ấy đau tội nghiệp! 
Vuốt lại áo xống, ngồi xuống ghế, mắt không nhìn vào thầy Giảng, ngài nói với phong thái vẫn bình thản tự nhiên như chưa từng xảy ra chuyện gì.
 - Ừ thì mầy là Hitler! Khỏe vậy thì đúng là Hitler thật rồi còn gì! Được!... Nhưng mầy muốn gì? 
Thật trái ngược! Một bên thì nóng như lửa lò, dữ như “chằn tinh”, còn một bên thì nguội như hồ nước lặng, hiền như cục đất, linh mục K. đã làm cho… đến quỷ… cũng phải tức điên; rồi vì không đe nẹt gì được đành phải chịu xuống nước dịu lại và ngồi yên. Tuy nhiên thầy Giảng vẫn còn trừng trừng cặp mắt đỏ ngầu nhìn linh mục K. vừa gầm gừ trong cổ họng:
 - Tao muốn trả thù! Tao muốn trả thù!
 - Hm! Mầy muốn trả thù ai? Trả thù vì cái gì?
 - Tao muốn trả thù hết mọi người…
 - Trả thù sao được? Mầy từng giết hại quá nhiều người rồi còn gì! Mầy đã ăn tươi nuốt sống bao nhiêu triệu người Do Thái rồi còn gì! Mầy đã khiến, dễ chừng có đến, cả triệu thanh niên phải chết trong thế chiến thứ II rồi còn gì! Còn nữa, còn nhiều nữa! Làm sao có thể kể hết số người mầy đã giết hại trong các trại tập trung! (6) 
Linh mục K. nói như tuôn, không để cho thầy Giảng kịp nói. Lạ một điều! Giọng nói của ngài vừa êm nhẹ như ru chuyện, vừa có vẻ đanh thép như quan tòa tuyên án. Chúng tôi chứng kiến và thầm thán phục ngài làm sao! Tự hỏi: Ngài là người từng trừ quỷ nhiều lắm hay sao mà gan dạ, mà dày dạn, mà khiến cho quỷ phải ngồi thu lu chịu nghe một nước? Khi chúng tôi còn đang thắc mắc thì linh mục K. vẫn dịu dàng nói, nói tỉnh bơ, nói có pha trò chút ít, nói như khinh dể chẳng coi ma quỷ hay Hitler ra cái giống gì… thầy Giảng vẫn im nghe, về sau thỉnh thoảng lại còn rút chân lên giường, có lúc lùi lùi một tý vào hướng vách tường. 
Bỗng linh mục K. hỏi:
 - Mầy “gieo gió thì phải gặt bão”, còn về đây khuấy động mọi người để làm gì?
 - … 
- Nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, mầy phải trả lời, mầy trở về đây để làm gì? … 
Mãi một lúc sau thầy Giảng mới hé môi; cậu ta nói lí nhí rất khó nghe:
 - Tao về đây để tạo thêm sự ngộ nhận. 
Vừa nghe không rõ, vừa nghe chữ nghĩa không phổ thông cho lắm, nên linh mục K. gặng hỏi:
 - Mầy nói cái gì? Ngộ nhận là ngộ nhận làm sao? Ngộ nhận cái gì?... 
Thầy Giảng trả lời vẫn với giọng nói khó nghe:
 - Tao gieo nhiều sự ngộ nhận để phá hại chúng bây. Giáo sĩ sẽ ngộ nhận mình là Chúa. 
Linh mục K. quan tâm đến chuyện khác, nên ngài hỏi:
 - Nhưng sao lại nhập vào một con người trẻ tuổi vô tư chỉ biết có tu hành thế này? 
Thầy Giảng trả lời:
 - Vì tao thấy thần hồn này thích hợp với tao (7).
 - Bây giờ mầy có chịu rời xa người này không?
 - Không! Không! Không! –thầy Giảng hét to dần.
 - Chứ mầy muốn gì mà không chịu rời đi?
 - Tao muốn tiếp tục giết cho được nhiều người.
 - Đã chết rồi mà mầy vẫn còn khao khát làm chuyện đó lắm sao? Vậy thì mầy sẽ giết người bằng cách nào?
 - … 
Chúng tôi thấy câu hỏi nào âm hồn Hitler khó trả lời thì hắn im. Linh mục K. nói tiếp:
 - Mầy phải rời xa người này! Không có cách nào khác. Người này đang đi theo Chúa… 
Thầy Giảng vừa nghe xong chữ “đi theo Chúa” thì rú lên một tràng cười nghe hơi lạnh sống lưng; cười đã đời xong cậu ta nói:
 - “Đi… theo… Chúa” à? Ngộ nhận! Sai lầm! Láo khoét!
 - Tại sao là ngộ nhận, là sai lầm, là láo khoét?
 - … (8)
 - Thôi thì mầy cũng phải chừa đừng nhập vào những người tin Chúa, vì… 
Linh mục K. chưa dứt lời, thầy Giảng lại cười rú lên và nói:
 - Ngộ nhận! Sai lầm! Láo khoét nữa! (9) 
Linh mục K. nói:
 - Ừ thì mầy biết hết rồi còn gì! Biết như một người đắc đạo Phúc âm vậy! Thôi đủ rồi! Mầy rút lui đi! Càng ở lại càng chuốc thêm oán ghét mà thôi! Trước kia cũng tại mầy mà ngày nay ra nông nỗi. Việc mình làm sao mình lại muốn đổ trút trên đầu người không liên can? Mầy hãy đi đi! 
Linh mục K. đứng lên với dáng vẻ cương quyết. Ngài tiến đến gần thầy Giảng vừa giơ cây thánh giá ra vừa nói:
 - Rút đi ngay! Tao và mọi người không muốn mầy ở lại đây nữa! 
Khi cây thánh giá gần đến người thầy Giảng thì cậu ta ngã vật xuống giường, giãy giật lên mấy cái rồi nằm im. Linh mục K. đặt thánh giá vào môi cậu, đặt lên trán, lên người cậu. Thầy Giảng nằm im và từ lúc đó ngủ một mạch cho đến sáng hôm sau. 
Thật là dễ dàng! Thật là êm thắm! 
Khỏi phải nói, chúng tôi thuật đi thuật lại cho nhau nghe đến mỏi cả miệng, kèm theo là sự ngưỡng mộ linh mục K. không thể tưởng! Chúng tôi, tuổi trẻ hăng như ngựa non, còn rủ nhau bầy đoàn… kéo đến chỗ ở của ngài. Đến để biết ngài sống khổ hạnh. Nhìn ngoài nhà xứ thì cũng tươm tất như mọi nhà xứ, nhưng vào đến phòng riêng của ngài thì mới thấy quá sơ sài, giản dị. Chợt nghĩ cha Luca cũng thế! Hình như vị nào có ân đức cao dày thì không cần gì nữa thì phải. Khi chúng tôi hỏi:
 - Thưa… cha làm cách nào mà quỷ sợ đến riu ríu vâng lời một nước? 
Linh mục K. đáp:
 - Có đức tin thật… 
Ngài giải thích ngay:
 - Đức tin thật là thực hiện lời Chúa dạy… cho đến nơi đến chốn. 
Linh mục K. còn khuyên chúng tôi:
 - Phải biết sợ điều này: Ai cũng có thể bị ma ám quỷ nhập bất kỳ lúc nào, chỉ là nhiều hay ít, nặng hay nhẹ, lâu hay mau, thấy được hay không nhận ra… Giết người, cướp của, “đánh vợ đợ con”, mưu hại hàng xóm, ăn gian nói dối, kiêu ngạo bạo ngôn… đều có thể là những cơn ma ám quỷ nhập mà ta không hay biết. 
Linh mục K. nói không khác gì cha sở Luca:
 - Quỷ không phải là một nhân vật cụ thể cho bằng một thể chất. Khi các anh tàn độc, gian manh, ngạo mạn, ích kỷ, ngộ nhận… các anh đã có chất quỷ trong mình rồi vậy. 



Thật là một chuỗi những bài học quý giá! 
Câu chuyện trên chỉ động đến vài điều như ngộ nhận về quỷ ám, về việc “đi theo Chúa”, về đức tin mà thôi, nhưng từ đó, tôi thấy ra được người Công giáo chúng ta còn ngộ nhận rất nhiều điều. Mọi ngộ nhận phải có nguyên nhân, nguồn gốc. 



(1) (Lc 2:22-35) 
(2) (Lc 3:1-6) 
(3) Thời này rất khó tìm mua được sách Phúc âm, nếu được thì giá khá cao so với túi tiền của các đại chủng sinh vì Giáo hội Công giáo lúc bấy giờ không tha thiết lo chuyện đó, cho nên các đại chủng sinh thường tìm đến các Hội thánh Tin Lành để xin, vì họ ấn hành sách Phúc âm cách đại trà để bán rẻ hoặc sẵn sàng biếu không. 
(4) Adolf Hitler (1889-1945) Quốc trưởng của Đức quốc xã với chế độ phát xít cực kỳ tàn bạo; là tên đồ tể sát hại khoảng 6 triệu người Do Thái cùng một số nhóm chủng tộc, tôn giáo, chính trị khác; cuộc Đại đồ sát dân Do Thái có tên là Holocaust; hắn đẩy nhân loại đến thế chiến II khốc liệt để cuối cùng thua nhục và cùng vợ tự sát. Những gì Hitler đã làm hoàn toàn là tàn ác đến độ hắn được mệnh danh là con quỷ. Thực vậy; hắn kéo tụt quá trình phát triển của nhân loại trong một thời gian dài. 
(5) Những năm đó, các nhà sách bày bán nhan nhản hàng loạt rất nhiều sách viết về Hitler khai thác trí tò mò của mọi người để thu lợi, khiến các nhà luân lý lúc đó phải hoảng hốt kêu lên: “Người ta đang đầu độc xã hội”. 
(6) Trại tập trung thời Phát-xít Đức, Hitler dùng để thực hiện cuộc Đại đồ sát dân Do Thái từ năm 1933 đến 1945. 
(7) Linh mục K. sau này có dịp đã giải thích cho chúng tôi về việc này tóm trong một lời khuyên: “Có 3 trường hợp khiến cho ma quỷ và các âm hồn xấu dễ ám nhập:
 - Một là đã tin Chúa, nay lại không tin Chúa nữa.
 - Hai là tinh thần hoảng loạn và yếu đuối vì lý do gì khác.
 - Ba là tin theo ma quỷ hoặc có tinh thần giống ma quỷ theo luật “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu” 
Vậy cứ luôn tin Chúa, tin cách mạnh mẽ thì chẳng quỷ ma nào ám nhập được”. Ngài còn nói đùa: “Kẻ tin Chúa mạnh mẽ có muốn cũng không thể gặp ma nữa là…”. 
(8) Sau này linh mục K. bảo rằng, theo Chúa là khi nào thực hiện Lời Chúa dạy: anh dũng bỏ ý riêng để sống yêu thương tha nhân. Làm đúng như vậy thì người giáo dân nghèo, khổ, tật, bệnh… đều có thể theo Chúa, vì Chúa kêu gọi mọi người theo Chúa. Hitler mắng ngài “ngộ nhận, sai lầm, láo khoét” là đúng. Dù không chắc âm hồn nhập vào thầy Giảng có phải là Hitler hay không, nhưng sự hiểu biết đó không phải của những âm hồn tầm thường thất học. 
(9) Linh mục K. còn giải thích thêm: “Nó mắng mình vậy là đúng, vì tin Chúa là làm theo lời Chúa qua sống bác ái yêu thương, không làm theo lời Chúa là đức tin giả, đức tin môi mép”.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 06.06.2026 00:31:28
Truyện đăng dài kỳ trên Nguyệt san Thánh Nhạc Ngày Nay
 
Kỳ 47  

Dân gian có câu nói tục mà thanh, nghĩa là câu chữ nghe thô, nhưng ý nghĩa có chất triết lý nhìn dưới nhiều góc cạnh. Câu nói ấy là: “Làm người có tột đỉnh tứ khoái là ăn, ngủ, đ., ỉ.”. Thực chất đó là 4 nhu cầu thuộc bản năng động vật. Ăn là nạp năng lượng để nuôi sống thể xác… nhưng mang lại rất nhiều cảm giác thích thú vì hành vi ăn động viên nhiều cơ quan trong con người cùng làm và cùng khoái theo. Ngủ là nhắm mắt nghỉ ngơi để phục hồi thể xác nhất là não bộ và phục hồi cả tinh thần… nhưng còn mang lại nhiều cảm khoái vì hành vi này “xả stress” cho hết mọi cơ quan trong người. Đ. là nam nữ giao phối để sinh sản con cái mà lưu truyền nòi giống… nhưng mang lại sự sung sướng tột đỉnh gọi là cực khoái đồng thời thỏa mãn nhiều mặt khác nữa vì hành vi này làm cho mọi cơ quan trong con người đều được sung sướng chứ không phải chỉ một bộ phận nào đó mà thôi. Ỉ. là đại tiện tức xả thải cho thân xác… nhưng đem lại cảm giác thích thú của sự phóng thích cặn bã trong con người ra bên ngoài vì hành vi này mang lại cảm giác sạch sẽ cho nhiều cơ quan trong con người. 
Ở các loài động vật khác, đó chỉ đơn thuần là 4 nhu cầu bản năng; những nhu cầu này cần phải được giải quyết nhanh gọn, hồn nhiên đến thô bỉ, ở bất cứ nơi đâu và không có gì phải e thẹn, lén lút… nhưng ở loài có trí năng và tâm hồn như con người, 4 nhu cầu này được giải quyết khác hẳn: có nhu cầu được giải quyết cách công khai ồn ào, có nhu cầu được giải quyết cách kín khéo v.v… tuy nhiên tất cả mọi giải quyết đều có tính chất thông minh, có văn hóa, đúng chỗ và đúng lúc đặc biệt là có suy tính đến độ không ngừng ngày càng nâng cao, biến thành 4 niềm cảm khoái; thậm chí có cái còn được nâng lên cao hơn nữa đến biến thành nghệ thuật (1) đã vậy còn đi kèm với biết bao công cụ hỗ trợ, ví dụ nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật tính dục (ví dụ trên bức tường của một đền thờ Ấn giáo có bức tranh điêu khắc mô tả đến 3.000 tư thế giao phối)… 
Ở giới tu sĩ giáo sĩ, vì các nhu cầu khác bị khéo giấu hoặc bị tránh lánh, nhu cầu ăn uống được phát huy tối đa dường như để bù qua sớt lại. Chính vì thế, hàng giáo sĩ và một số đông tu sĩ (hiện nay thì trong nhiều nhà dòng) từ hồi giờ đặc biệt chú trọng đến nhu cầu ăn uống, dẫn đến việc họ ăn uống dồi dào và sang trọng. Không ai có thể phủ nhận điều này bởi vì nghe thấy hoặc chứng kiến nhiều hiện tượng. Xin tạm kể 3 hiện tượng mọi người nghe và thấy nhiều nhất: 
Hiện tượng 1: Bất kỳ sau một thánh lễ (trừ thánh lễ hằng ngày) đều có ăn uống; thánh lễ đồng tế càng đông ăn uống càng lớn. 
Hiện tượng 2: Các linh mục ở giáo xứ mỗi tuần tham dự ít nhất vài tiệc, tiệc của giáo dân trong giáo xứ, tiệc của thân nhân nơi khác, tiệc của bạn bè linh mục nào là tiệc lễ mở tay (2), tiệc lễ kỷ niệm 4, 5, 6, 7, 8… năm linh mục, tiệc lễ bạc, tiệc lễ vàng, tiệc bổn mạng luân phiên, tiệc đặt viên đá, tiệc khánh thành, tiệc an táng, tiệc giỗ kỵ… và còn bao là thứ tiệc khác không thể kể hết; tiệc nhiều đến nỗi mọi linh mục đều phương phi ra ngay sau chỉ vài tháng “làm linh mục”, đồng thời rất nhiều linh mục mắc những chứng “bệnh nhà giàu” như: tiểu đường, gout, cao huyết áp, tim mạch, mỡ trong máu, gan nhiễm mỡ… 
Hiện tượng 3: Đa phần các linh mục đều biết uống rượu, một số không nhỏ uống rượu thiện nghệ như dân nhậu chuyên nghiệp, sành rượu như giới đại gia, tửu lượng cao thuộc hàng “đệ tử lưu linh”(3), có vài linh mục chết vì nghiện rượu. 
Nói về việc ăn uống của giáo sĩ và tu sĩ, tôi có 2 chuyện kể. 
Chuyện thứ nhất. 
Năm 1972, khi tôi đang giúp xứ ở họ đạo Cao Đằng, cha sở là người luôn bỏ họ đạo đi chơi xa suốt tuần, để mặc tôi, một thầy giúp xứ, ở nhà giải quyết nhiều việc trong đó thường xuyên dạy giáo lý tân tòng và giáo lý hôn nhân; dạy xong đúng ngày thì tự động đi mời linh mục nào đó thường là ở chủng viện, đến rửa tội, dâng lễ cưới… khi mọi sự đã xong đâu vào đấy, tôi phải thay mặt cha sở đến nhà đám dự tiệc cưới. 
Một lần kia, nhân đám cưới một cô gái họ đạo lấy tân tòng gốc Phật giáo; sau lễ cưới ở nhà thờ, tôi bắt buộc phải đến dự tiệc cưới vào ban trưa. Tiệc bắt đầu được năm mười phút, thình lình có 2 vị sư mặc áo vàng bước vào chúc mừng đôi tân hôn; sau khi chúc mừng xong, 2 vị sư thấy tôi mặc áo dòng đen (4) ngồi lù lù ở gần đó, họ tiến đến chào. Sau khi đã trao đổi xã giao với nhau năm ba câu xong, tôi lịch sự đứng lên tiễn họ ra cửa; vị sư trẻ chắc tầm cỡ tuổi tôi với phong thái thông minh sắc sảo bất ngờ hỏi tôi một câu:
 - Thầy cũng dùng tất cả mọi thứ như người đời thì sao gọi là tu? 
Vị sư già đi bên cạnh thúc cùi chỏ vị sư trẻ để ra hiệu nhắc nhở, rồi thay mặt tôi, vị sư già trả lời:
 - Mô Phật! Mỗi đạo có một cách tu khác nhau ấy mà! Có gì đâu! 
Vị sư trẻ láu lỉnh với vẻ ngứa miệng bất chấp sự nhắc nhở, chắp tay lên ngực và lim dim đôi mắt, vừa xá tôi lia lịa miệng vừa nói:
 - Thiện tai! Thiện tai! Tu giả! Tu giả! (5) 
Vị sư già miệng vừa kêu liên hồi “mô Phật“ tay vừa thân mật nắm lấy tay tôi với vẻ thay cho lời xin lỗi và an ủi. Cả hai xá xá rồi ra đi. 
Từ đầu đến cuối cuộc trao đổi ngắn ngủi, tôi không có cơ hội kịp nói lên điều gì; mà nói cho ngay! Giả như có cơ hội tôi cũng chẳng biết phải nói gì vì trí khôn tôi vốn không được linh lợi. 
Về nhà càng nghiệm càng đau; đau điếng cả một thời gian dài. 



