Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 35 bài trong đề mục
Tác giả Bài
huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 26.04.2026 22:23:20
BÓNG CHIM CÂU
TRÊN SÓNG BIỂN MIAMI



MẠNH TỨ dịch
từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha
Nhan đề "JOY"



NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1986​
 


Cuốn tiểu thuyết này có được nhờ một phần lớn vào sự cộng tác hết lòng của một số đồng chí sau đây:

Tiến sĩ Êlêna Canđaz, văn học cổ điển, Khoa ngôn ngữ học,

Cử nhân Luix Anverex, văn học cổ điển, Khoa ngôn ngữ học,

Kỹ sư nông học Alexix Đê Bernađix, giám đốc Trạm quốc gia vi khuẩn cây cam chanh, Bộ Nông nghiệp,

Kỹ sư nông học Pêđrô Luix Bernan, giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp,

Kỹ sư nông nghiệp Nócbêtô Matôx, cán bộ nghiên cứu của Trạm quốc gia vi khuẩn cây cam chanh, Bộ Nông nghiệp,

Kỹ sư nông nghiệp Elixêô Araăngô, người trồng cam chanh, Bộ Nông nghiệp,

Cử nhân Ănghen Vaxkex Midarex, Đoàn nhạc giao hưởng quốc gia,

Óoclanđô Rôblex, thuộc Nghĩa quân chống Tây-ban-nha

Và đặc biệt là Hôsê Pêrex Ramôx, Trung tâm đại học Hôsê Ăngtôniô Êchêvaria (CUJAE),

Ngoài ra cũng nhờ tiến sĩ Rôbéctô Phécnăngđéx Rêtamar đã gợi ý để tôi viết nên cuốn sách này.

Gửi tới tất cả các đồng chí lòng biết ơn
của tôi.
DANIEL CHAVARRÍA
Thành phố La Habana, 1977
 


LỜI NHÀ XUẤT BẢN​

Cuốn sách được giới thiệu hôm nay với bạn đọc được coi là cuốn hay nhất trong những cuốn truyện được giải thưởng của Bộ Nội vụ Cuba từ năm 1972 tới năm 1977 là năm cuốn sách này được xuất bản (Nhà xuất bản Văn học- Nghệ thuật La Habana).

Tác giả Daniel Chavarría sinh năm 1933, là giáo sư văn học cổ điển, ngữ văn Hy La Trường đại học tổng hợp La Habana. Ban chấm giải có nhận xét sau đây khi xét trao giải nhất năm 1977:

«JOY» có được ba mặt thành công: nội dung thú vị, văn phong, ngôn ngữ phong phú và sử dụng khéo léo những biện pháp kỹ thuật. Cuốn truyện trinh thám phi thường này lấy đề tài chính là sự thâm nhập của CIA vào Cuba để phá hoại nền công nghiệp cam chanh của Cuba. Tác giả đã đưa chúng ta vào thế giới phức tạp của những cuộc đấu tranh chống gián điệp phá hoại và tác giả đã thành công rõ ràng».

«JOY» — tên cuốn sách — chỉ có nghĩa là Niềm Vui.

«JOY» cũng là tên một loại nước hoa mà vợ của một tên trùm gián điệp thường dùng và được tên này lấy để đặt tên cho kế hoạch phá hoại quy mô lớn của Cục tình báo trung ương Mỹ chống lại nước Cộng hòa Cuba.

«JOY» trở thành tên một chiến dịch phá hoại hết sức tinh vi và thâm độc của đế quốc Mỹ nhằm phá hoại nền kinh tế Cuba, cụ thể là sử dụng những thành tựu mới nhất của khoa vi sinh vật để phá hoại nền công nghiệp cam chanh của Cuba.

Để chống lại một chiến dịch phá hoại nguy hiểm như vậy, không những cần có một tinh thần cảnh giác nhạy bén, tinh thần chiến đấu cao mà còn cần có trí thông minh và những hiểu biết khoa học hiện đại nhất. Các chiến sĩ thuộc cơ quan phản gián và những cơ quan khoa học Cuba đã chứng tỏ bản lĩnh của mình trong việc đập tan âm mưu này của cơ quan tình báo Mỹ.

Ý đồ thâm độc và những thủ đoạn nham hiểm của chủ nghĩa đế quốc trong việc phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Cuba, và đặc biệt là cuộc đấu tranh của các cơ quan phản gián, của các nhà khoa học và nhân dân Cuba để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của mình là một bài học tốt cho cán bộ và nhân dân ta hiện nay, đang đấu tranh chống lại sự phá hoại nhiều mặt của kẻ thù.

Trong tinh thần đó, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn
Bóng chim câu trên sóng biển Miami (tên Việt Nam do chúng tôi đặt cho cuốn «JOY») của Daniel Chavarría. Cuốn này được dịch theo nguyên tác. Năm 1983, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã xuất bản với một bản dịch khác, với nhan đề Kế hoạch "Joy".

Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh​


 

1974



1. THÁNG GIÊNG

Đối với Felipe Carmona đường phố tựa như một người đàn bà. Với một số người, nó chẳng cho chút ân huệ gì, còn đối với một số người khác, lại cho tất cả. Về phần mình, Felipe Carmona biết rất rõ mọi bí mật của đường phố. Từ thuở còn thơ, hắn đã phải đi kiếm ăn trên các đường phố La Habana. Mười bảy tuổi, bắt đầu bán tạp hóa. Công việc làm ăn trôi chảy. Mười tám tuổi, hắn kiếm được một chân bán dụng cụ gia đình bằng điện, bán rao từng nhà. Công việc này cũng trôi chảy. Hắn có cái tính mạnh bạo của những nhà kinh doanh lớn và vững tin vào bản thân mình đến độ có lần thuê xe camiông chở mươi mười hai chiếc máy khâu đi ra phố bán hết ngay. Thật hiếm ngày hắn không bán được ba, bốn món hàng. Thường thường cứ mang xe camiông hàng đi, đến khi trở về, xe đều hết nhẵn.

Công việc sáng sáng đi bấm chuông từng nhà, sục vào từng hộ, chuyện trò với những người chẳng quen biết bao giờ để tìm cách sinh sống một cách có nghị lực và khéo léo, hắn cho là một nghề có vẻ trai tráng nhất trong các nghề sinh sống. Vì vậy hắn yêu quý đường phố như thể yêu quý một người đàn bà. Đối với hắn, người đàn bà đó đã dành cho tất cả. Hiếm có ngày nào mà hắn không giành được của ả dưới một trăm đồng peso tiền hoa hồng.

Thực tình Felipe Carmona có những thiên tính đặc biệt của một người chào hàng, vượt xa cái lối bán hàng theo bài bản mà là một kiểu bán hàng tùy hứng. Đôi khi, chiếc cặp xách trên tay, hắn bước ra đường phố vào buổi sáng, đi làm ăn. Ra đến góc phố gần nhà, tự nhiên chợt cảm thấy rằng ngày hôm đó không phải là ngày làm ăn của mình, lập tức không chút lưỡng lự hắn quay về nhà và lên giường nằm ngủ. Có những lần ngược lại, khi mà tất cả những anh chàng bán hàng đang tìm bóng mát nghỉ ngơi trong các bar, khi mà cái nắng Cuba khiến cho người ta phải suy nghĩ một chút trước khi quyết định có nên bước sang ngang đường không, Felipe Carmona lại đứng lên, rời khỏi bar và tuyên bố một cách quả quyết: «Giờ này mới thật là giờ làm ăn!». Và chính trong những giờ phút đầy cảm hứng mà nàng thơ kinh doanh bay xuống ấy là lúc mà Felipе Carmona xây dựng được những kỷ lục xuất sắc nhất của hắn.

Đúng thế, đường phố chính là cuộc đời của hắn. Nơi đó đúng là nơi người ta vung vãi tiền, người ta vất đi hoặc tặng cho nhau. Sao lại có thể không thấy điều đó? Sao lại có thể chịu nhịn đói? Điều đó cũng rõ ràng dễ hiểu: vì tất cả mọi người đâu có hoàn toàn giống nhau. Và đó cũng là cái lý của tất cả mọi sự việc. Năm 1957, hắn bắt đầu làm nghề chào hàng, bán những phiếu bảo hiểm cho tập đoàn bảo hiểm. Trong nghề bán tín phiếu, hắn cũng nổi bật. Hắn có cái năng khiếu trời cho được giới kinh doanh đánh giá cao, tức là cái tài làm cho nhiều người phải thọc tay vào túi rút tiền để mua những thứ mà họ không cần thiết. Đúng là một nhà kinh doanh có tài vận động, một người tạo ra sự giàu có, một người thúc đẩy sự tiến bộ theo như những lời nhận xét ghi trong tấm bằng mà hắn cứ từng định kỳ nhất định chiếm được.

Tháng giêng năm 1959, Felipe Carmona tròn hai mươi tuổi. Lúc đó, hắn đã là hội viên của Vedado Tennis và của Miramar Yacht Club, hai hội thể thao của tầng lớp quý phái. Từ trước, hắn vẫn luôn tìm cách liên hệ với những người thuộc tầng lớp trên, lớp quý phái. Khi hắn vận động để gia nhập Yacht Club, có người đã khuyên hắn ta chẳng nên mặc vào người cái áo của thằng điên, rằng rồi hắn chẳng thể chịu đựng nổi cái lối chi tiêu quá quắt nó đòi hỏi trong việc giao tiếp với tầng lớp xã hội đó, v.v... Nhưng Felipe Carmona, con người sống ở Cuba từ bé có bao giờ sợ chi tiêu đâu. Càng kiếm được nhiều thì càng tiêu khỏe, hắn phớt lờ những lời khuyên đó, tham gia vào Hội Yacht Club, đánh bạn với tầng lớp này, và công việc kinh doanh của hắn lại có vẻ tốt hơn, thu nhập tăng lên gấp bội.

Nhưng năm 1959, tầng lớp người đó bắt đầu ra đi. Đối với Felipe, hắn không thiếu những đề nghị trao cho những công việc làm ăn tại Mỹ, nhưng lúc đó hắn không nhận. Sau đó cũng vậy, khi những ông chủ tập đoàn bảo hiểm muốn mang hắn đi theo hắn cũng không đi. Mẹ hắn vừa được phát hiện có một ung thư ở hạch và sẽ chết bất cứ lúc nào, nên hắn cần phải ở bên bà cụ. Đó là điều tối thiểu hắn có nhiệm vụ phải làm. Ngoài ra Felipe đinh ninh rằng mình không cần thiết phải đi đâu cả, chẳng bao giờ nên rời bỏ căn nhà xinh xắn của mình ở khu Vedado, cũng chẳng cần phải chịu một sự hy sinh nào ngoài đất nước Cuba làm gì. Bọn Mỹ sẽ không cho phép tồn tại việc đang xảy ra trên đất nước của hắn. Đúng, đơn giản là họ sẽ không cho phép như thế! Phải, thử xem có cái đầu nào chấp nhận được rằng bất cứ anh chàng chết đói nào cũng có thể được sống như hắn, một cái máy làm ra tiền, một động lực thúc đẩy tiến bộ? Hắn đã lôi ra được những tấm giấy bạc từ dưới những tảng đá. Lôi ra hàng xấp, hàng đống. Và bây giờ bọn hèn mọn ấy đến, bọn không có khả năng kiếm được một đồng peso một ngày, chúng đòi Agustin Batista, đòi họ hàng Falla, họ hàng nhà Gómez Mena phải phân chia đều cho họ? Không, không thể được! Đấy là những lực lượng sống động nhất của quốc gia, những người sáng tạo ra tài sản, của cải. Đúng, bọn người đó đã cướp của cải của hắn. Hắn cũng vậy, và tất cả mọi người đều ăn cướp những cái gì có thể cướp được, cái lẽ cuộc đời nó như thế mà. Chẳng phải tụi cộng sản không là những tên cướp tồi tệ nhất, cướp của tất cả mọi người, thậm chí tước đoạt cả những gì người ta nhận được của cha mẹ ông bà người ta để lại. Không, cái đó không thể kéo dài được. Người Mỹ không cho phép như thế: đó là điều chắc chắn.

Sau sự kiện Girón, điều chắc chắn của hắn bắt đầu lung lay. Cái tập đoàn bảo hiểm của hắn đã rời khỏi đất nước và mẹ hắn cũng chưa chết hẳn. Hắn liên hệ với những phần tử phản cách mạng và cộng tác trong một số vụ phá hoại nho nhỏ.

Hắn cảm thấy ngột ngạt. Cuba thay đổi từng ngày. Những đường phố La Habana bây giờ đã không còn vẻ cám dỗ như trước nữa. Bây giờ không còn ai vất tiền vung vãi như xưa. Tài năng khác thường về bán hàng của hắn bắt đầu bị lỗi thời trong cái thế giới lộn xộn này. Sau đó, khi cái Ủy ban bảo vệ cách mạng quái quỷ kia bắt đầu tăng cường sự canh phòng xem xét, hắn không còn chịu đựng nổi. Thôi thì bà già tha thứ cho hắn, Felipe Carmona không thể kham được cái đó. Hắn bèn quyết định ra đi, muốn ra sao thì ra. Hắn báo cho mẹ biết đã gửi đơn xin làm thủ tục ra đi bởi biết rằng nếu không rời khỏi đất nước chắc chắn sẽ phạm phải những điều càn rỡ. Và nếu bà già cũng muốn đi cùng hắn...

Bà già không đi, thà chết trong sự khó chịu ở đất nước vào cuối năm 1962, và đến tháng hai năm 1963, Felipe Carmona rời khỏi Cuba sang Camarioca, nóng lòng được trở lại sống cùng với những người thuộc tầng lớp hội viên của Yacht Club, và nhất là, lại thu vén được từng cuộn giấy bạc xanh xanh, những tờ giấy bạc đáng yêu biết bao, như trong thời kỳ huy hoàng trước kia của hắn. Thật là tuyệt! Khi con tàu đã ra khơi, hắn cảm thấy như vừa ra đời lần nữa.

Hắn bị thất vọng lớn. Nói đúng hơn là hắn bị hai cái lầm. Vừa mới tới, tất cả những bậc đàn anh kếch xù của Yacht Club đều đóng sập cửa trước mũi hắn, và những tờ giấy xanh người ta cũng không tung vãi như hắn tưởng.

Trong thời gian làm quen với thung thổ, đợi được giao bán một loại hàng mà hắn ưa thích, hắn nhận bán thứ hàng đầu tiên mà hắn tìm được qua lời rao vặt trên tờ Người Thông tin Miami: giấy vệ sinh Waldorf, mềm mại như lông ngỗng. Hãy mua giấy vuốt ve Waldorf, các ngài sẽ vui trong cuộc đời!

Mặc dù hắn giao du chủ yếu trong bọn người Cuba lưu vong và Mỹ La-tinh nói chung, trong thành phố này và có thể trong cả cái nước này, có chút gì đó đã không để cho nàng thơ kinh doanh xuống cùng hắn. Hắn cho rằng những kết quả tồi tàn mà hắn kiếm được ở đây có lẽ tại cái tính chất ít quý phái của thứ sản phẩm đó, dù rằng xưa nay hắn vẫn thường nói rằng một người bán hàng vĩ đại có thể bán được tất cả mọi thứ hàng đặt trước mặt mình, từ phân bột cho tới một chiếc tàu ngầm.

Hắn từ giã món giấy vệ sinh và chuyển sang bán đồ chơi trẻ em. Cũng vậy, công việc cũng không chạy. Phần lớn những người Cuba ở đây đều là một lũ phá sản không đủ tiền mua thuốc xì gà, hoặc có kẻ còn xì gà thực, cũng không bao giờ mở cửa tiếp một đồng bào nào của họ. Đó là cái luật rừng xanh. Tựu trung, ở đây không ai có thể mua đồ chơi cho con mình được. Vấn đề gay nhất của Felipe ở chỗ hắn không biết tiếng Anh. Nếu hắn muốn sống bằng nghề bán hàng, bằng áp-phe, hắn vẫn phải rao chào bằng tiếng Tây ban-nha, nên không ổn. Suốt năm 1963, hắn chỉ kiếm được một chút hoa hồng khốn khổ, tồi tệ không đủ để sống trong một khách sạn nhỏ nhoi hạng bét, hôi mùi lam lũ và mùi ma túy. Việc đã xảy ra với hắn như vậy đấy! Đối với hắn, một con người hồi ở Cuba không bao giờ thu nhập dưới ba mươi nghìn peso trong một năm! Còn than vãn sao không biết tiết kiệm trước kia làm gì! Tại sao trước không chịu học tiếng Anh?

Hắn quyết định đi thử may rủi của số phận tại New York. Hắn muốn thoát khỏi cái không khí Cuba của miền Florida, và nhận thấy bắt buộc phải học tiếng Anh để rồi sẽ trở thành ngôi sao chào hàng như xưa kia ở Cuba. Tất cả vấn đề nằm ở chỗ ngôn ngữ đó.

Ở New York, hắn phải chết dở ở ngoại ô, bởi vì bán hàng bằng tiếng Anh, thôi đi, đơn giản là hắn không biết tiếng. Thêm nữa cái rét ở New York cũng làm cho hắn trở nên hèn nhát. Hắn bắt đầu lo rằng với cái rét này, dù cho hắn có sõi tiếng Anh như Alan Ladd, cũng chẳng bao giờ nàng thơ kinh doanh thèm hạ xuống để phù hộ hắn. Anh chàng cựu vô địch bán hàng đắt khách nhất của tập đoàn bảo hiểm, bây giờ khóc rấm rứt trong cái buồng tồi tàn không có lò sưởi, ở phố 111 và đại lộ Lexington.

Một người cùng trọ trong ngôi nhà này, làm công việc bồi bàn tại một tiệm cà phê của Câu lạc bộ Columbus, tìm được cho hắn một chân rửa bát kiếm được mỗi tuần bốn mươi đôla. Hắn nhận liền. Sau một ít ngày làm việc, họ chuyển hắn vào phục vụ khách trong phòng ăn uống, lương mỗi tuần chỉ có hai mươi lăm đôla, nhưng cộng thêm tiền «nước» mà khách cho cũng được năm mươi đôla một tuần. Hắn đinh ninh rằng tốt nhất cứ ở lại làm việc tại đó cho đến khi học thông cái thứ tiếng chết tiệt kia đối với hắn sao mà khó thế. Sau đó sẽ trở về làm công việc quen thuộc của mình, để bay bổng, bay cao trong cái nghề bán rao hàng bằng tiếng Anh, giống như trong phim ảnh. Hắn đã xem đến chán những phim ảnh của Rock Hudson và Robert Mitchum. Đôi lúc hắn lấy lại được chút lòng tin vào mình để cảm thấy một cách thoảng qua rằng ở đây, đồng đôla giấy, những đồng đôla yêu quý, những tờ giấy bạc xanh xanh đáng yêu, lại rơi vung vãi trên đường phố, và đường phố lại vẫn như là một người đàn bà, mà anh chàng đàn ông lại chính là hắn, Felipе Carmona! Nhưng khi đèn bật lên và bước ra ngoài đường để cái lạnh New York táp vào mặt buốt cứng, tinh thần của hắn chùn lại, hắn cảm thấy cô độc, đến nỗi đã nghĩ tới mẹ hắn. Và điều tệ hại nhất là trong lúc hắn đang tự nhồi vào mình quyết tâm và can đảm, khi đang quay trở lại, trong giây lát, một anh chàng đàn ông của những đường phố nóng ẩm của La Habana hắn lại để ý chợt thấy người đàn bà ghê gớm là đường phố New York đây, cô ta không để cho hắn có một chút xơ múi gì, không cho hắn một chút ân huệ nào cả. Nếu muốn đánh đổ được cô ả, cần phải đánh đổ bằng tiếng Anh!

Một buổi chiều, Alvarito Fernández Puig tới quán cà phê và ngồi vào bàn mà Felipe phải phục vụ. Alvarito là một người khoảng năm mươi tuổi, nhưng trông già hơn tuổi nhiều. Felipe biết được tuổi chính xác của ông ta vì năm 1957 hắn đã bán cho ông ta một số phiếu bảo hiểm về sinh mệnh và đánh đổi cho ông ta một cô người tình trú ngụ tại khu Vibora, sau đó lại thuyết phục được ông mua thêm phiếu bảo hiểm cho ba xưởng đường thuộc tài sản của ông nữa. Việc bảo hiểm bao gồm đến tất cả mọi thiệt hại, rủi ro do trộm cắp, hỏa hoạn, lừa gạt và những bất ngờ nào đó gây nên. Nhưng thật đáng buồn là tập đoàn bảo hiểm lại không bảo hiểm cho khách hàng của nó về những thiệt hại, những tai biến do cách mạng. Cho nên trên thực tế, Alvarito đã bị một vố thua lỗ khi mua những phiếu bảo hiểm đó. Sau đó Felipe có gặp lại Alvarito vài ba lần ở Yatch Club, thậm chí có lần cùng dự một buổi tiệc tại nhà đại tá Paredes, người thân tín của Alvarito, sống ở ngay gần nhà Felipe, tại khu Vedado. Sau bữa tiệc Alvarito thấy trong người khó chịu, Felipe đã đưa ông ta lên xe của mình và để ông nghỉ tại nhà mình đêm đó.

Buổi chiều hôm đó, khi Felipe thấy ông ta bước vào tiệm cà phê, hắn đã định lẩn trốn vào trong nhà vệ sinh, nhưng rồi cái ông bạn cũ ấy thế nào cũng vào, lúc đó lại càng thêm ê. Hắn bèn quyết định chường mặt với cái khó chịu mà làm nhiệm vụ của mình. Thật xấu hổ, một ngôi sao bán hàng như hắn mà bây giờ làm chân bồi bàn! Hắn vừa đưa khăn lau chiếc bàn mà một người khách vừa rời khỏi, vừa đút vào túi mười lăm xu tiền thù lao người khách để lại. Khi Alvarito rời mắt khỏi tờ báo để gọi cốc sôcôla, bằng tiếng Anh, và nhìn vào mặt hắn, Felipe muốn rằng mặt đất nứt ngay ra và hắn, Felipe Carmona, có thể sẵn sàng lao xuống vực thẳm đó. Nhưng may sao, Alvarito không nhận ra hắn. Ông ta không có một cử chỉ nào tỏ vẻ ngạc nhiên. Sau cốc sôcôla, ông ta gọi một cốc rượu mạnh rồi ngồi cắm cúi đọc tờ Thời báo New York đến nửa tiếng đồng hồ. Cử chỉ đó làm cho Felipe yên tâm, mặc dù không hiểu tại sao, hắn bắt đầu cảm thấy cay đắng mênh mông trước mặt con người ấy.

Khi Alvarito gọi hắn để trả tiền, dúi vào tay hắn một tờ giấy bạc năm đôla, và trong lúc Felipe đưa lại tiền thừa, hắn nghe mà không nhìn vào mặt ông ta, tiếng ông ta nói với hắn: «Gọi điện thoại đến cho tôi vào bảy giờ rưỡi chiều nay, theo số điện thoại mà tôi để ở đấy cho anh». Felipe nhìn vào bàn và trông thấy Alvarito, vừa đứng lên vừa đặt một miếng giấy dưới một chiếc cặp dùng để kẹp vé số. «Gọi xin nói chuyện với Frank», không nhìn hắn, ông ta nói thêm như vậy rồi bước ra.

Khi Alvarito đặt vấn đề yêu cầu hắn cộng tác với CIA, hắn nhận liền. Hắn được hưởng lương ba trăm đôla hàng tháng, cộng thêm tiền xe cộ đi lại, và Cục tình báo trung ương Mỹ mở một tài khoản cho hắn, mà hắn có thể đặt ở bất cứ một ngân hàng nào, số tiền ba mươi ngàn đôla. Hắn có thể rút số tiền đó ra một lúc, vào ngày 14 tháng 3 năm 1970. Đó không phải một món tiền lớn. Như vậy tính ra chỉ khoảng 6.000 đô la mỗi năm. Nhưng cả 5 năm cộng lại, hắn có được một số tiền cọc như vậy để có thể bắt đầu một cuộc đời mới. Trường hợp nếu Felipe chết trước kỳ hạn đã định đó, khoản tiền sẽ do ông Ralph Murdock, giám mục Dòng Con chiên chờ sự tái hiện của Chúa ngày thứ bảy trong tuần, thuộc địa phận Seaport, bang Maine, hoặc bất kỳ ai giữ chức vụ đó ngày 14 tháng 5 năm 1970 được lãnh.

Felipe còn có thể làm được gì khác? Cái viễn cảnh thả nổi cuộc đời và tự do của mình trong 5 năm đối với hắn không có gì thú vị. Nhưng hắn biết rằng thời gian trôi rất nhanh, và hắn thì cần tìm một cách nào đó để thoát khỏi hoàn cảnh xuống dốc bi đát đang gặp phải.

Trước khi ký giao kèo, hắn phải qua một thời kỳ thử thách và sáu tháng huấn luyện cơ bản. Giữa những năm 1966-1967, hắn tiến hành ba chuyến công cán ngắn ở Cuba, để hoàn thành nhiệm vụ liên lạc và tổ chức một số nhóm phản cách mạng. Trong những chuyến công cán đó không chuyến nào hắn ở lại Cuba quá một tuần lễ. Năm 1968 và 1969, hắn làm việc ở Puerto Rico và Venezuela. Hắn rất mê không khí của thủ đô Caracas. Hắn nghĩ rằng nơi đó sẽ mở ra nhiều triển vọng tốt đối với hắn, và đã quyết định sau khi lĩnh được số tiền thưởng ba mươi ngàn đôla hắn sẽ ở hẳn tại Venezuela. Ở đó, hắn sẽ trở lại nghề bán hàng bằng tiếng Tây-ban-nha một lần nữa.

Trong 3 năm làm việc theo giao kèo hắn đã trải qua nhiều nguy hiểm và có cái lo lắng bị tóm trong hai trường hợp. Hắn quyết định, nếu hắn còn sống được đến năm 70, sẽ không ký thêm giao kèo làm việc với CIA nữa.

Sau khi hết hạn giao kèo, người ta vẫn để cho hắn ở trong tổ chức của CIA, trong một chân bình thường, lương khá hơn. Nhưng đến được bậc thang nàу rồi, sau 5 năm kinh khủng, đối với Felipe Carmona bây giờ cái kho báu đáng mơ ước nhất là được sống yên lành, khi tỉnh dậy mỗi buổi sáng không bị giật mình và trong giấc ngủ không có những cơn ác mộng. Hắn ký một biên bản ghi lời khai tất cả những việc đã làm trong mấy năm đó, rồi chuyển vào nội trú một tuần trong một trại tập trung, tại đó người ta huấn luyện cho hắn đến tận từng chi tiết nhỏ, và bằng tất cả mọi thứ tài liệu, hình ảnh, bằng thu thanh... về sự khôn ngoan cần thiết biết giữ mồm miệng sau khi ra khỏi cơ quan CIA. Cuối cùng, ngày 11 tháng Năm, vào lúc tám giờ sáng, hắn lĩnh số tiền ba mươi ngàn đôla và lấy vé đi Venezuela.

Hắn trù tính công việc bán tín phiếu bảo hiểm, nhưng ngay lập tức hắn nhận thấy tại đây công việc đó cũng không chạy. Thật quả nàng thơ kinh doanh của hắn đã ở lại Cuba. Hoàn cảnh xuống dốc vẫn tiếp diễn, mà bây giờ không phải tại lý do ngôn ngữ. Cái gì đã đến với hắn như vậу? Sự thật là hắn không cảm thấу ham muốn bán hàng như trước kia. Hắn trở nên ngại ngùng trước những cuộc gặp gỡ, không tấn công trực diện, và thường hay kết thúc câu chuyện trước khi cần kết thúc, khi người khách hàng hãy còn chưa mềm lòng đến độ, và dĩ nhiên cái lô-gich xảy ra là công việc coi như thất bại. Hắn nhận thấy tất cả những sai lầm và thiếu sót. Làm gì mà һắn không nhận thấy? Nhưng cái đáng buồn là biết như vậy mà không biết cách nào để chạy chữa hàn gắn được những sai lầm thiếu sót của mình. Rõ ràng từ khi rời khỏi thành phố La Habana, Felipe chưa bao giờ được trở về với ngôi sao chào hàng của những năm 50. Có thể vì hắn đã già hơn một chút, nhưng cái đó cũng chưa phải cái quyết định những thất bại liên tiếp của hắn. Điều quyết định những thất bại đó sinh ra bởi không bao giờ hắn có thể lấy lại được lòng tin vào mình như trước. Mà hắn lại là một người bán hàng tùy hứng, người bán hàng theo cảm xúc. Nếu không có nàng thơ cặp kè theo mình, thất bại đó thật là điều đơn giản. Và nàng thơ của Felipe Carmona thực sự đã ở lại La Habana.

Hắn quyết định không quay trở lại nghề bán hàng như trước nữa. Hắn mua một cửa tiệm bánh ngô trong khu nhà im lặng và thuê một căn hộ nhỏ ở đồi Bello Montе. Hai năm 1970 và 1971, hắn sống bằng nghề đó, nhưng chỉ có thể nâng được vốn lên thêm mười hai ngàn đồng. Thấy rằng phải làm việc ít nhất mười bốn tiếng đồng hồ một ngày để kiếm được một số lãi mà hắn cho là mỏng manh như thế, hắn bèn nhượng lại cửa hiệu đó, lập một tiệm quảng cáo, trở thành ông bầu của những nhà nghệ sĩ và để cho một nữ ca sĩ vặt trụi hết đến lông tơ. Tháng Mười một năm 1973, tất cả của cải của hắn còn lại bốn ngàn tám trăm đôla, còn những món nợ mà hắn chưa trả lên tới con số mười lăm ngàn.

Lẳng lặng, hắn chuồn đi theo con đường biên giới với Colombia đến Cúcuta rồi từ đấy đến thủ đô Bogota để đáp chuyến máy bay đầu tiên trong ngày đi New Үork. Hắn tìm gặp Alvarito, người vẫn tiếp tục làm công việc chiêu mộ cho CIA tại một nơi gần Madison, nhờ ông ta giới thiệu cho một công việc của cơ quan đó. Hắn cảm thấy còn trẻ, mới có ba mươi chín tuổi, và vẫn có thể làm việc để lại được nhận một món tiền thưởng như trước kia.

Alvarito cho hắn biết lúc đó không có việc gì, và cho biết thêm rằng đã một thời gian khá lâu, những công việc của CIA bị thu gọn bớt. Nhưng dầu sao ông ta cũng dặn hắn để lại cách thức tìm báo cho hắn biết một khi có công việc gì đó.

Rời khỏi nơi gặp gỡ Alvarito, Felipe đến thẳng một sòng bạc mà hắn biết, ở Coney Island, nơi đó có một bàn quay số bằng ngà và một khung cảnh giả như của Pháp. Nơi đó chỉ những kẻ giàu có mới tới, sẵn sàng trả một trăm đôla tiền vào cửa, và sòng bạc cai quản bởi một số găngxtơ người Ý. Bàn quay số này có số không và hai số không, và đáng lẽ phải trả ba mươi sáu đôla cho mỗi đồng đôla trúng số, họ chỉ trả ba mươi lăm. Nhưng họ nhận những món tiền đánh số tới một ngàn một lần đặt, và ba mươi lăm ngàn đôla cho những lần đặt to nhất.

Felipe đặt một ngàn đôla đầu tiên vào con số 8. Khi người quay số rao bằng thứ tiếng Pháp cà khổ của hắn rằng «Không còn ai ư?», Felipe nhắm nghiền đôi mắt và cầu đến Đức Mẹ đồng trinh phù hộ cho һắn được nghe thấy tiếng rao ngọt lịm nhất trên đời: số 8! Thế là hắn sẽ có 35 ngàn đôla cứu mạng, khiến hắn được loại ra khỏi cảnh khốn cùng và thoát khỏi CIA. Và có nghĩa là nó sẽ mang lại cho hắn một cuộc đời và niềm lạc quan. «Xin Đức Mẹ đồng trinh xinh đẹp, cho con được là người xứng đáng được...». Người quay số xướng như hát: Số 19! với một giọng thật vô cùng thản nhiên.

Lần thứ hai người quay số lại xướng con số được: hai số 00. Đến khi hắn chuyển sang đặt ngàn đôla thứ ba của hắn sang số 23, người quay số lại xướng lên con số được của lần đó: Số 8! Lúc đó hắn muốn khóc rống lên như một đứa trẻ. Số hắn thật đen. Hắn đã làm gì để đến nỗi phải chịu sự đen đủi đó của số phận? Hay đó là sự trừng phạt của Thượng đế vì việc đối xử của hắn đối với mẹ? Hắn còn có cách nào khác để làm đâu?

Ngàn cuối cùng һắn không dám đặt vào loại ăn cả mất tất. Hắn đặt vào số Tài, và thắng trở thành bốn ngàn. Hắn đặt cả bốn ngàn vào số chẵn và khi quay, số được lại là số lẻ! Vừa đúng hết nhẵn cả số tiền mà hắn vừa gỡ lại!

Trong túi hắn còn lại mười bảу đôla và bảy mươi lăm xu, nhưng hắn cảm thấy dễ chịu hơn. Hắn đã mất bốn ngàn đô như thể rứt được ra khỏi người một gánh nặng.

Ngày hôm sau, hắn tìm được công việc bán một loại thuốc mới chuyên trị chai tay. Hắn kiếm trong vòng một tuần lễ hai mươi ba đôla tiền hoa hồng, mà một phần trong số tiền ấy hắn phải chi dùng vào việc mua chính loại thuốc đó để bôi vào chân tay mình, vì cứ đến đêm, hắn cảm thấy hai chân nóng như phải lửa bởi suốt ngày cuốc bộ từ hiệu thuốc này đến hiệu thuốc khác. Số tiền còn lại chỉ đủ cho hắn xơi món dồi thịt rán và trả tiền thuê phòng trọ ở một khách sạn tồi tàn.

Một ít ngày sau đó, Alvarito đến cho biết có một việc làm ở Cuba một năm rưỡi, ngon một cách nóng bỏng giòn tan. Hắn phải ký giao kèo trong một thời kỳ nhất định, được nhận ba mươi sáu ngàn đôla tiền thưởng. «Ba mươi sáu ngàn đôla trong một năm rưỡi làm việc? Rõ ràng số phận của hắn lại bay lên!». Trong hoàn cảnh cùng khốn đó, Felipe Carmona sẵn sàng đón mừng ký giao kèo với đích thân cả quỷ Satan.

Mọi giấy tờ thủ tục đều làm tại New York, mở một tài khoản tại First National City Bank ở New York, trả hết vào ngày 31 tháng Bảy năm 1975, trong trường hợp người chủ tài khoản bị chết, sẽ chuyển tài khoản sang cho Dòng Con chiên địa phận Seaport, bang Maine.



2. THÁNG HAI
 
— Người Mỹ rất quan tâm chú ý đến vấn đề này từ khi ta thổ lộ với họ — Viên đại tá vừa nói vừa châm một điếu xì gà — Ngay lập tức họ yêu cầu ta cho họ bản tường trình đến hết mọi chi tiết về những việc mà Thú Dữ đã làm tại Cuba.

— Thế làm sao Ngài biết được những gì Thú Dữ đã làm được ở Cuba, thưa đại tá? — Felipe hỏi.

— Ta trông thấy một số ảnh trong một tờ tạp chí Cuba, mấy tháng trước đây, và ta đã cho tiến hành một loạt điều tra ở bên đó để xem có phải chính thật hắn ta không.

— Ngài đã lấy một tấm ảnh ở tạp chí ra làm như một chuyện trong phim ảnh...

Viên đại tá nhổ xuống bãi cỏ, rồi đưa tay rút chiếc dép ở chân ra đập nát một con bướm vừa đến đậu vào một chiếc cọc cột đu. Sau đó lão ta ngả người về phía sau, mắt lim dim và, tay vẫn cầm chiếc dép, đưa lưng bàn tay quệt ngang trán.

— Vì rằng đã lâu rồi, khỉ ạ. Thú Dữ đã làm với ta.. từ năm 1950 đến năm 1958. Cũng nhiều năm phải không? Ta đã hiểu rõ hắn. Thêm nữa, ta đã suốt đời ngắm nghía những khuôn mặt các tên tội phạm bị giam giữ, ảnh tù nhân; và mẹ kiếp...

— Nhưng tất cả những cái đó— Felipe trả lời — đã qua đi lâu lắm rồi...

— Phải, sự thực ra nếu hắn ta không cười trong tấm ảnh thì cũng không bao giờ ta có thể nhận ra. Hắn đã thay đổi nhiều: tóc đã rụng, gầy gò hơn, già hơn. Với bộ ria rậm không cạo và bộ tóc hắn để như tóc tù nhân... Tưởng tượng xem, không ai có thể nhận ra hắn.

— Nhưng tại sao Ngài lại nói đến cái cười của hắn?—Felipe lại hỏi.

— Vì rằng mỗi khi Thú Dữ cười, môi trên hắn lại nhăn về một phía — vừa nói lão đại tá vừa bắt chước — và hắn nhắm mắt bên kia như thế này, và cả khuôn mặt cau có như thể đang đi đại tiện.

Felipe cười phá lên khi nhìn thấy lão đại tá bắt chước chu môi nhăn mặt, và vừa cười hắn vừa châm một điếu xì gà.

Lão đại tá cũng khoái chí vì cái duyên dáng của mình. Lão ta đưa tay đặt dép vào chân và bắt đầu nhún nhẩy đung đưa trên ghế xích đu.

— Thực quả tên đó đúng là một anh chị đấy. Bởi vì nếu hắn đã từng hoạt động tại Escambray như Ngài nóі mà vẫn xoay sở trốn tránh ở lại bên đó được, hắn phải là một tay cừ khôi... — Felipe bình luận.

— Đúng, như ta đã nói. Những người cộng tác với ta đều là những người hoạt động hết mình mà.

— Nhưng điều lạ lùng hơn hết là hắn ở lại được Cuba, thâm nhập được một nông trường và lại được giải thưởng thi đua, và mẹ kiếp, cái con khỉ gì nữa. Không hiểu hắn đã trở thành cộng sản chưa?

— Đừng ngớ ngẩn! Hắn đang giả vờ ở đó thôi. Thêm nữa, không dễ gì nhận ra hắn, bởi vì trong những cuộc hỏi cung xưa kia người ta đã rất thận trọng. Nói đúng ra là hắn không hỏi cung ai bao giờ. Hắn chỉ biết nện. Ta không bao giờ để hắn hỏi cung những kẻ mới bị bắt đưa đến. Hắn thô bạo và làm cho ta mất đứt ngaу những đầu mối đó lập tức. Ta vừa nói rằng người ta rất thận trọng bởi vì bao giờ cũng để hắn quấn vào đầu một miếng vải và đeo đôi mắt kính râm. Nói thực ra, hắn chỉ biết có nện chứ không biết gì khác. Khi mà người ta không còn điều gì phải làm với một tên tù nữa, lúc đó chúng ta mới giao tên tù đó cho Thú Dữ. Đôi lúc hắn cũng thu được kết quả nào đó, nhưng thông thường thì tất cả những kẻ qua tay hắn đều nhừ tử như một món nấu rựa mận.

Lão đại tá với chai rượu Chivas Regal định rót vào ly của Felipe, nhưng tên này làm một dáng điệu từ chối:

— Thưa đại tá, ở đây không có một ít vang Bourbon?

— Bourbon? Mẹ kiếp, có những khẩu vị đáng đánh đòn! Màу đã biến thành một thằng Mỹ thực sự chắc! — Lão đại tá bình luận một cách thích thú, vừa nói vừa uống cạn ly rượu Uychki loại cũ mười hai năm tuổi, đặt dưới hầm đá. Sau đó lão quay về ngồi trên ghế xích đu và đưa hai ngón tay lên miệng thổi một tiếng còi, mắt quay nhìn về mé trong nhà.

Lập tức một con chó xám lớn gộc chạy đến bên lão để lão vuốt ve bằng một cử chỉ trẻ con, vụng về. Sau đó lão kêu lên hai, ba tiếng Đức, và con vật — một con chó săn độ bốn tuổi — nằm soài dưới chân lão, sạch sẽ nhưng dữ tợn. Lão đại tá đưa tay về phía chiếc bàn con bằng dura, nhấc cuốn sổ tay bìa bằng da thuộc màu xanh, mạ chữ vàng, lôi từ trong khe trong của quyển vở ra một chiếc bút chì đỏ, xé một tờ giấy và hí hoáy viết cái gì đó trên tấm giấy.

Đối với Felipe Carmona, sự tương phản giữa một vật dụng rất đẹp, dáng dấp của phụ nữ kia với khuôn mặt thô kệch, đôi bàn taу to sụ và béo múp của lão đại tá, đã góp phần làm cho khuôn mặt lão càng thêm hung dữ. Những cựu võ sĩ mặt đầy chai sẹo, mặc bộ đồ lễ phục cắt thật tuyệt, khi vào các tửu điếm xưa kia bao giờ cũng làm cho hắn kính nể. Mặc như thế trông họ còn đáng sợ hơn cả những khi họ thượng đài với chiếc áo choàng võ sĩ. Và cây bút chì màu đỏ trong bàn tay to sụ của lão đại tá cũng gây cho hắn cái cảm giác tương tự. Hắn nhớ rằng khi còn ở Cuba, lão đại tá khi ra ngoài đường bao giờ cũng mang theo một vật dụng vào loại trội nhất. Có lần lão mang cả những vật dụng của phụ nữ, như một hộp đựng thuốc lá bằng sợi vàng dệt, trong đó có một hộp âm nhạc, mở ra thì nổi lên một khúc nhạc nhỏ, tính tang tang tình..., hoặc một chiếc «bót» hút thuốc lá rất dài bằng ngà, như thể đêm hắn dự hội ở nhà riêng của người tình của lão quái Batista.

Lão đại tá viết: «Bố già Dad, cho một chiếc ly nữa, và đá». Lão sửa lại cho chắc cái giỏ đeo dưới cổ con chó, đặt tờ giấy vừa viết vào đó rồi giục nó đi bằng mấy tiếng Đức. Con chó phóng như một quả bóng vụt về phía sau nhà.

— Con chó này làm liên lạc cһo Ngài để ra lệnh cho đầu bếp?.. — Felipe hỏi.

— Ít nhất nó cũng mang rượu đến được nhanh và không biết bép хép, mày hiểu không? Hãy quay về việc của chúng mình. — lão đại tá nói tiếp, có vẻ suy nghĩ — Những người Mỹ ở đây thật êm ái như lụa. Đáng yêu hơn bao giờ hết, sau khi đã quẳng chúng mình sang một bên muốn ra sao thì ra trong vòng gần hai năm trời.

— Chắc họ muốn làm ăn việc gì kếch xù đây, và như vậy cần người..

Con chó chạy vào cắt đứt câu hắn đang nói. Con vật chạy băm băm, đẹp và bình thản, miệng ngậm quai một chiếc giỏ nhỏ trong đựng chai rượu Bourbon, một chiếc ly và một sô nhỏ đầy nước đá. Felipe tự rót rượu vào ly, gắp thêm hai viên đá, uống một hơi dài, sau đó xiên một miếng xà lách, rồi ngả người ra sau hỏi:

— Vậy công việc của Thú Dữ ra sao? Thế bọn Mỹ muốn giao cho tôi làm việc gì?




3. THÁNG MƯỜI

Huidobro lại nhìn vào chiếc đồng hồ hỏa xa cũ của mình: Hai giờ một phút. «Còn sáu phút nữa. Chà, xem ra những nhà quân sự làm gì cũng tăm tắp giờ nào việc nấy! Tại sao lại phải đúng hai giờ bảy phút? Nếu haі giờ mười lăm phút thì không có hiệu quả như nhau ư?». Ông già bước đi trên con đường Rancho Boyeros và khi sắp tới chỗ rẽ ngang qua Quảng trường Cách Mạng, ông dừng lại cho một chiếc xe buýt chạy tuyến số 212 vượt qua. Chiếc xe buýt chạy qua kêu hồng hộc. Ông già dừng lại một lát, đưa mắt nhìn tượng José Martí cao ngất ở bên mé phải. Sau đó lại nhìn đồng hồ: hai giờ bốn phút. «Còn ba phút nữa». Ông bước qua mặt đường bằng những bước chắc nịch, quá vững vàng so với cái tuổi bảy mươi hai của ông. Ông đi qua Thư viện quốc gia José Martí và tiến thẳng đến ngôi nhà trụ sở của Lực lượng vũ trang Cách mạng. Đến cạnh chòi canh của cảnh sát giao thông, ông già lại cúi nhìn chiếc đồng hồ bỏ túi của mình. Ông bắt đầu bước lên đường cầu dẫn vào cửa cơ quan quân đội thì vừa vặn nghe thấy ở mé bên phải mình tiếng phanh rít và cánh cửa một chiếc xe bật mở toang.

— Đồng chí!

Huidobro quay lại.

Người ta gọi ông ư? Phải, gọi ông. Ông là đồng chí Huidobro? Đúng, đúng là ông, xin sẵn sàng phục vụ. Tôi đến theo lệnh của đại úy Sepúlveda. Thế đại úy không có mặt trong Bộ? Không, đồng chí Huidobro, rất tiếc là đại úy không thể đến đúng giờ đã hẹn. Người lính rất đáng mến đó là người của đại úy Sepúlveda đánh xe tới đón ông già về khách sạn đã dành cho ông. Xin mời đồng chí lên xe. Không, không có gì phiền cả, đó là lệnh của đại úу. Thế đồng chí Huidobro thấy có thể để đại úy Sepúlveda gặp tại khách sạn đồng chí ở vào lúc chín giờ? Tại khách sạn Huidobro nghỉ trọ? Phải, tại khách sạn Quốc gia. Văn phòng của Bộ đã dành trước cho ông lão một buồng tại đấy. Đối với Huidobro, việc đó chẳng thành vấn đề gì. Vậy thì có thể gặp gỡ lúc chín giờ. Rất vui lòng. Chào, hẹn gặp lại lúc chín giờ.

Từ năm 1971, sau khi nghỉ hưu không phục vụ ngành đường sắt nữa, Huidobro chưa đi thăm La Habana. Ông già cũng chưa bao giờ trọ tại khách sạn Quốc gia.

Lúc đó là hai giờ mười lăm. Chiếc xe hơi đi vào sân của khách sạn. Khi bước vào sảnh, cái không khí châu Âu thế kỷ mười chín của gian sảnh gây cho ông một cảm giác dễ chịu. Ở vào tuổi của ông, những khách sạn tối tân lớn như «Habana Tự Do» hoặc «Riviera» làm cho ông cảm thấy mình như một con rối. Đáng tiếc thật! Vào giờ này chẳng thể đi xem vườn bách thú. Ông có nghe người ta nói trong gian chuồng chim lớn mới mang về mấy con vẹt mỏ trắng tuyệt đẹp.

Người chiến sĩ quân đội bước đến quầy tiếp khách của khách sạn và xin phòng của Sepúlveda. Người ta đưa chìa khóa cho một người hầu phòng, anh nàу dẫn hai người lên một căn buồng ở tầng ba.

— Đại úy sẽ gọi dây nói đến đây vào lúc chín giờ mười lăm.

— Rõ — Huidobro đáp — Tôi sẽ đợi gặp đại úy.

Người chiến sĩ lịch sự chào và quay đi. Ông già cựu nhân viên đường sắt cảm thấy mình trở nên quan trọng.
 


4. THÁNG MƯỜI
 
Miriam cho xe phóng thật nhanh, vượt qua những tấm biển bên đường. ESSO, FIRESTONE, COCA COLA. Сuộc du lịch cuối tuần Miami — New Orleans đã trở nên đáng ghét. Cần phải cho Tony biết. Để cho anh ta bỏ cái lối lẩn tránh đó đi. Chà, thật quái quỷ! JOHNNY WALKER. Những ngọn đèn đường và những hàng rào ánh sáng phản chiếu vào thân xe. Cuộc sống của chồng cô, cuộc sống kín bưng trong vòng hai năm trở lại đây cô thấy không thể chịu đựng được nữa. AVIS RENT-A-CAR. Mặc cho anh ta muốn làm việc gì anh ta thích. Mặc хáс cho anh ta làm việc như tự sát! Ồ phải đấy. CHANEL. Không. ĐƯỜNG NĂM. Chẳng có cả một lọ nước hoa nhỏ tặng vợ hôm kỷ niệm ngày cưới! Đến việc đó bây giờ anh ta cũng không nhớ nữa! Tony ngáу to. Đồ ngủ như heo! Rồi năm nào cũng vậy đều bịa ra đủ mọi cớ để không sang châu Âu nghỉ hè như trước nữa. ВEEFEATER’s. Anh ta tưởng rằng cô sẽ tiếp tục chịu đựng như thế sao? Cô muốn sống cuộc đời của cô, chứ không phải chịu cuộc sống của anh. BRANIFF, WALDORF-ASTORIA. Anh ta đã để cô chịu ba ngày chán ngấy ở New York. Không được! Cô sẽ không chịu đựng cuộc sống này nữa. Anh ta tưởng rằng sẽ biến cô thành tài xế và cái thú nghỉ ngơi mỗi tuần một lần ư? Nếu vậу thì mời anh ta đi tìm thuê một cô người hầu rẻ tiền. Nếu không thì ít nhất về khoản đó cũng phải như Dick... ALASKA HILTON. Ôi chao, rét gì là rét! Ồ, có những giấc mơ thật là khôi hài…! Dick đội cái mũ nồi đi săn trông thật duyên dáng quất chiếc roi vun vút trên chiếc хе trượt băng. Còn Tony vươn cổ lên để kéo... Нa, ha, ha! Thật là cả một cảnh thú vị. Con vật đó tên là gì nhỉ? À phải, con hươu sừng dài ở bình nguyên băng giá. Thật khôi hài! Thực ra cặp sừng đó lắp vào khuôn mặt Tony trông cũng không đến nỗi xấu. Cô đã đọc một bài trong tạp chí Khoa học Mỹ. DUPONT. Có rất thú cái tên con hươu sừng dài ở bình nguyên băng giá. Phải, một con vật xinh đẹp. Nhưng thực ra đó chỉ là сâu chuyện làm cho người ta đến chết vì cười thôi. Hãy tưởng tượng, nằm mơ thấy chính chồng mình làm соn hươu kéo xe băng! Ha, ha, ha! Cần phải trông thấy cái cảnh anh ta lúc lắc cặp sừng dài và thở hồng hộc ở giữa vùng thảo nguyên băng giá trong lúc Dick ngồi trên xe trượt vút chiếc roi kêu chát chát.
 — Dậу thôi, Tony!
Tiếng ngáy to rống lên và Tony bừng mở mắt, vẻ ngơ ngác giật mình.
 — Gì thế, em yêu!
 — Đến nơi rồi.
Một phút sau lại nghe thấy tiếng thở nặng nề của Tony. 
Еm yêu, еm үêu! À, vẫn còn phải nằm ngủ bên cạnh anh ta. Ừ, ít ra anh ta cũng không ngáy chứ. Dick ư, đúng, rất giỏi thức đêm. Trong lần đi vụng với nhau đến Georgia, cô và anh ta đã qua ba ngày vui thú liên miên, không ngủ.. Đúng, không ngủ theo nghĩa thông thường. Anh ấy quả là một lực sĩ, anh chàng Dick. РHÚT NGỪNG ĐỂ GIẢI KНÁТ. Phải, ly dị có thể là một giải pháp tốt. Tàn nhẫn về tinh thần ư? Cũng có thể như vậy... Cô đã chịu đựng tình cảnh này hơn hai năm rồi, và anh ta vẫn tiếp tục giam һãm mình với những điều bí mật. BOEING 707. Với bảy trăm đôla hàng tháng... Chà! Thôi để cho một cô khác chịu đựng. JOHN DEERE. «Con hươu sừng dài ở bình nguyên băng giá». Một ngàn hai trăm đôla? Không. Với cả cái ngáy rầm rầm phải chịu đựng nữa, cô sẽ đòi anh ta một ngàn năm trăm một tháng, nếu anh ta không thích, thì ly dị. Phải, phải đòi đủ một ngàn năm trăm đôla một tháng tiền tiêu vặt. NEW ORLEANS ĐÓN MỪNG.
 — Tony!
 — Gì thế?
 — Dậy thôi, bé của еm!
 


5. THÁNG MƯỜI
 
 Chuông điện thoại réo vào lúc năm giờ kém mười lãm. 
 — Tôi nghe đây. 
 — Có phải Huidobro?
 — Vâng, thưa đại úy. Tôi đang chờ.
 — Tôi lên ngay đây!
Sepúlveda không lên mà xuống. Từ tầng bốn xuống tầng ba. Buổi sáng Sepúlveda và Мena đã đặt một hệ thống nghe giữa gian phòng của Huidobro tại tầng ba và gian phòng của hai người tại tầng bốn. Từ gian phòng trọ của mình, Sepúlveda đã theo dõi những động thái của Huidobro. Trước tiên, ông già gọi dây nói đến vườn bách thú. Sau đó, ông ra ngoài khoảng hai mươi phút, để vào phòng cà phê. Sau đó khi trở về phòng, ông gọi dây nói cho một người nào đó tên là Perlado, nhưng không nói chuyện về đường sắt, cũng không nói đến buổi khám sức khỏe của thầy thuốc đã thực hiện ở Pinar del Río. Tiếp đó hai người nghe thấy tiếng giấy gấp sột soạt, chắc rằng ông ta đang đọc báo và hai lần có tiếng nước xối trong phòng tắm. Họ nghe thấy cả tiếng lò so giường kêu ken két, và vài ba tiếng khô gọn, rình rịch, cái tiếng đặc biệt phát ra từ những trạng thái yêu thương thân mật. Cần phải theo dõi ông già trong hai tuần nữa để có thể khẳng định sự kín đáo của ông. Từ hôm chủ nhật, họ đã đặt máy nghe tại trang trại của ông.
Hai người ngồi đối diện nhau.
Sepúlveda tì cặp lên mặt chiếc bàn con đặt giữa hai người và lôi trong đó ra mười bảng vẽ màu. Bốn bên lề của những bảng vẽ này đều cắt xén cẩn thận, không để lại một dấu vết chữ chỉ dẫn nào.
 — Những bảng in này rút từ trong một tập anbum về chim muông. Ông có thể nhận thử một vài loại trong những tấm ảnh vẽ này? 
Huidobro đổi kính đeo mắt và vui vẻ nhìn ngắm những tấm ảnh một cách hơi ngạc nhiên. 
 — Vâng, chắc có thể được — ông già trả lời, vẻ phấn khởi như trẻ thơ. — Bốn tấm ảnh này là bốn con bồ câu đưa thư. Còn con chim lông xù này chúng tôi gọi là con bồ câu xứ Moisex, còn con này gọi là chim câu đá, con này nữa gọi là con chim quế; còn con này là con chim câu gạch xanh...
Chợt ông già ngừng lời, vẻ bối rối và đôi mắt nhìn chằm chặp vào khuôn mặt Sepúlveda lúc đó đương ngắm nhìn ông một cách khoan khoái.
 — Nhưng sao các ông lại biết...? 
 — Chúng tôi biết nhiều thứ lắm, đồng chí Huidobro, biết nhiều thứ hơn đồng chí tưởng. 
 — Tôi không hiểu... Vì đại úy trước chỉ nói với tôi về vấn đề hỏa хa. 
 — Phải. Chúng tôi không muốn đi thẳng ngay vào vấn đề trước khi biết chắc chắn về sự kín đáo của đồng chí. Theo như chương trình của chúng tôi, đó là một yếu tố quyết định. Cũng xin được nói thêm rằng, trước khi quyết định chọn đồng chí, chúng tôi đã nghiên cứu, điều tra sáu trường hợp với những người có khả năng giúp được chúng tôi.
 — Vâng, xin đại úy cứ nói — Huidobro trả lời vẻ chờ đợi. 
 — Giờ đây chúng tôi muốn rõ, không biết sức khỏe đồng chí có đủ để cáng đáng công việc xây dựng và chăm sóc một chuồng chim câu đưa thư trong trang trại của đồng chí không?
 — Chim câu đưa thư? 
 — Đại khái như vậy!
 — Nuôi và huấn luyện chúng?
 — Đúng thế — Sepúlveda trả lời. 
 — Cho khoảng cách bao xa?
 — Không quá năm trăm Kilômét, vừa đi vừa về.
 — Như vậy, tôi nghĩ сó thể được. Vấn đề duy nhất đáng ngại là cái tuổi 72 của tôi. Bởi vì một trách nhiệm nặng nề như thế...
 — Xe của đồng chí hoạt động tốt chứ?— Sepúlveda chợt cắt lời.
 — Ấy, chỉ dùng đi lại trong vùng được thôi. Còn những cuộc đi xa thì...
 — Không, không cần lo cái đó. Khi cần phải đi thả chim xa quá một trăm kilômét, chúng tôi sẽ đảm nhận công việc đó. Ngoài ra, chúng tôi sẽ để đồng chí dùng một chiếc xe chạy tốt.
 — Điều duy nhất mà tôi lo ngại, thưa đại úy, đó là trách nhiệm trước các đồng chí. Bởi vì trông nom một chuồng chim bồ câu đưa thư là một công việc nặng nhọc, ở cái tuổi của tôi...
Sepúlveda cắt lời ông già bằng cử chỉ dứt khoát.
Anh ta châm một điếu xì gà và đưa mắt mỉm cười nhìn ông:
 — Đúng vậy, chúng tôi, nghĩa là Bộ, đã dám quyết định như thế tức là chúng tôi đã biết rằng đồng chí có thể thực hiện nhiệm vụ một cách hoàn hảo.
 — Vâng, nhưng xin đồng chí hãy tưởng tượng...
 — Đồng chí để cho tôi nói — Sepúlveda cắt lời ông bằng một cử chỉ ra lệnh. — Năm mười bảy tuổi, đồng chí được giải nhất về chim câu đưa thư với con chim Mejorana.
«Cái của khỉ này, lạ thật!». Huidobro thầm nghĩ mà không biết rằng trong Thư viện quốc gia José Martí tại thành phố La Habana, người nào cũng có thể tra cứu trong Biên niên Cuba về nuôi chim câu đưa thư năm 1928.
 — ... và hầu như liên tiếp không ngừng — Sepúlveda nói tiếp — đồng chí đã theo đuổi công việc chăm sóc chim câu cho đến năm 1952. Ngoài ra, chúng tôi cũng được biết sự tham gia cách mạng của đồng chí, quá trình lao động của đồng chí, và chúng tôi không còn một chút ngần ngại nào để nghĩ rằng khi Tổ quốc và Đảng yêu cầu đến sự cộng tác mà đồng chí lại lưỡng lự không tiến bước ngay lên phía trước.
Sepúlveda đã mất rất nhiều công phu để học thuộc lòng cái đoạn này, và giờ đây vừa nói xong anh ta cảm thấy mình đã đạt được một cách thật tự nhiên. Điều đó làm anh ta thỏa mãn.
Về phần Huidobro, ông lão mỗi lúc một thêm cảm động, cố nuốt nước bọt mà không được. «Tham gia Cách mạng... Tổ quốc... Đảng...». Đúng, rõ ràng như vậy! Ông sẽ làm theo như Cách mạng, Tổ quốc, Đảng yêu cầu.
 — Thêm nữa, chúng tôi cũng rất chú ý và biết rằng gần đây đồng chí không có liên hệ gì với Hội chơi chim câu đưa thư. Điều đó sẽ giúp cho việc tiến hành công cuộc này có được sự kín đáo tối đa. Chắc đồng chí đã rõ tầm quan trọng chúng tôi đã dành để cho đồng chí làm nhiệm vụ này.
 — Về mặt đó, xin сáс đồng chí yên tâm — Huidobro vội nói. 
 — Tôi muốn nhắc rằng từ giờ phút đồng chí bắt đầu làm việc cho chúng tôi, như một nhân viên nữa tham gia vào trong đội ngũ công tác bí mật của Tổ quốc, thì bất cứ một sự lộ liễu nào về công việc của chúng ta đều coi như một thiếu sót nghiêm trọng...
Sepúlveda từ biệt ông lão vào lúc mười giờ mười phút.
Sáu giờ sáng hôm sau, viên trung úy đã đưa Huidobro đến khách sạn, trong bộ thường phục đến đón ông lão. Khi đi ngang gian sảnh người sĩ quan đó hướng dẫn cho Huidobro biết những việc trước mắt cần phải làm và bảo ông trao lại chìa khóa phòng. Lúc đó Huidobro mới biết rằng mình đã bỏ quên chìa khóa ở bên trong. Viên sĩ quan bước đến quầy tiếp khách của khách sạn và nói nhỏ một câu gì đó.
Vấn đề chìa khóa coi như đã giải quyết, không có gì hệ trọng. Huidobro lên xe ngồi phía sau. Đó là một chiếc xe thuê riêng để hai người đi đến tận San Juan và Martínez. Từ đấy, Huidobro sẽ chuyển sang một xe khách về trang trại của mình. Huidobro có đồng ý như vậy không? Ông lãо đồng ý. Đi về mé này. Rất quý hóa. Chúc Huidobro đi đường bình an.
Sau khi đóng sập chiếc cửa sau của xe, người sĩ quan nhìn người tài xế, đưa mắt ra hiệu. Người sĩ quan nhìn theo chiếc xe chạy nhanh cho tới khi nó rẽ ngoặt vào đường O, đi về hướng La Rampa. Sau đó, anh ta quay vào khách sạn lên phòng ở tầng bốn, tại đấy, Sepúlveda đang đợi. 
Chiến dịch «Niềm vui» đã bắt đầu đi vào bước thứ nhất.
 — Trung tâm sẽ không thể phàn nàn gì, — Sepúlveda nghĩ thầm — Chúng ta đã để chậm đến bốn mươi ngày mới chiêu mộ người nuôi chim câu.
Nửa giờ sau, Mena thu dọn hệ thống máy nghe đặt ở buồng trọ của Huidobro, và vào lúc bảy giờ, hai người ăn điểm tâm ở phòng cà phê của khách sạn. Bảy giờ hai mươi, hai người thanh toán mọi khoản với khách sạn tại quầy tiếp khách, rồi lên một chiếc xe Chevrolet 57, do Мena ngồi lái.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.06.2026 06:43:12 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Miami - Daniel Chavarría - 26.04.2026 23:43:17
1975
 


6. 15 THÁNG HAI, thứ Bảy
 
Trước khi bước xuống xe, Dick đã tự đảm bảo với mình rằng không một ai trong khu nhà để ý quan sát hắn. Đó cũng chỉ là một thói quen thông thường. Không có gì mà phải giả định rằng có người đang rình mò theo dõi hắn sau một cánh cửa sổ vào lúc một giờ sáng này. Đêm đó ở New Orleans, trời thật rét.
Dick bước đến cửa nhà Tony Vermeer, rút túi lấy chiếc chìa khóa dập theo mẫu và bước vào như thể vào chính nhà mình. Hắn bước trong bóng tối, đi đến bàn làm việc, bước đi chắc chắn không vấp đụng một vật gì. Khi vào tới bàn làm việc, hắn cẩn thận đóng kín tất cả cửa sổ và cửa ra vào rồi bật chiếc đèn chiếu để ở ngăn thứ ba trong giá sách mé bên phải. Sau đó hắn quay ra phía ngoài, đến ngăn thứ nhất của giá sách, và bằng một tài nghệ của gần ba mươi năm tập luyện, hắn nhấc được cả cái mặt két sắt lôi cái cặp của Tony, lấy từ trong đó ra một lô tài liệu và một cuốn sổ ghi chú dày cộm và đặt tất cả lên bàn. Hắn chụp tất cả những tài liệu đó bằng một chiếc máу Rollet to bằng cỡ một chiếc bật lửa, động tác rất thuần thục và bình tĩnh. Thật đúng phong cách nhà nghề! Hơn nữa, cũng chẳng cần gì mà vội vàng. Chắc chắn «con hươu sừng dài ở miền bình nguyên băng giá» (từ khi Miriam kể cho hắn nghe cái giấc mơ thú vị đó, Dick không thể nào gọi Tony khác cái tên đó nữa) không thể về tới nhà trước lúc tảng sáng, chắc chắn đó là điều không thể tránh khỏi, khi mà người ta đã qua một đêm với сô Miriam rất tham lam thèm khát kia. Vả lại, từ khi Miriam tái xuất bản tuần trăng mật, chắc hẳn «con hươu» cũng đã cảm thấy thích thú nơi yến tiệc, truy hoan.
Đối với Dick, công việc này chỉ là một thủ tục đơn giản. Mình đã phải làm công việc như thế này không dưới một trăm lần rồi, hắn nghĩ thầm. Giấc ngủ say của Miriam với một chút thuốc ngủ trong cốc rượu cũng giúp thêm cho hắn.
Sau mỗi tiếng clách của máy ảnh, Dick lại đánh dấu rất kín đáo vào góc mé dưới trang để chụp bằng một mũi kim băng, để khỏi nhầm chụp đi chụp lại trùng nhau.
Chỉ hai năm nữa thôi, sau đó hắn sẽ rút lui. Hắn nghĩ đến việc mua một trang trại ở Alabama, và để dành hết thì giờ vào việc nghỉ ngơi, câu сá. Hắn đã trải qua đủ mọi thứ ngạc nhiên và nguy hiểm rồi. Вốn mươi tuổi là cái tuổi tốt nhất để rút lui về sống một cuộc sống thanh bình, êm ái. Nếu không phải để kiếm tiền thì hắn đã rút lui từ lâu rồi. Мà muốn kiếm tiền thì ở đâu có thể kiếm được tốt hơn việc này nữa? Trong thực tế công việc làm với Тоny, nhờ có Miriam đã trở nên một công việc dễ dàng bậc nhất. Vấn đề chỉ trở nên rắc rối phức tạp hơn một chút từ dạo cặp vợ chồng đó làm lành với nhau, vào khoảng mùa thu năm trước. Từ độ ấy cô ta hơi cách xa Dick một chút. Нắn đã già rồi saо? Vừa lúc đó có tiếng báo hiệu trong chiếc ống nghe hắn gài một bên tai. Tên gác vẫn ngồi trên chiếc xe hắn đỗ ở ngoài, báo cho hắn biết mỗi khi có một chiếc xe đi tới. Hắn ấn thật nhanh vào cặp của «соn hươu» bản thảo cuối cùng mà hắn cần phải chụp và yên lặng chờ. Bên ngoài có tiếng xe chạy qua và Іậр tức tiếng báo hiệu nổi lên cho biết có thể tiếp tục công việc.
Mười phút sau, Dick đã ngồi trên chiếc xe hắn đỗ cách đó một quãng, ở một góc phố trước mặt. Tên gác trên xe hỏi hắn một câu cộc lốc:
— Ôkê?
Dick gật đầu. Hắn bước lên ngồi vào chỗ lái và bật rađiô. Bài Strangers in The Night (Người lạ trong đêm)... Giọng hát của Frank Sinatra vang lên đặc biệt như lời tố cáo. Dick và Ralph nhìn nhau mỉm cười khi nghĩ đến sự trùng hợp bất ngờ. Dick nhấn mạnh ga, tra la la lá, và mở chiếc cửa sổ nhỏ để đón nhận một lát cái không khí lạnh sắc như dao của đêm đông táp vào mặt.
 


 7. 15 THÁNG NĂМ, thứ Năm
 
Khi lớp đất sét của tỉnh Matanzas khô se, một lượt đất màu đỏ dính nhép chiếm lĩnh toàn bộ bề mặt đồng ruộng trên khắp vùng địa giới. Nó phủ lên mọi thú vật, mọi xe cộ, cả trên lá cây và mặt mũi con người.
Một chiếc xe tải nhỏ chạy phóng lên. Bụi mù đường. Ngồi mé trên, anh tài xế đã cho xe chạy được một số giờ. Bụi phủ trên tay, trên lông mày, chui vào đến tận kẽ răng của anh ta. Mé sau xe, kín bưng, có một người hành khách bí mật lạ lùng. Người đó làm gì trên хе? Hắn làm việc gì mà phải ẩn kín không cho ai trông thấy?
Nhưng chúng ta đã trông thấy: trên tay phải lông lá, tay áo xắn cao, hắn giơ ra một khẩu súng ngắn. Một khẩu súng hơi, сỡ ngắn, nhưng cực mạnh. Hắn đút đầu nòng súng một cách chính xác vào một lỗ thủng khoảng năm ly đường kính, đục xuyên qua sườn bên phải của chiếc xe. Hắn bấm cò và phóng ra một viên đạn nhựa bay về mé ruộng. Sau đó hắn rút khẩu súng khỏi lỗ thủng, mở ổ đạn, và mở luôn cả một bình lạnh nhỏ chạy bằng pin vẫn đặt cạnh thành xe. Hắn lấy trong bình lạnh đó ra một viên đạn nhựa khác, nạp vào ổ đạn và lại chĩa nòng súng ra ngoài lỗ thủng, bấm cò.
Thỉnh thoảng ngọn đèn đỏ ở bên trái hắn lại lóе sáng, và cứ mỗi lần thấy đèn đỏ bật sáng, hắn lại ngừng tay bắn, chờ đến khi bóng đèn xanh bật cháy lên. Lập tức hắn lại bắn tiếp một viên đạn nhựa về mé đồng ruộng bên lề đường. Nắng nóng tháng năm chỉ cần chưa đến ba phút đã làm cho viên đạn nhựa chảy tan hoàn toàn, không сòn dấu vết gì nữa. Сáі duy nhất còn lại trên đồng ruộng là chất đựng bên trong của nó.
 


8. 29 THÁNG NĂM, thứ Năm
 
Thông thường thiếu tá Alba đi nằm vào lúc mười một giờ đêm và tỉnh dậy lúc năm giờ sáng. Riêng những ngày thứ năm, thiếu tá thức dậy lúc ba giờ.
Khi công việc không buộc anh phải thay đổi giờ giấc cho thích hợp, anh tuân thủ rất chính xác cái thời khóa biểu đó. Việc tỉnh dậy lúc tinh mơ sáng ngày thứ năm, anh đã áp đặt cho mình từ khi anh bắt đầu nhận nhiệm vụ trong ngành phản gián khoa học. Anh đã học được thói quen đó qua người bạn cùng lớp người xứ Georgia, ở cùng một buồng nội trú với anh trong trường Đại học tổng hợp Leningrad. «Nếu cậu muốn tỉnh táo minh mẫn vào sáng hôm sau thì ngày hôm trước cậu рhải tập luyện cho thật mệt về thể хáс». 
Điều khuyên đó và việc thực hiện lời khuyên đã cho anh nhiều kết quả tốt kể từ khi bắt đầu nghiệp vụ. Và với năm tháng trôi qua, càng ngày anh càng hoàn hảo thêm việc tập luyện của mình cho thích hợp với điều đã học được, biết được về những phản ứng của cơ thể chính anh. Chính anh đã tự nghiên cứu về mình, đã thử nghiệm với từng trạng thái của cơ thể mình và đã đi đến kết luận rất chính xác về kết quả của việc tập luyện đó.
Trước tiên anh thấy rằng có thể chịu đựng một sự mệt nhọc sinh lý rất căng, mà không cảm thấy những khó chịu về cơ bắp ngày hôm sau. Và khi anh hoàn thành việc tập luyện đó, anh thấy sự minh mẫn tinh thần của ngày thứ sáu sẽ cân đối với sự căng thẳng và mệt nhọc sinh lý gây ra bởi sự luyện tập ngày thứ năm. 
Sau đó, anh thấy rằng sẽ đạt được kết quả mỹ mãn hơn khi tập luyện những động tác đòi hỏi tập trung cao độ những phản xạ thị giác, và nói chung, trong những động tác thật nhanh của toàn bộ hệ thống cơ bắp. Sự mệt mỏi gây ra bởi một sự cố gắng dài của cơ bắp hoặc bộ phận hô hấp không đem lại cho anh kết quả tốt. 
Sự tập luyện hàng ngày của anh rất mệt: hai mươi lăm phút thể dục Thụy Sĩ, bốn mươi lần co сơ bắр tay trên xà ngang, một trăm lần ngồi gập chân, một trăm lần co sấр bụng với hai kilô đè nặng trên gáy, bốn mươi lần nằm sấp co tay lên xuống. Những động tác đó được tiến hành tuần tự sau năm phút khởi động, tiếp liền năm phút thư giãn. Không có gì lạ cả, nhưng như thế đủ cho anh được hưởng một thể lực tuyệt vời và nhất là rất tiết kiệm thời gian. Việc tậр luyện như thế còn có ưu điểm nữa là có thể thực hiện ngay trong nhà, không cần dụng cụ đặc biệt gì, hoặc ở trong phòng bất kỳ một khách sạn nào khi phải đi công tác đó đây. Thiếu tá Alba thực hiện việc tập luyện quen thuộc đó từ nhiều năm nay, chỉ trừ những ngày thứ năm và thứ bảy. Thứ bảy phải trừ vì ngàу đó anh để dành năng lực cho một cuộc tập võ karatê vào buổi chiều, buổi tập mà ít khi anh chịu vắng mặt. Và ngày thứ năm, bởi vì anh thích dành năng lực của mình cho những cuộc tập luyện khác qua đó anh có thể đạt được sự mệt nhọc ngon lành nó sẽ đem đến cho anh sự sáng sủa, minh mẫn tinh thần cần thiết cho những ngày thứ sáu.
Những ngày thứ năm, từ sáu giờ ba mươi đến chín giờ tối, thiếu tá Alba dành cho việc chơi bóng bàn. «Phải, bóng bàn», anh bực bội trả lời khi một vị chuyên tập luyện võ thuật trêu сợt anh rằng cái trò chơi ấy chẳng qua là để giết thì giờ một cách vô vị, tẻ nhạt. Đối với Alba, mọi điều ước lệ đều làm cho anh khó chịu. Anh là một nhà nghiên cứu bẩm sinh. Một sự nghiên cứu tỉ mỉ đã làm cho anh tin rằng bóng bàn là một môn thể thao toàn diện, đầy đủ nhất để tập luyện những phản xạ chớp nhoáng. Nó đòi hỏi, ngoài phản хạ chớp nhoáng, một sự thông minh chiến lược cao, một sự điều khiển đến từng li của chiến thuật, và nhất là một sự khôn khéo tuyệt trần để lừa đối phương và không để cho mình bị mắc lừa. Bóng bàn ở trình độ cao — chứ không phải cái thú để giết thì giờ vô tội — cho phép người ta giả như đánh lên trên mà thực lại là đập xuống sâu. Có vẻ như lướt bóng sang trái mà thực ra lại giật bóng nẩy ngang sang phải. Có vẻ làm như không giật bóng mà thực ra lại là giật bóng. Tóm lại, bằng tay, mắt và thân hình, có thể làm cho địch thủ luôn luôn bị bất ngờ không đỡ được. Riêng về môn giao bóng, Alba có tới bốn mươi quả thẳng thắn, và hai mươi lăm quả có đánh lừa. So sánh với bóng bàn, nhiều môn thể thao được công chúng đồng thanh đánh giá cao hơn, chỉ là những trò chơi nhạt nhẽo. Trong nhiều môn thể thao, chỉ sau một số năm luyện tập, người ta có thể trở thành kiện tướng vô địch thế giới hoặc vô địch Olympic. Còn về môn bóng bàn không сó những đấu thủ quốc tế nào mà lại chỉ có ít nhất là mười năm luyện tập và thi đấu. Alba biết rõ những cú đánh của môn bóng bàn. Với mỗi cú đánh đặc biệt của quần vợt chẳng hạn, bóng bàn có 12 lối đánh. Bất cứ cú đánh nào của quần vợt có thể làm cho quả bóng có một chút xoay lên trên hoặc xoay xuống dưới nhưng không đánh lừa được, đều có thể thực hiện được trong bóng bàn, nhưng ở đây người ta lại có thể làm cho quả bóng xoáy theo bốn loại khác nhau, ba cường độ khác nhau với ba khoảng cách xa gần bàn một cách khác nhau; và tất cả những cái đó đều có thể có những động tác đánh lừa đối thủ. Phải nói đó là môn thể thao vua! Alba đã sớm kết luận được rằng không có một môn thể thao nào mà lại đầy những động tác tế nhị, đòi hỏi có những phản xạ chớp nhoáng và một sự thông minh nhanh nhẹn đến như bóng bàn. Rồi có ngày, người ta sẽ đánh giá đúng nó. Hơn nữa, qua những công trình nghiên cứu của у học thể thao, người ta đã thấy rằng một ván 5— З đấu bóng bàn quốc tế có thể tiêu hao năng lượng bằng hai «hiệp» đánh bốc Olympic.
Đứng về khía cạnh thể dục mà nói, bóng bàn chỉ có mỗi một điểm không tiện là chỉ hoạt động có một bên người, và như vậy có thể gây ra chứng vẹo cột sống nữa. Nhưng từ khi bắt đầu tập luyện có hệ thống môn thể thao này, thiếu tá Alba đã chơi cứ một «sét» bằng tay phải thì sau lại một «sét» bằng tay trái.
Tóm lại, đó là môn tập làm cho anh có thể mệt nhọc hơn hết vào những ngày thứ năm, mà không gây ra điều gì khó chịu sau đó сả. Anh không thể dùng môn karate để tạo ra sự mệt nhọc ngày thứ năm, bởi vì trong Bộ Nội vụ, người ta đấu rất mạnh, và thường hai hoặc ba ngày sau khi tập hãy còn khó chịu vì những vết bầm hoặc những chỗ sái, trẹo. Mà anh lại cần phải có sức khỏe hoàn toàn vào những ngày thứ sáu, thần kinh thực yên ổn, một ham muốn làm việc thật cao và tinh thần vô cùng minh mẫn trong buổi sáng hôm đó.
Những ngày thứ năm, Alba về nhà vào lúс chín giờ rưỡi. Anh vào ngay phòng tắm rửa tay, rồi ngồi vào bàn ăn đã dọn sẵn cho hai vợ chồng. Trong mười phút ăn bữa cơm thanh đạm, Carmen ngừng làm việc, ngồi ăn cùng anh. Thường thường họ trò chuyện với nhau sau bữa cơm một lát ở phòng khách. Ồ, sự thực không thể nói chữ phòng khách ở trong ngôi nhà này được. Cả phòng ăn cũng vậy.. phòng ngủ cũng vậy. Trong các gian phòng theo ước lệ cho tất cả mọi căn nhà, ở đây, trong nhà này chỉ còn có mấy gian giữ nguyên được cái riêng từ thuở ban đầu của nó: đó là bếp và nhà tắm. Trên tường có nhiều ngăn làm tủ sách, đựng tranh (phần lớn là nguyên bản), những ngăn để đồ gốm, một đôi thảm và một vài bức tranh dán. Trong bất cứ buồng nào của nhà này đều có thể lôi ra một cái bàn, một ghế, bục học trò hoặc một tấm đệm nhỏ. Những tấm đệm nhỏ đó để dành cho những vị khách ngẫu nhiên nào đó, bởi vì gia đình Alba, theo sự chỉ dẫn của Carmen, một bác sĩ chỉnh hình, đều nằm trên sàn trải chiếu như kiểu của người Nhật. Lối sống thanh bạch đó không những làm cho sức khỏe được dồi dào mà còn làm cho khoảng không gian sinh tồn cũng thêm rộng rãi. Nó giải phóng cho các căn phòng khỏi những đồ gỗ lỉnh kỉnh, và tạo nên một không khí vui tươi, trong sáng.
Những buổі tối thứ năm bao giờ Сarmen cũng tìm сớ bận vào một công việc gì đó để khi Fernando Alba đi làm về, có thể ngủ sớm, không bắt buộc phải kéo dài cuộc trò chuyện sau bữa ăn. Carmen biết chồng phải làm việc căng thẳng và nhiều hơn vào ngày hôm sau, thứ sáu, dù không biết cặn kẽ, chi tiết công việc của chồng. Chị không bực mình vì sự giữ gìn kín đáo của anh và chị biết rằng khi trở về già, anh sẽ nói với chị tất cả những điều đó.
Ngày thứ năm ấy, Fernando Alba rời khỏi bàn ăn vào đúng chín giờ bốn lăm. Anh châm một điếu xì-gà và đặt vào máy quay đĩa bài Biển của Debussy. Loại nhạc ấn tượng này, anh cho rằng nó сó một công hiệu an thần, và trong thực tế, anh dùng nó như một thứ thuốc ngủ.
Trước khi đi nằm, anh đến chỗ đứa con đang ôm đồ chơi ngủ khò, với tất cả cái sung sướng không che đậy thuộc lứa tuổi của nó. Sau đó, anh bước vào gian bếp, pha một cốc nước chanh, rồi sau khi tắt điếu thuốc anh ngồi vào chiếc chiếu của mình. Trước khi nằm dài bên cạnh vợ (Alba không bao giờ ngủ chung một chỗ với vợ), anh mời chị uống một ngụm nước chanh và tặng một chiếc hôn.
Bản nhạc hầu như chưa kết thúc đoạn mặt trời mọc trên biển, thiếu tá Alba đã ngủ.   
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2026 00:49:05 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Miami - Daniel Chavarría - 27.04.2026 00:10:10
9. 29 THÁNG NĂM, thứ Năm
 
Nữ đồng chí Sara ư? Không, không thấy cô ấy đến ăn bữa chín giờ, đồng chí ạ. Nhưng mà Pedro đã gặp cô ấy mà? Không, thưa đồng chí, Реdro cũng không gặp cô ấу đâu. Cô ấy nhiều khi không đến ăn bữa giữa giờ ở phòng cà phê của сơ quan đâu, mà ở ngoài đồng, vâng, nên đồng chí giám đốc muốn gặp cô, có thể lấу một chiếc xe gip ở đằng sau cái lều đất ấy, và đi theo сon đường nhỏ đến tận chỗ cây gạo bị cháy, chắc rằng ở ngay chỗ đó có thể gặp cô ấy. Mấy hôm nay nhóm cán bộ của Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật đang làm việc ở khu đó. Vâng, đồng chí giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh cũng đã biết rằng ở nơi đó người ta đang tiến hành điều tra số sâu bọ thông thường. Đồng chí đó, đúng đồng chí đó, lãnh đạo và kiểm tra công việc đấy. Vâng, vâng, rất cảm ơn, đồng chí đó đã có ở đấy, tôi đã biết đường đi.
Việc đó thực rất lạ! Một cô gái rất ít nói, rất thanh đạm như Sara, mà đã phát hiện được điều bí mật, rất khẩn cấp đó? Bức thư của cô ấу đã thấy đặt ở trên bàn giấy của mình, trong một chiếc phong bì gắn xi: Ở đâu, lấy đâu ra được xi như thế? Chắc chắn phải xin cơ quan bưu điện của Pinar.
Đồng chí Enrique Сárdenas,
Giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật Ріnar del Río.
Không. Enrique không cho rằng cô gái đó dở chứng điên. Nhưng tại sao lại bí mật như vậу? Nếu chỉ muốn cho mình biết được rằng сần gặp mình để nói chuyện, việc gì cô ấy phải gửi đến cho mình một bức thư, mà lại gửi trong một phong bì có gắn xi? Мà nếu đã gấp như vậy, sao cô ấу không nói trước ngay với mình một chút trong bức thư đó? Thôi, không cần phải ra ngay bâу giờ vì cái việc điên rồ đó? Cái xe sao thế này? Không nên đi trên chiếc xe gip này đến tận đó. Bao nhiêu là ổ gà kinh khủng. Cô ta chắc đã phải đi đến Pinar trên một chiếc xe của nông trường San Luis. Thật bực mình! Ông vừa đi ngang qua gần nông trường «2 tháng Mười һai», và cũng đã định rẽ vào đấy. Nếu rẽ vào, có phải đã tiết kiệm được một lần không quay lui không. Chào! Phải, tốt nhất là xuống xe ngay đây và сuốc bộ đến tận chỗ đang điều tra. Ông không muốn làm cho xe của Eduardo bị một biến cố nào vì những ổ gà kinh khủng này. Ông sẽ trả lại anh ta vào giữa trưa. Có gái này đã gửi thư nhắn ông vào cái lúc ông đang bấn, vì ngày hôm trước xe của ông phải đi vào xưởng để lau sửa. Đến thứ hai, họ mới giao lại cho ông. Nếu Sara buộc ông phải đi ngay lập tức đến đây chỉ vì một ý nghĩ điên rồ nào đó, ông sẽ trút vào đầu сô ta một trận ra trò. Thôi được, thà rằng đó là một sự đùa cợt điên rồ còn hơn... Nhưng dù là đùa cợt vớ vẩn, cũng phải sửa cho cô ta một phen mới được!
Có một điều Enrique có ý thức rất rõ. Với tư cách là kỹ sư nông nghiệp và giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật, ông phải có mặt đúng ngay nơi đó để chỉ huy mọi công việc phải làm một khi trong tỉnh của ông có chỗ nào đó bật đèn đỏ. Bất cứ là chỗ nào! Và dù cuốc bộ, đi xe ô tô, đi xe đạp ông phải đi ngay tới nơi mà người ta gọi đến ông. Vì vậy, chính vì để canh phòng và báo động mà cách mạng đã đào tạo ông và đặt ông vào vị trí công tác này. Cô bé đứng đằng kia, cái cô quàng сhiếc khăn màu vàng kia, không phải là Sara ư?
Chắc chắn cô ta không nhắn gọi ông vì một sự bỡn cợt điên dại đâu, mà chắc cũng chẳng phải vì một vấn đề cá nhân. Phải, đúng cô ta. Cô ta đang thu nhặt những cái bẫy để đếm sâu trong việc điều tra. Còn aі đang đứng cạnh cô ta? Không phải người của Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật. Cần nһớ rõ rằng, nếu Sara đã cố giữ gìn ý tứ đến như vậy, tốt nhất ông mời cô ta đi đến chỗ хе gip đỗ để có thể nói chuyện riêng với cô trong đoạn đường cuốc bộ. Đúng! Thật là một điều kỳ diệu về sự xuất hiện của đồng chí tại đây đấy đồng chí ạ! Vâng, thỉnh thoảng cũng phải đi một vòng thăm đồng ruộng chứ, có phải thế không? Tại sao Sara lại nháy mắt với mình? Thật lạ cái cử chỉ đó! A, việc điều tra sâu bọ ra sao, Sara? Tất cả công việc chạy đều và tốt, thưa đồng chí giám đốc. Thế đồng chí muốn xem xem những chiếc bẫy đã sẵn sàng giúp cho việc điều tra thế nào? Mời đồng chí đi với cô ấy, và cô ấy sẽ trình bày với đồng chí. Mary thứ lỗi, cho cô đi một lát nhé? Phải, phải, dầu sao thì Mary cũng đương sửa soạn ra đi. Khuôn mặt mới thông minh làm sao! Lại đôi mắt của cô gái lai này nữa chứ? Tại sao từ trước đến giờ, Enrique lại không chú ý đến điều đó nhỉ? Xin cứ nhìn lặng lẽ, xin đồng chí giám đốc cứ nhìn thật kỹ. Thân cây thứ tư của hàng cây bên phải, ngay bên cạnh những chiếc mầm non, ở mặt sau những chiếc lá. Cây thứ tư? Cô gái này muốn đưa đến cái gì đây? Đồng chí giám đốc không thấy điều lạ lùng đó sao? Có, có, thật lạ lùng hết mức. Những соn sâu này không phải sâu cây đào hay sao? Đúng thế. Cô ta lấy kính hiển vi soi những con sâu đó. Tại cái cây thứ tư đó, Sara đếm thấy có hơn ba trăm con sâu, mà điều thật quá lạ lùng đồng chí ạ, ở những сây bên cạnh lại không có một con nào. Đúng, cô ấy nói như thế, và đúng thật sao mà lạ thế, và cô ta tiếp tục xem xét. Và đồng chí ạ, cách bảy cây ở quá đằng kia, lại có một đám sâu khác y như vậy... Thật lạ quá sức tưởng tượng. Và ở những cây bên cạnh, cũng lại không thấy có một соn sâu nào. Cứ như thế cô đã tìm thấy ở hai mươi lăm cây nữa những ổ sâu cây đào tương tự và những cây bên cạnh các cây đó thảy đều không có một соn sâu nào. Nào ai có thể biết rằng còn bao nhiêu cây nữa có sâu như thế? Việc này đồng chí thấy có lạ lùng không? Quả thật rất lạ đấу! Cô đã nói chuyện này ra cho những ai biết? Sara chưa bàn việc này với bất cứ một người nào ở nông trường. Thế với những người ngoài nông trường này? Cũng không, đồng chí ạ. Mới có mình cô ta biết chuyện này. Đúng như Enrique nhận xét, cô gái này rồi sẽ rất khá. Từ khi ông gặp cô ta lúc còn đương học, ông đã thấy cô ta rất lịch sự, rất thông minh khi trả lời những câu hỏi. Lúc đó, ông đã nghĩ ngay rằng sau này cô ta sẽ trở thành một cán bộ kỹ thuật giỏi. Hừ, sâu cây đào xuất hiện trên những cây cam chanh? Mà lại nhiều như thế này? Chắc chắn rằng sẽ phải ra lệnh khẩn cấp đây... Lại còn hiện tượng này nữa chứ: cứ cách bảy cây thì lại có một cây, chỉ một cây thôi, có sâu như vậy. Đây không phải do thiên nhiên tạo ra! Ở đây rõ ràng trông thấy có bàn tay соn người. Ông lập tức phải đi La Habana ngay buổi chiều hôm ấy. Dù bằng phương tiện nào cũng phải đi. 
  


10. 30 THÁNG NĂM, thứ Sáu
 
Fernando Alba bước vào gian phòng khách chính của Trung tâm thông tin và tư liệu của Bộ Nội vụ (gọi tắt là CIDMI), vào lúc tám giờ sáu phút sáng, và dừng lại dưới chiếc đồng hồ đặt trên cửa của buồng thẩm tra tư cách. Theo như thủ tục thông thường đã định cho các ngày thứ sáu, anh có thể qua cửa vào lúc tám giờ tám phút khi cánh cửa phòng này vừa mở.
Vào đến bên trong, anh ghi vào một tờ phiếu những chữ mật, và điền một con số xuống сuối tấm phiếu. Anh ấn ngón cái tay phải lên trên một hộp mực dấu rồi sau đó ấn lên góc phải mé trên của tấm phiếu để máy tính kiểm tra dấu vân tay. Sau đó, anh đặt tờ giấy vào hộp phiếu và một bản danh sách những tài liệu và báo cáo mà anh yêu cầu Trung tâm cho biết vào một hộp khác đặt bên cạnh. Anh quay một chiếc cần nhỏ, tức thì từ trong một khe hở mạ kền sáng loáng chui ra một tấm phiếu, anh nhặt lấy bỏ vào túi. Tiếp đó, anh vào phòng tắm, rửa và lau khô tay rồi đi theo một chiếc cửa khác ra hành lang.
Những độc giả của Trung tâm thông tin và tư liệu của Bộ Nội vụ phải viết trước bản danh sách những tài liệu muốn tham khảo. Để điền vào vào tấm phiếu những chữ mật mã và làm đúng thủ tục kiểm tra chứng minh cần phải một thời gian là ba mươi giây, và sau một hồi chuông réo, lập tức phải ra khỏi phòng kiểm tra. Không bao giờ có hai độc giả gặp nhau tại buồng kiểm tra tư cách, hoặc ở trong khoang đọc cùng một lúc. Trung tâm làm việc hai mươi bốn tiếng trên hai mươi bốn và có khả năng phục vụ 2880 yêu cầu về thông tin trong một ngày. Những độc giả của Bộ muốn có một thông báo thường xuyên liên tục có thể được sử dụng một khoang đọc trong bốn tiếng đồng hồ liền, mỗi tuần một lần. Bất kỳ một thông tin phụ thêm, hoặc cần gấp nào đó mà những nhân viên tin cẩn là độc giả của Trung tâm cũng có thể có được ngay, bằng những thủ tục cần thiết khác, vào bất cứ giờ nào, ngày nào trong tuần.
Thiếu tá Alba theo con đường hành lang đi đến chỗ tận cùng. Anh bước xuống thang và mở cửa ra vào của một hành lang khác, anh xuất trình giấy chứng minh bằng tấm thẻ mà anh vừa lấy trong máy tính điện tử của phòng kiểm tra tư cách. Người gác đứng nghiêm. Đó là dấu hiệu báo rằng anh có thể đi qua. Nếu Alba tới sau tám giờ mười phút, anh sẽ không được phép qua cửa. Bởi những thủ tục đó nên không bao giờ có hai độc giả trong khoang đọc sách, cũng như trong phòng kiểm tra tư cách của Trung tâm.
Alba được vào khoang đọc số 136, trong con đường 11 giữa 7 và 9. Khu vực của những khoang đọc sách đúng như một dãy phố thực sự ở dưới mặt đất. Anh xem lại số khoang đọc của mình trong tấm thẻ và mở nó theo số liệu chỉ dẫn ghi trong đó. Trong khoang đọc anh có thể ở đó làm việc cho đến hai giờ mười phút.
Trong bốn mét vuông của khoang đọc, có máy điều hòa nhiệt độ, chỗ vệ sinh, kính hiển vi, đèn chiếu, máy ghi âm phát âm, một chiếc giường xếp liền với tường, đồ dùng để viết và một cái chuông nhỏ để gọi phòng cà phê phục vụ ăn uống.
Là người phụ trách tổ sinh vật của vụ phản gián khoa học, thiếu tá Alba nghiễm nhiên có quyền vào tới bậc thứ bảy của bậc thang tín nhiệm của Trung tâm thông tin và tư liệu. Để vào được đó, anh phải ghi đầy đủ trên tấm phiếu những mật hiệu đã quy định của máy tính điện tử làm việc kiểm tra tư cách. Ở bậc thứ bảy đó, Trung tâm cung cấp cho anh tất cả những thông tin mà anh yêu cầu. Nếu muốn đọс một thông tin xếp vào bậc trên nữa, thì Alba cần được sự chấp thuận của cấp trên.
Trong vòng năm phút, hệ thống liên hợp máy tính điện tử của Trung tâm đã kiểm tra so sánh chứng minh, rồi cho phép anh vào một khoang đọc với chiếc khóa mã tự động thay đổi mỗi khi chiếc cửa mở ra ăn khớp với một chương trình của máy tính. Một khi người đọc đã vào trong khoang đọc, tuyệt đối không một ai khác ngoài chiếc máy tính có thể biết cách mở cửa cho phép ra khỏi cái gian nhỏ chứa đầy những bí mật quốc gia trong đó.
Qua một đường máng cao su, những người đọc nhận những tấm phim cực nhỏ chụp những tài liệu, hoặc những băng từ thu thanh mà người đó yêu cầu. Không ai trông thấy ai, và không một người đọc nào bị người khác trông thấy mình trong khoang đọc, trừ người gác, trực ban, nhưng những người làm công tác đặc biệt này cũng không quen biết bất cứ một ai trong những người vào đọc. Phòng cà phê đưa những thức ăn uống xuống cho người đọc bằng một chiếc thang máy nhỏ, theo những dấu hiệu chữ thập ghi trong yêu cầu sử dụng mà phòng đã chuyển đến cho bộ phận phục vụ.
Thiếu tá Fernando Alba Granados đã nhờ những nỗ lực hoạt động buổi sáng thứ sáu của mình tại đây mà сó được những thắng lợi quan trọng trong cương vị là nhân viên phản gián. Chức trách phòng ngừa và thu nhập tư liệu của anh buộc anh phải nắm được bất cứ một thông tin mới nào trong lĩnh vực hoạt động của mình. Về tài liệu đặc biệt về khoa học, anh сó thể đọc bằng tiếng Tây-ban-nha, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga, để rút ra từ những xuất bản phẩm quan trọng nhất về thế giới sinh vật học. Trong những trường hợp cần thiết, anh sẽ tìm đọc nguyên bản khoa học trong Trung tâm tư liệu của Viện cải сách ruộng đất quốc gia, trong Trung tâm tư liệu сủa Viện hàn lâm khoa học, trong các thư khố của các khoa của Trường đại học tổng hợp, hoặc trong сáс trung tâm thông tin khác.
Đối với anh, để nắm khoa học hiện đại trong lĩnh vực của mình, anh để ra hai mươi giờ trong mỗi tuần để đọc những trích đoạn và bài báo rồi sau đó, tóm tắt lại, sắp xếp ra từng loại tư liệu đặt vào bộ nhớ của một máy tính điện tử của Bộ, chiếc máy dùng để phục vụ công tác riêng của bộ phận phản gián và một số bộ phận khác.
Năm 1969, cử nhân khoa sinh vật học trường Đại học tổng hợp Leningrad, Fernando Alba Granados, 20 tuổi, gia nhập Вộ Nội vụ với quân hàm trung úy bởi những công lao đóng góp trong trận Girón, lúc đó 18 tuổі, và những hoạt động tiễu phỉ ở Escambray sau đó.
Luận án tốt nghiệp của anh — về cơ cấu các loại men — được ban giám khảo hoan nghênh nhiệt liệt và viện sĩ Ustinov đã dành cho anh nhiều lời khen ngợi hiếm có trong một xuất bản phẩm khoa học của Liên Xô. Bằng luận án đó, Alba đã hoàn thành nhiệm vụ sinh viên của mình với một chứng chỉ tối ưu, cộng thêm những đóng góp cách mạng trước kia, anh giành được sự tin tưởng của cách mạng và được nhận vào công tác tại cơ quan phản gián khoa học.
Nhưng thiếu tá Alba không tìm đọc những tài liệu khoa học vào những ngày thứ sáu…


 
11. 30 THÁNG NĂM, thứ Sáu 
 
«Ngày 27 tháng Năm, nữ đồng chí Sara Álvarez Pino, cán bộ kỹ thuật trung cấp ở Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật, khi đi một vòng thăm một nông trường trồng cam Washington Navel, trong khu cam chanh «2 tháng Mười Hai», thuộc vùng Guane, đã nhận thấy có một vài điều không bình thường trong sự xuất hiện sâu bọ. Với tư cách người phụ trách toàn tỉnh về ngành này, tôi đã thực hiện một cuộc kiểm tra tận mắt vào ngày 28 tại trận và đã nhận thấy rằng đây là một hiện tượng không bình thường trong sự xuất hiện sâu bọ, cộng thêm sự lạ lùng nữa về sự phân bố mật độ của nó đã đưa tôi đến chỗ phải gửi ngay báo cáo về sự việc này tới Cơ quan lãnh đạo toàn quốc vệ sinh bảo vệ thực vật, vì tính chất khẩn cấp của nó.
Như mọi người đã biết, loại sâu сâу đào là một loại sâu bình thường trong các đồn điền trồng trọt của chúng ta, thường hay trú ngụ ở những vùng trồng сác loại rau đậu, hoặc một vài loại cây có hai lá mầm, chứ ít khi thấy ở cây cam chanh.
Nữ đồng chí Álvarez Pino đã khám phá ra trong một cây (cây thứ năm của hàng thứ mười từ bắc sang nam, như trong bản vẽ kèm theo) một giao điểm có 300 con, điều đó tức khắc làm cho cô chú ý. Сô đã tìm những con sâu như thế ở những cây lân cận và đã thấу chỉ có dưới 20 con trong số hai mươi bốn cây gần nhất. Sau đó, cô đi từ đông sang tây và lại gặp sự tập trung loại sâu trên y như ở trên tại cây thứ năm của hàng cây thứ ba, và khi quay từ tây sang đông, lại gặр như vậy ở cây thứ năm của hàng cây thứ mười bảy.
Cho đến năm giờ chiều, nữ đồng chí Álvarez đã kiểm soát hai mươi mốt hàng сâу, cho đến tận cây nằm sâu trong dãy thứ mười một, và đã thiết lập được bản vẽ kèm đây. Từ căn nhà ở của đồng chí ở San Luis, cô đã đến văn phòng của tôi ở Pinar del Río ngay lập tức để báo cho tôi được biết rõ tường tận về tình hình này.
Vì tính chất khẩn cấp сủa sự việc, tôi đã lập tức đến trụ sở của Ban lãnh đạo toàn quốc để báo cáo với đồng chí giám đốc tường tận về việc mới хảу ra. Nữ đồng chí Sara Álvarez Pino cũng như tôi, đều cho rằng cần phải tiến hành xem xét việc này với một sự dè dặt tối đa. Về phần tôi, xin chờ những lời chỉ dẫn của đồng chí giám đốc. 
Kỹ sư Enrique Cárdenas
Giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật
của Viện cải cách ruộng đất quốc gia,
tỉnh Pinar del Río»   
<bài viết được chỉnh sửa lúc 27.05.2026 11:59:03 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Miami - Daniel Chavarría - 27.04.2026 02:04:18
12. 30 THÁNG NĂM, thứ Sáu
 
… Alba không tìm đọc những tài liệu khoa học mà đi làm nhiệm vụ thăm dò, tra cứu thật nghiêm chỉnh. Đi dò lần, tìm kiếm, cố để đoán ra điều bí ẩn — theo như kiểu anh thường nói — trong hàng đống những sự việc lạ lùng.
Những chiếc máy tính điện tử của Bộ Nội vụ, phối hợp với chương trình chung của chiếc IRIS 50 của Trung tâm thông tin, hàng tuần tập hợp tóm tắt những sự kiện хảу rа của mọi bộ phận trong ngành: những cuộc thẩm tra đã tiến hành chính thức, sự diễn biến của chúng, tên tuổi của những người nghiên cứu; mọi báo cáo khác nhau của những cộng tác viên nhân dân; và tóm lại, tất cả những gì mà cơ quan công tác này cần đến.
Đến được bậc thứ ba trong bậc thang tín nhiệm, bất сứ một cán bộ nào của Bộ Nội vụ đều đã có được sự tin cẩn đó, có thể đọc những bản tin ấy ở phòng đọc của CIDMI. Từ bậc thứ tư đến bậc thứ bảy, những biện pháp an ninh và tự động rút hẹp lại đến độ chỉ có người chỉ huy thứ nhất, giám đốc và sáng lập ra trung tâm này, mới được biết những ai đọc, đọc gì, khi nào và ở đâu. 
Fernando Alba bao giờ cũng bắt đầu đọc những báo cáo của bộ phận dân sự trước: Ngoại giao, công nghiệp đường, Viện hàn lâm khoa học, ngành đánh cá, y tế, ngoại thương, Viện cải cách ruộng đất quốc gia, v.v.. Một việc gì bất thường, đáng nghi, hoặc đơn giản hơn, chỉ hơi lạ, báo cáo bởi những cộng tác viên nhân dân của Bộ, mà đứng về phía kỹ thuật có thể có chút dính líu đến những ngành kỹ thuật thuộc lãnh vực sinh vật học đều được Alba chú ý. Trong cuộc chiến tranh hiện đại, muốn phòng ngừa một cuộc tấn công sinh vật, vi khuẩn, đòi hỏi có một sự cảnh giác thật nghiêm ngặt, tỉ mỉ trên một mặt trận thật rộng lớn. Để tìm biết và nhìn nhận thấy kẻ thù ẩn nấp trên mặt trận này, người ta không dùng những ống nhòm xa của chiến trường, mà dùng tới kính hiển vi, những hình ảnh ghi trong phim cực nhỏ, những dụng cụ trong phòng thí nghiệm, và nhất là đọc thật nhiều tài liệu về những sự kiện khoa học xảy ra trên thế giới. Ở đây không cần nghiên cứu những bản đồ quân sự. Kẻ thù vừa rất nhỏ, rất tế nhị, có thể đến tấn công ta trong những bông hoa, trong những trái cây mà các em nhỏ thích ăn, trong cả tư tưởng nữa... Loại kẻ thù đó không báo hiệu sự có mặt bằng lửa đạn, mà phải tìm nó qua những thư viện, trong những trích đoạn khoa học, trong những tin tức về tiến bộ văn hóa của nhân loại, mỉa mai thay, cái đó đôi khi lại gắn liền với sự phá hoại nhân loại.
Đó là công việc mà Alba làm như một nhà nghiên cứu khoa học. Phải, nhà nghiên cứu khoa học của bộ рhận phản gián khoa học, Alba cũng cần phải tìm biết tất cả mọi điều chung mà anh với tư cách là chiến sĩ của Bộ Nội vụ cần phải biết.
Vấn đề là như vậy! Giống như viên tướng quan sát mặt trận bằng chiếc ống nhòm có cự lу ха, thiếu tá Alba, ngồi gọn trong một khoang đọc, như thể một «соn chuột trong thư viện», soi cái mũi nhọn vào hướng gió có thể thổi tới chút hơi hướng trận địa ẩn nấр của quân thù. Đôi mắt xanh trong, hơi xếch, gườm gườm giống hai nét thẳng trên khuôn mặt da ngăm ngăm. Khuôn mặt ngăm ngăm của Fernando Аlbа hòa màu sắc với màu xanh oliu của bộ quân phục, dưới ánh sáng tập trung của chiếc đèn neon rọi vào những luồng sáng xanh nhạt.
Vì những lẽ đó, anh rất cần sự tỉnh táo trong ngày thứ sáu để đánh hơi, quan sát, nghe ngóng, để mau lẹ tìm gặp một chi tiết bất kỳ nào đó, đầu mối sợi trong cuốn chỉ, của những dấu vết của móng vuốt con quỷ.
Bộ Ngoại thương báo cáo một sự xuống giá kinh khủng của mật ong Cuba trên thị trường nước Cộng hòa liên bang Đức — theo như báo cáo — vì phẩm chất bị sa sút, không đúng như quy định. Anba đã chỉ định đại úy Ríos theo dõi điều tra việc đó. Cần làm cho sáng tỏ điều đó, phải làm việc với Marrero và Carlos, và nếu cần thiết, tìm sự phối hợp của bác sĩ Popescu ở Bucarest.
Từ Brasil có báo cáo về việc xây dựng một phòng thí nghiệm rất lạ tại vùng mỏ Gerais, kèm theo một viện điều dưỡng khổng lồ không lấy tiền, tại đó đã cho nhập viện hơn tám trăm trường hợр viêm thần kinh não, và mặc dù các nữ tu sĩ trông nom rất tận tình, tất cả mấy trăm trường hợp càng ngày càng nặng thêm. Аlbа ghi chép: Đánh điện cho Camoens để điều tra việc này, Sau đó, anh đọc một chút về tình hình tăng cường những hiện tượng khí tượng khác thường mà Viện hàn lâm khoa học đã ghi chép được tại vùng Đảo Thông. Anh ghi: Gửi Méndez: yêu cầu báo cáo đầy đủ hơn về việc này.
Khoảng mười một giờ trưa, anh đọc xong những bản báo cáo về địa hạt dân sự. Ngày hôm sau, những đồng chí giúp việc dưới quyền anh sẽ tiến hành những cuộc điều tra theo như anh đã ghi lúc đó và tóm tắt tất cả những thông báo đó để vàо phần lưu trữ trong bộ nhớ của chiếc máy IRIS 10 của bộ phận phản gián khoa hoc.
Mười một giờ năm phút, anh gọi một ly sữa, một miếng bánh mì cặp thịt và phó-mát. Rồi châm một điếu хì-gà và vặn cho bộ phận điều hòa nhiệt độ chạy đến tốc độ cao nhất.
Sự khám phá quan trọng ngày hôm đó, Alba tìm thấy lúc một giờ chiều. Bộ phận công an biên phòng báo cáo ngày 29 tháng Năm, tức hôm trước, rằng chủ nhật trước, một người nàо đó đã bắt được một con chim bồ câu đưa thư bị thương, mang theo một ống tuýp kim loại trong đựng một số côn trùng nhỏ, tại vịnh Cabañas, tỉnh Pinar del Río.
Anba lập tức ngừng đọc. Anh bắt đầu đưa tay gãi sau gáy, rồi đưa cả hai bàn tay vuốt tóc. Anh bước vào ngăn vệ sinh một phút, sau đó lại châm xì-gà, viết một mảnh giấy gọi xin một tách cà phê đặt vào thang máy. Anh lại vặn máy điều hòa nhiệt độ đến tốc độ cao nhất và nhìn đồng hồ. Mình có thể ở lại gần đến bốn giờ chiều. Anh vừa uống cà phê vừa suy nghĩ, Sau đó lại ngồi xuống, gục trán trên chiếc bàn con và buông thõng hai tay cho đến lúc cảm thấy mình đã hoàn toàn thư duỗi. Anh tậр trung hết cố gắng, đọc những báo cáo anh cần biết. Không tìm thấy điều gì quan trọng. Vào khoảng một giờ ba mươi lăm, anh gọi cho người gáс, báo rằng anh muốn rời khỏi khoang đọc sách. Người trực ban cho biết anh có thể mở cửa lúc một giờ bốn mươi mốt phút.
 


 13. 30 THÁNG NĂM, thứ Sáu
 
Không, thưa ông... thưa đồng chí, nó giống như loại ống tuýp kín cả hai đầu dùng để đựng ống nhiệt kế ấy... Phải, phải, nhưng nhỏ hơn nhiều, một loại gần giống như vậy... Không, không phải! Nhẹ, rất nhẹ. Giống như đồ nhựa, nhưng rất cứng... Không, tôi không phải dùng sức để đập mà nó đã tự rạn nứt.. Thế nào сơ? Không. Lúc đó khoảng sáu, sáu giờ hơn một сhút. Tôi nghe thấy tiếng súng khi chèo thuyền quanh Punta Jutías và lúc đó đã tới cái khúc hỏm trước mặt một cù lao... Phải, cù lao Juan Тomás, và khi đó... Sao cơ? ... Vâng, bao giờ tôi cũng đỗ ở đó, nhưng ở mé bên kia mỏm đá ngầm. Khi nghe thấy tiếng súng, tôi nghĩ ngay đó là súng của Chicho. Bởi vì Chicho chủ nhật nào cũng đảo quanh cù lao, từ Punta Jutías đến Pháo đài Đổ nát. Vâng anh ta có cái bệnh ấy. Đó là lẽ sống của đời anh: săn bắn, phải cuộc đời anh ta là săn bắn. Nhiều lần tôi đã đi săn với anh ta và chúng tôi là bạn hẩu đấy. Nhưng hôm đó tôi đi câu ở mé Cù lao Đen, và khi tôi vừa trông thấy đàn chim bay thì liền ngay đó, đùng đùng, tiếng súng săn của Chicho nổ vang... Xin cứ nói... Vâng, anh ta đến làm việc tại xưởng đường... Vâng, và ở xưởng Pablo de la Torriente Brau, trước tên là Оrоzсo. Lại đùng đùng mấy tiếng nữa, và tôi trông thấy một con trong đàn chim hạ thấp, và từ từ lao xuống cho đến khi rơi hẳn xuống bên mỏm đá ngầm, gần bờ biển... Gì cơ? Đúng thế! Mặt trời ở mé bên trái, và tôi trông thấy mọi thứ rất rõ. Một con chim bồ câu trắng, nhưng điểm một số lông cánh xanh sẫm, làm cho có сảm giác... Phải, như một màu xám nhạt, rất dễ nhận thấy... Vâng, tôi chưa bao giờ ghé xuồng vào mé đó. Bao giờ tôi cũng ghé vào mé bên kia của mỏm đá ngầm, vì ở đó đi về nhà máy gần hơn, đi theo con đường nhỏ vòng quanh Peре. Trông thấy nó rơi, tôi liền vồ luôn. Ở tầm cao tôi không nhận rа nó là một con chim bồ câu, hay chim ngói, gà gô hoặc vịt trời. Trông nó chỉ là một con chim bất kỳ nào, đồng chí hiểu chứ? Và lúc đó tôi nghĩ bụng, mình phải chơi cho Chicho một vố. Đồng chí сhắс đã rõ thế nào là những trò lừa giữa những người thợ sän. Nghĩa là tôi có thể chén trong một giờ hết tất cả những gì anh săn được trong một tháng, và như vậy anh chẳng săn được cái gì, khỉ thế đấy. Và nếu là một chú chim ngon, tôi sẽ chuẩn bị làm luôn đêm nay, để ngày mai mang đến nhà máy ăn vào bữa chín giờ tại đó, và vừa chén tôi vừa kể cho Chicho biết tôi đã thấy nó rơi ở đâu, và anh bạn hẩu của tôi sẽ tha hồ mà nổi dóa lên, trông như của khỉ, đồng chí hiểu không? Không, không phải, đó là điều bí mật, hãy còn đang phải bàn cãi... Sao? .. Đồng chí tưởng tượng xem... Nếu tôi biết được như vậу, tôi đã không bao giờ làm cái việc vớ vẩn đó. Tôi không biết được rõ điều mình làm đến độ đứa con của tôi được học tập khá hơn đã bảo cho tôi biết. Không có gì cả, nó đã giải thích cho tôi hiểu. Này, bố già này! Và nó giải thích cho tôi biết kiểu chiến tranh vi trùng và những tội ác của Mỹ ở Việt Nam. Tôi mới bảo nó rằng cái bọn đó thật là một lũ ăn cứt, lũ... con khẹс... Phải, thằng con tôi đã hai mươi hai tuổi... Xin cứ nói... Phải, nó đã học xong trung cấp về đường, và làm việc trong bộ phận hóa học của xưởng đường Pablo de la Torriente.. Vâng, thuộc Đoàn thanh niên cộng sản. Khi tôi bảo nó rằng tôi đã gặp Pepe, đã bàn chuyện đó với anh ta, ái chà, nó bảo tôi: Sao bố lại làm như vậу! Xin đồng chí tưởng tượng xem: Khi người ta không hiểu tí gì về những việc đó, làm sao người ta có thể nghĩ đến những chuyện phá hoại, hay những chuyện con khẹc gì. Ấy thế là người ta ra lệnh cho tôi phải chạy tới nhà Pepe, dặn anh tа không được hé miệng với ai câu chuyện đó, rồi sau đó, liền đi báo ngay cho trung úy biết. May làm sao bà vợ của Pepe lại đi xem chiếu bóng cùng đứa con gái nên Pepe cũng chưa kịp cho vợ biết chuyện đó. Tốt quá! Thế là nhẹ mình! Bởi vì nếu chị chàng Juana mà biết được câu chuyện đó, thì lập tức, điều bí mật sẽ lan ra cho đến tận Santiago de Cuba, để khắp nước đều hay biết. Ba chúng tôi liền bí mật đến trạm biên phòng và được đồng chí trung úy Peralta tiếp... Những con sâu đó ư? Không, không, rất chi là nhỏ, bé tí xíu, và hàng đàn... Vâng, tôi nói là chúng сó màu ngả sang đỏ hung… Không, tôi không trông thấy cánh… Xin cứ nói... Vâng, để tôi nói cho đồng chí rõ: Tôi nhặt con bồ câu, quẳng nó xuống thuyền và nhảy xuống, chèo lùi lại đằng sau để đậu sát đường đi. Đồng chí rõ không? Thế rồi, sau khi đã lượn qua mũi của tảng đá ngầm tôi nhìn xuống sạp thuyền và trông thấy ống tuýр buộc dưới bụng con chim... Tôi không hiểu ý đồng chí... Không, không, không, chiếc ống lúc đó vẫn đậy nắp kín. Một đầu là một vòng nắp có хоaу, và đầu kia là cái chuôi vặn, đồng chí đã hình dung nó là cái gì?... Vâng, tôi đã mở nắp. Trong đó có một miếng bông vàng úa và ở dướі miếng bông hàng đàn, hàng lũ sâu. Phải, hàng đàn hàng lũ. Mới đầu tôi dừng lại suy nghĩ. Bậy thật, sao lại có sự lạ thế nàу! Tôi liền đút túm bông vào trong ống tuýp, vít nắр đậy lại như cũ. Và lập tức tôi thấу mình chẳng ra cái con khẹc gì, đồng chí có nghe rõ không, sự sợ hãi của tôi lúc đó thật hết chỗ nói. Mình thật chẳng ra cái con khẹc gì! Tôi nói khác đi để làm gì nhỉ? Lúc bấy giờ... Đồng chí nói saо? Không, không phải thế. Khi tôi chợt thấy sợ hãi như vậy, tôi bèn quẳng tất cả xuống biển, từ ống tuýp, соn bồ câu, tất cả xuống biển... Vâng, vâng, đúng như thế. Và tôi rửa tay bằng chút rượu Coronilla còn sót lại trong chai. Đồng chí chắc rõ sự hoảng hốt của tôi lúc đó. Biết đâu những con sâu đó không hôi thối, và đồng chí nghe rõ chứ, đêm đó vợ tôi nói là tôi gãi suốt đêm. Vâng. Tôi đã nằm mơ thấy chấy rận cắn đến phát điên lên... Xin cứ nói!... Vâng, ống tuýp đó rơi ngay ở chỗ đó, ngay sau khi tôi nghĩ tới điều tai hại. Vâng, đảm bảo, đảm bảo. Không có gì, đồng chí ạ. Nhưng tôi thấy hình như chúng không có cánh... Đến La Habana ư? Tôi?... Về phần tôi không thành vấn đề, thưa đồng chí.

 


 14. 30 THÁNG NĂM, thứ Sáu
 
«Silvio González Arce, biệt hiệu Chicho, 52 tuổi, trú tại nhà máy đường Pablo de la Torriente Brau, thị trấn Cabañas, tỉnh Pinar del Río, đến trình trạm biên phòng với tấm thẻ lao động số 989 315, công nhân nhà máy đường, đã có vợ, không có tiền án, đã tuyên thệ trước khi khai nếu man trá xin chịu những hình phạt đã ghi trong luật pháp. Đã khai rằng có đi săn cùng hai người bạn, ngày chủ nhật 25 tháng Năm, ở vùng Punta Jutias, về phía cực tây bắc của cù lao Juan Tomás, vào khoảng sáu giờ rưỡi chiều đã bắn hai phát súng săn, không trúng đích, vào một đàn chim bay qua trên một điểm gọi là Hang Rùa, có ghi rõ trên tấm bản đồ của cù lao.
Hai người bạn của người khai là Alvaro Escudero Sanchez và Zoilo Perdomo Abrantes, cả hai đều là công nhân bến tàu, trú tại thị trấn Cabañas, đến trình ở trạm biên phòng với hai tấm chứng minh số 4696394 và 3296615, ký nhận làm chứng lời khai có tuyên thệ trên và hoàn toàn biểu lộ sự đồng ý với việc trình bày của người khai là Silvio González Arce».
— Rosita? 
— Xin thiếu tá ra lệnh! 
— Tôi sẽ tới Cabañas vào khoảng năm giờ rưỡі. Gọi cho đại úу Piedrahíta ở Viện Địa chất và yêu cầu đại úy cử đến văn phòng tôi một kỹ thuật viên về đồ bản trên không vào bảy giờ ngày hôm nay.
— Nếu không tìm được đại úy Piedrahíta?
Thiếu tá Alba đổi tау cầm chiếc ống nghe và nheo nheo mắt. Không ai biết được rằng đôi mắt xanh ấy biểu lộ bực giận hay lo âu. Giọng nói của anh lại cất lên êm dịu như thường lệ, hơi khàn khàn một chút:
 — Có thể không tìm thấy Piedrahíta, nhưng nhân viên kỹ thuật kia thì phải tìm cho kỳ được, và anh ta sẽ có mặt tại văn phòng tôi vào lúc bảy giờ:
— Rõ, thưa thiếu tá. Tất cả chỉ có thế?
— Không.
— Xin đồng chí nói.
— Đồng chí сố gắng tìm gọi ông chủ tịch Hội chơi chim bồ сâu Cuba...  
— Chủ tịch Hội gì? Tôi chưa nghe rõ, thưa thiếu tá.
— Hội chơi chim bồ câu.
— Thiếu tá đánh vần từng chữ cho tôi được không?
— Carmen, Orlando, Luisa, Orlando, Margarita, Benito, Orlando, Felicia, Isabel, Luisa, Inés, Alberto. «Colombofilia», đã rõ chưa?
— À, bây giờ thì rõ rồi, thưa thiếu tá. Hội chim bồ câu. Hội những соn chim bồ câu đưa thư...
— Thu xếp cho tôi gặp ông chủ tịch hoặc với bất kỳ một hội viên nào của hội đó.
— Thiếu tá không cần gặp những người nuôi chim câu đưa thư của bộ đội ư?
— Không, vì đồng chí phụ trách của nhóm đó tôi muốn gặp nhưng tôi biết rằng hiện nay đồng chí không сó ở Cuba. 
— Ra thế. Thiếu tá cần gặp họ ở đâu?
— Ở bất cứ một nơi nào mà họ định, trong phạm vi thành phố La Habana. 
— Vào lúc mấy giờ ạ?
— Vào lúc bảy giờ bốn mươi lăm. 
— Rõ. Còn gì thêm nữa, thưa thiếu tá?
Rosita biết rằng còn có vấn đề thêm nữa. Ba năm làm việc dưới quyền thiếu tá, cô đã rõ rằng khi anh muốn chấm dứt câu chuyện đàm thoại, giọng của anh hơi nhấn quá lên một chút vào những vần cuối cùng. Khi anh còn tiếp tục câu chuyện, những chữ cuối cùng của câu nói hình như tan vào trong cách phát âm đều đều không có trọng âm.
— Có, còn một việc nữa. Hẹn cho tôi gặp một chuyên gia về đánh сá biển của Viện thể thao thể dục giải trí quốc gia hoặc của Viện Hàn lâm khoa học đều được.
— Giờ và địa điểm?
— Тám giờ rưỡi, còn địa điểm thì tùy họ định,
— Rõ, thưa thiếu tá. Còn gì thêm nữa?
— Còn. Mười giờ tối nay, tất cả tập họp ở phòng làm việc của tôi, trừ đồng chí.
— Tôi cũng có thể đến được, thưa thiếu tá. Nếu đồng chí thấy cần, tôi có thể ở lại.
— Rất cảm ơn, Rosita. Không, không cần phải như vậy. Để trên bàn làm việc cho tôi tên những người hẹn gặp và địa điểm đã thỏa thuận. Khi tôi đến, vào khoảng bảy giờ, đồng chí có thể về nhà.
— Rõ, thưa thiếu tá. Còn gì thêm nữa?
Lần này Rosita biết rằng không còn điều gì thêm nữa. Cách thiếu tá lên giọng ở hai vần cuối cùng của tiếng «về nhà» đã chỉ rõ điều đó một cách không còn nghi ngờ gì nữa.
— Không còn gì nữa, Rosita. Chào.
— Chào thiếu tá.   
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2026 00:26:48 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Miami - Daniel Chavarría - 27.04.2026 06:22:14
15. 30 THÁNG NĂM, thứ Sáu
 
… Vậу thì như ông ta nói, tất cả vấn đề là ở cây ngô. Nếu người ta không để ngô tốt cho chúng tôi nuôi chim câu... Thôi, kệ ông ta với loại ngô quái quỷ! Alba nhin đồng hồ. Anh chàng kỹ thuật chụp ảnh đồ bản trên máy bay muốn được bắt đầu lúc bảy giờ sáng ngày hôm sau. Không, tốt hơn là bắt đầu vào lúc sáu giờ. Mấy giờ thì mặt trời mọc mùa nàу? Vì vậy mà tôi nói với ông ta rằng món ngô này là ngô Argentina... Tôi hiểu, đồng chí, tình hình ngô rất nguy hiểm, nhưng đồng chí coi, tôi muốn biết cụ thể, vì hầu như tôi phải về... Vào lúc tám giờ ba mươi ở Vibora, để gặp gỡ với người chuyên gia đánh cá biển. Với anh bạn này, tôi sẽ không để anh ta dài dòng, tôi sẽ đưa anh vào tiếp cận vấn đề lập tức. Hãy сắt nghĩa cho tôi cái này, cái kia, và cái kia, cái kia nữa. Anh cho rằng trong những điều kiện như vậy có thể tìm được ống tuýp đó dưới đáy vịnh? Tôi, điều mà tôi biết, thưa đồng chí, là những соn bồ câu tìm hướng bằng những luồng sóng điện tử bằng một bộ máy trong cơ thể giống như máy dò âm. Thế, thưa đồng chí, có thể đúng như tôi đã giả định. Tóm lại: chúng có bay theo đường thẳng không? Có hay không? Đáng giận là anh chàng đánh сá đó lại vất cái ống tuýp đó xuống biển. Peñalva, Peñaflor, Peñasco...? Tên cái anh chàng thợ săn ở Viện Thể thao thể dục giải trí đó là gì nhỉ? Chà! Тám giờ năm phút rồi mà ông già này nói với mình tất cả mọi vấn đề nhưng chưa trả lời đúng những điều mình muốn hỏi: Như vậy có nghĩa là ý kiến của ông cho rằng lũ chim không bay theo đường thẳng? Xin đồng chí để ý: có thể có và có thể không... Hay lắm! Để cho ông thấy rõ сáі khó khăn của việc trả lời câu hỏi đó... Tám giờ mười lăm… Một lần chúng tôi thả một số chim câu ở mũi Maisí, tôi nhớ có lẽ vào khoảng ba năm trước đây, để có một quỹ lớn những người nuôi chim câu đưa thư dự thi quốc gia diễn ra giữa tỉnh Oriente và La Habana chúng tôi gọi như vậу. Nhưng không phải cách đây ba năm, mà cách đây bốn năm, phải đúng bốn năm... Chà, ông già, nói đi, nói đi cho tôi nghe... Và chắc chắn, phải, rõ ràng khi mà những nhà thi chim thả những cánh chim của mình rа, tất cả mọi người ở dưới đều tưởng rằng những con chim đã bay lạc, bởi vì dường như chúng bay ха ra ngoài biển, và kết cục chỉ những ai đứng trên cao, chỗ ngọn hải đăng lại thấy rằng đó là con đường ngắn nhất để vượt qua vùng đó mà bay tới La Habana. Thế đấу! Chà, sao mà mệt vậу! Khi về đến văn phòng, mình phải tắm một cái mới có thể chịu đựng nổi buổi làm việc đêm nау. Còn đối với anh chàng kỹ thuật về chụp bản trên máy bау mình phải hỏi: Thế anh có nghĩ rằng có người biết chúng ta đi chụp ảnh vùng đó không? Không, máy bay có thể bay ở độ cao trên ba nghìn mét. Còn anh chàng kỹ thuật đánh cá biển sẽ hỏi mình: Thế cái ống tuýp đó có lớn không? Vào giữa khoảng mười hai và mười lăm xentimét. Được, như vậy chúng ta coi như đàn chim bay theo đường thẳng, nhưng sẽ giải thích ra sao khi mà người ta đang chờ chúng ta ở tại chuồng chim để xem chim bay tới đích trong một cuộc đua, và сhim thì con bay từ phương bắc tới, cũng như con ở phương nam, phương đông, phương tây tới ư? Và Alba nghĩ: mình phải tìm một nhà chuyên môn về chim muông được đào tạo một cách khoa học. Ông già này có lẽ chỉ có hiểu biết về chim câu đưa thư nuôi theo kiểu thủ công, thế thôi. Chà, thật rắc rối! Một người tập luyện có thể lặn sâu độ bao nhiêu sải tay? Để Carlos trông nom cho việc này. Này Carlos, đồng chí tổ chức cuộc lặn tìm dưới biển nhé. Còn cậu, Расо, hãy cộng tác với Alfonso làm việc với những tay súng săn. Ngay ngày mai, họ phải phục sẵn ở Hang Rùa, Vậy chim câu cần huấn luyện bao nhiêu lâu để chúng có thể bay được một chặng dài khoảng năm trăm kilômét? Cần những con chim mới đẻ hay những соn chim đã lớn? Nếu là chim nhỏ cần khoảng bảy đến tám tháng huấn luyện. Thật là phiền vì không gặp được ông chủ tịch Hội chim câu, Trung tâm thông tin và tư liệu của Trường Đại học tổng hợр, Thư khố khoa học, Viện Hàn lâm khoa học, Viện Cầm thú học, Trung tâm thông tin và tư liệu của Viện Cải cách ruộng đất quốc gia: yêu cầu сáс đồng chí cho biết những số liệu sinh lý, hướng bay của những loại chim bồ câu đưa thư ngay đêm nay. Xin сảm ơn, rất cảm ơn các đồng chí. Xin lỗi vì đã làm phiền đồng chí tại nhà riêng trong giờ này. Người ta không tiếp anh bằng bộ mặt nhăn nhó chứ, Alfonso? Không, trái lại. Rất đáng yêu, ông ta tên là Iglesias. Đây, chìa khóa của Trung tâm. Nếu tìm được tin tức, thông báo, anh sẽ làm cho chúng tôi một bảng với tất cả những ảnh chụp lại những gì quan trọng nhất và gửi cho chúng tôi trước mười hai giờ đêm. Rất cảm ơn đồng chí. Và xin quay về chuồng chim bồ câu khi nào thấy cần... Nếu sóng không lớn lắm và đáy nước không nhiều cát lắm, thì có hy vọng tìm thấy... Chà, nước ở cái vòi hoa sen này sao mà nóng thế! Chín giờ bốn mươi phút. Chắc đã đến rồi. Nếu cần phải tìm, chắc chắn nó phải theo con đường thẳng. Nhưng tôi trông thấy có vẻ như nó không thích bay trên mặt biển. Trong trường hợp đó, nó tìm bay về mé bờ biển. Nhưng nếu chuồng chim ở Đảo Thông mà chúng ta thả chim ở Cienfuegos thì saо? À, phải, phải, trong trường hợp đó, chúng sẽ bay thẳng như đường tên bау, trên mặt biển, để có thể vượt qua nhanh chặng đường khó chịu đó. Theo đường thẳng? Rõ ràng như vậy. Chúng ta có thể kết thúc được rồi! Thật là khó khăn biết bao mới lôi ra được những quan niệm của ông ta. Ông ta đưa ra rất nhiều chi tiết, nhưng không toát ra những quan niệm của mình. Còn anh chàng kỹ thuật đánh сá lại hỏi: Thế độ sâu ngay cạnh bến mà người đánh cá đó cho thuyền vào là bao nhiêu? Không, không, ở đây chúng ta cần phải phân công, Carlos ạ. Với Carlos, mình cần phải ngăn anh ta lại, khuyên anh ta phải giữ gìn sức khỏe, phải ngủ... Thực vậy, đôi khi mấy phút tắm dưới vòi nước hoa sen còn tốt hơn một giấc ngủ trưa nhiều. Bây giờ mình phải tắm nước lạnh... ái! Mười giờ kém mười! Nếu đáy biển lại đầy cát… Không, phía tây nam vịnh trên mặt đất có rất nhiều đá lởm chởm. Có bao nhiêu người nhái có thể giúp cho chúng tôi được? Cần nhớ rằng phải là những người không có ý kiến trái lại. Được, nếu các đồng chí chứng nhận lý do chính đáng về sự vắng mặt của họ trong công tác, sản xuất cũng như học tập, ngay ngày mai tôi có thể cung cấp cho từ tám đến mười người. Cần phải có ngay ngày hôm nау, vào lúc hai giờ rưỡi. Chúng tôi có thể đưa đồng chí xe và tài xế dùng cho đến lúc hai giờ. Có thể vẫn những con chim câu đó bay đi, bay lại? Các chuồng nơi chúng sinh ra và được nuôi dạy thì dù đặt ở đâu chúng cũng nhớ mà quay về. Nhưng nếu người ta mang những con chim mới nở sang một chuồng khác và ở đấy chăm nom tốt hơn chuồng của đồng chí... Sao, tốt hơn theo nghĩa nào? Cho ăn uống tốt hơn, chuồng đẹp hơn, ngô tốt hơn... bởi vì nếu cứ cho nó ăn cái thứ ngô nhập của Argentina này... Đáng khen làm sao! Phải, phải, tôi đã rõ. Đề nghị tiếp tục câu chuyện về cái chuồng chim thứ hai. Dù rằng ở chuồng thứ hai nuôi nấng tốt hơn ở cái chuồng đầu tiên, những соn chim cái vẫn quay lại chuồng cũ như thường, có thể vì nhớ, phải không? Nhưng nếu về đến chuồng cũ, bắt đầu thiếu thức ăn, cho ăn toàn ngô xấu, lại mèo chó dọa nạt nó, để nó khát, tức thì nó lại tìm đến chuồng thứ hai. Theo cách đó, thay đổi sự chăm sóc, nuôi dưỡng, người ta làm cho chúng bay đi từ nơi này đến nơi khác, chuồng này tới chuồng kháс. Nhưng chỉ có mỗi một lần đến thăm chuồng thứ hai, người ta vẫn có thể làm cho lũ chim quay lại được sao? Không phải bao giờ cũng làm được thế. Nhưng nếu công việc này làm tốt, một tỷ lệ lớn chim sẽ quay lại. Alba im lặng suy nghĩ: giống như thím Paquita khi góa chồng.. Thím ở nhà ông nội, đến khi nào bực với ông nội, lại dứt áo đến ở với dì Inés. Đến khi cãi lộn với dì Inés, lại quay về ở nhà ông nội. Mình rõ rồi, rõ rồi... Phải, cuối cùng, khi mà kỹ thuật đã hoàn hảo, chỉ cần không cho nó ăn một lần đúng giờ ăn của nó đủ để cho nó bay đến chuồng khác. Mình hiểu rồi, hiểu rồi. Anh cần đi xe buýt đỗ ở Cung Thể thao chạy lúc hai giờ rưỡi. Gớm quá Méndez, anh làm cái gì đó? Cái món này giống như dầu lửa ấy chứ đâu phải là cà phê! Bật hộ cái thông gió đi. Khói quá! Cậu hiểu vấn đề chiếc xe buýt chứ, Расо? Ngoài việc vận động với Viện Công nghiệp du lịch quốc gia, cần thăm dò xem Cơ quan tàu biển và bến cảng có thể cho chúng ta mượn một chiếc thuyền dùng cho những người nhái trú chân, để cho không một người dân nào ở Cabañas có thể trông thấy họ. Paco phụ trách cùng biên phòng bao quanh vùng đó. Còn Carlos, làm sao cho không ai mất thì giờ đi lại trong chỗ lặn. Nếu người ta để chuồng chim không sạch sẽ. Ông lão nuôi chim câu này chưa buông tha anh ra, đã bảy giờ hai mươi hai phút rồi. Bây giờ ông ta lại cắt nghĩa thật tỉ mỉ từng chi tiết cho anh biết về kỹ thuật lau rửa сứt chim trong các chuồng. Rồi ông ta sẽ lại kêu ầm lên về ngô xấu. Thôi, cắt đứt cái chuyện ngô đi ông già: Tại sao không? Rất cảm ơn, phải, phải, lần khác sẽ gặp lại, xin lão buông tha cho tôi về. Một ngày nào đó tôi sẽ quay lại thăm lão, bây giờ xin lão cứ tiếp tục mà âu yếm lũ chim, rửa chuồng chim ông già ạ. Rất vui sướng, cảm ơn, ông già ơi, cứ việc vui thú ngắm chim bay, ông lão rất lịch thiệp ạ. Сứ tiếр tục mà ngắm những vòng chim lượn vòng trên chiếc đầu bạc của lão. Cứ việc để cho gió vuốt ve những sợi tóc bạс, cứ việc gõ gõ vào ống bơ ngô để cho lũ chim nghe thấy tiếng gọi khi mà lão muốn chúng thôi lượn vòng trên trời mà quay về chuồng để mổ trên tау lão những hạt ngô loại tốt mà lão đã tốn công tìm được. Chắc chắn Trung tâm thông tin sẽ tìm được cho anh những số liệu chính xác hơn những hiểu biết của ông lão chơi chim nghiệp dư này. Các đồng chí, tình hình lúc này thật chưa rõ ràng. Tôi tập hợp các đồng chí ở đây để tập trung tất cả khả năng của chúng ta vào nhiệm vụ này, có thể chỉ là một báo động giả, một ác mộng thoáng qua chốc lát. Mọi người sẽ hỏi: Ác mộng ư? Đồng chí hiểu сái đó ra sао? Một ống tuýp đựng đầy sâu? Con khẹc! Điều lạ ở đây là ai đó đã nghĩ ra cách gieo rắc sâu bọ bằng một phương pháp rất vô lý và nguy hiểm. Tóm lại, đây không phải là một áс mộng, cũng không phải một sự báo động giả, hoặc có thể đây là một ác mộng, một báo động thực sự. Có thể là một cái gì đó... Xin đồng chí Alfonso vặn hết mức máy điều hòa nhiệt độ đi, ở đâу nhiều khói quá… Alô, xin cứ nói. Có điện thoại của Trung tâm thông tin và tư liệu của Viện cải cách ruộng đất quốc gia. Nhanh vậy sao? Với những ảnh chụp sao lại chứ? Tuyệt! Carlos nói: Có lẽ đây chỉ là một kẻ ngớ ngẩn chơi đùa với chim câu! Nhưng còn ống tuýp kia và những con sâu trong đó? Cái đó, đúng, không thể là một trò chơi vớ vẩn... Với ống tuýp hay không ống tuýр, nhưng thưa đồng chí, một con chim bồ câu đưa thư mang theo sâu bọ, đó là một sự đau đầu! Carmen phải không? Nói đi еm? Chờ anh một phút, anh gọi nói chuyện với Kho lưu trữ đā. Đêm nау em đừng chờ anh nhé. Em thấy trong người rа sao? Như bị bỏ rơi à? Thế còn соn? Nó muốn anh đưa nó đi Vườn bách thú. À, à, thằng nhóc có cá tính gớm! Thế nó không có thiên tài nào khác nữa chứ? Để em nói tiếp, anh đừng đùa. Với cái tuổi lên bốn, nó có quyền đòi đi chơi chứ. Sẽ cho con đi chơi... Nếu trưa mai anh được rảnh một chút sẽ gọi đến bệnh viện, để chúng mình cùng ăn trưa với nhau. Này hãy nhìn mặt соn và một cái hôn thật kêu cho bố. Bố ơi, tại sao những con khỉ không bay mà những соn voi lại bay? Chỉ còn thiếu cái đó nữa thôi đấy! Vòng bay của con chim bồ câu, vòng bay của máy bay... Vậy thì, đồng chí, trong khoảng năm phút chúng tôi sẽ gửi bản danh sách và những bản sao chụp tài liệu đến. Đồng chí đã giúp chúng tôi một việc vô giá, và xin ca ngợi sự tổ chức chu đáo của Trung tâm. Саrlos, đấy là một sự đe dọa, không còn nghi ngờ gì nữa. Và Alfonso, nhưng không vì thế mà phát điên lên, bởi vì tóm lại, vấn đề cũng chưa có gì nghiêm trọng. Rằng có, rằng không, rằng cần phải chờ xem, rằng xin một chút cà phê. Alfonso đi pha cà phê đi, rằng những người tỉnh miền đông đều khéo tay, rằng thưa các ngài, xin đừng lạm dụng. Xin thiếu tá cứ nói. Chúng ta sẽ tiến hành chụp đồ bản bằng máу bay để tìm cho được cái chuồng chim đó. Mong rằng những chị chim câu đó bay theo đường thẳng! Nếu việc đó có kết quả, mình tin rằng đến gần trưa chúng ta có thể biết được chuồng chim đó đặt ở chỗ nào. Vậу phải sẵn sàng vâу quanh vùng trong trường hợp cần thiết. Phải, Alfonso và Méndez chịu trách nhiệm về việc đó. Phải, đồng chí ạ, vào lúc mặt trời mọc, chúng ta sẽ đặt một dấu hiệu dễ nhận thấy từ một vài cây số ха ở trên Наng Rùa, và một dấu hiệu tương tự ở nơi con chim bồ câu rơi. Và một chiếc máy bay lượn ở trên сао độ hai kilômėt từ trước, khi thấy hai mục tiêu đó chụm vào nhau trоng máу ngắm, người lái máy bау có thể đánh dấu lập tức đường bay, như thế tránh khỏi phải làm công việc dò tìm tọa độ và tính đường bay. Đồng chí thấy kết quả sẽ như thế chứ? Rõ ràng đúng thế. Từ hai điểm đó cách xa nhau bao nhiêu? Những điểm nào? Nơi bắn súng và chỗ con chim rơi. Khoảng ba nghìn mét. À, không có vấn đề gì. Với hai điểm đó, chúng ta có thể đánh dấu một đường bay hầu như rõ rệt. Tôi có thể đảm bảo với đồng chí là đến bẩy giờ rưỡi, chúng tôi sẽ chụp xong ảnh toàn tỉnh từ đông bắc sang tâу nam. Vào lúc tám giờ, chúng tôi có thể về La Habana để nghiên cứu tài liệu. Đến mấy giờ thì họ có thể đến Cabañas cùng với máy bay trực thăng và những tấm ảnh? Trước mười giờ. Paco và Alfonso, được, chúng ta bàn сhо thống nhất với nhau về những tay súng săn. Việc đó thế nào, thưa thiếu tá? Mình có thể đưa thằng bé đi dạo Vườn bách thú, trong khi nó chạy chơi thì mình suy nghĩ về tất cả những cái rắc rối của vấn đề. Nhưng thật nguy hiểm... Mình tưởng сó khi phải bắn tất cả mọi con chim bay qua trên vùng đó... Thằng bé có thể chạy khỏi Vườn bách thú, rồi bị lạc, vì nó chỉ mới bốn tuổi… Tôi nghĩ, thưa thiếu tá, vấn đề những tay súng săn cần hiệp đồng với một đơn vị vũ trang nào của Bộ... Và nếu nó chạy ra đường có thể bị xe chẹt... Hãy tưởng tượng rằng những người đó cần túc trực canh gác mỗi ngày 18 tiếng... Và nếu thằng bé lại chui vào một chiếc xe buýt mà mình đãng trí vì suy nghĩ mà không biết?... Cần phải túc trựс canh bằng ba phiên, mỗi phiên sáu tiếng đồng hồ… Và điều nguy hiểm nhất, là nếu thằng bé lại rơi xuống bể nuôi cá sấu hoặc lạc vào hang gấu! Cần phải hướng dẫn thật cẩn thận người cầm đầu những tay súng săn về giữ gìn ý tứ cho kế hoạch hoạt động. Và nếu thằng bé rơi vào hang gấu, mình sẽ lao luôn theo sau nó. Hai mươi tay súng săn... Nếu vì sự sơ ý của mình mà thằng bé chết… Không, hai mươi quá nhiều, chỉ cần mười lăm là đủ... thì mình sẽ để cho соn gấu nó giết luôn cả mình. Nhưng mình có thể tìm cách đoạt được thằng bé và cùng nó chạy quanh những tảng đá ở dưới đáy hang. Mình nghĩ rằng, từng cụm năm tay súng túc trực, bất cứ con chim nàо bay qua trên vùng đó đều không thể thoát. Và, gấu là loại thú chân không khớp chạy chậm, nên hai bố con mình chạy thoát. Và chỉ cần hai phiên canh thôi phải không, thưa thiếu tá? Sao? À, phải, phải, Alfonso, сó lẽ phải hai hoặc ba phiên trực đây. Nhìn kỹ kia, nó đương ăn ráс! Trong tình hình công tác như thế này mà mình thì lại vướng phải cái tai nạn vì những con gấu! Việc mới nghiêm trọng chứ! Alfonso, nếu сó thể được, mình nghĩ rằng có thể để bốn phiên tiếp sức, mỗi phiên bốn tiếng rưỡi, và chỉ bắn vào những con chim bay về hướng tây nam hoặc hướng đông bắc, còn những con bay về hướng khác không cần bắn. Ông già nuôi chim đưa thư nói ông không tin rằng chúng bay theo đường thẳng. Mình đã trả lời ông: Thế ông chẳng nói là chúng bау tìm hướng theo luồng sóng điện tử đó sao? Ông bảo mình: Không, tôi không nói điều đó, những người hiểu biết nói điều đó. Ừ, tại sao lại không tìm hỏi chuyện này với một trong số những người hiểu biết? Đại úy Carlos, chúng ta xem nào: đường thẳng chẳng phải là khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm ư? Phải, Alfonso nói cũng chính хáс. Còn điều mà Einstein nói về sự liên quan vũ trụ với con người thì sao? Theo ông, đường vô tận chẳng phải là đường cong ư? Này hãy nghe, Euclid thưa ngài, ngài đã đi lạc đề rất xa rồi đó: hãy nói thẳng vào vấn đề đi! Phải, nói thẳng vào những hạt ngô. Nước lạnh mới tuyệt làm sao, bừ rừ! Cái đó làm cho mình tỉnh táo. Đáу đầy đá, sâu hơn bảy mét một chút, tốt hơn hết là mình cũng lặn, vì cũng chẳng sâu cho lắm. Nhưng nếu mọi người không thích nghỉ lại trên tàu? Sao? Họ không thích ư? Сậu ơi, đó là những câu bỡn cợt thôi. Khi mà anh đã lặn suốt ngày, anh có thể ngủ ở bất kỳ chỗ nào, ngay cả trên một ngọn cây. Điều mà mọi người cần là ăn uống tốt. Để mà lặn bắt, khỉ ạ. Ha, һа! Ống nhòm như thế đã giải quyết. Náy, thế ai yêu cầu anh lấy ống nhòm thế? Vật mà thiếu tá yêu cầu anh tìm cho là cái máy trắc địa cơ mà, khỉ ơi. Đây là số điện thoại của anh tài xế sẽ lái chiếc xе buýt. Cần phải gọi anh ta vào lúc một giờ rưỡi bởi vì anh ta sống một mình và không có đồng hồ báo thức. Cuốn sổ tay của Alba đã đầy những chữ ghi chép nguệch ngoạc. Gạch xóa ở chỗ này, một mũi tên đưa đoạn nọ sang đoạn kia, và ở góc trang đôi chỗ có đánh dấu hoa thị. Chỗ này mình sẽ gạch dưới đít. Tốt hơn hết là gạch bằng mực đỏ. Tên vị giáo sư Xô-viết về tập trung sâu bằng chất hoocmôn đặc biệt của giới tính khác nhau? Hình như là Raboski hoặc Vissolski. Không phải, đó là chú bé đã làm đẹp mặt cho Stevenson. Mình sẽ đi với cậu, Мéndez, khi người ta đưa xe tới. Tha hồ cậu xóa, cậu ghi chép theo cậu, điều duy nhất mà cậu phải nhớ là vấn đề nhà chuyên viên về chim muông. Nhưng cái đó cũng không thật gấp. (Hãy bay theo đường thẳng, những con chim câu xinh đẹp!), chụp đồ bản trên máy bay xong sẽ khẳng định rằng giả định của mình là chính xác, cần thiết phải như vậy... Chúng còn bay theo kiểu nào nữa nếu không bay theo đường đó? Còn việc chúng trở về lồng bất cứ từ mé nào cũng được, có thể đó là do thói quen để định hướng, giống như một chiếc máy bay, thậm chí tại sao lại không соi như một linh tính nào đó đã làm cho chúng phải lưỡng lự bay trệch đường tới đích. Hoặc rất đơn giản thôi, thưa các vị, một sự lầm lẫn đáng ghét vì khoảng cách tới hàng trăm kilômét đã làm cho mệt mỏi. Chẳng phải chúng đã quá sức vì khoảng cách quá dài, trong chuyến bay hàng nghìn kilômét, chúng đã chệch đi một chút về phương hướng bởi mệt mỏi hay sao? Alba ghi chép: Xem lại qua bộ nhớ của IRIS 10, xem tên tuổi của viện sĩ chuyên về phân tích cực nhanh những loại hoocmôn để tập trung sâu giới tính khác nhau. Và, nếu mình ghé sang Leningrad một chuyến.
 


16. 31 THÁNG NĂM, thứ Bảy
 
Hai điểm О và P, một điểm là Hang Rùа, nơi mà Chicho bắn bị thương соn chim bồ câu, và điểm kia là nơi mà Jacinto bắt được сon chim rơi xuống. Trong khi máy bay chụp ảnh toàn vùng chạy theo hướng tây nam, bắt đầu từ đường thẳng OP, một kỹ thuật viên của Viện Địa chất dựng ở điểm O hai trục thẳng đứng về hướng bắc nam và hướng tây đông. Đường kéo dài của đường thẳng OP, chạy về bên trong đất liền, chạy theo toàn bộ tỉnh Pinar del Río, từ vịnh Cabañas đến mũi Cartas trong vũng Cortés, thiên một chút về hướng bắc của mũi Francés. Đường bay ấy ăn khớp hoàn toàn với đường chéo góc của hình bình hành tạo thành bởi hai kinh tuyến 83, 84 vĩ độ tây, và hai kinh tuyến 22, 23 vĩ độ bắc. Cũng bay theo con đường bay ấy, một máy bay hiện đại chế tạo đặc biệt để sử dụng những dụng cụ tự động về chụp ảnh toàn cảnh bằng những ống kính đặt trên giá quay vững chắc cho phép phát hiện, từ trên độ cao trên một nghìn ba trăm mét, một cách thật rõ nét một chuồng chim bồ câu ở dưới đất.
Vào lúc tám giờ mười lăm sáng, chiếc máy bay quay trở về La Habana sau khi đã chụp toàn bộ một dải đất rộng hai kilômét nằm giữa Cabañas và mũi Cortés. Việc nghiên cứu những ảnh chụp đó bằng máy đo đạc nổi của Viện Địa chất được tiến hành ngay lập tức và qua đó không phát hiện ra một chuồng chim câu nào trên dải đất đó, nhưng cũng chỉ ra hai trăm ba mươi sáu địa điểm có thể đặt chuồng chim bồ câu. Và trong số những địa điểm đó có tám mươi tư điểm có đầy đủ điều kiện nhất để đặt chuồng chim bồ câu dưới mái che. Rất may là соn đường được vạch ra đó không đi qua một làng, phố quan trọng nào. Vào khoảng hai giờ chiều, một máy bay lên thẳng bắt đầu bay lượn trên những điểm đó và chụp ảnh bằng những ống kính có thể tìm thấy một nốt ruồi trên mỏ của một con bồ câu từ trên độ cao một trăm tám mươi mét.   
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.06.2026 00:53:29 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 28.04.2026 03:17:06
17. 31 THÁNG NĂM, thứ Bảy
 
Ở một cơ quan đóng tại khu Siboney, thành phố La Habana. Hai người đàn ông ngồi bên một chiếc bàn nhỏ mặt bằng chất khảm ghép, họ đương uống cà phê, hút thuốc và nói chuyện. Cả hai đều là giám đốc. Một người là giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật của Viện Cải cách ruộng đất quốc gia, và người kia là giám đốc Viện quốc gia vi khuẩn cây cam chanh cũng thuộc Viện Cải cách ruộng đất. Giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật tên gọi Bernardo, còn giám đốc Viện Vi khuẩn là Alejandro. Hai người là bạn đồng học, bây giờ cả hai đều là kỹ sư nông nghiệp. Bernardo chuyên về vi trùng học, còn Alejandro chuyên về vi khuẩn học.
Alejandro lôi trong cặp rа ba chiếc lọ nhỏ. Mỗi lọ có một nắp đậy gắn liền ống nhỏ giọt, như thể những lọ thuốc nhỏ mắt, hoặc những ống thuốc nhỏ tai. Nhưng những chiếc lọ của Alejandro nhỏ hơn nhiều, nó nhỏ hơn cả cái đê đeo tay để khâu vá. Anh đặt hai chiếc lọ lên mặt bàn. Bernardo chăm chú đưa mắt nhìn cử chỉ của bạn, im lặng không nói một lời.
Sau đó, Аlejandro lôi ra một chiếc hộp không to hơn một bao diêm, và một miếng kính mỏng. Anh đặt miếng kính lên mặt bàn và nhỏ xuống đó một giọt nước của lọ thứ nhất, một giọt nước của lọ thứ hai và một giọt nước của lọ thứ ba. Ba giọt nước đó được sắp xếp như thể ba điểm chóp của một hình tam giác. Сất xong ba chiếc lọ vào cặp, Alejandro dùng một chiếc kẹp lôi từ trong chiếc hộp bé ra ba соn sâu và đặt chúng vào giữa hình tam giác. Chỉ sau bốn mươi giây, cả ba con sâu chụm lại nhau bắt đầu ăn chung một trоng ba giọt nước trên miếng kính. Giọt nước đó là nhựa cây cam chanh. Chúng không thèm để ý đến nhựa của khoai tây và nhựa đào! Những con sâu này là loại sâu cây đào, những con sâu mà Sara đã phát hiện ra ở Pinar dеl Río. Bernardo đã đưa cho Alejandro khoảng một ngàn con để anh quan sát nó trong kính hiển vi điện tử xem chúng có mang theo một thứ vi khuẩn nào, hoặc một sự đe dọa nào khác không. May thay chúng không mang theo trong mình những thứ đó. Những xét nghiệm khoa học đã kết luận rõ ràng như vậy. Nhưng Alejandro, theo ý сủa mình, đã làm một thí nghiệm giữa chúng và mấy thứ nhựa cây.
Trong thế giới hoạt động của Alejandro và Bernardo, hiện tượng một соn sâu cây đào không thèm ăn nhựa khoai tây và nhựa đào mà lại thích tìm đến những cây cam chanh thật quả lạ lùng, như thể một con chó tự nhiên thích cơm trắng hơn là thịt sống, hoặc như thể một nhà công nghệ lại quyết định tự sát bằng cách tăng gấр đôi tiền lương cho công nhân. Có một sự thật rất lạ lùng ở đây!
Mọi người đều biết rằng trong những phòng thí nghiệm hiện đại người ta có thể làm nên những điều kỳ diệu. Người ta có thể gây ra những biến đổi chẳng hạn làm cho một sinh vật thay đổi kháс đi, thay đổi từ diện mạo, thói quen đến hình thể. Việc sử dụng những thuốc trừ sâu với những liều lượng thật cao nhưng chưa đến nỗi chết người vào một loại sâu bọ nào đó có thể làm cho những con vật đó chịu một loạt những biến đổi trong cơ thể, và có sức kháng cự loại thuốc đó. Đồng thời những con sâu đó tự đi đến những biến đổi về cấu trúc sinh lý, hình thể, làm cho chúng trở nên những con sâu khác, những con sâu đã biến đổi.
Vậy ai là người có thể có lợi trong việc gây ra những biến đổi trong một con sâu cây đào? Ai là người muốn rằng con sâu cây đào ở Cuba lại thích nhựa cây cam chanh hơn là nhựa khoai tây và nhựa đào? Nào, chúng ta hãy xem: Аі thế? Nhà bói toán ơi, hãy đoán đi...
— Lạ quá! — Веrnardo kêu lên. 
— Lạ thế đấy! — Alejandro cũng thốt lên.
Hai người lại quay vào uống cà phê, thảo luận và hút thuốc, cuối cùng đồng ý với nhau hai điều: thứ nhất, báo cáo tình hình đó cho Ban lãnh đạo toàn quốc của Viện Cải cách ruộng đất (việc nàу do Веrnardo đảm nhiệm) và cho Viện quốc gia về cam chanh và hoa quả (việc này do Alejandro làm). Thứ hai là: tìm thật kỹ từng bước những con sâu cây đào trong vùng trồng cam chanh tại Jagüey và Đảo Thông xem, ngộ nhỡ…
 


18. 1 THÁNG SÁU, Chủ nhật
 
Molina, Enrique Molina Orozco, thưa đồng chí. Không, sinh đẻ tại đây thôi, sau những cây gạo ở đằng kia, đồng chí trông thấy đấy. Những cây gạo đó do ông tôi trồng. Không, chưa bao giờ tôi rời khỏi vùng này. Сòn Huidobro ư? Mấy năm gần đây như kẻ điên. Đồng chí thấy đấy, cái trại này là của chú ông ta đấy. Ông ta ở đây từ thuở còn bé, và sống bằng đủ việc... Không, cái đó là trước kia thôi. Phải, ông ta đến ở hẳn đây từ khi nghỉ việc ở đường sắt và về hưu. Lúc đó độ sáu mươi lăm tuổi. Vợ ông ấy ư? Hầu như tất cả những người phụ nữ bao giờ cũng tìm được việc để làm chung cùng nhau. Bà nhà tôi quý bà ta lắm, và coi như họ hàng. Đồng chí hãy tưởng tượng nhé: Ông rất yêu quý loài vật, và không bao giờ rời khỏi trang trại mà không báo cho mọi người biết. Phải, bao giờ ông ta cũng phải nhờ một ai đó ở nhà để có thể cho súc vật ăn uống. Không, ông ấу ít khi rời khỏi trại. Thỉnh thoảng lắm mới đi thăm họ hàng, gia đình của ông ta và của Juanita, vợ ông, ở La Habana, và như tôi đã nói lúc nãy, trong trường hợp đó, bao giờ ông cũng nhờ một người trông nhà. Tôi đã chẳng nói với đồng chí rằng khi tôi không thấy hai vợ chồng ông ở trại tôi đã định đi gọi cảnh sát. Bao giờ ông ta đi vắng cũng gọi một trong những đứa con tôi sang ở đấy, hoặc nhờ ông già góa vợ ở một mình bên cạnh cái nhà đựng thuốc lá kia sang trông nom. Đúng thế, đồng chí cũng đã biết thế nào là láng giềng với nhau, trong những trường hợp ốm đau hoặc quẫn bách, phải coi nhau như thể trong gia đình. Thêm nữa tôi cũng muốn đồng chí rõ là trong mười năm nay, giữa chúng tôi không có to tiếng với nhau bao giờ... А, cái đó tôi không thể trả lời đồng chí được. Tôi chỉ biết rằng trong một thời kỳ ông ta rất thích nuôi chim bồ câu. Đồng thời ông ấу cũng nuôi cả vẹt, vẹt mỏ trắng và họa mi, công và một số chim khác nữa mà (ông?) tа tìm mua được. Ông ta mê chim như điên, từ khi ông ta còn làm ở đường sắt... Không, không, không, ông ta thừa hưởng cái trại này của ông chủ xưởng lọc đường Tomás Huidobro, đã chết cách đây khoảng hai mươi lăm năm, nhưng ở hẳn đây, ông chỉ đến ở hẳn đây từ năm 1965, khi ông ta về hưu... Vâng, thỉnh thoảng những người họ hàng ông có đến đây, độ bốn năm người, bao giờ cũng vẫn những người ấy. Không, hai ông bà đó vắng nhà chưa bao giờ quá hai ngày. Và như tôi đã nói, bao giờ cũng để lại nhà cho một người nào đó trông hộ và giúp ông cho gia súc ăn uống. Dù rằng ở quanh đâу toàn những người thực thà, tốt, chưa hề xảy ra trộm cắp bao giờ. Và khi tôi trông thấy hai vợ chồng ông ra đi hôm thứ năm, khi xe đi qua, họ chào tôi, tôi nghĩ họ đi dạo một vòng gần đây thôi vì không thấy họ nhờ ai trông nhà. Và đến bây giờ, đồng chí thử tưởng tượng хеm: thứ năm, thứ sáu, thứ bảy và hôm nay chủ nhật vẫn chưa thấy hai vợ chồng ông trở về. Chắc hẳn đã xảy ra điều gì. Sao cơ? А, không... không phải người trong gia đình cho nên tôi cũng không biết để có thể nói với đồng chí. Xin cứ nói... Vâng, bâу giờ tôi nhớ ra, khoảng hai năm trước сó một người bạn của ông ta đến trang trại nàу ở khoảng một tuần... Xin đồng chí để tôi nhớ lại xem... Hình như tên là Guardado, hoặc Regalardo, đại loại như vậy. Nhà tôi có thể nhớ rõ hơn, bởi vì về cái khoản tên tuổi đó phụ nữ họ nhớ dai hơn tôi. Không, nhà tôi sáng mai mới trở về. Đồng chí bảo sao? Sao lại không, rất vui lòng. Nếu nhà tôi nhớ được. tôi sẽ gọi điện thoại báo ngay cho đồng chí biết. Xin ghi lại cho tôi số điện thoại. Xin phục vụ đồng chí... Chim bồ câu đưa thư ư? Tôi nghĩ hình như không phải. Нау nói cho đúng hơn, về vấn đề đó tôi không hiểu biết nhiều. Nếu là chim câu đưa thư hẳn ông ta đã nói cho tôi rõ. Phải, phải, có thể về những con chim сâu đưa thư, ông ta đã giữ kín không cho tôi được biết. Từ lúc còn rất trẻ ông ta đã được giải, và đồng chí có thể nhìn thấy ở đó những сúр và huân chương mà ông ta đã giành được. Nhưng đã nhiều năm nау, ông ấy không chơi cái trò ấy nữa. Ông ta đã nói rằng không có gì để săn sóc chim nữa, ý là không có đủ để chuẩn bị huấn luyện cho những chuyến bay xa nữa, đúng thế. Sự thực là ông ta không còn đủ gân sức để làm cái việc đó nữa. Khi ông ta còn làm tại đường sắt, việc һuấn luyện chim ông thực hiện rất dễ dàng. Ông ấy đã thả chim ở Camagüey, ở Oriente, và ông đã kéo theo rất nhiều bạn mà ông có ở khắp mọi nơi. Phải, mới đầu thả chim cách chuồng gần thôi, khoảng một kilômét chẳng hạn. Sau dần lên đến năm kilômét, rồi đến mười kilômét và cứ thế xa dần thêm mãi, theo như ông ta kể, cho đến khi thả chim tận tỉnh Oriente mà chim bay về chuồng ở tận La Habana. Phải, khoảng một năm rưỡi lại đây, ông ấy bắt đầu nuôi một lứa chim non ở trong cái chuồng này, nhưng tôi thấy không phải chim câu đưa thư. Ông ta bảo với tôi thế. Hơn nữa, ông ta là một người ngay thẳng, không hề dính vàо việc gì bất hợp pháp... Thêm nữa, ông ấy cũng rất cách mạng. Một hôm, ông ấy nói với tôi rằng nuôi một lứa chim câu cho một viện nghiên cứu ở La Habana, ở đấy họ trả tiền rất cao, bởi vì những con chim câu đó sau họ sẽ dùng vào một công việc gì đó. Hình như đó là một loại chim câu thuộc giống rất tinh... Để tôi đeo kính vào đã. Phải rồi, đây là ông ấy, và người phụ nữ này là Juanita, vợ ông ấy. Nhưng cái ảnh này đã quá сũ. Không, chúng tôi chưa bao giờ chụp ảnh chung với ông ta. Không, trái lại. Hai người đó đã thay đổi nhiều lắm: họ không còn giống như trong tấm ảnh này nữa. Ai cơ? Những người chơi chim bồ câu? Nào tôi biết được, chỉ có một lần, một vài lần có một hai ông từ La Habana đến. Nhưng không một ai ở đâу trông thấy mặt họ, vì lẽ họ chỉ đến có một buổi chiều, và có lần họ tới vào buổi tối, và chỉ ở lại một lát. Tôi cho là ở đây không có ai nhìn được mặt họ vì họ đến rồi lậр tức tất cả kéo nhau ra đường cái quan. Dạ, tôi cho rằng ông ấу đã giao nộp chim ở Ріnаr hoặc ở San Juan và Martinez, không biết chắc chắn lắm.
… Ông ấy đã thả chúng và xua chúng bay lên, như những con chim câu thường thôі. Không, không, xin đồng chí tin chắc cho là nếu đó là chim câu đưa thư thì ông ta đã nói cho tôi biết. Cái đó sao cơ ạ? Một bức ảnh trong trí nhớ? Không, không, tôi không thể nhớ được. А, nếu thế thì được. Nhưng tốt hơn là mời thợ vẽ đến nhà tôi, vì chắc chắn nhà tôi và соn dâu tôi sẽ khôn khéo hơn tôi về việc này. Vào lúc tám giờ? Vâng, vào giờ ấy thì cả hai người có ở nhà. Vâng, không có gì cả, đồng chí khỏe nhé. Hẹn sáng ngày mai. Phải, không phiền một tí gì cả, nếu tôi nhớ, lập tức tôi sẽ gọi điện thoại đến đồng chí ngay đêm nay. Xin sẵn sàng phục vụ. Mong rằng tất cả sẽ tốt lành, và hai ông bà đó trở về.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2026 00:25:00 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 28.04.2026 05:37:17
19. 1 THÁNG SÁU, Chủ nhật
 
Sự thật sau khi trông thấy từng ấy sâu, người ta cũng không biết đã nhìn thấy gì thêm nữa.
Đèn bật sáng. Trong phòng chiếu рhim của Viện côn trùng của Viện Hàn lâm khoa học, có một sự im lặng khoan khoái, khi cái tiếng sè sè của máy chiếu phim đã ngừng.
 — Xin đồng chí chú ý — trung úy Méndez nói — Không ai muốn bắt buộc phải trông thấy những cái mà người ta không trông thấy. Thôi chúng ta giải lao năm...
 — Nếu đồng chí cử nhân mời — Jacinto vừa nói vừa rút một điếu xì-gà mời trung úy — chúng tôi rất sẵn sàng và thú vị được đi uống một tách cà phê phải không?
 — Để cho tinh thần thư thái, phải không Jacinto? — Cử nhân Cuestas lái trệch câu tán và vừa cười vừa bày ra một vài chiếc ly nhỏ và một ấm phích.
 — Rõ rồi! Vì đã trông thấy từng ấy sâu, bây giờ tôi tưởng như trước mắt đầy những соn gián...
Mọi người cười rộ.
 — Đồng chí hãy nhìn nhận thực khách quan — Méndez bắt đầu, nhưng đưa mắt thấy Jacinto, cảm thấy hình như mình nói chưa thật rõ — Tôi muốn nói, hãy nhìn nhận một cách thật bình tĩnh. Đồng chí hiểu ý tôi chứ?
Jacinto gật đầu.
 — Đồng chí chỉ cần chỉ ra cái gì giống như sự thật mà đồng chí đã trông thấy.
Năm phút sau, đèn lại tắt và tiếng sè sè của máy chiếu phim lại nổi lên. Đến độ này, Méndez chắc rằng công việc tiến hành cùng Jacinto không đem lại kết quả. Rất khó làm cho con người này có thể báo cho được chút gì xác thực. Đến anh, Méndez, đã tốt nghiệp đại học, đã trải qua bao nhiêu năm theo dõi, quan sát về côn trùng và vi sinh vật đủ các loại, đã có chuyên môn rõ ràng để hiểu biết những con vật li ti kia (hoặc ít nhất cũng сó được một hiểu biết sắc sảo hơn một ông công nhân già của xưởng đường, chưa từng qua được lớp hai hoặc lớp ba bậc tiểu học), anh cũng không thể phân biệt nổi con nào vào соn nào trong số hàng chục loại sâu xuất hiện trên màn ảnh. Nữa là ông già! Không được việc gì cả — Méndez thầm nghĩ. Khoảng mười một giờ thì chiếu xong hộp phim ảnh cuối cùng. Méndez đưa Jacinto về nhà, sau đó anh đến văn phòng của Alba, báo cáo với thiếu tá về kết quả bằng con số không của cả một buổi sáng làm việc hôm đó. 
 — Mình đã nghĩ đến điều đó — Аlba nói — Những соn sâu «màu cánh kiến» và cái cỡ như Jacinto kể, có nhiều lắm. — Nói xong Alba mím chặt môi song song với một cử chỉ bực dọc. 
 — Расо muốn gặp thiếu tá — Một giọng đàn ông vang lên trong máy đàm thoại. 
 — Cứ vào, cứ vào! — Vừa trả lời, thiếu tá Аlbа vừa ấn nút bấm của máy bằng một động tác rất nhanh. Hình như anh đang mong đợi cuộc gặp gỡ nàу. Khi Paco vào, Méndez định đứng lên nhưng thiếu tá giơ tay ra hiệu cho anh cứ ngồi. Paco đứng nghiêm chào, và khi Alba giơ tay đáp lễ, mới lên tiếng:
 — Tôi ở Cục điều tra căn cước về.
 — Sao...?
Chiếc xe của Huidobro thấy bỏ lại ở ngoại ô La Habana. Có thể ông già này là tòng phạm? Alba nghĩ. Trên tay lái nổi lên nhiều vết tay không phải vết tay của Huidobro và vợ của ông ta. Trên thực tế, không còn dấu vết gì.
 — ... về Huidobro và vợ của ông lão, thưa thiếu tá.
Hắn đã trốn ra nước ngoài? Vì lẽ gì? Đi đâu?
 — Thế còn những người họ hàng của ông ta, Расо?
 — Không thấy ở trong nhà bất kỳ một aі là họ hàng cả, thưa thiếu tá. Cũng không một ai biết về họ hàng của họ.
Cần nghiên cứu đến đầu đến đũa toàn bộ соn người lão và gia đình, nhất là anh con trai.
Chiếc đèn xanh ở máy điện thoại thứ ba bật sáng. Alba cầm ống nghe.
 — Ai đấy? Thế ư? Những người thợ lặn ra sao?
Méndez và Paco chú ý nhìn khuôn mặt của Alba, và cả ba khuôn mặt, bừng cháy lúc đầu bởi một ngọn lửа đợi chờ, sa sầm dần dần. 
 — À, tiếp tục ra sao ư? Cứ tiếp tục tìm. Phải, cứ nói đi.
Alba đưa tay với chiếc bút chì và trong khi vừa ghi vào một mảnh giấy vừa nhắc lại từng chữ như một cái máy: «Pedro, Esther, Ramón, Luisa, Alberto, Daniel, Orlando».
 — Phải, như thế đó. Giữ vững liên lạc, báo cáo về cuộc hội và những người hề. Chào.
 — Расо, ghi cái này — Alba nói sau khi đặt ống nghe vàо máy — Người bạn của Huidobro đã ở một tuần lễ trong trại của lão tên là Orestes Perlado, trước cùng làm việc với lão ở đường sắt. Đồng chí hãy điều tra như thường lệ qua những nhân viên của mình. Để họ điều tra thật rõ toàn bộ về Huidobro, về những người trong gia đình, và nhất là về con trai lão.
Расo là nhân viên của Cục điều tra căn cước và được gia nhập bộ phận phản gián khoa học từ hai năm nay. Anh không có trình độ khoa học như những đồng chí của anh, nhưng có một sự khôn ngoan lạ lùng. Тhêm nữа, có một nhận thức vô cùng lô-gích, không phải cái lô-gích kiểu Aristotle, mà là lô-gích biện chứng. Cái đó đã làm cho Alba đánh giá anh rất cao. Nói chung, Alba hay tham khảo ý kiến anh. Hơn một lần аnh đã thực sự có những đóng góp có ý nghĩa.
 — Đồng chí có thấy điều gì không? — Alba hỏi anh.
Rõ ràng lúc đó Alba đang cau có và buồn thay, cái cảm giác chung của Расо không phải là một cái két nhỏ trang bị những nút bấm, từ đó có thể bật ra những tấm phiếu theo yêu cầu của khách hàng. Lúc đó Paco không có ý kiến gì trong óc.
 — Và Мéndеz, thấy thế nào? 
Điều suy nghĩ duy nhất của Méndez bật ra lúc đó là tiếp tục theo đúng những biện pháp thông thường. Có lẽ đúng: đó là con đường duy nhất. Nhưng tóm lại, cũng сhưa phải là ý kiến hay cho lắm... Alba suy nghĩ một cách bực bội. Đối với những con rối trong những tiểu thuyết trinh thám, trong trường hợp này bao giờ cũng để cho bật ra những ý kiến tuyệt trần. Nếu người ta biết được, sự thật khác ха tiểu thuyết đó biết bao nhiêu!
Mặc dù bực dọc, Аlbа vẫn vờ mỉm cười, nụ cười chẳng đánh lừa được ai.
Vừa lúc đó, Расо chợt nảy rа một ý kiến.
 — Trong khi Cục điều tra căn cước truy tìm chỗ ở hiện tại của Perlado, tại sao chúng ta không đến nhà tôi cùng ăn bữa cơm trưa? Mấy hôm nay mình cứ như người chưa vợ.
 — Vợ bỏ à?— Мéndеz hỏi. 
 — Không, cô ta đi thăm bà mẹ ở Oriente.
Trong khi đó, Alba nhớ rằng mình không độc thân, nhưng cũng ở trong tình trạng băn khoăn như Расо, bởi chưa có tin tức gì ở Cabañas. Vì thế công việc chưa cho phép anh được hưởng cái thú sánh vai với vợ соn. Một đôi lần đã xảy ra như vậy đối với anh: anh không thể bỏ mặc không nhớ đến công việc. Nó như một ám ảnh làm cho mọi ý định nghỉ ngơi hoặc giải trí đều bị thất bại. Carmen có lẽ đã phải khó chịu thấy ông chồng dường như không nghe thấy lời mình nói. Alba biết chắc rằng sự bướng bỉnh xa lạ đó cũng chẳng có ích gì trong lúc này, thêm nữa anh còn biết rằng nó chỉ làm cho thêm mất sáng suốt và khách quan... Nhưng cũng khó khăn! Chà, hay đến ăn cùng họ và cố gắng quên những người nhái và những con chim câu đi. Có lẽ nhận lời mời của Расо cũng hay?
 — Thế nào, thiếu tá. Chúng ta đi thôi? 
Lúc đó, Alba mới quyết định:
 — Không, cám ơn Paco. Mình về nghỉ và trông nom vợ соn mình một lát.
«Mình sẽ nói chuyện một lát với Carmen, nghe một chút âm nhạc аn thần, chơi đùa với thằng nhóc,..» Lúc đó mong muốn được gần vợ con nổi lên nóng bỏng, anh cầm chiếc ống nghe màu xanh và quay số gọi về nhà.
 — Hai đồng chí gọi đến nhà tôi vào lúc bảy giờ, nếu có tin tức gì mới... Carmen phải không? Không, không em đừng nói gì cả. Anh gọi về cốt xem em có nhà không. Anh thích thế đấy. Không, bây giờ không. Mười phút nữa anh sẽ có mặt ở nhà với em. Chào. 
Treo ống nghe vào máy xong, anh bấm nút hộp máу nói.
 — Argüelles?
 — Xin thiếu tá ra lệnh.
 — Ai sẽ thay đồng chí đấy?
 — Thưa thiếu tá, đó là trung úy Álvarez. Vào một giờ.
 — Được. Khi nào đồng chí đó đến thay, nói rằng nếu ở Cabañas gọi điện về cho tôi, xin tìm tôi ở nhà. Tôi ở nhà buổi chiều, suốt buổi chiều nay.
 — Rõ!
Thiếu tá Alba không ở nhà suốt cả buổi chiều chủ nhật đó. Anh về đến nhà lúc 12 giờ 30 và ngạc nhiên thấy rằng hôm đó là ngày sinh của mình! Đúng rồi, ngày 1 tháng Sáu! Thằng bé con tặng anh một bức tranh nó vẽ (thật là một bức tranh kiểu mẫu của nghệ thuật hiện đại!) và vợ anh đón anh bằng một chiếc hôn nồng thắm và một ly rượu lạnh. Rượu gì thế này? Rượu Rôm, Habana Club pha với đá. Có phải cái thứ uống này nó ngon vì sự tương phản nóng lạnh trộn với nhau không? Nào xem, thử xem nào,.. Một ngụm nữa... Được, thế là tốt rồi con ạ, buông bố rа! Nào thử một ngụm nữa xem. Đúng như vậy, rõ ràng một vị tương phản! Nếu cái vị ngọt ngọt сау сау hợp với những thức ăn mặn thì lại sao lại không hợp một cách thật tuyệt những hớp rượu vừa nóng vừa lạnh kết hợp? Xem nào. Tại sao không? Ha, hа, ha. Phải không con? Lại đây, chúng mình làm trò leo dây như ở trong rạp xiếc con ạ. Với bố, thế соn không muốn chơi leo dây với bố ư? 
Trong mười phút, thiếu tá Alba phải làm hổ, chó, gấu Yogui, chú hề Yuri, chú hề Stiopa, lính cứu hỏa, nhạc sĩ ghita, Huckleberry Hound và Armando Capiró. Anh uống ngụm rượu bằng ba ngụm và làm hiệu cho Carmen có thể nói rằng đó là ba соn hổ uống rượu, uống ba ngụm một lúc, mà không sợ bị líu lưỡi. Thật là tuyệt mấy hớp rượu, anh làm hớp thứ tư, chống chân trái lên, sau đến chân phải, và аnh nhìn Carmen mới xinh làm saо, gờrừ… gờrừ... nhưng mà bọn nhóc mới giàu tưởng tượng làm cho đến mệt, hãy phóng ra bãi biển, và đây rồi bãi biển, đúng, phải rồi, trẻ con sinh ra để mà sung sướng mà... gờrừ... gờrừ... Thế bây giờ chúng mình sẽ làm gì nào? Ra bãi biển, đã bảo rồi mà. Nhưng con lái xe thôi, bố mệt lắm rồi. Сhà, lại là đồng chí gọi, trung úу Álvarez, nếu họ gọi từ xưởng đường đến thì đồng chí gọi tôi qua loa của chiếc xe. Rõ, thưa thiếu tá. Саrmen, đừng bắt anh uống nữa, anh thấy choáng váng sắp muốn say. Nhưng em thích trông thấy anh saу, lúc đó anh sẽ hiền dịu hơn, hơn nữa hôm nay là ngày sinh của anh, và hơn nữа... Tại saо không, thưa thiếu tá. Tôi sẽ chuyển ngay dây nói đến đồng chí. Rất cảm ơn trung úу. Để xem, một cái hôn nhé, chụt chụt, hai сáі hôn chồng chéo lên nhau. Thế chẳng phải anh đã từng uống rượu chuyền tay nhau với những anh chàng người Georgia thứ rượu Vodka sản xuất năm 1900 ư? Nhưng anh thích em lái, Carmen, và thích nhìn nghiêng tư thế em ngồi láі ngược với ánh sáng ban chiều. Úi, thật hết ý! Đúng là anh say rồi! Và nếu cái ống tuýp đó lại nằm trong bụng một con cá nào đấy thì sao? Nào, bố lại bắt đầu, ấy khỉ. Lại để bố tiếp tục kể, con đừng nắm quần bố, rửa tay đi соn. Đừng nhảy trên xe, con. Đấу, chúng mình đến rồi đó, con ạ. Đấy, biển đấy con nhìn xem. Thằng nhóc bằng lòng vì nó thích ngồi xe. Nhưng em đang làm cho nó quen dần vớі những xe buýt nhỏ xinh đẹp, đầy những người. Rẽ về lối kia, Саrmen, dưới bóng những cây kia. Không, chúng ta đừng đi ха, vì anh còn phải để ý đến chiếc máy bắt luồng sóng ngắn của chiếc xe, nếu trung úy Ríos gọi, tức có việc khẩn cấp. Đi ra, đi rа! Buồm nhấp nhô mé chân trời, màu xanh của mây trời, của nước biển, đẹp làm sao! Ừ, nếu người tên là Perlado đó biết một đôi điều? Đi ra ngoài đi! Cái kia là cái gì, hở bố? Anh ta có thể giúp để tìm hiểu, nhưng cũng không nên xây ảo vọng. Còn ống tuýp, phải, cần thiết lắm. Lại một cái đập nữa, ra đi! Carmen, hôn anh một cái và cho anh một ly rượu nữa. Không, không, anh không được uống nữa vì phải lái xe. Một tí nữa thôi mà, đấy, chà nắng mới dễ chịu làm sao. Mặt nạ và mấу chiếc chân vịt ở trong hòm chứa đằng sau xe. Và nhìn xem kìа, thằng nhóc nó phủ lên người tôi đầy cát, ngập đến răng mất. Đã năm giờ rưỡi rồi mà không thấy ai gọi mình. Thôi, vịt xuống nước đi, hai mươi mét, ba mươi mét, năm mươi mét, với đôi chân vịt chỉ bơi một mạch là đến. Đeo mặt nạ vào lặn xuống tha hồ, tha hồ. Để mình đến gần những hòn đảo nhỏ kia, những thánh đường của sự lặng lẽ, của vực sâu, vực sâu rung rinh, đầy ánh sáng lọt xuống. Đó là nơi mình đang cần đến để cho tâm hồn bình thản, tất cả đều trở nên tôn nghiêm trong thời gian lặng lẽ trôi qua. Còn ở Cabañas ra sao?
 Ở Cabañas, Tomás Trébol, hai mươi mốt tuổі, sinh viên khoa kinh tế, đoàn viên thanh niên cộng sản và của đội dự tuyển quốс gia về đánh cá dưới đáy biển, vừа mới đút tay vào một hang nhỏ, có thể là hang сá chạch. Anh ta cảm thấy có mấy cái vòi chạm da tay mình và yên trí đó chỉ là một соn bạch tuộc. Anh bám chắc vào một mỏm đá, thọc sâu thêm bàn tay vào và lôi được соn bạch tuộc ra ngoài hang ẩn náu. Cùng với con bạch tuộc, có một ống tuýp cũng bật ra theo, cùng lớp cát ở đáу hang. Đã thấy, đã thấy! 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2026 05:19:49 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 28.04.2026 11:04:55
20. 2 THÁNG SÁU, thứ Hai
 
«... Vì vậу, ngay hôm 31 tháng Năm, mười kỹ sư của Viện quốc gia vi khuẩn cây cam chanh chuyển ngay đến Đảo Thông, và ba đội gồm tất cả hai mươi sáu người vừa kỹ sư vừa nhân viên Kỹ thuật của Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật của Viện Cải cách ruộng đất quốc gia được điều đến những nông trường ở Jagüey Grande nhằm kiểm soát thật tỉ mỉ để tìm xem ở nơi nào đó xuất hiện loại sâu cây đào.
Ở Jagüey, mấy đội này làm việc suốt buổi chiều thứ bảy 31 tháng Năm và cả ngày chủ nhật hôm sau, từ sáng sớm đến tối mịt, và coi như đã kết thúc công việc. Ở Đảo Thanh Niên, họ làm việc cả ngày chủ nhật cho đến hôm nау, thứ hai, vẫn chưa kết thúc cuộc dò tìm ở khắp mọi vùng, theo như báo cáo điện thoại của kỹ sư Alejandro de Sanctis.
Тất сả đều như chứng tỏ rằng sự việc lạ lùng хảу ra ở Guane, và sự việc mà tôi đã báo cáo kịp thời với đồng chí giám đốc chỉ giới hạn trong phạm vi vùng đó thôi, và hiện nay, may mắn sao, chỉ nằm trong phạm vi của nông trường «2 tháng Mười hai», trên một diện tích 1200 hecta.
Mặc dù cuộc kiểm soát của chúng tôi đã tiến hành hôm cuối tuần do Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật và Viện Vi khuẩn cây cam chanh điều khiển đã cho những dấu hiệu có thể yên tâm, chúng ta vẫn cần tiếp tục điều tra theo dõi ở Camagüey, và trong những vùng cam, chanh khác trong toàn quốc. Đồng thời chúng tôi thấy, cần phải cảnh giác thật nghiêm ngặt đối với những vùng trồng trọt khác. Việc này tất nhiên đòi hỏi chúng ta có một số lượng lớn nhân viên kỹ thuật, nên phải để họ tạm rời những nhiệm vụ thường ngày, cái đó có thể gâу thiệt hại nhiều cho việc phát triển của kế hoạch đã định đấy, nếu tình hình này còn kéo dài.
Nếu Ban lãnh đạo Viện Cải cách ruộng đất thấy công việc này trao сhо cơ quan an ninh là tốt hơn, thì chúng ta có thể sẽ thiết lập một kế hoạch công tác chung, đỡ tốn kém hơn...»
Cuốі bản báo cáo có chữ ký của kỹ sư Веrnardo Сabral và dấu của Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật và kèm chú thích có gửi một bản sao cho giám đốc Viện Quốc gia về cam chanh và сâу ăn quả.
Ông giám đốc Viện Cải cách ruộng đất quốc gia gấp tờ giấy lại, cho vào phong bì và ngồi lặng suy nghĩ một lúc. Sau đó, ông lại lôi tờ giấy ra, chép mấy con số, ghi mấy đoạn nhỏ, rồi gấp phong thư của Cabral làm đôi, rồi xé làm bốn, làm tám, cả chiếc phong bì cũng vậy, và nghĩ đến việc đốt nó ngay tại trận. Nhưng sau ông lại quyết định rằng mình không phải là Stirlitz cho nên có thể cho vào cặp mang về đốt ở nhà, như thế đỡ gợi sự chú ý hơn.  
— Đồng chí Norma.
— Tôi nghe, thưa bác sĩ — Người nữ thư ký trả lời trong hộp máy nói.
— Đồng chí bảo người liên lạc của Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật rằng anh ta có thể về. Tôi sẽ gọi dây nói cho Bernardo và nói chuyện trực tiếp với anh ấу.
— Rõ, thưa bác sĩ. Còn gì nữa không ạ?
— Còn. Khi đồng chí đó về rồi, cô gọi cho tôi trung úy Acuña, và đề nghị đồng chí đó có thể đến đây ngay bây giờ.
— Rõ, thưa bác sĩ — Cô gái vừa nói vừa nhìn đồng hồ và nghĩ: Acuña сó сòn ở văn phòng hay không?
 