Chuyện thứ hai. 
Vì bị nhiều di chứng của bệnh sốt rét rừng hành hạ, nên tôi tìm đến với dưỡng sinh Thái cực quyền (vào thời điểm 1983 đó là phong trào). Không lâu, tôi được cử làm phụ tá cho huấn luyện viên; một thời gian sau, lại được cử đi học khóa đào tạo huấn luyện viên và rơi vào tầm ngắm của võ sư Tô Thiếu Kiệt người Tàu. Trong thời gian học võ Đường lang với ông, các bạn đồng môn lôi kéo tìm học nội công với vị võ sư danh tiếng trọng tuổi. Sau vài tháng, các bạn đồng môn lần lượt bỏ học, để lại chỉ mình tôi thụ giáo suốt 9 năm với vị thầy vừa uyên bác kiến thức, vừa uyên thâm tri thức. Trong 9 năm, tôi được thu huấn nhiều bài học tu đức vô giá. 
Một hôm trước khi dạy về phép tiết dục để luyện khí, biết tôi đang là tu sĩ Công giáo, thầy hỏi:
 - Bên Công giáo, quý linh mục và tu sĩ làm cách nào để tiết dục? 
Vừa nghe xong câu hỏi, tôi biết ngay mình sẽ không có câu trả lời, bởi vì học suốt 8 năm tiểu chủng viện, 8 năm đại chủng viện, cộng với gần mười năm chờ đợi xin được chịu chức linh mục… có bao giờ tôi được học cách tiết dục? Còn không được nghe nhắc đến! 
Suy nghĩ vài mươi giây, tôi trả lời thầy một cách gọi là để vớt vát thể diện:
 - Thưa thầy! Có 2 cách: Cầu nguyện và tránh xa “dịp tội”.(6) 
Ông thầy với đôi mắt hiền từ và bao dung, nhìn tôi một lúc rồi nói:
 - Bên Phật giáo cũng dùng 2 cách đó… 
Nói đến đó thầy im lặng. Tôi có cảm giác thầy tránh nói ra một điều gì đó làm tôi ngượng ngùng. 
Một lúc sau, giống như đợi cho câu chuyện lắng xuống, thầy dạy:
 - Thân xác và tâm hồn là đôi bạn tri kỷ, muốn gì thì cả hai phải cùng làm mới mong đạt được ý muốn. Vậy muốn tiết dục, chỉ tụng kinh và tránh xa “dịp tội” là mới chỉ tiết dục tâm hồn; phải kèm theo việc ăn uống có tiết chế và thiền tịnh (7) mới tiết dục được cả con người. Người ta còn dùng rau răm để khống chế sự cường dương của phái nam vào mỗi buổi sáng, hay thực hiện bài tập sau đây… 
Lúc ấy tôi mới hiểu được, tu sĩ các đạo khác ăn chay trường để tiết dục; trong khi các linh mục tu sĩ ăn uống “thả giàn”, đã vậy lại còn uống bia rượu… thử hỏi năng lượng dồi dào từ thịt và rượu, cùng các gia vị đi kèm, sẽ dùng vào việc gì? 
Trả lời câu hỏi ấy cũng là trả lời rằng các linh mục tu sĩ “cầm tù” linh hồn mà thả rông thể xác thoải mái muốn làm gì thì làm. Tiết dục như thế là không tưởng! 



Khi còn ở Long Thạnh, tôi có kể trường hợp ông Ba Búa chuyên nghề làm thịt chó, ông đi đến bất kỳ nơi đâu thì từ xa nhác thấy bóng, ngửi thấy hơi ông… mọi con chó trong một vùng một bán kính rộng đều sủa ầm lên với vẻ tức tối… sủa lớn và sủa dai đến nỗi ông đã đi khuất xa và lâu rồi chúng mới chịu dần dần “nguôi giận” bằng cách sủa lục ục trong họng như vẫn còn tức lắm, kèm theo nét mặt như muốn nói: “Đồ yêu tinh! Nếu còn ở đây tôi còn sủa nữa cho mà biết!” Dân cả vùng này mỗi lần thấy thế ai cũng phì cười. Tôi hỏi Tư Cô tại sao có hiện tượng ấy, Tư Cô giải thích:
 - Tất cả do trường năng lượng. Chỉ cần em giận ghét ai, năng lượng xấu từ em phóng ra bao trùm người ấy dù người ấy ở xa; nếu có thêm những lời nguyền rủa đi kèm, năng lượng càng xấu và càng tác hại hơn nữa. 
Tôi hỏi thêm:
 - Như vậy những lời cha mẹ rủa sả con cái có làm hại chúng không?
 - Có! Có chứ! Ghim ghét thôi đã đủ gây hại, nói chi đến rủa sả! 
Tôi kêu thầm trong bụng: “Lạy Chúa! Thảo nào Chúa dạy hãy cầu nguyện cho kẻ thù (8). Thảo nào chửi rủa hoài người xấu chỉ khiến họ ngày càng xấu hơn”. 
Tôi thắc mắc:
 - Ông Ba Búa đi đến đâu chó cũng sủa…
 - … là do năng lượng căm hận, uất ức, sợ hãi, đớn đau… của những con chó bị ông ta sát hại luôn bao phủ ông ta… loài chó là loài có khả năng “thấy được” những năng lượng đó. 
Tôi đi xa hơn:
 - Hình như ăn nhiều thịt chó cũng bị tương tự.
 - Không phải chỉ ăn thịt chó! Ăn nhiều thịt động vật khó lường được rằng sẽ có lúc ăn luôn cả những năng lượng xấu như sợ hãi, giận dữ, uất hận, tức tối, căm thù, bi thương… do chúng phát ra khi bị giết thịt. 


Tôi còn một câu chuyện khác để kể: 
Khi còn ở An Biên, có lần cha Luca dắt tôi đi thăm một linh mục ở một họ đạo nằm trong thành phố. Cha con choáng ngợp trước khung cảnh nhà xứ nguy nga. Cha sở mời cha Luca “ăn trưa đạm bạc”. Tuy cha sở ấy nói “ăn trưa đạm bạc” nhưng khi ăn xong tôi nghĩ thầm bữa ăn này phải nói là “ăn trưa bộn bạc” mới đúng! Vì có tới 7 món ăn ngon lành và quý hiếm chưa kể món tráng miệng là món gây bỡ ngỡ cho tôi vô cùng. Nói ra xấu hổ! Được dịp, tôi đã ăn “đến nơi đến chốn”. 
Ra về, tôi hỏi cha Luca:
 - Thưa cha! Tại sao cha chỉ ăn qua loa? 
Cha Luca trả lời đơn giản:
 - Cha không thấy đói con ạ! 
Trả lời xong ngài nói sang chuyện khác ngay. 
Về nhà vài hôm sau, trong câu chuyện gì đó… cha Luca dạy tôi:
 - Cha X có lý do gì thì cha không biết, nhưng với cha, ăn như thế thì năng lượng dùng vào đâu cho hết? Thế là bản năng được dịp nổi loạn, dục tình dấy lên… 
Lúc đó tôi chưa hiểu ra, vì tuổi trẻ cần năng lượng để tăng trưởng, để cung cấp cho sự năng động; sau này tôi dần hiểu ra cần phải biết ăn gì và ăn làm sao… nhất là phải hiểu việc ăn uống có thể làm hại linh hồn và trí năng con người. 
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đi với bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy” trong trường hợp này nghĩa là nếu coi trọng việc ăn uống, suốt ngày và mọi việc… người ta cũng chỉ nghĩ được đến đó mà thôi. 



(1) Nghệ thuật có 3 đặc tính: a/ hoạt động, b/ khéo léo, c/ có ý đồ. 
(2) Lẽ ra, vì tự cho mình là môn đệ của Chúa Kitô, thì linh mục nên bắt chước Thầy, tức cũng vào sa mạc hoang vắng, ăn chay 40 đêm ngày để tĩnh tâm trước khi bắt đầu ra hoạt động công khai. Đàng này bắt đầu “làm linh mục”, và đánh dấu mọi chặng đường “làm linh mục” luôn bằng cỗ tiệc. 
(3) Lưu Linh (tự Bá Luân), một trong bảy hiền sĩ đời nhà Tấn bên Tàu, tức là vào thời Tư Mã Chiêu con của Tư Mã Ý trong truyện Tam Quốc. Bảy hiền sĩ thường tụ tập trong rừng trúc ở Sơn Dương, cùng uống rượu, ngâm thơ, gảy đàn, nói chuyện triết học Lão Trang nên được mệnh danh là nhóm Trúc Lâm Thất Hiền. Riêng Lưu Linh hay uống rượu, nổi tiếng về rượu hơn hết trong Trúc Lâm Thất Hiền, uống rượu bao nhiêu cũng không say. Ngày nay ai uống rượu nhiều hoặc say sưa tối ngày đều được gọi là “đệ tử Lưu Linh”. 
(4) Ngày xưa linh mục tu sĩ ra ngoài đều nghiêm chỉnh mặc tu phục giống như tu sĩ các đạo khác ngày nay. 
(5) “Thiện tai” là tiếng lóng bên nhà Phật hàm nghĩa mong cho tai ách trở nên tốt lành. Chữ “giả” vừa có nghĩa là “người” (ví dụ: học giả, diễn giả, độc giả), vừa có nghĩa “ấy là…”, quái ác thay lại còn vừa có nghĩa là “dỏm”, “không có thật” nếu muốn chơi chữ; vì vậy “tu giả” vừa hàm nghĩa khen ngợi “người tu”, “ấy là người tu”, “người tu đây mà”, đồng thời vừa có nghĩa mắng mỏ “đồ tu dỏm!”. Trong trường hợp này chỉ có thể hiểu câu “Thiện tai! Thiện tai! Tu giả! Tu giả!” theo nghĩa không tốt. 
(6) “Dịp tội”: là từ ngữ nhà đạo do các cố Tây cố Việt thời xưa đặt ra để chỉ những nguyên cớ gây cho ta phạm tội, ví dụ nghe nói lời tục tĩu, nhìn trộm cảnh khỏa thân hay làm tình… là nguyên cớ gây cho ta thèm muốn dẫn đến hành động tính dục ngoài hôn nhân. 
(7) Có 2 lối thiền: thiền tịnh là ngồi yên; thiền động là đi bài Thái cực quyền hay làm những động tác Yoga… 
(8) Chúa phán: “Anh em đã nghe luật dạy xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” (Mt 5:21-23). “Còn thầy, Thầy bảo: Hãy yêu kẻ thù và hãy cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con” (Mt 5:44).
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2026 03:02:55 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 07.06.2026 00:15:53
Kỳ 48 


Nói về việc đi chùa tu, ông bà xưa dạy: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu”, ý nói muốn tu thì chỉ cần ở nhà chuyên chăm hiếu thảo với cha mẹ là đủ, không cần đi tu (1). Đánh giá về đời sống tu, người xưa đúc kết kinh nghiệm: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ thứ ba tu chùa”, ý nói tu tại gia là đời tu khó nhất, do phải giáp mặt luôn với người trong nhà thì khó mà bác ái, nhịn nhục… tu ngoài chợ là đời tu dễ hơn một bậc do đối diện chốc lát với những người xa lạ có bác ái, nhịn nhục… cũng dễ hơn; còn tu ở chùa là đời tu dễ nhất do ở cùng những người đồng tâm lo việc tu sửa, bác ái và nhịn nhục… với họ dễ như chơi. Nói về hiệu quả của việc tu, cổ nhân chỉ rõ: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, ý nói muốn làm việc đại sự, phải khởi từ việc “tu thân” (sửa mình), thiếu nó sẽ không thể được. Ba câu trên, cùng nhắn nhủ muốn đi được đường dài phải chăm lo từng bước nhỏ. Đường dài là làm việc lớn, bước nhỏ là tu sửa bản thân.
Ba câu trên đều nói về tu; vậy tu là gì? – Là sửa (2). Vì tu là sửa, mà sửa là hành vi của kẻ khiêm tốn, chân thành; sửa còn là việc diễn ra trong âm thầm, kín đáo, lặng lẽ –không ai đánh trống la làng cho mọi người biết mình đang sửa; cũng không ai đem việc sửa chữa ra giữa đường giữa xá, bày biện công khai- sửa xong thì tốt hơn chưa sửa; người sửa là người rất mực quyết tâm, chịu đựng, nhẫn nhịn, không lên mặt hoặc cao giọng dạy đời… 


Vì vậy tôi nhận ra mình đã đi hết quãng đường tiểu chủng viện 8 năm, đại chủng viện 8 năm và nhất là mất thêm 17 năm để xin lãnh chức linh mục… mà chưa được ai dạy cho biết mình đang tu, tu là sửa mình, sửa mình làm sao, sửa đến đâu, sửa để làm gì, cần phải cật lực tu sửa mỗi ngày liên tục và thái độ của người đang tu sửa ra sao. 
Lúc còn ở tiểu chủng viện, mọi tiểu chủng sinh đều có chung một linh mục làm linh hướng. Vị này lo việc tĩnh tâm hằng tháng, giải tội hằng tuần, huấn đức hằng ngày (3), tư vấn cho chủng sinh nào có vấn đề nội tâm, cố vấn cho ban giáo sư trong việc quyết định chủng sinh nào đó tu tiếp hay hồi tục... 
Ở đại chủng viện thì khá hơn, mỗi đại chủng sinh được tự do chọn cho mình một cha giáo làm linh hướng; vị linh hướng này có nhiệm vụ mỗi tháng tiếp “con linh hồn” một lần đến gặp để trình bày “việc linh hồn”, cố vấn ban giáo sư để có quyết định phù hợp mỗi khi “con linh hồn” sắp lãnh chức nhỏ chức lớn. Sau khi “con linh hồn” chịu chức linh mục, các vị linh hướng hết việc với người đó. 
Như vậy có thể nói các vị linh hướng ở tiểu, đại chủng viện chỉ là những vị “linh hướng công cộng”, bởi vì vị linh hướng đúng nghĩa (4) phải:
 - Là người thông thạo tu đức cách trổi vượt.
 - Là người dày dạn kinh nghiệm tu đức hơn người, thậm chí đang sống thánh.
 - Là người hướng đạo với 3 nhiệm vụ: Chỉ đường tốt nhất và ngắn nhất “hợp khẩu vị” của “con linh hồn”. Cùng đi và cùng đến nơi với con linh hồn. Sau cùng là biết và dạy cách giải quyết vấn đề, tiên liệu mọi khó khăn, ứng phó mọi tình huống trên đường tu cho “con linh hồn”. 
Cho nên nói các vị linh hướng ở tiểu, đại chủng viện là những vị “linh hướng công cộng” là nói có cơ sở. 
Từ đó các tiểu, đại chủng sinh đều không biết tu; dần dần mất ý thức tu; việc tu tập chút ít trong chủng viện của họ chỉ là việc tu sửa tính nết cho đúng một thứ tiêu chuẩn rất chung chung; tiêu chuẩn ấy được tóm gọn trong cụm từ “hạnh kiểm tốt”. Do vậy mà khi đạt xong mục đích (làm linh mục) mọi việc kể như xong, không còn gì phải “tu với tác” nữa; chẳng lạ gì họ còn đầy dẫy những tính xấu như mọi người. Tóm lại, chủng viện chỉ đào tạo cán bộ tương tự như học viện hành chánh đào tạo cán bộ công quyền, trường võ bị đào tạo sĩ quan chuyên nghiệp… không thể nào gọi là tu đích thực? 
Vì linh mục không được dạy tu đích thực nên không biết tu thì cũng chẳng phải là người tu đích thực. Tu đích thực là sửa mình theo Phúc âm. 
Biết vậy nhưng không thể trách, do chức vụ, công việc lẫn lối sống của linh mục hoàn toàn không thích hợp để tu sửa đích thực, nên dần mất ý thức tu là sửa. 
Vào dịp tết năm thần học II, về ghé thăm cha Luca, trong lúc rảnh rỗi, tôi hỏi:
 - Thưa cha, giới linh mục có thật tu không ạ? 
Vừa nghe tôi hỏi, cha sở Luca im bặt một lúc lâu, sau đó ngài hỏi:
 - Tại sao con hỏi như vậy? 
Tôi trả lời:
 - Thưa vì một hôm tình cờ thấy trong từ điển giải nghĩa “tu” là “sửa”, con ngẫm nghĩ mình có tu, nhưng không có sửa; như vậy đâu phải là tu thật. Nhìn quanh, con cũng thấy tương tự như thế nên hỏi cha cho biết vậy thôi. 
Cha Luca giải thích:
 - Ai sửa mình hằng ngày theo Phúc âm, ấy là người tu thật dù người ấy có mặc áo nhà tu hay không. Con cứ lấy đó làm thước đo để biết xem ai tu thật, ai không tu thật. 
Tôi đáp nhanh:
 - Con đã đo rồi! Chẳng có được mấy người thực tu!  
Cha Luca gật đầu:
 - Đó là tất cả vấn đề! 
Cha Luca nói đến đó rồi thôi, không đề cập gì nữa. Thấy cha không nói tiếp, tôi không dám hỏi thêm. Đến hè năm đó, tôi ghé thăm cha và đặt lại vấn đề cũ:
 - Thưa cha, con muốn tu thực sự. 
Lúc đó cha Luca và tôi đang ngồi ở bàn ăn trong gian bếp nhà xứ, cha đi vào kho lấy ra một đoạn dây thừng ngắn; cha bảo tôi cầm một đầu dây, còn cha cầm đầu kia của đoạn dây, rồi cha bắt đầu ví dụ:
 - Con khởi đầu tập nhỏ bé ở đầu dây này và kết thúc bằng bác ái ở đầu dây kia. Con hiểu không? 
Tôi lặp lại:
 - …Đầu dây là nhỏ bé, cuối dây là bác ái... Nhưng tại sao nhỏ bé có thể biến thành bác ái thưa cha? 
Cha Luca ôn tồn giải đáp:
 - Rồi con sẽ hiểu! Đây cha nói tiếp: Để nhỏ bé, con có 2 phương pháp Chúa Kitô dạy, một là hiền lành hai là khiêm nhượng trong lòng. Muốn hiền lành con phải khiêm nhượng, muốn khiêm nhượng con phải hiền lành. Với 2 phương pháp đó, con sẽ mau chóng trở nên nhỏ bé. 
Tôi nôn nóng:
 - Rồi làm sao… bác ái? 
Cha Luca phì cười vì sự nóng nảy trẻ con của tôi:
 - Khi đạt đến nhỏ bé, con sẽ lập tức thấy ngay bác ái. Nói cách khác, chính con là bác ái. Bác ái lúc đó không phải là cái gì bên ngoài con, nhưng nó là chính con giống như Thiên Chúa là Tình yêu vậy. 
Chờ cho tôi thâm nhiễm xong, cha Luca mới nói tiếp:
 - Thiên Chúa nhỏ nhất cũng vừa vĩ đại nhất. 
Nói đến đó cha Luca nối hai đầu dây lại thành một vòng tròn, ngài thuyết minh:
 - Khi đã đến nước này rồi, nhỏ bé là bác ái, bác ái là nhỏ bé… chẳng còn ranh giới, chẳng còn phân biệt đâu là đâu nữa. 
Tôi hỏi:
 - Thưa cha! Còn những nhân đức khác như quảng đại, nghèo khó, trong sạch, công bình, nhân hậu…? 
Cha Luca giơ đoạn dây thừng lên cao:
 - Nằm cả ở trong này. Đó chẳng qua là tên gọi để biệt phân. Biệt phân là lối dạy sơ yếu bước đầu đối với những ai chưa biết gì. 
Tôi hối hận với câu hỏi vừa xong. Nhưng thôi! Có như vậy sự hiểu biết mới thêm chắc chắn. 
Không đợi cho tôi hỏi tiếp, cha Luca mở rộng thêm tầm nhìn:
 - Nhưng điều gì xảy ra nếu con tu sửa thật sự như thế? 
Tôi trố mắt nhìn cha Luca; ngài chậm rãi nói:
 - Con phải trả giá đắt! Quá đắt là đàng khác! Chính vậy mà “gọi thì nhiều, chọn thì ít” (5); người đi tu đông, kẻ thực tu ít. Lại còn phải trả giá quá đắt ngay từ đầu mới bước vào, vì để nhỏ bé, con sẽ mất tất cả, thậm chí cả nhân phẩm, nhân quyền, công lý… 
Cha sở Luca còn nói tiếp, nhưng tôi mãi lo sợ, nên không nhớ hết những điều sau đó. 
… 
Trở về nhà, rồi trở về đại chủng viện tôi suy nghĩ liệu mình có tu nổi không. Tuy nhiên lúc còn đang trăn trở, bỗng xảy ra một chuyện mà tôi tin mình không thể nào quên. 
Đó là trong đại chủng viện, lớp thần học III được xếp 4 người một phòng. Trong phòng tôi có một anh bạn tên Đổi hầu như một tuần có đến 4 đêm ngủ mớ (6), nghĩa là đang ngủ anh ta nói đủ thứ chuyện giống như đang thức. Vì nói chuyện sõi như không nên một hôm khi Đổi đang mớ, một anh bạn khác tên Hoàng bắt chuyện. Nhờ Hoàng khéo léo bắt đúng mạch chuyện Đổi đang nói, khiến cho hai bên đối đáp với nhau xuôi chảy rất lâu giống như hai người cùng đang thức. Nhiều lúc 2 anh em còn lại trong phòng rón rén bước đến gần để xem Đổi ngủ hay thức, ngủ thật hay chỉ đóng kịch. Xem xét và thử đủ cách vẫn thấy đúng là Đổi nói chuyện trong giấc ngủ. Chắc chắn nhất là sáng hôm sau, ba anh em cùng phòng rủ nhau khéo léo kiểm tra; biết đúng là Đổi không hề hay biết những gì mình đã nói trong giấc ngủ đêm hôm trước. 
Chính vì bắt được bí quyết nói chuyện với người đang ngủ, Hoàng có ác ý muốn khai thác những chuyện đời tư thầm kín của Đổi. Ba anh em còn lại kịch liệt phản đối cho đó là nhẫn tâm… Cuối cùng Hoàng bỏ ác ý ấy. 
Hoàng chơi trò chơi nói chuyện với Đổi nhiều lần, đôi khi có chúng tôi tham gia. 
Nhưng vào một đêm kia, Hoàng cũng nói chuyện với Đổi giống như những đêm trước, lần này Hoàng quyết định chủ động dẫn dắt câu chuyện. 
Khi Đổi mở đầu mớ bằng một tràng tiếng La-tinh:
 - “Natura in minima maxima”. “Natura in minima maxima”. “Natura in minima maxima” (7)
Hoàng khéo léo nhắc lại:
 - Đúng! Cậu nói đúng! “Natura in minima maxima”. Nhưng câu này nghĩa là gì nhỉ? 
Đổi nói với giọng khinh dể:
 - Gi…ời…! “Thiên nhiên là to nằm co trong bé”. Có thế mà không hiểu! Kém thế! 
Hoàng trả treo:
 - Sao lại “cái to nằm co trong cái bé”? Thế là thế nào? 
Thấy Đổi hơi cựa quậy như sắp trở mình, Hoàng vội vàng dùng cả hai tay đè lên ngực cố ngăn lại để Đổi còn có thể tiếp tục câu chuyện (8). Bị đè dí xuống giường, Đổi đành chịu nằm im một nước rồi nói tiếp:
 - Gi…ời…! Lại không hiểu! Cái kém to nằm co trong cái kém bé. –nói xong Đổi cười sặc sụa- Cậu không thấy Chúa tể càn khôn trong Hài Nhi bé nhỏ ở hang đá Bêlem à? 
Hoàng đưa đẩy:
 - Cậu là ai mà cậu hiểu Chúa rõ thế? 
Đổi trả lời:
 - Mình là Satan! 
Minh, Hoàng và tôi, cả ba người cứ ngỡ Đổi đùa giỡn, nhưng Hoàng là đứa láu lỉnh nhất trong 4 anh em ở cùng phòng với đôi mắt lúc nào cũng sáng quắc và sắc lẻm, hỏi gặng:
 - Cậu là ai? Nói lại xem!
 - Mình là Satan! Mình là Satan! 
Hoàng cần nghe lần nữa, nên hỏi:
 - Cậu nói lại lần nữa đi! Cậu là ai?
 - Tao là Satan! Tao chẳng bạn bè gì với chúng mày! 
Hoàng và Minh ra sao tôi không rõ, chỉ biết hai “đấng” ấy nhìn trân vào nhau, mồm há hốc, còn tôi thì tóc cứ dựng đứng lên. Trời khuya, sương lạnh nhưng mồ hôi trong tôi cứ toát ra. Dầu vậy Hoàng là đứa có thần kinh thép, anh ta hỏi tiếp:
 - Mày nhập vào thằng Đổi lúc nào thế?
 - Tao là thằng Đổi, thằng Đổi là tao. Chúng mày sợ à? 
Khi cả 3 đồng loạt phát hiện Đổi vẫn nằm trong tư thế cũ, nhưng bây giờ thì mở cặp mắt thao láo có pha chút tia lửa, nhìn thẳng vào chúng tôi một cách như thù oán muốn ăn tươi nuốt sống… thì đứa nào cũng rụng rời rồi chẳng ai bảo ai, cùng chạy dồn vào một góc phòng đằng xa để trốn. Thấy vậy Đổi cười rú lên bằng một giọng cười không giống giọng cười của anh ta thường ngày; cười một hồi rồi anh ta bảo:
 - Tu gì chúng mày! Tu à? Tao cũng tu đây ai biết đâu vào đâu! Gian trá à? Tao là sự gian trá khủng khiếp đây! Nhớ nhé! Nơi nào có gian trá là có tao. Tao phá cả lũ chúng mày bằng sự gian trá lớn nhỏ… ai biết đâu vào đâu! Hứ! Ai biết đâu vào đâu! 
Nói xong Đổi cười rú lên lần nữa. Cười xong thản nhiên bảo:
 - Ngủ đi! Mai còn học. 
Lắc đầu nhẹ sang một bên, Đổi ngủ vùi từ đó cho đến 5 giờ sáng chuông báo thức. 
… 
Sáng hôm sau Đổi vẫn là Đổi như ngày nào; gặp mặt chúng tôi anh không có vẻ gì là e ngại; tất cả coi như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ riêng ba chúng tôi, vừa sợ hãi âu lo vừa hoài nghi bối rối; chúng tôi tự hỏi nhau có phải mình nằm mơ, có phải Đổi bị quỷ nhập như Giảng hồi nào, có phải Satan đội lốt Đổi hay gì gì nữa… 
Qua hơn một ngày sống trong sợ hãi và nghi nan bối rối, ba chúng tôi cùng kéo nhau lên gặp linh mục X, giáo sư tu đức, trình bày hết mọi nỗi cho ngài. Nghe xong ngài cũng không giấu nổi vẻ ngạc nhiên, khuyên chúng tôi cứ bình tĩnh và tuyệt đối giữ kín chuyện để ban giám đốc dễ giải quyết. 
Chúng tôi mòn mỏi chờ đợi thái độ của ban giám đốc trong khi mọi việc không có gì khác lạ. 
Sau một thời gian không chờ đợi được nữa, chúng tôi lại kéo nhau lên gặp cha tu đức, ngài bảo:
 - …Thứ nhất dẫu cho có tới 3 người làm chứng cho nhau, nhưng không có gì là rõ ràng và chắc chắn. Thứ hai thầy Đổi vẫn chứng tỏ là một đại chủng sinh tốt trên cả trung bình, nhất nữa khi các cha giáo thay nhau kiểm tra vẫn không phát hiện bất kỳ một dấu hiệu gì bất thường. Thứ ba cha giáo luật nói: “Nulla poena sine lege” (9)… 
Chúng tôi vâng lời bề trên trở về phòng; vì vâng lời nên tuyệt đối giữ kín mọi việc đến nay đã gần 40 năm. 
… 
Có một lần tôi kể cho cha sở Luca trong tòa giải tội. Nghe xong ngài nói:
 - Chính vì tình trạng không thực tu, nên ma quỷ cũng có thể trà trộn giữa chúng ta để giả tu. 