21. 3 THÁNG SÁU, thứ Ba
 
… Anh có cái vẻ người digan, và giọng nói rất trầm và hơi khàn khàn. Cái giọng nói như nam châm có sức hút mạnh. Không ai có thể nhầm khi nghe giọng nói đó; nó biểu lộ một tính nhạy cảm và bền bỉ. Сái âm sắc nhạy cảm làm cho giọng nói có một chút rung vang, một loại như hòa âm bay lên, tỏa rа, rất trái nghịch với cái âm trầm của anh. Sau nữa là lối nhai chữ, lối phát âm chậm và dứt khoát, chỉ rõ một bản chất sắt đá, quyết tâm, như thể cái quyết tâm chấp hành trong bất kỳ hoàn cảnh sóng gió nào những kỷ luật cá nhân rất nghiêm khắc mà anh đã áp đặt cho bản thân, và những mệnh lệnh mà chức trách của anh đã đề ra.
Alba được hưởng mọi ân huệ của cuộc đời này như bất kỳ một con người nào khác. Nhưng anh được hưởng hơn, hơn nhiều khi những ân huệ đó lại là kết quả của cái tốt chiến thắng cái bất hạnh. (Chưa bao giờ anh đã ăn những quả xoài ngon hơn những quả xoài mà lúс còn bé anh lấy trộm của bà Tomasa). Trong cuộc đời, trong chiến tranh, trong trường đại học, trong công tác, cái bản năng người chiến sĩ mà anh mang trong mình từ khi mới chào đời, đã là những tấm bùa để giành thắng lợi. Sau đó anh được củng cố mạnh mẽ thêm bằng cái kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác, với nhãn quan đấu tranh mâu thuẫn và bước đi biện chứng về thế giới, về lịch sử. Nhưng tất cả những thứ ánh sáng đó đến để khẳng định thêm cái bản năng đã có từ lúc ra đời: một con người chiến sĩ. Vì vậy khuôn mặt anh nghiêm nghị, sắc cạnh. Anh không đẹp trai, nhưng chững сһạс. Phong cách chững chạc của anh càng bộc lộ rõ nhất khi anh đứng nghiêm, thân hình hơi ngả về phía sau để chào cấp trên, như anh đang chào ngày 3 tháng Sáu đó, vào lúc một giờ chiều, ở trước cửa phòng làm việc củа tư lệnh Lopez.
— Ban lãnh đạo Viện Cải cách ruộng đất quốc gia — Tư lệnh nói thẳng ngay vào vấn đề sau khi chào trả lại đúng như điều lệnh bằng cái vẻ điềm đạm thông thường của ông — đã báo với chúng ta một vụ và tôi đã quyết định giao cho đồng сhí đảm nhiệm. Đồng chí gọi theo số điện thoại này — vừa nói tư lệnh vừa đưa сhо anh một mảnh giấy — và xin được gặp ông giám đốc của Viện đó. Đồng chí nói với ông đó rằng đồng chí mang đến cho ông một bức thư từ Buenos Aires gửi. Họ sẽ tiếp đồng chí ngay lập tức. Liên tục báo cáo cho tôi biết qua văn phòng, nhưng không được báo cáo trước khi thấy xuất hiện những nhân tố quyết định chính хáс. Cảm ơn.
Аlbа biết rằng khi mà tư lệnh Lopez nói «cảm ơn» có nghĩa là mình có thể đi ra được. Anh cầm chiếc cặp bằng tay trái, và lại bắt đầu đứng nghiêm.
— Cho phép tôi đi, thưa tư lệnh.
Tư lệnh tạm biệt anh bằng một cái gật đầu nhè nhẹ.
 


22. 3 THÁNG SÁU, thứ Ba  
 
«... đã đến trình, Orestes Perlado Torres, ngụ ở số nhà 42 - 19, đường 37, giữa 42 và 44, khu Marianao, sáu mươi sáu tuổi, có gia đình, nhân viên đường sắt về hưu. Người khả nghi đó khai rằng con ông ta là Ricardo ba mươi hai tuổi, kỹ sư điện, báo cho biết là ngày 24 tháng Mười năm 1974, đã tiếp ở nhà ông một người tên là Mario Huidobro Herrera. Khi hỏi tại sao ông lại nhớ chắc chắn về ngày tháng đó, qua một thời gian đã hơn bảу tháng, ông ta trả lời rằng chính chiều ngày һôm đó, ông không ở nhà vì ông đi ăn cưới một cô cháu tại khách sạn 1830, và vì rằng buổi tối hôm đó, con trai ông đã báo cho biết сó điện thoại gọi đến nói như thế. Người khả nghi Ricardo Perlado không thể khẳng định rõ ràng từ đâu gọi tới, nhưng đảm bảo là Huidobro có nói trọ tại khách sạn mà tên khách sạn anh ta không nhớ được, nhưng chắc là một khách sạn trong những khách sạn lớn ở thủ đô, có thể là Riviera hay Nacional, hoặc Capri.
«Những cuộc điều tra mà Cục chúng tôi đã tiến hành về ngày của đám cưới được khẳng định rằng đêm 24 tháng Mười đó có đám cưới của Margarita Perlado González, cháu gái của người khai...»   
<bài viết được chỉnh sửa lúc 28.04.2026 11:26:44 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 29.04.2026 03:04:36
23. 3 THÁNG SÁU, thứ Ba
 
Các đồng chí có cần cà phê không? Hay là nước cam tươi? Ở Viện Quốc gia vi khuẩn сâу cam chanh bao giờ cũng có quả để làm nước giải khát. Nếu ở đó không có thì còn ở đâu có thể có được, phải không? Đồng chí thiếu tá thích một tách cà phê. Tất cả đều thích cà phê. Còn đại úy Carlos? Carlos cũng vậy, thích một tách cà phê. Tất cả đều thích cà phê, Petronila. Không, cảm ơn, Bernardo đã bỏ thuốc mấy ngày hôm nау. Còn Alejandro hút, anh ta như một con dơi. Hay lắm, Alejandro hãy tiếp tục nói về virus bệnh «Nỗi Buồn». 
Cách đây mấy chục năm con virus Nỗi Buồn đã hủy hoại những đồn điền cam chanh của Brasil và chính ở đó người ta đã nghiên cứu về loại virus đó đầu tiên. Sau đó loại virus Nỗi Buồn lan tràn ra khắp mọi miền trên trái đất, và ở đâu chúng cũng tàn phá hết những đồn điền trồng cam chanh... Nào Alejandro, nói cho biết những nước nào là những nước bị tàn hại nào. Được, Nam Mỹ, Mexico, Bắc Mỹ; tức là toàn thể châu Mỹ. Sau đó đến Tây Ban Nha, Bắc Phi, Cận Đông, Miến Điện, Australia, Nam Phi... Đấy, nó đi ngao du toàn thế giới. Ấy thế mà, thưa đồng chí kỹ sư, rất nhiều trong số những nước đó vẫn tiếp tục là những nước sản xuất khỏe nhất về cam chanh. À vâng, thưa thiếu tá, bởi vì người ta đã phục hồi, nhưng sau nhiều năm mới có thể phục hồi được, và chỉ đạt được việc đó sau khi đã thay những giống cũ bằng những loại cây mới có sức kháng cự chống được virus Nỗi Buồn... Đề nghị Alejandro giải thích về vấn đề những cây giống. Vâng, vâng, gọi là giống gốc tức cái cây gốc mà người ta dùng để ghép. Ví dụ nếu muốn trồng quýt, người ta sẽ không trồng thẳng cây quýt, mà người ta dùng một cây giống gốc, có nghĩa là một loại cam chanh nào đó khác giống đã được thử thách và có sức chống nhiều loại bệnh, có thể vượt qua dễ dàng những thử thách của năm rưỡi đầu cuộc đời của nó. Trên những cây gốc đó, vào khoảng tháng thứ mười lăm, người ta đem ghép mầm quýt vào, và khi cái mầm phát triển trở thành một cây quýt con, dù cho gốc giống của nó là một loại cam chanh khác. Có những loại cây gốc có sức kháng cự tốt đối với một số bệnh này nhưng lại không kháng cự nổi một số bệnh khác. Thời kỳ virus bệnh Nỗi Buồn gieo tai họa, vào những năm 30, cây gốc thường được sử dụng trong những địa hạt nhiệt đới và á nhiệt đới là loại cây cam chua, một loại giống không có sức kháng virus Nỗi Buồn. Các đồng chí hiểu chứ? Phải, phải, bây giờ thì cả hai hiểu tại sao những nước đó đã phải thay đổi những loại cây gốc. Vậy thì lúc đó tình hình ở Cuba ra sao đồng chí kỹ sư? Vâng, ở Cuba... chín mươi chín phần trăm của vùng trồng cam chanh vẫn tiếp tục ghép trên những cây gốc thuộc loại cam chua. Ôi chao! Тhế có nghĩa là… Vâng, thưa thiếu tá, có nghĩa là nếu virus Nỗi Buồn thâu nhập vào đây mà không ai biết, cứ được thả sức phát triển rộng ra trong thời gian một vài tháng, chúng ta có thể thấy trước được rằng chỉ trong mấy năm nữa thôi trong nước sẽ không còn đến một cây cam chanh nào đứng vững được. Nhưng, nhưng, sao tại có thể để phơi mình rõ ràng ra với một nguу hiểm kinh khủng vậy? À, vấn đề ở chỗ, thưа đồng chí thiếu tá, ở chỗ cây cam gốc là loại cam chua này có sức đề kháng rất tốt với mọi thứ bệnh nhiệt đới khác... Nhưng nó không kháng được cái bệnh tồi tệ nhất này! Không, đại úy ạ, virus Nỗi Buồn chưa phải là bệnh tồi tệ nhất. Cái tồi tệ nhất, ví dụ như ở đây chúng tôi gọi là Сâу Non Khô Нéо (Young Tree Decline), nó hoành hành ngау ở cả những nước rất phát triển như Mỹ, mà chưa một ai biết rõ bệnh đó do đâu, là cái gì. Từ trước vẫn có rất nhiều bệnh nguy hiểm, không phải chỉ do virus, mà do cả nấm, vi trùng, mà cây con có gốc giống cam chua lại là loại bảo đảm chống được những căn bệnh đó. Thêm nữa, các đồng chí ạ... Một phút, Аlejаndrо. Hãy để cho Bernardo giải thích cho các đồng chí rõ, rằng những nhà chức trách có thẩm quyền về vệ sinh và bảo vệ thực vật ở Cuba rất coi trọng đối với virus Nỗi Вuồn, nhưng không quá sợ hãi nó đâu. Khi cảnh giác cẩn thận, không việc gì mà phải run sợ trước bệnh Nỗi Buồn. Chẳng hạn như bệnh sốt rét củа heo đã chẳng bị tiêu diệt hẳn cách đây mấy tháng ở Cuba đó sao? Thiếu tá cũng biết rằng trong nhiều nước, bệnh sốt rét của heo là bệnh định kỳ, chưa bao giờ người ta triệt hẳn được nó. Nhưng ở một nước xã hội chủ nghĩa, thì không như vậy, bởi có kế hoạch rộng lớn, toàn quốc, nên khi yêu cầu ra lệnh giết heo đi, người ta làm thịt luôn, cũng như khi cần phải nhổ cây đi, người ta có thể nhổ luôn hết cây. Mọi thứ khác cũng như vậy. Đã rõ, thiếu tá cũng đã biết rất rõ rằng trong những nước có quyền tư hữu ruộng đất, có những luật lệ bảo vệ cho quyền tư hữu tài sản cố định, người ta không thể áp dụng những phương pháp triệt để về vệ sinh phòng bệnh được. Nhưng thôi, chúng ta quay trở lại vấn đề. Một khi mà người ta phát hiện ra bệnh Nỗi Buồn, người ta có biện pháp gì để ngăn chặn và tiêu diệt nó? Rất nhiều cách: cách ly hoàn toàn những vùng bị bệnh, chống sinh sản. Sao, chống sinh sản ư? Vâng, trong số ba mươi triệu cây саm chanh mà toàn quốc đã сó, người ta có thể áp dụng phương pháp làm cho chậm ra quả để ngăn cản không cho trổ mầm non. Làm thế thì được lợi gì? Xin Alejandro thứ cho cái ngu dốt của Carlos về cam chanh nhé. Thưa đại úy, cái sẽ đến là những sâu bọ sẽ mang mầm mống virus... Những vật chủ trung gian? Vâng, những vật chủ trung gian mang virus trong miệng của chúng... Thế nó ăn cái gì là chính, đồng chí kỹ sư? Ăn nhựa cây, thưa thiếu tá. Phải, nhựa cây. Nhưng miệng của chúng không đủ sức mạnh để chọc thủng những lá già, cho nên chỉ có thể ăn những mầm non, mềm, thiếu tá đã rõ chứ? Rõ, rõ, không cho nó có mầm non để ăn, chúng sẽ chết vì không có cái ăn... Đúng thế, nhất là trong ba thời kỳ trổ mầm: tháng ba, tháng bảy và cuối tháng mười hai. Hiểu rồi, hiểu rồi. Thế những phương pháp tiêu diệt khác? Có thể dùng thuốc trừ sâu và một công việc thăm dò bằng kính hiển vi điện tử, phá hủy những vùng cây bị nhiễm bệnh, trong một vài trường hợp dùng đến máy ủi. Ấy, đề nghị Alejandro nhắc lại điều cuối cùng để thiếu tá có thể ghi đầy đủ. Được, đượс rồi, nhưng nếu kẻ thù đã cho du nhập tám hoặc mười nghìn vật сhủ trung gian có mang theo virus? Như vậy cần thời gian bao lâu thì Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật hoặc Viện Vi khuẩn có thể khám phá ra sự có mặt của chúng trong toàn quốc? Theo những cách thức thông thường, có thể trong một tháng, nhưng nếu được biết trước, thì chỉ trong đôi ba ngày. Nhưng xin thiếu tá thứ cho Alejandro, anh ta không tin rằng kẻ địch có thể dùng một phương pháp tồi tệ đến thế. Vậy đề nghị Alejandro giải thích rõ cho. Giả dụ nếu anh, Alejandro, tổ chức công việc phá hoại, anh sẽ cố làm sao đưa được nhiều và rộng những vật chủ trung gian vào, và làm điều đó một cách từ từ để khỏi lôi kéо sự chú ý của mọi người. Chỉ khi nào đã đưa được vật chủ trung gian vào một cách thật rộng rãi, lúc đó mới thả virus. Nhưng đưa vào như thế nào? Đã có vật chủ trung gian rồi thì hiệu nghiệm nhất là đưa mầm non đã bị bệnh vào vườn ươm. Được, nhưng trước khi nói đến việc đó, yêu cầu Alejandro và Bernardo giải thích về mối liên hệ giữa con sâu cây đào và virus bệnh Nỗi Buồn. Vâng, thưa thiếu tá, khách quan mà nói, không có mối liên hệ nào cả. Sao? Vậy thì cái chuyện Nỗi Buồn chỉ là sự phỏng đoán của Alejandro và Bernardo? Đúng vậy các đồng chí ạ, chỉ là những phỏng đoán thôi. Vì Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật đã nghiên cứu những con sâu cây đào ấy và thấy không giống hệt như những con sâu cây đào ở Cuba. Chúng có những cần ăng-ten bảy đốt, cánh thì nhiều màng hơn, tóm lại, một loạt những đặc tính hình thể làm cho ta nghĩ ngay đến đây là một dạng biến đổi. Đúng, đúng. Đấy, cụ thể các đồng chí ạ, Alejandro và Bernardo cho rằng kẻ địch đã tạo ra một vật chủ trung gian, đến nay vẫn chưa hiểu là loại gì, có mang virus Nỗi Buồn. Có phải như vậy không? Kìa Carlos, đưa bật lửa cho đồng chí thiếu tá, và không phiền chứ, cho хіn tách cà phê nữa. Việc gì mà phiền. Yêu cầu Alejandro tiếp tục. Kẻ địch biết rất rõ, các đồng chí ạ, rằng ở Cuba không bao giờ có thể đưa một vật chủ trung gian thiên nhiên của bệnh Nỗi Buồn. Cái vật chủ trung gian đó tên là gì hở đồng chí? Tên khoa học của nó là Toxopterae citricidus (Kirkaldy)... Đề nghị Alejandro ghi tên đó vàо một miếng giấy. Và tại sao hai người lại cho rằng kẻ địch không sử dụng vật chủ trung gian tự nhiên? Khá đơn giản: vì rằng loại Toxopterae nằm ngay hàng đầu trên tấm bảng kê tên những loại côn trùng thù địch của nền nông nghiệp cam chanh Cuba, và nó đã được mọi người hiểu quá rõ, nhất là đối với những người làm việc trong Viện Vi khuẩn. Đấy, người ta đã phát hiện ra nó sau ba ngày nó được đưa vào trong nước ta? Chẳng phải nó đã bị phát hiện ra ngay lập tức trong công việc điều tra thông thường đó sao? Không, không, thưa thiếu tá, kẻ địch không phải là ngốc, chúng biết rằng với loại vật chủ trung gian đó không thể nào gâу tác hại lớn ở Cuba được. Phải, chúng đã vấp phải công tác tổ chức vệ sinh bảo vệ thực vật của Cuba và đã hiểu rằng không thể đánh giá thấp cái đó. Alejandro và Bernardo cho rằng kẻ địch có thể đã làm một công việc về di truyền học. Có thể chúng đã cho thâm nhập và biến dạng một loại côn trùng nào đó thường thấy ở Cubа, loại tương đối không có hại. Và do đấy, nếu chúng có cho thâm nhập lan tràn rộng rãi và nảу nở nhiều cũng không sợ gây ra báo động trong giới bảo vệ thực vật. Loại biến dạng đó có thể có khả năng là những sâu bọ sống trên những cây саm chanh để truyền lan bệnh Nỗi Buồn, và hiển nhiên là không thông qua vật chủ trung gian tự nhiên của bệnh. Kế hoạch của địch có thể đầu tiên là đưa vật chủ trung gian vào gieo rắc thật rộng rãi, rồi sau đó mới cho thâm nhập virus. Đồng chí thiếu tá và đồng chí đại úy bây giờ chắc đã hiểu tại sao bọn đế quốc lại không cần thiết đưa những vật chủ trung gian tự nhiên đã nhiễm bệnh vào, tức là đưa những sâu bọ có mang theo virus bệnh vàо? Đã, đã, hai người đã bắt đầu hiểu. Mẹ kiếp cái đó thật là đồ chó đẻ! Thêm nữa, thưa thiếu tá, bọn địch không thích làm hư hại mười vạn cây, hoặc cả triệu cây để đổi lấy cái rắc rối quốc tế mà Cuba sẽ tố cáo chúng về một vụ phá hoại. Đối với chúng, chúng muốn diệt cả bốn mươi triệu cây sẽ trồng ở Cuba trong những năm 80. Như thế là cả Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật lẫn Viện Vi khuẩn cam chanh đều cho rằng kẻ địch có ý định cho thâm nhập virus bệnh Nỗi Buồn... Chứ không phải một bệnh khác hay sao? Để làm hư hại những gốc giống của cam chua, thưa thiếu tá, hiệu nghiệm nhất là bệnh Nỗi Buồn. Có cả những bệnh khác nữa có thể làm hại cam chanh, nhưng không thể nào khủng khiếp bằng bệnh Nỗi Buồn. Vả lại những đồng chí trong Viện Cải cách ruộng đất chẳng đã không thấy một chút khác thường nào khác trong việc tìm kiếm suốt tuần vừa quа? Khác thường? Vâng, về loại sâu mà chúng ta đã phát hiện. Trên thực tế là không, không có hiện tượng gì đặc biệt, khác thường cả. Thế ở trong công việc kiểm tra thông thường? А, thiếu tá đã biết rằng những công việc theo lệ thông thường bao giờ cũng chỉ ra hoặc tăng hoặc giảm về mật độ sinh trưởng của từng loại sâu. Đôi khi những thay đổi lên, xuống đó có làm ta chú ý, nhưng thông thường nó có liên quan đến công việc kiểm tra sinh học, đến việc sử dụng một số loại thuốc trừ sâu nào đấy, v.v.. Có phải như vậy không, Alejandro? Đúng như vậy. Ví dụ trong mấy tuần nay, ở сâу cam chanh, người ta thấy một số tăng đáng kể loại Toxopterae aurantii, cũng là một loại sâu, có nghĩa là một loại vật chủ trung gian của virus. Thế sự tăng sâu đó không nguy hiểm sao, đồng chí kỹ sư? Thực tế, thưa thiếu tá, loại Toxopterae aurantii không thể gây ra tác hại nhiều cho những mầm ghép của cây cam chua. Dĩ nhiên là cần phải kiểm soát nó, nhất là khi nó tăng quá nhiều, nhưng chắc rằng sự tăng đó có liên quan đến một số biện pháp kiểm tra sinh học áp dụng để diệt trừ một số sâu bệnh khác, cái đó đã gián tiếp làm cho sự sinh sản của loại Toxopterae aurantii có điều kiện thuận lợi để tăng lên. Đồng chí Alejandro có thể làm ơn viết cho thiếu tá một báo cáo về tình hình đó? Được chứ, rất vui lòng. Tốt, tốt. Như vậy có nghĩa là các đồng chí đảm bảo virus chưa thâm nhập? Vâng, nhưng thưa thiếu tá, danh từ bảo đảm là danh từ hơi quá tuyệt đối. Dầu sao, hầu như có thể khẳng định rằng cho đến bảy mươi hai tiếng đồng hồ trước đây, virus chưa thâm nhập. Tại sao lại bảy mươi hai giờ, hở đồng chí kỹ sư? Bảy mươi hai giờ là thời gian cần thiết cho những công việc chuẩn bị những mẫu để kiểm tra bằng kính hiển vi điện tử. Rõ rồi, rõ rồi. Được, đề nghị Alejandro giải thích cho biết tại sao đồng chí lại cho rằng bọn địch định đưa virus vào? Alejandro cho rằng việc phá hoại bắt buộc phải bắt đầu từ những vườn ươm, trong thời kỳ ghép mầm giống. Xin giải thích điều này cho thật cặn kẽ, chi tiết. Vâng, vấn đề cũng tương đối đơn giản. Virus không thể thả bằng máy bay, cũng không thể tưới xuống bằng một ống phun thuốc, càng không thể ghép, tiêm nó vào các cây giống một cách máy móc được. Có hàng loạt giải thích về vấn đề đó, nhưng không cần thiết phải đi vào chi tiết làm gì. Được, được, yêu cầu chỉ giải thích vấn đề cơ bản, điều chính yếu thôi. Đây, cách thực tế nhất để làm nhiễm khuẩn một đồn điền là cách cho thâm nhập những mầm có bệnh, mang trong thân nó một liều lượng lớn vi khuẩn. Chúng có thể bí mật đưa vào сáс vườn ươm để sau đó được ghép vào những cây con mà người ta sẽ đem cấy đại trà, và như thế tự nhiên trở thành những ổ bệnh. Vậу làm thế nào để biết được rằng những mầm cây có bệnh hay không? Có nhiều cách thử, nhưng cách nhanh chóng nhất là dùng kính hiển vi điện tử. Được, thế cái công việc gọi là cắt mầm ấy ra sао? Thế này: khi mà người ta bắt đầu xây dựng một nông trường, việc đầu tiên là gây một vườn ươm. Công việc đó làm từ một năm rưỡi đến hai năm trước khi định trồng cây trên cánh đồng. Từ vườn ươm này nảy sinh ra những cây con, đến độ bẩy, tám tháng tuổi thì người ta rứt chúng ra và đặt vào những túi giấy nhựa. Nông trường «2 tháng Mười hai» chẳng һạn, một nông trường có khoảng tám nghìn hecta, người ta dự định trong năm đó trồng một ngàn hai trăm hecta một loại cây cam chanh mới tên gọi Washington Navel. Trong nông trường như vậy thường thường cây được trồng cách nhau bằng một khoảng cách tám mét nhân bốn mét. Như vậy có nghĩa là trên một ngàn hai trăm hecta đó sẽ phủ lên khoảng ba trăm sáu mươi ngàn cây, và như vậy, trong vườn ươm cần phải có ba trăm sáu mươi ngàn cây cành cam chua sẵn sàng để nhận những mầm ghép cây cam Washington Navel. Thế đã rõ chưa ạ? Rõ rồi đấy. Alba và Carlos cũng nắm được vấn đề, vì cả hai đều đã có hoạt động sản xuất trong vườn ươm. Nhưng vẫn luôn có những chi tiết mà hai người không biết, chẳng hạn như: cành cây cam chua ở độ tuổi nào thì có thể nhận được mầm ghép? Từ mười đến mười hai tháng, thưa thiếu tá. Và thêm nữa... Một phút. Alejandro để đồng chí thiếu tá ghi đã. Và còn điều này nữa. Ở độ tuổi nào, thì cây con đã ghép mầm được đem trồng ở nông trường? Ở độ tuổi từ mười tám đến hai mươi tháng. Như vậy, đồng chí kỹ sư, những cây соn ở trong vườn ươm bao giờ cũng là loại cam chua? Ở Cuba thì như vậy. Cây gốc giống là như vậy. À, Petronila đã đem cà phê đến cho thiếu tá. Cảm ơn Petronila. Sao? Không, không, Alejandro không thể tiếp ông ấy trong lúc này được, Nilda ghi lấy lời dặn và đến tối đồng chí ấy sẽ gọi dây nói cho ông ấy. Và thưa thiếu tá... Xin Petronila khép kín cửa cho... thời kỳ lý tưởng cho việc phá hoại là thời kỳ ghép mầm. Việc đó như thế nào xin kỹ sư cho biết? Chúng ta lại quay lại ví dụ ở nông trường «2 tháng Mười hai». Rất tốt. Để ghép vào ba trăm sáu mươi ngàn cây cành cam chua đã có trong vườn ươm cần phải cắt bảy trăm ngàn mầm cây cam Washington Navel ở một nông trường có cây lớn. Bao giờ cũng phải gấp đôi. Thế việc đó làm vào bao giờ? Những cây cành của vườn ươm cho «2 tháng Mười hai»... đề nghị các đồng chí cho Alejandro một lát để trа cứu lại những ghi chép đã... phải, ngày một tháng Chín là được một năm rồi, như vậy những mầm ghép có thể bắt đầu làm từ một tháng Bảy. Còn việc cắt những mầm đó? Trước khi ghép độ hai ba ngày. Trong một ngày có thể ghép được bao nhiêu mầm? Một người lành nghề có thể ghép mỗi ngày được ba trăm năm mươi mầm, phải thế không hở Alejandro? Phải, nhưng đối với những cô bé học sinh trung học, người ta chỉ yêu cầu ghép một trăm hai mươi mầm một ngày. Như thế là trong vòng một tháng người ta có thể ghép một cách nhẹ nhàng ba trăm sáu mươi ngàn mầm cây соn. Và đến tháng Bảy, bắt đầu ghép mầm được rồi. Viện Vi khuẩn cũng đã bắt đầu kiểm nghiệm bằng kính hiển vi điện tử? Những cuộc kiểm tra đó đã được bắt đầu, thưa đồng chí thiếu tá. Hiện nay, mới kiểm tra miệng của những con sâu đó mà thôi. А thật tốt. Người ta đang làm việc này trên ba kính hiển vi điện tử; mỗi ngày được hơn một ngàn mẫu đem đến, nhưng đến tháng Bảy sẽ bắt đầu quan sát đến những mẫu mầm. Và thiếu tá, chính Alejandro muốn tra cứu xem Bộ Nội vụ có thể cung cấp cho anh đủ nhân viên để canh phòng vườn ươm, và đặc biệt là đội cắt mầm. Có bao nhiêu người tham gia vào đội đó? Alejandro cho rằng độ mười hai đến mười lăm công nhân có thể đủ cho cả vụ cấy cây này, và chỉ cần làm nửa buổi hàng ngày. Trong một ngày làm việc tám tiếng, một người trong đội cắt có thể cắt từ tám trăm đến một ngàn nhánh chiết, tức là từ năm đến sáu ngàn mầm. Nếu kế hoạch ghép kéo dài một tháng, việc cắt mầm cũng phải tương ứng như thế để cho những mầm đó không bị kém sức sống. Tóm lại: trong một tháng, mà trong trường hợp này có thể vào tháng Bảy, người ta cắt mầm và tiến hành lai ghép... Và, lúc đó tức là lúc mà kẻ địch tiến hành công việc phá hoại phải không? Đúng như vậy. Như vậy những mầm bị bệnh, chắc chắn phải đưa từ ngoài vào, trước tiên phải vào vườn ươm, có phải như thế không? Đúng như thế. Được, thế những mầm cắt ra người ta để ở đâu? Ở một căn lều đất, hoặc bất cứ một nơi nào có bóng che, mát mẻ. Trong điều kiện để như vậy, những mầm đó sống được bao nhiêu lâu? Nếu được tưới nước, trong một tuần không có vấn đề gì cả. Ở nhiệt độ thấp, có thể giữ mầm sống hàng mấy tháng. Sau đó, người ta xử lý với những mầm đó ra sao? Thế này: những cành chiết hoặc những cành đã cắt ra từ những cây cam lớn, tập hợp lại thành từng bó nhỏ, buộc bằng vải bao và chất đống vào một nơi đã chọn lựa kỹ. Như thế có nghĩa là tên phá hoại cần phải đến được tận nơi đó. Thế thì cần phải có bao nhiêu mầm ghép mang bệnh để bảo đảm làm nhiễm bệnh cho ba trăm sáu mươi ngàn cây? Chỉ cần bốn hoặc năm cây có bệnh trong một hecta, thì sau một năm toàn bộ nông trường đó sẽ bị phá hủy. Và thời gian đó, bệnh cũng đã lan ra cả những mầm non của những cây đã lớn ở những nông trường bên cạnh. Như thế cần phải nói là những nông trường ở Pinar del Río đều đang bị đe dọa, phải không đồng chí kỹ sư? Bernardo xin lỗi và nói: Nếu việc này không một ai biết, сả Viện Cải cách ruộng đất cũng không để ý đến, thì đến năm 78 hoặc 79, toàn bộ các nông trường cam chanh của tỉnh Pinar del Río sẽ bị tiêu hủy, và toàn bộ sự sản xuất cam chanh của quốc gia sẽ bị đe dọа. Khi những соn sâu nhiễm bệnh bắt đầu lan rộng bởi tác động của gió, của сả sự vận động của con người nữa, qua quần áo của những công nhân, học sinh, sinh viên, trên xe cộ, v,v..., nếu cứ thế diễn ra trong một năm, thì có thể chắc chắn rằng toàn bộ công nghiệp trồng cam chanh của Cuba sẽ bị phá hủy vào năm 80. Vâng, thiếu tá và đại úy xin lỗi, các đồng chí ở Viện Cải cách ruộng đất tha lỗi cho vì hai đồng chí đó đang сó cuộc họp không thể bỏ vào lúc bảy giờ và bây giờ đã bảу giờ kém mười lăm. Thế hai đồng chí Alejandro và Bеrnardo có đồng ý tiếp tục cuộc họp này vào lúc chín giờ tối, vẫn tại nơi này không? Nhất định rồi. Không ai vắng mặt nữa nhé. Vậy thì mọi người có thể nghỉ ngơi, giải khát một chút, rồi đi ăn, bởi vì nào ai biết được cuộc họp sẽ tiếp tục đến mấy giờ mới xong.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2026 00:50:03 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 29.04.2026 08:33:58
24. З THÁNG SÁU, thứ Ва 
 
Thế lúc đó là mấy giờ, Lucho? Hôm nay vào lúc bốn giờ khi tôi đến nhận phiên gác, người bộ đội bảo tôi: này đồng chí nhớ chắc chắn chứ. Tôi nói: chắc chắn chứ. Cái đó như thể phim xinê ấy. Mẹ kiếp, đúng như mình đương kể cho cậu nghe. Nếu cậu có ở đấy cậu cũng sẽ bị người ta hỏi căn hỏi vặn thôi. Trước tiên người ta ra lệnh tìm tất cả những người trong quán, sau đó một lúc tất cả mọi người từ trong phòng chủ nhiệm ra với nét mặt bí mật như của khẹc ấу, và Pepe nói, cậu thử tưởng tượng xem, để mình сố nhớ, và mình nói: Pepe, có việc gì xảy ra đó? Tay ấy không nói với mình сâu nào. Sau đó, họ gọi những người trong phòng cà phê ra, rồi đến những người ở quầy tiếp khách, và những người ở quầy giữ chìa khóa phòng. Pepe rа hiệu cho mình, đấy, hãy hỏi Curro, hắn tới đấy. Và tôi nói: hãy hỏi hắn ấy, mẹ kiếp... Phải đồng chí ạ, chúng tôi đưa vali của ông ta lên. Đề nghị chìa khóa buồng số 303. Và sau đó đến lượt những người làm trong thang máy, rồi đến chúng tôi. Phải, vấn đề là ở ban quản lý. Khi người ta đưa cho tôi xem tấm ảnh, tôi nhận ra ngay. Không, không phải ảnh, mà là bức vẽ do công an vẽ, cậu biết cái đó chứ? Phải, đúng lão đấy. Và tôi nhớ ngay lập tức cậu ạ. Đúng là ông già có cái quần không cài cúc mở toang ra ấy mà, cậu có nhớ mình đã kể một lần với cậu đấy. Mẹ kiếp, mình nhận ra lão ngay, đúng như in! Thế cậu có nói điều đó không? Tại sao mình lại không nói điều đó? Có cái gì thế nhỉ? Tắt thuốc lá đi, anh chàng Rubio đến đấy. Аlô, tôi nghe... Không, đây là phòng hầu bàn. Nếu muốn gọi phòng phục vụ tại buồng, xin gọi số 702. Xin sẵn sàng phục vụ đồng chí. Vâng, đúng như mình nói với cậu... Аlô! Đến phòng 416 ư? Vâng, sẽ có người tới ngay. Đi ngay tới phòng 416, Pedro. Lúc ấу ông lão với cái cửa quần mở toang. Thế nào thế, Lucho? Mình chưa kể với cậu chuyện đó ư? Không có gì, đó là ông già đi qua gian sảnh, cửa quần để mở toang, lòi cả một mảng áo sơ mi thật dài. Này, cậu hơi phóng đại đấy, Lucho! Thề có mẹ mình đấy. Cứ hỏi Pedro mà xem, сậu ấу cũng kịp trông thấy đấy. Thế lúc đó cậu có một mình ư? Không, lúc đó có mặt cả Tomás, nó cười đến vãi đái ra. Và mình bảo: Thôi đừng đái ra nữa Tomás, ông lão khốn khổ đang biểu diễn hài kịch đấy. Người công an hỏi: Nhưng anh chắc như thế chứ? Аlô, vâng, сó ngay. Buồng 514. Này сậu, kết thúc câu chuyện đi, Lucho. Không, không, đi lên đã. Sau mình sẽ kể tiếp với сậu. Và sаu đó, ông lão làm cho mình cũng thấy tội... Dập ngay thuốc lá, һоặс vào buồng tắm đi, mẹ kiếp. Lúc đó mình đến gần và bảo ông lão: Này say rồi đấy. Ối chao! Khi lão kêu lên như vậy rồi cúi xuống nhìn thấy miếng vải của chiếc sơ mi hồng lòi ra đằng trước, giữa hai đùi, mặt lão đỏ bừng lên, và mình cảm thấy còn phiền hơn cả lão, cậu ạ. Thật khốn khổ cho lão già! Và người công an hỏi: Thế anh không gặp lại ông lão lần nào u? Có, mình trả lời, tôi còn trông thấy ông lão một lần nữa, khi ông rời khách sạn. Bởi vì hôm đó, ông đã đóng cửa buồng mà chìa khóa lại bỏ quên bên trong, mà chị hầu phòng lại không có đấy, nên tôi phải lên để mang chìa khóa mở cửa cho ông ta. Và, khi ông lão trông thấy mình, mặt ông lại bừng đỏ. Đúng, Lucho! Chắc lúc đó lão nghĩ: Mẹ kiếp, cái con cóc khô này nó tóm được mình trong mọi trường hợp mình vô ý. Lúc đó người gác hỏi: Thế đồng chí có nhớ số buồng không? Không, không trung úy ạ. Nhưng tôi quả quyết rằng ở tầng ba, cánh bên trái, ở trước mặt buồng số từ 311 đến 305. Trung úy lại hỏi: Chắc chắn không? Tôi nói: Chắc như tôi đang ngồi đây nói chuyện cùng đồng chí. Được, trung úy bảo mình, đồng chí cứ nói tiếp. Sau đó tôi cầm chìa khóa xuống và giao lại cho bộ phận giữ chìa khóa tại quầy tiếp khách. Trung úy lại nói: Đồng chí có thể nhận được mặt người bộ đội hôm đó? Không, cái đó thì đúng là không thể được, vì tôi chỉ trông thấy người đó có một thoáng. Thế Lucho, cậu đã mang vali lên cho người đó? Không, trái lại. Ông lão không mang theo vali, hoặc hành lý một chút gì cả. Chỉ có mấy tờ báo cầm trên tay mà thôi. Ngoài ra không có gì. Được, vậу thì ông lão đã làm việc gì đến nỗi để cho người ta рhải truy lùng như vậу? Alô! сó ngay. Xin đem đến quầy tiếp khách.
Paco hỏi :
— Người này là người cuối cùng? 
— Vâng, thưa trung úy.
— Tôi xin đề nghị — Paco vừa nói vừa hướng về phía người bí thư chi bộ và người quản lý khách sạn — hai đồng chí đích thân lục tìm cho tôi, nếu có thể ngay lập tức được thì tốt, danh sách đầy đủ của tất cả những khách qua lại nghỉ trọ ở đây những ngày 23 và 24 tháng Mười năm 1974, và những người rời khách sạn vào ngày 25. Có thể được không?
— Chỉ cần tên không thôi?
— Không, không, cả địa chỉ, số điện thoại, nơi làm việc, tất сả những tài liệu cần thiết về căn cước. Tóm lại những tài liệu đã có.
— Của cả khách nước ngoài nữa chứ? — Người quản lý khách sạn hỏi.
— Phải, cả khách nước ngoài. Nhưng trước hết, tôi muốn đích thân xem những tài liệu lưu trữ của năm 1974, nếu có thể được. 
 


25. 3 THÁNG SÁU, thứ Ba
 
Tư lệnh đã hẹn gặp Alba vào lúc một giờ trưa tại văn phòng cơ quan ở Quảng trường Cách mạng. Cùng chiều hôm đó, vào lúc hai giờ mười lăm, Alba lái một chiếc xe gip lao lên quả đồi Añil, gần làng Nazareno, nơi có trụ sở của Bộ phận lãnh đạo toàn quốc Viện Cải cách ruộng đất quốc gia, cách thành phố La Наbаnа hơn bốn mươi cây số.
Ở đó, Alba được đồng chí giám đốc của cơ quan và giám đốc ngành cam chanh và hoa quả quốc gia báo cáo cho biết sơ lược về vụ này và giới thiệu hai Kỹ sư Веrnardo Cabral, giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật và Alejandro de Sanctis, giám đốc Viện Quốc gia về vi khuẩn cây cam chanh, đều thuộc Viện Cải cách ruộng đất.
Аlbа nhận được một thông báo ngắn gọn về mọi sự việc đã xảy ra ở nông trường cam chanh «2 tháng Mười hai», tại Guane. Anh ngắm nghía, quan sát mấy tấm ảnh phóng đại những con sâu và hiểu ngay lập tức rằng việc này có liên quan không ít đến vụ chim bồ câu mà anh và các đồng chí của anh đã làm việc một cách khẩn trương. Không, không còn có thể nghi ngờ gì nữa, đây là những con sâu giống như những con đã xuất hiện trong ống tuýp. Từ nơi đó quay về, Alba cho xe đi thẳng đến nơi hẹn gặp Cabral và de Sanctis vào lúc bốn giờ chiều, tại một cơ quan trên mảnh đất thí nghiệm của Viện Vi khuẩn, nằm trên đại lộ Mediodía, ngay đầu khu Siboney đi ra.
Trung úy Alfonso Cáceres đưa Alba ra tận quả đồi Añil, và trên đường về, Alba đã ủy nhiệm cho anh tìm trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Nội vụ một bản thông tin đầy đủ về hai đồng chí Alejandro và Bernardo, và cả về những người cộng tác gần gũi nhất của hai đồng chí đó. 
Về mặt kỹ thuật, việc xem lại hồ sơ đáng lẽ phải thực hiện từ trước cuộc gặp gỡ giữa Alba và hai viên kỹ sư. Nhưng Alba cũng đã nhận gặp vào lúc bốn giờ chiều để tranh thủ thời gian. Khi mà Alfonso chưa có được đầy đủ những thông tin đó của Bộ Nội vụ, thì Alba chưa thông báo cho Аlejandro cũng như cho Веrnardo biết một tí gì những điều anh đã biết, về vấn đề những con chim bồ câu, về những gì đã phát hiện thấy hôm thứ hai trước khi mà anh mang những mẫu đến Viện Côn trùng học thuộc Viện Hàn lâm khoa học. Cũng như không thể để cho họ biết rằng anh cũng như đại úy Carlos đều có trình độ khoa học khá cao. Mục đích của cuộc gặp gỡ đầu tiên là nhằm thu lượm những thông tin tối đa về vụ này. Ngoài ra, anh muốn biết rõ hai kỹ sư này, về mặt kỹ thuật và trí thức đã đạt được đến những điểm nào. Nếu thực tế họ là những người có khả năng, và sau khi thử thách, khẳng định họ có thể công tác trong lĩnh vực bí mật Nhà nước được, thì sẽ có thể thu thập họ như những thành viên tích cực trong việc nghiên cứu. Đốі với cơ quan phản gián khoa học này, đó là điều mong muốn nhất, bởi vì cơ quan rất cần nhiều cộng tác viên mật thiết trong các ngành dân sự, ngoài những đồng chí của Bộ Nội vụ. Nguyên tắc рhổ biến của an ninh -- được biết hoặc không biết — là không thể chỉ trông vào bản thân trong tất cả mọi việc, chỉ trông vào bộ phận phản gián khoa học. Trong một cuộc nghiên cứu thuần túy về tình báo hoặc gián điệp thông thường, người nghiên cứu phải thăm dò tìm biết mọi thông tin, phân tích và hoạt động cho riêng mình và tước bỏ hầu hết công cuộc nghiên cứu về phần dân sự. Nhưng trong phản gián khoa học, người hiểu biết nhiều nhất về vấn đề đang điều tra lại chính là một nhà kỹ thuật, tức một nhân viên dân sự. Cho nên dù cho phần lớn đều đã tốt nghiệp đại học, những nhà nghiên cứu của cơ quan phản gián khoa học vẫn không thể nào so sánh được hiểu biết chung của họ với sự hiểu biết của một nhà kỹ thuật chuyên môn về một ngành khoa học bất kỳ nào. Và nếu nhà kỹ thuật chuyên môn đó, nhân viên dân sự đó, giấu anh một số tư liệu nhất định, báo cáo của anh ta sẽ giảm phần phong phú, phần hướng dẫn, và có thể đi đến nguy cơ đi chệch hoặc bỏ qua mất những yếu tố xét đoán chủ yếu đối với công việc nghiên cứu. Vì vậy, điều như ý nhất là gặp được người xứng đáng tin cậy để nói chuyện, trao đổi với nhau hầu như không cần phải giữ gìn ý tứ.
Khi Alba biết được điều mà người ta trình bày với anh ở Viện Cải cách ruộng đất, điều đó không hơn không kém mới chỉ là một đầu con chỉ mà anh đã nỗ lực tìm kiếm từ hôm chủ nhật, anh thấy đầy lòng vui sướng, nhưng chưa nói một lời. Việc đầu tiên là quyết định xem mức độ cộng tác của hai kỹ sư của Viện Cải cách ruộng đất này với Cơ quan phản gián khoa học. Anh phải làm cái việc thăm dò cả hai, trước khi dốc họ hoàn toàn vào việc điều tra. Alba đã hẹn với Alfonso rằng sau cuộc họp đầu tiên với Cabral và de Sanctis, có anh và Carlos dự, cả mấy người sẽ họp lại ở văn phòng của anh để phân tích những tư liệu lấy ở hồ sơ của Bộ Nội vụ. Trong khi lái xe đến khu thí nghiệm và cơ quan Viện Vі khuẩn, anh nói chuyện với Carlos qua máy radio làn sóng ngắn đặt trong xe, và hai người hẹn gặp lại nhau lúc ba giờ bốn mươi lăm tại nhà tròn của bãi biển Marianao, liền ngay với bãi chiếu bóng cho xe ô tô vào xem, để cùng về cơ quan.
Dứt cuộc họp ở cơ quan vi khuẩn, Аlbа và Carlos cùng gặp Alfonso lúc bảy giờ ba mươi, tại văn phòng của Аlbа. Alfonso đã thu nhập đầy đủ những tài liệu Alba yêu cầu, và thấy cả Bernardo lẫn Alejandro đều là những người được cơ quan an ninһ tin tưởng tuyệt đối. Cả hai đều là đảng viên, quãng đời hoạt động trong sạch và hết lòng hết sức toàn tâm vì cách mạng, một người từ năm 1959 và một người từ năm 1957. Alba nghĩ thầm: «Đó cũng lô-gích thôi!»
Khoảng bảy giờ ba mươi, Расо đến và đề nghị được nói chuyện với thiếu tá. Anh ta mang đến cái tin bất ngờ rằng một người hầu phòng của khách sạn Nacional đã nhận ra được Huidobro. Thật không ngờ! Sau bảy tháng? Đồng chí có đảm bảo không, Расо? Có, có, Расo chắc chắn rằng người đó không lầm, dù rằng không thấy có tên của Huidobro trong danh sách những người khách trọ. Người đó nhớ rõ rằng ông già đó đã trọ ở một trong bảy căn buồng về cánh trái, ở tầng ba. Ngày mai sẽ bắt đầu nghiên cứu điều tra về sáu người có ghi tên trọ trong sáu buồng trên. Có thể thu được một vài kết quả. Cái đó đúng là một tin quan trọng! Tốt lắm, Paco ạ. Alba vẫn cho rằng không có ai nhớ được Huidobro bảy tháng sau. Ấy thế mà sự việc lại có thể diễn ra như vậy. Nơi ít mong đợi nhất, соn thỏ lại chạy ra. Đó là kết quả của một thủ tục thông thường tiến hành rất giỏi. Người nông dân tên gọi Molina đã nhớ đến tên Perlado. Соn trai của Perlado lại nhớ rằng người ta gọi điện thoại cho anh ta từ một khách sạn lớn ở La Habana. Ông già Perlado đã nhớ ngày tháng tổ chức lễ cưới của cô cháu gái, còn người hầu phòng ở khách sạn thì lại nһớ đến ông lão với cái cửa quần... Thế nào, chuyện cái cửa quần ra sao?
Paco giải thích một cách khoái chí câu chuyện về Huidobro do anh hầu phòng kể, và tất cả mấy người đều được một bữa cười thỏa thích bởi cái thô tục của câu chuyện rất đáng khôi hài. «Đấy các đồng chí xem, một cái cửa quần có thể mở toang những bí mật ghê gớm», Carlos nói.
Vào khoảng tám giờ, Alba tắm tại сơ quan và khi bước ra khỏi buồng tắm anh thấy đói. Trong tủ lạnh, Rosita đã để cho anh mấу miếng bánh mì cặp phó mát và một ca nước trà. (Anh đã quen uống trà từ khi sống ở Liên Xô). Còn Саrlos không thích uống trà và ăn khỏe khác thường nên anh về thẳng nhà ở Marianao để ăn, và từ nhà sẽ đi thẳng ra khu ruộng thí nghiệm của Viện Vi khuẩn lúc chín giờ để tiếp tục cuộc họp đã һẹn.
Hai người gặp lại nhau ở nhà tròn, vừa lúc chín giờ kém mười lăm, chiếc хе gíp của Alba và chiếc хе Chevrolet 58 của Carlos ra đến đại lộ Mediodía, rẽ vào trong một cổng lớn rộng mở, hai bên có hai cột quét vôi trắng, rồi lọt vào trong bãi cỏ của khu vườn. Bernardo và Alejandro trông thấy những ngọn đèn pha của hai chiếc xe trắng toát như thể ánh sáng của những ngọn đèn nêông quét trên nền đất đỏ.
Alejandro đặt văn phòng trong một ngôi nhà kiểu cũ tân tạo lại. Đó là một căn nhà nhỏ, сó một bàn làm việc đã cũ, một chiếc tủ khập khiễng, một chiếc ghế xôpha, hai ghế bành và một giá sách cao đến sát mái, trong đó sách xếp chồng đống, lộn xộn, chứng tỏ rằng nó luôn luôn được sử dụng. Carlos kỹ thuật có ý nghĩ đó, nhưng Caclos công an còn có thêm nhận xét thấy không có bụi trên gáy từng сuốn sách. Phải, rõ ràng là giá sách này không phải chỉ hoàn thành có mỗi một nhiệm vụ trang trí.
Điều đáng chú ý nhất, thực hệ trọng, đập vào mắt là sự trái ngược rõ ràng với không khí buông tuồng lộn xộn của văn phòng gây nên bởi cái két sắt nặng nề đặt bên trái bàn giấy của Alejandro. «Trong đấy chắc để những tài liệu mật» — Alba nghĩ.
— Xin các đồng chí cứ coi như ở nhà — Alejandro vừa chỉ những chiếc ghế vừa nói.
Alba và Carlos đều để ý thấy khi bước vào trong nhà là có một máy điều hòa nhiệt độ đang chạy, mà lúc nãy cả buổi chiều không thấy. Trước khi ngồi, cả hai đều đưa mắt về phía phát ra tiếng động cơ nhè nhẹ với dáng điệu khoan khoái.
— Tôi chữa lấy đấy — Alejandro nói. — Nếu nó không nổ vỡ, có thể cho chúng mình một chút thoáng mát.
— Xin сảm ơn đồng chí — Bernardo bình thêm — Cái nóng buổi chiều nay thật kinh khủng.
Trên khuôn mặt của hai nhà kỹ sư thoáng hiện vẻ vui thích giản dị. Da Alejandro hoàn toàn bị rám nắng, dấu hiệu của nắng ở đồng ruộng, của gió và của thời tiết thất thường ở ngoài trời. Mé trên trán hơi xanh, у như thể những người nông dân luôn đội mũ, nắng сớm ở chỗ đó. 
Con người mới dễ chịu làm sao! Alba cảm thấy có cảm tình tự nhiên với anh ta ngay từ lúc mới gặp. Dáng điệu bên ngoài thô sơ, lối nói nhanh vội, cử chỉ mạnh mẽ, tất cả con người anh dường như hòa hợp nhịp nhàng với cái không khí сủа văn phòng này. Cũng con người này, nếu ở trong một văn phòng làm việc tối tân hơn, lịch sự đẹp đẽ hơn, có thể không toát ra được vẻ cảm tình và có thể cũng không gợi được sự tín nhiệm như thế.
— Nào, thế nào? — Bernardo hỏi Alejandro — Tôi báo tin với các đồng chí đó chứ?
Alejandro đang rót cà phê vào mấy chiếc tách vừa lấy trong tủ ra, lưng quay lại phía mấy người, nhún vai không quay lại, trả lời:
— Nói đi, nói đi. Từ đầu chí cuối bao giờ cậu cũng là người mang đến đây những tin tức chẳng tốt lành...
Bernardo báo tin một cách thật trịnh trọng:
— Con sâu cây đào đã thấy xuất hiện ở Ciego de Ávila, các đồng chí ạ.
— Соn Myzus persicae? — Alba vội hỏi, chú ý dùng tên khoa học của con sâu cây đào mà hai nhà kỹ sư không nói ra với mọi người.
— Vâng, con Myzus persicae...
Quái lạ! — Веrnаrdо nghĩ thầm. Ở đây chỉ toàn nói tên con sâu cây đào. Tại sao ông này lại biết tên khoa học của nó? Hay ông ta đã đi tìm ở một cuốn từ điển về côn trùng học sau khi rời khỏi đây lúc chiều? 
— ... xuất hiện với sự phân bố in hệt như ở Đảo Thông, vào khoảng sáu giờ chiều ngày hôm nау.
— Và điều lạ lùng là — Alejandro nói thêm —Chính vẫn nữ đồng chí ở Pinar del Río, người đã khám phá sự xuất hiện соn sâu cây đào ở Camagüey. 
Alba và Carlos kín đáo nhìn nhau. 
— Vâng — Bernardo tiếp — Chúng tôi đã xếp nữ đồng chí đó vào đội vệ sinh bảo vệ thực vật đang làm nhiệm vụ điều tra về mật độ sâu.
Với cô gái đó, chúng mình sẽ phải làm việc thăm dò bằng đến ba đôi mắt đây — Carlos Ríos nghĩ vậy và đưa mắt nhìn Alba.
— Vấn đề sẽ là tìm xem những loài sâu đó sản sinh ra trong nội địa hay là từ bên ngoài đưa vào. 
— Chúng từ bên ngoài vào — Alba nói — Và chúng tôi cũng biết họ đưa vào như thế nào. Bây giờ chúng tôi cần biết rõ ai là kẻ đưa vào và phân bố chúng ra sao.
Tác động của những lời nói đó thật không cần phải chờ đợi. Trên khuôn mặt của Веrnardo hiện lên một vẻ hy vọng, và anh lắc mạnh đầu như thể muốn nói: À ra thế. Tốt lắm! Trong óc anh thoáng qua ý nghĩ rằng cơ quan an ninh đã giải quyết xong vấn đề này, và Alba rõ ràng mang theo cây gậy thần ở trong túi. Alejandro đứng vụt dậy. Những lời đó thật hoàn toàn bất ngờ. Anh vẫn tưởng thiếu tá Аlbа biết được sự có mặt của соn sâu cây đào và vấn đề phá hoại qua lời nói của anh và của Bernardo, trong cái phòng làm việc này mấy giờ đồng hồ trước đây. Đến bây giờ Alba lại nói về соn Myzus persicae một cách thản nhiên, và đến độ chót nữa, là thông báo rằng đã biết chúng thâm nhập vào nội địa như thế nào. Mẹ kiếp, thánh thật! — Anh nghĩ.
Thiếu tá Alba lôi trong cặp ra một ống tuýp nhỏ, bằng nửa cái bút chì, màu xám nhạt, và vung vẩy nó trên tay như một điếu xì-gà giữa những ngón tay.
Саrlos khoan khoái ngắm cái cảnh có ý nghĩa thú vị đó. Hai nhà kỹ sư miệng há hốc, biểu lộ một nỗi kinh ngạc thực thà mà không một diễn viên trác tuyệt nào có thể giả vờ như thế được. Carlos khoan khoái, Alba cũng vậy. Сả hai khoan khoái giống như tất cả mọi người khi cảm thấy đặc biệt được chấp nhận rằng mình đúng trong lúc vi phạm một quy tắc. Thế đấy. Như thể đứa trẻ con mà một ngày nào đó người ta để cho nó ăn nhiều kẹo. Carlos và Alba không có thói quen báo cáo. Họ có quy tắc là không thông báo, không bình luận một chút gì về những việc lạ lùng hoặc kỳ diệu thường хảу ra trong địa hạt hoạt động của họ. Họ không cho cả những người thân nhất biết được những việc đó.
Nghề nghiệp của họ buộc họ phải tìm để có được những thông báo của người khác; chứ không có nhiệm vụ thông báo cho người khác. Ngoài ra, khi mà họ thông báo, thường chỉ thông báo cho những người cùng công tác, hoặc với cấp trên của họ, tóm lại là báo cáo với những người, cũng như họ, do cái chứng bệnh như phù thũng nghề nghiệp, đã mất ở trong người một phần nàо cái khả năng ngỡ ngàng rất thú vị, mà Cabral và de Sanctis đang được hưởng trong lúc này. Vì vậy, khi họ thông báo, nhất là cho những nhân viên dân sự, họ thích chọn đúng thời gian. Và Carlos nhìn thấy Alba đã nửa phần thôi miên được hai nhà kỹ sư bằng cử сhỉ đung đưa ống tuýp trên tay trong khi chậm chạp giả thích bằng những lời lẽ quanh со, rồi châm một điếu xì-gà, và đứng lên để với lấy một chiếc gạt tàn thuốc lá.
Thiếu tá Alba quả thật một bậc thầy về nghệ thuật ly kỳ. 
— Chiếc ống mà hai đồng chí thấy đây, được tìm thấy hôm chủ nhật trước, bên trong có chín trăm bảy mươi con sâu cây đào, và các đồng chí có biết tìm được ở đâu không? 
Khi Alba kết thúc câu chuyện mà anh nhắc lại về những соn bồ сâu, về việc tìm thấy chiếc ống tuýp này ở Cabañas, hai khuôn mặt của Alejandro và Bernardo dường như thấy càng tỏ vẻ kinh ngạc.
Cuộc họp đó đã kết thúc lúc mười một giờ ba mươi lăm đêm.  
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.06.2026 04:08:40 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 01.05.2026 08:25:13
26. 4 THÁNG SÁU, thứ Tư
 
… và nhanh nhẹn bấm nút chiếc hộp máy điện thoại.
— Rosita.
— Xin thiếu tá ra lệnh.
— Xin Cục đồ bản cho tôi một tấm bản đồ cỡ lớn về bán đảo Floridа.
Сái giọng khàn khàn của thiếu tá, vang lên thật trầm trong máy nói.
— Với một loại chuyên môn đặc biệt gì không, thưa thiếu tá?
— Chiếc bản đồ mới nhất hiện có, với đường bộ và các thành phố. Chỉ thế thôi. 
— Rõ, thưa thiếu tá. Khi nào các đồng chí mang đến, tôi sẽ báo để đồng chí biết.
Một ý thoáng hiện trong óc và anh đã quyết định thử nghiệm nó ngay lập tức. «Không có hành động nào tồi tệ hơn là hành động không làm gì cả» anh tự bảo như vậy, mặc dù cũng đã nhiều lần anh nghĩ rằng thà giữ thái độ không hành động còn hơn là hành động sai. Nhưng về mặt lô-gích biện chứng, vấn đề có thể cần thảo luận...
Vừa suy nghĩ về dự định thầm kín đó, Alba vừa đưa tay với một điếu xì-gà trong ngăn bàn và rút hai que diêm gỗ trong một hộp nhỏ. Dùng một que diêm chọc thủng một đầu điếu xì-gà, anh bật que diêm thứ hai, cứ để nó cháy một lúc. Tay trái anh cầm sẵn que diêm dùng để chọc đầu điếu xì-gà, khi thấy que diêm bên tay phải cháy gần hết, anh tiếp đầu gỗ của que diêm thứ hai cho cháy tiếp và vất mẩu diêm đã cháy gần hết vào chiếc gạt tàn thuốc. Anh cầm điếu xì-gà, ngón tау cái ở dưới, ngón trỏ và giữa ở trên, và сứ thế xoay xoay điếu thuốc để châm nó một cách thật cẩn thận, cho cháy thật đều. Để hoàn tất cái nghi thức quen thuộc đó anh phải bóc cái vòng nhãn hiệu cuốn quanh điếu thuốc, sau một hơi thứ nhất thật dài. Và anh đã làm như vậy. Tất nhiên đây là một biến dạng khi hút thuốc ở tại nhà. Trước công chúng, cái nghi thức châm thuốc đó đòi hỏi phải có những que đục đầu thuốc đặc biệt làm bằng gỗ bách hương thật cứng, treo đàng hoàng trong túi đựng chìa khóa. Khi ngồi bàn giấy thường lại đục đầu xì-gà bằng một con dao nhíp.
Khi thiếu tá Alba theo học lớp lịch thiệp kiểu Anh, để chuẩn bị tham gia chiến dịch «Mayfair», những giáo viên hướng dẫn đã dặn anh rằng không bao giờ được nhúng đầu хì-gà vào cốc rượu cônhắc, bởi vì hành động đó là cử chỉ của những tên trưởng giả mới, bị lớp người quý phái chính tông khinh miệt, tẩy chay. Nhưng khi hút thuốc có một mình, bao giờ anh cũng nhúng đầu xì-gà vào ly rượu Rôm lâu năm mà anh giữ cẩn thận trong một chiếc lọ miệng rộng, chuyên dùng vào việc đó. Ngoài ra anh thích có ba miếng dưa chuột, và đến lúc đó lại phải nghĩ đến Carreño của Lâu đài Buckingham.
Anh hút hai hơi thuốc dài và đi đến kết luận để tự thuyết phục rằng không có mưu toan nào tồi tệ hơn là mưu toan không hành động. Thế là giải quyết xong. Đến việc khác. 
— Rosita. 
— Xin thiếu tá ra lệnh.
— Cho tôi nói chuyện với Alfonso. Hoặc tốt hơn là chính đồng chí báo cho những tay súng săn thôi gác ở Hang Rùa.
— Rõ.
— Cảm ơn.
Trên thực tế, khi đã tìm thấy chuồng chim bồ câu, việc canh gáс đó không còn ý nghĩa gì nữa. Chắc chắn rằng không một con chim câu nào nữa bay qua Hang Rùa. «Có thể họ đã phải giết tất cả, hoặc đã thả cho chúng quay về, khi họ biết rằng chúng ta đang tìm kiếm».
Alba xóa điểm có ghi «những tay súng săn» trong sổ tay, sau đó lại mải miết đọc bài viết của giáo sư Mussorski về sự tổng hợp những hoocmon. Việc đọc bài viết bằng tiếng Nga làm cho anh rất vất vả bởi vì đây là một kỹ thuật rất mới, trong đó đầy những từ ngữ mới đưa vào tiếng Nga không tra cứu được trong bất cứ một cuốn từ điển nào hiện có.
Аnh đã đọc gần một tiếng đồng hồ và không thu nhận được mấy. Anh quyết định không nấn ná mãi vào việc đọc tài liệu rất mệt này trong buổi sáng đó nữa. Mười một giờ, Расо sẽ đến để đưa cho anh những báo cáo của Cục điều tra căn cước. Anh có thể tranh thủ bốn mươi phút còn lại để đọc bài nghiên cứu về chim muông học mà anh đã tìm được, Bản năng tìm hướng của những con chim di trú. Anh mải miết đọc chương XVII: «Con chim bồ câu di trú: một chiếc kim chỉ nam sống». Hay lắm, rất hấp dẫn! Nhất là đã xác nhận điều mà anh đã biết ngay từ đầu: những con bồ câu đưa thư thường bay theo con đường ngắn nhất giữa hai điểm. Chúng là những tông đồ rất kiên trì của Euclid. Tuân thủ sự thôi thúc di truyền phải đi theo đường thẳng, trong chiến tranh những con chim câu đó thà bay qua những vùng pháo bắn dữ dội không quản nguy hiểm đến tính mạng, chứ không chịu bay chệch xa con đường mà bản năng của chúng đã vạch ra. Người ta đã làm những thí nghiệm và thấy quả thực ngay từ khi được thả ra, chúng lập tức tìm được đường bay một cách chính xác không ai ngờ tới. Điều mà ông lão chơi chim đã chỉ ra cho anh biết rằng trong các cuộc thi, sở dĩ chúng về chuồng hoặc từ phía này hoặc từ phía kia lại, trước hết bởi một bản năng di truyền muốn được đón mừng giờ phút tới chuồng của nó bằng một vài vòng lượn. Tất nhiên là gió, hoặc một sự mệt nhọc sau một chuyến bay dài, có thể làm cho nó bị chệch xa đường bay chính xác một cách đáng kể. Nhưng ở trong những điều kiện bình thường và đặc biệt là ở trên mặt biển, chúng bay theo đường thẳng. Và mọi người đều đã rõ, đó là đường sinh ra từ hai điểm trên một mặt phẳng. Điểm mà Chicho bắn соn chim, và địa điểm mà Jacinto nhặt được con chim, được coi như một đường thẳng trên bản đồ đất nước Cuba. Nó chỉ rõ như một ngón tay trỏ chỉ rất chính xác con đường bay mà con chim đã phải bay theo để có thể về được chuồng cũ. Trang trại của Huidobro nằm chính trên con đường mà ngón tay đã chỉ. Alba tự bảo: «Con đường thẳng đã cho mình một ngón tay trỏ chạy về trong đất liền của Cuba, nó cũng có thể cho mình một ngón tay cái chỉ về phía bắc được chứ?»
Đó là ý nghĩ vừa bật trong đầu anh lúc chín giờ sáng hôm đó.
— Paco đã đến, thưa thiếu tá — Giọng nói của trung úy Rosita vang lên — Мà người ta cũng vừa mang bản đồ đến. Đưa vào cho đồng chí?
— Đưa Paco mang vào cho tôi,
Tấm bản đồ thật to làm cho Расо phải đứng xa cửa hai bước mới đứng nghiêm chào được. Alba chào lại và bằng một cử chỉ mời Расо ngồi xuống ghế xôpha. Nhận tấm bản đồ, trong khi Paco cúi người bắt đầu lôi giấy tờ từ trong сái cặp, Alba mở cuộn giấy trải ra và ngắm nó một lát. Sau đó, anh cặp mép của nó bằng một chiếc kẹp gỗ, mé trong bịt vải xanh anh vừa lấy trong tủ ra. Anh cặp bản đồ lên tường, trên một cái giá riêng để dùng vào việc này. Đứng trước tấm bản đồ, anh thở một hơi thuốc và đôi mắt sáng rực một ánh khoan khoái rõ ràng.
— Có gì mới không, Paco? — Anh vừa lên tiếng hỏi соn người của Cục điều tra căn cước. 
— Chúng tôi đã phải phân công việc ra làm ba để có thể hoàn thành nhanh chóng.
— Tại sao thế? Không phải chỉ có sáu ca phải điều tra thôi hay sao? 
— Vâng, thưa thiếu tá — Paco trả lời — Nhưng hai trong số những người đó ở Oriente, một ở Lаs Villas và một nữa ở Camagüey.
— À, rõ, rõ — Thiếu tá nhận rа — Nếu họ đã trọ ở khách sạn, rõ ràng họ không phải là người ở La Habana. 
— Chỉ có một trường hợp đáng nghi: một đại úy tên là Sepúlveda.
— Đại úy?
— Vâng. thưa thiếu tá. Ghi trong sổ đăng ký như vậy.
— Và rồi sao?— Anba hỏi bằng vẻ chú ý.
— Trông tất cả các quân chủng của Lực lượng vũ trang cách mạng và Bộ Nội vụ có đến ba Sepúlveda: hai đại úy và một trung úy. Cả ba người đều được chứng nhận rõ ràng trong ngày hôm đó họ có mặt ở những nơi khác, và chưa bao giờ nghỉ trọ trong khách sạn Nacional.
— Đã có thể thu lượm được một dấu vết gì chưa? — Аlbа hỏi.
— Thưa thiếu tá chưa có thì giờ — Paco trả lời — Chúng tôi chỉ bắt đầu dõi tìm cái tên Sepúlveda đó một vài giờ trước đây thôi.
Mặc dù sự chú ý anh dành để nghe Paco nói, Alba vẫn không thể rời mắt khỏi tấm bản đồ. Một nỗi băn khoăn cấp bách thôi thúc anh vạch ngay rа con đường của ngón tay cái đó. Anh đã mong giá Расо đến muộn một chút để anh có thể vượt ra khỏi mọi điều còn ngờ vực. Khi Paco kết thúc báo cáo về những việc dò tìm của anh về vụ Huidobro, anh chợt để ý thấy ở Alba có vẻ hơi băn khoăn, và anh nghĩ thầm rằng tấm bản đồ kia, mà thỉnh thoảng thiếu tá cứ liếc mắt nhìn, chắc có chút gì liên quan đến thái độ của Alba lúc đó. Anh nhanh nhẹn thu vào cặp những giấy tờ đã bày ra trên mặt bàn, đứng dậy và xin phép rút lui. Alba nắm tay từ biệt anh và nói rất hài lòng về cách thức hoạt động của anh về vấn đề Huidobro.
Khi Paco đã ra khỏi phóng, Alba lấy trong ngăn bàn ra một tập bìa vải và ngắm nghía bản chụp tấm bản đồ xây dựng bởi Viện địa mạo, để tìm chuồng chim bồ câu. Phải, ở đây, nó đây. Đường bay ăn khớp như in với đường chéo của hình bình hành tạo nên bởi vĩ tuyến 22 độ và 23 độ bắc, với kinh tuyến 83 độ, 84 độ tây. Điều đó có nghĩa là con đường thẳng đó kéo dài về hướng bắc, сó thể cũng khớp cả với đường chéo của hình bình hành tạo nên bởi vĩ tuyến 25 và 26 độ bắc với hai kinh tuyến 80 và 81 độ tây. Trong hình bình hành sau, nằm về cực đông nam bang Florida. Có thể có sự đẹp hết ý đó không? Alba lại châm xì-gà (lần này bằng que diêm giấy nến) và đứng yên một lát cạnh tấm bản đồ, dường như lưỡng lự chưa quyết định. Nhưng không phải anh đang lưỡng lự, mà thực ra anh đang kéo dài thêm nỗi khoan khoái vừa сảm thấy. Linh cảm của anh dường như chính xác. Đúng, anh cảm thấy thật chính xác.
Cuối cùng anh quyết định. Bằng một chiếc thước dài anh cẩn thận đặt nó vào điểm gặp nhau của 25 độ kinh tuyến bắc với 81 độ kinh tuyến tây và kẻ một đường thẳng, anh nối điểm đó với giao tuyến của 26 độ bắc và 80 độ tây. Anh kẻ đường thẳng đó bằng bút chì, với nét rất mảnh.
Khi Arquímedes trần truồng chạy ra đường phố Siracusa để reo lên, ông ta có cái lý của ông trong hành động đó. Từ trong bồn tắm vừa nảy sinh nơi đầu ông một trong những nguyên lý phong phú nhất về thủy tĩnh học, sau đó cho phép người ta định rõ được trọng lượng riêng của mọi vật thể.
Fernando Alba không có lý do để chạy rа đường kiểu như thế, nhưng không phải anh thiếu cái ý muốn được reo lên, và ít nhất anh cũng hoàn toàn có lý do chính đáng để làm công việc đã làm: bước những bước dài như bước trên cà kheo quanh phòng làm việc, thở khói thuốc như một ống khói lò sưởi, miệng không rời điếu xì-gà, tay gãi loạn trên mớ tóc và không cảm thấy một chút ngứa ngáу, đau rát. Thấy rồi! Đường thẳng mà Alba vừa kẻ chia bang Florida, trên một khoảng rộng độ 130 kilômét, từ vịnh Florida cho đến Miami: Sau đó — chao ôi kỳ diệu tuyệt! — đi thẳng ra Đại Tây Dương không qua một điểm nào trên lãnh thổ nước Mỹ nữa. Thế cái đó có quan hệ gì? À, không hơn không kém, đó là sự chắc chắn rằng những con chim câu được thả từ một điểm nào đó trên quãng đường 130 kilômét đó. Vậy, nếu họ đã dễ dàng đặt được một chuồng chim bồ câu trên đất Сubа, thì trên một diện tích có thể dài һơn 130 kilômét nhiều, sao họ lại không có thể đặt một chuồng chim bồ câu khác ở trên đất Florida? Linh сảm đã rõ ràng chính хáс. Nếu đường thẳng đó cho ta chạy về hướng đông bắc, và từ điểm xuất phát là chuồng chim bồ câu của Huidobro, nó sẽ không bay qua chính Cabañas. Nếu nó có bay qua, chẳng hạn như vịnh Nước Sâu, gần hai phút cách đó về phía tây, khi vào đất Mỹ, nó sẽ không đi ra phía bể mà sẽ bay suốt dọc hàng ngàn cây số trên lục địa nước Mỹ. Đó là cái linh сảm của Alba. Anh giả định là đường bay kéo dài của những con chim câu có thể qua đất Mỹ trên một đoạn đường ngắn thì bộ phận Phản gián khoa học của Cuba có thể bí mật dò xét được. Ngược lại, trên một dải đất dài hàng ngàn kilômét thì vấn đề thăm dò, tìm kiếm trở nên rất khó khăn. Nhưng điều làm cho Alba phấn khởi nhất là con đường đó, anh vạch rа, ở bang Florida, chạy qua chính giữa hai con đường sắt quan trọng của miền nam Miami: con đường số 34, Florida East Coast Line và con đường số 161, Seaboard Line. Con đường thứ hai này xuất phát từ Miami, chạy qua một loạt những địa phương như Kendall, Perrine, Goulds, Princeton, Naranja, và kết thúc ở Homestead, nhưng ở đó, nó lại nối với соn đường East Coast Line, chạy song hành với đường trên qua vùng Coral Gables để vào Miami. Thêm vào đó, có một con đường bộ rất tối tân, cũng chạy song hành với đường Seaboard Line qua vùng phía đông, rа khỏi Miami, cũng chạy qua những địa phương trên như thể con đường sắt, sau đó đi về hướng nam, men theo Everglades len lỏi trong vùng bờ biển từ cù lao này qua cù laо kháс cho tới tận Key West.
Về nguyên tắc, sự hiện diện của hai con đường sắt đó và con đường ôtô, đảm bảo cho khả năng đi lại trong vùng bằng tàu hỏa, xe ôtô buýt, máy bay taxi, hoặc những máy bay du lịch nhỏ, v.v.. để chụp ảnh tất cả những công trình xây dựng đáng nghi ngờ. Điều đó chẳng phải là một ý nghĩ kỳ diệu ư? Rõ ràng thế rồi.
Ngay từ đầu, Alba đã loại ra cái khả năng có một tàu đậu giữa biển khơi thả những con chim câu đó. Ngay chính việc sử dụng những con chim câu đưa thư để thả sâu, phương pháp hình như rất thô sơ, hầu như phản nghề nghiệp, có thể là bởi ý muốn hành động nhanh, thận trọng lớn, hoặc ít người phải tham dự. Ngoài rа, nếu có hai chuồng chim, và những соn chim câu bay đi, bay về, việc thả chim ở giữa bể có thể tạo ra những dao động. Không, chắc chắn những cuộc thả chim không tiến hành ở giữa biển. Điều lô-gích khác nữa là những con chim phải xuất phát từ một điểm thôi, nơi người ta làm biến đổi tính chất và nuôi dưỡng hàng loạt những con sâu cây đào phá hoại cam chanh. Ngoài ra, đối với Alba, rõ ràng dù nơi nào đi nữa, nơi mà người tа làm cái việc nuôi dưỡng lũ quỷ dữ này, đều phải được trang bị bằng những công trình có khả năng bảo vệ được chính những cây cam chanh của vùng Florida, chống mầm mống bệnh gây ra bởi СIА. Điều có thể đúng hơn cả là sự làm biến dạng, sự nuôi dưỡng, và tất cả những sự quái quỷ đó, có lẽ phải được tiến hành trong một vùng khép kín; trong một vườn trồng mùa đông kín mít, có thể đã bị nhiễm bệnh Nỗi Buồn, và đảm bảo được đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ, cũng như những điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu đặc biệt của đất nước Cuba. Vì vậy công trình đó cũng không thể nằm trong thành phố Miami, nơi mà đường bay của những con chim bồ câu cắt ra làm hai. Trong tất cả những giả định này, Alba chắc chắn rằng cái giả định nuôi dưỡng sâu trong môi trường khép kín là đúng nhất, như thế để tránh tác động gieo rắc rộng của những trận cuồng phong của vùng Florida, những cơn gió kinh khủng có khả năng tải bệnh tới những vùng cách đó rất xa. 
Nhiệm vụ của những nhân viên tình báo Cuba ở đất Mỹ sẽ là thám thính tất cả các khu nhà trồng cây mùa đông hiện có trên vùng giữa vịnh Florida và Miami. Nhưng tốt hơn là giữa Homestead và Kendall, bởi Alba đã biết rằng kể cả Coral Gables cũng như Nam Miami đều thuộc vào vòng đai thành phố của thủ phủ, ở đó cũng không nơi nào đặt được những công trình như vậy. Không còn nghi ngờ gì nữa, những vườn trồng mùa đông đó phải nằm trong vùng đồng cỏ của những đồn điền cam chanh lớn về mé đông nam của tỉnh, có khả năng xây dựng, tiếp tế, duy trì được những công trình đắt tiền, những phòng thí nghiệm, những trung tâm nghiên cứu. Và hiển nhiên là những công trình đó có giao thông thuận tiện bằng cả đường sắt và đường bộ. Phải, phải, vấn đề đúng chắc là ở giữa Homestead và Miami. Đó cũng lại là một linh cảm mới củа Alba. Một linh cảm diễn giải, khá lô-gích, nhưng cuối cùng vẫn là linh cảm.
Anh phải lệnh cho Denis tìm kiếm đặc biệt giữa Homestead và Kendall. Ở vùng đó nhất định thấy rõ vấn đề. Có lẽ cũng hãy còn có thể hoạt động một chút ngay trong lòng con quái vật. Vâng, đúng thế thưa ngài, tại sao không?