(1) Dương Phủ bỏ mẹ già để đi tìm Phật. Dọc đường một cao tăng nói: “Phật tại nhà đi đâu cho mệt! Cứ về gặp ai mang dép ngược đó là Phật!” Dương Phủ quay về. Nửa đêm mẹ già nghe con kêu cửa mừng quá xỏ vội chân vào dép ra mở cửa. Cửa mở, Dương Phủ thấy mẹ mang dép ngược liền ôm chầm lấy mẹ mà khóc. Từ đó, Dương Phủ sớm hôm nuôi mẹ già, nhất quyết không đi đâu nữa. (Cổ học tinh hoa). 
(2) Vì chữ tu nghĩa là sửa, nên người ta ghép chữ tu với nhiều chữ khác như: tu sửa, tu tỉnh, tu chỉnh, tu chính, trùng tu, đại tu, tu bổ, tu tạo… … 
(3) Huấn đức: dạy về tu đức. 
(4) Các vị thánh xưa đều chọn cho mình một vị linh hướng đến suốt đời, cho nên mới có nhiều trường hợp cả 2 linh hướng và con linh hướng đều làm thánh; ví dụ cha con thánh Vincent de Paul và Louise de Marillac; các vị giáo hoàng nói chung đều có một cha giải tội, vị này gần như một linh hướng. 
(5) “Vì kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít” (Mt 22:14). Câu này bị nhiều người hiểu sai rằng vào chủng viện đông, nhưng làm linh mục ít. Chúa Kitô không nói trong bối cảnh đi tu, nhưng trong toàn cảnh Nước Trời: nhiều người nghe, biết, hiểu Tin Mừng, nhưng kẻ thực thi để vào được Nước Trời chẳng có mấy ai. 
(6) Mớ: là nói năng không ý thức khi đang ngủ. 
(7) “Natura in minima maxima”. Ngạn ngữ La-tinh có nghĩa: “thiên nhiên là điều lớn nhất ở trong điều nhỏ nhất”. 
(8) Người ta thường mớ khi đang nằm ngửa. Đang mớ, nếu tự trở mình (đổi thế nằm), họ sẽ tỉnh lại đôi chút và ngưng mớ. 
(9) “Nulla poena sine lege”. Ngạn ngữ La-tinh có nghĩa: “không có hình phạt ngoài lề luật”. Điều gì lề luật đã quy định, vi phạm điều đó mới có thể chịu phạt. 
 
Đã mang vào đến kỳ 48
<bài viết được chỉnh sửa lúc 08.06.2026 01:43:46 bởi Ct.Ly >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 08.06.2026 07:21:59
Kỳ 49 
 
Có những điều thường xảy ra, đáng ghê sợ và đáng quan tâm, nhưng người ta cứ bình thản; mỗi lần chứng kiến nó thì sợ hãi nghĩ đến số phận mình mai đây cũng vậy; nhưng chỉ sợ hãi thoáng qua rồi quên ngay, và cuối cùng thì mọi chuyện đâu cũng lại vào đó. Tôi muốn nói đến cái chết, hay muốn đề cập thân phận nay còn mai mất của con người. Rõ là ai cũng sợ chết khi thấy nó! Nhưng sợ thì sợ, cuộc sống có sức quyến rũ mạnh mẽ, đến nỗi vẫn cứ coi cuộc sống trên đời là trên hết không còn có gì khác quan trọng bằng, vẫn cứ đầu tư toàn bộ tim óc, khả năng và sức lực vào đó. Đang khi chết chấm dứt tất cả; nhà cửa, đất đai, sản nghiệp, chức tước, danh tiếng, cha mẹ, vợ (chồng) con, người thân, bạn hữu… tất cả đều trở nên vô nghĩa. Vì thương thân phận bọt bèo và vì thương tính tình hời hợt nông nổi của con cái trước sự bọt bèo ấy nên Chúa mới nhắc đi nhắc lại bằng nhiều dụ ngôn và lời khuyên như: “Các con hãy sẵn sàng vì chính giờ phút các con không ngờ, thì Con Người sẽ đến”(Mt 24,14). Nhưng rồi… có mấy ai tỉnh thức?
 
 
Dịp Xuân năm thần học II (xin kể lại chuyện cũ) trong kỳ nghỉ Tết 12 ngày, tôi có một chuyến đi chơi rất bổ ích, vì trong chuyến đi đó tôi học được nhiều bài học vô cùng quý giá.
Tôi đang ở quê chờ đón Tết.
Trước Tết 7 ngày, 5 anh em, trong đó có tôi, gồm 2 đại chủng sinh và 3 tiểu chủng sinh đệ nhị cấp (tức từ lớp 10 đến lớp 12 hiện nay) trong cùng họ đạo rủ nhau, lén lút giấu gia đình và mọi người xung quanh, tổ chức đi chơi núi Cấm (1). Đây là ngọn núi ít người dám nghĩ đến nói chi là lui tới. Vì sống trong thời kỳ giặc giã khắp nơi, không thể biết nơi nào bình yên, nơi nào nguy hiểm… nên chúng tôi dự định cứ 2 người chở nhau trên một chiếc xe Honda, tất cả “ù chạy” cho lẹ đến nơi rồi quay ngay về và nhất là tất cả đều “nhất trí” khi đến chân núi, chỉ được phép đứng bên dưới nhìn lên mà thôi, miễn sao làm dịu được trí tò mò.
Đi từ 5 giờ trời còn mờ tối đến khoảng 8 giờ sáng chúng tôi đã đến nơi.
Tuy nhiên có sự thay đổi theo hướng tốt hơn lúc đầu dự định. Người địa phương chỉ dẫn rằng có thể leo trèo thỏa thích chỉ ở một triền núi phía Đông, nơi thường có người lên xuống làm ăn sinh sống.
Suốt buổi sáng say sưa với bao là mới lạ, đến trưa khi đã thấm mệt và đói bụng, chúng tôi bàn nhau đi tìm một tảng đá bằng phẳng vừa có bóng mát để ngồi ăn trưa và ngắm cảnh. Chỉ một lúc sau, chúng tôi đã tìm được một nơi lý tưởng đúng như ý muốn: chẳng phải là một tảng đá lớn bằng phẳng sạch sẽ, mà cả một khoảng sân được một cây cổ thụ che mát. Tất cả háo hức giở thức ăn thức uống bày ra để ăn. Khi mới vừa ăn được vài miếng thì một anh phát hiện ở một góc cuối sân còn có một hốc đá hơi âm u; nhìn vào hốc đá chúng tôi thấy một đôi mắt to và đen đang thao láo nhìn chúng tôi. Phản ứng tự nhiên đứa nào cũng sợ, bởi chúng tôi đã từng nghe quá nhiều huyền thoại kỳ bí trên núi Cấm, nào là núi Cấm là nơi của những “ma y thần tướng”, nào là núi Cấm là thiên đàng của những “dị nhân cao thủ” kể cả những hạng “đầu trộm đuôi cướp” khét tiếng tìm về đây để “mai danh ẩn tích”, nào là núi Cấm đầy dẫy những mãnh long ác thú to lớn phi thường và cực kỳ hung dữ, nào là núi Cấm là nơi tích chứa đầy những câu chuyện linh thiêng huyền bí đáng kinh sợ.
Tuy không đứng lên bỏ chạy, nhưng lòng đứa nào cũng cảm thấy thấp thỏm sợ sệt và lo âu, chỉ muốn rời khỏi chỗ này cho nhanh. 5 anh em miệng vừa nhai mắt vừa lấm lét liếc nhìn về hốc đá với tư thế luôn sẵn sàng phóng chạy. Tuy nhiên ăn gần xong mà thấy đôi mắt vẫn nhìn thao láo về chúng tôi, không có vẻ gì đe dọa.
Tôi suy nghĩ. Đôi mắt hiền lành mà không hề có chút dữ dằn; đôi mắt chỉ nhìn mà không tỏ vẻ gây hấn, xua đuổi; đôi mắt như có vẻ như muốn làm quen.
Sau khi thận trọng suy tính, ném miếng bánh đang ăn dở, tôi đứng lên tiến lại gần hốc đá. Khỏi phải nói! Các bạn đồng loạt nắm tay tôi kéo lại can ngăn; nhưng tự tin nên tôi cứ tiến tới.
Khi đến gần hốc đá tôi thấy một người đàn ông ngồi trong bóng tối của hốc đá nhìn tôi cách thân thiện. Ông ta mặc áo nâu, gầy gò hốc hác. Khi còn cách ông ta khoảng 5, 10 bước, tôi đứng lại dò xét. Thấy yên tâm tôi bèn ngồi xuống, miệng lí nhí:
- Chúng con kính chào thầy!
Tôi nhác thấy gương mặt ông ta tươi tỉnh hẳn lên, cười một cách ngây thơ và đáp lại:
- Chào… mấy… chú!
Tôi thấy vững dạ. Các bạn cũng thế nên tất cả mò đến đứng ở sau lưng tôi. Tôi nói tiếp:
- Chúng con vô tình quá! Không biết có thầy ở đây. Chúng con có làm phiền lòng thầy điều gì không ạ? Thầy cho phép chúng con ăn xong rồi đi… được không ạ?
Người đàn ông lớn tuổi bằng tuổi cha tôi nếu Người còn sống, gật đầu:
- Đâu có gì… phiền. Mấy chú đến đây… làm tôi vui… lắm! Cứ… cứ… ở lại đây…
Tiếng nói có vẻ rất khó khăn nặng nhọc trái ngược hẳn với cung cách vui tươi, hồn nhiên và hiền lành. Một anh bạn tiểu chủng sinh nói:
- Dạ! Bây giờ thầy có đuổi chúng con cũng không đi nữa!...
Tiếp theo đó là những lời nói khôi hài có phần nghiêng về chọc ghẹo khiếm nhã, có lẽ thấy không có việc gì phải sợ, nên các bạn làm như thế, phát xuất từ nền giáo dục “chỉ mình là đúng là hay” ở các chủng viện… Tôi cố vừa nín nhịn vừa “đỡ gạt” những câu nói đùa không đúng chỗ, cho tới khi nghe được câu:
- … hay để chúng con xuống núi mua vài xị “ba-xi-đế” (2) lên lai rai với thầy…
Tôi bật đứng dậy quyết liệt phản đối ngay lập tức:
- Không được đâu! Không được như thế đâu các anh em! Chẳng lẽ chúng ta được giáo dục như thế sao? Không biết ai là ai nữa thì cũng nên kính trọng người lớn tuổi hơn mình chứ!
Họ giận tôi ra mặt và kéo nhau đi ra xa để mặc tôi ngồi nói chuyện với người đàn ông. Chúng tôi giận nhau nên chuyến đi chơi không còn vui vẻ hứng thú nữa; Chương trình kết thúc sớm. Khoảng 14 giờ 30 trưa mọi người xuống núi và ra về trong không khí ảm đạm.

Về nhà tôi cứ ray rứt nhớ hoài ánh mắt của người đàn ông; ánh mắt ấy có một sức hút lạ kỳ; hình như ánh mắt ấy dù rất hiền dịu, rất đơn sơ chân chất nhưng tha thiết ước muốn thổ lộ điều gì. Vì thế ngay sáng hôm sau tôi một mình một xe lặng lẽ quay trở lại núi Cấm, dù đường đi xấu và chẳng ngắn ngủi, lại đi đơn độc, ai mà biết được chắc chắn đều cho tôi là đứa liều.
Lên núi tôi tìm ngay đến hốc đá. Người đàn ông gặp tôi cũng bằng ánh mắt như trước. Tôi tặng ông 2 đòn bánh tét nhân chuối do chính tay Má tôi làm; ông mừng rỡ và cám ơn một cách chân tình.
Tôi nói rõ lý do quay lại gặp ông, ông cười nói:
- Tôi biết trong số người hôm qua, chú là người có tâm có đạo. Tôi hết sức muốn nói chuyện nhiều với chú, khi thấy chú ra về, tôi rất thất vọng ngỡ rằng chúng ta không còn có thể gặp nhau nữa. Nhưng thật là bất ngờ! Hôm nay tự nhiên chú quay lại. Chúng ta nằm trong cơ duyên trời định rồi chú ơi!
Ông bảo tôi gọi ông bằng anh Tư cho thân mật. Nhưng một lúc sau tôi không làm theo ý muốn của ông được nữa, mà gọi ông bằng thầy Tư, rồi xưng bằng con, vì xét về tuổi tác lẫn đức độ, ông đáng để làm cha hay làm thầy của tôi. Ông kể:
- Tôi là một vị sư, phát nguyện đi tu từ thuở nhỏ. –Ông lặng thinh một lúc rồi tiếp-  Cách đây hơn một tháng, tôi chết vì mắc bệnh lao phổi, trong ngôi chùa BS…
Nói đến đó thầy Tư đứng lên rời hốc đá dẫn tôi ra triền núi chỉ ngôi chùa mái ngói đỏ thắm nằm cách chỗ hai thầy trò đứng không xa. Đưa tôi trở vào gần hốc đá, thầy Tư kể tiếp:
- Hai ngày sau, lúc giữa đêm khuya thanh vắng, nghe tiếng tôi cục cựa trong quan tài, mọi người bỏ chạy. Cũng may áo quan bằng ván gòn (3) vừa mỏng vừa mềm nên tôi tự phá tung rồi đi ra. Mọi người càng hoảng vía, cứ núp ở xa nhìn. Họ đều cho tôi là quỷ nhập tràng (4) Họ cho người xích tôi lại ở lùm cây xa xa kia; nhưng tôi tự giải thoát và về đây sống...
Tôi hỏi:
- Nghĩa là thầy vẫn chưa chết thật?
Thầy Tư lắc đầu:
- Tôi đã chết thật, đã chết gần 3 ngày. Đó chính là chuyện tôi sắp nói với chú.
Tôi chỉ thắc mắc sao thầy Tư lại chọn tôi để tâm sự mà không chọn ai khác. Nhưng thôi! Tôi nghĩ chuyện ấy cứ gác lại sau này rồi cũng sẽ rõ. Thầy Tư kể tiếp:
- Dần dần mọi người để yên cho tôi sống như một bóng ma, nhưng nuôi tôi mỗi ngày 2 lần cơm chùa và một ấm nước để tôi sống lây lất chờ ngày chết lại lần nữa.
Tôi nhìn thầy Tư với ánh mắt cảm thông; đáp lại, thầy nhìn tôi với ánh mắt vẫn cứ hồn nhiên hiền lành như trẻ nhỏ, giống như trong lòng thầy không vương vấn nỗi đau khổ hay oán hận gì khi bị người cùng tu nhẫn tâm đối xử như thế. Tôi chợt hiểu thầy Tư không cần ở tôi sự thương cảm, mà thầy cần cái gì khác hơn. Thầy Tư bỗng hỏi:
- Các chú là người theo đạo Chúa?
Tôi gật đầu đáp:
- Thưa đúng ạ!
Thầy Tư nói:
- Vì hôm qua khi một chú trượt chân, tôi nghe kêu “Chúa ơi!”… Vậy tôi hỏi…
Tôi không đợi thầy Tư hỏi xong, đáp ngay:
- Chúng con đều là đi tu bên Công giáo.
Thầy Tư càng lộ vẻ mừng rỡ hơn và có vẻ như đang khóc. Thầy kêu lên lần nữa:
- Đúng là cơ duyên tiền định thật rồi! Chúng ta nằm trong cơ duyên trời định rồi chú ơi!
Nhưng thầy Tư tỏ vẻ lo lắng ngay sau đó, nên hỏi:
- Chú có thể giúp tôi một chuyện được không?
Tôi hăng hái hỏi chuyện gì và hứa nếu trong khả năng có thể, tôi sẽ hết lòng. Thầy Tư nói:
- Giúp tôi theo đạo Chúa. Tôi phải bỏ đạo Phật mà theo ngay đạo Chúa. Vì tôi đã thấy rõ tất cả mọi sự việc khi vừa chết.
Tôi đã từng nghe thầy Hiền bạn tôi thuật lại những gì Bác Bảy kể về chuyện sau khi chết, nhưng tôi cũng chưa thỏa mãn lắm nên muốn nghe tiếp qua thầy Tư. Tôi hỏi ngay:
- Thầy có thể kể cho con nghe được không? Còn chuyện giúp thầy theo Chúa thì con có thể làm được, nhưng phải mất một thời gian học giáo lý, rồi thầy cũng phải chuyển nơi ở cho gần nhà thờ…
Tôi còn đang loay hoay với mớ điều kiện không dễ đối với hoàn cảnh thầy Tư thì thầy Tư ngắt lời:
- Tôi chỉ cần được theo đạo. Theo đạo xong tôi sẽ chết trở lại ngay vì tôi biết cơ thể mình không thể tồn tại lâu trên đời này.
Tôi ái ngại nhìn thầy Tư rồi suy tính: sẽ nhờ đến cha Luca; hoặc tôi sẽ nhờ người bạn đàn anh mới nhận chức linh mục… Sau khi suy xét, thấy có thể được, tôi gật đầu đồng ý và cam kết với thầy Tư ngay chiều nay về đến nhà tôi sẽ xúc tiến ngay việc hệ trọng này. Thầy Tư còn dặn thêm:
- Miễn sao tôi theo đạo, còn việc sau đó xin chú cứ để tôi lo. Thật ra tôi từ cõi chết trở về chỉ để làm cho được việc này.
Sau khi thỏa thuận xong mọi việc, thầy Tư bắt đầu kể chuyện.
- Tôi mắc bệnh lao phổi sau một thời gian dài thì tôi chết vào khoảng 3 giờ trưa. Khi đang bị cơn bệnh hành hạ đau đớn thì cái chết thật là sự giải thoát dịu êm không thể tả. Tôi bị sốt cao liên tục, và chính cơn sốt cuối cùng đã nhẹ nhàng đưa tôi về bên kia thế giới. Tôi chết nhẹ nhàng đến độ không hề hay biết mình chết, vì trong cơn mê sảng, sự sống sự chết như nhau thôi, chỉ khác bỗng nhiên tôi thấy mình nhẹ lâng dễ chịu, khoan khoái như đã hết bệnh tự lúc nào. Tôi hiểu thêm một điều, đó là khi người ta quá đau khổ bên này thế giới, họ sẽ có một cái chết rất dễ chịu, vì họ được giải thoát khỏi ngục tù; còn khi người ta quá sung sướng no đủ ấm êm bên này thế giới, cái chết trở nên đau đớn lắm lắm! Từ đó tôi thấy được những vị hoàng đế, vương tôn công tử, tướng lãnh, kẻ phú hào, người đầy quyền thế, người luôn có bộ hạ “tiền hô hậu ủng” sẽ có cái chết rất khổ đau và sẽ cảm thấy rất cô đơn trơ trọi đáng sợ sau khi chết. Vậy nếu ai nghèo khó, khổ đau, cô độc, bất hạnh… nhất ở đời này, cái chết là sự vô cùng êm dịu, sự giải thoát nhẹ nhàng và sung sướng tuyệt vời.
Tôi buột miệng nói, nhưng là nói theo trí óc nông cạn và ngu muội của mình:
- Vì luật nhân quả!
Thầy Tư miễn cưỡng gật đầu, nhưng sau đó đính chính:
- Nói chính xác: vì thế giới bên kia hoàn toàn khác với thế giới bên này như trắng khác với đen. –Thầy Tư mỉm cười- Vì vậy nhà chùa và các sư đối xử với tôi ra sao, tôi chỉ cười trong lòng mà chẳng hề oán giận. Vì lẽ: đời này nào có nghĩa chi đâu!?
Tôi xin thầy Tư cho tôi ghi chép vào sổ tay những gì cảm thấy hay vì sợ rằng không thể nhớ. Thầy Tư gật đầu. 
- Nói thuyết nhân quả là nói cho dễ hiểu! Nhưng để mọi người dễ bị đánh động hơn, phải nói đó là vì 2 cuộc sống: bên này và bên kia thế giới quá khác biệt đến tương phản, cho nên mọi thứ đều tương khắc. Nếu chết đang khi “có” quá nhiều –có tiền, có của, có chức, có nhiều vợ, có nhiều con nhiều cháu, có quá nhiều bạn hữu người thân, có nhà cửa sang trọng, có bổng lộc và quyền uy thế giá…, khi chết sang bên kia thế giới lập tức trở nên trắng tay. Vậy chẳng phải đau đớn lắm sao? Nếu chết đang khi “là” quá nhiều –là ông này bà kia, là vua, quan, tướng lãnh, là ông bà chủ, là dân biểu nghị sĩ, là tiến sĩ bác học, là hòa thượng, đại đức, ông cha bà phước ông thánh ông thần… khi chết sang bên kia thế giới tức khắc mình trần như nhau, không còn là gì nữa cả! Sạch sẽ như một tội nhân run rẩy trước tòa án. Vậy chẳng phải là ô nhục, bẽ bàng, mắc cỡ lắm sao! Tất cả chỉ vì hai thế giới khác biệt nhau hoàn toàn, thế giới bên này như đêm, thế giới bên kia như ngày. Những gì khuất lấp, giấu giếm ở thế giới bên này, vừa sang thế giới bên kia bị lộ tẩy, phơi bày, vạch trần; mọi giả bộ, mọi kiểu cách, đóng kịch đều hạ màn.
Tôi nghĩ mình đang gặp đúng chân sư rồi đây. Vị chân sư này thấy và chứng kiến tận mắt mà nói lại chứ không phải học qua người này nghe qua người kia, rồi “nói thánh nói tướng”. Tôi mừng lắm và tự nhủ: cứ im lặng để thầy Tư tuôn ra những gì mà thầy muốn. Thầy Tư nói tiếp:
- Những gì con người “có” ở đời là giả dối, những cái con người “là” trong cuộc sống đều là ảo tưởng. Càng “có” nhiều, càng “là” nhiều, khi chết xong, càng cảm thấy trơ trẽn, buồn cười, thất vọng và xấu hổ vì bỗng dưng trong phút chốc trở nên quá trần truồng, và sự trần truồng ấy ghê sợ ở chỗ trần truồng tận xương tận tủy.
 
(còn tiếp kỳ 49)
 
 
(1) Núi Cấm còn được gọi là Núi Ông Cấm hay Thiên Cấm Sơn, Thiên Cấm Sơn; tên Khmer: Pnom ta piel hay Pnom po piêl; là một ngọn núi tại địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam. Núi Cấm có độ cao 705m, chiếm chu vi 28.600m, là một ngọn núi cao nhất trong Thất Sơn và cao nhất tỉnh.
(2) Ba-xi-đế là kiểu nói miền Tây Nam bộ chỉ rượu trắng.
(3) Ở miền Tây, cây Gòn là loại cây cho trái to và thuôn dài như con thoi dệt vải, to bằng bắp tay người lớn, bên trong chứa bông gòn trắng nuốt, người ta dùng làm gối nằm, thân gòn mau to nhưng nhẹ và mau mục nát. Nhà nghèo mới dùng quan tài bằng gỗ gòn là thứ gỗ bỏ đi. Làm củi còn bị chê.
(4) Quỷ nhập tràng là hiện tượng một xác chết bỗng sống lại bằng một cuộc sống khác rất ghê rợn ví dụ không còn tình cảm, xé xác gia súc ăn đồ lòng v.v…

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 12.06.2026 01:04:46
Kỳ 49
 
(Phần 2 của kỳ 49)
 