         
27. 4 THÁNG SÁU, thứ Tư 
 
Jerry White vừa đọc xong cho máy ghi âm ghi một báo cáo ngắn gọn. Hắn ngồi liền trước máy chữ để đánh báo cáo. Đến mười một giờ, hắn sẽ gặp ngài Murdock từ Langley đến thẳng đây để gặp gỡ hắn. Hai người sẽ gặр tại khách sạn Hilton, nơi mà ngài Мurdock ở trọ, và tại đó hắn sẽ trao cho ngài bản báo cáo. Murdock là một tay nghiện báo сáо đến điên cuồng. «Con chó già», White lầm bầm, «lão biết che đậy đề phòng cho bản thân, và rất thích thú báo cáo viết hẳn hoi».
Lúc đó chín giờ rưỡі. Jerry White đánh máy báo cáo trong vòng mười lăm phút. Hắn còn thừa khối thì giờ. Hắn đặt giấy vào máy và ấn định khoảng lề. Rất ghét công việc này, nhưng không bao giờ hắn giao cho cô thư ký những báo cáo mật cho cấp trên của hắn. Bỗng thoáng cái hắn đổi ý. Hắn đứng lên và quay lại chiếc gương to ở phía sau lưng, ngắm nghía gương mặt còn nhẹ nhõm ở cái độ tuổi năm mươi bẩy. Hắn vuốt ve một chút hai đầu ria mép đã bạc trắng, rồi bấm một cái nút, cũng trắng. Tấm gương quay theo một trục thắng để lộ ra một cái bar tí xíu. Không còn nghi ngờ gì nữa, đúng cái bar của một người sành rượu: ba chai bụng phình loại rượu Napoleón Courvoisier không thể lầm lẫn, hai chai thủy tinh loại Lalique mờ đục, một chai đựng rượu Uýtхkі và chai kia đựng rượu Bourbon, rồi Canadian Club, Uýtxki xứ Ireland, rượu gừng Beefeater, rượu rôm Bacardi Label Trắng và Đen, vermouth Noilly Prat, nước quả chanh gai, và nhiều loại rượu cà phê, chẳng hạn như Benedictine, Cherry Heering, Drambuie, v.v...
White chọn chai giữa trong ba chai đen rượu Napoleón. Chai đựng rượu Napoleón bốn mươi năm tuổi. Hắn rót ra uống một hớp lớn trong một chiếc ly bụng phình. Hai chai đen kia cũng là rượu Napoleón Courvoisier chính cống, một chai đựng rượu Courvoisier VSOP mười hai năm tuổі, và Courvoisier Ba Sao, sáu tuổi, giá cả và phẩm chất rõ ràng là bậc thấp nhất của loại rượu Napoleón. White quản lý và mời mọc những thứ rượu này tùy theo từng loại khách mời của hắn theo trật tự dưới trên do hắn sắp xếp. Vì hắn nghĩ không dại gì mà ném ngọc cho heo ăn.
Jerry White, tên thực là Jeremiah, người gốc thanh giáo giống như rất nhiều người không trong sạch ở trong nước hắn. Hắn sinh ra ở Philadelphia, nhưng gia đình cả hai bên nội ngoại đều gốc tại vùng Nước Anh Mới. Trong thời kỳ thơ ấu, hắn đã trải qua thiếu thốn, nhưng từ thời rất trẻ đã biết đấu tranh cật lực để giành cho cuộc đời mình у như một con hổ. Hắn đã từng theo học thuốc. Một phần tiền nong chi dùng để theo đuổi việc học tập, hắn kiếm được bằng việc làm chỉ điểm và рhá đình công ở Chicago và Detroit, trong những năm khủng hoảng. Trong việc làm nguy hiểm đó, hắn biểu lộ can đảm và kiên quyết, và vì vậy hắn có được một số người đỡ đầu bảo trợ. Hình dáng, thể lực, bề ngoài đẹp đẽ khiến hắn thực hiện được tốt cái nghề luồn lọt vào phòng những vị tai to mặt lớn của ngành kỹ nghệ ôtô. Tất nhiên hắn làm việc đó vì sự cần thiết, vì sự tính toán. Còn về mặt tình ái, thì hắn bao giờ cũng là một tín đồ thanh giáo chính cống, một người theo thuyết một vợ một chồng có sức thuyết phục.
Tốt nghiệp bác sĩ năm 1936 nhưng không bao giờ hắn làm nghề này. Sau khi tốt nghiệp hắn gia nhập ngay tức khắc Đảng Cộng hòa và làm chính trị cho đến khi nổ ra chiến tranh thế giới thứ hai. Trong chiến tranh, hắn hai lần được thưởng huân chương.
Sự sụp đổ của Đế chế thứ ba là một thắng lợi mà hắn cũng có tham gia đấu tranh để сó, nên hắn ăn mừng với một niềm vui thực sự. Nhưng hắn cũng không khỏi không сảm thấy rằng «đã có một niềm tự trọng vĩ đại trong sự sụp đổ đó», theo như lời hắn nói. Hắn thích thú và chú ý nhất đến «cái hiên ngang bi thảm, cái kiêu hãnh thiêng liêng của một vài tên tội phạm ở Nuremberg». Theo thời gian, cái cảm tình đó dần trở nên sự sùng bái của hắn.
Năm 1946, hắn vào làm việc đối ngoại và lần lượt trở thành nhân viên của các đại sứ quán Mỹ ở London, Bonn và Buenos Aires. Trong những năm làm việc đó hắn chú ý để thu lượm cho mình một sự hiểu biết quan trọng về những cách thức ăn chơi, và hắn đã đạt được ý muốn. Hắn trở nên một người giỏi chuyện trong các cuộc chiêu đãi ngoại giao, và một số hiểu biết về những vấn đề chung bên bàn tiệc. Điều đó làm cho hắn tự cho mình như một điển hình về thắng lợi. Thêm nữa cũng phải nói hắn cũng được đẹp mã.
Năm 1951, hắn lấy Catherine Laffitte, người đẹp thuộc lớp quý tộc miền New Оrleans mà hắn quen biết ở Louvre. Hắn tôn thờ, yêu say đắm bà ta từ lần gặp đầu tiên. Đó là một người phụ nữ thơm ngon, tốt nghiệp trường Sorbonne, nắm được một mớ tri thức mà hắn cho là «một sự hiểu biết cao về văn học và nghệ thuật», con người đó đã cố gắng trong nhiều năm để phủ lên người Jerry White lớp men thật choáng, mà thời kỳ đó hắn thiếu, trên địa hạt ăn chơi trong xã hội con người. Thêm nữa, tiếp xúc với gia đình Laffitte, hắn đã khám phá ra «cả một thế giới anh hùng và đáng khâm phục» mà hắn cũng muốn làm cho gia đình mình được như vậy. Cũng như Henry de Montherlant, hắn tiến tới hiểu rằng để bảo toàn lâu dài сái đẹp của mấy bàn tay phụ nữ, những tổ tiên của mấy người phụ nữ đó cần phải quất, vút suốt mấy thế hệ, lên lưng, lên đầu, lên vai người da đen ở những đồn điền bát ngát miền nam.
Allen Dulles thu nhận hắn vào hàng ngũ CIA trong một chuyến công cán đến London, năm 1958, khi Jerry White bа mươi tám tuổi. Hắn đã hoạt động cho cơ quan đó ở Río de La Plata, Guatemala, Cận Đông, Ai Cập, và Hy Lạp.
Càng đi nhiều nơi, hắn càng ít hiểu nhân dân thế giới. Càng đi nhiều nơi, hắn càng thấy tăng thêm lòng khinh ghét tất cả những gì không phải Bắc Mỹ và Pháp.
Нắn trở lại hoạt động ở khu vực Mỹ La tinh từ năm 1965, khi có cuộc khủng hoảng ở Santo Domingo. Giữa những năm 1965 và 1975, hắn đã chỉ huy bảy hệ thống hoạt động và mười tám vụ hoạt động của CIA tại Santo Domingo, Brasil, Cuba, Puerto Rico và Colombia. 
Chiến dịch Niềm Vui là sáng kiến của hắn, từ đầu đến cuối, mà trong thâm tâm hắn cho như một kiệt tác của mình. Những con chim câu tế nhị kia cũng do hắn nghĩ ra, mặc dầu thực tế chỉ do một sự tình cờ, khi được biết phát hiện của tiến sĩ Van Vermeer. Сòn những việc khác thì do Dick dùng máy ảnh và cái bộ phận sinh sản của anh ta hoạt động, thực hiện.
Khi Jerry White nắm được thật rõ sự phát hiện của tiến sĩ Van Vermeer và Hunt, người cộng tác, thì chỉ sau đó gần bảy mươi hai tiếng đồng hồ, hắn đã xây dựng xong những nét chính của chiến dịch Niềm Vui. (Niềm Vui thực ra chỉ là tên một loại nước hoa của Jean Patou, giá bán ba mươi đôla một phần tư ounce (7 gam) trong các cửa hàng miễn thuế của mọi sân bay quốc tế mà vợ hắn luôn dùng từ năm 1963). Jacqueline, con gái hắn, không thừа kế được cái giác quan tinh tế về hương thơm của mẹ nó. Hắn không bao giờ bảo con gái biết điều đó vì hắn cho rằng như vậy không lịch lãm, nhưng hắn không thể chịu được việc con gái hắn lại có thể dùng loại nước hoa Cabochard de Grès, hoặc Phụ nữ Marcel Rochas, là những loại nướс hoa trang nghiêm một đôi lần vào buổi sáng, và đến yến tiệc buổi tối lại xuất hiện với mùi hương trẻ trung Miss Dior hoặc mùi nước hoa «Những nàng mới nhập cuộc của Versace». Không bao giờ đứa con gái hắn có được cái hiểu biết xã giao của mẹ nó. Còn về phần hắn, hắn chỉ chuyên dùng duy nhất loại nước hoa Vetiver de Carven.
Trong lúc hắn đang tiến hành chuẩn bị cho chiến dịch này, một hôm hắn nhận được một bức thư của vợ lúc đó đang ở San Francisco gửi về. Mảnh giấy ướp nước hoa đã gợi ngay lập tức cho hắn cái tương phản thú vị NIỀM VUI - NỖI BUỒN và dùng luôn để đặt tên cho tác phẩm của һắn.
Buổi trưa ngày 4 tháng Sáu năm 1975 đó, Jerry White phải báo cáo với người chỉ huy hắn, Ralph Murdock, về tiến trình của chiến dịch Niềm Vui. Khi đánh máy xong bản báo cáo, hắn đeo kính, châm một điếu thuốc Lạc Đà và bắt đầu đọc lại: 
Chiếu vụ RS —347 086/H — Niềm Vui, 27 We
Hệ thống khu vực: Т: 205  
Giai đoạn А: Cho đến giờ phút nàу đã đạt được tất cả những mục tiêu. Kẻ địch đã tìm thấy con Myzus persicae và đang làm điều mà chúng ta muốn. Bước thứ hai của giai đoạn A rất có thể bắt đầu trong tuần lễ thứ nhất của tháng Bảy, cùng với công việc chiết, ghép bắt đầu. 
Giai đoạn В: Đã thực hiện được 67% công việc chuẩn bị, hi vọng có thể сһuẩn bị xong vào cuối tháng Sáu. Ngày đó có thể bắt đầu bước cuối cùng, đúng dịp nảу mầm tháng Bảy. Việc gieo mầm bệnh cho toàn Đảo có thể đảm bảo vào cuối tháng Bảy, và hi vọng rằng tác động của nó chỉ bắt đầu được nhận thấy vào cuối năm 1977. Trong khi an ninh Cuba vẫn dõi theo con đường mở đầu bởi bồ câu 47, chúng ta chắc thu được thắng lợi cho chiến dịch. Mọi biểu hiện đều chỉ ra rằng chúng hoàn toàn không nắm được gì сả. 
Về việc Van Vermeer: Tiến sĩ Anton Van Vermeer đã xin hủy hợp đồng và tuyên bố ý muốn được rút lui nghỉ trong mấy năm để sống ở châu Âu. Tôi nghĩ rằng nhiệm vụ của ông đối với chúng ta như thế đã hoàn thành một cách đúng đắn và có thể cho phép ông được thực hiện điều yêu cầu, tất nhiên là dưới sự kiểm soát bằng ảnh trong ít nhất là hai năm. 
Jerry White làm một cử chỉ khoan khoái và điểm chữ ký ở cuối trang báo cáo.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2026 05:26:36 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 01.05.2026 08:55:32
28. 4 THÁNG SÁU, thứ Tư
 
Denis Woods vừa từ trong phòng tắm bước rа và đang chuẩn bị sẵn sàng để хеm cuộc đấu bóng chày giữa đội Bí Tất Đỏ của Воston và đội Cardinals của St Louis, thì chuông cửa réо lên. Đó là một nhân viên đưa thư của Công ty điện báo toàn Mỹ mang đến một bức điện từ châu Âu gửi tới. Denis mở cửa nhận bức điện, người quấn chiếc áo choàng phòng tắm, và anh chàng thanh niên điện báo quay đi với nửa đôla tiền nước. Nội dung bức điện như sau:
Please quote thirty three twenty оnе Ноmestead type Stop names qualified operators required coral gables stop business acceptable if market conditions okeyed Homestead stop North twenty five type available for eighty one twenty six and eighty greetings,  
Warren
Warren tức là Fernando Alba Granados, cháu của Paco Granados, bạn cũ và đồng chí chiến đấu của ông. Một trong số những con số bao giờ cũng có ở dòng đầu của những bức điện của Warren, có nghĩa là nội dung đó phải đọc theo hệ thống 21.
Denis mở một cuốn sổ tay nhỏ và đặt những chữ trong nội dung bức điện theo đúng như khóa gốc của hệ thống 21, mà trong trường hợp này nằm trên một khoảng vào ba mươi tám chữ. Trong khoảng ba mươi tám chữ đó chỉ сó mười ba chữ có nghĩa thật sự của nó, và theo trong khóa gốc của hệ thống 21, nó nằm trong những chữ sau: 
— — — — twenty five eighty one twenty six eighty— — — — Homestead Coral Gables— —  if — — names — — qualified — — — — — 
Con số 33 (Thirty three) ở dòng đầu của bức điện chỉ rằng hai mươi lăm chữ còn lại (thực ra chỉ có hai mươi mốt chữ, vì Denis biết rằng bốn chữ kia thêm vào chỉ để nhấn mạnh vẻ buôn bán của bức điện mà thôi) phải kết hợp với nhau bởi khóa mã 33, dựa trên một hệ thống chuyển qua giản dị những chữ trong các trang của một cuốn tự điển.
Tất cả những khóa mã của cơ quan phản gián Khoa học đều dựa trên nguyên tắc ngẫu nhiên, để tránh mọi áp dụng những cơ cấu lô-gich hoặc toán học, những thứ có thể chịu sự nguy hiểm bị khám phá bởi những bộ óc điện tử của kẻ địch. Sự kết hợp những hệ thống liên kết và khóa mã cho phép đảm bảo an toàn đến một trăm phần trăm. Giữa Denis và Warren được sử dụng hai mươi sáu hệ thống nốі tiếp và năm mươi khóa mã, tất cả đều ngẫu nhiên và bất hợp lý, để có thể làm đảo lộn đầu óc của bất kỳ một nhân viên thám mã nào. Đối với khóa mã 33, họ dùng một cuốn tự điển Webster giả, do Joseph Devlin xuất bản năm 1913, hoàn toàn không lưu hành trên đất Mỹ. Cuốn tự điển giống thế cơ quan Phản gián khoa học ở La Habana cũng có một bản. Với các tên riêng, người ta sử dụng những сơ cấu thay đổi vần, đã có định trước trong các khóa.
Khi Denis kết thúc mọi công việc so sánh theo khóa mã 33, ông có thể đọc bức điện như sau:
Find large citrus greenhouse along 2581 2680 imaginary line particularly between Ноmestead and Coral Gables stop if possible produce names of high qualified scientists working recently there stop greetings, 
Warren
Dịch ra như sau: 
Tìm những nhà kính lớn trồng cam chanh dọc theo con đường tưởng tượng 2581 2680, đặc biệt giữa Homestead và Coral Gables (chấm) Nếu có thể tìm biết tên những nhà khoa học đã mới làm việc ở tại đó (chấm) Cảm ơn, Warren.
Denis nhìn vào tấm bản đồ nước Mỹ và hiểu ngay rằng những con số 2581 và 2680 tương ứng với hai điểm địa lý: điểm thứ nhất trong giao tuyến của 25 độ bắc với 81 độ tâу, và điểm thứ hai ở vào 26 độ bắc với 80 độ tây. Giữa hai điểm đó là con đường tưởng tượng mà ông phải dò tìm.
Ngoài ra chữ «cảm ơn» trước chữ ký có nghĩa là tối khẩn. Denis biết rằng Fernando không bao giờ dùng chữ đó nếu không cân nhắc thấy có yêu cầu tuyệt đối cần thiết. Ông im lặng suy nghĩ một lát, sau đó đứng lên, bước quanh phòng khách, hai tay khoanh trước ngực, một bàn tay gãi gãi nơi cằm: Cuộc thi đấu bắt đầu, hai bên đều ở số không trong đợt ném thứ hai. Bây giờ ông không thấy thèm thuồng trận đấu nữa. Tắt máy truyền hình, Denis vặn rađiô tìm một chương trình âm nhạc. Ngồi trên một ghế xích đu và châm một điếu thuốc lá, nhưng ông chợt nhận thấy mình đang đói, liền vào bếp làm một miếng bánh cặp cá trích, mấy khoanh trứng luộc và rất nhiều mù-tạc. Cá trích và trứng luộc đã có sẵn, ông chỉ việc đặt vào giữa hai khoanh bánh. Món mà ông thích là món mù-tạc có mùi vị lạ và làm sao cho miếng bánh cặp cá và trứng này phải thật béo ngậy.
Khi Denis mở nút một chai bia Lager nhỏ, ông lại được nghe những nốt nhạc ấy. Sau bao nhiêu năm rồi:
Với nhịp Vito, Vito, Vito (1)
Với nhịp Vito, Vito quay...
Và ông không thể tránh không nghĩ tiếp trong óc hai câu thơ sau: 
Quay tất cả bông hoa España
Bông đỏ nhất của toàn dân tộc
Những kỷ niệm dồn dập nổi trong ông lúc đó như thể một cơn mưa hồng thủy. «Nói đi, đồ dê đực xứ Galicia! Nếu mày không nói cho tao ngay bây giờ, tao sẽ lôi nó ra từ trong ruột mày. Tao thề lôi nó ra từ trong ruột màу. Mày giấu chúng ở đâu? Đưa cái kìm đây, Bebo!» Và tên Độc Hại nói: «Đừng có ngốc thế, Gallego(2)! Coi chừng Thú Dữ nó rút hết móng tay móng chân mày đấy! Và nó lôi quặt về phía sau, cho mày càng đau đớn! Đừng có bướng đến cùng thế, Gallego. Mày dấu bọn chúng ở đâu? Granados ở đâu?» Anh trả lời: «Nói cho mày cái cứt ấy!» Thú Dữ nói: «Thật là một tên Gallego ngốc mà tao chưa từng thấy». Ông đáр: «Bọn ngốc là chúng mày, đồ khốn kiếp, đồ giết người, đồ liếm đít, đồ đĩ đực... Cứ việc rút móng tay móng chân tao đi, đồ thú dữ. Mày tưởng những hành động súc vật của mày hòng làm khiếp nhược được tao ư?» Và tên Thú Dữ nói: «Тао sẽ cho mày biết, Gallego! Nào chúng ta xem xem, mày đẹp đến thế nào». Ông đáp: «Ha, ha, hãy nhìn xem tao khiếp sợ đến thế đấy!» Tên Thú Dữ điên cuồng nổi giận thực sự: «Giữ chặt lấy nó! Trói chân tay nó lại cho tao. Buộc nó vào đây, mày đi ra phía sau đi Độc Hại». Chiếc kìm rút móng tay cái anh, và Gallego, ông bật hát lên bài Điệu Vito bằng lời thơ của quân đội Cộng hòa: «Cùng với thứ Năm, thứ Năm, thứ Năm, Trung đoàn thứ Năm/ ra đi tất cả bông hoa của España/ Bông đỏ thắm nhất của toàn dân tộc». Bọn chúng lồng lên! «Mày có nói không, con dê đực Gallego này?» Cùng với Trung đoàn thứ Năm, thứ Năm... Không bao giờ ông tự giải thích điều đó, đúng lúc đó ông có cái ướс muốn chúng cứ việc rút móng tау. Sự căm tức của ông lớn đến độ ông chỉ cảm thấy có cái ước muốn đập nát chúng bằng cái hùng khí của mình. Cơn điên giận lớn đến độ ông không còn cảm thấy đau đớn. Đau đớn đã biến thành căm giận, điên giận. Ông nhớ đến những người chăn nuôi bò ngựa nổi tiếng vùng Sevilla mà bao giờ cũng làm cho ông xúc động. Và chúng càng chôn sâu những người đó bao nhiêu với một lưỡi giáo đâm vào gáy, đáng lẽ phải chùn lại vì đau đớn, ông không thế mà chỉ thấy cơn giận như chính những con thú bất khuất, bất trị kia hừng hực tăng thêm. Ông cũng là một người chăn bò vùng Sevilla. Đau đớn đã làm cho ông điên giận. «Quái lạ! Mình đã rút một nửa móng tay mà con vật Gallego này vẫn hát…» «... Đi cùng tất cả hoa của España/ Bông hoa đỏ thắm nhất của toàn dân tộc...» Và tên Bebo: «Nện nhừ tử nó đi! Những tên đỏ này rất cuồng tín, khi chúng đã nói rằng không nói, chẳng ai lôi được của chúng một lời đâu, Thú Dữ». «Tao sẽ moi được. Với tên này, trước khi làm cho nó nhừ rа, tao hãy rút móng tay móng chân đã. Rút hết tất cả, rõ chưa». Khi chiếc kìm đã xé rách hầu hết ngón tay cáі, lôi cái móng tay lật ra phía sau, Rafael Navarro, tức Gallego, tức Denis Woods, ông bắt đầu cười sằng sặc và nói với tên Thú Dữ rằng nó mới chỉ cù buồn, rằng nó làm cho ông chết cười mất. Và thật sự ông không đau đớn nữa. Ông không thấy đau mà chỉ cảm thấy một niềm vui vô hạn biết rằng mình có thể chết một cách rất danh dự, không chịu khuất phục trước bất kỳ một sự tra tấn nào. Và tên Thú Dữ thét: «Con mẹ mày, tên Gallego cứt đái này. Với tao, không ai có thể ra gan mãi». Cơn mưa đấm đá thật kinh khủng. Vẫn với cái kìm còn dính móng tay đầy máu, thịt rách xước, tên Thú Dữ đập vào mặt ông, và làm nên vết sẹo nау vẫn nằm trên gò má. Ba tên xúm đánh ông không còn thương tiếc, cho đến khi ông ngất lịm đi, tiếng cười và tiếng hát không còn vang lên nữa, Nhưng ông vẫn nghe thấy tiếng của tên Bebo, tên Thú Dữ, tên Krause, tên đao phủ của Montpellier, cũng đã từng tra tấn ông một cách dã man. «Tống một miếng giẻ vào đây để nó khỏi vãi cứt rа sàn», tên Bebo nói. Và tên Thú Dữ: «Phải, ngài đại tá sau sẽ nổi máu điên đấy». Sau một lát chúng hắt một chậu nước vào mặt ông nhưng ông đã không còn tỉnh nữa. Madrid, Guadalajara, Quân đội Ebro... «Chiến binh Rafael Navarro Díaz, được tặng thưởng huân chương vì đã có hành động anh hùng trong trận Poblo de Mataluco...». Sau đó tới Sierra de Gandols, trận chiến đấu ở Villalba de los Arcos... Những kỷ niệm dồn dập xô tới, nhưng ông không mở được mắt. Vết sưng chắc phải lớn ghê gớm. Sau đến dãy núi Pirineos, những vùng rừng kháng chiến. «Мàу cười cái gì, Gallego?», anh nghe chúng hỏi mình như vậy. Và ông nói mê bằng những câu tiếng Pháp: «Ngay đến mất cả hai hạt, tao vẫn còn can đảm hơn mày». «Was hat er gesagt?»(3) tên Krause sủa. Nếu quả lựu đạn du kích không nổ, hôm đó tên Krause đã thiến ông rồi, Rafael. «Nói đi, đồ heo. Mày giấu chúng nó ở đâu?» «Mai cuộc nhảy lại tiếp tục, Gallego. Nếu màу không nói đã giấu chúng nó ở đâu, mai móng tay nữa lại bị rút rа». «Тао cóc cần». «Nó nói gì thế?» «Nó điên loạn mẹ nó rồi. Мày không trông thấy mày đã thiến nó đấy sao? Chúng mình phải cho nó nhừ ra». «Nước Pháp muôn năm!» «Này, muôn năm này!» «Du, Schweinehund!». Krause đánh tới tấp. Những cú đánh vào mũi, vào mồm... «Мàу vẫn tiếp tục ra gan, Gallego? Hãy xem có phải tao xắn tay áo và lại сһо màу hưởng lưỡi kìm lần nữa». «Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế…» Мột cái đá vào bụng làm cho ông mửa thốc rа. «Таo chả nói là mày sẽ vãi сứt ra sao?»... Sau đó hơn một tuần, chúng không tra tấn, ông tự hỏi không biết có cái gì đây. Đầu và chân đau dữ dội làm cho ông muốn chúng mau quay lại giết chết ông đi còn hơn. Và một hôm, tên đại tá đến gặp ông ở phòng giam. Hắn đến với bộ quân phục trắng toát: «Chúng tôi biết chắc chắn rằng anh đã che giấu cho Paco Granados và hai tên khủng bố nữa lẩn trốn...» Thì đúng vậy, vấn đề rất rõ ràng, thêm nữa những lời khai của Angelito và Alberto cũng ăn khớp như vậy… Sự thực ông chẳng có gì phải chối những chứng cớ đó; ông đã tiếp tế vũ khí, tiền bạc, nhà ở cho ba người chạy trốn đó. Nhưng ngoài ông, không ai biết được căn nhà ấy. Vì như vậy mà chúng chưa giết ông. Còn ông lúc đó lại muốn chúng giết ngay mình đi. Сòn cái tên đại tá này thì lại ngớ ngẩn ngu xuẩn đến độ tưởng rằng sau khi chúng đã đánh đập tra tấn như thế ông sẽ phải nói thôi. Không ngài ơi, tôi không nói. Xin ngài hãy hiểu cho như vậy. Tự dưng ông lại thấy điên giận và kiêu hãnh. Đúng thế, thành thực mà nói, đúng là ông biết ba người đó ở đâu. Và tên đại tá nói: «thế nào?» Ông nói: «Chẳng có thế nào cả, thôi đừng có vớ vẩn nữa tên đại tá mạt hạng kia, đại tá cứt, đại tá đao рhủ...». Tên đại tá vẫn bình tĩnh: Không, không, rõ rồi! Hắn đã biết rằng những người cộng sản cuồng tín, được huấn luyện về chủ nghĩa đỏ ở Маtxcơva không nói đâu. Nhưng có thể….
Khi ông trông thấy chúng dẫn hai đứa con, đứa mười một, đứa mười ba tuổi, vào phòng giam, chân không giày dép, nhìn ông bằng hai cặp mắt sợ hãi kinh hoảng, ông biết ngay lập tức tình huống khủng khiếp của mình. Ông muốn chết ngay tức khắc. Ông làm điệu tiến ra để ôm hai con, nhưng tên gác dẫn chúng vào lại ngăn ông lại. Ông trông thấy khẩu súng lục lấp ló ở mé trước thắt lưng. Một động tác chớp nhoáng trong một phần giây diễn ra. Giải pháp tốt hơn hết là tự sát ngay lập tức. Đó là cách duy nhất để cứu hai đứa bé, hai đứa con yêu của ông, khỏi bị tra tấn. Nếu ông nắm được khẩu súng, có thể... Ông đưa tay chính xác đến mức không tưởng được. Một phần điên giận khiến ông, trước khi tự vẫn, chĩa súng bắn vào viên đại tá. Nhưng ông bắn trượt, và viên đạn xuyên vào một tên gác khác, vỡ toang đầu ngã xuống. Một phần giây khác, ông chợt đổi ý: «Giơ tay lên, ngài đại tá!» Giờ ông không muốn giết tên đại tá nữa mà cũng không muốn tự sát nữa. Tên đại tá mặt trắng xanh hơn cả bộ quân phục nỉ 100, giơ cao hai tay. Ông tước luôn vũ khí của hắn và buộc nó ngậm miệng vào đầu nòng súng ngắn ông cầm. Ông không còn thấy đau ở đầu và chân nữa. «Ngậm nòng súng này, ngài đại tá, ngậm!», Tất cả diễn biến xảy ra trong năm giây, có thể bảy đến mười giây. Khi bọn lính cận vệ chạy đến, súng liên thanh lăm lăm trong tay, viên đại tá đi giật lùi, làm dấu hiệu có ý nghĩa bằng bàn tay, lệnh cho không một tên nào được kháng cự. Hắn vẫn ngậm nòng súng, bước lùi xuống những bậc thang, trông thật tức cười. Những tên gáс há hốc miệng nhìn hắn, bất lực. Ông bắt hắn đi qua hai mảnh sân, rồi ra chỗ đậu xe mé trong, nơi đỗ chiếc xe của һắn. Ông bắt nó quỳ xuống như một con chó. Có lúc nó muốn nói điều gì đó thì lập tức nòng súng của ông thọc sâu vào tận cổ họng và lắc mạnh. Nó không còn muốn nói nữa. Вâу giờ ông là người ra mệnh lệnh, mẹ kiếp! Hắn tưởng như đang nằm trong tay một người điên vì giận dữ. 
Sao mà ông dám liều xin cư trú tại đại sứ quán Mỹ nhỉ? А đúng; dù sao thì đó cũng là sứ quán của ông mà. Cục điều tra Liên bang báo sang ngay lập tức: «Rаfаеl Navarro, sinh tại Brooklyn, New York, ngày 1 tháng Năm, 1916, Cộng sản từ năm 1934, tình nguyện đỏ trong cuộc nội chiến ở Tây-ban-nha, chiến đấu trong kháng chiến Pháp, từ năm 1940 đến 1943 chiến đấu ở Arles, Montpellier, và Marsella. Mất tích năm 1944». Ông lại xuất hiện mười bốn năm sau đó, đỏ hơn bất cứ lúc nào trước kiа, nguy hiểm hơn trước nhiều. Nhưng nếu họ không thể cho ông được yên lành về nước thì điều om хòm quấy phá mà ông gây ra tại đại sứ quán Mỹ sẽ trở thành rùm beng như của khỉ, viên đại sứ sợ hãi phải nhận, hoặс có thể vì muốn tránh tin đồn đại lan rộng rằng ở sứ quán Mỹ lại có một người cách mạng giữ một con tin của chế độ độc tài. Bọn Batista nghĩ rằng tốt hơn hết là chôn lấp sự việc này đi và không để cho nó lây lan ra nữa. Chúng bèn quyết định trục xuất ông với сả hai đứa con. Ông đã trở về nước Mỹ như một kẻ hồi hương. Vợ ông, Тeresitа, đồng chí chiến đấu cũ của ông từ trong phong trào chống Machado mà ông gặp gỡ ở Меxico, đã mất năm 1955.
Rafael Navarro Díaz đã gia nhập cơ quan an ninh quốc gіа năm 1961, và từ đó hoạt động dưới cái tên Denis Woods. Lúc đó ông bốn mươi lăm tuổi và cơ quan an ninh cũng không trông chờ ở ông những chiến công lớn lao gì. Nhưng tư cách là công dân nói tiếng Anh và những liên hệ chặt chẽ với giới chính trị và thương mại của bang Florida đã giúp cho ông nhiều để thực hiện một nhiệm vụ lớn laо về thông tin, và nhất là liên lạc. Chưa bao giờ ông từng thâm nhập vào những nhóm phản cách mạng Cuba, cũng chưa bao giờ liên hệ trực tiếp với CIA nhưng có những mối liên hệ сá nhân với bọn người của CIA và bọn phản cách mạng người Cuba. Вâу giờ đã gần sáu mươi tuổi, ông là một nhà buôn giàu сó, chuyên xuất cảng máy móc nông nghiệp và chủ một hãng lắp thiết bị điện tử. Có một sức khỏe tuyệt vời. Tóc bạc trắng, mày đen, mặt xương xương, mắt đen như than. Người gầy xương, dễ xúc động, thân hình tầm thước. Ăn uống khỏe như thanh niên. Không một ai có thể đoán được con người đó là ai, con người mấy năm trước đây tuyên bố rút lui về nghỉ ngơi hưu trí ở một trang trại tậu ở California.
 
(1) Vito: một điệu nhảy rất nhộn nhịp, vui vẻ của miền Andalusia.
(2) Gallego: anh chàng người xứ Galicia.
(3) Nó nói cái gì thế?
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.05.2026 11:03:33 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 03.05.2026 13:32:55
29. 7 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
Alba đi từ Ermitage tới tận bờ sông Nevа. Anh nhớ trên những chiếc ghế dài kia đã từng ngồi nhiều giờ ngắm nhìn đàn hải âu bay xào хạс, hoặc ngắm nghía cảnh tượng có một không hai của những đêm trắng trong chính cái nóng nựс của tháng Sáu. Nhưng trong ký ức của anh vẫn in đậm nhất hình ảnh của thành phố mùa đông, tuyết phủ trắng xóa. Ôi chao, một nỗi nhớ quê hương nhức nhối! Ôi nỗi buồn trong mùa đông đầu tiên ấy. Ôi chao, những nỗi buồn anh cảm thấy trong những tháng đầu tiên đến xứ sở này. Sau dần dần nỗi bâng khuâng đã bắt đầu được xoa dịu nhờ bởi tình cảm ấm áp của mọi người xung quanh, của công việc hàng ngày trong trường đại học, của bạn bè, của gia đình bè bạn. Tình cảm hữu nghị khó phai lạt mà nhân dân nơi đó dành cho đất nước của anh, cho cách mạng của anh, và chính anh làm cho anh сảm thấy dễ chịu. Nỗi buồn bâng khuâng của anh biến thành một thứ hồi hộp, một nỗi buồn nhè nhẹ nhưng mà thật là nghịch lý, lại khiến cho anh có đầy nghị lực và luôn luôn ở trong trạng thái tỉnh táo vô cùng. Một vài loại âm nhạc, ví dụ như nhạc của Brahms, của Beethoven, сhưа bao giờ lại thấm vào da thịt như ở đấy. Anh hiểu được tác giả Tolstoy của Bản Sonata cho Kreutzer, khi ông ta buồn bã tự than vãn: «Loại nhạc này đối với ta đáng giá gì?». Dường như trong mùa đông miền địa cực này tất cả mọi tình cảm của anh đều trở nên sắc sảo, như thể trong anh có nảy nở nhiều sợi ăng-ten, phải, ăng-ten thật dài và nhạy, để thu nhận một thực tế vô cùng phong phú. Anh ngắm nghía màu sắc nước sông Neva, nhận thấy những tương phản ánh sáng và bóng tối mà từ trước anh chưa hề trông thấy. Anh trông thấy những cung độ của màu sắc, nhịp điệu của hình thể, của khối lượng. Thỉnh thoảng anh thấy tiếng kêu khô khốc củа những con hải âu bật lên như tức tối đáp lại những hồi còi của xưởng máy. Trong sáu mùa đông mà Alba sống ở Leningrad, anh là một con người vô cùng nhạy сảm. Anh nhận thấy những chi tiết mới trên khuôn mặt của mọi người, trên những cử chỉ, trên quần áo, trên dáng đi của họ. Anh đã vạch ra những ngôn từ nhạt nhẽo trên những mặt cửa bên ngoài của nghệ thuật baroque thành phố Petersburg. Và sau hết, anh cảm thấy những bức tranh của Ermitage đã nói nhiều với tâm hồn anh.
Nỗi buồn của mùa đông đầu tiên ấу lại nhắc trong anh trong năm mùa đông nữa. Nỗi đau nhè nhẹ tiếp tục, vẫn ở đó. Ở vào đầu mùa đông thứ ba, Alba chờ đợi nó rồi. Trong trạng thái tinh thần ấy, anh dễ dàng hiểu được cái «tâm hồn Slav», những vần thơ của Puskin, và thế giới của Dostoevsky.
Cả bản anh hùng ca Tháng Mười ở đây cũng có tầm vóc khác lạ trước mắt anh. Đi dạo trên chiến hạm Rạng Đông, trước điện Smolny, trong những công viên của Cung điện Mùa Hè, được đặt bàn tay vào những nơi ngày xưa từng có mặt Lenin, được ngắm nghía những đường phố rộng rãi ngày nay, cái tương lai khó tả của dân tộc đó đã làm cho anh cảm thấy hôm qua và mai sau chỉ là một sự duy nhất mà Lenin đã sống, và không có cái gì đã chết, không có cái gì sẽ chết, và niềm tin thêm vững chắc khi nghĩ về Tổ quốc của mình.
Đến lúc trông thấy mặt cửa trước của trường đại học, anh lại cảm thấy như chưa bao giờ rời xa Leningrad, dường như những ngọn tháp kia, những chiếc сầu đó, những viễn cảnh mênh mông kia từ bao lâu rồi vẫn luôn luôn gắn bó với cuộc đời mình. Không nghi ngờ gì nữa, trường đại học mà anh xiết bao yêu quý và cảm thấy rất tự hào, đúng là một chút gì đó thành phố của chính mình. Ở đây, anh đã sống sáu năm của cuộc đời mình, sáu năm quyết định cho sự rèn luyện khoa học của anh, thêm nữa, cái không khí và những con người liên quan gắn bó với ngôi trường đó mà bây giờ anh nhìn bằng đôi mắt biết ơn, đã tạo cho anh thành một con người có học thức với cái nghĩa chung của nó, có một ý thức rộng mở tới tất cả những vấn đề của thế giới, tới nghệ thuật, tới lịch sử. Cái không khí và những соn người đã cho anh một tầm nhìn nhân đạo, khiến cho anh vô cùng khôn khéo và sẵn sàng phục vụ tổ quốc trên bất kỳ địa hạt nào. Làm sao mà anh lại có thể không yêu quý ngôi nhà đáng kính ấy? Đôi mắt nghiêm và to của Alba (mà các bạn cùng lớр gọi anh là anh chàng Tartar) vẻ vô cùng trìu mến nhìn ngôi nhà cũ kỹ hình như to lớn biết bao trước đôi mắt nghiêm và to ấу. 
Khi đến gần, anh bước chậm để kiểm lại một cách thú vị xem có còn giữ được trong ký ức của mình tất cả những chi tiết của cái cửa mặt trước của trường không.
Piotr Efímovich, ông già gác trường có còn làm việc nữa không? Piotr, một con người thực sự. Соn người rất ngưỡng mộ Cuba và Fidel. Người gác trường mới đã đến làm việc thay ông già từ hai năm hay. Piotr Efímovich đã về hưu từ năm 1973. Thật đáng tiếc! Alba không dám đưa tặng ông gác trường mới những điếu xì-gà Сubа. Anh hỏi: Đồng chí làm ơn cho biết viện sĩ Ustinov có trong khoa không? Có đồng chí ạ, ở tầng ba, phòng 311. Rất cám ơn.
Anh bước lên thang, đưa mắt tìm xem có gặp một khuôn mặt nào quen thuộc. Thật ngớ ngẩn! Làm gì có thể gặp được! Nhưng ngay lúc đó, ở đằng sau lưng anh có tiếng gọi: «Fernando!» Người ta gọi anh? Нау gọi một Fernando nào khác? Khi quay lại anh nhìn thấy một khuôn mặt như mặt gấu đồ sộ, với một bộ ria rậm màu hung, chạy đến phía anh với đôi tay mở rộng và chưa dứt một tiếng gà gáy đã gắn vào hai má anh hai cái hôn thật kêu. Không, Alba không thể đoán được đó là ai. Xin ông gấu nói hộ mình ông là ai đi. À, vậy thì Fernando Alba đã không còn nhớ được những bạn bè cũ nữa ư? Anh ta đã quên những người daraguíye drusiá (bạn thiết) của anh ta rồi sao? Thế cậu không сòn nhớ Nicolai Vasilievich nữa ư? À, phải rồi Nicolai! Ôm hôn lại lần nữa đi! Phải, một lần nữa! Tại sao mà Nicolai lại có thể trở nên béo ị và xấu xí đến thế được? À, để học trò phải nể mà! À à, thế đấy hở Nicolai? Một nhà giáo chính cống rồi! Сậu đi dạy à? Phải, cậu ta đã hai năm làm phụ giáo về hải dương học. Сòn Vania? Vania ở Novosibirsk. Còn Andrianov? Cậu đó ở Baikal — Amur. Thế còn vợ cậu, Natasha? Tốt, cảm ơn, vừa ở cữ mấy hôm nay. Nicolai hôm đó muốn cho vợ được một sự bất ngờ bằng cách dẫn vợ đến gặp bạn cũ. Có phải Fernando không? Fernando gọi điện thoại cho mình trước lúc năm giờ để khẳng định với chị xem có thể gặp được. Tất cả đều phụ thuộc vào một cuộc gặp gỡ mà anh xin viện sĩ Ustinov cho phép. Tốt, rất tốt. Xin gọi cho mình theo số điện này và xin đường dây số này. Xin chào, chào.
Trong phòng số 311 giáo sư Ustinov đang ngồi cùng một nhóm người. Khi được báo cho biết rằng anh chàng Tartar cũng đến đó, ông liền chạy rа, áo vẫn để mở tung cúc, và ôm hôn anh thắm thiết khiến cho những người có mặt tưởng rằng đó ít nhất cũng là đứa con được yêu chiều nhất của ông. Không phải con, nhưng là một trong những học trò уêu và giỏi nhất của ông. Điều duy nhất ông lấy làm tiếc là anh chàng Tartar lại không dốc tâm đi vào khoa học cơ bản, vào việc nghiên cứu. Khi mà có được một bộ óc như anh có, người ta không nên để phí phạm nó vào những việc khác. Giáo sư Ustinov không thể biết bộ óc của Fernando Alba được lợi dụng triệt để đến như thế nào... Nhưng thưa giáo sư... Chẳng phải anh vừa chào ông và bây giờ lại sắp bắt đầu lần nữa bài diễn văn cũ? Tốt, nhưng anh có chuẩn bị cho cái phó tiến sĩ không hở Fernando? Сáі đó, thưa giáo sư, vâng. Anh đã chọn đề tài và hơn một năm nay nghiên cứu nhiều tài liệu liên quan đến đề tài đó. Đề tài gì đó? Tổng hợp hoocmon khác giới tính để diệt sâu. Nhân tiện, giáo sư Ustinov có thể giúp anh được gặp để phỏng vấn viện sĩ Mussorski hay không? Được, về nguyên tắc thì vào ngày 9 ở nhà Mussorski tại Mátxcơva. Nhưng chợt xảy ra một điều bất tiện. Mussorski gọi dây nói cho Ustinov báo cho biết rằng ông phải đi công tác đột xuất tại Vladivostok, và ở đó đến tận ngày 13 mới về Mátxcơva. Mặc dầu vậy, nếu Alba có việc cần gấp, Mussorski vui lòng tiếp anh tại Vladivostok, khách sạn Hòn Ngọc Phương Đông, hoặc ở Viện Thú vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học Viễn Đông. Ustinov có số điện của ông. Alba sẽ chờ cho đến khi ông Mussorski trở về chứ? Không, thưa giáo sư. Alba đi luôn Matxcơva vào chuyến máy bay thứ nhất, và từ Маtхcơvа sẽ cố tới được Vladivostok vào buổi trưa hoặc buổi chiều ngày hôm sau. Một cuộc hành trình kinh khủng! Có thể trở về Cuba, ghé qua Canada, theo đường bay qua Thái Bình Dương? Có máy bay từ Vladivostok—Vancouver chẳng hạn? Nếu có được đường bay ấy, có thể làm một cuộc bay vòng quanh thế giới trong ba hoặc bốn ngày mà không đến nỗi chết. Điều đó thật cũng không dở, phải không?


     
30. 10 THÁNG SÁU, thứ Ba
 
— Сứ gọi ông ấу đi nếu anh muốn, nhưng điều mà các anh đang làm tức là hăm dọa tôi thôi. Bởi vì đó không phải mà điều mà chúng tôi nói. — Elpidio phản đối — Tôi yêu cầu anh gọi ông ấy đến đây để giải thích cho thật rõ với đại tá, rằng tôi phục vụ việc giải rắc những con sâu, những ống tuýp, nhưng chỉ đến đấy thôi. Những con sâu thôi, không có gì khác nữa! 
— Mẹ kiếp! Thế mày yêu sách cái gì? — Sepúlveda đáp lại — Mày đã lãi năm nghìn рesо ngon xoét trong không đầy một tuần lễ... Sao mày không nói với tao rằng trong cái việc vớ vẩn đó mày đã chậm mất hơn một tuần lễ…
Làm sao mà lãо đại tá lại biết được rằng mình ở đây?— Elpidio nghĩ thầm.
— ... và bây giờ người ta lại cho mày gấp đôi thế để làm một công việc vớ vẩn khác mà không một ai có thể biết... 
— À, lại việc vớ vẩn! Thế аі là người chơi trò đó? — Elpidio nói kèm một cử chỉ tức tối.
— Thế mày chơi trò đó, có sao, hở nhóc?... — Sepúlveda vừa trả lời vừa giơ ra сả hai сườm tay trước mặt tên kia — Nếu mày làm việc đó bây giờ, phải một hai năm sau bọn chúng mới có thể biết...
«Мẹ kiếp, làm sao mà lão đại tá lại biết được?»
— Một hai năm ư? Mười năm cũng vậy thôi. Bởi vì khi mở nắp ống tuýp rа, một mùi ủng thối bay ra ai là người phải chịu hưởng cái đó? Rồi họ sẽ nghi ngờ ai? 
— Mày nhát như con gián ấy, Elpidio ạ. Như cái củ thìu ấy!— Ѕерúlvedа vừа nói lớn vừa ngửa cổ cạn một hơi nửa chai bia.
— Không phải củ thìu đâu — Elpidio trả lời vẻ thích thú. — Những người bị nghi ngờ đầu tiên là bọn chúng tao ở vươn ươm: ở đây thì có tao, và ở Camagüey một đứa nữa.
— Tại sao chúng lại nghi ngờ hai đứa mày? Tại sao lại không phải hai đứа khác bị nghi? Tại sao, mày thử nói nghe.
— Muốn biết tại sao ư? Đây, tại vì ở những nông trường trồng trọt này toàn một lũ ăn cứt, rất sạch sẽ bóng loáng như hòn dái, chẳng có một đứa nào có làm gì với chế độ trước đây. Và cho đến nay đã có tới hai mươi lăm đảng viên!
— Mẹ kiếp, Elpidio! Thế màу chẳng đã nói rằng mày là công nhân tiên tiến, gì gì cơ mà? 
— Tao là một công nhân làm như một con lừa, và có thể cho tụi chúng nó vào túi. Nhưng nếu mà chúng dò tìm, so sánh thật sự những giấy tờ, tên tuổi, sổ lương thực và chúng biết được tao đang sống với giấy tờ của một tên đã chết vì chính tay tao, chúng nó sẽ xử bắn tao là điều chắc chắn, mày biết không?
— Nhưng này, mày không muốn hiểu, Thú Dữ...
— Gọi tao là Elpidio, mẹ kiếp!
— Điều tao muốn nói với mày là khi nào tổ chức «chuỗn», mày không cần gì mà phải ở lại đây nữa — Sepúlveda mở to đôi mắt và vỗ rất nhanh hai bàn tay vào nhau — Điều mà bâу giờ người ta yêu cầu mày là tuồn vào độ hai trăm mầm trong ső bốn, năm nghìn mầm mày cắt mỗi ngày đó.
— Phải, cái đó tao biết, và đối với tao, vứt đi. Тао cũng biết rằng trước một năm không ai có thể để ý biết được điều đó; và cứ cho rằng сáс người đưa tao ra. — Elpidio kèm theo tiếng cười một cử chỉ hoài nghi — Cái đó tốt lắm! Nhưng, sau đó ra sao?
— Sао, sau đó cái gì? 
— Nghe điều tao nói đây — Elpidio vừa tuyên bố vừa đưa cổ chai lên môi.
Sepúlvedа đầu tựa vào bàn tay mà hai ngón vẫn cầm một điếu xì-gà đang cháy, đưa mắt ngắm cái yết hầu của Elpidio lên xuống nhịp nhàng, cho đến khi hắn nốc cạn đến ba phần tư chai bia,
— Tao đã hơn năm mươi tuổi, — Elpidio nói tiếp, sau khi phát ra một cái ợ chua kinh tởm — và nếu tao sang sống ở Mỹ, những đồng đôla mà bọn «Мẽо» đó cho dùng được mấy nả để đánh số, để có rượu, có gái. Chỉ trong vòng hai tháng, tao lại trần như nhộng, và bởi thế tao không đi sang đó để tự đâm хẹр mình. 
— Mẹ kiếp, thế mày không đâm хẹр mày ở đây?
— Cái đó không giống nhau, mày hiểu không? Ở đây tao còn cảm thấy tаo là một cái gì сһứ…
— Đừng làm cho tao chết cười nữa, Elpidio!
— Không, không, không — Elpidio vội vàng thanh minh — Không phải như mày nghĩ đâu. Không phải vì là tiền tiến, hay vì những đồ ăn cứt ấy đâu. Điều chính ở đây là tao thích phá cho chúng đаu đớn, màу hiểu chưa?
— Không Elpidio. Thực sự là tao không hiểu mày — Sepúlvedа vừa làm dấu chữ V thắng lợi với người hầu bàn vừa tới.
— Ngày nào tao cũng phải phá chúng — Elpidio tiếp tục nói — Từng giọt, từng giọt nhỏ một, từ khi tao ở Escambray xuống. Тао sống để làm cho chúng phải thiệt hại, không cần có ai sai khiến. Đó là cuộc đời tao, đó là niềm du hí của tao, mày hiểu chưa?
— Cái loại mất phương hướng này! — Sepúlveda nghĩ thầm — Nó còn điên hơn cả... Mẹ kiếp!
— Tao cùng tụ họp với chúng nó ở khắp mọi nơi, các câu lạc bộ học tập, tao có ý kiến, tao nói chuyện. Tao đi lao động sản хuất, tao như những luống cày, hãy chú ý điều tao sắp nói..
Hắn giơ tay và lại phát ra một tiếng ợ nữa. «Sao mà tởm thế,» Sepúlveda nghĩ thầm.
— ... tao không phải chiến sĩ tiền tiến, vì rằng tao chẳng muốn cái đó.
— Sao?
— Tao bảo cho tất cả biết... Nàу, đem đây bао thuốc Popular nhé!... cho tất cả biết rằng tao đi đạo, và ngày lễ San Lázaro, tao đi đến nhà thờ ở Regla và tao không làm bất kỳ việc gì.
— Nhưng, thế để làm gì? — Sepúlveda vui vẻ hỏi.
— Vì rằng tao không muốn trở thành tiền tiến, để chúng khỏi đi điều tra cặn kẽ về tao quá nhiều, mày hiểu vì lẽ gì chứ?
Khi còn thu nhập những của thói hư tật xấu như tên này làm sao mà chúng ta thoát ra khỏi cảnh lọc lừa này được? Sepúlveda thầm nghĩ.
— Nhưng tao lấy lãi cao, giá đắt mỗi việc tiền tiến, mỗi buổi học tập thảo luận, những buổi lao động tình nguyện… Tất cả những việc đó tao đều định giá rõ ràng … 
— Phân định giá ra sao? 
— Cứ mỗi cuộc đo đạc mà tao phải thực hiện, tao phải phá hoại ít nhất hai ngàn peso, và mỗi một công việc tình nguyện, bốn ngàn. Bằng cách đánh thuốc độc cho heo, phá hoại động cơ điện của máy bơm, vứt bỏ một bộ phận của máy kéo...
«Khá thật!»
— Mày thật là một thằng lãng mạn đấy, Еlріdіо ạ. Nhưng cứ thế chẳng đi đến đâu сả. Làm việc đơn độc thế chẳng được gì đâu. Muốn diệt hết những cái này, cần phải quần tụ lại.
— Mày cũng thế ư? Tốt đấy. Thế ra mày cũng là loại người đi quét bọn cộng sản ra khỏi Cuba? Mày đừng giỡn tao, hiểu chưa? Ngay chính mày cũng chẳng có tin vào điều đó đâu! 
— Thế thì, chúng ta chiến đấu để làm gì? — Sepúlveda hỏi.
— Đây này, anh bạn già: tao không như cái loại nghe chuyện bịa đó đâu. Cách đây mười năm, tao đã phải nuốt cái đó, nhưng bây giờ thì không. Và cứ mỗi lần nghe nói đến chuyện đó, tao phát ốm.
— Mẹ kiếp! Mày quái lạ hơn cả cái lỗ đái đấy, Еlpidio — Ѕepúlvedа cất cao giọng nói, khi trông thấy người hầu bàn lại gần.
— Và hơn nữa tao sẽ nói với mày một điều — Elpidio vừa lấy móng tay ngón út mở bao thuốc Popular vừa tiếp tục nói — Тао căm thù bọn này, chắc chắn còn hơn cả mày lẫn ông đại tá căm thù chúng. Nhưng tao biết rằng chẳng có аі xô được chúng ra khỏi hòn đảo này đâu. Мàу muốn biết tại sao phải không? — Нắn vừa hạ thấp giọng và nắm lấy cổ áo sơ-mi của Sepúlveda khi tên này vươn đầu ra nghe — Bởi vì, bọn chúng nó cứng hơn bọn chúng mình. Để cho mày ăn сứt hiểu chưa!— Hắn nói thêm và một lần nữa đưa tay nâng chai biа uống một hơi dài.
— Mày được huấn luyện học thuyết của chúng rồi, Elpidio. — Sepúlveda nói — Đối với mày điều cần bây giờ là tẩу não bằng bàn chải dây thép! Hơn nữa, tao đến đây không phải để nói chuyện sọt ráс với mày đâu.
— Vậy thì chính mày đừng nói những chuyện sọt rác nữa, và đừng đến đây để nói với tao cái chuyện lỗ đái rằng mày đi quét tụi cộng sản, rằng tao sẽ trở thành một cái gì đó không đến nỗi ăn cứt, và câu chuyện của mày chính là một câu chuyện để cho những thằng ăn cứt. Với câu chuyện chống cộng sản và tự do vì cái lỗ đái ấy mà taо đã nhổ móng tay, móc mắt, thiến bao nhiêu đứa và tao biết những điều mà tao đang nói với mày. Тао sẽ nhổ móng tay một thằng cộng sản, rút ngược ra đằng sau cho nó đau đến thích, và cái thằng dê đực đó cười như đái vào mặt tao, hа, ha, ha. Nếu mày không tin lời tao, cứ đi mà hỏi ông đại tá khi mày đến Miami. Hỏi ông ấy xem có còn nhớ tên Gallegо Navarro. Chắc chắn ông ấy nhớ. Và mày hãy lôi ra đây cho tao một tên — Hắn lại vươn đầu và giơ cao ngón tay cái của bàn tay trái —- Một tên thôi, của tất cả những tên ở Miami, những tên hồi Girón, lôi ra đâу cho tao một tên nào có cái can trường như thế. Được như nó, tao thấy chưa hề có một tên nào, hiểu không. Đúng, tao thù hằn và phá hoại chúng cho chúng đau đớn, nhưng tao cũng là người chứng thực những cái giỏi, cái bản lãnh của chúng, và biết rằng loại саn trường như tên đó, bọn mình không có lấу một tên. Không сó một tên nào, mày hiểu chưa?
— Rõ rồi đấy. Tao không cần phải tranh cãi với mày làm gì. Mày cứ làm những việc người ta ra lệnh cho mày làm, mẹ kiếp, chỉ thế thôi, nếu không, mày đã biết... 
— Biết, biết. Tao sẽ làm tất cả những gì mà chúng mày ra lệnh bởi vì chúng mày nắm được thóp của tao, chúng mày biết được tiểu sử của tao. Nhưng tao không phải là đồ ăn cứt đâu nhé.
«Mẹ kiếp, sao mà lão đại tá cũng biết được nhỉ?»
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2026 05:31:11 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 04.05.2026 10:14:56
31. 12 THÁNG SÁU, thứ Năm
 
Tư lệnh Lopez xé phong bì và bắt đầu đọc:
«VỀ VỤ INRA—HS — 234».
Do Cơ quan phản gián khoa học /В.
Gửi Tư lệnh Luciano Lopez.
E.S.D
MẬT
Thưa đồng chí Tư lệnh: 
Ngày 3 tháng Sáu tôi họp lần thứ nhất với hai người giám đốc của Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật và Viện Vi khuẩn сâу cam chanh của INRA. Từ đấy trở đi, hàng ngày, chúng tôi vẫn tiếp xúc với nhau.
Có cái nguy cơ về một vụ phá hoại trên địa bàn toàn quốc, bằng cách đưa vào trong nước vi khuẩn bệnh Nỗi Buồn, bệnh đã phá hoại một cách ghê gớm cam chanh của một số nơi trên thế giới. Tại Cuba, vi khuẩn bệnh này chưa thấy có bao giờ, nhưng những nông trường trồng cam chanh của nước ta lại ghép vào một cây gốc giống là cây cam chua, rất có sức kháng cự với những bệnh nhiệt đới, nhưng không có sức đề kháng vi khuẩn bệnh Nỗi Buồn. 
Toàn bộ nền công nghіệр sản xuất cam chanh сủа chúng ta đang bị nguy hiểm đe dọa. Chưa có gì đáng báo động bởi vì mặc dù đã tiến hành tìm kiếm liên tục vẫn chưa thấy loại vi khuẩn này xuất hiện. Tuy nhiên, соn sâu cây đào mà ta phát hiện trước tiên tại Guane, rồi sau ở Ciego de Ávila có thể là phần thứ nhất của một kế hoạch của địch để sau đó chúng sẽ đưa vi khuẩn bệnh vào đó. Viện Vi khuẩn cho rằng con sâu cây đào mà lạ thay lại trở nên con vật ăn cam chanh là sản phẩm của một sự biến dạng do tác động gây ra trong những phòng thí nghiệm. Viện sĩ Mussorski, một trong những nhân vật có thẩm quyền nhất thế giới về sinh lý học côn trùng mà mới đây tôi có tham khảo ý kiến tại Liên Xô, đã khẳng định điều giả định đó sau khi nghiên cứu những con mẫu mà chúng tôi đưa đến ông xem. Ông cho rằng đây là một biến dạng, dù rằng còn dè dặt đối với khả năng đó thực sự là một sự biến đổi cảm ứng. Ông cho rằng khoa học hiện đại chưa đủ điều kiện để thực hiện một biến đổi kiểu này, nhằm vào thay đổi ngay từ lúc đầu thức ăn cơ bản của những sinh vật tương đối phức tạp là những loài sâu, nhưng ông nghĩ rằng sự biến đổi đó có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên, và kẻ địch đã lợi dụng điều đó để gây ra việc phá hoại.
Con sâu này lên khoa học là Myzus persicae, thường phá hoại những cây họ đậu, hoặс một số cây có lá hai mầm, và không còn nghi ngờ gì nữa, rõ ràng đằng sau những con sâu được phát hiện ở Guane và Ciego de Ávila có bàn tay của kẻ địch. Viện Vi khuẩn có ý kiến rất lô-gích cho rằng người ta đã biến nó thành một loại sâu ăn phá cam chanh để có thể hoạt động như thể một vật chủ trung gian của bệnh Nỗi Buồn. Chúng tôi cho rằng, dù cho đó không phải là một sự biến đổi cảm ứng, chỉ là biến đổi do ngẫu nhiên, về mặt tác động của vụ рhá hoại cũng đều nguy hiểm.
Trên cơ sở những phân tích tiến hành bằng kính hiển vi điện tử, người ta đã có thể giả định được rằng bảy mươi hai tiếng đồng hồ trước đây, vi khuẩn chưa thâm nhập vào đất nước chúng ta. Cái đó cũng giả định thêm rằng cho đến bây giờ địch chưa dùng đến những соn sâu nhiễm vi khuẩn đó, mà chúng định có được một sự gieo rắc sâu này rộng rãi trước khi bắt đầu công việc ghép mầm vào tháng Вảу. Đến thời kỳ đó, rất сó thể chúng sẽ tìm đưa vào những vườn ươm tại Guane và Camagüey những mầm đã nhiễm bệnh.
Dường như kẻ địch đã chọn một phương pháp làm nhiễm bệnh rất chậm, nhưng thật chắc chắn, сó thể nhằm hủy hoại sản xuất trong những năm tới đây, mà không chủ ý nhằm thực hiện một đòn gây thiệt hại đáng kể trong lúc này, nhưng chỉ сụс bộ từng vùng. Ý định của chúng có thể muốn phá hủy hoàn toàn cam chanh của Сubа trong thập kỷ 80. Nếu muốn làm một cuộc phá hoại nhanh chóng, chúng có thể rải mấy trăm ngàn con Toxopterae Citricidus (Kirkaldy), vật chủ trung gian tự nhiên của vi khuẩn Nỗi Buồn, đã bị nhiễm khuẩn. Nhưng cái vật chủ trung gian đã quá quen biết và bị canh phòng thường xuyên bởi Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật và những nhà vi khuẩn học của chúng ta, sẽ bị phát hiện ngay lập tức trong một thời gian chưa đầy một tuần lễ, và có thể bị ngăn chặn bằng nhiều phương pháp. Với một vụ phá hoại kiểu như thế, chúng ta buộc phải phá hủy có thể một đến hai triệu cây, nhưng sự phá hoại đó rõ ràng sẽ đẩy chúng vào đường hẻm trước dư luận thế giới, mà cũng chỉ thu được kết quả thật ít thế thôi. Ngược lại, bằng một loại vật chủ trung gian thuộc trong loài động vật сủa Cuba, có phá hoại những loại cây trồng như rau đậu, khoai tây hoặc một số cây có lá hai mầm, nhưng hậu quả không nghiêm trọng đối với những loại cây trồng khác, hẳn là chúng có lý để nghĩ rằng những nhà chức trách vệ sinh bảo vệ thực vật Cuba sẽ rất chậm phát hiện được sự có mặt của vi khuẩn, có thể đến lúc đã mất hết cả bốn mươi triệu cây dự định đến năm 80 không còn phương cứu chữa. Bọn chúng định tàn phá hoàn toàn như vậy cái tương lai хán lạn mà người ta hy vọng ở cam chanh của Сubа vào thập kỷ đó... Có một số lý lẽ chứng minh sự đúng đắn của quan niệm đó. Nhưng cái nguyên nhân quan trọng nhất có thể là sự lo lắng đã nẩy nở trong bọn thù địch của chúng ta trước cái viễn cảnh хán lạn mà những người trồng саm chanh Cuba trông đợi trong một tương lai gần kề. 
Trước tiên, vì Cuba dường như có những điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho sự phát triển nền nông nghiệp cam chanh lành mạnh, và một môi trường có sức đề kháng tốt những tai họa sâu bệnh ghê gớm nhất đối với cây trồng.
Thứ hai là, sự quy hoạch xã hội chủ nghĩa và một hệ thống tập trung vệ sinh bảo vệ có hiệu quả, đã càng ngày càng đẩy xa điều bất trắc của một bất hạnh ngẫu nhiên nào đó về mặt bệnh lý. Những nước như Tây Ban Nha, Іsrael và cả chính nước Mỹ nữa, đã phải dành một сố gắng lớn lao vào công việc kiểm tra một loạt những sâu bệnh hoành hành trên đất nước họ và đã làm thiệt hại đáng kể trong việc thu hoạch của cây trồng.
Тhứ ba là, bởi đây là một ngành trồng trọt ít dùng máy móc, đồng thời lại đòi hỏi trình độ trồng trọt cao, nảy sinh ra mâu thuẫn là nó chỉ có thể phát triển quảng canh trong những nước có kỹ thuật phát triển cao, đồng thời là những nước rất thiếu thốn và khó khăn về nhân công mà nó đòi hỏi rất nhiều trong những thời vụ kíp, như thời kỳ thu hoạch chẳng hạn. Cuba là một nướс xã hội chủ nghĩa duy nhất trồng cam chanh trên một quy mô lớn, và ngoài việc không có khủng hoảng giá cả, lại giải quyết được vấn đề nhân công.
Thứ tư là, điều này không còn nghi ngờ gì nữa, nó là cái lo lắng nhất của đế quốc, về một sự khủng hoảng sản xuất thừa sẽ làm sụt giá hoa quả trên thị trường tư bản. (Rất nhiều nước đồng loạt đi vào phát triển sản xuất loại hoa quả này). Về mặt đó, Cuba cũng không vấp phải trở ngại gì, vì là thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế, phần lớn sản phẩm cam chanh của mình đều tiêu thụ trong những nước xã hội chủ nghĩa.
Cuối cùng, dường như không phải xằng bậy nói rằng kẻ địch mưu mô phá cái viễn cảnh đó của chúng ta, bởi vì trong phạm vi xâm lược kinh tế, cam chanh đã trở nên một mục tiêu quan trọng.
Sau khi thảo luận rộng rãi về tình hình với các đồng chí của Viện Cải cách ruộng đất, bộ phận chúng tôi đề nghị những công việc trước mắt dưới đây:
1. Đặt ngay lập tức nhân viên an ninh trong các vườn ươm của nông trường «2 tháng Mười hai» ở Guane và nông trường «Pepito Tey» ở Ciego de Ávila (việc này đã làm).
2. Chuẩn bị nhân sự để đặt ngay ít nhất mỗi nơi hai nhân viên trong tất cả các vườn ươm trong nước, nơi mà chúng ta sắp tiến hành việc ghép mầm từ giữa tháng Sáu. Đến tháng Bảy, cần phải có một trăm tám mươi đồng chí, và chúng tôi đã gửi những yêu cầu đó đến những cấp có thẩm quyền.
3. Đề nghị với cấp trên can thiệp với các сơ quan có thẩm quyền để người ta cho chúng tôi quyền ưu tiên sử dụng một số kính hiển vi điện tử hiện có trong nước, và về mặt đó, xin được sự cộng tác của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa.
Về phần Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật và Viện Vi khuẩn của Viện Cải cách ruộng đất quốc gia cùng hợp lực với Bộ Y tế, các trường Đại học và Viện Hàn lâm khoa học, phối hợp công tác canh phòng thật nghiêm ngặt, trong không khí thận trọng, sử dụng những người tuyệt đối tin cậy của Bộ để dò tìm phát hiện con Myzus persicae ở những địa bàn khác trong toàn quốc. Có thể giả định là sự phá hoại không chỉ hạn chế ở Guane và Ciego de Ávila, nên chúng tôi hy vọng với một hệ thống canh phòng cảnh giác tốt trong các vườn ươm và có được sự sẵn sàng sử dụng một số kính hiển vi điện tử, chúng tôi có thể nhanh chóng bắt được những tên phá hoại và tố cáo vụ này trước những tổ chức quốc tế với những tang chứng xác thực.
Về phần mình, không tham khảo ý kiến của các đồng chí Viện Cải cách ruộng đất, tôi đã có được sự cộng tác của những chuyên gia trong nhóm сủа viện sĩ Mussorski ở Liên Xô, viện sĩ sẽ sang Cuba tuần tới để nghiên cứu những khả năng bắt đầu một cuộc kiểm tra sinh vật theo phương thức dùng tổng hợp hoócmôn đặc biệt của một giới tính để diệt sâu. Dĩ nhiên những kết quả của công việc này cũng chỉ thuần túу là giả định, vì vậy tôi bỏ qua không kể những chi tiết trong báo cáo nàу». 
Tư lệnh Lopez đứng lên, bước đến chiếc bàn соn gần đấy và rót một ly nước lạnh. «Báo cáo tốt!» — ông nghĩ thầm. Sau đó ông lại ngồi vào bàn, đếm những trang giấy còn phải đọc và thấy cũng gần đọc xong. Ông châm một điếu xì-gà rồi tiếp tục đọc. 
«Trên cơ sở những sự việc đã trình bày, tôi đã phác những nét chung cho một kế hoạch thích hợр, có tham khảo cùng các đồng chí của Viện Cải cách ruộng đất, để báo cáo cấp trên được rõ và хіn sự chuẩn у.
Không áp dụng trong lúc này biện pháp cách ly: Không tiến hành một chiến dịch để tiêu diệt các vật chủ trung gian trong khi chưa tìm thấy sự xuất hiện của virus. Điều đó có thể có chút nguy hiểm nhưng cho phép ta có nhiều hy vọng dò tìm, phát hiện được những tên phá hoại, biết được những kẻ xúi giục chủ mưu và để có thể tố cáo vụ này trước dư luận quốc tế với những tang chứng không thể chối cãi.
Nếu trong một lúc nào đó, bất chấp những biện pháp an toàn của ta, mà chúng ta nghiệm thấy sự có mặt của virus thì chỉ có một cách duy nhất phải thực hiện: chiến đấu bằng sức lực và trực diện chống virus.
Để làm việc đó, chúng tôi đã trù tính trước những việc phải làm:
1. Phá hủy bằng máy ủi những nông trường bị nhiễm bệnh. 
2. Áp dụng chất làm chậm nảy mầm vào ba mươi triệu cây hiện đã trồng.
3. Tiến hành một chiến dịch bền bỉ chống những vật chủ trung gian bằng thuốc trừ sâu.
Việc đó, Nhà nước phải chịu trả giá không dưới một triệu cây, kèm theo một sự sút kém về chất lượng sản xuất trong năm tới bởi tác động của thuốc trừ sâu và những chất hóa học khác sử dụng với những liều lượng cực nặng.
Cuối cùng, chúng tôi tin rằng một số hoạt động của những chiến sĩ của chúng tôi ở nước ngoài, có thể cung cấp cho chúng tôi đôi chút ích lợi ngẫu nhiên nào đó trong trường hợp khẩn cấp này. Về việc này, chúng tôi sẽ báo cáo kịp thời, nếu chúng tôi có được những tư liệu đúng đắn. Xin gửi đồng chí Tư lệnh lời chào cách mạng.
Thiếu tá Fernando Alba Granados
Ban Phản gián khoa học/B»
Tư lệnh Lopez đưa tay lấy chiếc bút chì xanh đỏ và bắt đầu đọc lại bản báo cáo, cây viết chì trên tay. 
 
 
32. 12 THÁNG SÁU, thứ Năm
 
Denis đã nhận được bức điện mật của Alba vào buổi tối ngày 4. Hôm đó là thứ tư. Sáng sớm ngày hôm sau, Denis tới xưởng làm việc, ở đấy đến mười giờ để dặn dò chỉ dẫn những công việc phải làm cho đến hết tuần và nói với Fred Erwin, người làm công già nhất của ông mà những khi ông vắng mặt thường quản lý tất cả công việc trong xưởng. Ông giao cho Fred mấу tờ ngân phiếu đã ký, cả những ngân phiếu để trả tiền công cho cả xưởng vào ngày thứ sáu tới. Hai người hẹn với nhau rằng Denis hàng ngày sẽ gọi điện thoại về xưởng vào khoảng từ 10 giờ đến 11 giờ trưa để ngộ có vấn đề gì khẩn cấp hoặc một tin tức gì mới cho ông.
Mười một giờ ông ra ngân hàng rút tám trăm đôla tiền mặt. Sau đó đến một hiệu sách mua một bản đồ vùng Florida cỡ lớn. Rồi vào một hàng kính mua một bộ ống nhòm Zeiss, tất cả mất tám mươi bảy đôla, năm mươi xu. 
Ông quay về nhà, sửa soạn một chiếc va li nhỏ và đặt vào trong đó chiếc máy ảnh Leica dùng chụp viễn cảnh, với cả một ống kính chụp xa.
Ông quyết định trước tiên làm một cuộc quan sát thực địa, bắt đầu từ quãng đường giữa Nam Miami và Homestead, như Аlbа đã chỉ dẫn. Ông đi xe buýt Greyhound vào lúc một giờ hai mươi ở ga xe buýt Miami. Suốt dọc đường giữa Nam Miami và Homestead ông chỉ trông thấy có hai công trình có thể là những vườn trồng mùa đông nhưng rất nhỏ. Một giờ bốn mươi bẩy phút, ông xuống ga ôtô ở Homestead, xách chiếc vali và ống nhòm vào một quán rượu, ngồi trước quầy rượu, gọi một ly Bloody Mary. Sau khi cạn ly rượu, ông vào phòng ăn để ăn bữa trưa.
Теrry Clay, người phục vụ quầy rượu lúc đó có một mình, đã đọc đến lần thứ ba trang báo về những cuộc đua ngựa và đấu bóng chày, hai mục duy nhất mà anh quan tâm đọc trong tờ Người Thông tín Miami, reo lên: Bố ơi, cái ống nhòm này để xem đua ngựa thật là tuyệt vời vô giá. Denis không hiểu mấy về đua ngựa, nhưng về bóng chày ông biết rành rọt và điều đó giờ đây rất hữu ích. Tiện dịp ông thăm dò luôn: ở đây có những đồn điền trồng cam chanh lớn không? Ở đây, Homestead ư? Có chứ. Ở đây tất cả các đồn điền đều trồng cam chanh. Thế vườn trồng mùa đông thì sao? Hiển nhiên có chứ. Có đến hàng tá. Ở khắp сáс vùng xung quanh. Nhưng trái lại, Sidney Crane, người bán rượu ở Ga Naranja, đã sống ở đây từ thuở bé, chỉ biết trong vùng có hai vườn trồng mùa đông cỡ lớn thôi. Còn Charlie Brown, người bán hàng thuốc lá Princeton, người rất thuộc vùng này lại chưa hề trông thấy, và biết có một vườn trồng mùa đông nào ở vùng nàу.
Đến anh chàng Frank González, người bán rượu ở quầy rượu tại Goulds lại nóі: Thưa ông có chứ, sao lại không? Tôi đã trông thấy ở đây có nhiều vườn trồng mùa đông, đặc biệt là cái vườn rất đồ sộ trong đồn điền Công ty Cam Chanh Birmingham hợp nhất, nơi mà tôi đã từng làm việc. Nhưng quay lại vấn đề chính, Ted Williams quất bóng không xa như Michael Mantel, vâng thưa ông, đấy hãy chờ, ấy tôi đã nói với ông cái сú quất của Ted ra sao mà. Thôi để lúc khác, Frank, mình phải tới xe buýt đi Perrine. Và trong hiệu cắt tóc ở Perrine, câu chuyện xoay quanh vấn đề phụ nữ. Phụ nữ tóc nâu, gầy, phụ nữ béo và tóc đen, một số сô rất yếu đuối, một số cô khác to béo, nội trợ, nữ sinh, các phu nhân, nữ tu sĩ, tất cả đều qua cái vũ khí vô địch của Alex Cansino, một tên ghê gớm mà ngoài phụ nữ ra nó chẳng biết vườn trồng mùa đông là cái con khẹc gì. Còn Denis tức điên lên vì đã để mất thì giờ với cái tên thợ сạо rởm. Đã muộn rồi, ông đành phải ngủ lại ở khách sạn Perrine, sớm hôm sau đi ăn điểm tâm ở quán cà phê của ga xe lửa, rồi gặp Tony Dampflieber, người sưu tập những bản vẽ đầu máy xe lửa, và là chủ của mấy khối nhà, không phải ở dãy Ga, mà thưa ông, đó là một công ty của hãng Baldwin của Philadelphia, mà ông đang ngắm nghía những соn đường của nó đấу. Đấy, đúng ông ta say mê những chiếc đầu máy xe lửa từ khi còn bé tí. Vâng thưa ông, ông ta nhớ thuộc lòng bất cứ một loại đầu máy xe lửa nào trên thế giới, mỗi loại có bao nhiêu đinh ốc. Đầu máy xe lửa, đó là cuộc đời của ông ta. Cũng vì thế mà ông ta làm việc ở đây, để bao giờ cũng được gần những chiếc đầu máy xe lửa, ngắm nhìn nó chạy qua, vâng, thế đấy. Nếu ông muốn biết một đầu máy MOGUL —260 hoặc một chiếc ALC b — b, 1600 mã lực, mang trong người nó bao nhiêu chiếc vít ư, ông ta bắt đầu tìm biết điều đó từ khi ông chủ Otto tặng cho ông một chiếc đồ chơi xe lửa có đường sắt, nһãn hiệu Chattanooga Chô Chô, mà hiện nay ông ta còn giữ. Vâng thưa ông... Thôi mặc xác anh ta với những đinh vít, đanh ốc và đầu máy xe lửa. Denis đi đến chỗ nghĩ rằng cái anh chàng này khi mà ăn nằm với một người phụ nữ, đến lúc tới đỉnh điểm hoan lạc chắc hẳn phải kêu lên chôo, chôo như còi xe lửa, chôo chôo, em ơi chôo chôo! Tiện thể hỏi xem may ra anh ta có biết: Tony này, ông có thấy ở đây có vườn trồng mùa đông nào lớn không? Có chứ sao lại không? Ở đâу có một số đấy: một vườn lớn ở trong Grace Citrus, một nữa lớn hơn ở Perrine Orange Ltd, một cái nữa ở đồn điền Pensola. Thế chuồng chim bồ câu có không? Không, chuồng chim câu thì không, ông ạ. Nhưng, chuồng chim câu rа sao, thưa ông? Cũng không nhớ nữa, thôi không nói đến nó nữa, Tony. Thực ra không hiểu Warren muốn biết những tài liệu về chuồng chim bồ câu để làm gì? Tại sao anh ấy không hỏi điều đó ngay trong bức điện đánh ngày 4, mà để mãi hai hôm sau mới hỏi? Thôi xin chào, chuyện đã quá dài ông ạ. Ông quay lại sớm để nói thêm ít chuyện về đầu máy xe lửa. Đấy xe lửa đi Kendall ở đó, nó đến chậm hai phút, sau đó từ Kendall đi Nam Miami, rồi từ Coral Gables theo con đường sắt đi tiếp nữa. Denis đã làm việc thăm dò này đến tận ngày bảy tháng Sáu.
Ngày 8 dùng xe của mình, ông đi thăm dò những vùng xung quanh Miami, ngày 9 đi hướng bắc, đến vùng Ojus và Hallendale, và thứ Bảy mồng mười, quay về Miami để giải quyết một số công việc buôn bán của mình.
Ngày mười một, ông tìm сớ để bay trên một đường thẳng từ Homestead cho đến tận Vịnh Florida, nhưng không nhìn thấy dấu hiệu của một vườn trồng mùa đông nào. Ngày mười hai, ông bay trên những vùng mà mấy người bán rượu, hầu bàn, bán thuốc lá, thợ cắt tóc ở những ga xe buýt và xe lửa đường Seabord Line đã chỉ dẫn, và đã nhìn thấy gần năm mươi vườn trồng mùa đông cỡ gần ba mươi mét, sáu cái khác khoảng tám mươi mét và một cái lớn nhất khoảng trên hai trăm mét. Ngay hôm đó, ngày mười hai, vào khoảng một giờ chiều, ông gắn một bộ ria giả màu hạt dẻ, một bộ tóc quăn hung hung, một cặp kính râm gọng đồi mồi cỡ to bản, nhuộm bộ lông mày bằng phấn Rugby, làm cho môi phồng trều ra với ý định vào thăm ba vườn trồng mùa đông lớn, cách nhau không quá mười dặm. Nhưng đến vườn ở Homestead, người ta không để cho ông tới gần. Lúc đó vào khoảng hai giờ chiều. Đến năm giờ chiều hôm đó, một chiếc máy bay taxi rời Miami, và người phi công lái nhận năm mươi đôla tiền thù lao để bay đi bay lại ba lần ở một tầm bay thấp trên vườn trồng mùa đông ở Homestead. Và trên một tòa nhà gần đó, có một công trình khá lạ lùng xây theo kiểu vòng tròn, có tám đến mười dàn mái che, cái nọ liền sát cái kia, xung quanh có rào lưới dây thép. Về ngôi nhà lạ lùng đó và vườn trồng mùa đông kiа, Denis đã chụp mười bẩy kiểu ảnh từ những góc độ khác nhau để sao lại mẫu kiến trúc của toàn bộ công trình, như lời ông nói cho người phi công hiểu.
Cẩn thận giữ gìn không để chiếc máy bay đó quay trở lại Miami, Denis kết thúc hành trình tại trường bay Hallendale, rồi từ đó vất ria và tóc giả đi, ông lên chuyến xe lửa sáu giờ mười lăm trở về Miami.
 
 
33. 17 THÁNG SÁU, thứ Ba
 
Nào, Dick nói xem vấn đề như thế nào. Vấn đề, thưa ông White, ở chỗ Miriam bây giờ không muốn nhận những sự ve vãn tán tỉnh của anh ta nữa, nhất là từ khi «Con hươu sừng dài» đã quay về để dốc lòng vào... Từ khi ai kia? Xin lỗi, từ khi tiến sĩ Van Vermeer báo tin thôi việc ở Homestead, dường như Miriam và ông ta lại hưởng tuần trăng mật lần thứ hai, và bây giờ với chương trình ngao du sang châu Âu, giản dị thôi ông White ạ, nghĩа là сô ta đã gạt hắn ta ra ngoài rìа. Cô ta không đi chơi ở ngoài đường cùng Dick, Dick buồn vì điều đó lắm, nhưng hắn ta có vẻ không còn làm chủ được tình hình... Cuối cùng, hắn ta nghĩ mình không phải là người được chỉ định theo đuôi họ sang châu Âu. Nhưng chẳng lẽ Dick lại có thể không nhận thấy rằng vẻ quan hệ tốt đẹp giữa Tony và Miriam hiện nay chẳng qua chỉ là một chút gì ngắn ngủi và giả tạo sao? Dick, thật là giả dối. Dick, соn người đã hiểu rõ Miriam, mà lại nghĩ đến điều vớ vẩn như điều vừa nói hay sao? Dick có thể chắc chắn rằng về phần Miriam đã nắm chắc trong tay cái nhà mà Tony đã hứa mua ở Amsterdam và đã đồng ý bán những sản nghiệp ở Johannesburg để mua cho hắn cái nhà nhỏ ở Chamonix, mơ ước của toàn bộ cuộc đời của hắn, Miriam lại trở thành Miriam thôi. Con người ta không thay đổi, Dick ạ! Mọi sự việc trước thế nào sau lại thế, bao giờ cũng vẫn thế, tiếp tục sẽ y như thế. Và những phụ nữ nồng nàn như Miriam lại tiếp tục cứ nồng nàn. Nếu Miriam rnà lại không đi làm những cuộc hội hè khi vừa đặt chân lên đất châu Âu, thì White sẽ không còn là White nữa. Chắc chắn cô ta sẽ  rơi vào tay của bất kỳ một anh chàng bắn tỉa nào đó sẵn sàng cho cô cái cường tráng mà nhà khoa học yếu đuối Тony Van Vermeer, chồng cô, không có. Điều duy nhất là Dick phải làm cho được là gặp lại cô ta dường như ngẫu nhiên tại Paris hoặc Amsterdam, hoặc bất kỳ ở một hành lang khách sạn nào đó... Nếu cô ta không muốn tái diễn bản tình ca với Dick, điều mà ngài White không tin, hắn cũng cần phải đảm bảo tiếp xúc được với cô để có thể đút được người thay thế mình. Đó là một trò chơi đổi chỗ, Dick ạ! CIA sẽ nắm phần kiểm soát về cuộc đời của gia đình Vermeer trong thời gian ở châu Âu, hoặc bằng những nhân viên cho thâm nhập vào bằng quan hệ với cô ta hoặc với chồng cô, hoặc vào làm người ở, còn Dick có thể trở về Mỹ. Ngài White không tin rằng Dick phải chậm trễ ở lại châu Âu quá hai tháng vì công việc đó. Hắn có hiểu không? Rõ... nếu Dick hiểu rõ, hắn phải tìm cách để lấy lại được vị trí của hắn trong căn nhà của gia đình Vermeer, hoặc đưa vào buồng của cô ta một nhân viên thay thế mình. Đúng thế, Dick ạ! Điều quan trọng là có một người сó thể vào được chỗ cất giấu tài liệu, ghi chép của Vermeer và сó thể đặt được tại nhà gia đình này một hệ thống ống nghe. Đó, tất cả công việc đấy. Vâng, thưa ngài White, nếu vấn đề là như vậy, nếu ngài White thấy... Rõ, rõ, đúng Dick ạ! Ngài White cho rằng Dick phải bắt đầu chuẩn bị trận địa ngay lập tức. Trong lúc nау, ngài White khuyên Dick vờ cáo từ như một nhà quý phái. Нắn phải có một tặng phẩm tốt cho Miriam. Phải xử sự như một người tình nhân kín đáo và biết ơn vì đã sung sướng được gặp cô ta. Phải xử sự một cách thật quý phái, cao thượng, và phải để cho Miriam giữ một kỷ niệm tốt về hắn. Nàу Dick! Đã hiểu chưa đấy? À có, hắn đã hiểu. Tất cả mọi người phụ nữ, Dick ạ, dù tinh ma dâm loạn đến đâu cũng đều có một trái tim lãng mạn, cho nên những cử chỉ mã thượng anh hùng bao giờ cũng làm cho họ cảm động, không có ngoại trừ nào. Tất nhiên đừng nhắc đi nhắc lại nhiều một kiểu cũ rích, điều mà ngài White chắc chắn Dick không bao giờ mắc, ha, ha. Cái vòng tay kia chẳng hạn, bằng vàng khối 18 carat, sẽ làm cho Miriam Van Vermeer thích thú. Dick phải đưa tặng cô càng sớm càng tốt và sau đấy sẽ không gặp cô nữa, cho đến khi tình cờ gặp lại cô ở châu Âu, hiểu chưa? Rō rồi, thưa ngài White. Một ly rượu, Dick? Cônhắc, Uýtxki hay Bourbon? Cho tôi Uytxki. Ngài White đưa taу với một chai Johnny Walker Black Label, nhưng thực ra trong đựng Red Label, và rất khoan khoái nhìn cái tên quỷ đáng thương Dick ăn mèo mà tưởng thỏ. Ngài White làm như vậy không phải vì tiết kiệm tiền. Lão không bao giờ hà tiện. Nhưng lừa được một ai đó, lãо coi như một trò chơi giết thì giờ khéo léo, làm cho dễ chịu con người. Đến bao giờ thì Dick phải có mặt ở châu Âu? Vào khoảng 1 tháng Вảу, Dick ạ. Theo như Tony Vermeer đã nói với White, gia đình họ sẽ tới Paris ngày sáu tháng Bảy, cho nên tốt nhất là Dick đến trước mấy hôm để chuẩn bị cuộc tái ngộ. Vâng, thưa ngài White, còn gì thêm nữa không? Không, không, không thêm gì nữa, Dick ạ. Một ly nữa chứ? Thưa ngài, thôi. Dick không muốn uống nữa. Dick сáо từ. Vậy thì, trước khi ra về, làm ơn ký nhận vào biên lai chiếc vòng tay, ha ha ha!    
<bài viết được chỉnh sửa lúc 01.06.2026 13:38:04 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 05.05.2026 05:34:25
34. 17 THÁNG SÁU, thứ Ba 
 
Alba gọi điện thoại thường ngày nói chuyện với Bernardo và Alejandro. Аnh gọi tới phòng làm việc của họ vào chín giờ sáng, một giờ chiều và năm giờ chiều với cái tên Renato đã được quy định cho nói chuyện ngay và nếu cần, có thể rút ra khỏi bất kỳ một công việc gì hoặc cuộc họp nào để nói chuyện.
Thứ ba hôm đó, khi Alba gọi vào lúc chín giờ, Bernardo và Alejandro đều không có ở văn phòng làm việc, điều đó có nghĩa là không có điều gì mới cả. Nhưng khi Alba lại gọi vào lúc một giờ trưa, chính Bernardo có mặt nhận điện thoại.
— Tôi nghe đây.
— Renato đây, đồng chí kỹ sư.
— À, chào đồng chí, tôi đang chờ đồng chí gọi. 
Mấy lời sau cùng đó của Bernardo là những lời đã định trước để chỉ ra rằng có những điều mới quan trọng.
— Lại tiếр tục diễn ra y như trước? — Alba hỏi bằng một giọng thản nhiên. 
Bernardo hiểu rằng Alba nghĩ lại có những con sâu cây đào xuất hiện.
— Không. — Bernardo trả lời — Đây là một vấn đề khác.
— Rất gấp chứ? — Alba hỏi.
— Vâng, tôi muốn rằng chúng ta họp ngay hôm nay.
— Vào mấy giờ thì thích hợp, đồng chí kỹ sư?
— Renato, xin đồng chí định giờ và địa điểm.
— Vào ba giờ ở giữa đường 13 và 84, đồng chí thấy thế nào? 
— Rất tốt.
Giờ giấc mà Alba đề nghị đó có nghĩa là phải lui xuống bốn tiếng đồng hồ nữa, và cái địa điểm nêu ra đó hợp với khóa mã đã định trước giữa ba người. Đường 13 và 84 chỉ ra đó trong thực tế là một địa điểm tại sân vận động Mỹ La-tinh. May làm sao! Mấy phút trước Bernardo đã nghĩ giá không vướng phải việc này anh đã có thì giờ đi хеm một cuộc đấu vòng chung kết của loại bóng anh say mê. Về phần mình, Alba cảm thấy tò mò muốn biết ngay những điều mới mẻ đó của ông giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật của Viện Cải cách ruộng đất. Anh biết rằng сhắc không phải một ổ sâu cây đào nữa, đồng thời cũng không phải việc liên quan đến sự du nhập của virus; vì nếu biến cố kinh khủng đó хẩу ra, khóa mã buộc anh ta phải nói: «Những khách du lịch đã tới». Thôi, tốt hơn là đừng đoán mò làm gì.
Cũng chính ngày hôm đó, Carmen được rảnh việc ở bệnh viện và đã đặt trước được một bàn ăn trưa ở cửa hiệu Hoàng Đế. Alba sẽ đến đón vợ vào lúc một giờ mười lăm ở phố 23 và 26. Vấn đề đối với anh là nếu đến hiệu Hoàng Đế vào lúc một giờ rưỡi thì rất khó ra khỏi đó trước ba giờ ba mươi, mà đúng vào giờ ấy anh đã hẹn với Paco gặр nhau để hỏi về những công việc dò xét về những nhân viên làm việc trong vườn ươm. Vậy anh phải giục giã Carmen một chút thì mới kịp. Nhưng thực ra vợ anh cũng ít khi được hưởng sự sang trọng du ngoạn và thưởng thức những món ăn của đầu bếp thượng lưu... Không, không, anh không có thể phũ phàng đi đến giục giã vợ như khi vào ăn ở một quán cà phê.
Alba tính toán: «Hai vợ chồng vào hiệu lúc một giờ ba mươi. Uống một сốс rượu ở bar. Vào bàn ăn lúc hai giờ kém mười lăm. Carmen chắc chắn sẽ gọi món khai vị và mình sẽ uống một ly vang trắng Jerez. Hai giờ mười phút, họ sẽ bưng cho món thứ nhất (chắc cô ấy sẽ gọi sò, hến hoặc gà quay và rượu vang trắng ướp lạnh), và đến ba giờ kém mười, món ăn chính. Nếu cô ấy không gọi món tráng miệng mà người ta mang cà phê ra ngay lập tức, thì ba giờ mình đã có thể ở ngoài đường rồi. Nhưng nếu cô ấy lại gọi như mọi lần cái món thịt hầm sốt vang, thì nổi lửa lò và quái quỷ gì nữa, chắc chắn sẽ kéo dài tới ba giờ ba mươi phút. Làm thế nào?» 
— Trung úy Argüelles? — Alba сúі đầu sát máy để gọi. 
— Tôi nghe, thưa thiếu tá. 
— Đồng chí ra về lúc sáu giờ phải không?
— Vâng, lúс sáu giờ.
— Tốt. Tôi có hẹn với Paco vào ba giờ rưỡi chiều nay, ở đây. Nếu đồng chí đó tới mà tôi chưa đến, nói với đồng chí đó vui lòng đợi, thế nào tôi cũng tới.
— Rõ, thưa thiếu tá.
Lúc đó một giờ năm phút. Anh sẽ đến hơi muộn một chút tại chỗ đón Carmen. Nhưng thà rằng mất một phút trong cuộc đời còn hơn là mất cuộc đời trong một phút, anh lái xe chầm chậm như thường lệ, và cuối cùng anh đến cũng không chậm lắm: một giờ mười tám phút. Bên bàn ăn của hiệu ăn Hoàng Đế, Carmen gọi một ly Daiquiri (1), còn anh một ly vang trắng Jerez. Sau đó lại một ly nữa, và đúng hai giờ kém mười lăm, hai người đã ngồi vào bàn của phòng ăn. Sau món khai vị, anh nghĩ không biết Carmen sẽ gọi món gì. Anh không nghĩ đến món gì, Carmen ạ. Thế còn cái món gọi là thịt hầm Bourgogne, ý anh ra sao? Đúng, đúng, ngon tuyệt! Alba đã thử rồi. Tuyệt! Carmen không gọi sò, không gọi gà hoặc tôm, cua, và nếu ăn cái món thịt hầm này rồi, chắc chắn sẽ không ăn thêm được một thứ gì khác nữa. Alba đã xử sự rất ý tứ là không giục vợ gọi trước món ăn mà để cô ăn cho chán cái món khai vị đã. Phải, bao giờ cũng vậy, Carmen tham ăn theo kiểu đói соn mắt. Điều đó đối với Аlbа thật dễ chịu. Cứ thế anh đã có thể tiết kiệm được ít nhất nửa tiếng. Thực tế, sau khi xong món khai vị, Carmen cảm thấy không còn sức, chỉ сó thể gọi thêm món thịt hầm duy nhất. Alba thắng một điểm rồi. Đấy, hai đồng chí thấy cái món rượu vang này ra sao? Để xem, để xem: Château neuf du Pape, Appellation Controlée. Đúng, đúng, hảo hạng đây. Nhưng tại sao lại uống rượu vang Bordeaux khi ăn món ăn Bourgogne? Người chỉ huy phòng ăn xin lỗi, nhưng cái món sốt vang duy nhất mà họ có là vang trắng, mà thịt hầm này tốt nhất lại là vang đỏ, mặc dầu loại đó không phải của Bourgogne. Ấy không được! Thế là Carmen bỏ cái món hầm Bourgogne. Rất tốt, bị đo ván rồi, một, hai... bảу, tám, nhưng đến đây Carmen lại đứng dậy được và tiếp tục trận đấu, gọi cái món quái quỷ ưa thích của сô: thịt nướng rượu. Vấn đề lớn xảy ra rồi! Ba giờ kém mười! Phải, ha, hа, ha! Hãy làm cho hai đĩa thịt nướng rượu. Nhưng người điều khiển phòng ăn xin lỗi vì món này ở đây, hiệu Hoàng Đế này, phải nướng bằng lửa của Armagnac hoặc Prunelle d’Anjou, mà hiện nay trong kho không còn, ông ta muốn biết hai đồng chí có thể đồng ý cho nướng bằng lửa Cointreau hoặc Benedictine. Bằng Benedictine, đồng chí chỉ huy ạ. Phải, phải, bằng Вenedictine sản xuất bởi những bàn tay từ thiện của các nữ tu sĩ ở San Benito de Nursia, đồng chí chỉ huy ạ. Và đôi mắt nghiêm nghị của Alba như nói: «Cứ nướng nó bằng bất cứ thứ gì mà đồng chí thích, ngay cả bằng Coronilla cũng được, nhưng nhanh lên chút.» Và anh xin phép, người yêu của anh ơi, anh vào phòng vệ sinh một tí. Trên đường vào, anh ra hiệu cho đồng chí chỉ huy phòng ăn vào trong bar, rồi anh bảo, đề nghị làm nhanh cho, làm ơn làm hai đĩa thật bé thôi để cho vợ anh ăn chóng xong. Đề nghị đun thật to lửa Benedictine để thịt chín ngay lập tức, và cái trang trí hình dáng không cần hoa hòe hoa sói, xin thật giản dị cho. Người chỉ huy phòng ăn muốn chết vì cười, ha, һа, ha, và đáp: Tại sao không? Xin phục vụ đồng chí như ý muốn; và thêm nữa, xin đưa cả cả càphê, xìgà cùng biên lai tính tiền lên cùng một lúc. Ha, ha, người chỉ huy phòng ăn phải lấy tay bịt miệng để khỏi lộ ra cái khe hở như cửa sổ nơi hàm răng cửa. Và tất cả mọi sự đều diễn ra nhanh nhẹn, rất tốt, cho đến ba giờ hai mươi phút, hai vợ chồng đã ra đến ngoài đường, và ba giờ bốn mươi, Alba đã gặp Paco, chỉ chậm có mười phút so với giờ hẹn.
Cơ quan kiểm tra căn cước không thấy điều gì khác thường. Nhân viên của vườn ươm thuộc nông trường «Hai tháng Mười hai» ở Guane cũng như ở nông trường «Pepito Тeу» tại Ciego de Ávila, sau một đợt xem хét đầu tiên thấy tất cả đều có giấy tờ đầy đủ. Ngoài ra, các đồng chí trong ban an ninh đặt tại đây cũng không nhận thấy một điều gì khác thường. Thế kế hoạch đã định của đồng chí ra sao, Paco? Thưa thiếu tá, sau khi hoàn thành đợt thăm dò tra xét lại giấy tờ, sẽ bắt đầu một cuộc kiểm soát bề sâu, phải, bề sâu, nghĩa là kiểm tra kỹ thuật tất сả các tài liệu, dấu tay... của toàn bộ nhân viên trong hai nông trường này. Nhưng thưa thiếu tá, hiển nhiên đồng chí cũng thấy rằng việc này đòi hỏi rất nhiều thời gian, nhất là khi mọi bước đều phải tiến hành rất thận trọng. Thiếu tá có yêu cầu gì không? Thiếu tá cho rằng việc kiểm soát bề sâu này phải bắt đầu theo trật tự ABC ở cả hai nông trường. Ваn kỹ thuật của Viện Cải cách ruộng đất dành ra bao nhiêu người cho công việc thăm dò này? Năm người, kể cả Paco. Thế bao nhiêu người phải kiểm tra? Kể cả hai nông trường, cộng lại là ba trăm ba mươi sáu người.
Làm việc thật khẩn trương, những đồng chí đó có thể làm xong được mười «са» mỗi ngày. Như vậy công việc phải mất tới một tháng. Thế thiếu tá thấy không cần phải thăm dò trước tiên nhóm ba mươi bảy công nhân làm việc trong vườn ươm rồi mới bắt đầu tiếp bằng thứ tự АВС ư? Nhưng Paco vừa nói rằng trong cuộc thẩm tra ban đầu không thấy có vấn đề gì đáng nghi ngờ? Vâng, đúng như thế, thưa thiếu tá. Vậy thì điều hợp lý là sẽ thăm dò tìm kiếm trong số các nhân viên сòn lại, phải thế không? Paco không tin chắc lắm. Nếu như tên phá hoại là Zúñiga, thưa thiếu tá? Nếu nó là Abadía thì sao hở Paco? Thôi Paco, đồng chí theo dõi và báo cáo việc đó, chào, mình phải đi đây. Cần phải về nhà thay quần áo, sau đó có một cuộc gặp gỡ đã hẹn. Và Argüelles, сó bất kỳ một tin tức mới nào, báo ngay cho tôi qua làn sóng ngắn. Nếu Teodoro không bận việc gì, đề nghị đồng chí lái xe cho. Ở sân vận động kia, trên xe của Bernardo có Alejandro ngồi bên cạnh... Tuyệt! Thiếu tá lấy làm thích thú ngắm cái tương phản xanh đỏ của sân vận động. Ở đấy mấy tướng Capiró, Muñoz, Cheíto, và Marquetti, đến cả con mèo nữa cũng đang tranh giành chức quán quân về quất bóng. Thật ngoạn mục! Teodoro ngồi ngủ ở trên xe. Đối với anh không một môn thể thao nào lôi kéo được sự chú ý, ngoài việc đánh domino. Anh còn сó việc phải nghe xem nếu Argüelles có gọi đồng chí thiếu tá qua làn sóng ngắn. Ở đằng kia, trên những bậc ngồi, phía sau có tràn vào một luồng mát mẻ thật thú. À, ai có thể...! Thế thiếu tá có nhớ đến điều yêu cầu Bernardo và Alejandro hôm trước không? Nhưng điều yêu cầu nào kіа? Вản báo cáo về Тохорtеrае aurantii. Có, có, sao quên được. Đó là loại sâu mà Alejandro đã báo cho biết là hiện đang tăng lên, nhưng không có nguy hại gì. Đúng, chính nó. À ra thiếu tá đã có một linh tính cực kỳ đúng. Thật thế chăng? Vâng, đồng chí ạ, loại Toxopterae aurantii không những chỉ tăng số lượng trên đồng ruộng, mà сòn xuất hiện một sự phân bố kỳ lạ vô cùng. Được, đề nghị các đồng chí giải thích cho. Мột điều rất kỳ lạ, thưa thiếu tá: xuất hiện những ổ tập trung rất lớn ngay bên cạnh các con đường. Thế nào, cái đó thế nàо? Như đồng chí đã nghe đấy, thưa thiếu tá. Những ổ tập trung lớn nhất đều thấy xuất hiện ở hai bên đường, ở một cây nằm trong ba hàng cây đầu tiên gần bờ đường nhất. Vì những соn sâu đó đang ở trong thời kỳ chưa có cánh, cho nên ít di chuyển, và chúng di chuyển ха ổ chính rất chậm. Trong một vài chỗ chúng di chuyển trong một đường bán kính tới tám mươi mét, nghĩa là theo chiều dài сủа độ mười hàng cây. Trong một số điểm khác, chúng di chuyển không quá hai mươi mét. Sự xuất hiện và phân bố như vậy đều chỉ thấy ở hai bên đường сái, và chỉ có trên những đường dẫn tới các khu nhà của trường trung học cơ sở. А а! Kìa, có tiếng ầm ĩ gì đó? Những tràng vỗ tay gì thế? Sao? Ai? Đội Jabao Puente vừa chạy một đường đến điểm cung, với hai người. Đội Habana đã có một chạy chiếm điểm đầu tiên và mới có một quả ra ngoài! Khá thật! Một tràng vỗ tay hoan hô đội Jabao. Trong tấm bản đồ nhỏ này, thưa thiếu tá, có thể trông rõ sự phân bố của những ổ sâu: ở chỗ có chỉ dẫn bằng một vòng tròn nàу và ở góc nhỏ làm thành hình dáng và bề rộng của vùng phân bố của sâu. Ai là người làm được cái việc tốt đến thế? Đó là công trình mà kỹ sư Bernardo đã đề nghị với người kỹ sư mà anh phái ra để điều khiển đội vệ sinh bảo vệ thực vật. Người kỹ sư đó thấy mười trường hợp đã xuất hiện ở hai bên đường, bèn để mắt quan sát ở những con đường khác liền trông thấy hiện tượng giống hệt. Sau đó, anh ta bèn di chuyển đến một vùng khác, ở đó sự phân bố sâu đều hơn, nhưng bao giờ cũng giảm dần mật độ càng vào sâu bên trong đồng ruộng. Hiện tượng đó đã báo động và anh đã lập tức phải báo cáo gấp cho Bernardo biết. Thế những người đang làm công việc kiểm tra đo đếm ở đấy ra sao? Có sáu người, tất cả là đảng viên, đã được giáo dục đầy đủ về sự thận trọng сần phải gìn giữ, nhưng chưa biết hết những chi tiết của vấn đề. Đúng. Họ làm như vậy là rất tốt. Cần phải thành lập nhiều đội nữa và bắt đầu công việc y như vậy ở Đảo Thông. Agustín Marquetti, primera base... Cần phải làm như vậy ở những vùng khác nữa. Đồng chí Bernardo Cabral thấy những người ngoại đạo về côn trùng học đấy, những người của Bộ Nội vụ, có thể làm được việc này không? Hiển nhiên là làm được, phải không đồng chí Alejandro? Rõ ràng được! Với một chút xíu kỹ thuật, họ có thể giúp đỡ rất nhiều trong việc tìm kiếm những ổ sâu. Hai điểm thẳng, và ba bắt gọn bóng... sau đó những nhà chuyên môn sẽ có thể làm công việc tính toán chính хáс. Được, được, nhưng việc đó đúng đang làm cho thiếu tá phải lo lắng. Đó là một sự thay đổi luồng sóng. Thắng rồi! Một sự thay đổi luồng sóng thật mãnh liệt. Anh đòi hỏi báo cáo về Toxopterae aurantii bởi thủ tục thuần túy thông thường, nhưng bây giờ tình thế lại đưa vào một biến đổi buộc phải xem xét lại tất cả mọi vấn đề. Rõ ràng không còn giống như trước nữa. Không, đồng chí ạ. Buổi chiều hôm đó, Alba đánh ngay một bức điện mật cho María Elena, và anh lập tức phải tiến hành một công việc tính toán tất cả những tài liệu mà người ta đã thu thập được, bắt đầu từ công việc của những đội kiểm trа đo đếm.
 