Tôi hỏi thầy Tư vì không kiềm chế được thắc mắc: 
 - Thưa thầy, chẳng lẽ chỉ vì sự khác biệt đến mức tương phản giữa hai thế giới mà số phận của mỗi người bị định đoạt theo hướng tương phản… sao? 
Thầy Tư trừng mắt tỏ vẻ xác quyết:
 - Còn gì nữa? Chính là như vậy! Tôi không nói khác. Chú sống lành bên này, sẽ được bù đắp ở bên kia; vì sống lành là chịu thiệt mà! Phải không?  
Thầy Tư ngưng nói một chút để chờ xem tôi có phản ứng gì hay không. Nín lặng một lúc thầy nói tiếp:
 - Chú sống ác sống dữ bên này, sẽ bị “lột da” ở bên kia; vì sống ác là đàn áp, đè bẹp, hiếp đáp người khác cách này cách khác!... – thầy Tư ngưng nói, nhìn chòng chọc vào mắt tôi như thách đố; thầy cười mỉa mai rồi nói tiếp - Sự “báo thù trả đũa” của Trời Đất khủng khiếp đến như thế này: là cho dù hà hiếp người khác nhỏ nhặt đến đâu… sẽ bị “báo thù trả đũa” đến đó, không quên sót dung thứ dù một chút xíu kín ẩn. Sự công bình đến chi li tận triệt, nhiệm nhặt đến tàn nhẫn… đừng mong được châm chế cho qua dẫu một cọng tóc… Chẳng có ai đứng ra làm sự phân xử ấy, mà là tự xảy ra như guồng máy; liệu ai bênh đỡ chúng ta lúc đó? 
Đã định giữ im lặng và chỉ lắng nghe, nhưng tôi lại ngứa miệng:
 - Thưa… làm sao thầy biết được tất cả những điều ấy?   
Hỏi xong tôi sợ thầy Tư giận vì tỏ ý nghi ngờ; nhưng thầy Tư cười nhẹ nhàng trả lời:
 - Chết xong ý nghĩ của chúng ta không bị bộ óc hữu hình giam nhốt nữa, mà bung ra như hoa nở; điều ấy làm chúng ta tự nhiên thấu hiểu không cần ai dạy, nhiều điều trước đây không thể hiểu bây giờ được thấu đáo tận gốc; đàng khác chính tôi kinh nghiệm: lúc còn sống có những lần tôi nói hiếp một chú tiểu mà chẳng ai biết, khi chết, tôi thấy lại được điều đó, thấy cả cảnh chú tiểu khổ sở như thế nào, thấy lại được sự bắt nạt rất ư tiểu nhân của mình… tôi cũng phải trả giá cho bằng hết chuyện cỏn con thầm kín ấy cho tới tận cùng mới được buông tha. 
Tôi hỏi thêm:
 - Thưa thầy! Thế nào là “thấy” sau khi chết? Vì mình không còn đôi mắt để nhìn…
 - Chú cứ nghĩ khi mình ngủ nằm chiêm bao ra sao, sau khi chết chúng ta cũng thấy như vậy; khác ở chỗ thấy tỏ tường minh bạch sáng rõ trong bằng ý thức sáng suốt và nhận định tỉnh táo; giống ở chỗ thấy mà không còn làm gì được. 
Tôi lại hỏi:
 - Thưa thầy! Thầy thấy điều gì trước nhất sau khi linh hồn thoát ra khỏi xác?
 - Tôi thấy ánh sáng chói lòa rực rỡ, và trí khôn cho tôi biết đó là ông Trời, là Đức… Chúa. Tôi không thấy ngay Phật tổ mà tôi vẫn theo khi còn sống, phải sau đó rất lâu tôi mới thấy Ngài và biết Ngài là loài thụ tạo như tôi, chỉ khác: Ngài là một trong số những bậc đại thánh. Chỉ có Đức… Chúa – tôi nhắc thầy Tư đọc cho đúng là Thiên Chúa - là tất cả điều mà tôi thấy đầu tiên sau khi hồn vía ra khỏi xác. 
Tôi bồn chồn nóng nảy hỏi:
 - Thiên Chúa ra sao?... Thưa thầy? 
Thầy Tư im lặng không trả lời ngay nhưng có vẻ như đắn đo; một lúc sau đó thầy trả lời:
  - Thiên Chúa thì… - thầy hươ một tay, rồi hai tay như muốn diễn tả, nhưng ấp úng mãi không nói được - thì… thì… vô cùng… vô cùng… 
Chưa nói xong, sắc mặt thầy Tư bỗng biến đổi, mắt nhìn lên, trợn trừng… rồi đang ngồi thì thình lình ngã vật ra nằm ngửa trên tảng đá; ngã mạnh đến nỗi đầu thầy va xuống đá cứng nghe “bụp” một tiếng, rồi nằm ngay đơ bất động. 
Tôi rất hoảng sợ; phản ứng lúc ấy chỉ là lay chân, lắc tay thầy vừa kêu: “Thầy ơi! Thầy Tư ơi!” liên hồi; nhưng thầy Tư vẫn nằm im như chết. 
Tôi nghĩ có lẽ thầy Tư chết trở lại cũng nên; nghĩ vậy nên tôi cuống cuồng vừa muốn rút lui êm thắm cho yên chuyện vừa cảm thấy rút lui là bất nhẫn…Thật phân vân vô cùng! 
Tôi cứ ngồi im trong sợ hãi như thế chừng năm mười phút; khi thấy đã hơi bình tĩnh trở lại, tôi đứng lên đi tìm nước; đi loanh quanh tìm, nhưng chưa thấy nước thì tôi đã đến gần ngôi chùa BS mái đỏ thắm nơi thầy Tư trước đây đã từng ở - theo lời thầy Tư kể; tôi liều mon men bước vào xin nước… Không khó! Tôi trở lại chỗ thầy Tư nằm với một tô nước mưa mát lạnh.  
Nhưng vui làm sao! Khi tôi trở lại thì thầy Tư nhúc nhích, động đậy nhẹ; cử động thêm nhiều lần nữa rồi ông hé đôi mắt, sau đó mắt mở dần ra.  
Vừa kêu rối rít tôi vừa chờ cho thầy Tư tỉnh hẳn, tôi đỡ ông dậy và cho ông uống một ngụm nước. Thầy Tư uống hết gần nửa tô nước cách ngon lành.  
Sau khi thấy thầy Tư đã trở lại bình thường, tôi rụt rè hỏi:
 - Vừa rồi… thầy chỉ chết giấc thôi… phải không?... Hay là… hay là thầy lại chết thật vậy… thưa Thầy? 
Thầy Tư tròn xoe mắt, nhìn tôi cũng với vẻ hồn nhiên như em bé, miệng vẫn cười kiểu bẽn lẽn, ngơ ngác hỏi lại:
 - Chú nói sao?... 
Tôi kể lại mọi việc vừa xảy ra… nhưng càng kể, tôi càng tin thầy Tư chỉ chết giấc mà không ý thức được điều gì; vì vậy thay vì đề cập đến chuyện đó, tôi im lặng để thầy nghỉ ngơi. Cả hai ngồi nhìn xuống cánh đồng, dòng sông và làng mạc trải dài thật xa dưới chân núi. 
Sau vài mươi phút nghỉ ngơi trong thinh lặng; thấy ông đã bình thường hẳn, tôi hỏi nhỏ:
 - Thưa thầy! Hồi nãy thầy mới nói Thiên Chúa vô cùng… vô cùng… Thưa thầy! Vô cùng gì ạ? 
Thầy Tư quay ngang nhìn tôi bằng cái nhìn kỳ lạ rất khó hiểu. Bất chấp ra sao, tôi cứ hỏi tiếp:
 - Chắc Thiên Chúa đẹp lắm phải không? Thưa thầy! 
Thầy lại nhìn tôi cũng bằng ánh mắt kỳ lạ rất khó hiểu, nụ cười hồn nhiên trên môi chợt tắt nhưng hoàn toàn không có vẻ gì giận, ghét… trái lại vẫn vô tư như trẻ thơ. Đắn đo một lúc thầy lại huơ một tay, hươ cả hai tay… trả lời:
- Thiên Chúa thật là vô cùng…vô cùng…  
Vừa nói tới đó gương mặt vốn tái nhợt của thầy Tư bỗng lại biến sắc thành ửng đỏ, thầy hơi ngước nhìn lên trong tích tắc rồi trợn trừng đôi mắt, lại ngã vật ra một lần nữa xuống tảng đá, trông rất đau đớn xót xa.  
Tôi bớt hốt hoảng. Không biết làm gì hơn, tôi đành ngồi bóp tay bóp chân cho thầy Tư, bụng nghĩ người đã qua một cái chết vì bệnh nặng, có sống lại chắc chỉ sống dật dờ qua ngày đoạn tháng rồi chết lại. Tuy nhiên trí tôi bỗng đặt nghi vấn: ngộ nhỡ lần này thầy Tư chết luôn thì sao? Tôi buông thầy ra và từ từ đứng lên. Nhìn đồng hồ cũng thấy đã quá 2 giờ trưa, tôi do dự nửa ở lại nửa ra về. Sau một hồi suy nghĩ, tôi chọn giải pháp nán lại tới 3 giờ. 
Gần đến 3 giờ chiều, thầy Tư cựa mình và tỉnh lại dần, mặt tươi rói với nụ cười bẽn lẽn trên môi. Tôi ngạc nhiên hỏi:
 - Thưa… thầy có thấy mệt không? 
Thầy Tư lắc đầu. Tôi hỏi tiếp:
 - Thầy cứ chết đi sống lại hoài như thế này… nhắm có mệt lắm không? Phải làm sao đi...! Cứ thế này con thấy không được! – Nghĩ đến một người chú họ đang sống một mình, tôi nảy ra ý định - Con đưa thầy về sống chung với chú họ của con, thầy thấy sao? 
Thầy Tư lắc đầu vẫn với nụ cười bẽn lẽn:
 - Mạng sống tôi giờ đây là của Chúa. Đã là như vậy rồi, tôi lại còn không thiết sống ở cõi này nữa chú ơi! – Thầy Tư nhìn tôi cười thật hiền - Tôi rất biết ơn lòng tốt của chú, vì thương mà muốn lo cho tôi; nhưng chú nghĩ coi, đã thấy được cuộc sống tốt đẹp bên kia thế giới rồi, thử hỏi có ai còn muốn trở về sống ở thế giới bên này nữa hở chú? 
Có lẽ lúc đó trông tôi rất buồn cười nên thầy Tư đập nhẹ vào tay tôi cách thân mật rồi cười vui:
 - Chú đừng bận tâm chút xíu nào về tình trạng của tôi, bởi tôi rất mong một cơn chết giấc nào đó sẽ đưa tôi lại về với Chúa; nghĩa là tôi mong được chết lại lắm lắm, miễn là tôi được vô đạo. 
Tôi sực nhớ, liền nắm tay thầy Tư và hứa sau Tết tôi sẽ đưa một linh mục lên tận đây rửa tội cho thầy. 
Nghĩ rằng hôm nay tuy trò chuyện không được bao nhiêu, nhưng tôi cảm nhận được không ít điều hay lạ và quý giá. Xin phép thầy Tư, tôi đi xuống núi và ra về.   
… 
Mấy ngày Tết, đối với riêng tôi lúc ấy, trôi qua thật rề rà, chậm chạp và vô nghĩa.  
Thật vậy! Không chờ nổi cho xong “ba ngày tư ngày tết”, mới mồng 3 tôi đã xông đến nhà xứ của họ đạo cha T, đang làm cha phó;  
T. là một người bạn thân thiết nhưng lớn hơn tôi 5 tuổi thuộc lớp đàn anh vừa mới chịu chức linh mục non 10 tháng nay. Vừa gặp anh tôi trút hết toàn bộ câu chuyện về thầy Tư. Với ai không biết nhưng với T. bạn tôi, một “anh chàng” nhiệt tình như lửa cháy, đầu óc “cấp tiến” (1), ăn nói văng mạng, khôi hài, thẳng đuột và nhanh lẹ… tôi đã không khó rủ rê lôi kéo mà ngược lại, anh còn thúc hối tôi phải đi ngay kẻo “hối hận thì đã muộn”. Chúng tôi hẹn nhau ngay hôm sau cùng đi. 
Sáng hôm sau. Trời còn tối om vì mới 4g30 sáng mồng 4 Tết, cha phó T. đã cùng với chiếc xe Goebel cũ mèm – xe gắn máy có từ thời Đức quốc xã - ầm ầm như xe tăng lao vào nhà tôi.  
Hai anh em tận dụng vừa ăn sáng vừa - dè ý dè tứ - thuật lại đầu đuôi câu chuyện cho Má tôi nghe. Thật ngạc nhiên! Má tôi không la mắng tội giấu giếm của tôi gì hết, ngược lại Má tôi còn tỏ ra rất cảm động; do đó, một mặt thúc giục chúng tôi đi cho nhanh, một mặt lẹ tay gói ghém chút đỉnh thức ăn gửi thầy Tư.  
Trong câu chuyện, khi nghe tôi kể thầy Tư bị ngã vật ra chết giấc hai lần, Má tôi thương cảm đến không cầm được nước mắt. Má tôi hỏi:
 - Có khi nào vì đã được nhìn thấy Thánh Nhan Chúa cao sang đẹp đẽ quá sức suy tưởng của con người, nên bây giờ mỗi khi nghĩ đến chịu không nổi phải chết giấc… hay không? 
Cha T. bảo tôi kể lại lần nữa từng chi tiết. Tôi kể xong, T. nói với Má tôi:
 - Bác nghĩ vậy là đúng rồi! – Quay sang tôi T. cự - Chuyện đến như vậy tại sao hôm nay mầy mới kể tao (2) nghe? 
Tôi đính chính: 
 - Em thấy chuyện đó quá chi tiết. 
T. rầy tôi lần nữa:
 - Mầy ngu quá! – T. kêu lên với Má tôi - Thôi! Đúng người này thấy Chúa rồi Bác ơi! Đã được nhìn thấy Thánh Nhan Chúa nên mới như vậy!... Còn gì nữa! 
Đến đây tôi mới thấy mình thật sự là ngu. Nếu tôi thông minh lanh lợi thì đến lần thứ hai khi thầy Tư ngã ra chết giấc; tôi sẽ biết ngay.   
Cha T. nêu ý kiến với Má tôi:
- Bác thấy con có nên thử lần nữa hay không? 
Má tôi đồng ý nhưng khuyên nên dự trù sao cho thầy Tư ngã vật ra cách nào được êm ái. 
Ăn sáng xong hai chúng tôi lên đường lúc hơn 5g, mỗi người một xe để cha T. tiện cho việc trở về họ đạo trước 4g chiều; đến nơi vừa đúng 8g, 
Khi đưa cha T. đến nơi thầy Tư tạm trú, chúng tôi không thấy ông có mặt ở đó. Để cha T. ngồi nghỉ trên tảng đá quen thuộc, tôi táo tác đi tìm ông.  
Núi Cấm nổi danh nơi “rừng thiêng nước độc”, chốn “thâm sơn cùng cốc”, nơi “u mê ám chướng” quả không oan! Tôi chỉ đi xa một quãng độ vài chục mét bán kính, đã thấy rờn rợn trong lòng nên vội quay trở lại để đổi hướng khác, tuyệt nhiên không dám đi xa hơn. 
Quần tới quần lui có đến non nửa giờ, vừa đi vừa kêu vừa réo vang động vẫn không thấy tăm hơi gì của thầy Tư, tôi quay trở lại ngồi nghỉ với cha T. để trò chuyện, để thử chờ đợi cầu may và để nghĩ ra cách gì đó…  
Đang trò chuyện bỗng nghe có tiếng động khá lớn của cây cối bị xô ngã và bẻ gãy; chúng tôi cứ tưởng thầy Tư xuất hiện, nào ngờ, một con rắn màu đen mun khổng lồ so với những con rắn chúng tôi được nhìn thấy trước nay, thân hình nó to ước lượng bằng đùi của một người đàn ông; con rắn trườn ra từ lùm cây rậm rạp bên phải cách chúng tôi khoảng hơn mười mét…  đang bò, thấy chúng tôi, nó ngóc đầu lên cao thở phì phì vừa nhìn chúng tôi vừa thè lưỡi như để thăm dò… ngó nghiêng ngó thẳng, mổ tới thụt lui một lúc, nó quay đầu bò sang đám cây rậm rạp khác bên trái về phía dốc núi. Con rắn đi khuất đã lâu, mà mùi hôi tanh khủng khiếp của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi. 
Quá kinh hãi cha T. nói:
 - Có mầy tao mới dám đến đây. Một mình thôi thì tao xin vái. Ở đây hãi hùng quá! Mọi người đã từng nói thế mà! 
Tôi còn sợ hơn cả cha T. nữa. Anh lại rên rỉ tiếp:
 - Ôi! Nếu nó “đợp” hai thằng mình thì cũng dễ ợt, vì có thằng nào nhấc chân lên nổi mà chạy trốn đâu, phải không? 
Tôi nói với giọng còn run:
 - Vậy mà người ta nỡ bỏ mặc thầy Tư sống một mình như thế này. Càng nghĩ em càng thấy thương ổng anh T. ơi! 
Cha T. bỗng nhìn tôi một cách khác lạ, hỏi:
 - Suốt từ khởi đầu tiếp xúc ông ấy đến giờ, có khi nào mầy nghĩ… tất cả chỉ là “mưu ma chước quỷ” không? 
Suy nghĩ một lúc, hồi tưởng lại theo thứ tự diễn tiến từng sự việc, tôi khẳng định với cha T.
 - Không! Linh tính mách bảo em tất cả đều là sự thật.  
Nói chưa dứt câu, lòng tôi tự dưng hơi chao đảo. Tôi dáo dác nhìn quanh rồi nói thêm:
 - Nhưng… hôm nay mời được anh cùng đến đây để chứng kiến, em tin nếu có điều gì thâm u khuất lấp thế nào cũng bị anh phát giác ra cho mà coi! 
Cha T. chẳng những đã không bị “phổng mũi” trước lời nịnh nọt không còn tác dụng của tôi mà ngược lại, còn nhìn quanh cách lấm lét:
 - Mầy không biết là anh mầy đang “run như run cầy sấy thấy nước sôi” (3) đây hay sao? 
Tưởng anh nói đùa, tôi cũng ráng đùa lại để tự trấn áp nỗi sợ đủ thứ:
 - Trời đất! Anh mà sợ hả? Cái gì có thể làm cho anh sợ chứ? 
Tôi tưởng anh sẽ cười như mọi khi, nào ngờ anh nói khe khẽ:
 - Trong Thánh Kinh, con rắn là hình ảnh của ma quỷ… 
Cha T. nói đến đó thì im bặt. Một cơn lạnh toát, nổi lên rần rần từ dưới sống lưng của tôi, chạy dài lên tận đỉnh đầu. 
 
(còn tiếp phần 3 của kỳ 49
 
 
(1) Cấp tiến: có tư tưởng chính trị, xã hội… tiến bộ vượt hẳn mọi người. 
(2) Bọn trẻ lớp dưới chúng tôi thích cái kiểu ăn nói “mầy–tao mi-tớ” vừa tức cười vừa thân tình của cha T. Có lẽ chỉ vì cái bụng tốt của anh.    
(3) Bài thơ tuyệt tác “Ave Maria” của thi sĩ Hàn Mạc Tử, trong đó có câu “Maria, linh hồn tôi ớn lạnh, run như run thần tử thấy long nhan”… đã được bọn chủng sinh chúng tôi đổi thành câu: “run như run cầy sấy thấy nước sôi” để chọc ghẹo anh nào vừa đọc vừa run khi bị cha giáo khảo bài. (“Run như cầy sấy” cũng là thành ngữ sẵn có trong dân gian).
<bài viết được chỉnh sửa lúc 12.06.2026 07:53:01 bởi Sun Ming >

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 15.06.2026 06:46:44
Kỳ 49 
 
(Phần 3 của kỳ 49) 
 
Khi chúng tôi ngồi đó chưa biết phải làm gì; bởi vì, ngồi mà chờ đợi thầy Tư như vậy kể cũng mông lung; ngược lại, đứng lên đi về thì coi như chuyến đi thăm thầy Tư mà không gặp được ông ta chẳng còn ý nghĩa gì, đàng khác, liệu có mời được cha T. đi với tôi thêm một lần nữa vào dịp khác hay không… vả lại, cứ “suy bụng ta ra bụng người” tôi nghĩ: cha T. cũng như tôi, thấy rằng: con rắn vừa bò xuống đúng hướng chúng tôi phải ra về, giờ đây nếu ra về, ngộ nhỡ đang đi xuống chúng tôi gặp lại nó thì số phận hai anh em sẽ ra sao?… Cho nên 2 anh em chẳng ai bảo ai, cứ ngồi im như thế mà chẳng biết tính sao. 
… 
Lại có tiếng động của cành cây bị rung chuyển. 
Chúng tôi thót tim. Cả hai dáo dác nhìn quanh. 
Nhưng không! Không phải một con rắn nữa mà là một người đang di chuyển trên các nhánh cây; người đó chuyền từ cành cây nầy sang cành cây khác nhanh nhẹn và khéo léo như người rừng trong phim Tarzan đang nhắm hướng chúng tôi thoăn thoắt đu nhảy… tới. 
Hai anh em chưa kịp định thần thì người ấy đã nhảy “phịch” xuống đất gần chúng tôi một khoảng cách chừng bảy tám mét. Đó là một thanh niên trạc tuổi tôi –hơn hai mươi tuổi một tý- đầu cạo trọc, gương mặt có vẻ thông minh sáng sủa, nhất là có vẻ hiền lành lương thiện ra dáng một vị sư, tuy cách ăn mặc lại như một võ sư võ sĩ gì đó với quần áo luyện võ màu đen, lưng thắt đai cũng màu đen, chân không mang giày dép. Người ấy có vẻ người sống ở đây, nên tự tin và thoải mái lên tiếng chào chúng tôi, trước khi chúng tôi kịp mở miệng:
 - Chào hai huynh! (1) 
Chẳng màng xem chúng tôi có đáp lại lời chào hay không, người thanh niên trẻ tuổi khá đẹp trai ấy nói tiếp với giọng nói sang sảng, phong thái khí phách nhưng không kiêu mãn, cũng không tạo khoảng cách chủ khách:
 - Trời đất! Hai huynh từ đâu mới tới đây nên không biết đây là đâu… đúng không! - Đứng dạng chân chống nạnh cách rất tự nhiên, chàng trai nói tiếp: - Như chúng tôi đây đều có võ nghệ, ở ngay chùa này – chỉ tay về ngôi chùa BS mái đỏ - mà còn kiêng dè, chẳng ai liều mạng lui tới nơi này. – Cười khịt một tiếng như để chế nhạo và thương xót - Thôi! Đứng lên đi! Mời “nhị vị anh hùng” rút nhanh cho tôi nhờ! 
Dường như không nhịn được cười trước hai gã mặt cứ thộn ra vì ngớ ngẩn, cho nên vừa nói dứt câu, chàng trai cười rộ lên làm chúng tôi cũng buồn cười lây cho sự dại khờ của mình. 
Vừa quay đi chàng trai vừa khoát tay ra hiệu gọi chúng tôi đi theo. Chúng tôi đi như chạy… theo người thanh niên trẻ tốt bụng ấy mà không hề hỏi xem anh ta là ai… đủ biết anh ta có tài khiển người khác làm theo chỉ bằng vài câu nói không cần phải nghiêm trọng… của mình. 
Khi đã đến một nơi khác thoáng đãng hơn, người thanh niên dừng chân nói tiếp:
 - Vì mới đây thôi! Nơi đó xuất hiện một cặp rắn dữ. Chúng thường nằm phơi nắng trên tảng đá hai huynh đệ vừa ngồi… - nói tới đây lại nheo nheo một mắt với ý chọc ghẹo chúng tôi - để tự nộp mạng… 
Chàng ta lại cười ầm… 
Nhưng nói có Chúa, chúng tôi không hề thấy hờn giận tức ghét gì cái anh chàng này tý nào mặc dù nãy giờ chúng tôi có nói được lời gì đâu! Chỉ mình anh ta nói thôi! Cha T. và tôi thỉnh thoảng còn nhìn nhau, miệng “ú ớ”… Bây giờ thì cha T. mới cất được tiếng nói, anh nói với người thanh niên có khí chất hào sảng kia:
 - Hèn chi! Chúng tôi cũng vừa mới gặp một con rắn đen khổng lồ. Tim của hai chúng tôi vừa mới đập trở lại bình thường đây! 
Cha T thuật lại mọi chi tiết. Người thanh niên thích thú lắng tai nghe và hỏi han rất kỹ, sau đó nói thêm:
 - Hên cho hai huynh! 
Chàng ta quay lại nhìn về hướng đó với vẻ… cung kính. Bỗng hỏi:
 - Trước khi đến đây sao hai huynh không hỏi thăm dân ở đây cho kỹ? Sao không nhờ người ta chỉ đường đi của nhà chùa? Dân ở đây muốn lên núi đều bắt buộc phải đi theo con đường nhà chùa, chớ có ai dám trèo leo… “vô lễ” như hai huynh đâu! Không nghe biệt danh Núi Ông Cấm à! 
Người thanh niên tóm tắt thêm rằng chính vì địa thế quá hiểm trở, chính vì ít người lui tới, chính vì sản vật quá phong nhiêu và chính vì khí hậu ôn thuần tuyệt vời… nên các loài cầm thú rất đa dạng chủng loại, được bảo vệ, được tha hồ tự do, sống khỏe, tồn tại, phát triển đến mức chúng trở nên bá chủ nơi này; điều ấy khiến sản sinh nhiều quái thú rất dễ sợ; lính tráng với võ khí “trang bị tận răng” mà còn không dám mạo hiểm lên đây; còn người ở trên núi này hả? Nếu không phải những bậc kỳ nhân dị sĩ, các bậc lão sư thâm năng cố lực, các thầy bùa thầy ngải cao phép… thì cũng phải là những tên tướng cướp cùng đường, những tay hảo hán coi trời bằng vung… tệ lắm cũng là những hạng người như chúng tôi, tức là một nhóm các sư sãi, ai cũng nuôi ý chí bỏ đời thật sự bằng chí quyết tu sao cho thành Phật… Có như vậy mới sống nổi ở đây… 
Lúc này chúng tôi mới nhận ra hết mọi điều. Tôi vừa rùng mình vì lâu nay mình nhởn nhơ ở một nơi không nên làm như thế… nhưng bỗng cảm thấy mừng vì con rắn khổng lồ vừa rồi không phải là biểu tượng của ma quỷ như cha T. lo xa, và như vậy có nghĩa tôi cũng chưa hẳn đã sa vào “mưu ma chước quỷ” gì. 
Khi đã cảm thấy thật bình tĩnh, cha T. tự giới thiệu ngắn gọn:
 - Chúng tôi là những người tu bên Công giáo từ LX. lên núi để đi tìm thăm một người. 
Tôi nhắc lại chuyện cũ:
 - Dưới chân núi rất ít người, thậm chí hôm nay bỗng dưng chúng tôi không gặp được ai tại chính nơi vẫn thường gửi xe; chúng tôi đành lủi đại xe vào căn nhà vắng người không khóa cửa (2). Vả lại trước Tết năm bảy hôm, người dưới núi vẫn không cảnh báo chúng tôi điều gì khi thấy chúng tôi xồng xộc leo lên leo xuống… núi. 
Người thanh niên tự giới thiệu:
 - Tôi cũng là người tu, đang tu ở chùa BS – chỉ tay về ngôi chùa mái đỏ. - Hai huynh đi thăm ai ở núi này? 
Với tất cả sự dè dặt có thể, tôi kể mọi chuyện từ đầu đến cuối và tả luôn nhân dạng thầy Tư; nhưng giấu tiệt những gì liên quan đến việc thầy Tư muốn vào đạo, việc hôm nay cha T. trong tư thế sẵn sàng rửa tội cho ông. 
Vị tu sĩ rất ngạc nhiên và thỉnh thoảng lại kêu lên:
 - Cơ duyên! Ôi đúng là cơ duyên thiên hộ!... 
Có lẽ thấy chúng tôi vô hại hay sao đó, vị tu sĩ trẻ ngập ngừng giây lát rồi cởi mở:
 - Tôi cũng tu ở chùa BS với thầy Tư; ông ấy tên là Đạo Tâm. Đúng là ông ấy có nhiều đặc dị so với mọi người trong chùa, ví dụ sống bằng gì thì tôi không biết, nhưng nhất định không phải do ăn cơm uống nước, vì ổng coi rẻ việc ăn uống; kế đến, ổng có tài chịu nhịn, chịu thua, chịu thiệt trước bất kỳ ai; kế tiếp, ông này tuy mắc bệnh lao phổi thật, nhưng vẫn cứ “sống nhăn” cho đến hôm nay là đã gần bảy mươi tuổi; rồi đang sống bỗng ổng lăn ra chết như ta đi ngủ, vài hôm lại sống dậy; sống dậy cũng đã là kỳ quái lắm rồi, nhưng dường như chưa đủ, thử hỏi sức lực ở đâu ra mà tự “phá banh” cái quan tài, đi ra khỏe re làm tụi tôi sợ hết vía, cả “bọn” kéo nhau chạy hết ra sân; nay thì sống như không khác gì “quỷ nhập tràng”… 
Kể đến đây vị tu sĩ bỗng hạ giọng nói khẽ khàng như ngại sợ ai đó lén nghe được:
 - Chuyện sống dậy như thế tưởng cũng đã quá đủ khi cả chùa một phen “ruột gan lộn tùng phèo” rồi. Không đâu! Thầy Tư còn gây thêm một vụ lớn, lạ… tầm cỡ… bom nguyên tử nổ giữa chánh điện lận ông nội! Đó là sống dậy xong, thầy ấy “chê” luôn… không thèm tụng kinh niệm Phật gì ráo! Thế là càng củng cố thêm lên cho án quyết “quỷ nhập tràng” của Hòa thượng trụ trì. Bị đuổi ra khỏi chùa, bị xa lánh và bị mọi người mong sớm làm mồi cho thú dữ… thầy Tư nhẫn nhịn, thinh lặng và dật dờ sống như một bóng ma… như hai huynh thấy. 
Như đoán được câu hỏi, vị tu sĩ trẻ trả lời chúng tôi:
 - Tôi cũng không thể làm ngược với mọi người; có điều thấy một người như vậy thì thương, nên ngày có ngày không, ngày nào tiện thì lén gói một nắm cơm vào lá chuối đem cho thầy ấy, gặp mặt thì trao tận tay, không thì để vào một hốc cây đã hẹn. 
Vị tu sĩ trẻ kể tiếp với giọng nói sang sảng trở lại:
 - Ba ngày Tết vừa qua, không gặp được thầy Tư, cũng chẳng thấy ổng lấy cơm trong hốc cây; tôi đi tìm thì thấy thầy ấy nằm liệt ở chỗ rắn dữ thường lui tới. May mắn! Ổng nằm trong hốc đá thấp hẹp và hiểm hóc, vì nếu chỉ cần nằm ngoài hốc đá thôi thì bọn rắn “mần tiệc” Tết ổng rồi! Tôi cõng ổng về giấu ở đây… 
Vị tu sĩ trẻ nắm tay cha T. và khoác vai tôi đi đến chỗ thầy Tư. 
Chỉ một đoạn đường ngắn chừng non một trăm mét, nhưng vì leo lên nhiều dốc, nên có vẻ khá xa. Khi vị tu sĩ trẻ dừng chân, chúng tôi thấy một tán cổ thụ xum xuê cành lá, tươi tốt lạ thường; đi vòng qua bên kia của gốc cây quá là to, chúng tôi nhìn thấy thầy Tư đang nằm, mắt nhắm chặt… phía bên trong bọng cây. Vị tu sĩ trẻ lên tiếng:
 - Thầy Tư ơi có khách! 
Mở mắt ra vừa nhìn thấy tôi, thầy Tư ngồi dậy mừng rỡ nở một nụ cười thật tươi. Định đứng lên để đón tiếp, nhưng có vẻ như thầy không còn sức để làm việc đó. Tôi đỡ thầy ngồi lại và vui mừng nói:
 - Con tìm thầy từ sáng, đến giờ mới gặp được! Mừng làm sao! Thầy ơi! Thầy có bị làm sao không? 
Thầy Tư lịch sự chào từng người. Sực nhớ, tôi giới thiệu cha T. cho thầy Tư. Nhưng vì mừng quá nên tôi nói toạc:
 - Thưa thầy! Đây là linh mục T., bạn của con. 
Thầy Tư nhìn cha T. bằng một ánh mắt long lanh vui mừng dường như không thể tả. Hai người chào nhau cách thân thiện như đã quen nhau từ lâu. 
Đang đứng cách đó vài mét để quan sát động tĩnh, vừa nghe tôi giới thiệu anh T. là linh mục, vị tu sĩ trẻ xáp lại gần ngay lập tức, ngạc nhiên kêu lên với tôi:
 - Ô! Huynh nói sao? – Chỉ vào cha T. - Huynh này là linh mục à? Ông cha đạo bên Công giáo sao? 
Cứ xem cái cách ngạc nhiên thú vị thì biết vị tu sĩ trẻ chưa từng gặp linh mục. Dầu vậy, anh ta vẫn tỏ ra không có gì là bất lợi cho những dự định của chúng tôi đối với thầy Tư. 
Cha T. thì khỏi nói! Chớp mắt đã quên hết mọi điều không được tốt lắm vừa qua; máu me “bang giao tầm quốc tế”, tính “xởi lởi cởi cho không”, kiểu ăn nói bán mạng… của anh bạn tôi giờ đã trở lại đầy đủ… Cha T. lập tức làm cho chàng tu sĩ trẻ tuổi đầy hào khí và phóng khoáng kiểu dân “miền Tây núi Cấm” chỉ có nước “từ khoái chí khoái” mà thôi. 
Nếu không có tiếng kêu kỳ lạ cất lên nghe rờn rợn từ xa vọng tới thì chàng tu sĩ trẻ còn “đối khẩu đối thiệt” với cha T. không biết đến bao giờ mới thôi. Chàng tu sĩ trẻ dễ mến lập tức phóng người đu lên một cành cây rồi phóng đi nhanh chóng như lúc mới đến. 
Cha T. quan sát, hỏi han thầy Tư để thẩm định tinh thần, trí năng, lòng ước muốn, sự hiểu biết đạo, hiểu biết Chúa, lý do và mục đích muốn trở thành Kitô hữu… để tin chắc rằng không cử hành bí tích thánh tẩy cách bừa bãi và vô ích. Nhưng thầy Tư càng trả lời, tôi càng có cảm tưởng người hỏi phải là thầy Tư, vì những điều ông trả lời, tôi – nói lén mà nghe, có lẽ cả cha T. nữa cũng nên - đều cảm thấy mới, lạ và đáng ngạc nhiên. Ví dụ khi cha T. hỏi thầy Tư:
 - Thầy có thật lòng ước muốn trở thành Kitô hữu không?
 - Thưa cha! Con trở về từ cõi chết chỉ để làm việc ấy.
 - Thầy biết Công giáo là đạo gì?
 - Thưa, đạo của tình yêu thương.
 - Vào đạo Công giáo, làm Kitô hữu để làm gì?
 - Để sống và quảng bá yêu thương như ý Chúa muốn.
 - Nhờ đâu thầy biết những điều đó?
 - Thưa, nhờ bước vào cõi chết.
 - Tất cả những ai bước vào cõi chết đều hiểu được điều đó sao?
 - Thưa cha! Con không biết. Chỉ biết một điều, khi bước vào đời sau, không ai không hối tiếc; tất cả đều hối hận chỉ khác nhiều hoặc ít mà thôi; thánh nhân “hối tiếc” sao mình không thánh hơn, kẻ đạo đức “hối tiếc” sao mình không làm thánh, kẻ vô đạo “hối tiếc” sao mình không có đạo… 
… 
Tôi kể lại sẽ không sao đầy đủ, linh hoạt và thú vị cho bằng ai được trực tiếp tham dự cuộc trao đổi này. Cha T. rất giỏi pha trò. Trong suốt cuộc trao đổi giữa anh và thầy Tư diễn ra bằng hỏi đáp nghe rất vui, rất thú vị. Tôi thật không muốn kết thúc dù nắng trưa đã ngả màu báo hiệu giờ cha T. phải có mặt tại nhiệm sở lúc 16g. 
Cha T. hỏi một câu rất “xuất thần”:
 - Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu có thể không cần phép rửa, vậy tại sao Người bắt buộc và chỉ cho phép một mình thầy trở về để chịu phép rửa?
 - Thưa cha! Vì con còn cần lắm cho một người. Người đó là thầy Tám Thuần Phát, người vừa đưa cha và chú đến đây. Cũng có thể không phải chỉ thầy Tám Thuần Phát, mà nhiều người trong chùa BS.
 - Nghĩa là Chúa cũng thương thầy Tám Thuần Phát và những người trong chùa BS dù họ chẳng hề màng biết Chúa?
 - Thưa cha! Chúa thương hết mọi người không trừ ai. Thương vô cùng là khác! Tại chúng ta vô tình thôi! Chúa để ý riêng từng người chứ không chung chung, nhưng lại luôn tôn trọng sự tự do của mỗi người.
 - Rất có thể thầy biết hơn cả chúng tôi là những người đương đạo? Tại sao vậy?
 - Thưa cha! Biết thì dễ, cảm được tình Chúa mới khó và ít người đạt được. Muốn cảm phải có ân huệ của Người ban. Ân huệ lại chỉ đến cho những ai ước ao khao khát mãnh liệt. 
Cha T. vừa chuẩn bị nước lấy ra từ trong túi xách Air France (3) vừa tranh thủ hỏi thêm:
 - Nhận bí tích Rửa tội xong, thầy sẽ chết trở lại đúng không?… Thầy không sợ à? 
Thầy Tư vẫn với vẻ mặt hồn nhiên, nụ cười bẽn lẽn, trả lời:
 - Thưa nếu Chúa muốn con sống, con sống tiếp. Mọi sự xin tùy Người. 
Chợt thầy Tư nhìn cha T. và tôi vài giây rồi hỏi:
 - Đã vào được chốn ấy (4) rồi, liệu có ai còn muốn trở về trần lụy này nữa? 
Nụ cười bẽn lẽn cố hữu trên môi thầy Tư, bỗng biến thành nụ cười thông minh hóm hỉnh. 


(còn tiếp theo phần 4 của kỳ 49) 



(1) Huynh: (Hán ngữ) nghĩa là anh. 
(2) Vùng này ít xảy ra trộm cắp. 
(3) Túi xách nhỏ gọn, bình dân… bằng simili là thời trang của giới giáo sĩ, tu sĩ Công giáo thời bấy giờ. 
(4) Cha T. lẫn tôi đều hiểu “chốn ấy” là thiên đàng.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 16.06.2026 07:15:46
Kỳ 49 
 
(Phần 4 của kỳ 49)
 