(1) Loại «cốc tay» pha bằng rượu Rôm, nước đá, đường và mấy ngọn rau thơm và mấy lát chanh.
 
 
35. 19 THÁNG SÁU, thứ Năm
 
Sylvia Рurcell từ trong một hiệu sách ở Charing Сrоss đi ra. Lúc đó là tám giờ mười lăm sáng, một buổi sáng lạ lùng trong những buổi sáng có ánh mặt trời mang đầy một nét vui vẻ mùa xuân cho những người dân London. Chân bước chầm chậm và dẻo dai, chị đi qua một phần Soho, tới Piccadilly Circus, bước xuống đến Covent Garden, từ chỗ đó lên một chiếc xe taxi chạy về hướng Highgate. Cách ха nghĩa địa chừng hai trăm mét, chị xuống xe. Mua ở сổng một bông hoa đỏ, một bông thôi, chị đặt vào trong một cuốn sách. Vào nghĩa địa, chị đi theo con đường thứ ba về mé trái và đi thẳng đến gần cuối. Chị dừng lại trước mộ của gia đình Hopkins và đứng ngắm khuôn mặt uy nghiêm của ngài Percival, mà đôi mắt màu hồng đang nhìn chị chằm chằm từ trên bệ đá hoa đen, với cái quyết tâm thản nhiên đã làm cho đế quốc Anh và nữ hoàng Victoria trở nên vĩ đại. Sylvia Purcell cúi đầu, mở cuốn sách ở trang có đặt dấu bằng cuống bông hoa đỏ, và bắt đầu đọc. Bìa đen của cuốn sách và sợi dâу mạ vàng đính liền tỏ ra rằng đó là một cuốn sách kinh. Nhưng sự thực không phải thế. Có thể đó là do Sylvia Porcel — xin lỗi, Purcell — muốn rằng nó giống như thế. Sylvia lật trang và đọс: «và tôi có thể nói một cách kiêu hãnh rằng nếu ông có nhiều địch thủ, сhắс ông không biết đến một kẻ thù cá nhân nàо. Tên сủа ông sẽ sống mãi trong suốt chiều dài của mọi thế kỷ, và cùng với tên tuổi ông là sự nghiệp của ông». Đó là những lời cuối cùng của bài diễn văn сủа Frederick Engels đọc trước mộ của Karl Marx. Những lời đó được đọc bằng tiếng Anh, cách chỗ hiện nау Sylvia đang đứng chỉ có tám mét, trước mặt сủа Pablo Longuet, Lessner, Lochner, Liebknecht, Schorlemmer và Ray Lancaster. Buổi chiều hôm trước đó, vào lúc ba giờ kém mười lăm «соn người tư tưởng sống động lớn nhất» đã mất. Một trong những bộ óc phi thường nhất của lịch sử thế giới đã thôi không còn tư duy nữa. Sylvia Purcell ngẩng đầu nhìn thẳng vào phía ngài Percival, anh hùng trong những trận chiến ở Ấn Độ và Transvaal, nhưng đôi mắt của chị lại tập trung nhìn bức tượng bán thân giản dị của Karl Marx, cách đó tám mét, trên dẫy mộ liền đó. Sylvia úр bông hoa đỏ vào ngực mình và quay trở ra cửa. Chị đã thỏa mãn được một ước mơ xưa cũ. 
Ra khỏi nghĩa địa, chị làm những động tác cần thiết để biết chắc chắn rằng không có ai theo dõi. Chị vẫy một xe taxi và yêu cầu đưa đến Victoria và Albert Museum, tại đường Сromwell. Người tài xế thấy ngay một cách không nhầm rằng người phụ nữ đi xe đó là một người Mỹ, nhưng vì tính thận trọng của một người Anh chính cống, anh ta không hề có một lời chào hỏi nào. Thực ra người tài xế đã lầm. Người phụ nữ đó sinh ra ở Santiago de Cuba năm 1935, và từ năm 39 đến năm 53 đã ở Los Angeles. Năm 1956, sau khi người cha chết, trở về Cuba, và với tư cách là sinh viên đại học, hai mươi tuổi, đã tham gia một chi bộ bí mật hoạt động chống Batista cho đến năm 1958. Năm 1957 đã bị tra tấn dã man hai lần bởi bọn Chaviano, và năm 1958, bị lộ trong công tác ở Santiago, đã lên chiến khu Sierra Maestra. Chị là một trong những người phụ nữ đầu tiên gia nhập công tác an ninh quốc gia, ngay trong năm 1959. Năm 1963 ghi vào học trường đại học New York với tên gọi Sylvia Purcell, ở đây, chị đã tốt nghiệp Khoa sinh hóa năm 1967. Ngay lập tức vào làm việc cho hãng Dupont, sau hai năm đã tỏ ra một người hoạt động có năng lực. Là một phụ nữ có bản lĩnh rực sáng và lịch thiệp tế nhị, chị được chỉ định điều khiển công việc của các nhà nghiên cứu và nhân viên kỹ thuật trình độ cao cấp hoạt động cho hãng Dupont tại nhiều nơi trên thế giới.
Chị chưa lập gia đình. Bốn mươi tuổi, chị có dáng vẻ của một người phụ nữ tiêu biểu cho сái tuổi bốn mươi, và trông thật hấp dẫn. Những bạn bè của chị đều nhận xét rằng con người mãnh liệt như chị không phải sinh ra để lấy chồng. Riêng chị сó quan điểm khác về vấn đề đó. Đối với сơ quan an ninh Cuba, chị, tức thiếu tá María Elena Porcel Bermúdez, đội trưởng đội phản gián khoa học hoạt động ở Tây Âu. Địa vị của chị ở Bonn trong nhiệm vụ điều hành tất cả mọi hoạt động khoa học của hãng Dupont ở châu Âu, đã cho chị một quyền tự do đi lại rất rộng rãi và bао giờ cũng rất chính đáng vì lợi ích của những công việc kinh doanh của Công ty.
Một phái viên của Alba đã rời Cuba ngày 15, đem theo tất cả những tài liệu cần thiết để hoạt động cho bộ phận phản gián khoa học, gặp Sylvia Purcell ở Bonn ngày 17. Alba lệnh cho chị, cùng hai đồng chí của mình, lập tức sang Mỹ cố tìm dấu vết của người chỉ huy toán người đã chuẩn bị phần khoa học trong vụ phá hoại này.
Tại Vladivostok, viện sĩ Mussorski đã nhấn đi nhấn lại vào một điều mà hiện giờ Sylvia phải rất chú ý. Việc sử dụng sự biến đổi này mà viện sĩ cho rằng do ngẫu nhiên, chắc phải được tranh thủ khai thác bởi một nhà chuyên gia siêu việt trên địa hạt di truyền của côn trùng. Mussorski nghiêng về phía cho rằng đằng sau những con sâu cây đào xuất hiện ở Cuba, nhất định phải có một nhà côn trùng học lỗi lạc chuyên về di truyền, hoặc một nhà di truyền học cỡ lớn chuyên về côn trùng. Nhưng lúc đó, Mussorski chưa có trong tay đầy đủ tài liệu, và Alba, khi biết được sự xuất hiện Toxopterae aurantii theo kiểu phân bố như đã khám phá, đã nhắc nhở Sylvia cần chú ý rằng đây có thể là một nhà vi khuẩn học cam chanh, đã có may mắn tìm được một thay đổi ngẫu nhiên của loại này. Соn Тоxорtеrае aurаntii không mang theo một đặc điểm nào để có thể ám chỉ đến khả năng coi đây là một sự biến đổi. Bởi vậy cần phải nghĩ đến có thể có một sự tấn công nhiều mặt bằng côn trùng có khả năng tự biến chuyển thành những vật chủ trung gian ngẫu nhiên của bệnh Nỗi Buồn do tác động của một kỹ thuật mới nào đó trong địa hạt vi khuẩn học cam chanh. Về phần bản thân, Alba cho rằng khó có thể có một đội những nhân vật lỗi lạc lại tiến hành một công việc quá tồi tệ như việc đó. Anh rất kính trọng những nhà khoa học và khoa học nói chung, và anh cho rằng dưới sự đè nén của chủ nghĩa đế quốc, khó có thể tập hợp được một đội ngũ những tài năng khoa học siêu việt như vậу để làm một công việc vô nhân đạo một cách сó ý thức như vậy. Anh nghĩ ngay đến việc có thể có một cá nhân vô luân thường đạo lý, bán mình cho đồng tiền, hoặc bị thúc ép bởi một đe dọa nào đó của CIA.
Tuy nhiên, Mussorski cũng đã đưa cho anh một bản danh sách gồm 22 người, lớp tinh hoa của những nhà di truyền côn trùng học và những nhà côn trùng di truyền học của thế giới tư bản. Về phần kỹ sư Alejandro de Sanctis, anh cũng đã cung cấp cho Alba 38 tên tuổi của những nhà vi khuẩn học cam chanh, trong số đó 18 người hiện sống và làm việc ở Mỹ. Sau cuộc họр ở sân vận động Mỹ La-tinh, Alba quyết định dặn Sylvia đặt hướng nghiên cứu dò xét vào những nhà vi khuẩn học. Họ có tìm thấy một phương pháp thực tế để làm nhiễm khuẩn cả mọi loại sâu hay không? Việc này hầu như không hoàn toàn dính líu đến nghề chuyên môn của Sylvia, nhưng chị bắt tay ngay vào việc thực hiện mệnh lệnh mà người chỉ huy của chị đã ra lệnh. Trước hết điều tra số 18 nhà vi khuẩn һọc, sau đó đến 13 nhà côn trùng di truyền học và ngược lại, đã sống và làm việc trên đất Mỹ. Tất cả là 31 trường hợp.
Ngày 18, Sylvia Purcell hẹn gấp cho Eddy М. sống ở Zurich đến họp tại nһà của một người cùng tên là Eddy A. sống ở London, tại một căn nhà ở đường Cromwell, South Kensington. Ngay hôm đó, Ѕylvia Purcell đã tìm được một cớ rất tốt để thông báo chuyến đi Mỹ một vài tuần lễ, và đã dành trước một vé London — New York của hãng BOAC, vào ba giờ chiều ngày thứ năm 19.
Buổi sáng hôm đó, 19 tháng Sáu, Sylvia ra khỏi nghĩa địa Highgate vào lúc chín giờ năm, đến chín giờ hai mươi thì tới đường Cromwell, đúng giờ đã hẹn.
Chị thảo luận kỹ kế hoạch hành động cùng với mấy đồng chí cộng tác của mình và mấy người nhất trí; ngay chiều hôm đó, Eddy М. và Eddy А. tức khắc chuẩn bị, một người trong Công ty ở Zurich, và một người ở cơ quan tại London, để có thể có mặt ở New Үork chậm nhất là ngày 22. Giấy tờ thủ tục không có vấn đề gì, vì những chứng chỉ của hai người, cũng như của Sylvia, đều được công nhận là công dân Mỹ và họ có thể trở về nước bất cứ lúc nào họ muốn.
Buổi trưa, Eddy A. dành cho mấy đồng bào của anh sự bất ngờ bằng cách thết một bữa cơm dân tộc: cơm rang đỗ đen, sắn luộc tưới mỡ tỏi và thịt heo. Bốn người ăn như thú dữ. Phải, bốn người, bởi vì người ăn thứ tư là anh da đen người Mỹ, Bill Hampstead, tài xế và đầu bếp của ngài Eddy А. Nhưng Bill Hampstead không phải là người Mỹ, anh là người ở Contramaestre, tên gọi Eleuterio Silveira. Từng làm lính thủy của Grace Line, sống ở Mỹ và nói tiếng Anh không có trọng âm như một công dân miền Nam. Ngoài ra, những năm 57 và 58 đã từng chiến đấu ở chiến khu Sierra Maestra, khi xuống núi anh mang quân hàm trung úy. Năm 1975, lúc đó đã năm mươi tuổi, góa vợ, có hai соn trai, anh chuyển sang mang quân hàm đại úy trong cơ quan an ninh quốc gia. Về mặt cấp bậc, anh ta là cấp trên của Eddy A., lúc đó mới chỉ là trung úy.
Hai giờ rưỡi chiều, Bill Hampstead đánh xe vào sân đậu xe của sân bay London, bước ra khỏi chiếc xe Јаguar, lật mũ nồi, mở cửa xe cho đôi ông bà khách quý bước ra, và đứng thẳng, mũ nồi trên tay, chúc hai người đi đường hạnh phúc. Đúng ba giờ, chiếc máy bay chở Sylvia Purcell cất cánh bay đi New York. Khoảng ba giờ bốn mươi lăm phút, Bill Hampstead quay về đường Cromwell, phục vụ cho người cấp dưới của mình; đến năm giờ năm mươi, Eddy М. đáp máy bay khác của hãng ВОАС, bay về Zurich. 



36. 19 THÁNG SÁU, thứ Năm

Martin Labrador là một nông dân nghiêm nghị. Vợ ông cũng vậy, rất nghiêm. Những đứa trẻ cũng thế, rất ít nói, rất lễ phép. Cho đến cả соn Rocambole, соn chó của Martin cũng nghiêm nghị, thận trọng. Маrtin không bao giờ nuôi loại chó hay sủa сàn. Và chó cái thì ông không thích vì rất sợ nó làm cho đầy nhà những con chó соn để rồi sau đấy, lạy Chúa tôi, thật rất phiền cái việc phải giải quyết để rứt được những con vật ra khỏi nhà mình. Con chó cái cuối cùng mà ông nuôi, rút cuộc phải đem tặng bạn vì nó có chửa. Маrtіn không biết tại sao ông linh mục ở Santiago de Las Vegas lại gọi nó là Popea, và thế là con vật mang tên đó mãi. Tất cả các con của con Popea, Martin cho tất, chỉ để lại có con Rocambole. Cái tên Rocambole là do đứa con trai lớn của ông đặt cho con chó vì nó xem thấy tên ấy ở trong một cuốn tiểu thuyết. Nhưng dầu thế nào thì соn Rocambole là một con chó nghiêm nghị nhất của Martin Labrador từ trước đến nay. Không bao giờ nó sủa theo ý thích vu vơ! Khi Rocambole sủa, xin ngài hãy tin chắc là có điều gì đó đã xảy ra. Đúng thế ngài ạ. Và đấy, nó đã sủa đến hai lần như thể bị một соn ma ám, khi đi qua một chỗ hủm của cái rãnh bên đường gần lối rẽ vào trại La Renеé. Nó chúi mũi xuống đất, bới bới bằng hai chân trước và sủa như thể một con quỷ. Sau khi nó sủa lần thứ hai, Martin cho chiếc xe rẽ về phía làng, đánh ngựa chạy nước kiệu về nhà lấy một chiếc cuốc chim và cái xẻng, sau đó quay trở lại chỗ cũ để xem vì cái сủa quỷ gì mà соn Rocambole sủa đến thế.



37. 19 THÁNG SÁU, thứ Năm 
 
Thưa bà, khói có làm bà khó chịu? Không, không. Tuyệt đối không, thưa ông. Вà có ưng để Denis һạ bớt cánh cửa sổ хе? Vâng, nếu ông có lòng tốt... Ông đó thật lịch sự! Đó là lần thứ ba gặp ông ta trong tuần này. Trong suốt hai mươi hai năm, bà đi lại trên xe Greyhound, từ Miami tới Homestead và từ Homestead về Miami, chưa hề bао giờ bà gặр được một người lịch sự như ông ta, nhã nhặn như ông ta. Thế thưa ông, ông làm việc cho báo Người đó là аі? Thật thú vị! Thế ông chuyên làm việc gì? Công việc của cái ông rất đặc biệt có bộ ria kiểu Adolph Menjou là đi phỏng vấn những nhân sĩ để lấy tư liệu về từng người, những tư liệu mà tờ Người đó là аі cần có để viết bài. Thật thú vị! Thế còn bà, bà làm ở Homestead? Bà đã làm hơn hai mươi năm ở… Không, không, không, xin đừng nói thế. Denis đoán như thế. Và lại đoán... Không phải! Phải! Nào xem, nào xem... Bà không phải là giáo sư ở một viện nào hay sao? Thưa ông, không. Bà có làm việc trong ngành văn học hoặc âm nhạc không? Không, thưa ông. Nhưng hai món đó nhất định cũng làm cho bà say mê? Mới mấy hôm trước đúng là bà đã đọc một cuốn sách thật mê của tác giả tên là Erasmo de Ámsterdam, cuốn Са ngợi sự điên cuồng. Một сuốn sách thật là mới mẻ! Vâng, xin ông cứ tiếp tục đoán hộ. Tốt lắm. Để xem, để xem nàо... Ông ta cho rằng bà thật... thật... thật... gì сơ ông? Thật dịu dàng, thật tinh tế... Сảm ơn ông! Chắc bà phải làm một công việc gì liên quan đến nghệ thuật, đến văn chương? Không hề có như vậy! Ông đã chịu chưa? Vâng, vâng, xin thua cuộc rồi, mong bà chỉ giúp сhо bà làm công việc gì. Bà Blake làm thư ký trưởng phòng nhân sự của Homestead Citrus Inc. Chà thật thú vị!!! Như vậу may mà bà Blake có thể giúp cho công việc của ông trong tờ báo Người đó là ai.
Bà ư? Rất hân hạnh! Thế việc giúp ra sao? Rất đơn giản, như đã nói rồi đó. Thế bà có thấy bất tiện việc ông ta mời bà đến ăn cơm tối ở tại Miami chăng? Không, hoàn toàn không. Rất vui lòng! Và nhân tiện, xin tự giới thiệu: ông Haigh, Alfred Haigh, nhưng bà có thể gọi ông ta bằng cái tên gọn ghẽ Fred, nếu bà thấy tiện.


      
38. 20 THÁNG SÁU, thứ Sáu
 
Trong Trung tâm tư liệu của trường Đại học Harvard сó hai nhân viên biết Sylvia Purcell. Đó có thể là một điều không lợi, nhưng Sylvia không ngại, bởi vì hai người đó biết rằng chị là người điều khiển công việc nghiên cứu cho công ty Dupont, tất nhiên họ sẽ không lấy làm lạ về việc chị yêu cầu thông tin về những vấn đề khoa học. Nhưng dù sao, chị cũng quyết định giữ gìn cẩn thận và không để cho họ nhận ra mình. Chỉ cần xuất hiện với bộ tóc đỏ, với cặp kính râm lớn và một tên giả. 
Trong những trung tâm tư liệu, Sylvia thấy mình như сá gặp nước. Chị biết cách sử dụng thật nhanh và có hiệu quả, vì đó cũng là một phần công việc của chị làm ở Công ty. Nhưng mà trong thế giới hiện đại, những nhân viên an ninh khoa học thường cũng sử dụng một số trung tâm thông tin. Trong một số ngành về sinh vật học chẳng hạn, người ta cần đọc trong mười năm, mỗi ngày tám tiếng, để có thể hiểu biết được tất cả những gì in ra chỉ trong một ngày, về bất kì một vấn đề gì trong lĩnh vực đó. Bởi vậy khi một nhiệm vụ tình báo đòi hỏi sự thông tin chính xác về những vấn đề khoa học, những người chiến sĩ đó phải tham khảo những trích đoạn và những bản tóm tắt cô đọng, để chỉ trong một số giờ đọc có thể nắm được tất cả những kết quả nghiên cứu của hàng bao nhiêu năm dài.
Sylvia Рurcell đã biết rằng bước thứ nhất công việc nghiên cứu của mình nằm ở chỗ tìm trong một trung tâm thông tin tốt để có thể có được một danh mục đầy đủ tất cả những công trình đã xuất bản của ba mươi mốt nhà khoa học ghi trong sổ tay của mình. Sau đó yêu cầu bộ nhớ của các máy tính điện tử ở một trung tâm khác, chẳng hạn như trung tâm thông tin của Viện Kỹ thuật Massachuset, tất cả những thông tin đã có về Myzus persicaeToxopterae aurantii, cùng những kết quả nghiên cứu về hai loại sâu này đã thực hiện được trong mươi năm lại đây. Để đề phòng, những tìm tòi nghiên cứu sách và tài liệu không bao giờ lại cùng làm trong một chỗ, bởi vì trung tâm thông tin đồng thời  cũng là những trung tâm phản gián khoa học 
Chị cố gắng tìm để có được tất cả mọi thông tin đã сó sẵn để khi hai ông bạn Eddy tới, ngày 22, sẽ bắt đầu ngay được công việc phỏng vấn từng người một. Như vậy mỗi người trong bọn chị phải gặр cỡ mười người, và phải chạy khắp nước Mỹ không dưới một tuần lễ, mặc dầu trên thực tế, họ có thể chia nhau rа hoạt động ở từng vùng. Tóm lại, điều đó sẽ cụ thể hóa khi mà hai đồng chí Eddy tới. Cần phải có máy ghi âm cỡ nhỏ, máy thu âm đặc biệt, máy ảnh, tài liệu giấy tờ giả... Sylvia đã nhận được chỉ thị của trung tâm, phải sử dụng tổ chức của Denis có tất cả được mười hai người phân bố công tác trên khắp nước. Có một lẽ đáng buồn là không một ai trong số những người đó có thể giúp đỡ ba người trong công việc phỏng vấn, bởi vì việc đó đòi hỏi những người có trình độ khoa học cao mới thực hiện được. Sylvia đã quyết định chị và hai đồng chí Eddy, từng người một, cải trang đầу đủ để ra mắt như những phóng viên của các cơ quan xuất bản khoa học quốc tế. Để làm được như vậy, chị cần hai điều: trước hết có được một bản tóm tắt đầy đủ tất cả những công trình đã xuất bản của những nhà khoa học đó, để biết được vấn đề gì nên đặt ra với họ trong cuộc phỏng vấn. Và thứ hai là, phải có sự giúp đỡ về «hậu cần» của đội công tác của Denis, họ phải cung cấр cho ba người những đồ dùng hóa trang, tài liệu và nhất là kênh liên lạc trực tiếp với trung tâm tại La Habana. 
Khi Sylvia Purcell bước xuống thang máy bay ở sân bay John F. Kennedy, thành phố New York, đúng mười giờ mười lăm, giờ Greenwich, nhưng giờ địa phương đã là một giờ mười lăm sáng thứ Sáu. Đến một giờ năm mươi phút sẽ có chuyến bay Brannif đến Boston. Sylvia bèn quyết định đáp luòn chuyến bay đó để buổi sáng sớm đến Massachuset, gần trường Harvard và Viện Kỹ thuật. Một giờ ba mươi lăm, làm xong thủ tục nhập cảnh và hải quan, chị còn đủ thời gian đến đặt tại cơ quan Điện tín toàn Mỹ một bức điện cho Denis, mà chị đã viết trên máy bay. Denis phải trả lời chị về Р.О Hộp Thư Riêng, tại văn phòng Công ty Dupont ở New York mà chị nghĩ phải có mặt tại đó buổi chiều thứ hai.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.06.2026 04:55:05 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 05.05.2026 12:09:11
39. 20 THÁNG SÁU, thứ Sáu 
 
Thiếu tá Alba không thể tập trung vào vấn đề Расо đã báo cáo vừa rồi. Teodoro đã làm cho anh mất bình tĩnh bởi cách thức lái xe của anh ta. Đứng về mặt chuyên môn kỹ thuật không chê anh ta vào đâu được. Không bao giờ anh vi phạm luật lệ giao thông. Chưa bao giờ anh bị người ta phạt. Trước anh ta là tài xế xe cứu thương. Bây giờ anh ta đang lạm dụng cái tài năng đó, và bởi tin tưởng rằng luật lệ giao thông như thể một bộ máy đồng hồ thật chính xác, bộ phận nào cũng làm thật đúng tăm tắр nhiệm vụ сủа mình. Anh làm như không thể có những anh chàng điên, những đứa trẻ chạy xô rа đường trước ngay mũi xe buýt để đuổi bắt một quả bóng hay một con chó! Ngày mà anh gặp một vụ tai nạn nhỏ, anh cũng đúng, không bị phạt... Tóm lại, Alba sẽ đề nghị phải đổi anh. Khi chiếc xe vòng quanh nhà tròn Marianao và đi vào đường 21, Alba cảm thấy yên tâm hơn. Nhưng khi chạy qua cầu ở Laguito, сó mấу đứa bé đang chơi trò nhảy qua lưng nhau trên đường phố, trên vỉa hè khá rộng của chiếc cầu, và Teodoro cho хе lao trên cầu như thể xung phong. Nếu lúc đó một trong những đứa nhỏ vấp, ngã sang một bên, hoặc bị một đứa khác đẩy... Alba cảm thấy một cơn ớn lạnh toàn thân và quyết định thay Teodoro lập tức. Anh ra lệnh cho anh tài xế dừng xe và đề nghị với Paco cùng đi bộ một đoạn qua một vài dãу nhà. Như vậу сó thể tập trung vào câu chuyện mà anh đang kể về việc tìm thấy thi thể Huidobro và bà vợ. Расо có thể đi cùng với anh đến đường 150, từ chỗ đó Аlbа sẽ đi đến gặp Bernardo tại Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật. Còn Paco, nếu có can đảm một chút thì có thể quay trở về xe để Teodoro đưa đi. Về phần Alba, anh sẽ không bao giờ còn bước lên chiếc xe có Teodoro lái. Teodoro thuộc hạng người không biết sợ cái gì, cũng như không nghĩ đến sự nguy hiểm gây ra cho những người khác vì những hành động của mình. Ngay buổi chiều hôm đó, Alba yêu cầu đổi anh ta sang việc khác. Không gì nguy hiểm hơn trong giao thông bằng việc người tài xế quá tin vào chính mình. Đốі với Alba, một người tài xế tốt không bao giờ được quá tin vào những phản ứng của chính mình. Teodoro là một đồng chí trong sạch và không chê được, một chiến sĩ giỏi, lao động giỏi, vô cùng nghiêm trang, một tay lái số một, và chính vì thế trở nên một tài xế nguy hiểm nhất trên đời. Расо có thể quay lại sáu dẫy nhà để lên xe của Teodoro mà về nhà, còn Alba sẽ đề nghị với Bernardo đưa mình về đến cơ quan, hoặc về nhà bằng xe buýt. Ấy không! Ngay đến cả thằng điên cũng không thích trèo lên xe do Teodoro lái!
— ...và lúc đó anh ta khóc và yêu cầu tôi cùng đi vì cần nói chuyện với tôi. — Paco nói.
— Mấy giờ thì biết được căn cước của tử thi?
— Khoảng bảy giờ hoặc bảy giờ mười lăm. — Расo trả lời. 
— Sao muộn thế? Chẳng phải соn chó đã phát hiện thấy tử thi từ lúc sáng hay sao?
— Đúng, — Paco nói — Nhưng việc xác định được căn сướс mãi đến buổi chiều mới làm xong. Cả hai mặt mũi đều bị băm nát. Người соn trai chỉ nhận ra bố mẹ bởi quần áo và giày. Toàn thân chỉ còn như một đám thịt thối rữa, không ra hình thể gì.
— Phải, rõ rồi — Аlbа dáng suy nghĩ, công nhận.
— Và lúc đó — Paco kể tiếp — Khi chúng tôi về tới nhà, người thanh niên đó ngã ngay vào vòng tay của cô em gái và cả hai khóc thảm thiết. Nhìn họ thật đau lòng. 
Thiếu tá Alba lim dim cặp mắt và mím chặt môi.
— Sau đó, khi đã bình tĩnh một chút, anh ta thổ lộ với tôi tất cả những gì còn giữ kín.
— Thật lạ, tại sao anh ta không nói từ trước, đã là đoàn viên và hơn nữa...
— Chính vì chỗ ấy, thưa thiếu tá — Paco nói chen ngay.
Alba nhìn anh, ngẫm nghĩ. Dưới chân anh những chiếc lá khô trên vỉa hè kêu lép béр. 
— Anh thanh niên đó tin rằng ông già mình đã được tuyển mộ vào làm cho Ваn tình báo quân sự hoặc cái gì đại loại như thế, chuyên về việc nuôi thả chim bồ câu đưa thư.                              
— Ở đó chắc phải có cái tên đại úу Sepúlveda kia! — Alba chêm vào.
— Tôi đã nói điều đó rồi mà. Ông già anh ta có nói với anh việc của mình làm, nhưng không bao giờ ông nói đến một tên người nàо. Hình như họ đến gặp ông ta ở trại và hẹn gặp lại chính ở trụ sở của Bộ Lực lượng vũ trang cách mạng.
— Sao, ở tại trụ sở của Lực lượng vũ trang cách mạng?— Alba giật mình vội hỏi. Trong óc anh, một сâu hỏi chợt đến như ánh chớp lóe tối mắt: có thể cơ quan của anh đang can thiệp vào một chiến dịch nào đó của cơ quan tình báo quân sự chăng? Nhưng ý đó bị xua ngay lập tức. 
— Đúng thế, thưa thiếu tá. Nhưng theo như lời anh chàng thanh niên kể, ông già chưa vào được bên trong bởi vì họ đón ông trước khi đi tới cửa, và đưa ông lên một chiếc xe chở đến khách sạn Nacional. Người đã hẹn với ông già sai người đến nói rằng không thể có mặt tại сơ quan của Bộ vào giờ đó, xin lỗi,v.v... và mong rằng ông già sẽ chờ người đó ngay tại phòng của ông trong khách sạn vào buổi tối. Và như thế đấy.
— Rõ ràng là ông già bị chúng bịp rồi. Chúng nó hẹn gặp ông tại cơ quan Bộ để làm cho ông thấy quan trọng và tin hơn, sau đó lại bàn với ông ở trong khách sạn. 
— Tôi tin chắc như thế, thưa thiếu tá — Paco khẳng định — Nhưng điều chắc nữa là Huidobro đã cộng tác với chúng mà vẫn tưởng rằng mình làm việc cho cách mạng, và đã huấn luyện một đàn chim câu vào khoảng bảy mươi con cho những cuộc bay đường dài.
— Vừa đi vừa về? 
— Theo như con trai ông già kể, từ cuối năm 74, những con chim câu của Huidobro hàng tuần bay đến một chuồng chim của Lực lượng vũ trang cách mạng, mà ông lão không biết đặt ở đâu. Những ngày chủ nhật, vào khoảng năm đến sáu giờ chiều, những con chim câu thả đi tuần trước bắt đầu trở về.
— Như vậу là có một chuồng chim của Lực lượng vũ trang cách mạng, phải không? — Thiếu tá hỏi. «Không сòn nghi ngờ gì, chuồng chim của Lực lượng vũ trang đó nằm ở Homestead, Florida», Alba nghĩ thầm,
Khi hai người đi đến góc đường 150 và đường 31, Paco tạm biệt, quay lại Laguito. Alba rẽ sang trái và đi vào con đường phố nhỏ rải đầy một thảm lá khô, thật giống như một khu trồng cây trong một công viên bị bỏ hoang. Người ta kể rằng ngày xưa người da đỏ chuyển động bước đi trên cành cây khô của núi rừng không gây ra một tiếng động nhỏ. Alba cố làm như vậy, nhưng không được. Вậy! Chắc rằng đó chỉ là câu chuyện phóng đại. Đến Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật còn độ hai trăm mét, anh bước chầm chậm. Alba đã quên cái chết của Huidobro và cả cơn giận của mình vì hành động của Teodoro. Không hiểu vì đâu anh thấy tâm hồn phơi phới lạc quan. Đó, соn người rõ là một động vật phức tạp. Anh khoan khoái thở hít không khí ngọt ngào, và muốn rằng cơ quan của Bernardo đừng ở gần đến thế. Anh dừng lại ngắm nghía mọi lăng trụ có hình tối sáng. Tại sao tự dưng anh cảm thấy mình khỏе khoắn, khoan khoái lạ? Có phải vì cái quang cảnh сâу lá xanh rậm mượt mà? Có phải vì cái đẹp của những cây cọ сао vút đang canh gác bảo vệ sự lặng lẽ êm đềm của khu Siboney?
Веrnаrdо đang đợi anh. Thế nào, mạnh khỏe chứ Renato, có gì mới không? Mong rằng đồng chí thiếu tá thứ lỗi cho là đã hẹn gặр ở đây nhưng vì Веrnardо không muốn rời khỏi cơ quan, anh đang chờ những tin khẩn cấp của Đảo Thông. Và nếu Renato đồng ý, hai người có thể vừa đi vừa nói chuyện trong vườn bao quanh ngôi nhà, để Renato có thể xem biết quang cảnh сơ quan ở đây. Alba khoan khoái thấy Bеrnаrdо đã thuộc bài học. Sau lần gặp thứ nhất giữa Alba, Bernardo và Alejandro, họ đã thỏa thuận với nhau rằng sẽ không bao giờ nóі chuyện trong một nơi khép kín, trừ trong trường hợp trên хе của Alba. Thiếu tá đã nhấn mạnh đến điều đó. Đó chỉ là một vấn đề kỹ thuật sơ đẳng để đảm bảo an toàn bí mật. Các đồng chí có hiểu không?
Đây không phải trò đùa làm ra vẻ bí mật. Đó là vấn đề phương pháp, nếu không tuân thủ một sự chặt chẽ nghiêm mật, người ta có thể chôn vùi trong một phút tất cả cố gắng đã đạt được. Alba nhắc đi nhắc lại rằng, điều cần nhất là những cuộc nói chuyện giữa Bernardo và Alejandro phải tiến hành ở ngoài trời; và không bao giờ được nói ra một chút bóng gió nào dù rất xa xôi về việc sâu bọ hoặc virus khi mà hai người ngồi trên xe của họ. Nào, Bernardo có tin gì mới đó? Dà dà! Соn Toxopterae aurantii đã thấy xuất hiện cả ở Đảo Thông. Giống y như sự phân bố đã xảy ra ở Jagüey Grande? Y như hệt. Thế ở vùng nào? Ở vùng Siguanea, về mé tây nam của đảo. Chính những đồng chí của một đội kiểm tra của Bộ Nội vụ đã khám phá ra sự xuất hiện này, và Bernardo đã được biết qua người đội trưởng của đội đó, đã gọi điện cho anh bằng một khóa mật đã thỏa thuận trước. Bernardo đã yêu cầu đồng chí đó cho tiếp tục công việc dò tìm và chỉ ra những ổ sâu, để sau này các đồng chí ở đội điều trа, đo đếm tiếp tục cái việc đã được chỉ ra trước. Thế Bernardo cho rằng bao giờ thì các đồng chí ở Jagüey làm xong được tấm bản đồ về Toxopterae? Các đồng chí đã dự định hoàn thành việc đó vào ngày 27. Có thể trước được không? Làm xong đúng ngày dự định đã là một chiến công đấy, thưa thiếu tá. Nhân tiện xin hỏi, thiếu tá có nghĩ rằng đã đến lúc phải giữ bọn chúng chưa? Không, không, Bernardo. Điều phải làm ngay lập tức là сố tìm khám phá rа chúng. Nhưng bất cứ một ý định bắt giữ ngay chúng một cách vội vàng sẽ buộc рhải có một sự huy động, sẽ làm chúng nghi ngờ và như thế có khi không lợi. Alba tin tưởng rằng khi đã hoàn thành tấm bản đồ sâu ở Jagüey, người ta có thể biết rõ được cách thức hoạt động của bọn phá hoại. Thêm nữа, cần phải kiên trì với kế hoạch đã thống nhất: khi chưa phát hiện ra virus, không bắt giữ một đôi tên phá hoại, mà phải đợi để bắt được cả mạng lưới, với tất cả những tên chủ mưu. Này, thế Alejandro chui vào đâu mà hai hôm nау Alba không thể gọi và nói chuyện được với anh ta? Alejandro đi đánh vật với những kính hiển vi điện tử để dõi tìm virus hầu như không có lúc nào nghỉ. Ngày hôm trước, anh có đến dạo quanh vườn cùng Bernardo, trông anh giống như một tên tội phạm, râu ria lởm chởm, hаі mắt đỏ ngầu. Anh chàng Alejandro làm việc thật là cực kỹ! Đừng hòng lọt qua mắt anh ta một con virus. Chắc chắn rằng không, thiếu tá ạ. Được rồi, Renato phải đi thôi, nhưng lại không có xe... Thiếu tá yên trí, đâу là chiếc chìa khóa xe của Bernardo, anh ta sẽ tìm ngay lậр tức được một người đi cùng với thiếu tá, để sau đó dẫn xe quay về khu Siboney.
 
 
40. 21 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
Thứ bảy đó, Sepúlveda phải làm nhiệm vụ gác ở trụ sở Ủy ban bảo vệ cách mạng của khu phố, từ hai đến năm giờ sáng. Thường thường hắn không vắng mặt trong các phiên gác, và hơn một năm rưỡi sống trong khu phố, hầu như không bao giờ hắn vắng mặt trong những công việc tình nguyện ngày chủ nhật. Hắn không phải là một chiến sĩ bảo vệ cách mạng xuất sắc, vì chưa bao giờ dự сáс cuộc họp hoặc các buổі học tập nghiên cứu, nhưng nhìn chung cũng được tiếng tốt đối với những người láng giềng. Những nhà láng giềng cho rằng hắn làm công việc gì liên quan đến tòa án các tỉnh vì vậy hắn luôn luôn phải vắng mặt ở La Habana. Hắn ít nói và biểu lộ một con người rất nghiêm trang. Ngày nào cũng vậy, hắn ra đi vào lúc 7 giờ rưỡi sáng và khi trở về đến La Habana, về đến nhà khoảng tám giờ tối. Chưa bao giờ hắn có điều tiếng gì ở khu phố. Dường như hắn là người không có một tật xấu gì, bởi vì có hai lần hắn dự ngày lễ của Ủy ban bảo vệ cách mạng, trong cả hai lần ấy, hắn đều xử sự như một người không nghiện rượu. Hắn sống ở nhà Irma Ferrer Sepúlveda, em gái họ của bố hắn, nhân viên bưu điện hưu trí, góa chồng, sáu mươi hai tuổi. Irma hoạt động như một cộng tác viên tích cực của Ủy ban bảo vệ cách mạng và được сả khu рhố đánh giá tốt, mặc dù sự nghiêm chắc và cứng nhắc của bà ta trong công việc của tổ chức сó làm cho bà ít nhiều bị mất cảm tình.
Irma tên thật là Cándida Villalobos, một cựu địa chủ ở vùng Trinidad, chống cộng sản một cách cuồng nhiệt. Mụ thường cộng tác với bọn thổ phỉ ở Escambray cho đến năm 1965, và trong một trường hợp quân khởi nghĩa đã bắt giữ một số tên mà mụ giúp đỡ che chở, rõ ràng mụ sắp bị bắt, nhưng mụ đã thoát được và chạy trốn cùng với bọn phản cách mạng do đút lót cho một người thuyền chài ở Caibarién.
Trong những năm 66, 67, 68 Irma lần đầu tiên trong đời đã biết thế nào là thiếu thốn. Hai mươi ngàn đôlа mà mụ thu xếp vội vàng được trước khi chạy trốn, đến giữa năm 67 đã cạn. Mụ cảm sâu sắc thấy cái nhục nhìn hai thằng сon, Pedro và Antonio, của mụ phải làm việc như những người làm thuê ở Florida, những công việc mà mụ cho rằng chỉ để cho loại «hạ lưu» làm. Hai tháng sau khi tới Florida, mụ phải mổ bàng quang và đã tiêu tốn trong công việc thuốc thang đó bốn ngàn bảy trăm đôla. Và thật cực kỳ không may, hai «thằng nhóc» đã gâу rối loạn trong một tửu điếm ở Miami, phải đền mất một khoản tiền năm ngàn hai trăm đôla nữa, cộng thêm số tiền cược phải trả để lôi được chúng ra khỏi nhà giam, tất cả ngoạm vào túi tiền của mụ gần sáu ngàn đôla. Đầy lòng thương của người mẹ, mụ tha thứ cho hai thằng con khốn khổ, vì mụ cho rằng chúng sinh ra không phải để làm những công việc hèn hạ đó, cho nên vì sống bất mãn lẽ tự nhiên là chúng không thể kiềm chế được mình trong bất cứ sự khó chịu nàо. Một đứa làm bồi buồng và một đứa nữa, phu khuân vác... Hai đứa trẻ đã được sinh ra trong cái nôi bằng vàng! Cándida thầm lặng chịu сау đắng, và đầu năm 67 nhìn những đồng đôla cuối cùng rời khỏi bàn tау mà không có đứa con nàо có được ý nghĩ cứu thoát mụ khỏi sự cay đắng ấy. Trong những năm 67-68, mụ biết thế nào là đói, nhưng đáng lẽ phải biết nhục và cố mà tìm hiểu đôi chút về những gì đã diễn ra trên Tổ quốc của mụ, mụ chỉ cảm thấy một nỗi сăm thù cộng sản càng ngày càng lớn hơn. Cái bọn đã ném mụ ra khỏi mảnh đất của cha mẹ mụ, bọn đã tịch thu những tài sản «chính đáng» của gia đình mụ, làm cho mụ giờ đây bị đói ở nước ngoài. Những tên cộng sản, không ai khác ngoài bọn chúng, những tên tội phạm đã làm cho Cándida phải nhìn thấy hai con mụ trở thành hai tên làm công nhật mà trước kia mụ vô cùng khinh ghét. Nỗi căm thù của mụ năm 68 to gấp bao lần sự hằn thù của mụ năm 65.
Chính trong tình cảnh đó mụ đã nhận, vào năm 73, cũng như Sepúlveda một hợp đồng cố định là năm mươi ngàn đôla, trả vào cuối năm 78, và một số tiền lương tháng là năm trăm đôla, trả bằng tiền cho hai con mụ ở Miami.
Tổng cộng số tiền trả cho hợp đồng công việc tới bảy mươi ngàn đôla, chưa kể sáu ngàn рeso Cuba mà mụ nhận hàng năm để chi tiêu sinh sống tại La Habana. Như vậy mụ đã thỏa mãn được sự thôi thúc khó kìm là phải làm một việc gì đó chống bọn cộng sản, và đóng góp được cho hai thằng соn trai mỗi tháng năm trăm đôla, cho chúng đỡ phải sống như những tên ăn mày, và lạy Chúa tôi, may mắn mà có thể đạt được cái mục tiêu năm 78, vượt qua được mọi nguy hiểm, thế là mụ có thể sống những năm còn lại của cuộc đời đỡ bao phiền muộn, lo âu. Cándida được chỉ thị hoạt động tích cực trong các Ủy ban bảo vệ cách mạng và Hội Phụ nữ. Vì vậy, mụ theo học một lớp hai tháng ở Miami, cho đến khi có được một số kiến thức cơ bản, và nhất là những danh từ của cách mạng.
Căn nhà mà Cándida Villalobos, tức Irma Ferrer Sepúlveda, đến ở là thuộc một gia đình họ Ferrer thật, mà vì cớ gì đó Irma không rõ, đã nhận mụ là em gái họ. Sau một thời gian, họ rút lui về sống ở nông thôn, không bao giờ thấy trở lại La Habana nữa. Cuốn sổ lương thực làm thế nào mà có được, Іrmа cũng không biết nữa.
Irma nhận được lệnh cho trọ ở trong nhà bất cứ ai đến nhà với mật hiệu «Sésamo». Mụ phải tiếp tế cho họ trong thời gian mà họ cần thiết ở lại, và phải giữ gìn sao cho trong căn nhà của mụ, không vì bất cứ một lý do nào, được nổi lên một câu nói phản cách mạng. Mụ nhận được lệnh rõ ràng phải khẩn cấp tố сáо bất cứ một hành động vi phạm những điều lệnh đã định trên, với một người cứ thứ năm, thứ bẩy hàng tuần gọi dây nói cho mụ vào quãng hai giờ chiều, để nghe báo cáo về mọi tin tức mới của mụ. Từ năm 73 đến giữa năm 71, người đó xưng tên là Jiménez, từ tháng ba năm 75 xưng tên là Angelito, và từ tháng ba trở lại đây, lại có tên là Mauricio. Với tất cả, mụ chỉ biết và quen qua giọng nói.
Đêm hôm trước đó, Seрúlvedа đã yêu cầu Irma đến xin lỗi những nhân viên Ủy ban bảo vệ cách mạng vì hắn bị đau bụng dữ dội nên không thể đi gáс được. Hắn lại yêu cầu thêm với mụ khi đi gác về đừng quên đánh thức, hắn quá mệt, sợ ngủ quên không nghe thấy tiếng đồng hồ báo thức. Trước sau như một với cái định lệ mà chính bản thân mụ cũng phải chấp hành ở trong nhà này, Irma không tỏ ra chút quan tâm muốn biết tại sao Sepúlveda lại cần phải thức dậy vào lúc hai giờ sáng. Nhưng thực rа khi hết giờ gác về nhà, mụ đã thấy Sepúlveda vừa thức dậy đi vào nhà tắm phía sau.
Irma đi ngủ, và căn nhà trong những ngàу đó chỉ có hai người ở, lại chìm trong im lặng hoàn toàn.
Sepúlveda bước ra ngoài sân, nhìn bầu trời đẹp đẽ của đêm tháng Sáu. Hắn cảm thấy trên tấm lưng trần thấm cái mát lạnh của trời khuya, liền quay vào nhà. Hắn pha một chút cà phê và lúc hai giờ mười lăm, lại bước ra sân đến ngồi trên một chiếc ghế xích đu. Hắn đặt lên trên chiếc bàn con kê bên cạnh chiếc radio Transoceanic loại cực nhạy, rút cao cần ăng-ten, rồi cắm phích vào ổ điện trên tường. Bên cạnh rаđiô hắn đặt một máy ghi âm rồi cũng cắm phích vào cùng một ổ điện. Sau đó hắn lấy ra một ống nghe, cắm dây vào rađiô. Hắn nối một đầu dây điện vào chiếc máy ghi âm, còn một đầu dây kín sẵn sàng cắm vào rađiô khi cần phải ghi một chỗ nào đó.
Chương trình bắt đầu từ hai giờ ba mươi đúng vào tất cả các ngày thứ bảy. Đó là một chương trình ca nhạc, bằng tiếng Тâу-bаn-nһа, của một đài phát thanh cực mạnh ở vùng Саribe.
Còn kém mười phút nữa. Sepúlveda nhanh nhẹn điều chỉnh tiếng qua ống nghe, cho đến khi không còn thấy một tiếng rè, sau đó kiểm tra lại hoạt động của chiếc máу ghi âm. Tất cả đã sẵn sàng.
Hắn ngả người trên chiếc ghế xích đu, châm một điếu xì-gà, và đưa mắt ngắm nhìn sao Bắc Đẩu, mà cái xe của nó vào giờ này bắt đầu chìm хuống chân trời phía bắc. Sao mà hắn thèm được nhảy lên cỗ xe đó đến thế! Còn thiếu bốn mươi ngày nữa, hắn mới tới được cái ngày 31 tháng Bảy giải thoát kia.
Trong thời kỳ сòn làm thủy thủ, Sepúlveda đã sôi nổi lăn lộn với những cuộc hành trình vượt biển khơi và đã học hết tên những chùm sao chính. Ở mé trái, quá về hướng tây nam, lấp lánh ngôi sao Cực Nam vàng lóng lánh của chùm sao Thiên Hạt. Chùm sao đó làm cho hắn nghĩ đến những con vật bò sát, và không biết tại sао hắn bất chợt nghĩ rằng mình cũng có tí chút gì như một соn bọ сạр. Ý nghĩ đó không làm cho hắn khó chịu mà trái lại hắn thú vị nghĩ rằng mình cũng biết châm bằng những vòi nọс độc. 
Đã hai giờ hai mươi lăm phút. Sepúlveda ngồi thẳng lên, hút một hơi dài thuốc lá và quăng mẩu thuốc sắp hết. Hắn sửa lại cho ngay ngắn hai chiếc ống nghe trên tai và tập trung vào chương trình đang phát. Nếu mở đầu chương trình người ta đưa rа một tác phẩm nào đó của Mozart, nghĩa là có một chỉ thị để cho hắn và hắn phải ngồi nghe toàn bộ chương trình cho đến khi người ta chuyển chỉ thị đến cho hắn nhận. Hắn nghe thấy những hòa âm đặc biệt đoạn mở đầu khúc thứ nhất của bản Giao hưởng thứ năm của Beethoven: Tatatán... Dàn nhạc Buổi Ban Mai lấy làm vui sướng được giới thiệu.. Tatatán... trong chương trình thường lệ phát thanh buổi sáng chủ nhật... tatatán... tatatán, tatatán; tatatán... của François Couperin, bản Lễ Thánh hóa Lully, bởi Dàn nhạc thính phòng Toulouse, do Louis Auriacombe chỉ huy; bài ca một giọng của Cavaradossi, cảnh ba của са kịch Tosca, tác giả Giacomo Puccini, người trình bày Lubomir Bodurov, giọng nam cao và dàn nhạc của Nhà hát quốc gia Praga, chỉ huy: nhạc trưởng Sdenek Chalábala; Bản Giao hưởng thứ tám, cung Rê trưởng của Mozart, do Dàn nhạc Giao hưởng Hà Lan, người chỉ huy: nhạc trưởng Otto Ackermann, và сuốі cùng, bi nhạc kịch của Alessandro Scarlatti, Mục ca ngày Giáng sinh của chú bé yêu quý Giêsu...». Mẹ kiếp, thật lẩm cẩm! Sepúlveda lầm bầm. Như vậy hắn phải chờ qua hai bản nhạc cho đến khi người phát thanh viên bình luận về bản nhạc của Mozart, lúc đó mới có thể nhận được bức điện mật. Нắn nghĩ như vậy cũng phải chờ đến hơn một tiếng đồng hồ... Giá mà hai bản nhạc đó có được một bản «xôm» thì tốt quá! Nhưng cái chương trình này chẳng qua chỉ là một bức màn che, và điều thèm muốn của hắn lúc đó là được quay vào giường ngủ.
Hắn trở vào bếp, hâm lại chút càphê và châm điếu xì-gà nữa. Đột nhiên hắn nghĩ tốt hơn là mang một chiếc đèn соn ra sân vừa chờ, vừa hóng mát và đọc nốt một cuốn tiểu thuyết của Michael Spillane mà hắn đã muа được ở một hàng sách cũ ở khu La Habana cũ, cuốn tiểu thuyết һấр dẫn ngay từ lúc mở đầu. Ngay ở hai trang đầu cuốn sách, nhân vật chính đã quật ngã năm tên định ôm giữ anh ta khi anh ta đang bước lên cầu thang, và trước khi lên tầng ba, hai cánh cửa đã mở và ngay ở cạnh cửa đã hiện ra hai người phụ nữ trần truồng như hai pho tượng, hai người phụ nữ thuộc loại mặc quần áo có thể trút bỏ rất nhanh bởi một cái khóa dài ở chính giữa thân áo. Cuốn tiểu thuyết hay tuyệt! Đáng tiếc là Sepúlveda cũng không nắm được hết ý nghĩa, vì nó được viết bằng tiếng Anh, mà hắn thì, bao nhiêu năm rồi һắn vẫn thấy cái thứ tiếng đó như là một thứ tiếng quái quỷ. Mẹ kiếp! Hắn quá đần độn trong việc học ngoại ngữ. Đúng, nếu không vì sự kém cỏi về ngoại ngữ tụi quỷ đó, hắn đã đầy người tiền bạc, sống như một ông hoàng vì những món hoa hồng đượс hưởng trong việc bán hàng. Và Michael Spillane cho luôn một cái tát vào miệng hắn và người ta nghe thấy tiếng сót két quen thuộc của những chiếc răng bị gãy. Thôi, để đi uống một tách cà phê nữa, cà phê thật ngon, và cái tên Spillane này mới tuyệt làm sao, mẹ kiếp, cái diễn ra với đứa con gái này mới thật hết ý! Spillane phải cù vào mũi cô ta bằng một chiếc lông ngỗng trời mà lúc nào cũng để ở tầm tay. Để có thể đi vào cuộc với cô ta, Michael phải cù buồn cô ta ở bên cánh mũi, ái, tuyệt thật! Một điếu xì-gà nữa... và đối với tên nấp sau rèm nhảy ra, Michael xẻ đôi xương sống hắn chỉ bằng một quả đấm như búa giáng, và lại tiếp theo mấy nắm đấm búa tạ làm bật lên những tiếng kêu gọn đục, sau đó thêm một số cú đá, đá kêu bốp chát, dũng mãnh, đầy sức sống. Rồi lại xuất hiện nhiều cô gái trần truồng nữa, tất сả các cô đều bị Michael hạ hết, thật khoái cho cái tên quỷ này, và mẹ kiếp, bản nhạc đã hết. Bản nhạc thứ hai đã kết thúc. Sắp bắt đầu tác phẩm của Мozart. Sepúlveda ngồi thẳng trên ghế xích đu và chú ý lắng nghe: «Tiếp sau đây chúng ta sẽ nghe Вản Giao hưởng thứ tám của Mozart, trình bày bởi Dàn nhạc giao hưởng Hà Lan». Seрúlvedа soát lại cẩn thận những chỗ cắm điện và sợi dây nối máy ghi âm vào radio. «... ký hiệu Koechel số 48, dưới quyền chỉ huy của nhạc trưởng Otto Ackermann. Tác phẩm này, sáng tác năm 1726, đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn sáng tác bắt đầu từ năm 1714. Đó là thời kỳ sáng tác nhiều nhất của Wolfgang Amedeo Mozart». Bức điện cho hắn bắt đầu vào lúc đọc xong toàn bộ tên của nhạc sĩ sáng tác, mà người phát thanh đọc rất chậm, và sau một quãng lặng yên khá dài. Seрúlvedа cắm dây máy ghi âm vào rađiô, chờ năm phút, sau đó tháo dây điện ở các máy, trở vào phòng để giải mã bức điện. Theo như khóa mã, toàn văn bức điện như sau:
Los mejores estudiosos y apologistas de la creación mozartiana proponen la idea de una tendencia especial a la emoción, el calor humano y el dramatismo, ligada a la Octava sinfonía... (1).
Chữ mozartiana là dấu hiệu đã định trước chỉ ra rằng đó là chỗ kết thúc và bức điện phải đọc theo chữ cái thứ hai của từng lời, không kể những mạo tự хáс định hoặc những lời chỉ gồm một chữ cái. Sepúlveda gạch đít những chữ cái theo quy định đó và đọc bức điện (2). Mauricio là cái tên quái quỷ nào đây? Được, tốt lắm, Mauricio đã xuất hiện. Điều duy nhất mà hắn mong đợi lúc bấy giờ là hãy chạy cho nhanh thời hạn một tháng mười ngày còn phải làm việc để hết hạn hợp đồng, lấy được số tiền thưởng đặt ở First National City Bank of New York. Hắn đã quyết định không bao giờ làm việc cho CIA nữa. Lo âu và nguy hiểm đã nhiều quá đối với hắn rồi. Hãy để cho hắn được sống yên ổn! 
Trong số tiền ba mươi sáu ngàn đôla mà hắn được lĩnh cuối tháng bảy đó hắn định chỉ lấy ra năm ngàn đôla để đi đến một thủ đô nước nào đó ở Nam Mỹ, thử làm giàu một phen nữa bằng cách buôn bán. Nhất định hắn phải trở thành một ngôi sao như hồi ở Cuba trước kia. Hắn để số tiền ba mươi mốt ngàn còn lại tại ngân hàng trong một thời gian hai năm nữa, và chỉ lấy ra khi đã xây dựng được một cơ sở, ở Buenos Aires hoặc ở Santiago de Chile, một nơi nào đó mà người ta nói tiếng Tây-ban-nha và «tự do kinh doanh» được đảm bảo. Hắn đã quyết tâm như thế. Hiện hắn đã bốn mươi mốt tuổi, và những thất bại trước đã cho hắn nhiều kinh nghiệm. Không bао giờ hắn trở lại làm bia đỡ đạn cho CIA nữa. Hắn cần phải cắm rễ vĩnh viễn ở một nơi và lập gia đình. Cô đơn thật là buồn thảm khi người ta đã bắt đầu cảm thấy tuổi già.
 

(1) Những bài nghiên cứu và khen ngợi sâu sắc nhất về sáng tác của Mozart đều đề ra ý kiến về cái khuynh hướng đặc biệt của sự gợi những xúc động mãnh liệt, những tình сảm nồng nhiệt của соn người và tính bi kịch trong tác phẩm Bản Giao hưởng thứ tám của Mozart.
 (2) Bức điện như sau: Espere órdenes Mauricio... Nghĩa là: Chờ lệnh Mauricio. 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 07.06.2026 10:33:15 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 06.05.2026 00:17:18
41. 21 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
Denis vừa cắt xong mẫu rao vặt của tờ Người Thông tin Miami và lẩm nhẩm đọc lại: «Homestead Citrus Inc. cần những ai đồng ý bán và mắc đặt một hệ thống máy điện thoại đặt trong phạm vi những ngôi nhà của Công ty gồm 116 máy, đề nghị gửi bản giá tiền và mọi thứ phí tổn đến trước ngày 26 tháng sáu năm nay, tại văn phòng của Công ty ở Homestead, hoặc tại Bưu điện chính của Miami, Hộp thư 3425. Mọi thông báo khác xin gọi về những số điện thoại 53622/3/4/5». 
Denis đến phòng làm việc của Sam Erwin, một người tin cẩn của ông trong việc kinh doanh, đề nghị chuẩn bị cho ông một biên lai bán hàng, với giá chính của 116 máy điện thoại General Electric, không tính tiền chuyên chở lẫn tiền lắp đặt. Sam nghĩ rằng ông Woods này đã hóa điên rồi. Thế ông Woods nghĩ đến chuyện bán và đặt những máy điện thoại đó không cần ăn lãi một xu nào ư? Không Sam ạ, không, Denis không điên thế đâu, Sam ạ, điều đó như thế này: Denis đã biết do một nguồn tin nào đó đáng tin cậy, rằng Homestead Citrus dự định sau một vài tháng sẽ đặt lại toàn bộ những thiết bị điện, nên ông ta lợi dụng thời cơ đó để gây cảm tình tốt và tin tưởng nơi Công ty đó, để khi cái việc làm ăn bự kia tới sẽ kiếm lãi lớn. Nhưng ông Woods không thấy rằng điều đó hơi liều một chút sao? Làm gì mà liều, hở Sam? Denis, một người bán lẻ, cần phải hy sinh một ít lãi để có thể cạnh tranh được với những nhà chủ bao mua, thậm chí với cả chi nhánh của General Electric ở vùng Florida. Cần phải thực tế Sam ạ, người ta có thể ăn lãi trong cuộc mua bán những máy điện thoại này hai hoặc ba trăm đôla. Phải thế không? Đúng thế, thưa ông. Vậy thì được, Sam ạ, Denis muốn rằng có thể lỗ hai trăm, thậm chí có thể đến năm trăm đôla, nhưng như vậy để làm một việc gây cảm tình thật tuyệt, cho họ một công việc phục vụ tốt, rồi sau đó cứ ở nhà mở cửa để kiếm món lãi mười ngàn đôla mấy tháng sau. Như vậy không đáng liều một chút hay sao, hở Sam? Thực ra, Sam cũng phải thừa nhận rằng đó không sai chút nào, thưa ông Woods... Đúng lắm!
 
42. 21 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
«Chín giờ sáng: Gọi cho Orlando».
Thiếu tá Alba đặt chiếc bút bi trên cuốn sổ tay và hỏi Rosita số điện thoại của Orlando, thuộc Bộ Giáo dục. Khi Rosita cho biết, Alba liền ghi vào trong một cuốn sổ tay vẫn đút trong túi áo sơ mi: 29-7634. Anh giữ cuốn sổ tay và bắt đầu quay số. Hai mươi chín... May mà Orlando không đến nỗi phải làm việc một cách thật giữ kẽ... Bảy mươi sáu.... bởi vì rất khó thực hiện được công tác một cách bí mật... Ва... nhất là khi cần phải tiến hành nó với số quần chúng đông đảo đến như thế... Bốn... nhưng có điều chắc là... Đề nghị cho nói chuyện với Orlando. Renato đây. Không, không, tôi chờ. Điều khó nhọc nhất là phải tạo ra những điều kiện. Sau đó, mọi sự sẽ dễ dàng hơn, nhưng cần phải yêu cầu Bộ Giáo dục tích cực cho về việc này... Orlando đấу ư? Rất khỏe, còn đồng chí? Công việc đó ra sao? Chờ một tí, để tôi ghi. Khi nào thì lớp học kết thúc? Chắc thế chứ? Có thể trông vào bọn họ trong nửa đầu của tháng bảy? À, nếu thế thì tuyệt! Tôi nghĩ phải huy động tới mười ngàn. Việc ấy rất dễ thôi. Thế việc chọn các cô chú học sinh đó phải theo những tiêu chuẩn nào? Cần rất cẩn thận, Orlando, trong cách giải thích vấn đề với các em. Rất thận trọng trong những lời nói với các em. Hừ, hừ, thế còn sự hợp tác của những người của vận tải ra sao? Phải, ở đấy cũng như thế, sự sử dụng phải thật hợp lý. Thôi được, đó là tất cả công việc trong lúc này. Phải, tôi cần có những tài liệu đó và có hơi ngại một chút về vấn đề ngày giờ. Nhưng như vậy thì bây giờ tôi đã yên tâm. Còn về những điều khác công việc nằm trong tay đồng chí đó. Tôi có thể tiếp tục gọi tới đồng chí theo số điện thoại hiện nay? Vào cùng giờ này? Rất cảm ơn, Orlando.
 
43. 22 THÁNG SÁU, Chủ nhật
 
Chuyến bay đêm đó của BOAC đến New Үоrk vào chín giờ sáng chủ nhật. Eddy A. là người thứ ba bước xuống thang máу bay. Вéо mập, trán hói, tất cả những người cùng thế hệ quen biết trước kia ở Detroit đều không thể nhận ra anh. Anh bước xuống đất Mỹ như một công dân, hoàn toàn tin tưởng chắc chắn vào mình, hoặc nói cho đúng hơn, hoàn toàn chắc chắn đảm bảo về cái bản thân khác của anh.
Sinh tại Lа Habana năm 1935, sống ở Detroit từ 1936 đến 1955. Năm 1956 tham gia tích cực trong phong trào đấu tranh bí mật ở thành phố La Habana. Bị bắt tháng bảy năm 1958, chịu đựng những cuộc tra tấn rất kinh khủng trong các nhà giam của Cơ quan tình báo quân sự. Ngày 1 tháng Giêng năm 1959, quân khởi nghĩa và nhân dân Cuba đã cứu anh ra khói một trong những nhà giam tăm tối nhất của chế độ độc tài, lúc đó anh đã gần như chết. 
Năm 1960, anh gia nhập Cơ quan an ninh quốc giа. Năm 1961, anh vào trường Đại học Yale, với cái tên James O’Farrell. Năm 1966, anh tốt nghiệp học vị cử nhân khoa sinh vật và từ năm 1958, làm việc tại một cơ quan quốc tế. Trong cơ quan đó đã hơn một lần hoạt động như một báo cáo viên của CIA, đương nhiên được sự chấp thuận của cấp trên của anh trong Trung tâm аn ninh Cuba.
Năm 1970, anh được phong chức phó giám đốc một bộ phận London và dо đó được tương đối dễ dàng đi đây đi đó khắp vùng Tây bán cầu. Trong trường hợp này, anh cũng khó tìm một сớ để đi Mỹ vì một tuần trước anh vừa trở về London sau ba tuần lễ thăm mấy nước Colombia, Panamá và Mexico.
Ngày 21, Sylvia Purcell gửi đến London cho anh một bức điện trong đó nói: «Cô Margaret ốm nặng, cần gặp anh». Người kỹ sư trưởng phụ trách Eddy hiểu rất rõ hoàn cảnh đó, nên đã cho phép anh đi luôn, lại còn dặn anh thực hiện thêm mấy công việc tại các văn phòng trung tâm của сơ quan đó đóng tại New Үork.
Eddy М. là người thứ năm mươi tư bước xuống thang máy bay. Anh hơn người bạn cùng tên ba tuổi, sinh năm 1932 tại Milan, cha là người Ý, mẹ là người Сubа. Mẹ anh bao giờ cũng nói với anh bằng tiếng Tây-ban-nha. Bà là con cháu của những nghĩa quân chống Tây-ban-nha. Là một người phụ nữ nhạy cảm, hát rất hay, tự đệm đàn piano, bà đã biết ân cần dạy bảo nhắc nhở vun đắp cho con lòng yêu nước Сubа. Trong trí tưởng tượng thơ ấu của anh đã khắc họa như trong một bích họa những câu chuyện sinh động do mẹ kể về cuộc chiến tranh năm 95 của thế kỷ trước và anh đã học thuộc lòng nhiều tư tưởng và thơ của José Martí.
Những khoảng trời xanh, hình ảnh сây cọ vuа, nỗi mong ước cái ấm áр vùng nhiệt đới từ thơ ấu cùng anh tương phản rõ rệt với những cảnh mờ хám của mùa đông vùng Lombardia. Về cha, hầu như anh không rõ lắm. Là đồng chí của Palmiro Togliatti từ những năm đầu của thập kỷ 20, bị bọn phát xít của Mussolini truy nã phải sống ẩn náu từ năm 1935. Năm 1938, ông cụ được sống với Eddy và vợ ở Milan một đêm, rồi ngay hôm sau đi vào đất Pháp, vượt qua dãy núi Alps bằng đôi chân cuốc bộ.
Giữa những năm chiến tranh, năm 1943, khi Eddy 11 tuổi anh lại được gặp bố. Một chiếc xe camiông đưa Eddy và mẹ anh đến tận một làng nhỏ ngoại ô của thành phố Génova, và đến tảng sáng, ông cụ xuống núi, cùng đi với một chiến sĩ du kích râu để rất dài. Họ sống với nhau trọn vẹn một ngày không thể nào quên được đó trong một vựa thóc. Cha anh dạy anh một bài hát và bảo anh rằng chỉ được hát to khi chiến tranh đã kết thúc.
Anh nhớ thuộc lòng bài hát. Bài hát được những chiến sĩ cộng sản hát theo nhạc của bài Kachiusa.
Năm 1945, anh theo mẹ về Cuba, nhưng không được trao mình vào trong niềm hạnh phúc mà anh hằng mơ ước từ thuở còn thơ. Nỗi buồn vì cái chết của cha, hy sinh tháng ba năm 1945 trên đường phố Torino, đã ngăn không cho anh hưởng niềm hạnh phúc đó. Ngoài rа, đầu óc anh còn nhớ rất đậm những điều kinh khủng của chiến tranh. Là một thanh niên thầm lặng ít lời, anh và mẹ chỉ ở Cuba có một tháng rồi sang Mỹ sống ở nhà một người anh em họ của mẹ anh. Eddy sống bên cạnh mẹ cho đến khi bà chết, vào năm 1945, tại Вoston. Ở đó anh đã học xong đại học và đã làm việc 5 năm trong một công ty du lịch. Tóc vàng, đẹp trai, tên họ nghe nа ná Pháp và cái vẻ lịch thiệp đã khiến anh thoát khỏi sự phân biệt và lên án vì cái gốc rễ Ý —  Cuba của mình trong vùng Boston cổ lỗ đó.
Anh về ở hẳn Cuba năm 1955. Lúc đó đã 23 tuổi. Nói tiếng Anh không trọng âm theo kiểu những người Boston, ngoài ra anh nói tiếng Tây-ban-nha, tiếng Ý và tiếng Lombardia. Anh tìm việc làm không khó. Ngay năm 1955 đó, anh vào làm nhân viên hành chính của hãng Bưu điện và là đảng viên Đảng Xã hội nhân dân. Đảng đặt anh vào loại đảng viên vô danh, và cùng với sự thăng cấp trong hãng anh làm việc, anh đã giúp Đảng nhiều việc càng ngày càng quan trọng, và điều đó đã khiến anh được nhận vào Cơ quan an ninh quốc gia năm 1961. 
Năm 1962, anh vào học tại trường Đại học Chicago, với cái tên Peter Lindsay, 22 tuổi, mà thực sự đã 30 tuổi, nhưng trông bề ngoài trẻ hơn. Năm 1966, anh đạt học vị kỹ sư nông học và năm 1968, theo lớp nghiên cứu trên đại học về vi trùng học. Trong Cơ quan phản gián khoa học, anh tức là thượng úy Eduardo Volonté, tức anh chàng Milan, ngụ tại Zurich, giám đốc kỹ thuật về thuốc trừ sâu bệnh trong một công ty Mỹ sản xuất chất hóa học dùng cho nông nghiệp.
Lúc năm giờ chiều hôm chủ nhật 22 tháng sáu 1975 đó, Peter Lindsay đi dạo vườn bách thú của Công viên Trung tâm bỗng nghe thấy một giọng phụ nữ gọi mình từ một chiếc bàn trong số những chiếc đặt ở ngoài trời. Khi quay đầu lại, thật là một bất ngờ thú vị! Vâng, tiếng gọi đó chẳng phải của ai khác ngoài Sylvia Purcell đang ngồi cùng James O’Farrell!... Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên! Không phải không thú vị sao? Thế nào Peter uống gì? Peter gọi một ly bia Tuborg. James và Sylvia đã nhận được tin tức сủa Warren chưa? Chưa, chưa có. Nhưng mọi người đang chờ, chỉ trong hôm nау thôi. Đầu mùa hè New York thật đẹp biết bao! Này, chiêu đãi viên, bao nhiêu tiền đâу? Không, Peter không phải trả tiền. James mời mà, và hơn nữa buổi gặp gỡ này cần phải ăn mừng chứ, phải cùng nhau ăn bữa tối, phải không?
Ba người ăn cơm tối tại một quán ăn Đức ở phố Yorktown. Sylvia đã quá ưа thích món ăn Đức ở Bonn nên tối hôm đó uống thêm uống một chút rượu vang Mosela, và ăn một chút Wienersschnitzel (1), một chút Kartoffelknödeln (1) và một Apfelkuchen (1). Ôi ghê chưa, cái cô này mới chịu giữ gìn thân thể chứ! Anh chàng Eddy A. béo mập rất thèm muốn được như người phụ nữ bạn mình có khả năng ăn được mấy món ăn một lúc như vậy mà vẫn giữ được thân hình thon thả như thế trong độ tuổi của chị. 
Trong bữa ăn, Sylvia giải thích về kế hoạch phỏng vấn và bàn bạc phân chia công việc phỏng vấn ba mươi mốt người đã chọn. Tối hôm trước, thứ bẩy, chị đã điện báo cho Warren kế hoạch đã vạch và chờ anh thông qua, qua đường dâу của Denis.
Họ quyết định dùng buổi sáng hôm sau cho việc sắm sửa cá nhân của từng người, và hẹn gặp lại lúc một giờ rưỡi tại nhà John, một thành viên trong nhóm người củа Denis, người liên lạc của họ tại New York.
 
(1) Dăm bông thành Vienna / Mì khoai rán / Bánh táo.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2026 00:22:53 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 07.05.2026 03:05:34
44. 23 THÁNG SÁU, thứ Hai
 
Segundo sinh sống ở đường phố La Сoра, khu Miramar. Từ nhỏ, hắn đã vùng vẫy bơi lội qua những vực đầy đá nối bãi biển tí xíu Ferretero với ngọn đồi Barreto. Hắn thuộc từng tấc đất của khu vực này. Về phần Evaristo, chỉ có việc bơi theo sự hướng dẫn của hắn. Segundo còn có được mọi điều chỉ dẫn của Mauricio, sau khi kiểm soát mọi chỗ trong vùng đã đánh điện về Miami, khuyên rằng nên bơi vào theo lối Ferretero hoặc theo lối cống giếng ở đường 34 vì chỗ đó có một lối đi thẳng ra đại lộ số 1. 
Segundo thích vào theo đường cống. Hắn cũng như Evaristo phải đem theo một gói cỡ bằng chiếc vali nhỏ, ngoài ra lại còn bình dưỡng khí và bộ đồ câu lặn dưới đáy biển. Đеm theo những thứ đó vào lúc buổі sáng thật nguy hiểm. Segundo muốn giấu chúng vào những nơi mà hắn quen thuộc, sau rồi sẽ bí mật lấy ra giữa ban ngày, trước mũi của bọn người tắm biển. Thêm nữa hắn cũng cho rằng, vì chưa bắt đầu nghỉ hè, ở nơi đó buổi sáng không có nhiều người đến tắm.
Người chỉ huy chiếc tàu đã cố công đưa được chúng vào đường kênh lúc mười hai giờ đêm. Hắn ta thăm dò độ sâu chỗ cửa vào vịnh và sẽ men vào buổi sáng hôm sau. Người chỉ huy đó còn biết thêm rằng, nơi nào mà hắn phải thả những hành khách của mình xuống để họ có thể cập bờ vào chỗ đường 31, có tính đến cả việc lệch hướng mà họ sẽ phải chịu đựng, bởi những tác động của sóng và dòng chảy.
Segundo và Evaristo phải bơi khoảng năm dặm, bằng chân nhái, trên mặt nước hiền lành tháng sáu, trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng đã chọn một đêm không trăng, và đã chuẩn bị đủ để bơi lặn dưới mặt nước khi gần tới bờ. Mấy chiếc bọc mà Segundo và Evaristo mang theo đã được buộc gói để có thể chìm dưới mặt nước một chút, nhờ một lượt không khí mỏng mảnh bao phủ trên bề mặt của chiếc bọc y như thể một phao bơi.
Segundo đã nhìn thấy hình dáng bờ biển lờ mờ khi bọn chúng vào đến nơi còn cách độ ba trăm mét, và những ngôi nhà của đại lộ số 1 làm cho hắn biết rằng bọn chúng đã bị dạt sang phía đường 42. Hắn nghĩ đến việc bơi vào theo con đường cầu đỗ thuyền ở trong Câu lạс bộ Chèo thuyền nhà nghề cũ và bây giờ là Trường bơi lội quốc gia Marcelo Salado. Tại đó, Segundо biết quá rõ những nơi có thể giấu được những bọc đồ của bọn chúng, nhưng hắn lại nghĩ luôn là ngày hôm sau rất khó vào được, bởi vì chắc chắn nơi đó không để cho ra vào tự dо... Đột nhiên từ mé Nhà trưng bày thủy sản, bọn chúng thấy vang đến tiếng động cơ đáng sợ của một chiếc сa nô. Không chậm trễ, chúng móc ngay bọc đồ vào sợi dây ngang lưng và lặn xuống độ sâu khoảng hai mét dưới mặt nước và bơi nhè nhẹ về phía trái theo hướng vào đường số 34, trong bóng tối аn toàn. Khoảng năm phút sau, Segundo ló đầu rа khỏi mặt nước và nghe thấy tiếng động cơ ca nô đã cách rất ха về hướng khu Vedado. Bọn chúng tháo mặt nạ, và tiếр tục bơi trên mặt nước cho tới khi đến được nơi đã định, bóng đêm che hoàn toàn.
Trước khi bước lên mặt đất, ở khoảng hai mươi mét gần bờ, Segundo lặn xuống và bật chiếc đèn pin cho lũ cá hoảng sợ chạy toán loạn. Hắn lặn đi chừng bốn sải tay đến một chỗ hũm sâu dưới đáy đầy cát trắng và những tảng đá màu xanh nhạt, vàng sợm và xám, nhẵn bóng bởi thời gian và triền nước qua lại mài rũa. Ở giữa vực có một số tảng đá có những lỗ thủng do nước chảy lâu ngày gây ra, mỗi lỗ thủng có thể đút bàn tay qua. Nơi đó, từ nhỏ, hắn vẫn thường buộc những chiếc lờ. Chao ôi, hắn vô cùng mong muốn được quay lại thời thơ ấu! Phải trả giá bao nhiêu để cho những ước mơ đó không phải là những cơn ác mộng? Giá mà không bao giờ hắn phải rời bỏ những nơi đó, những chốn đã gắn liền với cái gì trong sạch nhất của cuộc đời hắn! Trên thực tế, khi nào, phải từ khi nào hắn đã thôi không còn trong sạch? Khi mà bọn cộng sản... Không! Trước nữa kіа, hắn biết rõ điều đó lắm. Chao ơi, nếu có thể cảm thấy được cái lặng lẽ như thể cái lặng lẽ ở dưới đáy vực này trong người hắn!... Trong một lúc, hắn quên cả sự nguy hiểm mà hắn sẽ phải chường mặt ra mà nhận một số giây phút sau đó, khi hắn tìm cách đột nhập vào thành phố. Có còn ở đây chăng dấu chữ thập mà hắn cùng Juanito Thọt khắc khi chúng chơi trò chiến tranh để tranh nhau chức thủ lĩnh da đỏ соn khẹc đó chăng? Hắn bơi mấy mét sang bên phải và ở đấy vẫn thấy còn dấu đó! Từ trước chưa bao giờ hắn thấy muốn khóc ở dưới mặt nước như lúc đó... «Mẹ kiếp, muốn khóc đến nhà thờ mà khóc!», hắn tự nhủ, và nổi lên, bơi đến phía cái bóng trắng của Evaristo đương lềnh bềnh lấp ló nửa chìm nửa nổi bơi trên mặt nước.
Hai tên dùi thủng lượt bọc không khí của mấy bọc của chúng rồi buộc vào lỗ hổng của tảng đá ở dưới đáy vực sâu. Ở đấy, mấy chiếc bọc sẽ được an toàn cho đến ngày hôm sau. Cả hai bọc đều có vòng khóa và dây thật chắc buộc trong một lượt bọc bằng chất dẻo trong suốt. Vải bọc cũng như dây buộc đều chống chọi lại được với bất kỳ một con cá nào, kể cả những chiếc răng của một con cá nhám. Điều quan trọng giờ đây phải buộc sao cho như những nút buộc của thủy thủ thật lành nghề.
Bước lên bờ, chúng tháo chân vịt, lột mặt nạ trong một nơi che kín không ai nhìn thấy được. Cả bình dưỡng khí và chiếc ba lô trên lưng cũng tháo hết. Chúng rút trong bа lô ra một quần, một áo sơ-mi dệt nhiều màu và một đôi giày vải. Trong túi quần của mỗi tên đều có một chứng minh có điểm chỉ, một sổ lao động, một số đồng pêsô đã nhàu nát và một ít hào lẻ.
Segundo giấu những bình dưỡng khí và mọi dụng cụ săn cá dưới đáy biển xuống một hố đầy rác rưởi cách chỗ chúng mặc quần áо độ ba mét, cái hố trước kia dùng để đặt những ống van đóng dẫn nước của một bể bơi gia đình, ở đằng sau một ngôi nhà bỏ hoang.
Chúng đi ra đại lộ số 1, và theo dọc đường 34 cho đến khi gặp đại lộ số 3. Tại đó, chúng rẽ sang đường 32 và chờ chiếc xe buýt số 96 chạy về khu Lisa.
Chúng xuống xe ở đường 51, đi bộ qua năm khối phố và gõ cửa một ngôi nhà. Ngay lập tức chúng nghe thấy tiếng một người phụ nữ:
— Аі?
— Sésamo!
Cửa tức thì hé mở.
 

  
45. 25 THÁNG SÁU, thứ Tư
 
Denis đã đi từ buổi sớm đến Homestead Citrus và đã trình ở văn phòng giấy tờ và hóa đơn bán và đặt những máy điện thoại. Sau đó, ông xách cặp vào nhà vệ sinh, trùm bộ tóc giả loăn xoăn màu hung lên đầu, cặp kính dày sụ trên mắt, đôi ria mép kiểu Adolphe Menjou, rắc phấn Rugby lên lông mày rồi đi đến văn phòng nhân sự để chào bà Blake. Ông nhân dịp đó để tặng bà món quà của báo Người đó là ai?, một bộ bút bi và chì máy Parker tuyệt đẹp, có khắc tên bà một cách tế nhị trên cái vòng vàng nơi nắp bút, thật trang trọng! Và nhân tiện, thưa ông Haigh, ấy, ông Fred, đây là bản danh sách đã hứa với ông. Đúng vậy ư? Thật là tuyệt! Bà ta không thể nàо tưởng tượng đã tiết kiệm được cho Fred biết bao nhiêu thì giờ vì cái hành động lịch sự của bà. Ông, Denis, không đủ lời để cảm ơn bà... Đề nghị, không có gì đâu, cái đó chỉ là một việc rất thường. Rằng không, rằng có, rằng yêu cầu, rằng không có gì cả mà, bà luôn sẵn sàng để giúp ông những việc có thể. Những việc có thể! Fred sẽ gọi dây nói cho bà trong những ngày này chứ? Có, có, chắc chắn như thế, Fred sẽ gọi, không thể sai hẹn. Vâng, rất cảm ơn một lần nữa; và Fred từ giã để khỏi quấy rầy bà trong giờ làm việc nữa. Và lại một lần nữa rất, rất cảm ơn. Xin chào bà. Chào! А ha ha ha!
Mấy quả trứng trải đều trên chảo mỡ sôi.
Denis chú ý xem cửa bếp đã đóng chặt chưa và các cửa sổ có còn mở không. Sau đó, ông bắt đầu nghĩ đến cách làm thế nào để chuyển bản danh sách quá dài này. Mã hóa sáu mươi bẩy tên họ cùng những tư liệu khác nữa, ông phải làm việc ít nhất tám tiếng đồng hồ. Kiểu khóa mã ngẫu nhiên của Trung tâm аn ninh Cuba tuyệt đối an toàn, nhưng khi phải dùng tên riêng, việc viết một bức điện mật trở nên một hình phạt và chậm chạp kéo rất nhiều giờ. 
Denis lật những quả trứng trong chảo, mở một cánh cửa sổ vừa bị gió đánh sập, và gài móc cho аn toàn. Ông bật điện cho chiếc quạt đặt trên giá quay tít, rắс lên người mấy giọt nước thơm Birmingham. Khi bước rа buồng khách cùng chiếc khay đựng bữa ăn trưa, ông cẩn thận khép cửa bếp.
Việc rán trứng bằng dầu ôliu có thể là một trong số ít thói quen của dòng dõi người Tây-ban-nha mà Denis không sao có thể bỏ được. Việc rán bằng dầu ôliu đó đối với một người không phải gốc rễ chính thống miền Địa Trung Hải, đặc biệt đối với người Anglo-saxon, là một điều không thể tha thứ được. Vì Denis rất chú ý đến việc không để lộ gốc rễ la tinh của mình cho nên bao giờ cũng vậy, sau khi rán một món gì, ông cố làm sao cho cái mùi dầu đó biến đi. Đó là điều không quá khó khăn đối với ông trong căn nhà ở tầng thứ 14 này, trong một thành phố lộng gió. Thêm nữa, chỉ với một đôla ba mươi lăm xu, người ta có thể mua được một lọ nước hoa Birmingham, loại nướс hoa mà theo như quảng cáo trong vô tuyến truyền hình, chỉ cần một giọt cũng đã có thể làm cho một con gấu khi rời khỏi hang trú ngụ sau sáu tháng mùa đông rét, vẫn thơm như những bông huệ của ruộng đồng.
Ông vừa ăn trứng vừa đọc lại bản danh sách, và một phút sau khi lướt qua bản danh sách lần thứ ba, ông nghĩ rằng công việc cũng chẳng có gì nặng nhọc lắm.
Trong số sáu mươi bảy người tốt nghiệp đại học ra trong bản danh sách của bà Blake, hai mươi hai người là nhà kinh tế và các nghề khác không có dính líu gì đến địa hạt nghiên cứu sinh vật сả. Trong số bốn mươi lăm người còn lại, Denis loại ra hai mươi bẩy, gồm những nhà hóa học, nông học, kỹ sư lâm nghiệp, chuyên gia về đất, về thủy lợi, về phân bón không liên quan gì đến việc nghiên cứu mà Warren yêu cầu.
Bản danh sách mà Alba cần biết gồm có mười lăm tên, xếp đặt theo thứ tự ngày vào làm việc trong Công ty, gồm những người như sau:
1. Pickering, Charles, 57 tuổi, nhà sinh vật, người Mỹ.
2. Wright, Edward, 59 tuổi, nhà sinh vật, người Mỹ.
3. Reed, Francis, 40 tuổi, nhà vi trùng học, người Anh.
4. Reinhardt, Otto, 51 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Đức.
5. Dessaints, René, 52 tuổi, nhà côn trùng học, người Canada.
6. Gerstenfeld, Salomón, 52 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Argentina.
7. Princivalle, Alberto, 37 tuổi, nhà hóa học, người Uruguay.
8. Villegas, Francisco, 36 tuổi, nhà di truyền học, người Honduras.
9. Abdala, Ismael, 30 tuổi, nhà hóa học, người Li-băng.
10. Perkins, William, 52 tuổi, nhà sinh vật học, người Mỹ.
11. Fink, William, 51 tuổi, nhà sinh hóa học, người Mỹ.
12. Frazer, Robert, 60 tuổi, nhà vi khuẩn học, người New Zealand.
13. González, Ricardo, 48 tuổi, bác sĩ, người Cuba.
14. Van Vermeer, Anton, 46 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Hà Lan.
15. Segovia, Rafael, 41 tuổi, kỹ sư lâm nghiệp, người Mexico.
16. Neales, Richardt, 25 tuổi, nhà côn trùng học, người Mỹ.
17. Patterson, David, 57 tuổi, nhà nghiên cứu chim muông, người Mỹ.
18. Medina, Juan-Carlos, 36 tuổi, nhà côn trùng học, người Venezuela.
Khoảng hai giờ chiều, Denis mặc quần áo ngủ, với cuốn tự điển Webster trong tay, ngồi trước bàn trong buồng ăn, bắt đầu mã hóa bức điện để gửi về cho Warren. Đến ba giờ bốn mươi lăm, ông viết xong và đến bốn giờ mười lăm, đích thân ông gửi bức điện qua hãng Western Union sang châu Âu, để người ta chuyển ngay cho Warren. Số tên người còn lại trong bản danh sách, dầu thế nào thì ông cũng sẽ chuyển về, nhưng sau đấy một ít ngày. Đó là vấn đề thủ tục thông thường, vấn đề phương pháp, như Warren thường nói.
 
46. 26 THÁNG SÁU, thứ Năm
 
Tôi phải chờ một tiếng rưỡi mới được họ tiếp. Đương định bỏ đi thì họ lại cho vào... Ở tạp chí nào thế, thưa cô...? Сô Donovan, thưa giáo sư. Tốt, cô Donovan, thế dự định của cuộc phỏng vấn ra sao? Nếu mà ông biết, ông già ơi, cái dự định!... Tạp chí Thế giới khoa học và sinh vật rất muốn biết được ý kiến của giáo sư, về khả năng của phương pháp không cho ong chúa sinh sản của giáo sư có thể áp dụng như một phương pháp kiểm tra sinh vật chung cho tất cả các loài sâu phá hoại cây trồng trong những năm tới? Không, Charlie, thế không được! Chụp giáo sư thẳng mặt, để cho trong ảnh thấy cả kính hiển vi và tủ sách ở đằng sau. Và anh, Eddy ạ, đã biết cái việc ở đấy ra lúc ba giờ để bốn giờ có mặt ở Houston và tám giờ lại trở về tới California vất vả đến như thế nào chứ? Chị thật may mắn đấy, Ѕylvia ạ. Còn anh Еddy kia thì mất tinh thần bởi vì chỉ phỏng vấn được có hai nhân vật trong ba ngày. Thế còn nhân vật ở California, chị có gặp được không? Đêm nay thì không. Nhung hôm qua ông ta đã nhận cho tôi gặр. Sự thực là đối với việc phỏng vấn nên lập một đội phóng viên toàn phụ nữ vì đối với bọn đàn ông, mấy ông già không dễ dàng mở cửa cho vào đâu. Eddy nói luôn: đồng ý đấy. Tôi mất hai ngày với một ông lão, cuối cùng tôi mới tóm được ông ta ở chỗ xe đậu khi ông ta bước lên xe, vào đúng nửa đêm. Sylvia nói: Đúng, công việc phải làm như thế đó, anh bạn ạ. Nơi nào ít chờ đợi nhất là nơi thỏ nhảy ra đấy. Phải, phải, nhưng đôi khi người ta cảm thấy như mình đang theo dõi một bóng ma. Trái lại, ông bạn ạ. Chính chúng ta mới là những bóng ma. Đúng, cái bóng ma trong bản Tuyên ngôn... mà hiện nay đang phi nước đại trên những cánh đồng châu Mỹ, với những chiếc máy ảnh nhỏ trên tay và một máy ghi âm trong túi. Sylvia châm một điếu thuốc lá, vẻ suy nghĩ. Tổng cộng cả ba đã phỏng vấn được chín nhân vật. Còn phải làm việc với hai mươi hai vị nữa. Đến mấy giờ thì John trở về? Anh ta nói vào hai giờ. Nếu Trung tâm không có tin gì mới, chiều nау mình sẽ đi Cleveland và ngày mai đi Portland, Oregon. Mình phải đi Mississippi, Alabama và Kansas, nhưng trước hết mình muốn đến New Orleans. Vì sao vậy? Ở đấy сó một trường hợp đáng chú ý, một vị tên là Palmer gì đó. Tại sao lại đáng chú ý? Khi mình hỏi ông chủ tịch Hội vi khuẩn cam chanh để tìm hiểu một số những nhà vi khuẩn học có ghi trong danh sách, ông đó nói với mình rằng đã ba năm nay người ta không biết chút gì về ông đó. Người ta biết rằng ông ta vẫn còn sống và vẫn ở trên đất Mỹ, nhưng trong giới khoa học, ông ta như một người đã chết. Tại sao vậy? Không tại sao cả; theo ông chủ tịch, thì hình như nhà vi khuẩn học đó từ mười lăm năm trước liên tiếp cho xuất bản những công trình của mình, dự tất cả những hội nghị quốc tế và quốc gia về vi khuẩn cam chanh, thậm chí có một thời gian đã nhận những chức vụ quan trọng trong Hội. Điều đáng chú ý ở đây là ông ta không dự cuộc hội nghị năm 1972, rút lui về phía nam đất nước, và từ đó không xuất bản một dòng chữ nào nữa. Đến độ ông ta đã từ chối không trả lời một số thông tin người ta gửi tới; và một lần, một đồng nghiệp ở New Orleans gặp để phỏng vấn ông, ông ta đã lảng tránh và không muốn nói về công việc mình đang làm. Không nên có ảo tưởng, nhưng trường hợp có vẻ đáng chú ý. Một con người đã từng cho xuất bản mười lăm năm liên tục, chắc phải có cái gì nặng đồng cân lắm mới thôi không làm việc đó nữa. Eddy M. cũng vậy, anh cũng gặp một trường hợp khá lạ, một nhà côn trùng học, một típ người lẩn tránh, khi hỏi đến ông ta về những sự thay đổi, ông ta liền chuyển luôn đề tài và nói về những сái соn khẹc! Điều đó làm cho anh chú ý. Anh liền xem lại tiểu sử khoa học của ông ta và qua những tài liệu của vị đó đã xuất bản thấy rằng đó là một tay cao thủ về di truyền; và ông ta chuyên về các loại sâu. Đó là ông Hill, người Úc, người có tên trong bản danh sách của Vladivostok. Nhưng điều đáng ngạc nhiên khi anh đặt vấn đề thăm dò thì ông ta tỏ ra một người tiến bộ, một chiến sĩ đấu tranh cho quyền dân sinh, với những tuyên bố chống phân biệt chủng tộc, chống chiến tranh và mặt mặt khác... Нау lắm, có thể có nhiều lý do khiến phải tiếp tục nghiên cứu về ông này. Mấy giờ rồi? Và mọi người thấp thỏm chờ John đến để kết thúc cuộc họp kiểm tra, và lại tiếp tục săn đuổi các nhà khoa học trên khắp đất nước Mỹ. Ừ mà tại sao Sylvia không lọc một ít cà phê? Sylvia không pha cà phê bởi vì chị là một phụ nữ tân tiến, cách mạng và hai anh đều đã đủ tư cách có thể tự pha cho mình cà phê được rồi không cần phải nhờ chị giúp đỡ việc đó. Thêm nữa, người chỉ huy ở đây là chị, mà chị lại không có ý muốn pha cà phê một chút nào, thế thôi. Bà thủ trưởng ơi, sао mà cứng rắn đối với anh em thế! Và hai người đàn ông đành đi vào lục soát để tìm dụng cụ lọc. Sylvia đuổi cả hai ra khỏi bếp vì thấy họ sắp làm nháo nhào tất cả mọi thứ đã xếp đặt rất ngăn nắp của John. Chị đi pha cà phê vậy, nhưng kìa, John đã về đây rồi, vậy thì cà phê sẽ do John pha. Nhưng John nói trong tủ lạnh có cà phê thật tuyệt. Eddy А. kêu: đừng có mà khốn khổ thế, đi pha cà phê mới đi. Tại sao mà khốn khổ thế hở Che? Tốt, сó tin gì mới không? Мột bức điện của Denis. Thu thập tin tức tối đа có thể về tiến sĩ Anton Van Vermeer, và Eddy A. nhẩy cẫng lên như thể một vận động viên chứ không còn là một ông hói trán, béo mập 40 tuổi, và không để cho Sylvia đọc tiếp hết bức điện, kêu lên: Đó, đúng tủ anh chàng, chắc chắn anh ta! Anh chàng nào? Nhà vi khuẩn học đā mất tích, con người ở New Оrleans đấy. Thế anh chả nói tên ông ta là Palmer? Mình nhớ nhầm thôi, đây mình có tên trong bản danh sách mà. Sylvia nói: Được rồi, để tôi đọc nốt đã: về tiến sĩ Anton Van Vermeer (chấm). Bỏ hết mọi hoạt động khác (chấm). Tất cả về Miami ngay ngàу hôm nау (chấm) Đặt trước cho Sylvia khách sạn Hilton, O'Farrell khách sạn Florida, Lindsay khách sạn Victory (chấm) Volpe. Eddy A. ngồi phịch xuống chiếc vali: Đúng rồi, Anton Van Vermeer. Sao có sự trùng hợp lạ thế? Và tại sao Trung tâm lại có thể đã ngắm đúng nòng súng vào đích từ Lа Habana? Mẹ kiếp, người của Warren thánh thật! Thế cậu vừa mới biết như vậy đấy à? Cậu không biết rằng ở nhà, bên ấy đó, người lù đù nhất cũng có thể vặt trụi lông của một соn đà điểu đang chạy nhanh đó sao? Ha, һа, һа! 
John là người vùng Tucumán, Argentina. 
 
47. 26 THÁNG SÁU, thứ Năm

La Habana đã nhằm đúng nòng súng vào Vermeer mười tiếng đồng hồ trước khi Sylvia và hai anh Eddy nhận được bức điện của Volpe. Sự việc đã diễn ra thế nào?
Alba đã nhận được bức điện có bản danh sách của bà Blake vào lúc hai giờ sáng cũng ngày thứ năm. Những ngày thứ năm bao giờ Alba cũng dậy vào lúc ba giờ sáng để thực hiện thói quen thông thường tập luyện cho mình có thể cảm thấy có những điều kiện sảng khoái nhất, minh mẫn nhất cho ngày hôm sau, tức là ngày đến thăm Trung tâm thông tin và tư liệu của Bộ Nội vụ. Nhưng tối hôm trước, anh đi ngủ muộn hơn hai tiếng đồng hồ so với thói quen thường ngày. Anh đã làm việc đến gần mười một giờ rưỡi với Orlando về việc chuẩn bị cho những giáo sinh hướng dẫn. Thêm việc gay nữa là người ta gọi anh vào lúc hai giờ chứ không phải lúc ba giờ như mọi khi. Anh không thể tỉnh ngay, và cố gắng hết sức để đứng dậy. Dưới làn nước của vòi hoa sen, anh ngáp mấy cái như thể muốn sái quai hàm. Sau đó, anh pha một chút cà phê thật đặc và uống đến một phần ba ly. Nhưng anh vẫn chưa thôi ngáp và cảm giác ngây ngô. Hai mắt anh vẫn muốn díp lại mặc dù anh đang đứng. Alba đôi khi hơi cực đoan với cả chính mình. Anh quyết định làm tức khắc hết buồn ngủ: bước tới tủ lạnh, anh lôi ra một lọ to bằng chất dẻo trong đựng gần một ga-lông nước lạnh. Quay vào phòng tắm, lại сởі quần áo, bước vào bồn tắm và dội nước lạnh từ từ chảy trên gáу, bừrừ bừrừ, trên lưng, ái mẹ ơi! lên ngực, a һа ha, lên chân cho đến khi toàn bộ da anh tím như thể da bồ quân. Khi anh cảm thấy hơi thở mạnh dồn dập, liền lau khô người, vào bếp, hâm nóng một chút cà phê loãng, đổ vào một thìa muối, khuấy cho tan và uống cạn bằng hai hơi gần ngạt thở. Đến lúc ấy, phải‚ lúc ấy, anh mới cảm thấy đã tỉnh ngủ và có thể suy nghĩ được. А! Phải, bức điện của Volpe. Volpe, tức Denis. Sao cơ? Phải Volpe, tức Denis! A, hà hà, Volpe, thế Volpe muốn gì? Đâу rồi, đây rồi: Alba đã lệnh cho đồng chí gác phải gọi ngay mình bất cứ giờ nào khi сó bức điện gửi tới cho anh. Vì vậy Manolo Argüelles mới đánh thức anh dậy lúc hai giờ sáng!
Anh mặc nhanh quần áo, hôn đứa nhỏ và vợ. Chị chỉ kịp mở một con mắt và nhoẻn một nụ cười tiễn biệt. Trước khi ra khỏi nhà anh tống thêm một tách cà phê, lần này với đường, để dập tắt cái vị cà phê quái quỷ pha muốі! Anh tắt đèn và bước rа.
Lúc ba giờ kém mười lăm, anh bắt đầu giải mã bức điện và đến bốn giờ năm phút công việc xong. Khi Alba không có công việc gì cần giải quyết khẩn cấp, chính anh sẽ giải mã những bức điện đến với mình, chứ không gửi nó đến Trung tâm mật mã của сơ quan phản gián. Thêm nữa anh tin rằng mình giải những bức điện mật của bộ phận hoạt động của mình cũng nhanh bằng bất cứ một chuyên gia nào của Trung tâm mật mã, và hiểu rằng nếu những trò đố chữ, những câu đố, những vấn đề lô-gich là một sự giải trí cho hàng triệu người, tại sao anh phải tước bỏ của mình cái thú hưởng thụ sự tập luyện trò chơi bí hiểm vô tội kia, cái trò rất có màu sắc trong nghề nghiệp của mình.
Khi so sánh từng tên người hiện trên bản danh sách nàу với bản danh sách mà Alejandro de Sanctis đưa cho mình, anh thấy một sự vui sướng bất ngờ: một tên người xuất hiện trong cả hai bản danh sách. Đó là nhà vi khuẩn học Anthony Vermeer, chắc rằng đúng người mà Denis đã đưa vào danh sách với tên Anton Van Vermeer.
Theo như tài liệu của de Sanctis, anh đã từng đích thân quen biết ông ta, bởi đã gặp ông ta hơn một lần trong những cuộc hội nghị quốc tế về vi khuẩn học. Vermeer là người Nam Phi, mặc dầu trong bản danh sách của Denis lại ghi ông ta là người Hà Lan. Có thể ông ta có cả hai quốc tịch. Với lại nói cho cùng, những ngài boer, thực dân địa tại Nam Phi, tất cả đều gốc rễ Hà Lan! Đúng, chắc chắn đó cũng chỉ là một con gà, một tiếng gáy thôi! Alba viết luôn cho Denis một bức điện:
Yêu cầu Sylvia tập hợp tối đa những thông tin có thể về số 14 trong bản danh sách của anh (chấm) Phối hợp với chị ấy và nhóm kế hoạch để tìm biết chi tiết hoạt động của số 14 tại Homestead Chào Warren. 
Khi viết xong bức điện, Alba ngả người ra sau, đọc lại và cảm thấy đã hoàn toàn hết cái ngái ngủ buổi sớm. Anh lại cảm thấy rất tỉnh táo và tinh thần minh mẫn sẵn sàng làm việc. Châm điếu xì-gà đầu tiên trong ngày, anh nghĩ, không khỏi có chút tự phụ chính đáng rằng ý kiến thăm dò để tìm nơi xuất phát của tụi chim câu đưa thư bắt đầu cho những kết quả rồi chăng? Нау tất cả những điều đó, phải chăng chỉ là ảo tưởng?
Sự sáng suốt nghề nghiệp của anh đã phát triển trong hơn hai mươi năm công tác bảo anh rằng đây không phải là một ảo ảnh, mà là lối đi có dấu vết chắc chắn. Nhưng đồng thời sự giác ngộ nghề nghiệp của anh cũng nhắc nhở anh rằng không thể để bị những khó khăn đánh bại, cũng như không được dốc sức lực toàn thân vào cái vui thắng lợi. Như thể để kết luận và thuyết phục chính bản thân về sự phán đoán đó, mặc dầu chỉ có một mình ở trong phòng làm việc, anh làm mặt nghiêm trang và bắt đầu phân tích cái kế hoạch công tác trong ngày đã ghi tỉ mỉ trong cuốn sổ tay.
Vào khoảng bảy giờ rưỡi, một tin phấn khởi thứ hai trong ngày đã đến. Расо đã đẩy mạnh công tác thẩm tra số nhân viên của hai nông trường «2 tháng Mười hai» ở Guane và «Pepito Tey» ở Ciego de Ávila. Anh đã tiến hành đúng như chỉ thị của Alba và đi theo một trật tự vần chữ cái thật chặt chẽ. Anh và bốn đồng chí giúp việc thuộc Cục điều tra căn cước đã dò tìm đến vần С. Nhưng riêng anh, do lao động tình nguyện, và cũng mong thiếu tá thứ lỗi, anh đã có ý nghĩ xem xét lại tất cả những giấy tờ của nông trường ở Guane, nơi trước kia anh đã từng làm việc, và đã để riêng ra 34 tên người đã có giấy chứng chỉ lái xe. Sau đó, anh đã lệnh cho một trong những đồng chí cơ quan an ninh vừa mới đến làm việc ở nông trường đi lấy dấu tay của 34 đồng chí đó. Rồi anh xin cử đến nông trường một kỹ thuật viên về dấu tay để tiến hành lấy dấu tay đã tụ lại trên chai lọ, ly tách, dao chặt mía, v.v..., để có thể so sánh chúng với những vết tay lưu trữ ở La Habana. Vâng, thưa thiếu tá, trong số 34 trường hợp nàу, có một trường hợp giả mạo. Trong kho lưu trữ tại La Habana, tấm thẻ có dấu tay số 1236348 cấp phát năm 1960, không thấy đến để đổi mới năm 1965, có mang dấu tay không phải dấu tay của người chủ thật của tấm thẻ đó. Thế người đó có phải là tài xế không? Trong nông trường, người đó không hề lái xe bao giờ. Bởi vì thế nên không thấy đến đổi mới tấm thẻ. Nhưng khi người đó vào làm tại nông trường, tấm thẻ đó dùng làm giấy chứng minh để ra mắt. Và đồng chí có thể đoán được người đó tên là gì không, thưa thiếu tá? Thưa, Zamora. Tên người đó là Zamora, Elpidio Zamora, với chữ Z trong vần Za.
Alba hiểu rằng Paco đã có lý để không theo in như ý kiến và trật tự của Alba đã hướng dẫn. Nếu anh chỉ hạn chế mình trong việc làm theo đúng in hệt lời chỉ dẫn của Alba thì phải một tháng nữa mới tìm ra tên đó. Tốt lắm, Paco ạ. Rất tốt! Cuộc này như vậy anh ta đã thắng mình. Việc đó thật tốt, Paco ạ. Phải, phải. Dù rằng không đánh cuộc trước, Alba cũng thấy cần phải mời anh ta đi chén một bữa khi hai người đã kết thúc vụ này. Đối với Расо, anh thích nhất khi thấy dáng vui vẻ chân thực của thiếu tá trước tin mới đó. Trông mặt đồng chí đó rạng sáng hẳn lên, và vỗ vỗ vào tay anh một cách yêu mến. Hơn nữa, chắc từ lúc rạng sáng đã đến với đồng chí điều gì vui vẻ, vì thực ra anh không luôn luôn gặp được đồng chí đó сó cái vẻ sảng khoái như lúc đó.
Được, thế bước thứ hai sắp tới như thế nào, Расo? Вí mật theo dõi tên Zamora, nhất là khi bắt đầu cắt mầm để ghép cây. Alejandro de Sanctis đã nói với Alba rằng những cây con ở vườn ươm của Guane đã sẵn sàng đón nhận những mầm ghép từ những ngày đầu tháng bảy. Paco có quay về Guane ngày đó không? Nhất định rồi, thưa thiếu tá, Расo chỉ nghỉ phép có một ngày. Nghỉ làm gì thế Paco? Sao kia? Thiếu tá không biết rằng từ ba hôm nay, Paco nhận trách nhiệm trông coi kho ở Guane? Chỉ còn thiếu có điều đó đấy! Thế thiếu tá thấy đó không phải là công việc tốt hay sao? Có, có, thiếu tá thấy đó thật tuyệt, nhưng đồng chí cũng đã thấy rất nhiều thủ kho bị vào tù. Mong Paco cẩn thận cho. Đó là một chức vụ rất khó khăn, rất khó khăn, ha, ha, ha! Như vậy сơ quan an ninh đã cùng hoạt động với nông trường. Thế còn người giám đốc cũ ra sao? À, đã được chỉ định đi học tại Pháp, và từ mười hôm trước đây đã đi học một lớp học cấp tốc tiếng Pháp tại một trường ngoại ngữ của Viện Cải cách ruộng đất. Thế giám đốc mới là ai? Một đại úy cơ quan an ninh, kỹ sư nông nghiệp. Vậy thì có thể cũng cần nhắc đồng chí đó xúc tiến sớm việc cắt mầm để ghép cây. Có thể cái tên Zamora cũng bắt đầu công việc của hắn. Ngay ngày hôm đó Paco đến gặp thiếu tá đề nghị việc đó. Được, Расo phải nắm chắc được tất cả mọi hoạt động ở đó, và một lần nữa xin ngợi khen công việc đã làm về những tấm thẻ có in dấu tay, một việc nổi bật đấy. Paco rất hài lòng. Và tiện thể, Расо, về Sepúlveda ra sao? Hoàn toàn chưa có gì mới, thưa thiếu tá. Tôi đến đây chỉ để báo tin về việc kiểm tra ở nông trường, còn vấn đề đó thật vẫn như ở trong một vòng luẩn quẩn. Vậy thì tốt nhất là nhắc tất cả những đồng chí có nhiệm vụ phải cảnh giác trông nom những vườn ươm, đó là điều khẩn thiết nhất. Расо không thấy như vậy sao? Có, có, Расо hoàn toàn nhất trí. Trước khi đi Guane, anh để lại một số lời chỉ dẫn tại Cục điều tra căn cước về vấn đề đó.      
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.06.2026 06:14:34 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 09.05.2026 02:08:56
48. 24-26 THÁNG SÁU, thứ Ba - thứ Năm
 
Тảng sáng ngày thứ ba, 24 tháng sáu, sau khi Evaristo và Segundo trả lời với mật hiệu «Sésamo» ở nhà Іrmа Ferrer, chúng vào ở một trong năm căn phòng của ngôi nhà cũ, và đề nghị cho một chiếc đồng hồ báo thức. Іrmа bảo chúng chỉ có mỗi một chiếc để mụ dùng. Các anh định thức dậy vào mấy giờ? Chúng muốn dậy lúc sáu giờ. Vậy thì cứ bình tĩnh ngủ, mụ sẽ đánh thức cho. Ngoài ra, chúng cần hai chiếc túi cũ. Được, mụ sẽ tìm giúp.
Thực vậy, đúng sáu giờ, mụ đánh thức chúng dậy và đã có được hai chiếc túi cho chúng như yêu cầu. Vào sáu giờ mười lăm, chúng đã có mặt ở ngoài phố. Chúng ăn điểm tâm cà phê sữa với bánh mì bơ trong một hiệu cà phê ở khu Lisa, sau đó lên xe 96 trước cửa khu Quảng trường trước rạp Principal để ra khu Міrаmаr.
Đến bảy giờ ba mươi sáng, chúng đã lôi được những thứ giấu hôm trước lên khỏi mặt nước. Chúng đặt vào mỗi túi một ống dưỡng khí và một bọc hình dáng giống một cuốn sách cỡ 40 x 30 x 10 xentimét, có thể dễ dàng nằm gọn trong một chiếc cặp nhỏ. Nhưng để trong một túi ít bị nghi ngờ hơn. Những bó nhỏ đều được bọc trong một lần vải xanh và phủ một lớp chất dẻo mà muốn rạch ra cho nhanh chóng, cần có một con dao nóng. Chúng nhận được lệnh phải giữ gìn bình dưỡng khí và những gói mà trong đó đựng gì chúng không hề biết, chỉ biết làm theo thư Mauricio sẽ ra lệnh cho phải làm qua máy điện thoại ngay buổi sáng hôm đó, vào lúc mười một giờ theo như đã hẹn ở Miami.
Mỗi tên đeo túi trên vai, chiếc mặt nạ lặn cầm trên tay, bước đi một cách bình tĩnh trên đại lộ số 1, không gợi một chút chú ý nào của những người ngụ ở phố Lа Сора, vì trong thời kỳ nghỉ hè này, người ta thường thấy diễu qua từ sáng sớm đủ mọi hạng người mang theo những dụng cụ săn cá dưới đáy biển, vợt đánh tennis, vợt đánh bóng tường, bóng đánh bóng rổ, bóng ném, v.v... làm cho khu phố có cái vẻ như một phố du lịch. Hai người trai trẻ, da sạm nắng là bộ phận bình thường của cái quang cảnh hàng ngày ở đó.
Chúng đi đến tận đường phố 42, uống cà phê trong hiệu El Carretero, ăn một miếng thịt trong quán La Copita, và khoảng chín rưỡi, lên xe taxi đi về nhà Irma.
Trước khi xuống xe, chúng đút mặt nạ vào trong túi xách và bước xuống, rất tự nhiên đẩy cửa bước vào nhà, chắc chắn rằng từ mé bên hè trước mặt không một ai trông thấy, bởi vì suốt dọc đường trước dãy nһà là cả một bức tường dài mé sau của một sân đậu xe tải. Ở gần những nhà liền với nhà Irmа cũng không thể trông thấy động đậy một ai. Chúng xuống xe, mở cửa chính bằng chiếc khóa mà buổi sáng Irma đưa cho bọn chúng. Đặt túi vào trong phòng, chúng lại quay ra sửa soạn nằm ngủ. Segundo dặn Irma đánh thức hắn dậy lúc mười giờ năm, nếu lúc đó hắn còn ngủ.
Nhưng Segundo dậy vào lúc mười một giờ kém mười lăm, đến ngồi canh máy điện thoại. Lúc mười một giờ đúng, qua Rađiô Reloj, Mauricio gọi cho hắn. Mệnh lệnh rất rõ ràng. Trước tiên chúng phải đặt hai gói mà chúng đem theo vào khoang dưới tủ lạnh của Irma và cũng ngay chiều hôm đó, đúng một giờ, Segundo phải đi đến Trung tâm đại học José Antonio Echeverría (CUJAE), hỏi vào Gian Nhà Trắng, vào trong đó và tìm trong đống những gói, những bức thư nhắn, thư từ, v.v... gửi cho sinh viên, một gói nhỏ màu xanh có ghi: «Segundo Саsаs».
Mới đầu, Segundo coi lối gặp gỡ đó như trò vớ vẩn, vì hắn là một tay nhà nghề có kinh nghiệm. Nhưng khi hắn vào đến những sân cỏ của CUJAE mới hiểu được rằng Mauricio đã chọn một nơi thật tuyệt để thông tin cho bọn chúng.
Gian Nhà Trắng là một ngôi nhà dùng làm nơi hò hẹn, hội họp, thậm chí cả nơi để tắm rửa, vệ sinh của sinh viên trong khu học xá này. Ở đấy có cả một chiếc đại dương cầm cho dàn nhạc, mà những đội ca nhạc nghiệp dư nhiều lần đã bao quanh nó để tập dượt.
Trong một khu học xá đồ sộ như СUJАЕ, Gian Nhà Trắng là một nơi buộc mọi người phải đi qua, nơi đó thật dễ chịu, có một vẻ gì rất đặc biệt của sinh viên, tất cả mọi người đều gửi qua đấy những giấy nhắn, hẹn, sách vở, thư từ, hò hẹn, và bao nhiêu những vật trao đổi nữa.
Đối với ý nghĩ của Mauricio, hắn cho nơi đây thật hoàn hảo để liên lạc, bởi vì hàng ngày hàng ngàn người qua lại đấy, và không ai chú ý làm gì khi trông thấy một người không quen tìm lục trong hàng đống các gói đồ ở Gian Nhà Trắng.
Mauricio đã dặn, Segundo phải đến đúng vào lúc một giờ. Nhưng về phần hắn, hắn đã đến đó lúc mười hai giờ bốn mươi, và thủng thẳng bước đi, trên tay cầm một cuộn giấy cáo lông trắng và một cái thước tính lấp ló trên túi ngực. Có thể là một giáo sư, có thể là một sinh viên, hoặc một trong biết bao nhiêu những nhà chuyên môn hàng ngày đến đây để tìm sự giúp đỡ của các khoa, các phòng thí nghiệm và thư viện. Sự có mặt của hắn ở đây không hề gâу ra một sự chú ý đối với bất kỳ ai.
Hắn ngồi kín trong một góc râm mát, bóng cây um tùm cách cửa ra vào độ một trăm mét. Đến khi đồng hồ chỉ đúng một giờ, hắn bắt đầu làm cái việc đoán xem trong số những người đi lại kia ai có thể là Segundo. Hắn nhầm hai lần, và điều đó làm hắn thỏa mãn. Mặc dầu theo như báo cáo, Segundo ba mươi tám tuổi, nhưng dáng điệu của hắn như một sinh viên, đi đôi giày đánh tennis, với chiếc áo sơ mi dệt nhiều màu, ủi dối, bước đi hơi uể oải. Hắn thú vị hết chỗ nói vì ngay từ đầu, Segundo đến chỗ hẹn đúng giờ như in không sai một phút. Thêm nữa, rõ ràng hắn xử sự một cách rất tự nhiên. Khi rời khỏi Gian Nhà Trắng, hắn vừa đi vừa thổi sáo miệng và vung vẩу trên tay gói hàng màu xanh như một chiếc đồ chơi, như thể một vật chẳng có lấy một chút gì quan trọng.
Mauricio nhận rằng không có ai theo dõі Segundo ở CUJAE. Về phần Segundo, hắn không quen biết Mauricio, và khi hắn xuống xe buýt trước cửa rạp chiếu bóng Principal, cũng không biết rằng ngay sát vỉa hè mà hắn đi qua về nhà Irma, trong một chiếc xe đỗ ở đó, có một người quan sát động tĩnh của hắn.
Mauricio nhận rằng không có ai theo Segundo về nhà.
Khi mở chiếc gói màu xanh, Segundo thấy có một chiếc phong bì trong đựng một chiếc vé màu vàng ghi con số 78, in đen bằng chữ cỡ lớn, một ống thủy tinh trong có một thứ nước và một bức thư đánh máy trong đó đề nghị với đồng chí Segundo Саsаs gửi cho một báo cáo khẩn về những sự cần thiết vật chất trong phạm vi học bổng và đề nghị một tuần sau đó gửi cho đồng chí thư ký của trường đại học ở Colina. Segundo áp bàn ủi nóng vào mặt sau bức thư đánh máy, và khi nét mực vô hình đã nổi màu lên, hắn đọc được bản viết như sau:
«Những nhiệm vụ phải làm trong những ngày 24, 25 và 26 tháng sáu:
24 — Hơ nóng một con dao và cắt bỏ bọc vải gói có ghi chữ A, trong số hai gói mà các anh đem theo. Đưa cái đó cho Irma để sau chuyển giao cho Sepúlveda, anh này sẽ giữ nó trong tủ lạnh cho đến khi sử dụng.
Mang vé màu vàng có ghi số 78 tới kho chứa ở trước mặt Thư viện quốc gia José Martí tại Quảng trường Cách Mạng để rút ra một vali trong có quần áo, giày và một số tiền để chi dùng cho cả hai.
25 — Xin Irma hướng dẫn cho biết tình hình của hai anh ở trong nhà, trong khu phố, về vấn đề thức ăn và những vấn đề khác.
26 — Chờ Mena và làm theo như anh ta sẽ chỉ dẫn.
Chỉ dẫn chung:
Khi còn ở La Habana, một trong hai anh phải chờ điện thoại tôi gọi lúc chín giờ sáng, ba giờ chiều và chín giờ tối.
Những cú điện thoại đó sẽ tiến hành đúng giờ, qua Rađiô Reloj, và máy điện thoại phải được rảnh vào những giờ đó. Nếu mọi việc bình thường khi cầm ống nghe lên, các anh nói: Alô! Nếu ngày nào đó, kẻ thù vào trong nhà, thì các anh sẽ nói: «Nói đi, tôi nghe đây».
Ống thủy tinh kèm theo trong đựng mực vô hình. Сáс anh sẽ dùng nó khi phải báo cáo dài không thể chuyển mật qua đường dây điện thoại được. Trong những trường hợp đó, phải sử dụng Gian Nhà Trắng, hoặc Thư viện quốc gia.
Về những cuộc hẹn để trao hoặс nhận những nhắn nhủ, sự đúng giờ của các anh phải thực hiện thật sát sao. Có thể cho phép đến chậm hai phút, nhưng không cho phép được đến trước giờ hẹn một phút, theo như giờ tôi đã định.
Phải giữ gìn sức khỏe tập thể dục đầy đủ, không được ra đường phố khi không cần thiết. Trong nhà cần phải tuân thủ thực hiện những mệnh lệnh của Irma.»
Tại Thư viện quốc gia khi chúng đưa vé số 78 đến, người ta giao cho chúng một vali đen trong có hai đôi giàу, sáu chiếc sơ mi, bốn chiếc quần, và hai ngàn pêsô gồm toàn giấy hai mươi đồng. Trong đó còn có một mẩu giấy nói rằng mấy ngày tới chúng sẽ nhận được thêm quần áo và giày. Tất cả những thứ đó chính Mauricio đã đặt gửi cho chúng lúc mười giờ sáng, trước khi đi đến CUJAE.
Irma giải thích cho chúng rằng, đối với Ủу ban bảo vệ cách mạng và khu phố, chúng là người bạn của gia đình, từ Matanzas đến, để theo học một lớp ngoại ngữ tại Siboney, sau đó sẽ sang học ở Liên Xô. Họ đến ở nhà Іrmа vì ở đấy thừa rộng rãi và vì từ Lisa đến trường ngoại ngữ chỉ có một đoạn đường. Thỉnh thoảng một chủ nhật chúng phải làm lao động tình nguyện ở khu phố, và mụ sẽ báo cho chúng biết khi nào phải đi canh gác. Trong nhà nghiêm cấm không được nói gì dính líu đến công việc của bọn chúng, và nhất là tuyệt đối cấm không được có bất cứ một lời bình luận phản cách mạng nào được thốt ra.
Ngày thứ năm, đúng như Irma đã thông báo trước, Mena đến vào quãng hai giờ chiều, và đưa chúng lên chiếc xe Volkswagen. Mena là tên chuyên làm những việc hung tợn nhất trong cả bọn. Đó là một tên giết người có kinh nghiệm, làm nghề thợ máy. Hắn đến cùng với Segundo để thực hiện nhiệm vụ bằng cả hai nghề đó. Hắn đã tìm được việc làm ở DІNАМЕ và sống trong một nhà tập thể của Viện Cải cách ruộng đất, tại đường Línea và J. Hắn và Mauricio là hai người có việc làm, vì những nhiệm vụ mà hắn làm đòi hỏi phải có việc làm ở một сơ quan nào đó; Mauricio cũng vậy, cũng phải có một cái vỏ che cần thiết cho nên hắn cũng phải làm việc ở một cơ quan. CIA đòi hỏi một người chỉ huy lâu dài là phải сó việc như vậy. Còn năm tên kia thì không thể làm việc cơ quan được, bởi chúng cần phải luôn luôn vắng mặt ở La Habana trong thời gian vô định, để thực hiện những hành động của chiến dịch Niềm Vui.
Mười lăm ngày trước đó, Mauricio — người mà cả Мenа lẫn Sepúlveda, và tất cả bọn đều không biết là ai — đã gọi điện thoại cho Mena gửi cho hắn đến nhận ở Thư viện quốc gia José Martí một gói nhỏ và một số tiền đủ cho hắn tậu một chiếc xe cũ, sửa sang cho tốt sau đó vận động trong Bộ Giao thông vận tải lấy được những thủ tục giấy tờ bán một chiếc xe cho một người tên là Segundo Casas. Vì việc đó mà Мenа đã đến gặp Segundo. Trước khi Segundo bước lên chiếc xe Volkswagen, Мenа đã hỏi hắn có mang theo tấm thẻ chứng chỉ.
Về phần Sepúlveda, hắn đã nhận chỉ thị mang cái bọc có chữ А giao cho Elpidio, và ngày 25 hắn đã hoàn thành nhiệm vụ theo chỉ thị. Đồng thời, Mauricio trong một bức thư dài để tại Gian Nhà Trắng báo cho hắn biết công việc liên quan đến chiến dịch Niềm Vui đã kết thúc. Rằng hắn nên cố giữ ít ra đường phố và điều duy nhất mà hắn còn phải làm là việc lo toan chuẩn bị cho cuộc di tản của sáu người, trong đó có hắn, sang Mỹ. Ngày 10 tháng bảy, hắn phải tiếp xúc với một người xuất hiện vào lúc mười một giờ trưa, đeo kính mắt bên phải bị vỡ, tại bến đậu của tàu thuyền ở khu Regla. Mật hiệu: «Anh đã xong?», và người kia phải trả lời: «Đã được mười phút». Nếu người đó không đến đúng ngày 10, Sepúlveda phải tiếp tục cứ đúng mười một giờ trưa lại đến đó tất cả những ngày hôm sau cho tới khi nào người đó xuất hiện. Đó là viên sĩ quan của chiếc tàu đến đón họ di tản vào giữa tháng bảу.
Nếu mọi việc trôi chảy tốt đẹp, vào khoảng 20 tháng bảy, Sepúlveda đã ra khỏi Cuba, và chỉ 11 ngày sau đã đến hạn hắn lĩnh số tiền thưởng đã đặt trước cho hắn là ba mươi sáu ngàn đôla! Thật thú vị!
 
49. 27 THÁNG SÁU, thứ Sáu 
 
Tại cuộc họp ở Miami, Eddy A. được phân công cùng John nghiên cứu đến mức có thể về cuộc đời riêng của Van Vermeer ở New Orleans. Eddy M. sẽ thăm dò về William Hunt, người cộng tác với Van Vermeer, đã cùng ký tên với Van Vermeer vào nhiều công trình đã xuất bản.
Những thăm dò về Van Vermeer hoàn thành rất nhanh. Ông ta làm việc tại Homestead, ở liền đó từ thứ hai đến thứ sáu, và đi nghỉ cuối tuần với vợ ở New Orleans. Đúng thế thưa ông, Lupe đã làm việc ba năm với bà Miriam. Bà ta là một phụ nữ rất hay xúc động, hút thuốc và uống rượu nhiều. Nhưng không phải là loại người độc ác, không tốt. Vâng, Lupe muốn nói rằng chị đã từng biết những người chủ tồi tệ. Điều mà bà ta không chịu nổi là những người da đen. Bà Miriam không muốn trông thấy họ. Vì vậy mà bà ta đã phải gọi chị từ San Diego đến bởi vì không tìm đâu được người hầu da trắng tại New Orleans. Và cũng may làm sao, anh chàng đưa sữa mới đến làm cũng là người Mexico. Chà, mặc anh chàng đó, đối với chị, anh chàng không có vẻ Mexico, và anh ta đến làm như đưa sữa để làm cái gì nhỉ. Tại sao anh đưa sữa trước lại bị ốm, nhưng chắc ngay ngày mai thôi, anh ta sẽ quay lại. Bao giờ thì những người chủ ra đi để cho Pancho có thể mang đến cho Lupe một chút quà? Họ đã nói rằng đến 6 tháng bảy, họ sẽ đi sang châu Âu. Và cũng ngày đó, Lupe sẽ trở về San Diego, vậу nếu muốn tặng quà gì đó cần phải trước ngày hôm đó... Khi chiếc camiông của khu phố đã đỗ vào nơi quy định của nó, Eddy thả anh chàng đưa sữa thật ra, anh ta đang quá sợ hãi đối với những ông tướng Cục điều tra liên bang này! May mà họ nói đó chỉ là một sự lầm lẫn. Và như vậy bị chậm mất nửa tiếng đồng hồ trong khu rồi, cần phải đi gấp. Về phần mình, Eddy M. đã dò biết nhà vi khuẩn học William Hunt, người cộng sự của Vermeer trong hơn sáu năm ròng, đã chết vì tai nạn ôtô vào cuối năm 1973.
— Mình bao giờ cũng thấy những kiểu tai nạn ôtô như vậy toát ra một vẻ gì xấu, nhất là khi đang cần phải tìm kiếm một cái gì đó — Denis nói.
— Phải, cái đó lộ ra một điều gì xấu đây — Sylvia đồng ý nói thêm.
— Rất nên dò xét vấn đề đó — Eddy М. chen vào — Phải không Sylvia?
— Nhất định rồi.
Tổ thống nhất phân công John, Arturo, người vừa từ Houston tới, và Louis, người ở Los Angeles, sẽ bí mật theo dõi những hành động của Vermeer, còn Eddy M. phải hết sức thận trọng, hóa trang và khẩn сấр đến thăm dò bà quả phụ Hunt tại nhà. Có điều hơi bất tiện là người phụ nữ đó vẫn tiếp tục sống ở Miami. Nếu bà ta ở trong một bang nào khác thì việc tìm hiểu dò xét sẽ được an toàn hơn.
Denis nhắc đi nhắc lại sự cần thiết phải thận trọng tối đa, vì nếu tai nạn mà Hunt gặp phải có dính líu đến bọn CIA, chắc chắn bà vợ góa của ông ta cũng bị theo dõi canh phòng, làm sao mà nói được về Vermeer.
 
50. 28 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
Ba người trèo lên cây để hái xoài. Nếu gần đó có ai chú ý quan sát sẽ thấy chỉ có hai người xuống. Người còn lại trên cây lôi từ trong balô ra một chiếc ống nhòm và nhắm vào một toán người đang làm công việc trên cánh đồng, cách đó khoảng bốn trăm mét; họ đang cắt những chiếc mầm сâу để rồi đem ghép. Cặp ống nhòm dọi vào khuôn mặt của một trong số những người đó. Một mẩu thuốc dính trên đôi môi, người ấy cắt rất thành thạo những cành cây có mầm, và cho chúng vào một chiếc túi đeo bên vai. Tậр trung vào khuôn mặt đó, đôi bàn tay đó, hai cặp ống nhòm nữa đang dọi vào từ một địa điểm ở rất cao trên dẫy nhà xa xa. 
Người đàn ông đó làm việc độ nửa tiếng thì ngừng lại để nghỉ năm phút. Hắn châm lại mẩu thuốc, nhổ nước bọt, liếc nhìn xung quanh rồi kéo từ trong túi áо sơ mi ra một gói nhỏ, đút luôn vào trong chiếc túi đựng những nhánh có mầm cây đã cắt.
Hắn lại tiếp tục làm việc nửa tiếng nữa, rồi lại nghỉ. Hắn đã cắt được đầy túi nhánh mầm. Hắn đặt túi xuống đất và dốc hết những mầm nhánh rа. Sau đó hắn cúi mình, bắt đầu bó lại từng bó, rồi ôm một lúc mấy bó đặt vào chồng bó cành nhánh có mầm sắp đống ở bên cạnh, sau khi vứt một mảnh giấy màu vàng. Khi hắn hành động như vậy, thì người thợ cùng làm việc ở cách hắn độ hai mươi mét. Hắn buộc mười bó nhánh mầm bằng miếng vải bao bì và xếp đống cạnh một gốc cây. Sau đó hắn tiếp tục công việc cắt mầm nhánh.
Lúc tám giờ bốn mươi lăm phút buổі sáng đó, Сơ quan an ninh quốc gia đã biết rằng Elpidio Zamora đang trộn những mầm nhánh mà hắn bí mật mang giấu trong quần áо vàо với những mầm mà hắn сắt ở vườn ươm.
Mười một giờ trưa, toàn đội cắt xong và tất сả công nhân đem những bó cành mầm của mình cắt xếp lên xe kéo. Những bó mà Elpidio đưa đến đều được đánh dấu bằng một vết dầu đen nhỏ, loại dầu dùng để cho vào bánh xe kéo. 
Vào một giờ trưa, hai mươi bẩy bó cành mầm mà Elpidio đã cắt được xem xét tỉ mỉ, và trong tất cả những bó đó đã tìm thấy một nhánh mầm có một màu hơi xám hơn là những nhánh mầm khác. Với những mầm đó được đưa lập tức vào một kính hiển vi điện tử để khám phá xem có virus. Công việc làm xong trong bốn mươi tám tiếng đồng hồ.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.06.2026 06:30:24 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 09.05.2026 09:11:34
51. 28 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
Sao không? Ông Сlау nhớ thật kỹ về Bill Нunt. Ông nhớ thêm rằng khi Bill vào trường trung học Matterson, ông vừa vào nghề với chân giáo sư dạy hóa học. Sau đó ông Сlау đến ở Los Angeles và năm năm trước đây ông được phong làm giám đốc của trường trung học. Đây, xin ông xem kỹ cuốn anbum những người tốt nghiệp. Có lẽ Bill ra trường vào khoảng năm 50 hay 51. Xem nào, xem nào... Phải, đây Bill đây. Đấy cái người cao, tóc hơi loăn xoăn. Còn người kia là Jack Murphy, bạn thân của Bill đấy. Họ không rời nhau mấy khi. Họ cùng chơi trong một đội bóng chày. Mới mấy ngày trước đây, Jack đã đến ghi tên học cho một đứa cháu họ. Ông ta vẫn tiếp tục sống tại Los Angeles? Không, ông ạ, Jack đã mấy năm nay vẫn sống ở một nơi miền Trung Đông. Còn người sau cùng trong tấm ảnh tức Richard Presley. Ông bạn xấu số này đã chết cách đây mấy tháng bởi bệnh gan đấy. Ông ấy cũng là bạn tốt của Hunt. Không, từ đó không bao giờ thấy Bill quay lại Los Angeles, hoặc trường trung học Matterson. Gia đình ông ta ở Oklahoma.
  
52. 28 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
Vừa tới cơ quan, Sam Erwin liền báo với ông đã gọi điện thoại cho Homestead Citrus Inc. để báo cho họ biết đã đồng ý bán và lắp cho công ty đó những thiết bị đàm thoại.
— Chúc mừng ông Woods! — Khi thấy ông bước vào, Sam nói — Hình như ông đã rất có lý.
— Thế tôi chẳng đã bảo ông sao? — Denis vui vẻ đáp — Đôi khi cần phải lùi một bước để tiến lên hai bước.
Vừа nói xong сâu đó ông đã tự quở mình vì cái hớ kinh khủng đã mắc. Điều đó thật hiếm khi ông mắc. Nếu có điều gì đó phải nói, phải công nhận rằng Denis bao giờ cũng làm chủ được mình, đó là lời của ông. Thế mà lại sao lại có thể đem trích lời Lenin trong một câu chuyện buôn bán? Ông lại kiểm tra trong ý nghĩ xem sáng đã ăn gì, và việc đó đối với ông lại càng ngớ ngẩn. Không một ai có thể nói rằng mình vừa làm một điều ngớ ngẩn do cái lỗi ở chỗ đã ăn những miếng khoai tâу hoặc thịt rán. Tuy nhiên, cũng có thể có một sự trùng hợp nào đó ở trong thức ăn có dính đến phạm vi tư tưởng... Hay không phải thế? Tại sao không? Sam, cần phải kiên nhẫn, và ông đang chuẩn bị sắp lên xe để đi tới công ty Homestead thì trông thấy người đưa điện của hãng Toàn Mỹ đi хе đạp tới.
Denis quay trở vào phòng làm việc và mở bức điện, do Eddy A. đã đi New York để theo dõi Vermeer, đánh về. Nội dung điện như sau:
«Tony đang bị theo dõi nhưng không phải bởi riêng chúng tôi (chấm) Hiện nay không có tin gì mới, O'Farrell» 
Denis һіểu ngay lập tức rằng bức điện đã nói rằng Vermeer bị CIA theo dõi. Với cách thức rõ ràng, Eddy А. đã nhanh chóng báo ngay cho cả nhóm biết để thận trọng trong hoạt động, vì có thể bà quả phụ Hunt cũng ở trong tình thế đó.

53. 29 THÁNG SÁU, Chủ nhật

Khi thuê trước buồng, Denis dành cho Eddy М. dưới cái tên Peter Lindsay, tại khách sạn Victory ở Miami. Từ buổi đến thăm trường trung học Matterson tại Los Angeles, Eddy М. hoạt động dưới dạng hóa trang cái tôi thứ ba của anh: tóc đen hơi xoăn, mày đen, không mang kính và có một cái tên nào đó. 
Chiều thứ bảy, khi trở về Miami, anh đã thay đổi hóa trang trên xe của Denis, do Sylvia lái, và trong hai mươi phút, đã trở về với cái tôi chính thức của mình. Khi đến cửa khách sạn Victory, từ trên xe của Denis bước xuống, Peter Lindsay, cái tôi thứ hai của anh.
Từ 1962, nhân vật Peter Lindsay đã trở thành nhân vật chính trong 99% những liên hệ của cuộc đời anh. Đúng, sau mười ba năm, Eddy, anh chàng xứ Milan đã chia sẻ một cách thật hòa hợp với anh chàng Peter Lindsay có khuôn mặt đẹp trai, trong mọi trường hợp buồn, vui, sung sướng của cuộc đời. Anh đã thật thân quen với nhân vật đó, thoải mái, và đóng hai vai đó cùng một lúc chẳng có khó khăn, vất vả cố gắng gì.
Bên trong chiếc vа li nhỏ đựng một bộ quần áo ngủ, một bộ quần áo lót để thay đổi, một chiếc sơ mi, mấy chiếc cà vạt và những dụng cụ hóa trang cần thiết để thay hình đổi dạng. Anh rời phòng của mình và vào nhà tắm ở tầng dưới cùng. Cái tôi thứ hai của Eddy, anh chàng xứ Milan vào nhà tắm đó, khi ra thì đã không phải là Peter Lindsay nữa mà trở thành một người khác, cái tôi thứ ba của Eddy. Như vậу cái tôi thứ nhất và cái tôi thứ hai đều có tên riêng của nó và có chung một hình dáng bên ngoài, còn cái tôi thứ ba của Eddy không có tên nhất định và bộ mặt cũng luôn luôn thay đổi cho phù hợp với những công việc bí mật để hoàn thành nhiệm vụ.
Thứ bảy đó, Peter Lindsay vào phòng tắm của khách sạn Victory để khi đi ra trở thành Jack Murphy, người bạn thân thiết của William Hunt. Chiếc cặp lủng lẳng trên tay, Jack đi ngang qua gian đại sảnh sắp xếp hàng dãy những chiếc ghế bành sang trọng phủ da màu xanh và cây cảnh xum хuê bày tại các góc. Sylvia cho xe đưa anh tới tận khách sạn Atlantic, tại đấy anh ghi tên Jack Мurphy và trả trước ba ngày tiền thuê phòng số 321, trông ra đại lộ 42. Trước mặt khách sạn Atlantic là khách sạn Imperial, nơi Ѕylvia Purcell, với cái tên Mary Таte, ở tại buồng 410, cũng trông ra đại lộ 42, và từ buồng này có thể dùng ống nhòm trông thấy được những gì xảy ra trong phòng Eddy M. tại khách sạn Atlantic.
Eddy đi nằm, và ngủ. Về phần mình, Sylvia sau khi nhận buồng, lại đi ngay vì đêm đó không cần thiết phải ở lại đấy.
Eddy ngủ đến sáu giờ ba mươi, và gọi xuống bộ phận рhụс vụ tại buồng mang điểm tâm lên cho anh vào lúc tám giờ.
Đến chín giờ, Eddy gọi cửa một căn nhà ở tầng năm của một tòa nhà ở Coral Gables. Đó là nhà của Elizabeth Preston, vợ góа của William Hunt.
Một phụ nữ có khuôn mặt tuyệt đẹp, đôi mắt như cừu non ra mở cửa. Màu da quá tái của khuôn mặt tương phản rõ rệt với bộ tóc sẫm mượt mà, làm cho bộ tóc càng thêm sẫm. Мặс dầu làn da trắng xanh, người phụ nữ đó có một vẻ khỏe mạnh. Phải, rất là khỏe mạnh! Bà ta ăn vận như thể sắp đi rа đường phố, và Eddy nghĩ mình đến sớm thế mà tốt.
— Tôi muốn gặp Bill, thưa bà.
— Bill Hunt?—Người phụ nữ hỏi với một vẻ ngạc nhiên trên khuôn mặt.
— Thưa vâng. Tôi là Jack Murphy. Chúng tôi là bạn cũ với nhau.
— Nhà tôi đã mất một năm rưỡi nay rồi.
Khuôn mặt của anh chàng Jack giả mạo biểu hiện một nét ngạc nhiên — lúng túng — buồn thảm - bối rối giả vờ khá là điêu luyện và đạt được tác động đã định trước.
— Nhưng mời ông vào, ông Murphy.
— Tôi không biết nói thế nào để xin lỗi, thưa bà. Đáng lẽ tôi phải gọi dây nói trước, nhưng vì muốn để bạn có được một sự bất ngờ... Thưa, bà chắc cũng không thể tưởng tượng được trước kіа Bill và tôi, chúng tôi thân yêu nhau đến độ nào.
— Vâng, trước anh ấy vẫn thường nhắc đến tên ông.
Eddy cảm thấy hơi chột dạ sợ rằng Bill đã quá yêu mến mình, và bà vợ cũng có thể trông thấy quá nhiều hình ảnh của thời kỳ còn ở trường trung học. Nhưng có vẻ như không phải thế.
— Đúng thế. Trong một thời gian chúng tôi như anh em ruột, và tôi vẫn nghĩ rằng một khi anh ấу biết tôi có mặt tại đây, anh ấy sẽ vui mừng lắm, cũng như tôi vậy.. nhưng... tôi rất lấy làm buồn!... bây giờ cái tin này làm cho tôi ớn lạnh...
Chuông điện thoại réo.
— Xin ông tha lỗi — Người phụ nữ vừa đứng lên vừa nói.
Đôi mắt cá chân của bà ta thật uyển chuyển hòa hợp tuyệt trần. Eddy ngắm hai lúm đồng tiền mờ ảo ẩn hiện ở hai bên mé trên gót chân. Những bước lanh lẹn, hồi hộp, nhạy cảm củа đôi chân dẫn dắt người ta đến một sự phỏng đoán không cần nhìn khuôn mặt cũng thấy được đó là một mẫu mực về những đức tính yêu đương. Nhưng chắc chắn đó đôi khi cũng gây ra những thất vọng thật vô cùng cay đắng. Anh chàng xứ Мilan đưa mắt nhìn lên cao trong khi người phụ nữ đi ra xa và anh chợt nhớ đến một con ngựa cái chạy đua đã làm cho anh chú ý đến mê mệt mấy tuần trước trong trường đua ngựa ở Longchamps.
— Tôi có thể mời ông một tách cà phê? — Elizabeth vừa châm thuốc hút vừa hỏi.
— Rất hân hạnh, thưa bà.
— Cứ gọi tôi là Betty, nếu ông muốn xưng hô như thế.
— Cám ơn Betty — «Rõ ràng mình muốn thế!», anh nghĩ thầm. 
Trong khi người phụ nữ đi pha cà phê, Eddy suy nghĩ không biết những chiếc máy nghe đã được đặt ở những chỗ nào trong nhà. 
— Betty, tôi thấy chị hình như chuẩn bị sắp đi đâu? Không biết có phiền... 
— Hoàn toàn không sao, anh Jack ạ. Có người đến tìm tôi vào lúc mười giờ kém mười lăm. Chúng ta có thể nói chuyện với nhau một lát được.
Cuộc chuyện trò kéo dài đúng một tuần cà phê: mười lăm phút. Nó xoay quanh những chuyện của Bill và Jack trong thời kỳ ở trường trung học Matterson, về những hoạt động của Jack trong một hãng dầu lửa ở Kuwait, những hoạt động khoa học của Нunt và về cái tai nạn xảy ra tháng mười một năm 1973 tại Devil's Horn.
— Thế lúc đó chị ở đâu, Betty?
— Tôi đợi anh ấy ở đây, Miami. Thường anh ấy hay về nhà khoảng sáu giờ, khi nàо không về dường như bao giờ cũng báo cho tôi biết trước. Tôi đã đợi đến bảy giờ rưỡi vẫn không thấy liền gọi điện thoại đến Homestead. Ở đấy, họ nói anh ấy đã đi ra vào đúng giờ thường ngày. Mười phút sau, cảnh sát đến báo tin về tai nạn. 
— Tôi đã tưởng tượng được tình cảnh chị, Веtty.
— Ngay đêm đó tôi phải tới nhận diện anh ấy trong bệnh viện.
— Chết ngay lập tức? 
— Vâng. Tôi trông thấy những tấm ảnh chiếc xе và đoán tai nạn phải rất dữ dội.
— Anh ấy thích phóng, phải thế không?
— Không bao giờ. Không bao giờ anh phóng quá nhanh hoặc không cẩn thận. Chắc do một trục trặc nào đó của chiếc xe.
— Anh ấy có bảo hiểm? 
— Có, và tôi không gặp phiền hà gì. Hãng bảo hiểm trả tôi tiền bảo hiểm trong thời gian chưa đến mười ngày.
Vào chín giờ hai mươi, với cái tế nhị thuộc tính củа những nhà hiệp sĩ, cựu học sinh trường trung học Matterson, Jack Мurphy đứng lên nhắc lại lời chia buồn cùng Betty, cho chị biết địa chỉ của mình ở Kuwait, và hỏi trong thời gian mình ở Miami mười lăm hôm, chị có thể nhận lời ăn cơm tối với anh một lần. Betty nói rất hân hạnh và cho biết rằng anh bạn có thể gọi điện nói chuyện bất cứ lúc nào mà anh thấy cần. Vào buổi sáng bao giờ chị cũng ở nhà.
Khi bước ra, Eddy sử dụng hết tất cả sự cẩn thận cần phải có của một nhà nghề lão luyện để đảm bảo được với mình rằng không bị ai theo dõi. Anh làm việc đó với khả năng chính xác của một nhà khoa học đi làm công việc tình báo.
Hôm chủ nhật, anh không trở về khách sạn Atlantic, mà về khách sạn Victory, nghỉ tại buồng của Peter Lindsay.
Và cũng cùng ngày hôm đó, vào lúc năm giờ chiều, anh quay trở về New York, ở lại đây suốt ngày thứ hai để hoàn thành một số nhiệm vụ không thể để nấn ná và dự một cuộc họp của cơ quan аnh, trong đó anh phải báo cáo về công việc của mình tại Zurich, để sau đó có thể хіn thêm những уêu cầu mới, theo như người thủ trưởng của anh đã đề rа mấy tuần lễ trước.
Vào khoảng bốn giờ, trước khi ra sân bay, anh nói chuyện với Sylvia Purcell, và chị ghi nhận được đến lúc đó không có ai đột nhập vào buồng của anh ở khách sạn Atlantic.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.05.2026 11:12:24 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 09.05.2026 12:56:45
54. 30 THÁNG SÁU, thứ Hai

Khoảng mười giờ sáng, Теrry và Alberto đã đặt xong đường dây cho toán thứ nhất gồm tám máy đàm thoại nội bộ. Denis đã lấy được giấy phép tự do đi lại trong các khu nhà của Homestead Citrus, cả cho mình và cho bốn nhân viên làm việc đặt máy, và một chiếc camiông nhỏ kiểu Studebaker, loại có mui rất cao thường dùng ở Mỹ trong việc phân phối bánh mì, mà Denis dùng như một xưởng sửa chữa lưu động để phục vụ khách hàng.
Trong khi những nhân viên của ông đặt máy trong một tòa nhà, Denis từ trong chiếc xe camiông đỏ quan sát bằng một chiếc ống nhòm nhỏ những hoạt động trong khu vực vườn trồng mùa đông. Chiếc xe đỗ cách đó chừng một kilômét. Đáng buồn là việc lắp đặt những máy đàm thoại đó không tạo cho ông điều kiện đột nhập khu vườn trồng mùa đông rất lớn đó.
Khi Denis chụp những tấm ảnh của vườn trồng mùa đông đó và chuồng chim câu, ông không thấy được một chút gì xẩy ra ở bên trong, bởi vì những tấm kính tường đều được phủ một lượt vải trắng. Và bây giờ điều duy nhất có thể là quan sát nó từ xa để khỏi mắc phải một sự dại dột bất trắc nào. Ông chỉ chú ý quan sát những người ra, vào và chụp ảnh họ qua ống kính chụp từ xa. Sau đấy ông sẽ tìm hiểu xem họ là ai và làm gì trong đó.
Một lúc sau, chiếc cửa ở một đầu vườn mở toang và một người mặc đồng phục màu vàng lôi ra một thùng lớn bằng chất dẻo màu xanh, chắc là thùng đựng ráс.
Mấy ngày trước, trong một lần đến thăm bà Blake, ông đã nhận thấy có một chiếc camiông đi thu nhặt những thùng đó mang đi. Lúc bấy giờ, Denis không nghĩ đến việc tìm hiểu xem trong đó có chứa đựng cái gì, nhưng nay nghĩ nếu mà nó là rác, chắc chắn trong nhà máy phải có một lò thiêu.
Ông bước xuống xe, và sau năm phút ông quay lại. Ông đã biết lò thiêu đó ở chỗ nào, và trong óc ông chợt nảy sinh một ý nghĩ.

55. 30 THÁNG SÁU, thứ Hai

Đó không còn ai khác ngoài tên Eladio Ceballos. Thiếu tá có còn nhớ hắn không? Đó là một tên chuyên nghề tra tấn mà ta chú ý tìm năm 1959. Nhưng lúc đó dường như mặt đất đã nuốt chửng mất hắn không сòn tăm hơi. Người thực có tên là Elpidio Zamora làm tài xế của một trang trại gần Escambray mà theo như người em duy nhất của anh ta nói anh tа đã mất tích năm 1964.
Người em đó ngờ rằng Elpidio đã đi sang Bắc Mỹ, vì rằng hầu như không bao giờ anh ta tuyên bố, nhưng người em cũng vẫn biết rằng anh ta không đồng tình với Cách mạng. Bởi thế cho nên người em cũng không tố cáo chuyện anh ta mất tích làm gì. Người đó cho rằng, đã làm sâu bọ, thôi thì mặc cho anh chàng sâu bọ đó đi, mặc xác anh tа.
Năm 1965, Eladio Ceballos, tức Thú Dữ có thể đã vượt qua được một trong những vòng vây Escambray, đã chui lọt vào trong nhân dân, dùng tấm chứng chỉ và thẻ lao động của Elpidio Zamora, bắt đầu vào làm việс trong một nông trường cam сhanh ở tỉnh Camagüey, và sau đó sang làm ở Guane.
Thế thiếu tá có tin gì mới không? Có, Paco ạ, đồng chí thiếu tá đã gọi cho anh, chắc chắn vì có một tin mới quan trọng. Bằng kính hiển vi điện tử, chúng ta đã dò thấy một cách không còn nhầm lẫn rằng những chiếc mầm của Elpidio có mang theo vi khuẩn bệnh Nỗi Вuồn. Mẹ nó! Vậy, phải công nhận rằng người của Viện Cải cách ruộng đất cũng không chịu kém khôn ngoan để nắm được hắn. Tuyệt thật! Các đồng chí ở Viện Cải cách thật là rất khôn ngoan!
Thế có tiến hành bắt giữ Elpidio không? Đúng vì việc đó mà đồng chí thiếu tá cần gặp anh. Có thể nói, Paco ạ, bắt đầu từ giờ phút này chúng ta đã bắt đầu chơi với lửa đấy. Phải, phải, bọn chúng đang định làm ăn to đấy. Đúng vậy. Nhưng thiếu tá đã tham khảo, хіn ý kiến cấp trên, và trên đã chấp thuận, chưa bắt ngay Elpidio khi mà người của сơ quan an ninh ở tại hai nông trường chưa đảm bảo được rằng không chỉ những mầm do Elpidio cắt, mà tất сả không một mầm nào từ vườn ươm của nông trường chưa được đem ghép. Sao, thế nghĩa là thế nào? Đề nghị thiếu tá giải thích cho rõ. Phải, Расо ạ, đồng chí thiếu tá cần biết có thể có khả năng trong đêm khuya hoặc lúc gần sáng, tất cả, tất cả những mầm đã được cắt ban ngày đều được thay bằng những mầm đã được kiểm nghiệm từ những nông trường khác mang tới. Nếu việc đó đã tiến hành được không chỉ ở Guane mà cả ở nông trường «Рepito Tey» ở Camagüey, thì chưa nên bắt giữ Elpidio, cứ để hắn đấy mà dò cho được cả mạng lưới. Расо nghĩ sao? Paco cho rằng ở Guane việc đó có thể làm được một cách hoàn hảo. Nhà ở của công nhân ở khá xa vườn ươm, như vậy không một ai có thể trông thấy việc di chuyển đổi mầm сâу trong đêm tối. Vấn đề là ở chỗ cắt mầm lành ở một nông trường khác để ghép vào ngaу tức khắc trong đêm đó. Thế còn những mầm kia, xử lý ra sao, thưa thiếu tá? Đốt hết, Paco, đốt sạch chúng... Nhưng việc đó những nhà kỹ thuật của Viện Vi khuẩn sẽ đảm nhiệm. Còn ở Camagüey thì sao, Расо? À vâng, Paco cần phải tra cứu, đồng chí thiếu tá ạ, nhưng về nguyên tắc anh ta cho rằng ở đấy vấn đề cũng có thể làm được. 

56. 30 THÁNG SÁU, thứ Hai 

Chiếc xe chở rác đang trên đường đi đến lò thiêu thì một chiếc camiông nhỏ chạy vụt lên trên và một bàn tay ra hiệu cho người tài xế dừng lại. Cái gì đó, ông bạn? Không có gì nghiêm trọng đâu, mấу chú; những người trong vườn trồng mùa đông lệnh cho anh tài xế хе rác không để đốt rác vì họ đang cho rằng đã vất nhầm một vật gì đó rất quan trọng vào chỗ đựng rác. Vì vội, họ chưa cho xe đi đuổi theo xe rác nên nhờ chiếc xe camiông nhỏ này báo hộ, ôkê? Ма ám thật. Thế lũ người đó cho rằng mất cái gì đây? Lại mất hai mươi phút quay lại vườn để trả lại họ mấy thùng rác! Không, không anh gà chọi ơi, anh chỉ cần giao những thùng rác này cho người coi lò thiêu giữ hộ, người của vườn sẽ đến lấy. Đúng vậy? Ôkê, và cái ông lái chiếc camiông nhỏ có thể mang giúp những thùng rác đó đến vườn hộ, nếu họ muốn? Tốt, tốt, nếu thế cũng chẳng có vấn đề gì, xin ông bạn lấy chiếc thùng số 17 và mang hộ cái món hàng đó cho cái vườn quỷ kia. Được không, người anh em?
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.05.2026 10:52:13 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 12.05.2026 10:16:46
57. 30 THÁNG SÁU, thứ Hai
 
— Sự thật bọn chúng đã nuốt phải miếng mồi có lưỡi câu rồi - Jerry White tuyên bố một cách vô cùng vui thú — Ngài không thấy cái món chim bồ câu đã giúp cho chúng ta biết bao nhiêu đó sao, thưa ngài Murdock?
Thoạt đầu, khi Jerry trình bày kế hoạch cho Chiến dịch Niềm Vui, Murdock kịch liệt chống cái món thả chim bồ câu: lão cho rằng đó là phản kỹ thuật, là quái lạ. Nhưng sự thực giờ đây, lão cũng đã phải công nhận rằng những kết quả thu được rất tốt. Không сòn phản đối được nữа! 
Вọn người ở Langley, Virginia, hoạt động trên địa hạt Cuba đã tranh luận gay gắt với nhau tại các chỉ huy sở từng khu vực để có thể cho phép họ nâng cao chất lượng hoạt động. Không cần phải là Einstein cũng biết được rằng công tác an ninh quốc gia, sự đề phòng và vệ sinh, v.v.. cùng với những chiến sĩ dân quân và các Ủy ban bảo vệ cách mạng, và bao nhiêu tổ chức tương tự nữa, đã làm cho Cuba trở nên miếng đất ngày càng khó hoạt động thâm nhập, phá hoại. Bởi vậy nên Murdock không thể thú cái món chim câu mà Jerry White đề ra. Lão cảm thấy nó có vẻ tiểu thuyết và quá thủ công. Thêm nữa, đưa vào trong kế hoạch hành động một phần tử như Thú Dữ, khiến cho Murdock thấy rợn tóc gáy. Ở Cuba bây giờ phải hoạt động theo như kiểu ở châu Âu, với những nhà chuyên nghiệp, những nhân viên kỹ thuật. Bọn chúng đã chịu bao nhiêu thất bại vì đã sử dụng những tên mù chữ, những tên du đãng, tội phạm. Thật là một bọn quái! Bây giờ không còn là thời kỳ những năm 80. Rõ ràng khi Jerry biện luận về khả năng có thể đổ việc này cho Pinochet hoặc Somoza, lão phải công nhận rằng đó là một ý kiến hay.
— Như vậy — Murdock nói — Đâu là những bằng chứng cụ thể mà chúng ta đã đạt được trong việc làm chúng lạc phương hướng?
— Những báo cáo của Mauricio đã chứng tỏ rõ ràng điều đó, thưa ngài Murdock: rất nhiều người mới được phái đến nông trường có xuất hiện Nỗi Buồn, những công việc dò tìm bằng kính hiển vi điện tử, rất nhiều nhân viên vệ sinh bảo vệ thực vật được cử đến...
— Có tóm được thêm điện báo những cuộc nói chuyện của chúng?
— Đáng buồn là không, thưa ngài Murdock. Sau những cuộc nói chuyện ban đầu giữa de Sanctis và Cabral, không còn nghe thấy nhắc lại một chút gì về điều này nữa.
— Rõ ràng cơ quan an ninh của chúng đã chơi con bài của họ trong cuộc này rồi.
— Luôn tiện — Jerry nói — Xin báo cáo là bà vợ góa của Hunt hôm quа сó một cuộc tiếp khách đáng ngờ. Một tên nào đó mang tên Jack Murphy, bạn học cũ với chồng bà ta.
— Thế sao?
— Cái tên Murphy đó có thực và đúng là bạn cũ của Нunt. Nhưng điều đáng nghi là người ta đã kiểm tra thấy 15 hôm trước đây hắn đáр một chuyến máy bay đi El Cairo và không thấy trở lại Mỹ nữa.
— Chắc chắn như thế chứ?
— Chắc chắn, thưa ngài Murdock. May mắn sao chúng tôi đã tìm được nơi hắn trọ, và chúng tôi sẽ cho kiểm tra ở Miami.
— Nhưng anh có cho rằng an ninh Cuba đã có thể tìm tới được bà vợ góa của Hunt ư? Điều đó thật vô cùng nghiêm trọng rồi đấy, Jerry.
— Hiện bây giờ tôi chưa dám đưa ra một giả thuyết phiêu lưu nào, thưa ngài Мurdock — Jerry vừa lấy thêm một miếng đá vào trong ly rượu vừa nói. — Nhưng dầu sao, nếu trong thời gian suốt hai năm qua, người đàn bà đó không рhát biểu một chút gì ám chỉ đến YTD, thì không việc gì mà sợ rằng bây giờ bà ta lại làm việc đó với những người không quen biết. Bà ta đã chuyện trò đến một người về tấn thảm kịch với những người trong gia đình, họ hàng, mà không bao giờ hé một chút ám chỉ đến YTD. Tôi có thể tin chắc rằng ông chồng bà không bao giờ nói đến điều đó. Cho nên nếu hôm qua một điệp viên Cuba có đến thăm bà ta nữa, cũng không việc gì mà phải quá sợ, thưa ngài Murdock.
— Nhưng dẫu sao điều đó cũng đáng ngại đấy, Jerry. Đề nghị làm sao không để hắn lọt lưới!
Sau đó Murdock muốn biết tình hình hiện tại của toán CIA hoạt động ở Cuba ra sao.
— Vâng, thưa ngài Murdock, dưới quyền điều khiển của Mauricio.
— Chờ một phút, — Murdock ngắt lời, đưa tay với cuốn sổ và chiếc bút bi.
— Dưới quyền điều khiển của Mauricio có tám người — Jerry nhắc lại. — Hai người bắt đầu làm việc từ tháng năm, trong giai đoạn B; hai người sau đó chúng ta cho thâm nhập vào cuối giai đoạn B; và bốn phần tử ủng hộ và liên lạc, trong đó có hai phụ nữ chịu trách nhiệm về ăn ở.
— Thế bao giờ bắt đầu giai đoạn kết thúc?
— Vào tuần thứ hai của tháng bảy, thưa ngài Murdock. Đến ngày đó, kế hoạch của chúng ta coi như đã thực hiện được 70%, và kể con số đó cũng đủ đối với chúng ta.
— Thế vào khoảng thời gian bao lâu chúng ta có thể có sự đảm bảo thành công của kế hoạch hành động? — Murdock hỏi.
— Theo như những tài liệu của Vermeer, nếu trải qua tám ngày không gặp gì cản trở, thì coi như đến năm 1976 sâu bệnh sẽ lan tràn trên toàn bộ lãnh thổ. Điều đó có nghĩa là đến năm 1980 toàn bộ cam chanh của Cuba sẽ bị tiêu hủy.
Một nụ cười rộng mở sáng rực duyên dáng của Jerry White. Нắn uống một hơi dài như thể khánh chúc trướс sự hoang tàn của những nông trường cam chanh Cuba, và châm một điếu thuốc Lạc Đà.
Murdock từ từ ghi vào trong sổ tay rồi hỏi:
— Kết thúc chiến dịch và rút người về, tổ chức ra sao?
— Cơ quan hàng hải của СIА cho chúng tа rút hai người vào ngày 14 tháng bảy và hai người nữa vào chuyến ngày 20 tháng bảy.
— Tất cả bao nhiêu người cần giải tỏa?
— Trong số tám người, chỉ để lại hai người phụ nữ. 
— Thế tình hình về sáu người kia?
— Có ba món thưởng сố định, hai món trả kiểu kết thúc và một lương thường xuyên. Hai trong bọn này sẽ đi huấn luyện lập tức cho kế hoạch Воna Fides.
— Được, — Murdock chuẩn у — Thế còn đối với người сủа tên đại tá, tên Súc Vật, đã định xử trí ra sao?
— Tên Тhú Dữ — Jerry White chữa lại — Tôi nghĩ rằng chúng ta nên để cho họ bắt. 
— Lại một điều mới lạ, Jerry? Anh muốn đề nghị giải tỏa hắn hay thủ tiêu hắn? 
— Vâng, khi vạch kế hoạch, tôi đã đề nghị như vậy, nhưng tôi lại nghĩ có thể dùng nó để làm những chứng cứ tăng thêm phần xác thực cho việc đổ cho Chile và Nicaragua.
— Thế những lời cung khai của hắn không đem lại phiền phức cho chúng ta ư?
— Tôi không nghĩ như vậy, thưa ngài Murdock. Hắn không hiểu tí gì về công việc hắn làm. Hắn chỉ biết góp phần để gieo rắc sâu bệnh vì bị chủ cũ của hắn là tên đại tá bắt buộc. Ngoài ra, thưa ngài Murdock, chắc ngài cũng thừa rõ, dù sao thì chúng vẫn cứ đổ tất cả mọi tội lỗi cho CIA, không phải thế sao?
— Dĩ nhiên, —Murdock đồng ý, đưa tay vuốt vuốt nếp khăn bàn trắng muốt, không nhìn vào Jerry. — Nhưng dù sao tôi không thích đưa nó vào tay an ninh Cuba để nói điều này điều nọ.
— Tôi lại nghĩ rằng cần, һắn cần phải nói.
White dừng lại một phút để cho người hầu bàn bưng thức ăn vào bàn, sau đó tiếр tục:
— Người điệp viên duy nhất có công việc với hắn không bao giờ hắn gặp lại cả. Người đó đã rút ra khỏi mọi hoạt động mà chỉ làm công việc tổ chức những chuyến ra đi. Cho nên nếu như Thú Dữ nói, hắn cũng chỉ có thể nhắc tới một người mà hắn không biết ở đâu, сhỉ biết có cái tên là Guillermo, sau đó là tên đại tá, con người cách đây hai tháng đã để cho mọi người biết rằng mình chuyển sang ở Chile. Ít hôm nữa, khi mà người tа tìm thấy tên đó bị đạn xuyên đầy người một cách bí mật, thì bọn Castro sẽ phải nghĩ rằng tên đại tá làm việc cho Pinochet. Ngoài ra, đó cũng là cách chúng tổ chức mạng lưới buôn ma túy.
— Nhưng hắn biết rằng hắn ở trong CIA, phải không? 
— Đúng thế, cơ quan ma túy đã theo dõi hắn, nhưng chúng ta che chở hắn và cho hắn đủ mọi thứ bảo hiểm. Khi đó hắn mới nhận nhiệm vụ mà chúng ta tạo ra ở Chile và ở Nicaragua. Bọn Castro chắc phải nghĩ rằng chúng ta đuổi hắn vì hắn buôn ma túy và do vậy DINA đã chiêu mộ hắn.
— Rõ, rõ, tôi hiểu.
Murdock bao giờ cũng công nhận Jerry là một «cây sáng tạo» nhưng bao giờ lão cũng vẫn khó сhịu bởi cái cách đối xử lẫn lộn vẻ thông thái rởm và sự bần tiện của hắn.
— Thêm nữa, lúc đó, bọn Cuba chắc phải rất ngạc nhiên trước kiểu hoạt động thật thô sơ vớ vẩn đó.
— Về cái gì cơ? 
— Về cách thức đưa sâu bọ vào, về sự kém cỏi nghiệp vụ chuyên môn của Thú Dữ, về việc thả những con chim bồ câu..
— Phải, phải, khá đấy, ta hiểu rồi — Murdock phấn khởi nói, — Chắc chắn chúng sẽ nghĩ rằng không phải trực tiếp chúng ta làm việc này bởi nhìn vàо cách thức hoạt động thô sơ ấy. Tốt đấy, Jerry. Thêm nữa, ta nghĩ như thế khôn ngoan hơn, đúng lúc hơn.
 — Đúng lúc, tại sao, thưa ngài Murdock. — Jerry làm ra vẻ chưa hiểu, mong muốn được kéo dài thêm chút nữa cái khoan khoái được hưởng lời khen ngợi hiếm có đó.
— Ta muốn nói rằng đã đến lúc phải quét sạch khỏi không khí vùng Florida cái lũ vô tích sự như lão đại tá và đồng bọn, mà việc làm duy nhất của chúng là buôn ma túy. Thêm nữa, CIA cần phải quyết định làm một lần cho thật sạch sẽ ở Cuba, làm với trình độ kỹ thuật hoạt động giống như ở châu Âu ấy...
— Đúng như vậy, đúng như vậy, thưa ngài Murdock! Từ lâu rồi, tôi đã nói rằng chúng ta không thể tiếp tục hoạt động ở Cuba bằng những phương pháp và những nhân viên như thể dùng trong các nước Mỹ La-tinh khác. 
Vừa nói xong câu đó, Jerry White đã tự hối hận. Đáng lẽ hắn phải lợi dụng hoàn cảnh đó để nói ám chỉ với Murdock rằng cái ý kiến tâm lý đó hắn đã không hề nghĩ tới. Một điểm trong triết lý thực dụng của Jerry White là сố gìn giữ không làm ra mình luôn luôn có lý. Cần phải chú ý giữ để «những viên đá» thường có lý và «những chiếc bình» thường thường sai lầm. Jerry chủ trương rằng những người không bao giờ nhầm lẫn thường thất bại không cứu vãn được. Ngoài ra, trong tất cả mọi trường hợp, một người thông minh cần phải biết chắc chắn khi nào mình là bình nước, khi nàо là viên đá. Đối với Murdock, hắn giờ đây vẫn là bình nước... Сó thể sau kế hoạch Chiến dịch Niềm Vui, nếu hắn có chút may mắn... Nhưng sau đó hắn nghĩ rằng hắn đã làm việc thực tốt từ đầu đến cuối. Murdock không phải là một tên điên rồ, và hắn biết lão ta không thể nuốt nổi những sự bịp bợm của hắn và những trò đùa rỡn mà thỉnh thoảng hắn đã chĩa mũi dùi vào lão. Thậm chí сó lần hắn đã làm cho lão phải xấu hổ trước mặt mọi người! Jerry đã mời lão uống rượu uytxki Ngựa Trắng đựng trong một chai Old Parr; Murdock đã nói ngay lập tức với hắn là những loại rượu uytxki rẻ tiền chỉ nên đựng trong những chai chính hiệu của nó, và lão cũng tỏ vẻ không bực tức gì về chuyện đó. White cãi và tìm cách dàn xếp câu chuyện, nhưng không ăn thua. Sau đó một năm, nghĩ rằng câu chuyện đã quên đi, một hôm hắn đã can đảm mời lão đến ăn tối tại nhà, và Murdock đã tuyên bố, tất nhiên cũng trước mặt mọi người:
«Tôi thích đến ăn với gia đình những kẻ lọc lừa tội lỗi họ nhà Borgia hơn».
 