Thầy Tám Thuần Phát, tức người thanh niên trẻ tuổi hào sảng, lúc ra đi cách nào thì khi trở về cũng bằng cách ấy; vừa nghe tiếng lá xào xạc đã thấy thầy ấy buông mình từ trên cành cây cao xuống “phịch” một cái đã đứng ngay trước mặt tôi… chứng tỏ võ nghệ của thầy ấy đã đến bậc có thể gọi là kỳ tài. Mọi người chưa kịp định thần thì thầy Tám nói luôn:
 - Tôi về rồi đây!... Lạ quá! Không biết con thú gì mà tiếng hú nghe ghê rợn quá! 
Tựa như để trả lời thầy Tám, hai ba tiếng hú liên tiếp và dồn dập vọng lại. 
Cha T. đỡ thầy Tư ngồi thẳng lên, thầy Tám cũng sà vào cùng với cha T. và tôi, cả 3 người ngồi gần như vây quanh thầy Tư. Cha T. nói với thầy Tư, nhưng hình như anh có chủ ý nói cho thầy Tám nghe và hiểu, để thầy ấy đừng có hành động gì cản trở thầy Tư lãnh bí tích rửa tội:
 - Thiên Chúa có Ba Ngôi, Ngôi Thứ Nhất là Đức Chúa Cha, Ngôi Thứ Hai là Đức Chúa Con, Ngôi Thứ Ba là Đức Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi nhưng là Một Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa thấy loài người bị bản năng lấn át, thúc ép và lôi kéo ngày càng xa rời khỏi Người, chắc chắn sẽ có ngày lạc mất đường về Trời, Ngôi Thứ Hai liền hạ mình xuống thế trở thành một con người thật sự lấy tên là Giêsu hiệu là Kitô; Kitô có nghĩa là cứu thế. Đức Chúa Giêsu Kitô ở thế gian 33 năm để dạy loài người biết Thiên Chúa là Cha nhân hậu của loài người và dạy loài người đường trở về Trời bằng yêu kính Thiên Chúa như cha, đồng thời loài người biết yêu thương nhau như anh em. Một số kẻ xấu bắt giết Người, Người sẵn lòng tự chịu và đã chết thật sau khi bị đánh và bị đóng đinh trên cây thập giá. Nhưng tuyệt vời! Chưa đến 3 ngày, Người tự sống lại, sau đó tự về trời trở lại. Ý tứ mọi việc Đức Chúa Giêsu Kitô làm ở trần thế là: cho loài người biết rằng, hễ ai đi theo đường Người dạy: tức là sống yêu thương; sống yêu thương ắt đi ngược thói đời; mà đã đi ngược lại với thói đời thì cũng sẽ bị đời làm cho khổ đau, khổ đau có khi đến chết... nhưng bảo đảm rồi sẽ sống lại như Người và được về trời như Người, về trời để được quây quần với Thiên Chúa… 
Thầy Tám Thuần Phát tức người thanh niên trẻ tuổi đẹp trai, ngồi xếp bằng gọn lỏn, mắt nhìn cha T. không chớp, tai lắng nghe với khuôn mặt sáng trưng phản ánh sự đĩnh ngộ (1). Riêng cha T. và thầy Tư, cả hai nhìn nhau chằm chằm như xuyên như thấu. Cha T. nói tiếp với thầy Tư:
 - Mãi cho đến ngày thế trần tận mạt, ai vâng nghe Lời Đức Chúa Giêsu Kitô, đi đường Người chỉ dạy, người đó được tắm rửa trong ơn cứu độ… Ơn cứu độ là ơn được nghe, được biết lắng nghe, được nghe mà thấu hiểu và được biết làm theo Lời Chúa dạy... người được ơn cứu độ đó sẽ được cứu thoát và được vào Nước Trời... Vậy thầy Tư có muốn đi theo đường của Đức Chúa Giêsu Kitô dạy và kêu gọi... như tôi vừa kể không?
 - Dạ muốn! 
Lạy Chúa! Những tưởng tiếng trả lời nhanh gọn và dứt khoát kia phát ra từ miệng của thầy Tư. Không đâu!… Đó là tiếng của thầy Tám Thuần Phát trả lời... Trả lời như thế thật không khác gì “phỏng tay trên” thầy Tư. Ai có mặt ở đó vào lúc ấy bảo đảm sẽ không khỏi phì cười. 
Cha T. lại quên khuấy mình là ai, ở đâu và đang làm gì… nữa rồi! Cái “bổn tính đốp chát” lại trỗi dậy, anh cười hắc hắc... một tiếng rồi quay sang thầy Tám “phán” gọn:
 - Tao hỏi ổng chứ hỏi mầy à? 
Thầy Tám cười bẽn lẽn cho sự “phản ứng nhanh không cần thiết” của mình. Dường như cha T. ân hận vì cái cách ăn nói “lỗ mỗ đầy tính chém chặt” của mình nên dịu giọng với thầy Tám:
 - Ờ! Thì thầy cũng muốn đi đường Đức Chúa Giêsu Kitô dạy… nữa, phải không? 
Nhưng thay vì trả lời “có”, hay gật đầu tỏ vẻ ưng thuận, thì bất ngờ thầy Tám nằm duỗi ngay đơ ra, ưỡn người rồi giẫy giụa, chân đạp đá, tay khua chiêng, mắt trợn ngược… Khi chúng tôi chưa kịp tìm hiểu xem thầy ấy định làm gì thì… nhanh như chớp, thầy Tám phóng mình ra bãi đất trống vừa múa võ, miệng vừa la hét vang trời bằng những thứ tiếng lạ nghe chẳng hiểu gì... 
Cả ba người, Cha T. thầy Tư và tôi, chúng tôi không ai hiểu chi ất giáp; cả ba cứ nhìn trân trối và đành bó tay để mặc thầy ấy múa may quay cuồng như điên. 
Lạ một điều, cây cối cả một vùng xung quanh chúng tôi, lúc này đây, bỗng đồng loạt xào xạc và run rẩy cả lên, những cành cây dường như bị uốn cong nghe răng rắc dù lúc ấy không hề có một chút gió. 
Múa võ tuyệt đẹp, la hét ầm ĩ đến chán chê trong một thời gian khá lâu, thầy Tám bất ngờ bẻ gãy 2 cành cây to bằng cổ tay người lớn, rồi dùng 2 cành cây ấy tự quất lên khắp thân thể mình liên tục, ai nhìn thấy chắc chắn không khỏi xót đau giùm. Thầy ấy cứ quất mình như thế cho đến khi 2 cành cây từ có lá đến trụi lá, rồi từ từ giập tưa ngọn cả ra… đủ biết thầy ấy tự đánh mình nhiều và mạnh như thế nào. 
Chúng tôi không dám can ngăn, chỉ biết kêu la yếu ớt xin thầy ấy dừng tay lại. 
Chừng như không còn hơi sức nữa, thầy Tám từ từ yếu dần, buông cây, lảo đảo rồi quỵ xuống và ngã ra, nằm sóng soài trên mặt đất bừa bộn lá cây tươi rơi rụng tơi tả; trên thân mình thầy Tám, nhiều chỗ tóe máu. 
Đến lúc này thầy Tư mới kêu lên:
 - Xong rồi! Bọn nó rút đi rồi! 
Nói xong thầy Tư lắc đầu thương cảm:
 - Tội nghiệp quá! Ôi!... 
Thấy cha T. và tôi ngơ ngác không hiểu gì, thầy Tư giải thích:
 - …thầy Tám Thuần Phát được một vị sư vừa dạy võ, vừa dạy luyện bùa luyện ngải. Nhưng nặng nhất có lẽ thầy ấy mắc phải một lời thề gì đó với quỷ ma hoặc âm binh thần tướng nào đó, nên khi thầy ấy muốn theo Đức Chúa… Giê…su; muốn như vậy tất nhiên phải bội ước vong thề chống lại bọn chúng, nên bọn chúng kéo đến và vây đánh thầy ấy đến như vậy đó… thưa cha! 
Thầy Tư nói với vẻ ái ngại:
 - Chắc thầy ấy sẽ còn bị “ăn đòn” nhiều trận như vậy hay hơn nữa! “Chậc!”… Có lẽ không phải chỉ bấy nhiêu đây thôi đâu! Thề hứa với Thiên Chúa mà bội ước thì Chúa sẵn lòng tha, thế nhưng thề hứa với bọn sa tăng ác quỷ ma tà hung tợn mà bội phản chỉ có nước chết…! 
Khi cả 3 người còn đang tư lự, tôi chợt nhớ ra một điều: đó là như trước đây đã từng chứng kiến, tôi thấy cha Luca khi gặp trường hợp tân tòng bị ma quỷ khuấy phá vào lúc sắp được rửa tội, ngài lập tức rửa tội cho người tân tòng ấy, tà thần sẽ rút lui ngay. Tôi nói suy nghĩ đó với cha T. 
Sau vài giây suy nghĩ, cha T. nhận thấy hữu lý nên nói:
 - Được lắm! Vì chính miệng thầy ấy vừa xong đã nói “muốn” bằng cả sự thức tỉnh; nghĩa là thầy ấy đã ý thức, đã tin vào Chúa Kitô và đã muốn theo Chúa... Vậy là đủ điều kiện để được chịu phép rửa tội. 
Tôi gật đầu lia lịa. Thầy Tư cũng tỏ vẻ tán thành. 
Cha T. lập tức tiến hành làm phép rửa tội trước tiên cho thầy Tư. Khi thầy Tư lãnh nhận bí tích Thánh tẩy xong, chúng tôi sốt sắng đọc vài kinh để kéo dài thời gian hạnh phúc cho thầy Tư; sau đó cùng tiến ra bãi đất trống, cha T. tiếp tục rửa tội cho thầy Tám đang nằm thoi thóp. Hai anh em chúng tôi cũng đọc vài kinh tạ ơn Chúa. 
Tôi lấy một ít nước thánh còn dư, vừa nâng đầu thầy Tám lên vừa đút từng ngụm vào miệng thầy ấy; kiên nhẫn làm từ từ như vậy, một lúc lâu thầy Tám tỉnh dần và hé mắt ra. Chờ cho đến khi thầy ấy tỉnh hẳn, tôi đỡ thầy ấy đứng lên rồi cùng với cha T., cả hai dìu thầy Tám vào ngồi cạnh thầy Tư. 
Thầy Tư mừng như người vừa được chia gia tài, nói với thầy Tám:
 - Thầy ơi! Chúng ta được phúc lớn không thể tả… đó là được phúc trở thành những người chính thức đi theo Đức Chúa… Giê… su… Thầy ráng từ nay chịu đựng mọi khổ đau trên đường theo Chúa. Tôi thì dễ, phần thầy thì từ nay trở đi sẽ… khó… rất khó rồi đây! Ráng đi thầy! 
Thầy Tám lặng thinh, gương mặt còn phờ phạc chứng tỏ chưa tỉnh táo trở lại như thường khi. Thầy Tư nói với cha T. và tôi:
 - Chúng con thật vô cùng cám ơn cha và cám ơn chú… 
Nén cảm xúc một lúc, thầy Tư nói tiếp:
 - Thưa cha! Bọn xấu ở bên kia thế giới nhiều vô kể. Hễ ai ở đời mắc tội… phạm đến người khác như xâm hại thể xác hay tinh thần người khác dưới bất kỳ hình thức nào, từ nói xấu, ganh ghét, oán thù, vu vạ, hiếp đáp, áp bức, lừa gạt, gian lận, ăn lời quá đáng, hãm hại… cho đến đánh người, giết người, hại người… tất cả đều sẽ bị án phạt rất nặng. Thưa cha!... Rất nặng!... Ghê rợn nhất là những kẻ hỏi cung, tra tấn tội nhân, những vua chúa độc tài, kẻ có quyền ức hiếp người dưới, những đao phủ, lý hình… tất cả những kẻ đó đều phải hóa thành như quỷ dữ, ma độc, ác thần ngay sau khi chết với đủ mọi thứ hình thù cực kỳ kinh khiếp. 
Thầy Tư nhìn thầy Tám rồi nói tiếp:
 - Thầy Tám vừa bị bọn đó đấy thôi! Chính bọn đó chứ chưa phải đích thân bọn quỷ dữ đâu!... Xin cha xem có cách nào giúp thầy ấy mau thoát khỏi bọn chúng; đừng để bọn chúng đến với thầy Tám một lần nào nữa!…- Thầy Tư lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, nói thêm - Chúng ta đây đang bình thường, chỉ cần tin bọn chúng thôi là có chuyện; vì vừa tỏ ý đặt niềm tin vào bọn chúng, bọn chúng liền kéo đến vây quanh ủng hộ hết mình… chứ chưa cần đi theo bọn chúng; vì tin vào ai người đó sẽ ủng hộ; tin vào Chúa, Chúa sẽ hộ phù, tin vào ma quỷ, ắt ma quỷ sẽ kết bè kết lũ ám nhập dây dưa, dắt díu cả bè, liên tục lôi kéo và hùa hập giúp đỡ; vậy nên bỏ Chúa thì dễ, bỏ ma quỷ thì không dễ! 
Cha T. rút từ trong túi ra một chuỗi tràng hạt, hơi do dự, rồi đeo vào cổ cho thầy Tám. Thấy vậy tôi cũng lấy tràng hạt luôn mang theo bên mình, tặng cho thầy Tư. Cha T. giải thích cho hai thầy – thầy Tám lúc này đã khá tỉnh - về Đức Mẹ Maria một cách tóm tắt… sau đó anh cũng chỉ cách lần chuỗi cho hai người. Cha T. nói thêm:
 - Hai thầy chưa thể thuộc kinh “Lạy Cha, Kính mừng, Sáng danh”… để lần chuỗi, vậy thì làm thế này: cứ mỗi khi dùng ngón tay bấm vào một hột kinh, hai thầy kêu tên “Lạy Mẹ Maria, lạy Mẹ Maria…” là đủ! Mục đích lần chuỗi là: giúp chúng ta gần gũi với Đức Mẹ Maria. Theo nguyên lý “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, chúng ta càng được gần gũi với Đức Mẹ Maria, chúng ta được sáng lây. Sáng lây chẳng những sẽ xua tan bóng tối của quỷ ma, mà còn được ơn Đức Chúa Thánh Thần từ Đức Mẹ Maria thông đổ sang cho chúng ta. Ý nghĩa của lần chuỗi là vậy đó! Nếu lần chuỗi thường xuyên, ma quỷ sẽ không còn cơ hội đến gần chúng ta. 
Thầy Tư mân mê chuỗi tràng hạt một lúc rồi xuýt xoa nói:
 - Trời ơi! Có ngờ đâu đây là phương pháp giúp người đạo Chúa được gần kề bên Chúa Mẹ mà con không biết. Bây giờ thì biết rồi! 
Cha T. nhìn đồng hồ và tỏ ý muốn ra về. 
Thấy đã gần 16g, nếu có về, cha T. sẽ không còn kịp nữa với công việc đã ước hẹn; tôi đề nghị anh cùng với tôi, cả hai nên ở lại với hai ông thầy tu vừa mới trở thành Kitô hữu, để hỗ trợ tinh thần và có thể chỉ dẫn thêm cho họ được nhiều điều, đặc biệt thầy Tám, người sẽ trở nên rất trơ trọi với bao là khó khăn khi quay lại chùa BS, đồng thời thầy ấy giống như một tấm bia cho ma quỷ “nhắm bắn”. Suy nghĩ nhanh trong tích tắc, cha T. đồng ý ở lại. 
Tuy nhiên, ngồi lại mới chỉ chừng đôi mươi phút, cha T. đổi ý; dù biết về đến nhà sẽ trễ việc và trời tối, nhưng tính chừng mực đúng giờ đã ngấm vào máu của anh từ lâu rồi, nó khiến lòng dạ anh không yên. 
Chào mọi người, cha T. xuống núi ra về, còn tôi, tôi đã quyết ở lại. 
Suốt đêm đó thầy Tám cũng không quay lại chùa BS. Với những đòn bánh tét, bánh ú nhân thịt mỡ, những chiếc bánh ít mình ngọt nhân trắng to tướng… do Má tôi gói ghém để gửi cho thầy Tư, giờ đây đủ cho ba người, thầy Tư, thầy Tám và tôi, dùng ... thoải mái có đến nhiều ngày mới hết. 
Tôi không ngủ là bao trong đêm hy hữu này, chỉ thỉnh thoảng ngả đầu vào gốc cây thiếp đi ít phút, bởi vì khi cha T. xuống núi ra về, tôi lập tức bắt đầu trò chuyện với thầy Tư cho thỏa – tôi vẫn còn háo hức vì tò mò muốn biết phía bên kia tấm màn của sự chết, đời sau ra làm sao. Trọn một đêm tôi đã hỏi thầy Tư rất nhiều về những gì thầy Tư biết được sau khi chết. Phải nói, đó là những điều rất lạ lùng, mới mẻ, quý giá và bổ ích không ai khác có thể dạy cho tôi được. Từ những hiểu biết đó, tôi “ngộ” ra thêm nhiều điều và nhìn rõ được nhiều thực tại không ai có thể ngờ. 
Đáng mắc cỡ! Nói rằng mình ở lại để giúp đỡ hai tu sĩ kia, ngờ đâu chính họ là những người giúp đỡ tôi qua sự truyền dạy và chia sẻ kiến thức lẫn kinh nghiệm của họ. Tôi tận dụng rốt ráo trọn một đêm quý báu. 
Sáng hôm sau tôi ra về.
 ... 
Má tôi vui mừng từ hôm qua khi nghe cha T. ghé ngang thông báo hết mọi chuyện. Phần tôi, về đến nhà ngủ vùi một giấc thật no nê, xong rồi mới từ từ thuật lại tất cả, từ mọi chi tiết của sự việc đến những bài học quý giá mà thầy Tư truyền thụ. 
Ba ngày sau tôi trở lại đại chủng viện để học tiếp. 
Từ đó tôi đành để mất hẳn mối giây liên lạc với hai tu sĩ dễ mến kia, dù đã hai lần một thân một mình tôi leo lên núi Cấm – lúc này chiến sự diễn ra rất ác liệt quanh núi Cấm - để tìm họ trong dịp nghỉ hè tiếp liền theo đó. Thú thật tôi rất... rất... khao khát muốn biết sau khi trở thành Kitô hữu thì bao lâu sau thầy Tư mới được Chúa gọi về, hay là... Chúa lại cho thầy sống thêm vài mươi năm nữa? Tôi cũng khao khát không kém muốn biết số phận của thầy Tám giờ ra sao sau khi dám bội ước với ma quỷ để lãnh bí tích Rửa tội và đi theo Chúa? 
Khao khát thì khao khát! Việc học hành ở đại chủng viện đã chẳng giúp tôi thỏa lòng khao khát mà ngược lại còn khiến tôi quên dần đi mọi chuyện. 
Cuối kỳ nghỉ hè cũng trong chính năm đó, tôi được về thăm nhà, Má tôi kể một hôm trời nhá nhem tối, có một anh lính trẻ vai mang balô ghé nhà hỏi thăm tôi; người lính trẻ ấy nhắn tin rằng, anh ta là “thầy Tám Thuần Phát” ở núi Ông Cấm, đã hồi tục đi lính, hiện đơn vị đóng ở Núi Trầu, Kiên Giang v.v... 
… 
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thầy Tám lại đến nhà tìm tôi thêm vài lần nữa, nhưng không lần nào có tôi ở nhà. Cuối cùng vào năm 1980 chúng tôi gặp được nhau; thầy Tám – cho đến giờ tôi vẫn thích gọi như vậy - giờ trở thành một nông dân sống gần một ngọn núi không xa núi Cấm là mấy. Tuổi đã ngoài ba mươi, nhưng thầy ấy vẫn ở độc thân phụng dưỡng mẹ già và chăm sóc cô cháu gái bị bệnh hiếm. 
Vừa gặp nhau, sau vài câu thăm hỏi, tôi đã nêu ngay thắc mắc chuyện thầy Tư, thầy Tám kể:
 - Năm đó sau khi cha T. và huynh ra về, thầy Tư chỉ sống vỏn vẹn được một tuần rồi chết; ông chết một cách nhẹ nhàng như ta nhắm mắt đi vào giấc ngủ. Đệ chôn thầy Tư ở ngay trong bọng cây nơi chúng ta từng ngồi cùng với thầy ấy, bằng cách lấy đất đá lấp bọng cây lại, trên thân cây khắc đôi dòng chữ để ghi dấu. 
Thầy Tám kể thêm:
 - Tuy chỉ sống một tuần, nhưng đệ được thầy Tư dạy cho nhiều điều rất quý để sống đạo đến hôm nay; hiện mẹ và cháu gái của đệ cũng đã trở thành Kitô hữu thuộc họ đạo NS. 
Không đợi tôi hỏi, thầy Tám tự kể:
 - Còn đệ ư? Chuyện về đệ thì vừa dài vừa hy hữu. Chúng ta phải thức mấy đêm liền mới có thể kể nhau nghe hết mọi nỗi. 
Để thuyết phục tôi tin chuyện của anh dài và hy hữu, thầy Tám cởi chiếc áo bà ba đen đang mặc trên người ra cho tôi xem. 
Lạy Chúa lòng lành! Tôi không thể tin nổi nếu chỉ nghe ai đó kể lại; nhìn thấy thân thể thầy ấy ra nông nỗi tôi thật không thể hiểu tội tình gì thầy ấy phải chịu như vậy? Tôi gật đầu hẹn vài hôm sau sẽ đến. 
 
(còn tiếp theo phần 5, tức phần cuối của kỳ 49) 


(1) Ai từng làm thầy giáo đứng bục nhìn xuống giảng bài, sẽ bắt gặp những khuôn mặt học trò bên dưới sáng trưng đĩnh ngộ khi người nào bắt kịp, thông hiểu và đón nhận chân lý (điều hay lẽ thật). Tác động của chân lý trên con người mạnh đến thắp sáng tâm linh, bừng soi diện mạo. Trái lại, khi đón nhận điều tà mỵ, khuôn mặt người ta lúc ấy tối sầm vẻ u ám, xám xịt của bóng đen.

Sun Ming
  • Số bài : 376
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 12.05.2009
Re:Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu - 3 giờ
Kỳ 49
 
(Phần 5a của kỳ 49)
 
Sau khi sắp xếp công việc xong, tôi đến và ở chơi với thầy Tám Thuần Phát một ngày và một đêm trong ngôi nhà nhỏ nằm sâu trong đồng vắng mênh mông bên bờ rạch nho nhỏ. Thầy Tám Thuần Phát kể lại mọi việc một cách thứ tự theo dòng thời gian. Tôi say sưa lắng nghe giống như theo dõi một cuốn phim, định bụng về nhà sẽ thuật lại cho Má tôi và cha T. nghe vì hai người rất quan tâm đến số phận của thầy Tư và nhất là thầy Tám.
Thầy Tám kể:
- Sau khi cha T. và huynh ra về, thầy Tư dạy tôi, tuy ông nói ít, nhưng tôi hiểu nhiều. Đến bây giờ tôi cũng vẫn còn nhớ như in những gì thầy Tư dạy. Đó là “đích thực có Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta chỉ có thể “thấy” rõ sau khi chúng ta chết đi… Người là Đấng vô cùng sáng láng và đẹp đẽ đến nỗi trí khôn loài người không thể hình dung, cũng không thể chịu nổi khi nghĩ đến”. – Tôi nhớ lại: cho nên trước đây mỗi lần thầy Tư định tả về Thiên Chúa, ông ngất xỉu ngay khi vừa bắt đầu hồi tưởng. Má tôi đã từng suy đoán đúng như vậy - “Chúng ta và mọi sự đều phát xuất từ Người. Chúng ta quá sức nhỏ nhoi và bất xứng; bất xứng đến độ giống như chúng ta đều “khốn nạn” nếu không được Người yêu thương; chúng ta vô cùng vụng dại và thô bẩn đến nỗi có thể ví von rằng: mọi sự tôn thờ Người của chúng ta, đều là bất xứng nếu không được Người thứ tha và ghé mắt đến… Mọi loài được Người sinh ra đều bắt buộc phải tôn thờ yêu kính Thiên Chúa. Ai tôn thờ thứ gì khác ngoài Thiên Chúa… đều có tội. Lúc còn đang sống trên trần gian, chúng ta không thấy được điều này, nhưng khi chết rồi chúng ta mới thấy được; thật khốn khổ! Thấy được thì coi như đã muộn! Người ta khôn hay dại là ở chỗ đó!”. Thầy Tư nhấn mạnh điều này: “Thiên Chúa dạy chúng ta qua nhiều bậc đại thánh và còn đích thân Người trong Ngôi Hai xuống trần để dạy đường trở về với Người… Thiên Chúa dạy dỗ khuyên răn chớ không ép buộc, lúc nào chúng ta cũng còn nguyên sự tự do; vì nếu còn có sự tự do thì thưởng, phạt mới còn có ý nghĩa. Nhân vì dùng sai sự tự do của mình mà thế giới mới có nhiều kẻ xấu hơn người tốt. Số phận của mỗi người được định đoạt bởi cách sử dụng tự do Chúa ban… Số phận Hai Ông Bà Nguyên Tổ - bị đuổi khỏi vườn Địa đàng cũng chỉ vì Hai Ông Bà đã sử dụng sai sự tự do - đó thật là một bài học cho chúng ta”.
Thầy Tám hỏi tôi:
- Huynh thấy “sợ” sự tự do chưa? – thầy Tám vừa cười khì khì vừa nheo nheo đuôi mắt để ghẹo tôi.
Tôi chưa biết đối đáp thế nào thì anh nói tiếp:
- Tự do chưa là trái cấm. Ý thức tự do, tức là “biết mình có tự do”, đó mới thực sự là trái cấm Hai Ông Bà Nguyên Tổ xưa đã “ăn”. – Đưa tay chỉ con chó vàng đang nằm ngoài sân, thầy Tám nói tiếp - Tôi không buộc giây cầm giữ con chó. Con chó có tự do “ở, hoặc bỏ tôi mà đi mất”, nhưng vì nó không “biết mình có tự do đi hay ở” nên con chó cứ quẩn quanh chân chủ dẫu lắm lúc bị đối xử rất phũ phàng… Khi Hai Ông Bà Nguyên Tổ ăn trái cấm “biết mình có tự do” vâng lời Chúa hay không, tức “biết lành biết dữ”… từ đó sinh ra tội… Nói rằng ăn trái cấm nên bị Thiên Chúa phạt đến đời con đời cháu… chúng ta, là nói cho dễ hiểu! Đúng ra nên nói: “ý thức mình có tự do” vâng lời Thiên Chúa hay không… khiến con người biết vâng lời Chúa là làm lành, bất tuân là làm dữ tức là phạm tội; tội thì bị ác quả… thế là từ đó chúng ta đổ hết tội cho Hai Ông Bà Nguyên Tổ vì ăn trái cấm mà truyền lưu tội nguyên tổ cho con cháu muôn ngàn đời. Nói vậy chẳng khác nào nói Thiên Chúa độc ác và thù dài hận dai!
Tôi ngỡ ngàng: Thì ra “trái cấm” hay “trái biết lành biết dữ” ở Vườn Địa đàng xưa là “ý thức mình có tự do”. Giả như loài người không biết mình có tự do thì loài người chẳng có tự do! Biết mình có tự do thì mới tự do thật. Không biết thì không có. Loài chó chúng ta nuôi trong nhà là một thí dụ. Vả lại, nếu không ý thức mình có tự do, loài người sẽ sống vô tư và hồn nhiên như loài gia súc, không phải chịu trách nhiệm gì về hành vi của mình, thế là chẳng có tội lỗi; nhưng nếu không có tội lỗi thì cũng sẽ chẳng có hình phạt, không có hình phạt cũng sẽ chẳng có phần thưởng. Tôi nghĩ: Lạy Chúa! Mọi sự trong trí tôi đang bắt đầu sáng ra.
Thầy Tám không cần biết tôi nghĩ gì, cứ thủng thẳng nói tiếp:
- Vâng nghe Thiên Chúa, chính là sử dụng tự do đúng đắn. Ai không vâng nghe lời Thiên Chúa, người ấy sử dụng tự do cách sai quấy và tất nhiên lãnh hậu quả, Thiên Chúa không cần phải đoán phạt ai! Vì vậy, Người vẫn cứ luôn tỏ mình ra là một người Cha nhân hậu, xót thương, khó bất bình, dễ tha thứ. Ai quan niệm “Chúa phạt”, “Chúa nghiêm xử”, “Chúa thẳng tay trừng trị”, “Chúa báo thù” vân vân… người đó xúc phạm lòng yêu thương vô bờ và lòng nhân hậu bao la của Chúa.
Tôi hỏi:
- Thầy Tư dạy cho thầy tất cả những điều này, đúng không?... Sao ổng ấy giỏi đến như vậy? Tôi học suốt 8 năm tiểu chủng viện, 2 năm triết, 2 năm đi thử và 2 năm thần cũng vừa xong đây, thế mà những điều vừa rồi nghe thật mới mẻ làm sao!
Thầy Tám gật đầu:
- Có lẽ ai từ cõi chết trở về đều có tầm hiểu biết trỗi vượt như thế. Tôi biết có người sống dậy sau khi chết, đã á khẩu luôn (1), không nói được một lời nào nữa cho đến khi chết trở lại; người ta suy đoán: có lẽ do những người đó đã thấy gì đó ở thế giới bên kia vượt quá trí óc loài người nên “hồn phi phách tán” đến nỗi không thốt nên lời!... Thầy Tư bảo tôi rằng: “Vì Chúa thương tôi đặc biệt nên thầy Tư được trở về từ cõi chết tắm gội trong ơn cứu độ của Chúa Giêsu Kitô qua phép Rửa tội để được vào gần Chúa hơn trong Nước Người… đồng thời vừa để cứu tôi, cứu cả những người trong chùa BS.
- Tại sao lại cứu cả những người trong chùa BS? – Tôi trố mắt trước điều mà có lần đã thắc mắc khi nghe thầy Tư nói trước đây.
Thầy Tám gật đầu:
- Thế mới nói ý định Chúa luôn lạ lùng đối với chúng ta!
Thầy Tám ngừng kể lắng tai nghe ngóng tiếng gì đó từ trong buồng của cô cháu gái nhỏ vọng ra… Anh chạy vội vào trong ấy một lúc.

Xong việc, thầy Tám bước ra. Thấy tôi nằm võng dây bố giăng giữa hai cột nhà bằng tre, anh cũng không ngồi trên ghế mà ngồi bệt xuống nền đất láng bóng, vấn điếu thuốc rê, châm lửa rít vài hơi dài rồi kể tiếp:
- Tôi còn nhớ như in.

- Xế chiều hôm đó sau khi chịu phép Rửa tội xong, tôi rón rén trở về chùa BS. Vừa bước vào tôi đã cảm nhận một điều gì đó không ổn sắp xảy ra… Vì đi vào bằng cửa hậu của gian nhà bếp trổ lên nhà trên, nên khi vừa bước qua ngạch cửa, tôi thấy ngay thầy Hai Từ Bảo, tức sư trụ trì chùa BS, đang ngồi trên bộ ngựa (2) với thầy Lù – “thầy Lù” là biệt danh không bởi vì sống đời tu hành, mà bởi vì tài cao phép cả; thầy Lù là sư phụ về võ nghệ lẫn bùa ngải của nhiều bậc cao tăng kỳ sĩ nức tiếng trên núi này, hiện tôi đang theo học với ông và được ông thương nhiều nhất trong số các đệ tử. Ai ai cũng biết rất khó gặp mặt thầy Lù, vì ông không bao giờ dễ dàng cho phép mình xuất hiện; vậy thì chuyện gì làm cho vị sư phụ khó tính khó nết này chịu xuất hiện dễ như thế? Lại còn xuất hiện ngay ở một nơi mà ông chẳng hề ưa thích tức chùa BS? Chắc phải có chuyện lớn! Tôi linh cảm chuyện lớn đó là chuyện chẳng lành cho tôi… Thấy hai vị sư phụ đáng kính đang ngồi xếp bằng trên bộ ngựa từ ở đằng xa, lại quay lưng về phía tôi, tôi vội né tránh; nhưng khi tôi chưa kịp lách mình vào sau lưng chiếc tủ gỗ cạnh cửa, thầy Lù đã quát to, giọng vang rền: “Thằng kia! Vô đây mầy!”. Tôi kinh hãi riu ríu đến trước mặt hai sư phụ. Thoạt tiên thầy Lù mắng chửi tôi như tát nước… Những lời mắng chửi ấy ban đầu tuy nhẹ, nhưng đã nghe có mòi như ông đã biết hết chuyện tôi vừa theo Chúa… dần dần càng nói, ông càng huỵch toẹt ra tôi đã được học quá nhiều bùa ngải và đã thề hứa cả đời để theo Tam thập Tà Thất thập Xú, Mười Hai Chư vị Ma Hán, nay tôi đạp đổ tất cả chỉ trong nháy mắt, giao hồn hết cho kẻ thù mà không hỏi ý ông thầy lấy một tiếng, thật là tội đại tặc phản đồ v.v… Trong lúc thầy Lù nói liên miên để trút cơn thịnh nộ khủng khiếp lên tôi thì thầy Hai Từ Bảo chỉ ngồi im không nhúc nhích cũng không hó hé lấy một tiếng. Lúc này tôi chợt hiểu ra một điều: đó là từ lâu, vì non kém tôi đã xem thường khả năng thân cận, tiếp xúc với quỷ dữ, điều động tà ma và khiển cử âm binh của sư phụ quá đặc biệt như thầy Lù… cứ xem: ông thầy biết hết mọi hành vi lẫn những ý nghĩ nhỏ nhặt giấu kín của tôi thì đủ hiểu.
Cắt lời thầy Tám, tôi hỏi ngay:
- Nghĩa là… có phải ông ta sai âm binh luôn giám sát thầy và đánh thầy một trận sống chết khi vừa đoán biết thầy có ý định xin nhận phép Rửa tội… đúng không?
- Đích xác! Kể cả những tiếng hú rợn người lúc ban đầu như để cảnh báo tôi… Tôi không thể tả được đôi mắt giận dữ của thầy… giận dữ gì mà hai con mắt trở nên như hai đốm lửa đỏ rực, thấy mà phát hoảng. Ông thầy nói: “Mầy đã phản bội lời thề! Uổng công tao dạy dỗ và coi mầy như con đẻ. Tại sao mầy làm thế?” Tôi lấy lại bình tĩnh dần dần, tuy nhiên tôi am hiểu tâm lý và tinh tường lễ nghĩa rằng: khi người lớn giận dữ, phận nhỏ làm con làm trò không nên trả lời ngay, đối đáp thẳng dù đúng đến đâu... vì khi đã thương, người nhỏ càng dại người lớn càng thương, lúc đã ghét, người nhỏ càng khôn người lớn càng ghét. Mắng chửi tôi thậm tệ cho “đã nư” một lúc thật lâu, ông kết thúc bằng án lệnh ngắn gọn: “Dẹp tất cả những gì mầy vừa làm thì tha, bất tuân thì chết”. Thầy Lù đứng lên nói: “Ba ngày nữa tao gặp lại mày ở đây”. Ông giận dữ ra về không chào thầy Hai Từ Bảo lấy một tiếng.
Ngưng một lúc thầy Tám kể tiếp:
- Khi thầy Lù đã đi xa, thầy Hai Từ Bảo tỏ ý muốn tôi thuật lại hết những gì tôi đã làm, khiến thầy Lù giận dữ. Tôi không giấu bất cứ điều gì, nhất là việc mình đã chịu phép Rửa tội và theo Chúa; sẵn tiện tôi cũng nhấn mạnh việc từ nay không còn là người của Cửa Phật nữa. Nghe xong thầy Hai Từ Bảo không tỏ ra bất cứ thái độ gì là giận hờn như tôi nghĩ, mà chỉ ngồi im như bức tượng rất lâu, rồi từ tốn nói: “Tất cả đều là nhân duyên, ai ngăn được nhân duyên chớ? Từ nay con hãy liệu lấy thân!”… Biết mình không còn là người của nhà chùa BS nữa, tôi lặng lẽ thu dọn quần áo, rồi kín đáo từ giã một mình thầy Hai trụ trì bằng cách quỳ lạy 3 lạy: nhất bái tạ tội, nhị bái tạ ân, tam bái xin phép, rồi âm thầm rút lui để đến tạm thời tá túc chỗ thầy Tư.
Tôi thắc mắc:
- Tại sao sư trụ trì hòa hoãn với thầy, trong khi chẳng hòa hoãn chút nào với thầy Tư, đuổi thầy Tư ra khỏi chùa, bỏ mặc một con người đáng thương phải dở sống dở chết, lây lất giữa nơi hiểm nguy…?
- Đừng tưởng sư sãi không sợ ma sợ quỷ! Khi chứng kiến thầy Tư có nhiều biểu hiện lạ, mọi người trong chùa, với trí óc non nớt, đều lầm tưởng đó là hiện tượng “quỷ nhập tràng”; họ đều tin là không thể chung sống với thầy Tư được nữa!
Tôi miễn cưỡng chấp nhận lời giải thích. Thầy Tám kể tiếp:
- Thầy Tư an ủi tôi và dạy rằng tôi đang đi đúng đường; bởi sự thường, bước sang cõi chết người ta mới tỉnh ngộ, thấy rõ điều gì mình đã làm là đúng, điều gì mình đã làm là sai… lại còn hiểu thêm rằng khi biết được đúng sai thì mọi sự coi như đã quá muộn! Bởi cái chết giải thoát người ta khỏi mọi vướng víu, chi phối, ảnh hưởng từ mọi hướng; sự thong dong giống như sự im lặng tuyệt đối khiến trí óc sáng suốt, từ đó nhận ra tất cả những gì mình đã làm trong quá khứ; sự bừng tỉnh sáng suốt này giống như đang đêm mưa dồn gió giũ, trời tối mịt mù, bỗng sấm nổ lóe lên một ánh chớp soi rõ mọi cảnh vật. Ai khi đang sống mà sáng suốt, người đó có ơn huệ lạ lùng Chúa ân ban. Theo Chúa là sáng suốt. Không theo Chúa, dẫu hoàng đế, vẫn là u mê. Hơn kém nhau chỉ vậy. Đạo nào cũng tốt, cũng giãi ánh sáng chân lý; nhưng Công giáo là đạo giãi ánh sáng rực rỡ như ánh sáng của mặt trời chính ngọ…
Thầy Tám vấn điếu thuốc khác rồi kể tiếp:
- Thầy Tư đoán biết tôi sẽ rất khổ với thầy Lù, nên chỉ cách: “Đừng bao giờ rời chuỗi tràng hạt, vì chuỗi tràng hạt củng cố đức tin; đức tin lại là vũ khí duy nhất dư sức trấn áp tất cả mọi thứ ma vương quỷ đế; ma tà quỷ độc luôn nhắm lúc chúng ta yếu đức tin, chao đảo niềm tin vào Chúa mà công phá và ám hãm”. Thật vậy! Ba ngày sau, một chú tiểu đi tìm và kêu tôi về chùa BS gặp thầy Lù.
Tôi ngứa miệng nói:
- Vì ông ta hẹn 3 ngày…
Thầy Tám Thuần Phát gật đầu kể tiếp:
- Khi tôi trở về chùa thì thấy thầy Lù đã chống cây gậy phép ngồi giữa chính điện với dáng vẻ oai nghi đường bệ, như một quan tòa chờ đưa phạm nhân ra chịu án. Chùa BS có 14 tu sĩ các cấp; tất cả đều có mặt dự khán.
Tôi trách thầy Tám:
- Mắc gì thầy phải trở lại để chịu xét xử? Thầy đã là con cái của Chúa, ai ngoài Chúa có quyền xét xử thầy chứ?
- Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng lòng kính trọng sư phụ, ước muốn giải quyết mọi chuyện cho rõ ràng và dứt khoát để thảnh thơi đi theo Chúa, đồng thời tôi được thầy Tư dạy rằng: đức tin là vũ khí cực mạnh... tất cả đã khiến tôi bạo dạn quyết tâm trở về gặp thầy Lù. Vừa thấy tôi thầy Lù nóng nảy dộng gậy phép xuống nền nhà quát hỏi: “Nói đi! Mầy quyết định theo ai?”. Tôi trả lời: “Thưa sư phụ! Xin cho con được theo Chúa!”. Vừa nghe xong mặt ông đỏ bừng, đôi mắt lại bừng lên như lửa cháy, răng nghiến ken két, tay chỉ vào mặt tôi mắng: “Quân phản đồ!” Tôi bình tĩnh thưa: “Thưa sư phụ! Con nay được biết theo Chúa là con đường đúng nhất!... nên…”. Tôi chưa nói xong thầy Lù phóng cây gậy phép thẳng vào mặt tôi; lẽ thường, một khi sư phụ xuống tay thì đệ tử chỉ “có nước” chết; nhìn thấy cây gậy phép bay vào mặt, trong nháy mắt, tôi chỉ kịp nghiêng nhẹ đầu sang một bên, cây gậy phép bằng gỗ lim bay trượt, băng băng ra khỏi chánh điện, đâm thẳng vào chiếc trống to nằm trên giá đỡ ngoài hành lang; cây gậy phép được phóng với sức lực mạnh đến nỗi đã đâm thủng trổ xuyên từ hông trống bên này sang hông trống bên kia. Lúc đó tôi nghĩ mình sẽ không thể nào thoát khỏi cái chết. Tôi không còn gì để bám víu, đành đưa 2 tay chụp chuỗi tràng hạt đang đeo trước ngực, nắm chặt lấy cây thánh giá nhỏ của chuỗi tràng hạt ấy như bám vào niềm cứu thoát cuối cùng. May sao thầy Hai Từ Bảo và vài ba vị sư lớn tuổi khác chạy đến đứng chắn giữa thầy Lù và tôi. Thầy Lù đành xuôi tay nhưng gầm lên: “Nếu chịu nổi 7 roi bùa, mầy muốn theo ai thì theo!”. Rút cây roi bùa từ trong ngực áo ra – đây là một thứ roi dùng để đánh phạt các âm hồn dưới quyền điều khiển của thầy Lù; thấy tôi có vẻ đồng ý, thầy Hai và các vị sư lớn tuổi dạt ra hai bên cho tôi chịu đòn. Tôi bị buộc phải cởi áo ra phơi lưng trần và đứng cong cúi người xuống, tuy nhiên tay tôi không rời cây thánh giá. Thầy Lù chậm rãi quất từng roi lên lưng trần của tôi, cứ trước khi quất một roi, ông niệm thần chú; đánh xong một roi ông dừng lại một lúc để xem sự hiệu nghiệm của roi đến đâu, đồng thời cũng để xem tôi có đổi ý kiến hay không, đó là theo tôi suy đoán; phần tôi, mỗi roi quất xuống lưng, tôi nghe đau nhói và tê buốt cả người như có móng vuốt của con vật gì đó xâu xé. Khi ngọn roi thứ 6 vừa quất xong, vị sư phụ bỗng ngã sấp, úp mặt xuống nền gạch bất tỉnh, dù chẳng ai làm gì ông cả. Chờ đợi một lúc, mọi người xúm lại đỡ ông dậy đem vào hậu điện; còn thầy Hai thì mặc áo vào cho tôi và cùng với tất cả các vị tăng lữ trong chùa đồng loạt khuyên tôi nhân cơ hội này nên trốn đi trước khi ông thầy tỉnh dậy.
Nói đến đây, thầy Tám cởi chiếc áo bà ba đen sờn cũ bạc màu đang mặc ra:
- Đây! Huynh hãy xem! Người ta theo Chúa dễ còn tôi thì… Cũng chỉ vì tôi vướng lời thề với ma với quỷ nên mới ra nông nỗi!
Một lần nữa được nhìn kỹ lưng thầy Tám, tôi đếm thấy 6 vết roi chồng chéo nhau nằm vắt ngang lưng, có vết roi chạy dài ra tận sườn; nói chung, 6 vết roi đã phủ kín lưng thầy Tám. Một điều không sao có thể hiểu nổi: đó là 6 vết roi nổi phồng to bằng điếu thuốc lá, lại còn luôn nhúc nhích động đậy như những con rắn còn đang sống… Ai xem thấy, tôi tin chắc sẽ kinh hãi.
Tôi cảm thấy đau xót, hỏi thầy Tám:
- Tại sao những vết roi lâu ngày không tan, lại còn như những con rắn sống quấn lấy thầy? Thầy đau đớn lắm phải không?
- Lúc đầu 6 vết roi luôn tươm máu ngày đêm; một thời gian sau chúng trở nên thối rữa và có vòi rúc rỉa; một thời gian sau nữa chúng khô lại cho đến nay huynh thấy đó; 6 con rắn quỷ này không lúc nào thôi hành hạ tôi, khi thì nhức nhối, khi thì nhột nhạt, lúc như bị rắn rết bâu bám cắn xé, lúc khác nhức nhối, và nhiều lúc tê buốt không có thứ thuốc nào chữa khỏi. Nay tôi đã dần quen.
- Tại sao ông thầy Lù mới đánh được 6 roi đã ngã ra bất tỉnh? Thầy Tư đã nói thế nào về tất cả những chuyện này?
- Thầy Tư bảo: “Giao du với ma quỷ chỉ có tổn hại, bất lợi và rủi ro. Ai kiên trì theo Chúa sẽ được Chúa che chở”. Thầy Tư có giải thích: “Roi thứ 7 là roi “lấy sinh mạng”, Chúa không cho phép ma quỷ lấy đi sinh mạng của bất kỳ ai; đã không đánh được roi thứ 7 mà còn bị đuổi đi; khi rút đi chúng luôn gây vật vã hay bất tỉnh”.
Tôi chợt rùng mình khi thoáng nhớ lại mọi chuyện cũ. Sợ quá tôi lảng sang chuyện khác:
- Tôi cứ tưởng nhà chùa đứng về phe thầy Lù…?
- Không! Không phải nhà chùa nào cũng chứa chấp tà công yêu thuật, chùa BS càng không.
- Vậy tại sao thầy đang tu lại được theo học tà thuật với thầy Lù? – tôi vốn thắc mắc chuyện này từ lâu nay mới có dịp hỏi.
Thầy Tám cởi mở:
- Tôi là đứa trẻ bị bỏ rơi khi vừa chào đời; người ta lượm được và mang đến cho thầy Lù. Thầy Lù nuôi tôi lớn khôn và trao tôi cho bạn là thầy Hai Từ Bảo để học chữ và rồi được thầy Hai thương cho ở luôn trong chùa như một tu sĩ.
Tôi càng thắc mắc hơn:
- Vậy thì người mẹ nào đang ở với thầy… kia?
- Đó là người đàn bà ăn xin tôi nhận làm mẹ cách đây không lâu… - thầy Tám hơi ngập ngừng, nhưng rồi kể luôn. - Cô “cháu gái” 11 tuổi kia cũng là người ăn xin vất vưởng ở một bến đò, tôi cũng rước về nuôi.
Tôi nhìn thầy Tám với lòng khâm phục; đã khâm phục nhiều đức tính nơi anh, bây giờ lại khâm phục đức bác ái nữa. Tôi hỏi:
- Thầy làm ruộng làm rẫy để sống và để nuôi họ đang lúc phải chịu nhiều đau đớn không nguôi…?
Thầy Tám gật đầu rồi quay lại câu chuyện chính:
- Sự kiện hôm ấy đã gieo vào lòng mọi người trong chùa BS một ấn tượng mạnh và nhiều mối suy nghĩ. Đúng ra họ là những người dân lành rất thiện tâm, muốn tu hành nên tự bỏ tiền lập ra chùa, dưới danh nghĩa một nhánh của Bửu Sơn Kỳ Hương giáo (3) do thầy Hai chủ trì. Thầy Tư nói Chúa ghé mắt đến những tâm hồn thiện chí này từ lâu và muốn gọi họ về với Người. Chúa không cần thứ gì khác ở con người mà chỉ cần thiện chí. Tôi trở lên núi định bụng cùng tu với thầy Tư. Nghe tôi kể mọi chuyện, thầy Tư khuyên: “Thiên Chúa bắt đầu hành động trên em rồi đó! Cố gắng đi em ạ! Hãy là một dụng cụ dễ dùng trong tay Người! Hân hạnh lắm em ơi!”. Thầy Tư nói như một tiên tri, vì những điều sẽ xảy tới cho tôi cũng quá là kinh khủng!
Mặt trời đã đứng bóng, chúng tôi dừng câu chuyện để ăn trưa.
 
(Vì không dự đoán đúng, nên phần 5 của kỳ 49 còn tiếp)
 
 
(1) Á khẩu: câm tạm thời.
(2) Bộ ngựa là một hoặc hai tấm ván gỗ mun đen dày và nặng đặt trên bộ chân gỗ để làm đồ gia dụng đa dụng: ngồi chơi, tiếp khách, giường ngủ, có khi còn là nơi ăn uống…
(3) Bửu Sơn Kỳ Hương là một giáo phái có ảnh hưởng lớn đến lịch sử và chính trị tại Nam Kỳ (Việt Nam) từ giữa thế kỷ 19. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (còn được gọi là đạo Lành) được khai sáng năm 1849 bởi một người tục danh Đoàn Minh Huyên (1807-1856), đạo hiệu là Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu Thượng, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Sau này, khi ông đến tu tại chùa Tây An (núi Sam, Châu Đốc) được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi Sun Ming >

Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 31 đến 57 trên tổng số 57 bài trong đề mục