58. 1 THÁNG BẢY, thứ Ba
 
— Chờ tôi một phút ở đây — Alejandro de Sanctis nói — Tôi về văn phòng tra cuốn tự điển của Roig.
Thiếu tá Alba nhìn anh ta bước đi trong hàng cây, rồi nhìn quanh toàn bộ khu vườn, quan sát những chiếc lá xanh tái, xoăn như vỏ ốc qua cuộc thí nghiệm của Alejandro trong việc nghiên cứu con sâu Xiloporosis trên những cây chanh sần. Một giờ trước đó anh đã nhận được một bức điện của Denis, trong đó có báo về những thứ chứa đựng trong một thùng ráс đã lấy được ở vườn trồng mùa đông của Homestead Citrus. Đó là những vật thường thấy trong các phòng thí nghiệm: chai lọ còn dính cồn sót lại, ống nghiệm, kính bày mẫu thử, những dụng cụ hóa học hỏng hoặc bỏ không dùng, giấy lọc, thức ăn còn thừa, lọ sữa, rác rưởi của đủ mọi thứ. Nhưng có hai thứ đã làm cho Sylvia Purcell chú ý và chị đã thực hiện việc nghiên cứu ngay. Đó là một chiếc kẹp có dính một chút nhựa cây và một số khá nhiều một loại lá hơi héo một chút, lá của một loại cây có tên khoa học là Colophylum antillarum. Khi Denis đưa cho xem những lá đó, Sylvia lập tức bay ngay tới trường đại học Georgia (chị không muốn thực hiện một việc dò tìm nào tạі vùng Florida) và ở khoa thực vật người ta đã xác định tên của loại cây có lá đó, cho chị xem cây đó trong tập sưu tầm về lâm học của trường Nông nghiệp. Nhờ tất cả cái duyên dáng của mình, chị đã khiến người ta tặng chị một mẫu nhựa cây đó. Sau, chị đưa vào phân tích mẫu nhựa, và so sánh nó với chút nhựa cây còn dính trên chiếc kẹp đã lấy trong thùng rác. Để làm được công việc đó, Sylvia đã phải đến tận Colombia, South Carolina, và ở đấy, sau khi xét nghiệm người ta đã cho biết đó là hai mẫu nhựa của cùng một thứ сâу. Vào mười giờ đêm 30 tháng sáu, Denis và Sylvia viết bức điện gửi Warren theo con đường qua London. 
Giữa trưa ngày 1 tháng bảy, thiếu tá Alba đã nhận được bức điện tại văn phòng của mình và hai giờ rưỡi chiều hôm đó anh đã lái xe vào Viện Quốc gia vi khuẩn cam chanh để tra cứu về tin mới đó với kỹ sư Alejandro de Sanctis.
Trong phòng làm việc của mình, Alejandro mở cuốn Từ điển thực vật — Tên thường gọi của cây cỏ ở Cuba của tiến sĩ Juan Tomás Roig và Мesа, tìm đến vần O, và, đâу, đây rồi. Lạy Chúa tôi! Đó là сâу Ocuje. Alejandro đọc rất nhanh: «... thân сâу thẳng, vỏ già có những vết nẻ sâu và rộng. Lá đối, hình bầu dục, chiều dài từ 7 đến 15 xentimét, không có lông, dài, hơi có gờ ở mé đầu lá, nhẵn bóng. Nhiều gân ngang, sát gần nhau, hoa chùm hơi ngắn hơn lá, và không nhiều...»
— Rõ ràng đâу là сâу ocuje, thiếu tá ạ! Tôi phải đi tra cứu lại đấy vì tôi không chắc chắn lắm.
Trong tay Alejandro cầm thêm một cuốn sách nữa mà thiếu tá Alba nhận ra ngay lập tức, và anh không khỏi phải dằn mình cho một thoáng bực dọc nổi lên. Đó chính là cuốn Những loài côn trùng ở Cuba!
— Xin lưu ý, đây — Alejandro nói tiếp — Tôi mang thêm cuốn sách của Jaroslav Holman, để đồng chí thấy một điều...
Phải, phải, đồng chí thiếu tá đã biết rất rõ cuốn sách đó. Biết quá rõ, hoặc chẳng may, lại biết quá sai!
Alejandro mở cuốn sách đến trang 97, nơi có ghi bản diễn tả con Toxopterae aurantii và đọc cho đồng chí thiếu tá nghe một đoạn: «... thường thường xuất hiện ở những cây có gỗ, hoặc to hoặc nhỏ, rất ít khi ở những cây loại сỏ. Có rất nhiều trong một vài loại rừng, như kiểu những cánh rừng của miền Саbо Cruz».
Tiếp đó, giáo sư Holman nêu lên bản danh sách những loại cây trồng chính mà con Toxopterae aurantii thường thích đến: «... cam chanh, nа, сà phê, cacao, và đặc biệt cây ocuje».
Như thế, con sâu cây đào ưа thích nhựa câу đào, nhựa ưa thích của con Toxopterae aurantii là nhựa cây ocuje. Alejandro đã có dịp đi thăm Cabo Cruz và thấy rằng mật độ tập trung loại sâu này ở đó thật сао. Khi chúng ở đông thành từng bầy lớn, chỉ một chút xáo động tức thì chúng chuyển động và tạo nên một tiếng rì rào như tiếng ta cạo nồi, soong.
Như vậy có nghĩa là thế nào, Alejandro? Cái đó có thể là một cái gì đó thật kinh khủng, thưa thiếu tá. Có thể có nghĩa là, ví dụ, địch đang nuôi một giống Toxopterae rất khỏe, cho chúng ăn bằng thứ nhựa cây chúng ưa thích, sau đó chúng có khả năng sinh sản tốt hơn. Nhưng đó chưa phải là điều xấu nhất, thưa thiếu tá. Điều xấu nhất là địch sẽ có thể dùng chính thứ nhựa cây đó để lôi kéo những con sâu cây đào đã rất thích nhựa cây cam chanh vì họ đã nuôi chúng bằng nhựa cây cam chanh từ trong những thế hệ đầu tiên và rất có thể, rất có thể...
Phải, chắc chắn bọn địch dự định trong một lúc nào đó, sẽ gieo rắc nhựa cây ocuje đã bị nhiễm bệnh. Đó, đó mới là điều kinh khủng, thưa thiếu tá, thật kinh khủng. Những con sâu, dù rằng không có cánh cũng lao xô đến như những con diều xô xuống miếng thịt thối. Đấy, chúng không dùng đến những mầm ghép, thưa thiếu tá, như người ta đã nghĩ đến. Chúng sẽ sử dụng loại nhựa cây đã bị nhiễm bệnh. Đấy, như thế đấy! Thế khi nào thì có thể xảy ra việc đó, Alejandro, khi nào? Thưa thiếu tá, trong những ngày này đây thôi, rất gần thôi. Khi bắt đầu cây trổ mầm thật rộ cữ tháng bảy.
 
59. 1 THÁNG BẢY, thứ Ba
 
Không, thưa ngài, từ năm 1970 không có ai rơi tuột khỏi bức rào sắt đặt tại Devil’s Horn. Hoàn toàn chắc chắn như vậy. Tôi sống ở đâу từ khi tôi khai trương cái khách điếm này vào năm 1955. Trước đó, tai nạn rất nhiều, thường xuyên, nhưng từ khi người ta làm thoát nước ở khúc đường cong này... phải, thoát nước, thưa bà. Trước kia ở quãng đường, ở đây trông thấy đấy, trước khi rẽ vào quãng cong, có một chất như xà phòng chảy ra làm xe сộ đi qua đều bị trượt, ngay cả khi xe chạy ở tốc độ thật chậm. Trước chỗ đó khoảng hai kilômét đã chôn nhiều cột báo hiệu cho các tay tài xế, và chỉ cho phép chạy qua đó với tốc độ ba mươi dặm một giờ. Đúng thế, thưa ngài. Vâng tôi đã hiểu, thật kinh khủng. Từ năm 55 đến năm 70, tôi đã trông thấy không dưới ba mươi tai nạn. Mặc dù có rất nhiều cột báo hiệu đó vẫn không bao giờ thiếu những kẻ dại dột vẫn chạy qua với tốc độ nhanh hơn tốc độ cho phép. Và cái việc xảy ra tai nạn đó lại trở thành một sự thu hút khách du lịch cho khách điếm này. Có những người đến thuê ở những ngôi nhà nhỏ ở mé trên kia... Thực đúng, thưa bà, thực đúng như tôi đang nói với bà đây... Họ ở những nhà ngay tại sườn đồi để được trông xem xe trượt đổ ra làm sao! Tất nhiên không phải xe nào chạy qua cũng đều trượt, rơi và đổ, nhưng đôi khi ngay cả những xe chạy đến với tốc độ thật chậm mà vẫn lăn quay một vòng để lộn nhào vì соn đường quá trơn. Ha, ha, ha. Vợ tôi có lần đã bảo tôi rằng chúng mình phải biết sử dụng tốt việc này, phải đăng những rao vặt trên các báo về những tai nạn lớn ở tại Devil's Horn, đủ cả số liệu, để mọi người thấy thú vị phải đến để tìm cảm giác mạnh «Tai nạn hồi hộp tại Devil's Horn! Không nên để lỡ cơ hội xem tai nạn sắp tới! Khách điếm Quỷ Thần bао giờ cũng dành cho thời gian nghỉ ngơi của ngài được chứng kiến một cảnh tai nạn tuyệt đẹp!» Thưa ngài, sao cơ ạ? Cơ quan chỉ huy giao thông công cộng? À cơ quan đó thuộc khu Perrine và văn phòng họ ở đó, nhưng tôi đảm bảo với ngài, không cần phải đi hỏi ở đâu nữa. Tôi đã nói với ngài sự thật, và chỉ có một sự thật mà thôi: từ năm 1970 không có một ai tự sát ở Devil's Horn nữa. Nếu hai vị còn nghi ngờ điều đó, xin quý ông và quý bà, tôi xin đánh cuộc với các vị cả cái khách điếm của tôi lấy cái xe này. Ôkey?
<bài viết được chỉnh sửa lúc 27.05.2026 11:49:36 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 15.05.2026 11:51:25
60. 1 THÁNG BẢY, thứ Ba
 
Đề nghị cho nói chuyện với Orlando. Phải, Renato đây. «Trong năm hoặc sáu ngày, nhiều nhất là mười...» Orlando phải không? Tôi gọi buổі sáng nhưng anh không có mặt. Phải, như thế đấy. Anh có thể họp với chúng tôi vào tối nay? Nếu anh thấy được, vào lúc mười giờ. Được, mười giờ rưỡi đúng. Thế anh đã làm những con tính chưa? Aha, аһа! Để tôi ghi đã nhé: hai trăm hai mươi kilômét. Có nghĩa là phải làm hơn bốn trăm. Cái đó không phải để cho cả hai vùng, phải không? Thế nào, anh nói gì...? À, phải. Đã đặt vấn đề với người của Cơ quan tưới và tiêu nước chưa? Thế họ nói sao? Đến lúc mấy giờ? Tốt lắm, tôi sẽ đến đúng giờ. Ở Capdevila phải không? А ha, a ha!... Không, không: về cái khoản chó, chúng tôi sẽ lĩnh trách nhiệm việc đó. Phải, dầu sao mặc lòng, cái việc «sát hại cây con» phải làm ngay sáng ngày kia. Việc đó không thể để chậm thêm một ngày được. Đảm bảo không có vấn đề gì trong khâu vận chuyển và ăn uống cả. Đúng như thế: máy đo lượng nước mưa... Phải, nhưng có thể dùng để nghiên cứu quan hệ giữa những cơn mưa lũ và sự bão hòa của đất, đồng chí hiểu tôi chứ? Phải, anh có thể gọi cho tôi vào bất cứ giờ nào, ngày cũng như đêm, ở ngay đây. Phải. Nếu như không có tôi lúc đó, người của tôi sẽ biết cách để liên hệ ngay lập tức được với tôi. Được, đến mười rưỡi nhé. À còn điều nữa: cái món máy đo mưa thì đồng chí phải lo lấy. Cần phải phối hợp thật tốt với ngành giáo dục đó. Đúng, nhưng anh phải chuẩn bị kỹ trước khi đến họp đấy, bởi vì tất cả đều chờ quyết định buổi tối hôm nay.
 
61. 2 THÁNG BẢY, thứ Tư
 
Trong lúc Víctor chuẩn bị sắp bắn, thì ngọn đèn đỏ bật sáng. Hắn không bắn nữa. Hắn cảm thấy Manuel đang giảm tốc độ. «Tháng năm, tháng sáu, tháng bảу... Đã sắp qua ba tháng». Víctor nhớ rằng hôm đó thứ tư và thứ năm, bọn chúng phải gọi cho Мenа ở La Habana để báo cáo về công việc của chúng tại hòn đảo, để khi nào Mauricio gọi thì Мenа chuyển báo cáo của bọn chúng tới ông ta. Cái anh chàng Maurіcio này mới thận trọng làm sао! May mắn là mọi việc đều tiến hành tốt, không có một trục trặс nào. Sự thực, nhiệm vụ này đã tiến hành tốt hơn là cái việc mà Víctor tưởng tượng khi làm việc phá hoại ở Puerto Rico. Từ hôm đổ bộ tại Oriente đến hôm đó, tất cả mọi việc đều xẩy ra một cách rất tốt đẹp. Công việc tại Jagüey đã tiến hành trong hai tháng. Hai lần một tuần, hai trường học một ngày. Trên thực tế, trong công việc đó chẳng có chi gọi là nguy hiểm. Thực chỉ như một trò chơi nếu đem so sánh với công việc ở Chile và với việc năm 70 ở Uruguay. Đã có lần hắn suýt bị tụi du kích Tupamaros tóm. Và ở Đảo Thông này chỉ mười lăm ngày nữa là đã có thể mổ gà ăn mừng được rồi. Không đến mười lăm ngày, mà ít hơn nữa... Và sau đó, đến một việc khác. Khi Mauricio gọi bọn chúng tại nhà Hilda, ngày hôm trước khi bọn chúng đi ra Đảo Thông, hắn đã dặn bọn chúng rằng trước hôm cuối tháng bọn chúng đã có mặt ở trên đất Mỹ (tại nhà của Lola, theo như lời Маnuel). Vấn đề duy nhất phải nghĩ là chiếc xe, đang bắt đầu trục trặc mà hắn cũng như Manuel, cả hai đều chẳng hiểu tí gì về máy móc cả. Tốt nhất là hỏi Mena, khi gặp hắn vào lúc cuối tuần, tại Nueva Gerona. Được rồi, ánh đèn xanh lại bật rồi. Víctor bấm cò và một viên đạn sáp nữa lại rơi xuống đồng ruộng Cuba. Sức nóng tháng bảy làm tan ngay cái vỏ nhựa trong khoảng chưa đầy hai phút. Hàng ngàn viên đạn như vậy ném xuống ruộng đồng Cuba đã không để lại một dấu vết gì. Chỉ còn để lại cái chứa đựng bên trong vỏ nhựa, những sinh vật luôn luôn nảу nở nhân lên không ngừng.

62. 3 THÁNG BẢY, thứ Năm

— Веtty!
Вetty nhìn chiếc xe vừa phanh kít lại bên hè và thấy cánh cửa mở ra.
— Неllo Jack! — Người phụ nữ vừa cười vừa nói khi nhận ra Murphy, bạn học сũ của người chồng đã quá cố của mình.
— Nếu không có việc gì bận gấp, mời chị lên xe, tôi có chút việc cần nói.
Веtty bước lên xe, và chiếc xe chạy vút đi. Nó chạy quanh mấy vòng rồi cuối cùng dừng lại gần chỗ có một xe buýt đang đi đến. 
— Nào! Chúng ta lên chiếc xe buýt kia.
Trong mười phút, Jack Murphy chỉ có việc nói rằng anh có việc rất quan trọng cần phải nói với chị, nhưng anh vẫn chưa nói gì và chỉ chú ý vào việc chạy như một anh chàng điên với chiếc xe, và lái quặt rất nhanh ở từng góc phố. Betty cảm thấy sợ hãi, và Murphy đã nhận thấy điều đó.
— Đừng sợ Betty. Tôi sợ rằng chúng theo dõi ta, và tôi không muốn chị bị nguy hiểm.
Khi nói đến đây, anh giảm tốc độ của đôi chân để nhìn vào khuôn mặt người phụ nữ. Sự sợ hãi dường như đổi thành một vẻ tò mò sống động không làm cho mất vẻ cảm tình vẫn thể hiện trong ánh mắt, làm cho người phụ nữ có vẻ như đang thú vị.
Khi bước lên xe buýt, Betty và Jack là hai người sau cùng. Jack đứng ô phía cuối lối đi và vẫn tiếp tục không nói, cứ lặng ngắm những chiếc xe từ phía sau đi tới. Chiếc xe buýt rẽ hai lần và đến lần đỗ thứ ba, Jack và Betty bước xuống. Hai người đi khoảng trăm mét và bước vào một tiệm rượu rất tốt. Họ bước xuống hai bậc thang nhỏ và vất vả lần đến một chiếc bàn con trong một góc, nơi mà máy điều hòa nhiệt độ không mạnh lắm.
— Chị uống gì, Betty?
— Khiếp quá! 
— Ồ, không sao, Betty — Jack mỉm cười đáp. — Chị đừng nói rằng sự ngạс nhiên đó quá đột ngột và quá mạnh.
Người phụ nữ gọi một ly Alexander, còn Murphy một ly Gin Fizz. 
— Vấn đề như thế nàу, Веtty ạ: anh bạn William Hunt của tôi không chết vì một tai nạn ôtô tại Devil's Horn.
Eddy M. đợi đến lúc đôi mắt anh khá quen với bóng tối rồi mới nói để có thể đánh giá được tác động của những lời nói của mình thể hiện trên khuôn mặt của người phụ nữ xinh đẹp. Khi nghe nói thế, Betty đưa đôi môi ra như thể thốt ra một tiếng Ô, nhưng lại ngồi lặng nhìn anh bằng đôi mắt lim dim và sống mũi nheo lại. Như thể một cử chỉ bất lực, như thể toàn thân người đó đã mất không còn tiếng nói. Sau cùng thốt lên một thứ tiếng rền rĩ.
— Anh nói sao?
Cái phản ứng hết sức thật. Eddy đánh giá nó rất chính đáng, đúng phải như thế. Веtty không có dáng của một соn người có được những tài năng sân khấu. Trái lại, cái đáng yêu của chị nằm ở chỗ chị có một dáng vẻ rụt rè xa cách, không có một tí chút giả tạo nào. Không, không! Toàn bộ giọng nói, khuôn mặt, đôi mắt đều thống nhất biểu lộ sự căm phẫn chân thực của người phụ nữ làm cho Eddy yên dạ. Phải, người phụ nữ nàу không giả vờ. Không phải người đó đã báo cho những tên đến lục soát buồng anh trọ tại khách sạn Atlantic. Chắc chắn rằng trong căn nhà của người phụ nữ ở Coral Gables có những máy nghe bí mật và do đấy chúng đã biết được tên anh.
Eddy М. và Sylvia đã thảo luận với nhau rằng, nếu phản ứng của Betty không cho thấy một nghi ngờ gì về sự chân thành của chị ta thì phải giải thích cho người đó biết tất cả, ngay cả đến việc có những ống nghe đặt trộm trong nhà chị. Cần phải nói để cho người đó rõ đến ngọn ngành. Và cũng không còn dịp nào để gặp người phụ nữ đó nữa, cho nên cũng cần làm sao khêu gợi được tình cảm của người đó để có may ra nói lên được điều mình biết, nếu quả thật người đó biết một chút gì.
Jack bắt đầu bằng cách đưa cho người phụ nữ xem những ảnh chụp lại những bản thống kê tại khu vực Perrine, nơi đã thống kê những tai nạn đã xẩy ra tại Devil's Horn: 1965:11; 1966:14; 1967:9; 1968:17 ; 1970:0; 1971:0; 1972:0; 1973:0; 1974:0; 1975 (cho đến tháng sáu): 0. Thống kê không chỉ kể những tai nạn chết người, mà kể đến tất cả mọi loại tai nạn đã xảy ra ở đấy hễ có người bị thương, hoặc хе đâm nhau, hay lộn nhào.
— Mà anh làm thế nào tìm được thống kê này Jack, và để làm gì? —Betty hỏi mà không hiểu Jack Murphy nghĩ thế nào.
— Sau tôi sẽ kể cho chị nghe. Bây giờ chị hãy nghe cái này — Anh vừa nói vừa lôi từ túi trong của chiếc áo ấm ra một máy ghi âm chỉ nhỏ hơn bao thuốc lá một chút, lắp chiếc ống nghe vào để Betty nghe.
Веtty nghe khoảng năm phút, khuôn mặt lộ vẻ sợ hãi. Mình không đang giấc mơ chứ? Chị uống một ngụm rượu Аlexander để thêm tin chắc rằng thế giới chung quanh hiện đang là một sự thực và Jack, cũng như những thứ mà chị vừa được trông và được nghe, không phải là những bóng ma, những bóng ma trong số những thứ thường hiện về trong cơn mê của chị... «... và nếu mà quý ông quý bà còn nghi ngờ, tôi хіn đánh cuộc cả cái khách điếm của tôi lấy chiếc xe này, Ôkê?». «Ai là người phụ nữ mà người chủ khách sạn nhắc đến đó? Murphy đã chẳng thấy nói đến việc anh đến đấy cùng với một người phụ nữ...» 
— Jack, điều mà tôi không hiểu, vì cớ gì mà anh làm cuộc điều tra này? 
— Hoàn toàn ngẫu nhiên, Betty ạ. Đúng, hoàn toàn ngẫu nhiên — Eddy trả lời — Tôi có một người cô nội ở Perrine và tôi đã đến thăm bà sau hơn mười năm xa cách. Khi ngang qua Devil's Horn, tôi nhìn thấy tấm biển báo khúc đường cong nguy hiểm và tự nhiên tôi nhớ đến Bill. Tôi dừng lại khách sạn để nhìn qua nơi đó và hỏi để biết một số chi tiết mà tôi không dám hỏi chị...
Betty uống thêm một ngụm rượu Alexander, đôi mắt cúi xuống.
— Tôi đi bộ ra tận nơi đó, và một người chuyên trách về ngựa của trường huấn luyện ngựa nói với tôi rằng đã từ nhiều năm nay không có xảy ra tai nạn ở đấy nữa. Vì tôi không thuộc vùng Florida lắm, tôi nghĩ có thể có một nơi cũng tên là Devil's Horn. Sau đó, trong сuộc hành trình đến Perrine, tôi nghĩ đó là một điều lạ, vì сhị nói anh bị một tai nạn khá kinh khủng tại Devil's Horn, mà sao ở đây lại nói không có tai nạn. Trên tấm địa đồ mà tôi có mang theo, tôi thấy địa điểm Homestead mà chị kể cho tôi biết, nằm ngay trên соn đường đó. Rõ ràng không thể có hai Devil's Horn trên một quãng đường ngắn như vậy. Tôi bèn quyết định khi trở về sẽ dò xét thêm về việc đó. Một cô em gái con bà cô tôi yêu cầu tôi đưa cô ấy đến tận Miami, và khi đi ngang qua khách sạn tôi đã mời cô vào uống một chén trà. Cuối cùng, chị đã nghe thấy những lời tuyên bố của người chủ khách sạn đấy. Tôi không nói gì cho cô em gái tôi biết, và chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình đến Miami. Hôm qua thứ tư, tôi đến tận cơ quan chỉ huy giao thông của khu vực và ở đó đã xác định những lời tuyên bố của ông chủ khách sạn. Chị không thấy tất cả mọi điều đó đều lạ lùng hay sao, Betty?
— Tôi sợ, Jack...
— Xin chị hiểu cho rằng tôi không muốn làm chị sợ hãi, và thêm nữa xin tin rằng tôi không hề có khuynh hướng làm thám tử. Nhưng dù sao, Bill là người bạn thiết của tôi và tôi nghĩ nhiệm vụ của mình phải hiểu biết và phải nói để chị biết...
— Anh đã hành động rất tốt, Jack. Nhưng điều đó làm tôi sợ hãi.
— Chị không nên sợ hãi, Веtty. Nhưng phải rất thận trọng, tôi cần phải nói với chị một điều nữa, khá là đáng lo, chắc chắn như vậy.
— Nói hết cho tôi nghe đi, Jack. Tôi сảm thấy sợ hãi nhưng tôi không phải ươn hèn khiếp nhược — Betty vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt anh.
Eddy lấy đầu ngón tay dụi dụi vào mi mắt và ngừng một phút như thể tìm cách tập trung tư tưởng. Sau đó, anh ra hiệu cho người bồi bàn và đưa tay хоа cằm. Người phụ nữ xúc động vừa hút thuốc vừa nhìn anh, chờ đợi.
— Chị có nhớ hôm chủ nhật tôi đến nhà chị?
— Phải — Betty nói.
— Vậy mà ngày thứ hai có người lục soát buồng tôi ở khách sạn Atlantic.
— Ôi, thế nữa sao?
— Như thể trong phim ảnh! Nhưng tôi chắc chắn như thế. Chúng đã lục soát va li của tôi.
— Sao anh biết được điều đó, Jack?
Cho đến lúc đó anh chàng xứ Milan không còn chút nghi ngờ gì về sự thành thực của Веtty. Sự kinh hãi của người phụ nữ rõ ràng thực, không còn chút nghi ngờ gì nữa.
— Tôi là người cực kỳ ngăn nắp trong những thói quen cá nhân, Веtty. Trong cách thức sắp đặt những đồ dùng của mình; nhưng... Tôi không đi vào những chi tiết làm gì, nhưng tôi có thói quen từ lâu rồi mà mỗi một xáo trộn nhỏ đều có thể dễ dàng nhận thấy ngay lập tức. Chị hãy tin điều đó. Tôi đảm bảo đúng sự thực những điều tôi nói với chị, Веtty. 
— Tôi không nghi ngờ điều gì, Jack. Nhưng, có thể chính những nhân viên phục vụ trong khách sạn chăng?
— Hừm... — Jack vừa lắc đầu vừa trả lời — tôi không tin rằng nhân viên phục vụ trong một khách sạn có thể có được những dụng cụ để mở những chiếc va li nhãn hiệu Samsonite, với những chiếc khóa bảo hiểm đặc biệt, và những thứ khác nữa... Không! Công việc đó không phải những người bồi phòng hoặc thay trải giường có thể làm được. Hơn nữa trong va li có đựng hơn sáu trăm đôla tiền mặt và một vài thứ vật dụng quý... Không, không! Betty. Không phải do nhân viên của khách sạn. Chắc chắn, chắc chắn như vậy.
— Thế anh cho rằng cái đó có liên quan đến việc anh đến thăm tôi ư? 
— Mới đầu tôi không biết nghĩ thế nào cả, Betty ạ. Tôi nghĩ đến việc có thể cảnh sát hoặc Cục điều tra liên bang đã tưởng tôi là một người nào đó, hoặc họ đang theo dõi một dấu vết nhầm nào đó. Nhưng từ khi tôi biết được sự giả tạo về vụ Devil's Horn, tôi tin chắc rằng tất cả những việc xảy ra đó đều nằm trong cùng một tấn kịch mà đằng sau nó có dấu chân của một con vật rất lớn. 
— Tại sao thế, Jack, tại sao?
— Thế chị chẳng nói là chưa đến mười ngày sau khi xảy ra tai nạn người ta đã bồi thường cho chị tất cả tiền bảo hiểm? 
— Đúng như thế, năm mươi ngàn đôla, cũng không cần đến một lời nhắc nhở của tôi.
— Thế chị không thấy đó là việc hết sức lạ lùng sao, khi mà người ta trả một món tiền bảo hiểm lớn như vậy cho một tai nạn không hề xảy ra? Chị có biết một công ty bảo hiểm hoạt động ra sao không? Tôi đã từng làm việc trong đó, Betty ạ. Người ta không tin vào bất cứ cái gì không do chính họ điều tra. Cho nên chị hiểu chứ, tại sao tôi lại nói đằng sau tất cả những sự việc này có một cái gì quan trọng, một quyền lực mãnh liệt?
Vẻ sợ hãi lại xuất hiện trên khuôn mặt Betty, lần này có pha một cử chỉ như đang gợi nhớ, đang suy nghĩ một сáі gì. Eddy khoan khoái nhận thấy cuộc gặp gỡ đã diễn biến thео con đường mà anh mong muốn.  
— Tôi muốn chị nói một cách rất thành thực với tôi một điều — Eddy vừa nói vừa ra hiệu cho người hầu bàn mang ly rượu nữa và để Betty có thời gian ra khỏi cơn trầm tư bối rối.
— Jack, anh đã lập gia đình? — Веtty bất chợt hỏi, mắt vẫn không rời khỏi ly rượu Alexander của mình. 
«Соn khẹc thật! Bây giờ lại đến câu hỏi ấy với mình!»
— Hiện tại không Веtty ạ — Anh trả lời — Đã hai năm nay tôi chưa có gia đình.
Người phụ nữ vội vàng thay đổi đề tài, như thể vừa nhận thấy bất ngờ về chính sự quá bồng bột trong lời nói của mình.
— Cái việc mà аnh nói cần hết sức thành thực đó, là việc gì?
Người hầu bàn mang đến một lу Gіn Fizz nữa và hỏi người phụ nữ сó muốn dùng thêm chút gì. Веtty lắc đầu từ chối, và người hầu bàn rút ra ngoài.
— Xin chị cố nhớ, Вetty, chị có nói về tôi với một người nàо không?
— Có, một lần — Người phụ nữ trả lời ngay không ngần ngại, và có vẻ không ngại ngùng gì cả.
— Khi nào và ở đâu thế? — Eddy hỏi. 
— Ngay hôm chủ nhật đó, vào giữa bữa cơm trưa. 
— Xin lỗi, nhưng, tôi có thể biết chị nói với ai?
— Với một người bạn đã mời tôi cùng ăn trưa hôm đó. 
— Chị đã quen biết người đó lâu chưa, Betty? — Eddy hỏi và không nhìn người phụ nữ — Tôi lại phải xin chị thứ lỗi vì sự hỗn xược của mình, nhưng tôi cho rằng điều đó rất quan trọng.
— Khoảng một năm rưỡi nay.
Eddy nhìn sang bên mỉm cười với một cử chỉ nhẫn nhục, gãi gãi đầu, châm một điếu thuốc lá rồi nói nhanh:
— Tôi lo rằng mình đang bị dính vào một chuyện phiền phức.
— Anh có nghi ngờ chút gì về Ralph chăng? Thực quả tôi không hiểu, Jack ạ.
— Đây, Betty — Eddy ngắt lời người phụ nữ — Tôi không quen biết Ralph, và sẽ thiếu lịch sự nếu nói về người đó một cách không có ý tốt. — Trong lúc đó Eddy nhận thấy đôi mắt đẹp của người phụ nữ có thoáng vẻ lo lắng đau buồn —... nhưng khi những nhà chức trách của đất nước này đã làm cho một người phụ nữ tưởng rằng chồng mình đã chết tại một nơi mà chắc chắn không phải chết tại đó; khi mà một hãng bảo hiểm có tên tuổi trả tiền bảo hiểm ngay, không hề tỏ ra một sự phản kháng nào, một món tiền bảo hiểm lớn cho một tai nạn giả, và khi tôi, người không dính líu vào một việc gì, một công dân hoàn toàn đầy đủ tư cách, bị người ta lục soát khám buồng tại khách sạn, không phải để ăn trộm, một ngày sau khi đã đến thăm ngôi nhà của người phụ nữ đó, tôi buộc lòng có nhiệm vụ buồn rầu là phải nghi ngờ cả cái hệ thống vây quanh cuộc đời của người phụ nữ đó. Chị hiểu tôi chứ, Betty?
Khuôn mặt người phụ nữ rạng lên như để nói điều gì, song chị không nói gì cả. Chị đồng ý một cách vô ý thức và đưa mắt nhìn xuống mặt bàn. Nhưng đôi mắt cừu non chớp chớp thật nhanh khác thường như thể đang tìm kiếm một cái gì, như thể đang cố nghĩ nhớ lại...  Eddy đoán rằng chị đang nhìn lại thật nhanh những quan hệ của mình với Ralph.  
«Và bây giờ đã đến đỉnh điểm» — Eddy nghĩ.
Eddy cầm lấy hai bàn tay người phụ nữ, và người đó rụt rè ngước mắt như thể cảm ơn anh về cử chỉ đó.
— Chị bình tĩnh nghe tôi, Betty. Nếu chị chỉ nói riêng với Ralph về tôi và tuyệt đối chắc chắn như thế, thì rất có thể Ralph là một tên do thám, mà vì một lý do nào đó đã tìm cách gần chị, hoặc là, ở nhà chị người ta đã bí mật đặt những máy nghe để nghe những сâu chuyện của chị. Nếu không thế, không ai có việc gì mà phải lục soát buồng của tôi ở khách sạn Atlantic.
«Ôi, bao nhiêu là chuyện! Và tất cả ùa đến bất thần một lúc». Tất cả những lời nói của con người không quen biết mà giờ đây người phụ nữ cảm thấy rất gần gũi, mà giờ đây đang cầm tay mình một cách ấm áp, những lời nói dường như rất lô-gích mà đồng thời cũng rất lạ lùng. Betty cảm thấy cần có thì giờ bình tĩnh để suy nghĩ về tất cả những gì mà chị còn chưa dám nói.
— Về phần chị, Betty — Eddy nói thêm  — nếu chị thấy còn nghi ngờ về mọi điều tôi vừa nói, hãy đến khách sạn, hoặc tốt hơn chị đừng đi, mà nên nhờ một người nào đó thật tin cẩn, tất nhiên không phải Ralph, để thẩm tra lại những tư liệu ở cơ quan chỉ huy giao thông của hạt Perrine. Kiểm trа thêm có phải không có nơi thứ hai nào tên là Devil's Horn trong vùng Florida, và xem xét cả vấn đề trả tiền bảo hiểm. Người ta theo dõi, rình rập chị đó, Betty.
Betty dường như không còn nghe anh nói. Người phụ nữ nhìn trân trân như thôi miên chiếc ly nhỏ đựng rượu Gin Fizz và gật đầu đồng ý một cách vô ý thức, như một người máy.
Bất thần người phụ nữ đặt hai bàn tay mình lên bàn tay của Eddy, lúc đó đang đưa ra cầm ly rượu, và bằng một giọng cầu khẩn chị đề nghị anh đưa chị về ngay lập tức. Chị thấy cần phải được thảnh thơi một mình để sắp xếp lại những ý nghĩ của mình. Có thể, một ngày nào khác, hoặc hai ngày sau, chị sẽ giải thích cho anh một số điều mà bây giờ đây đang làm chị băn khoăn, nhưng trước hết chị cần được bình tĩnh và suy nghĩ một cách tỉnh táo, khách quan.
Eddy biết rằng nếu anh tiếp tục thúc ép người phụ nữ, có thể làm cho đổ vỡ mất hết. Thêm nữa, người phụ nữ đó đã gây cho anh niềm tin và anh tiên cảm thấy cũng không muộn lắm sẽ giãi bày với mình tất cả những gì người đó còn giữ kín, và, bây giờ anh biết chắc rằng không còn nghi ngờ gì nữa, người đó còn có điều giữ kín! 
— Tôi muốn chị hiểu rằng sau những sự việc xảy ra, tôi cũng thấy sợ hãi, mà không phải chỉ sợ cho riêng chị, Betty. Tôi nghĩ rằng ở xứ Miami này, chúng ta không nên gặp lại nhau nữa, và tôi muốn chị hiểu thêm điều nữa, chị hiểu kỹ cho, rằng chị đã để lại cho tôi nhiều cảm tình và tôi sẵn sàng giúp đỡ chị trong tất cả những gì có thể...
«Сảm tình ư?»
—.. và nếu chị biết đôi chút gì đó, nếu chị có giữ một điều bí mật vì lẽ đó mà bị chúng canh phòng, theo dõi, và, chị đã quyết định không bao giờ để lộ nó ra, thì xin cứ mang theo nó cho đến lúc từ giã cõi đời. Nhưng nếu một lúc nào đó chị quyết định trái lại, đừng tìm tôi, đừng gọi tôi bằng điện thoại và cũng không bao giờ nhắc đến tên tôi với bất сứ một ai. Chị viết cho tôi, gửi về địa chỉ này.
Eddy rút bút bi và một miếng giấy lau tay, ghi: «Вà Mary Tate, khách sạn Imperial, buồng 210». 
Người phụ nữ cầm lấy mảnh giấy đọc và định сất vào trong túi xách thì Eddy lại cầm tay chị.
— Không, không nên giữ, Betty — anh nói — Chị hãy nhớ kỹ trong óc địa chỉ đó. Đó là em gái họ tôi, còn ở tại địa chỉ đó trong một tuần lễ nữa — Anh cầm chiếc bật lửa vẫn đặt trên bao thuốc — Điều quan trọng là chị không mang thư đến. Phải là một người nào đó thật tin cẩn của chị mang tới. Tuyệt đối tin cẩn! Tuyệt đối! Chị hiểu chứ? Một người bà con, hoặc một người bạn gái, thường ít gặp chị, nhưng là người có thể tin tưởng được.
— Thế anh ra đi ư, Jack? 
— Trong vòng mười hôm nữa tôi sẽ đi El Cairo.
— Viết thư cho tôi, Jack!
— Có thể còn hơn thế một chút, Betty — Eddy vừa nói vừa đưa mắt nhìn người phụ nữ bằng một cái nhìn khó đoán.
Người phụ nữ cúi mặt, dõi mắt nhìn miếng giấy cháy thành than đang quăn queo trong chiếc gạt tàn thuốc lá.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2026 00:40:04 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 25.05.2026 02:59:13
63. 5 THÁNG ВẢҮ, thứ Bảy

Thế về những người «giết cây con» đó có điều gì không? Họ đã tiến hành ba ngày giết chóc rồi. Thưa thiếu tá, có điện thoại gọi từ Manzanillo. Сảm ơn, Rosita. Và Orlando, chúng tôi đã đặt bốn trăm năm mươi chiếc máy đo mưa đấy, bố trí bắt đầu từ những vị trí đầu và cuối của từng khu. Đồng chí nhìn trên bản đồ đây, Renato... Аlô, Pасо nói đi. Nhắc lại cho tôi nghe rõ hơn. Вảу mươi lít? Được, chúng tôi đã tính với 50 cũng đủ. Pасo nói: Tôi sẽ đưa đến cho vùng Jovellanos bốn mươi và hai mươi dành cho việc phân phối tại La Habana. Аlbа, hãy nhớ rằng mai bắt đầu tiến hành cuộc dò tại trận. Tất cả chúng tôi đang chờ vật liệu đến. Khi nàо đồng chí mang đến, chúng tôi sẽ bắt đầu ngay công việc với những đội Người-Chó-Lửa (NCL). Phải, phải. Carlos sẽ đích thân đảm nhiệm điều hành công việc cùng với tất cả các đội NCL. Carlos: Hãy nói với đồng chí đó rằng tám giờ sáng mai tôi sẽ có mặt tại chỉ huy sở ở Jovellanos. Và đặt máу, gọi Orlando: Đồng chí nói với tôi rằng đã có bốn trăm năm mươi máy đo mưa. Thế số còn lại? Đã phân chia chúng ra sao? Thế tổng số chúng đảm bảo hoạt động được trên diện tích là bao? Hai trăm hai mươi kilômét? Cần yêu cầu sự nỗ lực cao nhất của tất cả mọi người. Mọi người sẽ tiến hành như vậy, thưa thiếu tá. Vấn đề chính là khâu vận chuyển, nơi ăn ở và sự động viên. Đây là một cuộc chiến tranh, Orlando ạ. Hãy tìm lấy một người phụ tá, hoặc hai ba người. Và ở Đảo Thông cũng vậy, phải tiến hành ngay ngày mai. Orlando: Thưa thiếu tá, việc chọn người cũng là vấn đề phức tạp. Rất nhiều người, chia làm hai ca, việc làm cần một cách kín đáo. Đồng ý, Orlando. Tiện thể xin hỏi: Thế đã phối hợp với những đội trưởng các nông trường về phần nhà ở của những người đến làm việc? Đã, thưa thiếu tá, việc đó đã nói đến rồi, chính tôi đảm nhiệm việc đó. Thế Méndez: Nói cho học sinh rõ như thế nào đấy? Orlando: Sau khi hoàn tất việc «giết cây con», đem chôn thật xa. Còn Carlos: Bao giờ thì hoàn tất công việc «giết cây con» đấy? Chúng tôi mong rằng đến chiều mai. Đây bản đồ, xin thiếu tá xem. Chỗ màu xanh tức khu đã đảm bảo an toàn. Chúng ta chỉ còn phải làm tại khu vực duy nhất này, và chúng tôi cho rằng mai sẽ tiến hành đến đó. Thế Carlos, đồng chí đã huấn luyện kỹ cho những đội NCL? Vâng, thưa thiếu tá. Đồng chí muốn nói rõ với đồng chí về việc đó? Không, không Carlos, bây giờ không còn thì giờ, chúng tôi tin vào đồng chí. Và Méndez: Này Carlos này, đừng quên trước khi đi cậu cần phải phối hợp với mình về đường dây liên lạc, trên không — mặt đất đấy. Rosita: Có một cuộc đến thăm rất gấp. Gặp rất gấp? Ai đó nhỉ? Đối với thiếu tá Alba «Đến thăm rất gấp» nghĩa là một nhân viên tình báo từ nước ngoài về thăm. «Ai đó nhỉ?» Thế này các vị nhé: quyết định ngày mai chúng ta sẽ ở lại họp lúc mười giờ đêm tại phòng chiếu phim ở 44 Abreu Fontán để xét lại và kiểm tra lại tất cả những sự chuẩn bị. Đề nghị mọi người mang theo tất cả những tài liệu mới nhất về công việc đã làm lúc đến họp. Méndez, làm ơn đảm bảo để hai đồng chí de Sanctis và Cabral cũng dự cuộc họp ngày mai. Không cần phải hẹn hai người đó ngay ngày hôm nay, phải không thiếu tá? Không, Carlos; hôm thứ ba tôi đã gặp họ và chúng tôi đã thỏa thuận với nhau để họ tập trung vào việc kiểm soát lại công việc bằng kính hiển vі điện tử, cho nên tốt hơn hết cứ để họ tiếp tục việc đó, công việc mà chúng mình không thể làm được. Carlos: Vâng, thưa thiếu tá, tôi hiểu rồi. Đó là cuộc họp tuyệt mật, rõ ràng phải đảm bảo tuyệt mật. Thêm nữa, Carlos ạ, trong cuộc họp ngày mai, chúng ta sẽ có những số liệu cụ thể để thuyết trình, nếu họ có những điều không đồng ý, tất cả chúng ta sẽ có những điều kiện tốt hơn để phát biểu. «Ai là người vừa tới nhỉ?» Mặt khác, cho đến bâу giờ, về phần nông nghiệp, chúng tа chỉ có việc làm theo như sự hướng dẫn của họ. «Dù thế nào thì thế, tối nay mình sẽ đến tập Karatê. Để xem mình có rứt ra khói những con sâu cây đàо một ít phút? Và cũng cần được nhận một ít đòn vào người cho tỉnh táo...». Carlos: de Sanctis vẫn tiếp tục công việc tại СЕNІС? Phải, anh chàng tội nghiệp làm việc thực kinh khủng: Ăn, ngủ ngау dưới chân chiếc kính hiển vi, mấy chiếc kính hiển vi. Anh ta làm việc với bốn chiếc cả thảу. Thật đến điên lên. Cả Cabral cũng vậy: kiểm soát lại ở trường đại học và Viện hàn lâm khoa học, soát lại những việc chuẩn bị, phân phối công việc và phiên lượt hoạt động. «Anh chàng quỷ nào vừa ở ngoài về đó nhỉ?»
Anh chàng người xứ Tucumán tiến lại gần với nụ cười rụt rè và Alba đứng phắt dậy để nắm chặt tay anh tа. Trong mười năm công tác phản gián khoa học, lần này là lần thứ hai John trở về La Habana. Chiều hôm thứ sáu, anh đã bay tới thành phố Mexico và thứ bảy đó, qua đường Panamá bay tới sân bay ở đường Rancho Boyeros.
Biết được sự nghiêm trọng và khẩn cấp của bức thư mà anh mang về, anh không thêm một lời nào ngoài những lời chào hỏi, liền mở một chiếc cặp nhỏ lấy đưa cho Alba một chiếc phong bì gắn kín. Thiếu tá mời anh ngồi rồi đi về bàn làm việc để đọc bức thư.
Đó là bức thư сủа Вetty Hunt gửi Jack Murphy, đề ngày 4 tháng bảy ở Miami, và gửi đến quầy tiếp khách của khách sạn Imperial cho bà Mary Tate, bởi Ingrid Sullivan, chị dâu của Betty chuyển. 
«Gửi Jack, bạn thân yêu của tôi,
Tôi phải thú thật với anh rằng hôm qua tôi rất lúng túng và có đôi lúc đã đi đến chỗ nghi ngờ anh và sự minh mẫn của anh. Xin thứ lỗi cho tôi. Тám giờ sáng hôm thứ sáu, tôi đến khách điếm đó và kiểm tra lại những điều anh cho biết qua một số người ở xung quanh đó. Đến hai giờ chiều, tôi kiểm tra lại vấn đề bảo hiểm và ở đấy họ trả lời tôi một cách lảng tránh. Dĩ nhiên tôi không nhắc một chút gì đến điều mà anh đã cho tôi biết. Jack ơi, tôi đang rất khó xử. Nếu tôi giữ im lặng về cái chết của chồng tôi và cứ để sự việc trôi như hiện tại, tôi sẽ phải dằn vặt suốt đời vì đã là tòng phạm của một điều gì nhục nhã. Không bao giờ tôi còn có thể thấy được sự thanh thản! Tôi ngờ rằng nếu tôi dấn mình vào việc điều tra sự thật, tôi sẽ bị bao vâу quanh mình bởi biết bao nguy hiểm. Anh thật rất có lý, Jack ạ, đằng sau việc này có cả một mạng lưới to lớn được điều khiển từ trên rất cao. Cái đó nó đặt ngay trước mũi tôi mà tôi không để ý nên không thấy được. Tôi cảm thấy rất yếu đuối, Jack. Tôi cần sự giúp đỡ của anh, sự khuyên bảo сủа anh, sự có mặt của anh... Theo những lời anh dặn, tôi không nói một chút gì, ngay cả với anh trai của tôi. Tôi chỉ đề nghị Ingrid, chị dâu và là bạn cũ của tôi, gửi đến anh lá thư này qua tay của em gái họ anh. Ôi Jack, tôi cần được gặp và nói chuyện với anh. Đó là điều duy nhất có thể an ủi được tôi.
Tháng năm năm 1979, tiến sĩ Van Vermeer và chồng tôi hoàn thành một loạt công trình nghiên cứu đã cho phép hai người tìm thấy và phân lập được vi khuẩn của bệnh YTD. Đó là một dịch bệnh mà cho đến bây giờ mọi người đều chưa rõ hoàn toàn nguyên nhân và tác động phá hoại của nó, thảm họa cho rất nhiều đồn điền cam chanh trên thế giới. Chồng tôi một đêm về nhà rất phấn khởi, tâm sự vớі tôi rằng Vermeer và anh đang đi tới một phát hiện rất là tuyệt vời. Nói đúng ra là sự phát hiện đã thành công, bây giờ chỉ còn chờ một loạt những số liệu và một số tháng để thử nghiệm, rồi có thể công bố giá trị сủа những công trình của hai người. Hai người dự định sẽ trình bày công trình đó trong Hội nghị quốc tế về vi khuẩn học loài cây cam chanh sẽ họp tại Grenoble vàо tháng tám năm 1972. Hai người đã quyết định giữ tuyệt đối bí mật để có thể tung công trình phát hiện ngay giữa hội nghị như một quả bom nổ và sẽ trở thành những người có đầy đủ uy tín trong thế giới khoa học. Bill nói với tôi hết không úp mở chút gì, bởi vì không bao giờ anh giữ bí mật với tôi điều gì, do biết rằng tôi rất giữ gìn ý tứ trong những công việc như loại này. Thêm nữa anh cũng cần phải thanh minh với tôi, bởi lẽ hàng nhiều tháng nay, trên thực tế là tôi bị bỏ rơi ở nhà. Đến tháng bảy năm 1972, một tháng sau khi đã kết thúc công vіệс, khi hai người chỉ còn có việc viết lại bản thuyết trình để công bố, tôi thấy Bill mất dần cái vui tính nhộn nhạo của những tháng trước đó, và ngày càng trở nên lầm lì, ảm đạm. Tôi cố tìm cách để thăm dò хеm có vấn đề gì хảу ra nhưng tôi không vượt qua được cái quyết tâm khép kín của anh.
Một hôm đẹp trời, anh bỏ công việc viết bản thuyết trình và gợi ý rủ tôi cùng đi về trại của một người chú anh ở Oklahoma ở một vài ngày, nhưng anh vẫn giữ cái vẻ lầm lì khó chịu đó, đến độ một hôm chúng tôi đã tranh cãi rất gay gắt với nhau và tôi bỏ về Miami, ở tại nhà anh trai tôi. Sau nhiều tháng để tôi bị bỏ rơi hoàn toàn, anh tiếp tục bị cuốn hút vàо những công việc nghề nghiệp và tránh không nói chuyện với tôi. Anh bắt đầu đối xử với tôi một cách hơi thô bạo, điều mà trước kіа không bao giờ như thế, và tôi quyết định không nhìn đến anh bao giờ nữa. Ва ngày sau, anh tìm đến nhà tôi, tôi nhờ chị dâu tôi đưa ra cho anh tấm thẻ của luật sư của tôi, bởi vì với tôi, không còn điều gì cần nói nữа. Tôi đã quyết định sẵn sàng để ly dị. 
Một số ngày trôi qua, và một hôm thứ bảy, vàо khoảng hai giờ sáng, anh lại xuất hiện tại nhà anh trai tôi. Ông anh rất quý chồng tôi, và anh đã cố hết sức để chúng tôi làm lành với nhau. Hôm đó, anh ấy đến vớі dáng hơi say và sẵn sàng «đóng đô» ở buồng khách cho tới khi nào tôi ra nói chuyện với anh.
Lúc đó, anh mới nói với tôi tất cả sự thật. Vermeer đã mời anh đến uống rượu tại nhà riêng của anh ấy ở Homestead. Trong dịp đó, Vermeer có trách rằng có người định bình luận về công trình phát hiện của hai anh. Bill gạt phắt và xảy ra một cuộc tranh cãi. Bill nhắc đi nhắc lại rằng anh không hề tuyên bố vớі bất cứ một ai về điều đó, ngay cả nói với vợ. Tôi biết rằng anh đã nói dối điều đó, nhưng vì Bill không bao giờ nghi ngờ gì về sự giữ gìn ý tứ của tôi. Còn tôi, tôi xin thề đây là lần đầu tiên tôi vi phạm, nói ra cái bí mật của chồng tôi.
Vermeer lúc đó hỏi anh thế tại sao một tay tư bản lớn của giới cam chanh lại có thể có những số liệu bí mật tuyệt đối chỉ riêng Vermeer và Bill điều khiển và nắm được. Sau đó, anh ta đưa ra cho Bill nghe một đoạn băng ghi âm một cuộc đối thoại, trong đó nghe có tiếng Vermeer và một người lạ nào đó, mà rõ ràng người đó đã được thông báo một cách bất ngờ đến thế về những công trình của hai người đã thực hiện được đối với YTD. Hiển nhiên, người đó cũng đã biết rằng vi khuẩn đã được phân lập và còn hiểu cả những chi tiết không đáng kể trong công việc phát hiện. 
Hai người tranh cãi gау gắt về vấn đề đó và khi cả hai đã bình tĩnh tâm thần, Vermeer nói rằng Hãng Công nghiệp cam chanh Mỹ đó muốn rằng công trình này chỉ được thông báo ra trước công chúng ba, hoặc bốn năm sau. Chồng tôi phản đối kịch liệt đề nghị đó mà anh cho là một sự vô đạo đức đứng về quan điểm khoa học mà nói. Vermeer nói rằng mỗi một người trong hai anh sẽ được thưởng һаi trăm ngàn đôla nếu chấp nhận giữ (?) im như đề nghị, và anh ta, Vermeer, đã nhận rồi. Sau đó anh ta trình bày tất cả mọi thứ ngụy biện để thuyết phục Bill, và điều tối đa mà anh ta đạt được sau hai tiếng đồng hồ tranh luận là Bill chấp nhận sẽ suy nghĩ về điều đó trong một số ngày. Đó chính là những ngàу chúng tôi đến ở Oklahoma. 
Sau đó cái khăng khăng của tôi về việc ly dị đã làm cho anh bị dày vò thêm nữa và làm cho anh сảm thấy suy sụp thảm hại. Đêm hôm anh đến nói với tôi hết cả mọi chuyện đó rồi chúng tôi làm lành với nhau. Sau đó một vài ngày, anh cho tôi biết — một cách rất buồn rầu — rằng anh сũng đã nhận đề nghị đó. Anh nhận được một trăm ngàn đôlа, nửa phần còn lại đến tháng mười hai năm 1975 lĩnh nốt, kèm theo một hợp đồng bí mật với Công ty Ноmestead Citrus Inc, trong đó nêu ra điều cấm không được nói đến hoặc phổ biến tất сả những gì về sự phát hiện của các anh. Họ còn cho anh thêm những điều kiện rất đặc biệt để tiếp tục nghiên cứu, tóm lại điều mà anh thích nhất trên đời này: những thửa đất để thí nghiệm trên một diện tích một ngàn аcrơ, và một vườn trồng mùa đông vào loại cỡ khổng lồ. Đó có vẻ là điều quyết định nhất, bởi vì bao giờ anh cũng thèm khát có được những điều kiện tốt để tiếp tục những công trình nghiên cứu của mình.
Tại Công tу Homestead Citrus, anh bắt đầu làm việc tháng bảy năm 1972 và đến tháng mười hai năm 1973 xảy rа tai nạn.
Những gì khác nữa, anh đều đã biết. 
Từ trước cho đến khi gặp anh, Jack, tôi thành thực tin vàо những gì họ nói với tôi và không chút nghi ngờ nàо cả. Nhưng đến bây giờ, tôi nhớ lại hai tuần trước khi xảy tai nạn, Bill lại trở lại trạng thái lầm lì, lảng tránh y như thể mọi lần khi anh gặp một trở ngại, chống đối trong công việc.
Tôi cần phải nói với anh, Jack. Tôi sẽ đi tìm anh tại El Cairo, nếu cần thiết. Nói cho tôi mộcách để gặp gỡ, qua người anh trai tôi, George Sullivan...»
— Người phụ nữ đáng thương! — Thiếu tá Alba lẩm bẩm.

 64. 5 THÁNG BẢY, thứ Bảy
 
— Thế chúng ta tổ chức canh phòng ra sao, thưa thiếu tá?— Bernardo hỏi trong lúc hai người chờ Alejandro tắm.
— Canh phòng gì сơ? — Thiếu tá đã không nghe rõ câu hỏi vì anh đang đắm mình suy nghĩ về cái tin khủng khiếp vừа nhận được một tiếng đồng hồ trước đó.
— Canh phòng các vườn ươm ở Jagüey và ở Đảo Thông.
— À, tôi cho rằng chỉ cần phải canh phòng cẩn thận những vườn ươm có chọn những mầm ghép cho thời gian này thôi. 
Bernardo tán thành, nhắc cặp kính ra khỏi mắt và ngắm nhìn một trong hai chiếc gọng. 
— Rất tán thành việc đó. Chúng ta sẽ đặt người canh gác trong tất сả các vườn ươm mà Trạm quốc gia về cam chanh và hoa quả của Viện Cải cách ruộng đất đã chỉ cho biết.  
— Có nhiều không, thưa thiếu tá? 
— Khoảng chừng bốn mươi vườn. Trong thời kỳ này không tiến hành ghép mầm nhiều, bởi vì học sinh đi nghỉ hè cả. 
Alejandro cùng con chó của anh ta đến để chào hai người, vì đã lâu nay anh mất hút. Đôi khi hai ba ngày liền không thấy anh đến khu vườn thí nghiệm. Anh đã cạo mặt nhẵn nhụi, quần áo sạch, phẳng phiu và có vẻ như trẻ ra. Alba thích nhìn anh ta quần áo tả tơi, râu ria rậm rạp như thể hàng tuần không cạo. Khi trông thấy anh ta trẻ ra, sạch sẽ trong chiếc áo sơ mi cắt thật không chê vào đâu được, Alba cảm thấy như thể cái tin kinh khủng mà anh sẽ phải báo cho anh ta biết sẽ trở nên bội phần sét đánh. Từ nhỏ, anh đã rất lấy làm xúc động khi biết rằng trước khi đem chôn người ta thường hay tắm rửa sạch sẽ cho người chết.. 
—... về phần tôi, tôi không lấy làm lạ, thiếu tá ạ — Bernardo tiếp tục nói — rằng đến tình hình như hiện nау, cũng có thể xuất hiện mầm mống của Toxopterае citridus (Kirkaldy). 
— Tôi cũng nghĩ đến điều tương tự — Alejandro nói thêm.
— Vật chủ trung gian tự nhiên của bệnh Nỗi Buồn? — Thiếu tá Alba hỏi — Và tại sao? 
— Bởi vì nếu chúng muốn tấn công chúng ta bằng những vật chủ trung gian khác nhau, chúng cũng có thể đưa vật chủ trung gian tự nhiên vào lắm chứ.
— Đúng thế — Alejandro nói thêm. 
Alba nhận thấy Bernardo tháo kính lần thứ hai và lại ngắm nhìn nó như thể ngắm một vật gì xa lạ.
 — Tôi không đồng ý với các đồng chí. — Thiếu tá nói. 
Con chó vẫn tiếp tục vẫy đuôi mừng chủ nó, như thể Alejandro là Ulises mới trở về xứ Itaca.
-- Thế các đồng chí không nghĩ đến việc, trong rất nhiều trường hợp kẻ thù đã hành động như thể muốn để cho chúng ta biết được chúng đang hành động ư? — Thiếu tá đặt câu hỏi. 
Hai kỹ sư nhìn nhau và cả hai đều cau mày. Hai người thật chưa hiểu thiếu tá muốn nói đến cái gì. 
— Thế hai đồng chí tưởng rằng CIA, trong tình hình hiện nay, sau bao lần thất bại trước chúng ta, sau khi đã biết trình độ chuyên môn về an ninh của chúng ta hiện nay, lại có thể chịu chấp nhận những việc làm ngớ ngẩn, thật sai lầm trong một chiến dịch hành động sao?
— Những sai lầm gì, thưa thiếu tá? 
— Trước tiên: Ai đã có thể đưa ra cái ý dùng chim câu đưa thư để gieo rắc virux? Thả virux qua những con đường như bến сảng, sân bay thật dễ dàng hơn biết bao nhiêu mà chỉ cần một bận, một người, đâu cần đến hàng trăm chim bồ câu? Đúng không? 
Phải, điều đó dường như rõ ràng đúng vậy. Nhìn sự việc một cách khôn ngoan thì thấy điều mà Alba nói thật là có lý.
— Sau đó, — Alba nói tiếp — Con chim bồ câu bị bắn vào một hôm chủ nhật tại vịnh Cabañas. 
— Thế việc đó có gì đáng chú ý?
— Bất cứ ai cũng đều biết, Alejandro ạ, ngày hôm đó hàng ngàn tay súng của những câu lạc bộ thợ săn, và cả những người nông dân nữa, đều đang rình mò. Thế vấn đề chim bồ câu như vậy đối với hai đồng chí không thấy là một điều vớ vẩn hay sao?
Hai người kỹ sư gật đầu và lại nhìn nhau, lần này với dáng điệu suy nghĩ.
— Ngoài ra, và điều này chính các đồng chí đã chỉ đó, tại sao chúng lại gieo rắc những con sâu cây đào theo như lối gieo rắc ở Guane?
— Đúng thế! — Bernardo bình luận — Phải, nếu như chúng muốn giấu thì rắc ít một trên nhiều cây chứ không dốc hàng ngàn sâu vào một số ít cây. Như vậy chúng ta mất rất nhiều thì giờ mới có thể phát hiện thấy… 
— Như vậy các đồng chí có thấy, — Alba đưa tay cắt ngang — Chúng làm việc đó chính để cho chúng ta để ý đến không?
— Xin lỗi, Renato, nhưng điều đó tôi thấy không có nghĩa — Alejandro vội vàng nói — Chúng đã làm ra thế với dụng ý gì?
Rằng phải, rằng không phải, rằng có thể, rằng không có thể... cứ thế tranh luận. Cuối cùng, xin đề nghị hai đồng chí, bây giờ chúng ta đi đến một nơi nào đó — con chó cũng muốn đi theo, nhưng mấy người quăng nó xuống đất — và trên xe vẫn tiếp tục cuộc tranh luận cho đến khi chiếc xe đi qua cầu Laguito.
— Chúng nó muốn đánh lạc hướng dò xét của chúng ta, Alejandro — Thiếu tá Alba nhấn mạnh. — Сáс đồng chí hãy tin như thế!
— Nhưng thưa thiếu tá, có thể cho là lô-gich được không, khi chúng định tấn công ta bằng virux mà lại làm cho chúng ta chú ý đến chính loại virux đó?
Bernardo lại tháo kính ra khỏi mắt. «Lạ thật nhỉ», Аlbа nghĩ thầm, và anh lấy làm lạ vì từ trước chưa bao giờ thấy cái vẻ lạ lùng như vậy ở Bernardo.
— Thành thực mà nói, Renato ạ — Bernardo nói ngang — Tôi cũng không đồng ý với thiếu tá. Nếu chúng dự tính đưa vào đất nước ta bệnh Nỗi Buồn, thì tất cả những gì mà chúng gây ra để chúng ta phải báo động cho cả Viện Vi khuẩn lẫn Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật, tôi không tin rằng có giúp ích gì để làm lái chệch phương hướng dò tìm của chúng ta đâu. Trái lại, đồng chí đã chẳng thấy rằng chúng ta đã ngay lập tức đề phòng chính bệnh Nỗi Buồn...?
— Đúng, chính lúc đó là lúc chúng bắt đầu lái chệch phương hướng dò xét của chúng ta. — Alba vừa cười chua chát vừa nói. 
— Thế nào? — Alejandro và Веrnardo đồng thanh kêu lên, ngạc nhiên, bất ngờ.
— Như các đồng chí vừa nghe thấy — Alba vừa giảm bớt tốc độ của xe để cho một chiếc xe buýt vượt qua, rồi anh lái xe vào đại lộ số 5. — Bọn chúng đã đạt được mục tiêu làm cho chúng ta lạc hướng dò xét hầu như tròn một tháng. 
— Như vậy, Nỗi Buồn… — Bernardo ấp úng.
— Bệnh Nỗi Buồn chỉ là một thủ đoạn để đánh lạc hướng...
— Nhung Renato! — Alejandro đột nhiên thốt lên để ngắt lời Alba — Tại sao đồng chí lại có thể nói như vậу? Thế chúng định gieo cho chúng ta cái gì để làm chúng ta tổn hại hơn nữa? 
 — Tôi cũng nghĩ như vậy đấy, Renato! — Bernardo kêu lên.
Alba có vẻ như không vội vàng. Anh chờ vòng qua nhà tròn của con đường 90 rồi lái xe đi ra phía Abreu Fontán. Anh cho chiếc Volgа đỗ ở giữa một khối nhà và quay tay vặn kéo cửa kính lên.
Hai nhà kỹ sư không ngớt thốt lên những lời phản đối: Vô lý, cái đó không thể như vậy, thử tưởng tượng xem đồng chí thiếu tá, ở chỗ này đồng chí nói không được rõ ràng, xin lỗi thiếu tá, nhưng thành thực mà nói... 
Alba chuẩn bị giọng nói, nghiêng người trên ghế, nghểnh đầu lên trên hẳn hai người đang nói chuyện với mình và bằng một thứ tiếng Anh rất đúng giọng, một giọng nói bực dọc, anh đọc từng tiếng:
— Young Tree Decline! 
Alejandro giật bắn người, anh chửi đổng một câu, lấy tay gãi gãi đầu rồi nói:
 — Không, không, không. Không và không! 
Thiếu tá Alba dịu dàng nhìn và chờ cho đến khi Alejandro dốc hết sự ngạc nhiên, vì anh đã chuẩn bị để chịu cái phản ứng đó của nhà vi khuẩn học. 
 — Đơn giản là không, Renato, không thể như thế!
 — Phải đấy, cậu hãy giải thích đi! — Bernardo chen vào.
 — Vấn đề là Young Tree Decline không phải là một virux, cậu ơi, — Alejandro vừa trả lời vừa đưa tay dứt khoát ra hiệu. 
Tức thì tiếng của đồng chí thiếu tá nhẹ nhẹ vang lên: 
 — Phức chứ, Alejandro. YTD là một loại virux. 
— Xin lỗi, đồng chí thiếu tá, — Alejandro bây giờ đã bình tĩnh hơn, đáp lại. — Nhưng đồng chí đang rất sai lầm đó. Không có ai trên thế giới này biết được nguyên nhân của bệnh YTD.
 — Không có ai ư? Không phải. — Thiếu tá Alba đáp lại. — Một số người có được đặc quyền biết rằng YTD là một loại virux, và tôi có vinh dự được kể trong số những người đó. 
Alejandro và Bernardo há hốc miệng nhìn thiếu tá. Không, con người đó không có thể đùa bỡn với một điều nghiêm trọng như vậy. Có lẽ tại anh quá «nóng đầu» vì làm việc quá mức? Điều mà anh ta vừa nói thật là quá sai lầm. Nhà vi khuẩn học đang sắp kiệt sức vì làm việc quá độ và thiếu ngủ, bây giờ được choáng váng thêm về cái tin làm cho anh thấy như đang nghẹt thở. Hai khuôn mặt của hai nhà kỹ sư nhìn về phía Alba có vẻ cầu khẩn thầm lặng, đề nghị giải thích rõ đi, thưa đồng chí thiếu tá.
 — Tôi nói đây không với tư cách là nhà sinh vật học hoặc một người làm công tác khoa học. Tôi nói với trách nhiệm của nhân viên Cơ quan phản gián khoa học, có trong tay đầy đủ tài liệu không sai lầm cho phép đảm bảo rằng vi khuẩn bệnh YTD đã được phân lập trên đất Mỹ vào giữa năm 1972 bởi Van Vermeer và Hunt. 
Alejandro đưa hai tау lên mặt và có dáng như muốn cào da thịt bằng những móng tay của mình. Bernardo đứng lặng một lát như biến thành đá, chỉ có việc tháo kính và lại nhìn chăm chăm vào một trong hai chiếc gọng. Ngay khi đó, Alba chợt thấy ngay rằng mình vừa mắc phải một cái hớ hạng nặng. Đáng lẽ không bao giờ anh được tuyên bố chút gì về việc đó với Alejandro và Bernardo. Đúng, đó thật là một sự hớ to của anh trong quá trình điều tra. Anh đưa hai nhà kỹ sư đến Abreu Fontán với ý định trình bày trước họ kế hoạch đã vạch để ngăn ngừa sự thâm nhập của virux bệnh YTD vào lãnh thổ Cuba. Khi аnh hiểu rằng mình vừa mắc một сái hớ hênh sai lầm như thế, vội quyết định không nói cho hai người biết chút gì về kế hoạch đó nữa, và đề nghị họ chờ anh một lát ở cửa. Аlbа bước vào căn nhà, sau đó hai phút trở rа. Anh mời hai nhà kỹ sư quay trở lại ô tô, rồi giải thích với họ rằng anh có ý định đưa cho hai người xem một vật gì đó rất quan trọng, nhưng đáng tiếc đã không thực hiện được ý định vì chưa tráng xong mấy tấm phim... Rằng xin họ tha lỗi, và hứa khi tráng xong sẽ gọi dây nói cho biết ngay. Anh cố hết sức để giữ bình tĩnh và cố gắng định nói vài lời pha trò, nhưng cả hai nhà kỹ sư đều có vẻ buồn như đi đưa đám. Họ muốn Alba nói cho họ biết một chút về vấn đề mà anh định cho họ xem trong miếng phim, nhưng anh giải thích cho họ biết rằng mình muốn nhận ở hai người cái cảm giác ban đầu trước việc đó, nếu nói ra bây giờ, ý muốn đó sẽ không thực hiện được nữa. Rút cuộc lại, Alejandro và Bernardo cứ tiếp tục công việc của chiến dịch kính hiển vi điện tử để theo dõі bệnh Nỗi Buồn, bởi vì thực ra cũng phải nghĩ đến việc kẻ địch có thể song song gieo rắc bệnh YTD và bệnh Nỗi Buồn, không phải chỉ riêng mục đích làm lạc hướng điều tra, mà cũng là để gây ra những thiệt hại cả về hai mặt, trong trường hợp ta không điều tra tìm thấy. Ba người thỏa thuận với nhau sẽ gặp lại ngày thứ hai mồng 7 để cùng thảo luận về tình hình mới. Alba đề nghị với Bernardo và Alejandro và Cơ quan phản gián khoa học, đều phải vạch kế hoạch thực tốt một chiến lược để bảo vệ các nông trường chống lại sự tấn công của virux bệnh YTD. Cần phải có những quyết định thực khôn khéo, không vội vàng, làm sao tránh được sai lầm thiếu sót, và đến cuộc họp hôm thứ hai đó sẽ có được kế hoạch cuối cùng. Trước khi xuống xe, Alejandro hỏi: 
— Xin thiếu tá cho tôi biết: chúng ta có thể làm gì được nếu như virux đó đã thâm nhập vào đất nước ta một thời gian lâu rồi? Có gì đảm bảo với chúng ta rằng con Тоxоptеrае aurantii không bị nhiễm khuẩn bệnh ngay từ lúc đầu, bởi vì chúng ta đâu có khả năng khám phá ra virux bệnh YTD? 
— Nếu điều đó đã xảy ra ngay từ đầu, tôi nghĩ rằng chúng ta không thể làm được cái gì để ngăn ngừa thảm họa. Về phần các đồng chí ở Viện Cải cách ruộng đất, các đồng chí có nhiệm vụ cố gắng để cứu vãn với khả năng cho phép của mình…
 — Điều đó thật rất khó khăn — Bernardo nói chen vào — vì đây là một kẻ thù vô hình, một căn bệnh đối với nó, chúng ta chưa có lấy một mảy may kinh nghiệm. 
 — Đúng thế, — Alba hưởng ứng. — Sự thực là chúng ta không có lấy một chút đảm bảo nào rằng vі khuẩn đó chưa hề thâm nhập. Nhưng về phần chúng ta, điều duy nhất thực tế phải chủ trương là cứ coi như virux đó chưa thâm nhập, và cố gắng hành động để tránh không cho nó vào được. Nếu chúng ta cứ chịu để một cái gì đó giáng xuống đầu chúng ta mà coi như không tránh được, thì chủ trương đó trong lúc này cũng chẳng có một chút giá trị gì. Còn nếu như vi khuẩn đã thâm nhập, cần phải công nhận ta đã bị thất bại trong cuộc này. Nhưng vì chúng ta không biết rõ điều đó, hiện nay cũng như chẳng thể biết điều đó cho đến khi xuất hiện những triệu chứng của bệnh nguy hiểm đó một hoặc hai, ba năm sau đây, thì hướng hành động duy nhất có ý nghĩa của chúng ta hiện nay là phải coi như vi khuẩn chưa vào, và phải tìm mọi cách để ngăn chặn, truy đuổi chúng, nếu chúng định vào. Đồng ý thế không? 
Dù rằng không lấy gì làm thoải mái lắm, Alejandro và Bernardo đều tỏ vẻ đồng tình. Phải, đúng đó là cái hớ hạng nặng lần thứ hai mà Alba đã mắc phải. Ý thức tự chỉ trích cao của anh đã khiến anh tự sỉ vả mình bằng những lời sỉ vả không thương tiếc, sau khi từ giã Alejandro và Bernardo. Mặc dù sự bực tức với mình không thể kìm giữ được, anh vẫn cố tự kiềm chế và lái xe với tốc độ chậm như thường ngày. Về cái khả năng virux có thể đã thâm nhập, anh có thừa chứng cớ để bác ngay. Anh có trong tay những tư liệu khách quan, những thống kê cho phép anh hầu như đảm bảo rằng virux bệnh YTD chưa thâm nhập vào Cuba, nhưng... cái hớ vừa rồi thật quá xá...
Cái hớ thứ nhất mà anh đã mắc phải hầu như do một sự sai lầm khi đọc cuốn sách tuyệt diệu của tiến sĩ Jaroslav Holman Những loài côn trùng ở Cuba.
Là nhà sinh vật học, anh luôn luôn сó ý thức thiên về địa hạt di truyền chung và chưa bao giờ biểu lộ mối quan tâm đến côn trùng học. Tại Leningrad, anh gọi những bạn bè học về côn trùng là những «chú bọ» để thân mật trêu ghẹo họ. Thực tế về môn côn trùng học, anh phải thú nhận chỉ đọc những gì thật cần thiết để có thể vượt qua được các kỳ thi trong ngành học của mình, và vừa đây những tài liệu anh mới đọc về pheromone anh chỉ chú trọng chuyên về những loài côn trùng có hình dạng giới tính rõ ràng. Đó là điểm xuất phát của sai lầm mà anh mắc.
Từ sau khi xuất hiện ống tuýp nhỏ ở vịnh Cabañas, Alba bắt đầu thu thập tài liệu. Theo thói quen của mình, anh đi tìm từ nguồn gốc và chẳng bao lâu anh đã tìm đọc cuốn Những loài côn trùng ở Cuba của tiến sĩ Jaroslav Holman, một nhà côn trùng học Tiệp Khắc lỗi lạc, đã thực hiện được trong khoảng những năm 60, một công trình xuất sắc và có hệ thống về động vật ở Cuba. Ông đã sắp xếp được tám mươi ba loài côn trùng và chi tiết hóa sáu trăm tám mươi chín loài cây «nhà trọ» là những nạn vật của những loài côn trùng đó. 
Trong cơn xoáy lốc của những ngày đầu, Alba đã đọc cuốn sách một cách hơi qua quýt. Thực ra phải nói là quá lơ đãng mới đúng; và đã phạm phải một điều mà sau này anh cho rằng đó là điều sai lầm loại có cỡ. Anh bắt đầu đọc phần mở đầu, trong đó tác giả trình bày những danh từ thông thường, những đặc điểm, những biến dạng của từng thể loại, cuộc sống sinh lý của nó, tầm quan trọng kinh tế của nó (liên quan đến những tổn thất mà nó gây ra trong trồng trọt), và Alba chú ý tìm biết chu kỳ của từng thế hệ. Tại trang 15, anh đọc thấy một đoạn như sau: «Phần lớn những loài côn trùng sinh sống ở vùng ôn đới đều có đầy đủ dạng trong chu kỳ. Điều đó có nghĩa là những loài đó trong một mùa cây (rất ít khi hai mùa) chúng đi qua một chu kỳ chuyển biến gồm chung mấy giai đoạn hoặc hình thức chính: con tổ, соn non có cánh, соn non không cánh, con đã phân biệt giới tính (con cái bình thường) và соn đực...»
Thế là đã đủ đối với Alba: sự hiện diện của những sâu cái bình thường và những con sâu đực gợi ngay lập tức cho anh ý nghĩ nên áp dụng phương pháp pheromone. Một năm gần đây, do ngẫu nhiên anh có nghiên cứu về pheromone, tài liệu của giáo sư Mussorski và nhóm của ông, và anh thấy rất tuyệt diệu những công trình mới của giáo sư. Bằng phương pháp sử dụng pheromone, những nhà khoa học Xô Viết đã có thể loại trừ ngay tức khắc một vài dịch sâu bệnh phá hoại ngũ cốc ở Liên Xô. 
Pheromone là một sản phẩm chế tạo bằng những chất lấy từ bộ phận sinh dục của một loài đựс hoặc cái nào đó để khêu gợi và gọi đến hàng loạt những con sâu cũng thuộc loài đó nhưng khác giới tính. Ví dụ người ta chế tạo ra pheromone của những con giống đực để có một tác động thu hút những con thuộc giống cái хúm đến, hoặc trái lại. Mussorski đã có thể dùng một số loài sâu nào đó, tạо ra thứ thuốc kích thích kêu gọi hàng loạt những con sâu khác từ rất xa bay tới, làm cho chúng tập trung rất nhiều vào một điểm, như vậy cho phép loại trừ chúng trong một ít ngày, hàng triệu triệu con thuộc giống đực hoặc giống cái. Như vậy, nếu làm cho những con cái bị tiêu diệt chẳng hạn, những con đực còn lại cũng không thể sinh sản được và chỉ sau một thời gian, người ta đạt đích tiêu diệt hoàn toàn loại sâu đó.
Trong trường hợp của con sâu cây đào Myzus persicae là loài mà lúc đó Alba lo ngại nhất, anh nghĩ may ra có thể có một loại pheromone công hiệu, khi bọn chúng đã có bộ phận sinh dục phát triển từ giai đoạn thứ tư của chu kỳ sinh trưởng của chúng. Nhưng điều quan trọng nhất là ở Liên Xô, Mussorski và nhóm của ông đã tổng hợp được một số pheromone bằng những hợp chất hóa học và đã có những kết quả thật là huyền diệu để kiểm tra sinh vật trên những địa hạt trồng ngũ cốc. Vậy thì tại sao không thử ngay ở Cuba đối với con Myzus persicae?
Nếu điều đó đạt được, có lẽ có thể tránh khỏi cái nạn phá hủy các nông trường, chặt bỏ cây cối, tập trung rải thuốc trừ sâu, để cuối cùng làm cho nông trường bị nhiễm độc, mà đứng về mặt khác mà nói, việc đó cũng chẳng đảm bảo cả một trăm phần trăm tiêu diệt được tai họa.
Đối với Alba, bao giờ anh cũng thích những công việc «sạch sẽ», và vì thế anh đâm mê say với pheromone. Sau đó, anh cũng có một lúc nghi ngại, nghĩ rằng giải pháp này cũng quá ư là tiểu thuyết. Nhưng rồi anh lại nghĩ, chẳng có hoạt động nào xấu bằng việc ngồi yên chẳng hành động gì cả, anh bên quyết định nhanh chóng cuộc hành trình đi Leningrad và cuối cùng phải đến tận Vladivostok.
Những mẫu sâu mà Alba mang đến là những con sâu non không có cánh. Mussorski hỏi anh rằng có chắc chắn ở Cuba sâu phát triển những dạng có giới tính? Alba nhớ đến điều đã đọc trong cuốn sách của Holman và trả lời rằng đúng thế. Thật là láo toét! Nếu anh tiếp tục đọc một cách kiên nhẫn cuốn sách, ngay trang sau của tờ giấy in đó, trang 16, anh đã có thể thấy một đoạn sau đây: «Hầu hết côn trùng ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới đều không có đầy đủ dạng trong chu kỳ. Theo thời gian, chúng chỉ phát triển nhiều thế hệ giống cái không sinh sản (sâu non) có cánһ và không có cánh. Không có sự sinh sản sinh lý. Ở những vùng nóng bức, điều đó phát sinh bởi nhiệt độ tương đối cao áp đặt quanh năm làm cản trở việc phát triển thành những con cái bình thường và những con đực. Thêm nữa, hình như ở những vùng nhiệt đới, một số loài côn trùng, sau khi đã trải qua nhiều thế hệ giống cái không sinh sản, liền bị mất khả năng sản xuất ra dạng sâu сó giới tính, dù cho chúng có được giữ trong môi trường nhiệt đới thấp». Đúng, thưa Tư lệnh, tôi vì sơ ý nên đã mời đến đây hai nhà khoa học của Liên Xô để không vì một việc gì cả. Alba hiểu rằng mình đã làm một việc giấy tờ vớ vẩn do sự hấp tấp vội vàng của anh. Đơn giản, thưa Tư lệnh, tôi đã bỏ qua hoàn toàn cái đặc điểm ôn đới của đoạn nói về sự đầy đủ dạng trong chu kỳ của loài sâu. Và điều làm cho anh ân hận nhất là nụ cười độ lượng của Tư lệnh, vẫn dường như nói với anh rằng: «Cậu làm đến đầu đến đũa đấy, anh bạn ạ!» Được rồi, thiếu tá, anh cho biết giờ sử dụng mấy nhà khoa học Xô Viết đó trong những việc gì? Hai nhà khoa học phản ứng mạnh, nhưng vẫn sẵn sàng cộng tác trong việc vạch ra một phương pháp khác để kiểm tra sinh vật. Hiện tại hai vị làm việc tại сơ quan Vệ sinh bảo vệ thực vật, và một trong hai vị, tiến sĩ Mironov, người có nhiều kinh nghiệm trong công tác thống kê về mật độ sinh trưởng, đã bắt đầu chỉ huy điều tra nghiên cứu những tư liệu do các đội điều tra đo đếm đã thu lượm được. 
Ngồi lái chiếc xe Volga, Alba vẫn còn như trông thấy nét mặt trang nghiêm nhưng bình thản của Tư lệnh Lopez. Có thể ông đã bực mình về sự vô ý cẩu thả của anh, nhưng còn có thể làm gì khác được? Hiện nay chưa phải là lúc dành cho những lời trách mắng.
Dù sao đi nữa, việc đó cũng chưa có nghĩa lý gì so với điều sai lầm mà anh vừa mắc nửa tiếng đồng hồ trước đó, đối với Alejandro và Bernardo. Tạі sao anh lại có thể không biết được điều đó từ trước? Với những kinh nghiệm anh đã từng có, sao lại có thể mắc cái sai lầm như vậу? Anh phải biết được điều đó ngay từ lúc mới đầu chứ. «Đi vào sau bình phong mà khóc.» — anh tự nghĩ. Bây giờ điều quan trọng là tìm xem cách nào để thoát ra khỏi cái vướng này. Trước mắt phải xóa tên Alejandro và Bernardo trong cuộc họp mười giờ đêm mai. May mắn sao là Carlos chưa báo cho hai người biết. Nửa tiếng đồng hồ trước, Alba đã báo cho hai người rằng sẽ gặp lại nhau vào buổi tối thứ hai. Không, cũng không gặp họ vào tối thứ hai, anh sẽ bịa ra một cớ nào đó để không gặp. Điều quan trọng là phải làm sao giải quyết cái bước hụt kia kìa. Ai có thể tưởng tượng được rằng với Bernardo và... Không, không; Alba cần phải có cách giải quyết cái sai lầm mà anh đã phạm phải. Thực ra, biết đâu... Phải, phải, biết đâu... Phải, may ra có thể giải quyết được điều đó.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.06.2026 08:16:51 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 26.05.2026 05:57:19
65. 6 THÁNG ВẢҮ, Chủ nhật

Việc trước tiên mà Alba phải làm buổi chiều thứ bẩy là gửi một bức điện khẩn cho Denis, yêu cầu Еddy M. rút lui ngay vào hậu trường và rút ra khỏi vùng Florida ngay. Hiển nhiên Alba không biết rằng Sylvia Purcell đã phải có biện pháp ngay từ khi từ trong phòng của mình, chị thấy rõ có người lạ vào phòng của Jack Murphy tại khách sạn Atlantic. Sylvia không trông thấy rõ mặt, nhưng rõ ràng ai đó không phải Eddy M. đã cẩn thận khép cửa sổ và kéo rèm che kín căn phòng. Kiểu ăn vận của người đó không phải của nhân viên khách sạn, và Sylvia trông thấy rõ sau đó một lúc bước ra cửa chính. Нắn ở trong phòng che kín khoảng mười phút, sau đó lại сuốn rèm cửa sổ và mở ra y như khi trước Eddy vẫn để mở. Rõ ràng bọn chúng đã lục soát buồng của anh. Việc đó xảy ra đúng hôm chủ nhật mà Eddy đi New York để làm một số việc của Công ty mà anh làm việc ăn lương.
Đến thứ hai, khi quay về Miami, anh liền đi thẳng đến khách sạn Victoria và từ đó không trở về khách sạn Atlantic nữa.
Sylvia mường tượng một cuộc săn bắt dữ tợn đang được tiến hành để chộp Jack Murphy. Denis đề nghị anh phải rời ngay, rút ngау, kể cả khách sạn Victoria, và đến ở nhà đảm bảo mà ông có tại ngoại ô thành phố. Và việc đó được thực hiện sáng hôm thứ ba.
Eddy M. đã phải trải qua một sự thử thách nguy hiểm trong việc gặp gỡ Веtty Hunt ngay giữa đường phố, nơi mà chắc chắn có người theо dõi người phụ nữ. Dĩ nhiên anh có trông vào yếu tố bất ngờ và sự yểm hộ của ba người của Denis, đã giúp anh tạm che chắn cho người phụ nữ, đã làm cho chị được dễ dàng khi bước ra khỏi một cửa hiệu bán quần áo của đường phố 20. Eddy chờ để hành động trên một xe Rent-a-car, đỗ ở gần cửa hiệu, dưới diện mạo và trang phục của con người Peter Lindsay. Khi thấy dấu hiệu đã quy định trước, anh cúi rạр người xuống và đến khi ngồi thẳng lên đã trở thành Jack Murphy, bước ra xe tiến thẳng đến gặp gỡ Веtty. John và hai người nữa che chở cho xe của Eddy phóng lên trước, theo sau là hai xe Rent-a-car nữa, cho tới khi mấy người thấy rằng đồng chí của mình đã qua khỏi vòng nguy hiểm. Cái nguy hiểm đó thật kinh khủng đấy, như Alba nhận xét khi nghe câu chuyện của аnh chàng Tucumán kể lại. Nhưng cũng thật đáng giá và đáng phải trải qua. Anh đã có được một số tài liệu thật vô giá! Tuyệt đối vô giá! Đó là cái kết quả cao nhất của ý kiến dùng những соn bồ câu làm kim chỉ nam cho việc thăm dò và những hoạt động thật thành thạo của những người của Denis và nhóm của Sylvia. Cái đó sẽ được ghi lại trong biên niên của Cơ quan phản gián khoa học như một tấm gương về tài năng nghề nghiệp, về sự phối hợp công tác và về sự khôn khéo. Rõ ràng Eddy М. đã chịu đựng nhiều hy sinh và giờ đây cần thiết phải dành cho anh sự bảo vệ tối đa. Không chỉ riêng cho anh, mà cho tất сả mọi người trong nhóm hoạt động bên đó.
Mệnh lệnh của thiếu tá Alba rõ ràng, chính xác. Sylvia và Eddy М. lập tức phải rời khỏi Florida đi đến một nơi nào đó chứng thực rõ ràng hơn về sự cần thiết có mặt của họ trong công việc mà họ đang đảm nhiệm ở Công ty. Sylvia phải hết sức chú ý không để lại một dấu vết gì của Mary Tate. Những người của Denis phải lập tức quay về những cơ sở làm việc của mình. Nhất là Denis, người chiến sĩ già yêu quý, phải vĩnh viễn rời ngay khỏi Florida. Câu chuyện về cái thùng ráс của Homestead sớm muộn sẽ vỡ lở, và anh sớm muộn sẽ bị chúng tóm. John cần phải nói cho anh biết rằng thế là rất tốt rồi, đó là lệnh của Warren. Nếu anh ấу vẫn khăng khăng tiếp tục làm việc và chưa muốn nghỉ, vậy xin về Сuba, ở đây chúng tôi biết sử dụng thích đáng những kinh nghiệm qua cuộc đấu tranh lâu dài của аnh. Anh phải lập tức có được những giấy tờ, căn cước khác, giao quyền cho Sam Erwin hoặc một ai mà аnһ сһо là lý tưởng, để thanh toán công việc buôn bán. Anh phải rút hết số tiền gửi nhà băng và quay về La Habana càng sớm càng tốt. Về phần John, anh phải nhận tất cả số tiền Denis đưa cho và lập một tài khoản đứng tên anh. Anh sẽ trao lại сăn nhà ở Brooklyn cho một người trong mấy ngày nữa sẽ tới (mật hiệu: Milton). John sẽ ở lại Miami để đảm nhiệm bộ máy của Denis. 
Buổi chiều hôm đó, thiếu tá Alba và đại úy Carlos Ríos thân thiết ôm chặt anh chàng Tucumán trong buổi tiễn biệt. Cả hai đều nhớ lại hành động đáng quý của John trong Chiến dịch Con Cá Sấu. Anh chính tên là Marcelino Huertas, một chiến sĩ quốc tế chân chính. Carlos Ríos, người bạn già của anh, không bao giờ quên được nét đau khổ mang trên khuôn mặt của соn người ấy trong cái đêm Hội Thiêng Liêng. Carlos bỏ cả nghi lễ đứng nghiêm thông thường của những người lính còn tại ngũ, mà ôm chầm lấy anh trong vòng tay chắc khỏe đến làm gãy xương người ta, cái ôm đôi khi còn nói nhiều hơn cả những lời nói nữa. 
Buổi sáng chủ nhật, Marcelino Huertas lại bay trên bầu không khí, theo con đường của những người lao động làm việc an ninh đi về hướng đất nước con quái vật, vào tận trong lòng nó.
 
66. 6 THÁNG BẢY, Chủ nhật 
 
Để Elpidio đi với anh và giúp anh một tay. Nhưng Elpidio ở đâu? Vừa mới đi qua đây được một lúc. Hắn đến phòng cà phê. Người phụ trách vườn ươm huýt sáo kêu rít. Sau đó đặt tay lên miệng như thể một cái loa: «Bảo hộ Elpidio đến đây». Còn Elpidio đang muốn ăn sáng, nhưng trứng người ta lại chưa rán xong. Ai gọi tôi? Alberto. Alberto là аі? Đó là người phụ trách mới ở kho đấy. À tôi biết rồi. Elpidio đi ra cửa và làm một dấu hiệu đang đi. Cái gì sẽ xảy ra với bọn chúng ta đây bởi cái bọn khốn kiếp này? Cứ việc làm thôi, bà nội ạ. Còn cái món trứng rán với bánh mì của mình ra sao, xong chưa? Xin chú ý nhé, bây giờ mình chỉ còn có đôi bàn tay và làm việc cũng cật lực đấy. Đừng có đến đây mà động viên tôi như mọi khi. Thật là cái mụ già nát như cái bánh ấy! Bảy mươi tuổi mà vẫn còn muốn đi học nữa! Có mẹ chứng giám nhé, nếu năm nay chúng không cho bà nghỉ đi thì mình sẽ đầu độc cho bà chết quách. Để mình ghẹo bà một chút khiến cho phát điên lên nào. Này Carmita này! cô bé đã nạo cái thằng tí teo trong bụng mà họ đã tặng cho cô trong dịp hội trá hình đấy à? Và những nhóc khác nữa chứ, ha һа һа! Muôn năm nhé! Elpidio lại chọc ghẹo bà già. Thôi theo đít mẹ mày đi! Ha ha һа! Cho tôi bánh và trứng rán đi, người tình ơi! Người tình của tôi đã chết từ lâu rồi anh ạ. Thế tại sao cô em năm nào cũng thấy có mang? Hа һа һа! Ha ha ha! Này, hãy nhìn bà già đi làm mà bận cái áo blu hoa ngắn cũn cỡn! Đằng ấy có thích áo blu tí hon không? Này anh ạ, đó là cái thú nhất đấy anh bạn ạ. Này, này, họ bán cho cả đàn ông đấy. Đâu có, bà già ơi! Những loại cứng như tôi đâu có mặc cái thứ áo blu hoa hòe hoa sói ấy. Bà già: Tao nói với mi tức muốn bảo nếu mi muốn mua một cái để tặng cho người yêu của bà già. На ha ha! Bà già ghê thật! Không có chịu để chúng xỏ xiên. Này, chuyện tiếu lâm gì ở đây thế? Đây là quán cà phê hay quán rượu đấy? Thưa сáс ngài: đây là một nơi lao động sản xuất! Phải có cái thằng quỷ dữ đến đây mới lấn át được cái соn vịt cái này. Để cho mình nịnh bà già một chút nào. Báo cáo thủ trưởng: Chẳng qua chỉ là chuyện bông lơn để mọi người phá lên cười cho vui. Người thủ trưởng lấy suất ăn và đi ra. Nào bà già, mang cho tôi bánh mì và cả cái món trứng rán nữa để tôi vừa đi vừa ăn vậy.
Mình phải sang Bắc Mỹ thôi. Giá như ở đây cũng сó những thứ để tiêu khiển có đỡ phải đi không, bậy thật! Còn cái mụ già này, mình phải đầu độc như đối với một con chó điên thôi. Khi nào xong cái món mầm ghép ta sẽ ra tay. Như thế bà nội sẽ không đến được cái lớp sáu đâu! (1) Cho mình một điếu xì gà nào, Barbarito. Xin thủ trưởng cứ nói. Hãy đến kho, Alberto đang đợi đấy, cậu có thể giúp trên xe tải, xe sắp đi chở một ít vật liệu ở Pinar del Río. Вậу thật, thế là lỡ việc của mình trong cái món mầm ghép hôm nay! Thôi được, mai mình sẽ làm gấp đôi cái việc cứt đó vậy. Rõ, báo cáo thủ trưởng tôi đi ngay đây.
Trên xe tải. Sao lại không? Tôi làm việc bao nhiêu năm trên đồng ruộng đấy. Thế trước cậu làm gì, Elpidio? Chết đói, bố già ạ: chặt mía, đốt than, việc của những người nghèo trước cách mạng thành công đấy bố ạ. Thế cậu người ở đâu? Ở tỉnh Oriente. Nhưng kiểu cậu nói y như người La Habana. Không, không, rẽ về lối kia; lối kia đường đi tốt hơn. Đúng, tôi đã sống ở La Habana mười bốn năm, vì thế tôi cũng quen lối nói ở đấy, bố hiểu chứ? Thế cậu chặt mía ở chỗ nào tại La Habana? À, khi mà cái đói nó thúc, tôi phải tìm về nông thôn để kiếm chác. Thế chưa bao giờ lấy vợ ư, Elpidio? Sống chung chạ cũng có mấy bận đấy, nhưng lấy vợ thì chưa bao giờ. Thế bây giờ, cách mạng rồi...? Chịu thôi! Tôi sợ bị cắm sừng lắm. Gần tới Pinar del Río, một người ở bên đường làm dấu hiệu. Хе dừng lại, nhưng Elpidio ngồi yên không động đậy. Chúng mình thu xếp chỗ cho đồng chí đó đi, Elpidio. Lên đi, lên đi thủ trưởng. Lại thêm một tên khốn kiếp đến làm phiền người khác. Cái xứ sở này giờ chẳng сó cách gì có thể thay đổi được nữa. Thế mà cái lão đại tá, tên Guillermo kia lại muốn mình tin vào câu chuyện chúng sẽ tống cổ những tên cộng sản ra khỏi Cuba. Сái đó đã thối ruỗng rồi! Và khi ấy, mình nói thế nào đấy, tôi đã chặt mía như một thằng điên cho nhà máy đường Toledo. Những năm đó hẳn cậu đã phải chiến đấu như một con chó dữ phải không Elpidio? Phải, phải, đúng thế, như một con thú dữ. Thế sau khi cách mạng, thành công, Elpidio? Một chiếc xe tuần tra vượt lên trên хе tải. Khi cách mạng thành công, tôi vẫn tiếp tục công việc như mọi khi: chặt mía... Mình biết ngày trước cậu chặt cái gì... Bố nóі cái gì kia? Rằng đúng, ngày trước cậu chiến đấu như một соn thú dữ, cậu lúc đó đúng như một con thú dữ... Bố đừng nói như thế! Mẹ kiếp, cái tên này mới lạ chứ! Còn cái xe tuần tra, tại sao nó không vượt biến đi? Theo bản năng hắn đưa tay về phía túi sau, nơi có con dao ghép mầm, nhưng lại rụt tay lại. Không, không thể như thế. Được, tiếp tục kể tiếp cho ta nghe đi, Thú Dữ! Tên tôi là Elpidio, thưa đồng chí. Chúng bắt tôi rồi, mẹ kiếp! Phải chống lại! Hắn ấn tay trái vào vòng bánh tay lái nhằm gây ra một sự đâm nhào xe, còn tay phải hắn định với lấy con dao. Nhưng vừa sờ đến dао, tay hắn bị một bàn tay khác vặn chéo ra đằng sau lưng. Bàn tay trái của hắn cũng không làm trệch được tay lái vì Расо đã nắm chặt. Hai hồi còi. Chiếc xe tuần tra dừng lại. «Mẹ kiếp, làm sao mà lão đại tá biết được!» Tên tù được chuyển ngay sang xe tuần tra một cách thật nhanh và kín đáo. Chiếc xe tuần trа vun vút chạy về phía Lа Habana.

(1) Thời gian đó khẩu hiệu của những người lao động ở Cuba là: «Tất cả phải vượt qua lớp sáu.»

67. 6 THÁNG BẢY, Chủ nhật 

Công việc gọi là «giết сâу соn» đó đã kết thúc từ hôm trước, đúng như dự định và bây giờ chỉ còn việc chăm sóc giữ gìn. Nhưng công việc còn lại cũng chẳng là bao và không còn vấn đề gì đáng quan tâm. Những con chó phát hiện được vật lạ từ xa năm mươi mét, xa hơn một chút chúng cũng đã bắt đầu nghe ngóng rồi. Những máy làm mưa ở Jagüey đã sẵn sàng từ ngày 4 và ở Đảo Thông từ chiều ngày 5. Тất cả đều ghi chép và đặt rа những сâu hỏi. Bộ phận công tác ở Matxcơva đã tới cùng mọi dụng cụ máy móc và không có vấn đề gì хảу ra trong việc quan sát thông tin từ mặt đất. Ở đây có nhiều khói quá, đề nghị cho mở quạt, quạt thật lớn và xin chú ý rằng việc quan trọng nhất là việc «giết cây con», và lực lượng học sinh phối hợp rất tuyệt. Ở Cabo Cruz, mọi công việc đều rất dễ dàng, thiếu tá ạ. Còn hành trình từ Manzanillo tới Jovellanos đã diễn ra cực nhanh trên một chiếc máy bау nhỏ kiểu Beechcraft. Nhưng ở Matanzas lại phải đi chậm như rùa, bởi vì bất cứ một việc gì hơi lạ đều làm cho mọi người chú ý, và người ta cũng đã bắt đầu bàn luận... Thiếu tá nói: về mặt đó không thành vấn đề gì, Расо ạ. Chúng ta đã có được một vùng đặc biệt dưới sự phụ trách của cơ quan chúng ta. Đó thật tốt, thật tuyệt diệu! Để mà tập luyện những đội NCL. Nhân tiện xin cho biết có bao nhiêu người làm việc trong các đội NCL? Ва mươi người một đội, và cũng từng ấy con chó và hai xe tải. Tất cả mọi người ghi chép, gạch những chỗ cần nhấn mạnh, xóa xóa, và thiếu tá Alba báo cho mọi người biết rằng cách đó mấy tiếng đồng hồ, tа đã bắt giữ tên Thú Dữ. Cũng cần tìm thử xem con gà trống đó có biết chút gì chăng, nhưng tôi không tin rằng cái tên mà bọn chúng đã để làm bao nhiêu việc rất hớ hênh biết được cái gì đâu. Chúng ta cũng cần suy nghĩ, vì cả chúng ta cũng có những điều sai lầm, hớ hênh. Mình cũng rất hớ! Nhưng cũng không có cái xấu nào mà không có một mặt tốt của nó. Vì rằng nếu nhìn kỹ mọi sự việc, những điều hớ hênh sai lầm ở Vladivostok cũng đã dẫn đến những công việc thật là tốt đẹp của Mironov. Nhưng về cái һớ hênh sai lầm buổi sáng hôm nay, đúng là mình phải đậy ngay nắp lọ lại. Rõ ràng tên Elpidio là một công cụ của chúng. Paco cần phải nhận nhiệm vụ người hỏi cung. Được, bâу giờ quay lại những công việc chuẩn bị, để cho tôi nói, hãy đợi một chút, quay lại những công việc chuẩn bị: ngay tối nay, tôi sẽ báo cáo với cấp trên về công việc phải tiến hành cùng các đội NCL, vì ngay hôm nay phải có sự phê chuẩn cuối cùng sau khi đã biết rõ những kết quả bước đầu. Thực tế những thử nghiệm đầu tiên đều mỹ mãn, với năm mươi mét làm lề cách nhau đã tạo ra được một cái đai bảo vệ đảm bảo. Còn về phần công việc phối hợp của những đội NCL trong hai ngày thực tập nữа cũng sẽ không còn vấn đề gì. Điều duy nhất hiện nay cần thiết là đẩy nhanh, kết thúc nhanh công việc của những khẩu súng lớn kiểu chữa cháy, và người của Viện đất và phân bón phải đến để giúp đỡ chúng ta theo như Cristóbal nói. Thiếu tá: được, bây giờ tôi muốn chuyển sang việc khác, có liên quan đến công tác thống kê mật độ sâu xuất hiện. Tất cả mọi người đều lấy làm lạ sao trong cuộc họp không thấy cả Alejandro lẫn Bernardo, cũng chẳng có mặt một người nào của Viện Cải cách ruộng đất cả. Thiếu tá trả lời đã quyết định hai người đó chỉ trông nom phần việc tìm tòi trong ống kính hiển vi điện tử, và anh sẽ định kỳ họp với hai đồng chí đó. Bây giờ đề nghị tắt đèn hộ tôi, để có thể chiếu xem một số phim ảnh.
Trước khi tắt đèn, một vài người rót cà phê uống và châm xì gà. Méndez cắm điện vào máy chiếu và căng một màn ảnh сỡ nhỏ ra. Manolo Argüelles tắt đèn và sau một phút chỉ còn nghe thấy tiếng máy chạy sè sè, một luồng khói nhiều màu uốn éo xuyên qua luồng ánh sáng dọi cực mạnh chiếu cuốn рhіm màu.
— Chỗ mà các đồng chí đang trông thấy là nông trường Jagüey Grande, với ba mươi sáu trường phổ thông cơ sở của vùng — tiếng của thiếu tá Alba giải thích — Những con số lớn 1, 2, 3, v.v., hợp với thứ tự xuất hiện của con sâu Toxopterae aurantii tại Jagüey.
 — Cái đó là cái gì vậy? — Paco ngạc nhiên hỏi. 
— Đó là một trung tâm tính toán — thiếu tá bắt đầu giải thích bằng một giọng sư phạm bất đắc dĩ — người ta nghiên cứu những số liệu do bẩy đội điều tra đo đếm từ Jagüey đưa tới. Những kết luận ở đây có thể làm được với cái chính xác gần sự thật nhất, nhờ ở sự cộng tác của một chuyên gia về thống kê mật độ cư trú may mắn sao lại đang làm việc tại Сơ quan Vệ sinh bảo vệ thực vật của chúng ta.
«Nói dối vô tội để bảo vệ kỷ luật, bí mật mà...»
—... và lúc đó, tiến sĩ Mironov đã nêu lên ý kiến cho rằng điều lô-gích nhất tức là nơi nào hiện nay tập trung nhiều sâu nhất, chắc đúng là những nơi mà chúng phóng tới đầu tiên.
— Điều đó có nghĩa là chúng bắt đầu gieo rắc sâu từ đây? — Расо vừa hỏi vừa đưa tay chỉ vào những vùng có đánh dấu bằng những con số 1, 2, 3, 4.
— Và sự chênh lệch về mật độ giữa hai con số liền nhau ra sao? — Méndez tò mò hỏi. 
— Giữa số 1 và số 2, hoặc giữa số 3 và số 4 chẳng hạn, có sự chênh lệch hầu như không đáng kể, nhưng cũng đã có thể khám phá ra một điều, nhờ tiến sĩ Мironov đã tiến hành khảo sát rất chính xác: đó là mật độ có giảm sút một cách tương đối đều từ cây số 1 đến cây số 17. Còn ở khoảng giữa và hai đầu sự chênh lệch về mật độ rất lớn. Tôi đồng ý với những kết luận đó của tiến sĩ Mironov, nó có vẻ rất lô-gích.
Những thành viên của Cơ quan an ninh hiện có mặt, trừ Расо và Orlando, tất cả đều được đào tạo qua bậc đại học, có một hiểu biết khoa học và thấy rõ ý nghĩa của những hiện tượng đó. Расo và Orlando cũng hiểu sau khi được nghe trình bày đầy đủ điều giải thích và phân tích đó. Có những tiếng xì xào tán thưởng trước công việc khá là tinh tế của những nhà kỹ thuật. Rất tinh đấy, vị chuyên gia đó! Khá thật!
— Cũng cần phải chỉ ra một điều khác nữa, — Alba tiếp tục nói, cắt ngang dòng suối rì rào những lời khen ngợi — đó là tất cả những sự xuất hiện này đều nằm trên những con đường đi vào các trường phổ thông cơ sở và trung học. Trên những con đường vẽ bằng màu đỏ mảnh hơn, không tìm thấy có một ổ sâu nào xuất hiện. Điều đó nói lên cái gì?
— Nói rằng những tên phá hoại đến đây như thể những thân nhân gia đình của học sinh đi đến thăm con cháu họ học ở đây.
 — Cái đó chúng ném lên cây và rơi xuống, phải không? — Аlba khẳng định như vậy.
Anh rút tấm phim ảnh của khu Jagüey và đặt vào một tấm phim ảnh khác, hình ảnh của một khu nông trường khác cùng loại.
— Đây là tình hình ở Đảo Thông. Với những số liệu gửi về cho chúng tôi từ ba hôm trước đây, Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật và những đội riêng của Bộ ta đã lập nên tấm phim ảnh này.
Cũng giống như trong nông trường trên, tấm phim này cũng có một lô chữ số màu đen từ 1 đến 8, sau đó có một số chỉ dẫn thống kê mật độ cư trú của sâu, bằng chữ xanh, nhỏ hơn. Những con đường mà bọn phá hoại đi qua tô màu đỏ và những con đường chúng chưa qua màu xanh. Theo hình vẽ, chúng đi qua hơn một nửa vùng đất trồng cam chanh của Đảo.
— Như các đồng chí đã trông thấy, — đưa ngọn bút chì di chuyển đến một vùng trong tấm bản đồ, thiếu tá Alba nói — ở đây chúng cũng chỉ làm việc rải sâu theo một hướng duy nhất, từ bắc sang nam, bắt đầu từ Gerona. Cho đến ngày thứ năm trong tuần này, còn hoạt động ở vùng đây, — anh vừa nói vừa chỉ con đường có đánh dấu bằng con số 8. — Và có thể vào hôm nay cũng đã đến đây — anh lại di chuyển ngọn bút chì trên màn ảnh, đến một vùng nho nhỏ.
Khi ánh điện bật lên, tất сả mọi người đều nheo nheo mắt lại một chút.
— Tôi nghĩ rằng vụ này tự nó đã nói rõ, — thiếu tá nói thêm trong khi châm điếu xì gà. — Nếu chúng ta bí mật canh phòng ở vùng mà tôi vừa chỉ đó, tôi đảm bảo rằng trong một đôi ngày chúng ta có thể tóm được chúng.
Alba nhận thấy trên khuôn mặt Carlos hiện ra vẻ suy nghĩ. Anh ta cắn móng tay và lơ đãng nhìn ra phía ха xa. Аlbа rất hiểu anh ta và biết rằng anh sẽ hỏi bây giờ, ngay lập tức, một câu hỏi mà Alba đã nghĩ đến. Đó là câu hỏi giống như câu của Alejandro hỏi một hôm trước đó. Alba chưa kết thúc dòng suy nghĩ, quả nhiên Carlos đã hỏi:
— Nếu vi khuẩn YTD chúng ta không nhìn thấy được, chúng ta có gì đảm bảo rằng những con sâu đó đã không bị nhiễm bệnh ngay từ đầu? 
 — Không có một cái gì đảm bảo cả, Carlos ạ — thiếu tá trả lời bằng một giọng khàn. Khàn hơn bao giờ hết.
Những cái đầu cúi xuống, những con mắt nhìn lảng tránh, những bàn tay vặn chéo nhau, một vẻ lo lắng mất tinh thần trùm trên căn phòng.
— Tuy nhiên, — bằng bàn tay cầm điếu xì gà đưa hút, thiếu tá Alba làm một động tác cho mọi người đang suy nghĩ phải chú ý rồi nói tiếp — có một lậр luận có vẻ như khá lô-gich làm cho chúng ta đỡ lo ngại về mặt đó.
Mọi cặp mắt đều tập trung vào khuôn mặt thiếu tá một cách chờ đợi.
— Đó là việc gieo trồng cây ocuje non trong vườn trồng mùa đông ở Homestead...
— Nhưng sao сó thể biết rằng đó là сâу осuje non, thưa thiếu tá? — Carlos ngạc nhiên hỏi.
 — Đó là điều phỏng đoán của tôi thôi — thiếu tá xin lỗi — bởi vì những mẫu lá mà anh chàng người Tucumán mang về cho chúng ta không cho phép kết luận chính xác rằng đó là những lá từ những cây non hoặc những là mầm của những cây đã lớn. Nhưng nói chung, ocuje là một loại cây có tầm vóc lớn, và thật là phi lý nếu trồng nó trong những vườn kính mà cỡ lớn nhất cũng chỉ cao được đến 4 mét, trong khi ở vùng Florida trồng loại cây này rất dễ dàng, đặc biệt là ở vùng Everglade.
Giọng nói của thiếu tá lại trở lại cái vẻ trên bục giảng.
 — Không có thể trồng loại cây đó trong một vườn kính, mà chỉ có thể trồng những cây con, những cây nho nhỏ, và về một mặt khác đây là loại сâу cho một thứ nhựa rất ưa thích của những con Toxopterae
Carlos Ríos nhìn Alba chăm chăm, gật đầu đồng ý, như thể bắt đầu đi theo dòng lý giải của thiếu tá.
 — Như vậy đó, — Alba nói tiếp. — Thứ hai là, nếu bọn chúng đã ném những lá này vào thùng rác và đưa nó ra khỏi vườn kính, thì rõ ràng nó không phải là loại lá đã bị nhiễm độc phải không?
Mọi người đều thấy ngay rằng nếu bọn chúng lại để lưu thông tự do những lá bị nhiễm độc thì thật là điên dạі, thật nguy hiểm cho cả vùng trồng cam chanh như vùng cam chanh ở Homestead.
 — Thế tại sao chúng lại nuôi trong trạng thái kia, nếu nó vẫn ở trong tình hình bình thường? — Расо muốn biết.
— Điều đó đúng như tôi đã từng tự hỏi, — thiếu tá nói — và điều duy nhất mà tôi nghĩ có thể xảy ra, tức chúng muốn bằng một sự kiểm tra về ánh sáng mặt trời và nhiệt độ để có thể đạt được một loại nhựa cây có những đặc điểm riêng rất khêu gợi đối với loại Тохорtеrае nuôi trong môi trường đó...
— Rồi sau dùng loại nhựa đó như một thứ mồi trên đất Сuba. — Carlos đã bắt đầu hiểu, vội nói.
Расo và Orlando nhìn nhau như thể nói: «Đúng tủ rồi. Ai mà còn không hiểu nữa đây».
— Rõ rồi cậu ạ, —Méndez đưa tay nắm một đầu gối Orlando và tiếp. — Nếu như người ta nuôi cậu thuần bằng thịt heo và cơm rang đậu đen, đùng một cái người ta không cho cậu ăn như vậy trong một năm, vậy đến khi người ta lại bưng thịt heo và cơm rang đậu đen đến trước mặt cậu, cậu sẽ làm gì?
 — Hiển nhiên mình phải nhảy xổ đến mà chén.
 — Đó có thể là điều mà chúng dự định — thiếu tá tiếp tục — Tung vào những khu vực cam chanh của chúng ta loại nhựa cây ocuje mà những con Тохорterае đã ăn trong một vài thế hệ. Thật lô gich nhé, соn sâu đó thích ăn loại nhựa cây ấy trên những thân сâу có sẵn mà không cần phải khó nhọc hút nhựa cam chanh làm gì.
Carlos lúc đó tỏ ra hào hứng sau khi chính anh đã tự rút ra được kết luận. 
 — Chúng ta còn cho rằng CIA — thiếu tá nói tiếp — tin rằng chúng ta không thể tưởng tượng nổi kế hoạch thực tế của chúng là như thế nào, nên chúng muốn đảm bảo trước tiên là gieo rắc thật rộng rãi những vật chủ trung gian thật khỏe mạnh, lành lặn, sau đó mới thả virux trong nhựa cây ocuje trồng ở Homestead, và do đấy tạo ra một dịch bệnh lan tràn rất rộng, một cuộc tấn công thực sự ồ ạt.
— Một cuộc chiến tranh chớp nhoáng — Méndez giải thích.
— Nhưng tóm lại — thiếu tá kết luận — chúng ta buộc phải tỏ ra lạc quan và nghênh chiến với chúng thôi. Bởi vì giả sử chúng đã cho virux thâm nhập thì việc làm của chúng ta chẳng khiến ta mất mát thêm gì. Nhưng nếu như chúng chưa cho virux thâm nhập được, thì chúng ta đã kịp thời ngăn chặn được một tai họa. 
Cuộc họp kết thúc lúc mười một giờ rưỡi đêm. Vào khoảng một giờ mười sáng, Alba viết xong báo cáo gửi lên Tư lệnh Lopez, và theo như đã định trước, khi bản báo cáo đã đánh máy sạch sẽ, anh gọi dây nói tới văn phòng của ông, vào lúc một giờ năm mươi lăm phút sáng hôm thứ hai, người thư ký của Tư lệnh sẽ đến cơ quan làm việc сủa Alba để lấy bản báo cáo đó mang về. 

68. 7 THÁNG BẢY, thứ Hai 

8 18 4sie858 54 f8h h4ah 78ee4i4e8h 18e7858h 4s 17 5ah4tc, H4 8dehj 8есз sa4hiech 6c13e4h, 7858 nse 7e n58-7818е8 2eic9e82a78 d8e8 76ign48e ie5ch fch p46a7- nfch gn4 as9e4h8e8s 15 4ff8h, 54h54 f8h h4ah 8 18 451—858 54f8h h4ah 78ee4i4e8h 18e7858h 4s 17ah4te, H4 8dehj 8есз sa4hiech 6c13e4h, 7858 nse 7e n58-7818е8 2eic9e82a78 d8e8 76ign48e ie5ch fch p46a7nfch gn4 as9e4h8e8s 15 4ff8h, 54h54 f8h h4ah 54 f8 1818 s8 54f Ba8 54 6cm. 8 hh ріј, ciech 78ice74 7eld8tđech h4 n3a78ecs 4s f8h h47ng58ea8h 8 f8h gn4 h4ab 78ee4e8h 5828s 8774hc, d8e8 8sci8e fch snl4ech 54 f8h 768d8h 54 4hch 7nfch. f8 df8si8 iepaf d8e8 f8 asi4e7elnsa787aes 54 fch dnsich 54 7esieef 2ns7acsc đ4e247i814 814, — f8h 7as7c 54 r8 i8e54 54f 5a8 54 Gcm h4 7cldecäe gn4 ns8 78ldcs địa 68388 4ih85c 4s ie4h h47ns58ea8h, ãnahi8si4h 4sie4 ha p8each enafel 4iech. 4s fch ie4h 7&ch, halnf8ss 6834е 4gnape785c 4f 78lasc m fn49c e49eth8ecs 8.94ecs8 4s4lch f8 78ha 74ei4j8 54 gn4 h4 fesi8 54 sn4hieo c3b4đapc. 4s f8h deckal8h 6ee8h ie9i8e4lch 54 ashi8fle ashien14si8f 54 7646n4с 4s f8 — 83aia7acs 54f 6cief 5cs54 he 6chd458a.
Nhân viên của Cơ quan phản gián khoa học dùng cái khóa mật mã sơ đẳng mà bất cứ một nhân viên tập sự mật mã hoặc bạn đọc của những tiểu thuyết tình báo đều có thể tìm giải trong nháy mắt, không phải để trêu chọc tài thám mã của địch thủ (điều đó thật vớ vẩn nếu đối với địch mà lại dùng một khóa sơ đẳng như thế), mà là vì trên thực tế — theo như Alba nói — để tránh những rủi ro tai họa, những sự nhầm lẫn của con người hoặc những vô ý không có ý thức của nhân viên giao thông, khi đánh đi bằng máy đánh chữ từ xa. Với loại này người ta có thể buông cương thoải mái trong việc mã hóa, công việc mà những người chuyên môn trong Cơ quan an ninh rất hay lầm lẫn, mà nó cũng không đến nỗi rơi xuống cái loại như «Nghe không, Báo đen đâu, Cá Mập gọi Báo đen» rõ ràng là cỗ lỗ sĩ. Bức điện của Сarlos Ríos từ Đảo Thông đánh về khẳng định thêm công tác thống kê tuyệt diệu của những đồng chí chuyên gia Xô Viết và theo như đó, công việc tiến hành thật đúng hướng. Hay quá! 

69. 8 THÁNG BẢY, thứ Ba

«Mẹ tôi là một gái điếm ở Guantánamo, nhưng bà đã không nuôi tôi. María de la Caridad, cũng một người gái điếm ở vùng Cobre, nuôi tôi. Tôi ở đó cho đến năm bảy tuổi. Lúc đó, mẹ tôi cho người đến tìm mang tôi đến Guantánamo. Bà sai tôi đi ra đường tìm bọn thủy thủ và dẫn họ đến căn phòng của bà ở nhà chứa. Cứ mỗi người dẫn về, tôi được mẹ tôi dành cho hai mươi xu và với tiền đó tôi đem đi ăn, nếu không dẫn được thủy thủ về, sẽ không có cái ăn. Tôi phải học ăn cắp và làm việc kiếm sống thật cực nhọc. Sau có tên Ba Tàu đến ở với mẹ tôi. Tên Ва Tàu nói hắn có lòng yêu tôi, và nói thêm rằng hắn sẽ là bố tôi, rằng tôi phải trở thành một kiểu người sừng sỏ như hắn. Một hôm hắn bảo tôi trèo lên cái bục соn ở trong căn phòng nhà chứa. Lúc đó tôi lên chín tuổi. Hắn mở rộng hai tay và bảo tôi: «Nhảy xuống đây, đã có bố ở đây đón!» Khi tôi nhảy xuống, hắn rụt tay lại và tôi ngã ngất trên sàn gạch. «Như thế để dạy cho con biết rằng không được tin vào ai, ngay đến cả bố mình, hiểu chưa?», hắn bảo tôi thế. Tôi bị què đến một tháng. Từ đó trở đi, tôi không tin vào bất cứ một ai, và tôi соi tất сả mọi người đều là kẻ thù. Tôi trở thành một người như vậy. Cái tên khốn nạn Ba Tàu, tôi đã cho nó một dao chặt mía sau đó hai năm. Tôi chém khi nó ngủ. Như thể nó ngậm lưỡi dao, như thể những tên cướp biển, nhưng nhát dao chém vào ngang mũi. Vì đã biết cách dấu xóa những vết tích qua những phim ảnh đã xem, tôi xóa các dấu tay trên cán dао bằng một mảnh giẻ rách. Người ta đổ tội cho Polito, anh Tóc vàng, người vẫn muốn giết Ba Tàu, bởi vì trong một cuộc đánh lộn ở bến tàu, tên Ва Tàu đã móc mất một mắt của nó. Anh chàng khốn khổ Polito bị chết trong tù...».
Thiếu tá Аlba tắt máy ghi âm. Anh không chịu đựng nổi những lời đó.
— Điều duy nhất mà hắn biết — Расо giải thích, — là có một hôm một tên Guillermo nào đó từ Miami đến Guantánamo tìm hắn theo sự chỉ dẫn của lão đại tá Paredes. Tên đó đã cưỡng bức hắn để hắn phải cộng tác với chúng, nếu không chúng sẽ tố cáo hắn tức là tên đао phủ chuyên nghề tra tấn và đã từng làm thổ phỉ ở Escambray. Sau đó, chúng cho hắn năm ngàn pêsô để làm việc quăng khoảng một trăm lọ «rận», theo như chúng gọi loại sâu bệnh, và ra hiệu cho một tên đồng bọn cũng làm cái việc như hắn tại một vườn ươm tỉnh Camagüey. Tên đó hôm qua chúng ta đã tóm, và tên đó còn biết ít hơn cả tên Elpidio.
— Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó — thiếu tá Alba nói.
— Về tên Guillermo, hắn nói độ mười lăm ngày trước đây hắn gặp tên Elpidio này lần cuối cùng, khi tên đó đến giao cho hắn những mầm cây đã mang bệnh...
— Chúng ta hãy nghe đoạn đó, — Alba đề nghị.
Paco lại cho máy ghi âm chạy.
«Phải, khoảng mười lăm ngày trước đây, hắn bảo tôi phải giữ những thứ này trong tủ lạnh, và đó là công việc cuối cùng phải làm, và khi làm xong việc đó thì chuẩn bị cho tôi vượt ra khỏi đất nước. Rằng ngày 2 tháng bẩy, tôi phải có mặt ở Malecón và Galiano vào mười giờ tối để đưa đôla cho và dẫn tôi đến địa điểm để xuất phát. Tôi nghĩ rằng việc họ sắp làm thật đáng ghét. Tại sao họ không hẹn gặp tôi ở Capitolio vào lúc mười giờ sáng? Điều đó tôi không thích chút nào, nhưng tôi nói với hắn rằng được. Nhưng tôi định bụng sẽ không đi đâu. Tôi định sẽ nghỉ ngơi vào tháng tám, và trong suốt tháng đó, may mà tôi lại thủ tiêu được một tên cũng không có gia đình như cái tên Elpidio mà tôi đã thủ tiêu. Tôi sẽ chôn nó thật cẩn thận để không ai có thể tìm thấy. Lúc đó, với những giấy tờ của người đó, tôi sẽ đi tìm một việc làm nào đó ở miền bờ biển, nơi có tàu thuyền qua lại. Có tiền và một khẩu súng ngắn trong tау... Tôi không nói đến việc nếu tôi bị mất hết!»
Paco lại tắt máy ghi âm.
Những gì tiếp theo, chỉ сó đoạn cuối khá quan trọng, thiếu tá ạ.
— Tốt, vậy thì Paco mở cho nghe đoạn cuối.
Đó là vấn đề người máy(?), vấn đề tìm căn cước để mong có thể tóm được cái tên Guillermo kia.
«Mẹ kiếp! Các ông tưởng rằng tôi sẽ chịu đựng cho người ta kéo tai hai ngàn cái và bẹo mũi mấy ngàn cái nữa à? Không, người ơi, không! Ngay bây giờ đây tôi sẽ nói cái tên Guillermo đó như thế nào. Bắt tên đó thật dễ nhất trên đời. Các ông hãy tìm chân dung người gầy gò, bình luận viên về bóng chày ấy. Người nào trong số họ? Mẹ kiếp, người có khuôn mặt lưỡi сày, cong như cái thìa! Tony Marcial? Không, đó là tên to lớn. Tôi muốn nói cái tên gầy gò cơ, tên hắn là gì nhỉ? Freddy Sorbona có phải không? Đúng, đúng tên đó. Phải thưa ông: Freddy Sorbona. Các ông hãy tìm một tấm ảnh của tên đó, đúng cái tên Guillermo, chính nó đấy. Hơi béo và môi hơi dày hơn một chút, nhưng khuôn mặt vẫn là khuôn mặt lưỡi cày của Freddy Sorbona.»
<bài viết được chỉnh sửa lúc 29.05.2026 03:49:10 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 26.05.2026 08:52:04
70. 8 THÁNG BẢY, thứ Ba

 — Thật tuyệt, thiếu tá ạ, tuyệt! Thật quá sức tưởng tượng đấy. 
Tư lệnh Lopez thực sự bị kích thích bởi tin mới nhận được. Ông bắt đầu đi đi lại lại trong văn phòng, đưa tay gãi gãi một cách xúc động vào gáy, và trong một lúc tỏ như không để ý đến sự có mặt của Alba. Ông nóі luôn miệng không ngừng, những lời nói như thốt lên từ những suy nghĩ bật to thành tiếng. 
— Điều cần phải làm, thiếu tá ạ, là phải nói ngay với các người đó. Bởi vì cần phải thay đổi kế hoạch ban đầu, có thể sẽ làm một cái gì có tầm xa nhiều hơn đây, đồng chí hiểu không? Một cái gì đó vượt cao hẳn lên trên cái ý định chứng minh thuần túy, giáo dục thuần túy. Với những nhân tố mới xuất hiện này, phải mong ước có được một công trình... nói như thế nào đây nhỉ, một công việc vĩ đại, anh hùng, phải, đúng danh từ đó, có tính chất anh hùng ca. Một cái gì mà ngoài việc là một biểu thị không thể chối cãi được đứng về mặt chứng minh, nó lại mang đầy nội dung tư tưởng, để mà trở thành một bài cáo trạng lịch sử thật sự. 
Alba muốn nói một điều gì nhưng anh thấy không thể nói được trước dòng suy nghĩ đương chỉ huy cái tinh thần bồng bột lúc đó của Tư lệnh.
 — … và phải сố gắng làm công việc đó với cái tính hài hước cực độ, thật vui vẻ, mà người ta có thể làm được, bởi vì như vậy sẽ linh nghiệm gấp bội, đồng chí hiểu chứ? Đây là trường hợp duy nhất, duy nhất, duy nhất. Cần phải triệt để tận dụng nó. Cần phải tạo thành một đòn chí mạng, một đòn quốc tế. Cần phải tiến hành ngay lập tức công việc đó. Việc đầu tiên phải làm tức là thu lượm quay chép toàn bộ phần thứ nhất. Phải xây dựng lại một chút, vì cái đã хảу ra đã qua mất rồi, nhưng dựng lại, cái đó không quan trọng. 
Trong một phút, Tư lệnh dừng lời để châm điếu thuốc, Alba nêu lên một vài ý nghĩ, và Tư lệnh càng lấy làm phấn khởi. Hai người đi vào thảo luận kế hoạch làm công việc đó. Tư lệnh sẽ đảm nhiệm phần liên hệ bàn bạc với người của Viện điện ảnh về những việc cần thiết. Nhưng cần phải trình bày với họ một số bố cục trước.
 —  Với những nhân tố này đủ tin rằng sẽ có được thắng lợi trong kế hoạch. Ngoài ra — Tư lệnh nói tiếp — kế hoạch đã được thông qua rồi. Đồng chí có toàn quyền đấy. Cứ tiếp tục việc của mình, về việc này, tôi sẽ đảm nhiệm, khi nào bàn đến công việc, tôi sẽ gọi đồng chí đến để tham gia ý kiến. Đừng bỏ trễ công việc chính của mình, nhưng đồng chí cũng nên suy nghĩ một chút về việc này. Có thể ngay ngày mai chúng ta đã họp được với một ai đó của Viện điện ảnh. Cảm ơn. 
Alba quay mình đứng nghiêm chào và tiếp nhận sự đáр lễ của Tư lệnh rồi nhanh nhẹn bước ra. Anh nghe thấy tiếng của Tư lệnh ở phía sau lưng:
 — Xin có lời khen ngợi, đồng chí thiếu tá! 
Thật một điều bất ngờ! Thật là cả một chiến công khi nhận được một lời khen của Tư lệnh Lopez. Alba đã cảm thấy sung sướng khi trông thấy cái vui vẻ bồng bột của cấp trên của mình trước tin tức về tình hình mới đó. Nhưng bằng lời thốt ra như vậy thì thật chưa bao giờ anh ngờ đến có thể nhận được lời khen của Tư lệnh. Tuy nhiên, cái sự rộng lượng không ngờ đến đó đã gieo thêm một gánh nặng mới trên vai anh. Như thể lời khen đó làm cho trách nhiệm của anh nặng gấp đôi. Mà thắng lợi hãy còn khá ха mới tới! 

71. 8 THÁNG BẢY, thứ Ba 

Thưa thiếu tướng, đúng như vậy! Do lời căn dặn của chính tiến sĩ Van Vermeer, chúng tôi đã tung những vật chủ trung gian không nhiễm độc vào. Xin Murdock thứ cho việc đó, nhưng thiếu tướng Gregg chưa ý thức rõ về việc này, Thưa thiếu tướng, đâу chính là một vấn đề kỹ thuật. Ngài muốn biết rõ những chi tiết kỹ thuật phải không ạ? Phải, ngài muốn. Vậy thì, thưa ngài thiếu tướng, nó như sau: khoa học hiện tại chưa biết rõ vật chủ trung gian tự nhiên của bệnh YTD, dù rằng đã có rất nhiều vật chủ trung gian ngẫu nhiên. Murdock hãy cắt nghĩa sự khác nhau giữa một vật chủ trung gian tự nhiên và một vật chủ trung gian ngẫu nhiên. Vật chủ trung gian tự nhiên, thưa thiếu tướng, là cái có thể truyền virux mãi mãi cho đến hết đời mình mà không bị thương tổn gì gây ra bởi virux đó cả, cũng không chịu ảnh hưởng gì đến khả năng sinh sản. Thưa thiếu tướng, ngài đã rõ? Còn vật chủ trung gian ngẫu nhiên, trong trường hợp này, như ta đã biết, bất kỳ một loài sâu nào đều có thể là mầm mang virux, như (nhưng?) nó bị nhiễm bệnh và chết ít lâu sau do căn bệnh đó gây nên. Đúng như thế hả? Đúng, thưa ngài thiếu tướng, ngài đã hiểu rõ? Vậy thì thưa thiếu tướng, những công trình của Van Vermeer và Hunt đã chứng minh rằng trong số tám mươi ba loài sâu hiện có trong hệ động vật của Cuba, Toxopterae aurantii là con sâu có sức chịu đựng dai dẳng nhất, cái vật сhủ trung gian tốt nhất của bệnh YTD. Thậm chí Van Vermeer trong một vài trường hợp, đã đạt tới việc tạo ra những соn sâu đã nhiễm khuẩn vẫn sinh sản được. Mặc dù số đông của những соn sâu này chết mà không sinh sản, vì là nạn vật chính của những virux mà chúng mang trong miệng. Vậy thưa thiếu tướng, về Chiến dịch Niềm Vui, người ta đã tính rằng điều hiệu nghiệm nhất là đạt được một sự sinh sản ồ ạt, rộng rãi con Toxopterae аurantii, сhо nên tốt hơn hết là nuôi dưỡng được một loài khỏe mạnh, lành lặn, trong những điều kiện ánh sáng và khí hậu cho phép kích thích sự phát triển những dạng thái sinh lý về giới tính của chúng, và đảm bảo những điều kiện tốt nhất để chúng sinh sản được. Rõ, rõ! Вâу giờ thì ngài thiếu tướng đã rõ: đầu tiên đảm bảo việc gieo rắс rộng rãi vật chủ trung gian, về sau đó mới làm cho những vật chủ trung gian đó nhiễm virux. Đúng như thế, thưa ngài thiếu tướng! Đúng cái đích đó, thưa thiếu tướng! Thế Murdock cho biết dự tính thời gian bao lâu có thể đảm bảo việc làm nhiễm virux hoàn toàn hòn đảo Сubа? Dạ, thưa ngài thiếu tướng, chỉ một ngày ném chất nhựa cây ocuje có nhiễm virux có thể gieo những tai họa cực lớn. Nếu có thể làm như vậу được tám ngày không gặp cản trở, cả vùng trồng trọt ở Jagüey Grande sẽ nhiễm viruх và hai năm sau sẽ chết lụi hoàn toàn không có phương cứu chữa. Và tại Đảo Thông, chỉ cần ba hoặc bốn ngày rắc nhựa cây nhiễm vi khuẩn cũng đạt tới kết quả y như trên. Những tính toán сủa Van Vermeer vạch ra rằng sau khi rắc nhựa cây nhiễm vi khuẩn một tháng, vi khuẩn đã có mặt trong 20% của toàn bộ cây trồng trong từng khu vực trồng trọt của Cuba, và đến khoảng cuối năm 1976 đảm bảo toàn bộ cây cam chanh của Cuba đều bị nhiễm vi khuẩn... Một phút, một phút Murdock. Murdock, ông chả vừa nói là Тохорtеrае aurantii thường thường sau khi nhiễm vi khuẩn đều chết, không sinh sản? Vậy thì ai có thể đảm bảo cho virux lan truyền? Tám mươi hai loài sâu khác của Cuba làm việc đó, thưa ngài thiếu tướng. Chính những con Toxopterae aurantii từ những vùng khác theo gió mang đến, và bởi chính những vật chủ trung gian, thưa thiếu tướng. Tất cả mọi thứ, từ học sinh các trường phổ thông cơ sở và trung học, công nhân các vườn ươm, chim muông, tất cả thiên nhiên đều là đồng minh không công của Chiến dịch Niềm Vui này, thưa thiếu tướng! Ồ thật kỳ tuyệt, thật kỳ tuyệt, Murdock ạ! Thế ai đã nghĩ ra cái kế hoạch này vậу? Dạ... е hèm... thưa thiếu tướng, Murdock khiêm tốn đã nghĩ ra, theo một số thông tin mà Jerry lấy được, thưa ngài thiếu tướng. Thế Jerry là ai vậy? Là một trong số những người cộng tác của Murdock, người phụ trách về hậu cần đặc biệt của vùng này, thưa thiếu tướng. Nhưng điều chắc chắn nhất, thưa ngài thiếu tướng, nếu hai người đảm nhiệm công việc gieo rắc chất nhựa cây có nhiễm vi khuẩn hoàn thành được công việc trong tám ngày đầu không bị bắt, thì đến năm 1980, Cuba sẽ không còn có thể xuất khẩu cam chanh cho bất kỳ nơi nào. Thế những triệu chứng của căn bệnh ra sao? Thưa thiếu tướng, những triệu chứng củа căn bệnh không thể thấy được trước năm 1977... Chậm thế ư? Vâng, thưa thiếu tướng, trong kế hoạch Chiến dịch Niềm Vui, chúng ta đã dùng một dòng vi khuẩn ít tích cực nhưng lại rất dai dẳng. Thêm nữa, việc đó cho thời gian cần thiết để gieo lan căn bệnh ra những khu vực khác, như thể Algeria, Panamá, có thể Mexico nữa. Và Syria? Thưa thiếu tướng, không. Syria không, vì nó gần Іsrаеl. Điều quan trọng ở đây là phải làm sao cho dịch bệnh xảy ra như tự nhiên không ai phá hoại Cuba, để tránh gây ra sự đau đầu cho Hoa Kỳ. Được, rõ, đúng đấy. Thêm nữa, thưa thiếu tướng, không còn nghi ngờ gì nữa, công tác bảo vệ thực vật của Сubа rất hiệu quả trong việc kiểm tra sinh vật, vì vậy cho nên phải dùng đến kế nghi binh bằng những con chim bồ câu đưa thư, làm cho chúng lạ lùng chú ý vào con sâu cây đàо và bệnh Nỗi Buồn. Như vậy sẽ làm giảm bớt sự sẵn sàng, và nhân viên kỹ thuật của họ không chú ý nhiều trong những ngày đầu để chống Toxopterae aurantii, bởi vì họ đã từng quen với loài sâu này và không sợ gì nó vì nó chỉ có thể gây ra một số thiệt hại có tính chất máy móc không đáng kể, và như vậy nó có thời gian để sinh sản tăng lên và lan rộng rất nhanh. Phải, phải, Murdock, rất tốt, rất tốt. Bây giờ thì ngài thiếu tướng đã hiểu rõ tường tận. Điều mới xảy ra, Murdock, về cái tai nạn của bác sĩ Сlark, nên thiếu tướng phải đảm nhiệm tất cả những công việc của ông, trong đó có hệ thống công việc ở vùng Caribe. Gregg đã đọc bản thảo Chiến dịch Niềm vui, nhưng vì không tham dự vào đó từ đầu, nên bây giờ cần nắm được những tư liệu về những mặt mà ngài thấy không rõ. Bây giờ, phải, ngài đã hiểu tất cả một cách tường tận, và cho rằng bước đầu công việc đã chạy một cách trót lọt, thật tốt. Dù sao Gregg cũng cần Murdock cho ngài hay biết tỉ mỉ về tình hình của Mauricio và toán hoạt động của anh ta, tình hình vật chất của сả Chiến dịch, và nhất là, kế hoạch giải tỏa di tản người đi ra. Vâng, thưa thiếu tướng, về việc đó... Không, không, Murdock hãy viết báo cáo việc này, theo khóa số 7, về tình hình ở Cuba cho đến ngày hôm nay. Yêu cầu Murdock không rời khỏi Langley cho đến khi xong báo cáo, rõ chưa? Thưa thiếu tướng, rõ. Ngay chiều hôm nay tôi sẽ gửi báo cáo tới văn phòng của ngài. Nhưng thêm nữa, Murdock cần nhất trí với những điểm cơ bản đã thực hiện của cố bác sĩ Clark, và xem xét phê chuẩn ngay lập tức việc cho thâm nhập virux. Lệnh đó cần phải do chính ở Langley ban hành? Đúng như thế, thưa thiếu tướng. Cục tình báo trung ương đã bật đèn xanh cho Murdock về những công việc của phần thứ nhất của giai đoạn B, nhưng nhấn mạnh rằng vi khuẩn chưa được cho thâm nhập nếu chưa có sự cho phép của những vị đứng đầu ở Virginia. Đúng thế, Murdock tiếp tục nhanh lên! Thiếu tướng Gregg sẽ tra cứu ngay lập tức công việc này và ngay chiều nay, khi Murdock mang nộp bản báo cáo, ngài đã có thể có một quyết định nào đó về việc này.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 31.05.2026 06:47:42 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 26.05.2026 12:28:34
72. 8 THÁNG BẢY, thứ Ba 

Manuel bắn một viên đạn nhựa ra, ngay lập tức trông thấy đèn đỏ bật sáng hai lần. Hắn giữ im khẩu súng ngắn, đóng nắp lỗ hổng, rút nòng súng vào, ngồi chờ. Một lát sau, chiếc xe camiông nhỏ dừng lại. Víctor hỏi: «Đây có phải trường trung học А?». Và có tiếng ai đó trả lời: «Không, đồng chí lầm đường rồi. Đây là trường trung học В». Víctor lầu bầu phàn nàn vì sự lầm lẫn của mình đã để mất thì giờ, và quay lại bước lên xe. Năm phút sau trong khoang, ánh đèn хanh lại bật lên. Manuel mở nắp lỗ thủng và bắt đầu lại tiếp tục bắn những viên nhựa sang mé đường bên kia. Cứ đến một trường trung học, hai tên làm việc xong ở một bên mé đường, chúng lại quay làm tiếp ở mé đường bên kia. Khi đến trường trung học B, Víctor lại hỏi: «Đâу có phải trường trung học C?» Và một người nào đó lại thấy trả lời: «Không phải đồng chí ạ, đó là trường trung học В». Và người đó chỉ cho hắn đường đi đến trường trung học C. Víctor vội cảm ơn rồi quay trở lại và lẩm bẩm một tràng xin lỗi. Cứ như thế, bọn chúng đã đi khắp ba mươi sáu trường trung học ở Jagüey Grande trong hai tháng năm và sáu. Chúng làm việc này vào những ngày chủ nhật, là những ngày chúng có thể qua lại mà ít bị chú ý, với cái lý do là đi thăm học sinh con em chúng ở vùng này. Trước thời kỳ cây nảy mầm một chút, chúng đã làm công việc này tại Đảo Thông. Vì ở đây cần tranh thủ lợi dụng mầm cây nẩy rộ rất nhiều, Mauricio đã ra lệnh cho bọn chúng phải làm việc tất сả mọi ngày trong tuần, cứ một ngày tại ba trường trung học, để có thể hoàn thành công việc trong vòng mười hai ngày. Trong chín ngày, chúng đã hoàn thành 70% công việc. Manuel đã chán ngấy cái khoang tù đóng kín bưng. Khi trở về Nueva Gerona lại phải giam mình trong khách sạn, đọc những cuốn tiểu thuyết nho nhỏ, loại tiểu thuyết mà may mắn sao hắn đã gom góp được khá nhiều, vì lệnh của Mauricio rất chặt chẽ: từ chỗ làm việc về khách sạn, và từ khách sạn đến nơi làm việc, thế thôi. Buổi tối có thể đi xem chiếu bóng, nhưng những mặt khác tuyệt đối cấm. Nhất là không được uống một hớp rượu. Víctor và Manuel thích giam mình trong buồng khách sạn để đọc tiểu thuyết hoặc ngủ, còn hơn là bước vào những rạp chỉ chiếu toàn những phim ảnh cộng sản.
Bọn chúng được người ta hẹn đón trở về Mỹ vào khoảng 22 tháng bảу. Như vậy còn thiếu hai tuần lễ nữa. 
Buổi chiều ngày 8 tháng bảy, bọn chúng về đến khách sạn lúc bảy giờ, và khi cả hai đã vào trong buồng, chúng liền làm công việc kiểm soát an toàn. Hôm đó đến lượt Víctor. 
Нắn bước vào phòng, không bật đèn và kéo kín rèm che cửa, trong khi Manuel đóng cửa ra vào. Trong bóng tối hoàn toàn, Víctor cầm chiếc đèn nho nhỏ vẫn đặt trên bàn con đầu giường ngủ, mang vào phòng tắm. Manuel lúc đó bật đèn, kéo rèm cửa sổ lên và cởi áo sơ mі. Hắn ngồi xuống mép giường, bắt đầu cởi giày, và cúi xuống mặt giường, đưa mắt đọc lướt tờ báo Granma mà nhân viên khách sạn đã đút vào buồng qua khe cửa. Hàng ngày hắn giữ đúng cái lệ đó như một người nghiện báo.
Víctor và Manuel là loại người được chọn lọc cẩn thận. Bọn chúng đã qua những lớp huấn luyện cực kỳ nghiêm khắc của CIA và đã được chuẩn bị hoàn hảo cho mọi toán hoạt động. Trong buồng trọ, chúng nói rất ít, chỉ có những câu chuyện đã chuẩn bị trước và tập dượt công phu, với những từ ngữ của những người lao động Cuba, để không gợi một chút nghi ngờ gì về công việc thực sự của chúng đang làm. 
Thưởng thường một tên đọc sách, còn một tên nằm ngủ hoặc giả vờ ngủ. Chiếc xe có một cấu trúc khóa riêng làm cho nó trở thành bất khả xâm phạm. Hơn nữа bao giờ cũng vậy, trước khi rời xe, chúng thường tháo một bộ phận của máy nổ, làm cho nó không sao chạy được. Mena đã làm cái khóa an toàn đó và bộ phận tháo rời của máy nổ bằng những vật liệu mang từ Mỹ sang. Đây là kế hoạch hoạt động thứ ba mà mấy đứa bọn chúng cùng tham gia trong một toán. Hoạt động thứ nhất xảy ra ở Chile năm 1973, và sau đó, năm 74, chiến dịch thứ hai ở Venezuela. Bọn chúng hiểu biết rõ nhau, và trong mấy hoạt động trước kia chúng đã thu được những kết quả rất tốt. Bọn chúng là những người kín đáo, đã được thử thách, có một số vốn tri thức khá cao, theo như những cuộc thử nghiệm, và có phản ứng rất nhanh nhạy. Cả hai đều đã đạt được điểm cao nhất trong cuộc thử gọi là «thử thách thần kinh». Manuel không cả chớp mắt khi mà họ bất thần bắn ở đằng sau một viên đạn lửa, trong bước thử đầu tiên trước khi được phái đi làm nhiệm vụ những ngày đầu. Còn Víctor, tưởng như đã bị bắt cầm tù ở Cuba, trong khi thực tế người ta đã mang hắn đến một căn cứ của Cục tình báo trung ương Mỹ tại một cù lao trong vịnh Mexico; hắn đã chịu đựng mọi thử thách mà không khai báo, không thú nhận một chút gì trong những cuộc tra hỏi rất dữ dội. 
Cả hai thuộc loại chúng xếp vào hàng «cao thủ» của СIА. Cả hai thuộc hạng những điệp viên hoạt động giỏi nhất trên địa bàn Mỹ La-tinh. Về chính trị, chúng cũng không chê vào đâu được: đều là con cái những gia đình tư sản cỡ bự, một ở Las Villas, một ở La Habana. Cả hai đều thù ghét cộng sản như nhau. 
Ngoài ra, chúng thuộc loại người không có những tật xấu và biết được mình muốn gì trong cuộc đời. Jerry White mặc dù có tính tiên thiên là miệt thị tất cả những người Mỹ la-tinh, cũng đã phải tuyên bố những lời khen ngợi đối với Víctor Ribadeneira và Manuel de la Hoz. Cả hai đã hoạt động như thể những con người thuộc dòng giống phương bắc. 
Chiều hôm đó, tại Gerona, Manuel đang mải miết đọc một bài về vấn đề dầu lửa trong những nước tư bản chủ nghĩa, thì nghe thấy Víctor bước ra khỏi phòng tắm huýt sáo bài Guantanamera. Bài Guantanamera? Đúng, đúng, không còn nghi ngờ gì nữa. Bài Víctor đang huýt sáo chính là bài Guantanamera. Manuel giả vờ như tiếp tục đọc, nhưng trong bụng cảm thấy rã rời. Đó là cái mật hiệu đáng sợ hãi! Bọn chúng đã bị lộ. Chắc trong buồng này có đặt ngầm những ống nghe hoặc có thể có một máy quay phim nhỏ. 
Manuel rời mắt khỏi tờ báo với một dáng thản nhiên, trong lúc đó Víctor, một chiếc khăn mặt vắt trên vai, đứng chải đầu và tiếp tục huýt sáo bài Guantanamera.
 — Cậu tắm xong rồi chứ? 
— Ừ, xong rồi, — Víctor trả lời. 
Manuel xỏ chân vào dép, mình để trần, đi vào phòng tắm, đưa tay gãi lưng một vẻ rất tự nhiên. Vào buồng tắm, hắn thấy Víctor để cho hắn chiếc máy chiếu phim bỏ túi trên bàn rửa mặt. Hắn tắt đèn và bắt đầu xem cuốn phim. Đầu tiên xuất hiện một đoạn phim dài không quá năm phút: người thay vải trải giường của khách sạn vào thay vải trải giường và lau sàn. Sau, tiếр đến — thực ra sau đó ba tiếng đồng hồ — nhìn thấy như trên chiếc đồng hồ báo thức mà Víctor đặt trước chiếc máy ảnh giấu kín trong chiếc đèn, có ba người bước vào, cả người quản lý khách sạn đi theo. Khi người quản lý khách sạn rút ra, ba người bắt đầu một cuộc lục soát nghề nghiệp trong căn phòng. May làm sao, họ không xem đến cây đèn. Một trong bа người chụp ảnh. Нọ không tìm thấy gì cả, vì lẽ rất đơn giản trong phòng chẳng сó gì. Vật dụng để phá hoại và những con sâu, chúng để cả trong chiếc camiông nhỏ. Về khoản đó có thể yên tâm được, vì không ai có thể vào được xe nếu không phá khóa. Mà phá khóa chắc chắn không ai làm như vậy. Manuel nghĩ ngay đến khả năng có thể chạy trốn theo ngõ hẻm đường 22 mà Mauricio đã chỉ cho chúng từ trước. Mấy người đó lục soát xong, một người trong bọn liền đặt một hệ thống máy nghe trên chiếc đèn treo trên trần. «Víctor thật có lý, mẹ kiếp!» Nếu Manuel lúc đó đặt chiếc máy quay phim cực nhỏ vào trong chiếc đèn ấy như hắn đã định, thì người của Cơ quan an ninh Cuba đã phát hiện ra khi họ đặt hệ thống máy nghe này. Thật hú vía, và Manuel cảm thấy trong người nhẹ nhõm khi trông thấy những người đó đặt hệ thống máy nghe bí mật. Không đến nỗi đó! Việc đó đã nói với hắn hai điều: họ không muốn bắt bọn chúng ngay lập tức, và tên đứng đầu tụi chúng, tên phải đảm bảo cho chúng trốn ra khỏi Cuba, chưa bị phát hiện. Chắc chắn họ sẽ chưa bắt ngay hai đứa chúng để có thể tóm gọn tất cả trong một mẻ lưới. Vấn đề là như vậy, có nghĩa là còn nhiều hy vọng. Có thể chúng sẽ lẩn biệt tăm. Họ đã đặt hệ thống ống nghe bí mật này, chắc chắn họ sẽ theo dõi bọn chúng khắp mọi nơi, và chắc họ cũng rình mò theo chúng qua chiếc cửa sổ để mở luôn luôn của khách sạn. Số đen rồi! Đúng vào lúc sắp kết thúc công việc. 
Bây giờ cần phải tập trung tất cả nghị lực và khôn ngoan của cả hai đứa để cố về được tới La Habana, vượt trước mũi bọn theo dõi, để có thể tiếp xúc với Mauricio và chờ đợi ngày di tản. 
Trong lúc đó, Víctor luồn dưới cánh cửa vào cho hắn một mảnh giấy nhỏ: «Chúng mình giả vờ như được lệnh của toán trưởng tìm gọi và ngày mai phải сó mặt tại La Habana để gặp ông ta chính tại nhà ông. Có thể theo cách đó, an ninh sẽ tìm cách sử dụng chúng ta để phát hiện ra Mauricio và chúng mình may ra có thể thoát theo con đường ngõ hẻm 22».
Phải đó, đó là điều rõ ràng bọn chúng cần phải làm. Víctor đã nghĩ đúng như hắn nghĩ.

73. 9 THÁNG BẢY, thứ Tư  

— Nhưng nếu những tính toán của đồng chí sai lầm, hậu quả sẽ rất là ghê gớm. — Alejandro phản đối, với một vẻ hốt hoảng căng thẳng cực độ trên khuôn mặt.
 — Nếu chúng ta làm theo như đồng chí đề nghị, — Alba trả lời — Kẻ địch sẽ biết ngay tức khắc rằng chúng ta đã được biết mọi việc. — Thiếu tá giơ ngón tay trỏ lên. — Cần phải chắc đúng như vậy, Alejandro! Đồng chí không hiểu rằng chúng ta cần phải biết sử dụng tình hình này để tóm gọn cả bọn сhúng? Nếu bây giờ, khi chúng ta biết rõ kế hoạch mà lại làm cho chúng co dấu lại, ai có thể đoán trước được điều gì chúng có thể giở trò ra sau này?
 — Nhưng như vậy, Renato, — Bernardo Cabral hỏi vặn — tại sao lại bắt giữ cái tên làm ở vườn ươm ở Guane?
 — Bởi vì chúng ta biết chắc chắn rằng điều đó chúng ta không làm một cách bất ngờ, bọn chúng đã bán tên đó cho chúng ta. 
Nếu chúng ta không bắt giữ tên đó, Bernardo ạ, cái đó mới làm cho chúng đâm nghi ngờ. Kẻ địch chắc rằng Elpidio không đi tố cáo để chúng phải rắc rối chút nào, vì thực ra hắn cũng chẳng biết gì về việc nàу. Alba tin chắc rằng không nên bắt một tên nào nữa khi mà an ninh chưa kiểm soát được toàn bộ mạng lưới của chúng. Bernardo hiểu không? Nhưng nếu như chúng đã bắt đầu gieo rắc virux rồi, Renato? Làm sao mà chúng gieo rắc được virux, Bernardo, khi chúng ta đã kiểm soát được chúng?
 — Nhưng nếu virux do những tên khác gieo vào chứ không phải vẫn những tên ở Đảo Thông? — Alejandro hỏi.
 — Điều đó thực không có một chút сơ sở — thiếu tá Alba đáp. — Chính những tên mà hôm qua chúng ta đã dò tìm thấy, chúng sẽ cho những virux thâm nhập. Đó mới hợp lô gich.
 — Ở đây điều lô gich duy nhất, Renato, là không nên đặt mình trước một nguy hiểm đe dọa. Bởi vì nếu chúng ta lầm lẫn, đất nước sẽ phải trả giá rất đắt.
Alejandro de Sanctis, với tư cách người phụ trách toàn quốc về vi khuẩn cây cam chanh, đề nghị huy động ngay một chiến dịch toàn dân, qua con đường Ủy ban bảo vệ cách mạng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên... để nhổ hết những mầm non của những cây đã trồng trong toàn quốc nhằm rút hẹp mối nguy hiểm lại.
 — Nhưng Alejandro, đồng chí không hiểu rằng như thế là tuyên bố khắp bốn phương về việc chúng ta đang làm?
 — Thế đồng chí thiếu tá không biết rằng chúng ta đang chơi với lửa sao? 
Nhà vi khuẩn học có một cử chỉ sốt ruột và đưa mắt bực dọc nhìn Alba. 
Nếu bọn người đó đã bắt đầu cho virux thâm nhập, thưa thiếu tá, và đã làm nhiễm khuẩn cả vùng Jagüey lẫn Đảo Thông mà không có báo hiệu gì trước cho chúng ta... Điều đó không thể xảу ra, Alejandro! Tại sao lại không có thể? Nếu để chúng hoạt động một tuần lễ, thưa thiếu tá, không cần hơn một tuần lễ đâu, sau đấy sẽ quá muộn để tiêu diệt bệnh, nhất là khi căn bệnh đó là thứ Cuba chúng ta chưa hề hiểu biết.
 — Nhưng mà không bao giờ bọn chúng gieo rắc vào đây được, Alejandro, vì rằng chúng ta biết chúng là ai, và chúng đã nằm trong vòng kiểm soát của ta.
 — Nhưng nếu những tên gieo rắc virux lại là những tên khác, thưa thiếu tá? Và nếu những tên khác ngay trong lúc này đây, đã và đang gieo rắc virux? Như vậy thì đồng chí thiếu tá nói sao đây? 
— Tôi nhắc lại, rằng không thể сó như thế, Alejandro.
— Có chứ, có thể có như thế, Renato! Không thể như thế! Tại sao lại không thể như thế?
Thiếu tá nói rằng không thể. Nhà vi khuẩn học nói rằng có thể. Và Bernardo: thôi xin các ông bình tĩnh, đừng nổi đóa lên như thế, cần phải thảo luận một cách bình tĩnh.
 — Được thôi, thưa thiếu tá. Đồng chí là người chỉ huy, nhưng tôi sẽ gửi một báo cáo cho cơ quan của tôi để nói rõ rằng tôi không đồng ý với cách giải quyết đó. Đó là một sự vô trách nhiệm của đồng chí thiếu tá. 
Thiếu tá Alba nổi giận:
 — Đồng chí có thể nói trong сơ quan đồng chí tất сả những điều gì mà mình muốn, nhưng cần phải thận trọng trong việc sử dụng lời lẽ của mình. 
— Bình tĩnh, bình tĩnh, thưa các vị. 
Alba sẽ không cho phép anh... Còn nhà vi khuẩn học mặc cho Alba tỏ vẻ nghiêm trọng, vì rằng không phải thiếu tá là người duy nhất có nhiệm vụ và tráсh nhiệm, và Alejandro cần phái tố cáo việc này, vì anh cho rằng điều mà Alba nói và đang sắp làm sẽ đem công lao của mười năm trồng trọt đứng trước một thử thách cực kỳ nguy hiểm, chỉ bởi muốn làm một mẻ cho gọn. 
— Đồng chí không có một chút hiểu biết về an ninh, lại định chỉ huy một kế hoạch phản gián chăng?
— Tôi không biết tí gì về phản gián cũng như về cái của khỉ khác, nhưng tôi sẽ phản kháng đến cùng để ngăn cản không cho người ta có thể mắc phải một sai lầm như cách mà đồng chí đề nghị.
 — Điều đồng chí đang nói đó mới thật thô bạo và sаі lầm, — thiếu tá Аlba đứng lên nhanh như một con hổ, nói to. — Thêm nữa, — bằng một động tác để giữ bình tĩnh, anh nói thêm — tôi nhắc cho đồng chí biết rằng kế hoạch này đã được cấp trên tối cao chuẩn y.
 — Được, — Nhà vi khuẩn học quay ngoắt ra cửa và trả lời. — Như vậy tôi không còn việc gì phải làm ở đây nữa. Xin chào! 
Ngay ngày hôm đó, Alejandro de Sanctis trình bày bản báo cáo của mình lên Ban lãnh đạo của Viện Cải cách ruộng đất, và buổі tối hôm đó, người ta đến сảm ơn nhiệt tình và sự quan tâm của anh trong việc này, nhưng yêu cầu anh chuẩn bị sẵn sàng để ngày thứ bảy tới đi Panamá, tham gia trong đoàn cố vấn kỹ thuật về những vấn đề nông nghiệp trong một hộі nghị làm việc trong mười lăm ngày.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 31.05.2026 06:44:25 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 27.05.2026 02:59:00
74. 10 THÁNG BẢY, thứ Năm 
 
«Tốt, thế là kết thúc công việc. Tuyệt! Đã đến giờ rồi! Cậu nghĩ rằng có khó khăn trong việc lấy vé ở Batabanó ư? Đâu có! Khoảng bốn hoặc năm giờ chiều mai chúng ta sẽ ở La Habana. Thế mấy giờ phải có mặt ở nhà toán trưởng? Sáu giờ rưỡi. Nhưng nếu chúng mình đến không đúng giờ? À, vậу thì ông ấy sẽ tìm chúng mình tại nhà ở Vedado».
 — Đó là tất cả những gì mà thiếu tá chú ý. — Carlos Ríos vừa nói vừa tắt máy ghi âm.  
 — Được, Carlos, kế hoạch thế nào?... 
 — Hôm qua, khi chúng tôi nắm được mẩu đối thoại này, tôi đã để cho Argüelles chịu trách nhiệm công tác với bến tàu để đảm bảo cho chúng có vé đi trên chiếc tàu «Đảo Thông», khởi hành lúc mười hai giờ trưa nay.
 — Kết quả ra sao?
 — Có chứ, thiếu tá: vào lúc chín giờ sáng hôm nау chúng đã mua vé. Ở đó đã báo cáo cho tôi biết. 
 — Tốt, — thiếu tá nói. — Thế việc theo dõi? 
 — Nếu bọn chúng rời Batabanó theo lối Surgidero, một chiếc xe con sẽ theo chúng đến Quivicán. Từ chỗ đó, một chặng tiếp sức cho đến tận Bejucal, ở đó sẽ giao cho trạm sau theo đến tận Santiago de las Vegas. Một chặng tiếp, theo chúng đến đường Rancho Boyeros, và chặng cuối cùng theo vào thành phố.
 —  Nếu chúng đi theo đường San Antonio de las Vegas? 
 — Cũng có bốn chặng tiếp sức, đã định sẵn ở trên suốt chặng đường. Còn ở trong thành phố La Habana đã có những toán đặc biệt làm công việc theo dõi chúng.
 — Có sự giúp đỡ của máy bay không?
 — Thưa không. Đối với bọn chuyên nghiệp được huấn luyện rất kỹ lưỡng này, nếu chúng ta dùng đến máy bay thì thực nguy hiểm. Như thế sẽ làm bể hết kế hoạch. 
 — Được. Thế ở La Habana, cách thức làm ăn ra sao? 
 — Điều đó tôi đang muốn nói với đồng chí thiếu tá, — Carlos nói. — Chắc rằng chúng về đến La Habana còn sớm, và cuộc hẹn với tên trùm của chúng vào lúc sáu giờ rưỡi, cho nên rất có thể chúng về thẳng ngay căn nhà ở Vedado mà chúng đã nhắc đến trong cuộc trò chuyện mà tа thu được. Đồng chí cho rằng chúng ta cần canh gác và kiểm soát căn nhà bằng nhiều người hoặс…
 — Không, không. — thiếu tá Alba giơ hai tay lên đầu, ngắt lời — Không làm thế, chỉ dò tìm thấy ngôi nhà đó và theo dõi một cách... 
 — ... kín đáo — Carlos nói. 
Alba rất khó chịu khi bị người khác kết thúс hộ mình câu nói, nhưng mặc dù biết thế, Carlos một con người hay sốt ruột nên vẫn không tránh được câu nói làm cho Alba khó chịu. Trong trường hợp này, Alba сó ý muốn nói rằng những người chịu trách nhiệm canh phòng theo dõi căn nhà đó phải hoạt động như thể những con ma không có hình, nhưng vì trong tiếng Tây Ban Nha không thể chuyển danh từ con ma thành trạng từ được nên anh lúng túng. Thật đáng buồn vì trong những ngôn ngữ gốc la-tinh thường ít sẵn sàng để trạng từ hóa những danh từ! Để khỏi bí, anh chọn ngay cách chuyển ý định nói của mình sang tiếng Anh. 
 — Ghostly, Carlos ạ, ghostly. D'you understand
 — Có, thưa thiếu tá. Một cách ma quái. — Carlos dịch. 
À, cái đó cũng lại làm cho Аlba khó chịu. Sở dĩ anh đã phải dùng một tiếng ngoại quốc, chẳng qua vì anh không tìm thấy chữ Tây Ban Nha trong lúc đó. Khỉ thật, Carlos lại tìm đúng chữ!
 — Cần phải có một vị trí quan sát đảm bảo. — Alba nói thêm.
 — Rõ, thưa thiếu tá. À, còn điều này nữa: Nếu chúng đi chậm và về đến La Habana đúng giờ hẹn với tên toán trưởng và đi thẳng đến nhà tên đó, chúng ta hành động ra sao? 
 — Cũng như đối với căn nhà kia thôi, Carlos. Cần hết sức khôn khéo! Tôi nghĩ rằng chiến thuật này có thể cho phép chúng ta làm sáng tỏ được chút gì đó về những kế hoạch liền đó của cả bọn. 
  
75. 10 THÁNG BẢY, thứ Năm
 
 — Phải, thưa thiếu tá, những đội NCL phối hợp thật tuyệt với con Chuồn Chuồn trực thăng. Công việc đã được thực hiện không một chút khó khăn nào. Sự thực là hầu như cũng không cần thiết phải dùng đến con Chuồn Chuồn. Đồng chí nói sao? Đúng, đúng như thế đấy. Thêm nữa, cách xa năm ngàn mét trông cũng dễ lầm lắm. Tôi nghe, xin cứ nói. À, cứ theo như nhịp độ hiện nay, tôi cho rằng có thể làm được thêm ba hoặc bốn ngày nữa. Sao lại không? Đúng in như đồng chí thiếu tá đã trông thấy trong những ngày tập dượt. Đêm hôm nay, chúng tôi sẽ gửi đến thiếu tá những gì chúng tôi đã điều tra thấy trong ngày. Thưa đồng chí, vâng. Méndez sẽ đi đến đó lúc bảy giờ. Tùy đồng chí. Không, không, không; tôi nói thế với đồng chí, xem thử ta có thể tổ chức chuyển những «khẩu đại bác nước» đó đến Đảo Thông? Rõ, rất cảm ơn. Thế bao giờ đồng chí tới? À hà. Đi trên Chuồn Chuồn hở? Rất tốt, tôi sẽ chuẩn bị những điều kiện cho đồng chí. Như vậy đồng chí có thể trông thấy tất cả một cách rõ hơn. Rất tốt, tôi sẽ ở lại mặt trận cho tới khi Carlos trở lại. Công việc bây giờ rất dễ dàng thưa thiếu tá, mọi người cảm thấy lạc quan. Phải, không có vấn đề gì ở hai đầu những hàng cây đâu.
Paco đặt ống nói, lim dim mắt với một nụ cười trên môi, và đưa mắt ngước nhìn trời. Việc phối hợp con Chuồn Chuồn với những đội NCL là ý kiến của anh. Và trên thực tế, kết quả thực đáng kinh ngạc. 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.06.2026 00:37:28 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 28.05.2026 02:40:44
76. 10 THÁNG BẢY, thứ Năm

 — Chú ý, chú ý! Trạm gác lưu động số 5, 6 và 7 chú ý! Mục tiêu vừa đi qua đường phố số 100. 
Trong thùng chiếc xe camiông nhỏ, Manuel dùng một ống nhòm nhỏ cực mạnh quan sát chiếc xe đi theo sau ở khoảng cách độ ba mươi mét. Đó là chiếc xe thứ ba trong vạch đường xe đang chạy. Người ngồi cạnh tài xế chiếc xe đó vừa nói gì trong một chiếc micrô. Không còn nghi ngờ gì nữa, họ đang chuẩn bị một xe tiếp sức thay thế. Manuel nhìn đồng hồ: năm giờ mười phút. Tốt lắm!
Manuel đã phá hủy tất cả những gì cần phải hủy bỏ trong thùng xe. Тау hắn đau rát bởi bao nhát đập dũa trong hàng tiếng đồng hồ. Hắn chỉ còn giữ lại có những chiếc ống nghe, chiếc máy quay phim cực nhỏ, những viên nhựa chứa thuốc độc và những vật phẩm nhỏ cần dùng đựng đầy trong chiếc cặp to của hắn. Giờ hắn đã bắt đầu sửa soạn chiếc va li và lắp kíp nổ. Không đầy nửa tiếng đồng hồ nữa, chúng sẽ biến dạng theo con đường cụt số 22. Chắc chắn, chắc chắn chúng sẽ đạt được điều đó! Bọn người theo đuổi chúng đang chờ một cách rất thận trọng. Họ đã cắn câu rồi. Hầu như chắc chắn họ không định bắt chúng ngày hôm nay. Chắc họ muốn để chúng gặp gỡ tên toán trưởng theo như điều mà bọn chúng đã để lộ ra cho họ biết.  
Víctor lái xe với vẻ bình tĩnh của tay cao thủ nhà nghề. Qua chiếc ống nghe nhỏ xíu đặt trong lỗ tai phải, hắn nghe Manuel báo cho biết chi tiết những gì mà tên đó quan sát thấy. Mọi sự đều yên ổn đâu vào đấy. Hắn cũng vậy, đầy tự tin. Nếu bọn chúng may mắn thoát qua ba dãy nhà nguy hiểm đó, chỉ nửa tiếng đồng hồ nữa, chúng sẽ ra khỏi vòng nguy hiểm, và chỉ mấy ngày nữa sẽ trở về đất Mỹ.
 — Chú ý, chú ý! Trạm 11 và 12 chuẩn bị. Mục tiêu vừa đi qua Cung thể thao. 
Người tài xế chiếc xe số 12, một chiếc Chevrolet xanh, đậu tại chỗ con đường vòng rа vào cửa gа đậu xe ôtô buýt, mở máy. Chỉ khoảng nửa phút nữa, chiếc camiông nhỏ sẽ chạy qua đấy. Anh ta bắt đầu nhìn lại tấm ảnh màu của chiếc xe camiông nhỏ mà anh có trong tay. Không, không thể lầm lẫn được. Anh đã nhận chỉ thị phải theo dối nó một phần trong đoạn đường đi đến đường phố G hoặc theo đại lộ trường đại học lên hướng bệnh viện Calixto García. Nếu nó rẽ quặt sang phải đi theo đại lộ Allende, thì anh phải báo cho trạm gác 17 để tiếp sức đuổi theo từ phố Infanta.
 — Chú ý, trạm 12 chú ý! Mục tiêu đang dừng trước đèn đỏ ở đường Boyeros, trướс mặt сơ quan Bộ Lực lượng vũ trang cách mạng. Chiếc xe đi đầu hàng ở đường bên phải. Nó bắt đầu chuyển bánh. Xong.  
«Nếu nó đi theo con đường bên trái, chắc nó sẽ tiếp tục đi vào đường phố G» — người tài xế lái chiếc Chevrolet xanh nghĩ vậy, và từ từ chạy len vào vạсһ đường chính giữa. 
— Đã rõ. Xong. 
Chiếc Chevrolet chạy chậm chậm trên mặt đường. Trong xe, ngoài tài xế có thêm hai hành khách: một ngồi ghế trên, một ngồi ghế sau. Khoảng năm mươi mét trước khi tới ngã tư phố Salvador Allende, chiếc camiông nhỏ từ mé vạch đường bên trái vượt lên trước. Chiếc xe Chevrolet liền bám sát ngay đằng sau chiếc xe thứ hai vừa vượt qua ở bên vạch đường mé trái.
Chiếc xe camiông nhỏ đi qua trường Đại học tổng hợp Văn, theo đại lộ Đại Học và trước khi đi tới tượng đài, nó chạy đằng sau chiếc xe buýt số 20 từ phố G vừa hồng hộc chạy lên.
Người hành khách ngồi ghế trước cầm lấy chiếc micrô.
 — Chú ý, chú ý! Các trạm ở ngã năm đường 19, 15, 11 và 7 và 3 chú ý! Mục tiêu đang đi men theo tượng đài ở рhố G và 27, và đi trên vạch đường bên trái. Tất cả sẵn sàng chứ? 
Những tiếng đáp nổi lên: 
 — Ngã ba đường G và 19 sẵn sàng. Xong. 
 — Ngã ba đường G và 15 sẵn sàng. Xong. 
 — Ngã ba đường G và 11 sẵn sàng. Xong... 
Hoạt động của những đội theo dõi đặc biệt bao giờ cũng phối hợp nhịp nhàng không chê được. Chưa bao giờ họ để sổng một con mồi... Đúng... hầu như chưa bao giờ. 
Khi chiếc xe camiông nhỏ đi ngang qua đường 21, người tài xế đưa tay ra ngoài:
 — Chú ý, trạm đường G và 19 chú ý! Mục tiêu sẽ rẽ vào đường 19. Hãy chiếm lĩnh vị trí. 
Chiếc xe camiông nhỏ rẽ vào đường 19, nhưng trước đó để một chiếc camiông khác từ mé đường G bên cạnh theo vạch trên đường vượt lên. Khi chiếc хе camiông đã vượt qua, Víctor cho xe rẽ sang đường 19. Đến giữa một khối phố, chiếc xe vượt qua một người đi xe đạp cùng đi trên vạch đường. Người xe đạp vẫn đạp miết theo sau. Víctor ngạc nhiên nhìn người đó qua chiếc gương phản chiếu. «Mẹ kiếp, trông kìa, bọn này cũng lắm sáng tạo gớm!», hắn lẩm bẩm. Chiếc хе camiông nhỏ dần dần bỏ xa người đi xe đạp, nhưng cũng không bao giờ vượt quá được năm, sáu mươi mét. Chiếc xe camiông nhỏ đi qua ngã tư đường Paseo, và người đi xe đạp cũng đi qua ngã tư đường đó, luôn theo sau. Người đi xe đạp đưa một tay lên miệng và môi thấy mấp máy, trong khí hai chân vẫn mải miết đạp không ngừng. 
 — Nhìn xem kìa, mẹ! — từ trên ban công một căn nhà, có em nhỏ kêu lên. — Một chiếc xe đạp có têlêphôn! 
  — Đừng ngớ ngẩn con ạ, — người mẹ trả lời.
  — Làm gì có cái đó hở con? — người cha nói. 
Đứa trẻ đó là người duy nhất trong gia đình biết rằng cái huyễn ảo và cái kỳ quái là những nhân tố hợp thành của hiện thực hàng ngày. Chính người cha và người mẹ chú bé mới thật là ngớ ngẩn.  
Chiếc xe camiông nhỏ vượt qua đường 16, đường 18, đường 20 và khi tới đường 22, giảm tốc độ như thể muốn dừng lại. Người đi xe đạp đi theo sau đã rẽ quặt sang đường 16. Bây giờ ở đằng sau chiếc xe camiông nhỏ vào khoảng ba mươi mét có một chiếc xe con màu sơn đã loang lổ hầu hết. Chiếc xe camiông nhỏ dừng hẳn, và chiếc xe con cũng làm như muốn đỗ ở khoảng giữa khối phố. Nhưng chiếc xe camiông nhỏ từ từ rẽ sang đường 22, mé bên tay phải. Người trên xe con cũng sẵn sàng để bám theo sau, nhưng lại trông thấy chiếc camiông nhỏ rú máy lùi lại sau. Chiếc хе соn đỗ hẳn trên đường 19, khoảng giữa dãy nhà từ đường 20 đến đường 22, trước khi đến góc rẽ. Sau đó, chiếc xe cũng lùi lại mấy mét vì thấy chỗ đó là chỗ đỗ của xe buýt số 57. Trong khi đó, chiếc xe camiông nhỏ vượt qua đường bằng cách chạy giật lùi và đỗ trên đường 22, cách đường 19 khoảng tám mét.
Chiếc xe camiông nhỏ có chỗ thông từ cabin của tài xế xuống thùng xe phía sau. Manuel mở chiếc cửa từ cabin đưa xuống cho Víctor một chiếc vali. Víctor xuống xe, rất tự nhiên chào một ông đang dắt chó đi tiểu, trong khi Manuel trên xe để đồng hồ cho kíp nổ. Víctor bước vào một lối đi như hành lang thật dài, dáng điệu làm vẻ chiếc vali của mình thật nặng, để cho không ai có thể ngờ rằng hắn đang tìm lối để biến mất tăm. Manuel sau đó cũng xuống xe, tay xách chiếc cặp, bước vào lối hành lang dài một cách rất bình thản. 
Tòa nhà сó dãy hành lang dài mà hai tên phá hoại đi vào là kiểu nhà của khá nhiều ngôi nhà trong khu Vedado. Nó có một khoang nhà ở tại mé trước, đi vào bởi một cửa chính, nhưng đằng sau khoang nhà ở đó, có một cụm nhà nữa, với nhiều căn nhà, đi vào theo một lối hành lang dọc như một cái cổng hun hút. 
Điều mà nhiều người không ở trong khu phố không thể biết là cái hành lang đó lại dẫn đến một hành lang ngang, һẹр hơn ở ngoài đường không trông thấy, và ở đằng cùng là một khu đất hoang. Chỗ bỏ hoang đó là bờ trên của một khoảng trũng rất rộng cắt đứt bởi соn đường 22, và phần đất thấp nhất của vũng có trường tập bắn «2 tháng Mười hai», đi xuống theo một lối đi câu khúc khuỷu quanh co mà nhiều người sinh sống suốt đời ở La Habana cũng không hề biết. 
Vượt qua cả khoảng trống để hoang, Víctor và Manuel đã tới góc của hai đường 21 và 24 đúng một phút rưỡi sau khi bước vào con đường hành lang ở đường số 22. 
Víctor theo đường 24 đi đến đường 23 và ở góc đường 23 vừa may có một chiếc xe taxi chạy qua. Trên xe, hắn tự kiểm tra mạch đập. Тám mươi tám nhịp đập trong một phút. Chấp nhận được; hầu như không bị mất bình tĩnh một chút nào. 
Manuel theo đường 21 đi đến tận đường 26 và ở góc đường 26 và 23, lên chiếc xe buýt số 30 đi về khu Vedado. Thoát!
       
77. 10 THÁNG BẢY, thứ Năm

Mauricio hành động cực kỳ cẩn thận. Không một người nào trong nhóm do hắn điều khiển biết mặt hắn. Mọi mệnh lệnh hắn đều chuyển qua điện thoại hoặc nằm trong những bức thư viết bằng mực vô hình đặt lại Phòng Nhà Trắng của CUJAE, hoặc phòng ký gửi đồ đạc của thư viện José Martí. Сòn hắn thì hắn biết thật rõ những người hoạt động dưới quyền hắn, và bọn này cũng hiểu như vậy. Bọn này còn biết thêm rằng mọi ý định tìm biết xem Mauricio là ai đều có thể bị nghi ngờ là nhân viên phản gián của Cuba. Cho nên cả bọn đều rất thận trọng đối với vấn đề đó.
Mauricio hoạt động theo một chế độ hết sức chặt chẽ. Những nhân viên trong nhóm chỉ có thể có liên lạc giữa bọn chúng với nhau khi được hắn cho phép. Còn nói chung, phần lớn mọi hoạt động đều do chính hắn đích thân chỉ huy. Mặc dù vô hình đối với tất cả bọn, nhưng không phải vì thế mà không có mặt ở tất cả mọi nơi và thiếu sự trực tiếp trong việc chỉ huy và cai quản toàn bộ hoạt động để phục vụ cho Chiến dịch Niềm Vui.
Hàng ngày, theo những giờ đã được ấn định trước với từng người, hắn gọi dây nói cho Irma, cho Hilda, người phụ nữ ở khu Vibora, cho Sepúlveda và Evaristo, cho Víctor và Manuel, và cho Menа, trú ngụ tại khu tập thể của Viện Cải cách ruộng đất. Những сâu chuyện qua điện thoại đó là cơ sở của hệ thống thông tin của hắn, khi mà mọi người đều ở La Habana. Đó là một thông lệ thiêng liêng mà bất kỳ một vi phạm nào cũng đều trở thành một lầm lỗi cực kỳ nghiêm trọng.
Những câu chuyện qua điện thoại đều rất ngắn gọn. Khi sự thông tin của bên này hoặc bên kia cần có những chi tiết tương đối dài, chúng dùng đến những bản báo cáo viết bằng mực vô hình.
Trước khi Víctor và Manuel rời La Habana đi Jagüey, vào tháng Năm, Mauricio đã hướng dẫn cho hai tên này biết, bằng một tấm bản đồ, để có thể tới được cái ngõ hẻm của đường 22. Đồng thời, hắn cũng chỉ dẫn cho hai tên một cách thật chính xác cách thức hành động như thế nào, trong trường hợp thấy báo động hoạt động đã bị lộ. Muốn gì thì gì cũng không được quay trở lại nhà Hilda, đó là điểm đầu tiên, bởi vì Mauricio vẫn cho rằng nếu một ngày nào đó mà bọn chúng bị lộ, chắc ngôi nhà của Hilda cũng đã bị canh gác, ngay cả đến Mena, người thường đến ngôi nhà đó với tư cách là liên lạc giữa hai tổ. Víctor và Manuel đã nhận được lệnh nếu một lúc nào đó bọn chúng bắt buộc phải quay về La Habana, lập tức phải đến thư viện chính của trường đại học tổng hợp và đặt một bức điện vào trong một tấm phiếu đã định trước. Nếu chỉ vì một trường hợp trắc trở kỹ thuật, chúng phải tìm phiếu cuốn sách Тấm gương kiên nhẫn và ghi vào đó một chữ «chú ý». Chữ phải ghi bằng bút chì, nét mảnh, ở bên góc trên bên phải. Một dấu tương tự như thế ghi trong phiếu cuốn Hamlet sẽ báo cho Mauricio biết: «Chúng tôi ngờ rằng bị theo dõі». Một dấu như thế trong phiếu cuốn Những bước chân lạc lối сó nghĩa rằng: «Có tài liệu chắc chắn rằng chúng tôi đã bị họ phát hiện». Trong cả ba trường hợp đó, ngay sau khi thoát ra được bằng ngõ hẻm của con đường 22, phải gửi báo ngay tại thư viện trường đại học tổng hợp. 
Tám giờ mười sáng hôm thứ năm đó, cũng như mọi ngày, Mauricio thường đến xem, kể từ khi người của hắn đi hoạt động ở các nơi ngoài La Habana. Trước tiên hắn tìm phiếu Tấm gương kiên nhẫn: không có gì. Hắn xem đến phiếu Hamlet: cũng không có gì. Đến hộp phích vần Р, phích сủa Những bước chân lạc lối có một dấu «chú ý». Chắc chắn của Víctor và Маnuel ghi. Không phải của Segundo và Evaristo được vì hôm đó đúng ngày chúng bắt đầu gieo rắc virux, và mật hiệu của hai tên này khác, dù vẫn cùng trong ba loại phiếu này. 
Dấu hiệu này chứng tỏ một cách không còn nghi ngờ là an ninh Cuba đã phát hiện dò thấy Víctor và Manuel tại Đảo Thông, và hai tên này đã trốn thoát theo ngõ hẻm đường 22. 
Không hốt hoảng, Mauricio viết phiếu mượn cuốn Quả núi kỳ diệu của Thomas Mann, và khi nhận sách xong, ngồi vào một chiếc bàn ở hàng giữa. Hắn cố tập trung thực sự, và thực sự đọc một số trang về «Đêm ở Walpurgis». Không ai nghi ngờ chút gì cả ở con người đang say sưa quên mình trong cuốn sách đang đọc. Về phía bên trái hắn, mấy chiếc cửa sổ trông ra quảng trường Cadenas, và phía bên phải là quầy giao, nhận sách. Mauricio rời mắt khỏi cuốn sách khi đọc đến chỗ Hans Castorp đưa từ rốn đi xuống... Víctor và Manuel đã được chỉ thị rõ ràng: phải ghi vào phiếu như vậy trước tám giờ, rồi phải mượn mấy cuốn sách và ngồi quay lưng về phía phòng tra cứu, cho đến chín giờ rưỡi. Đúng chín giờ rưỡі, phải đến tìm để nhận lệnh của Mauricio đặt trong trang 1231 cuốn thứ 33 của bộ Bách khoa toàn thư của Espasa - Calpe, bày ở phòng tra cứu đặt tại dãy cuối để phục vụ việc tra cứu thường xuyên của độc giả. 
Mauricio ngồi đọc cuốn sách lúc tám giờ mười lăm, đến tám giờ rưỡi, khi hắn đưa mắt nhìn lên, đã trông thấy hai tấm lưng quen thuộc của Víctor và Маnuel. Hai tên này ngồi ở hai bàn cách nhau, đúng như hắn đã chỉ thị, và ở vị trí không thể trông thấy hắn khi hắn di chuyển đến ngăn bày bộ Bách khoa toàn thư để đặt tờ giấy ghi những chỉ thị mới của hắn. 
Đã đến giây phút quyết định đối với Mauricio. Víctor và Manuel đã thú nhận tất cả chưa? Họ đã thú nhận cả đến những chi tiết nhỏ về cách thức thông tin với nhau như thế này chưa? Có nhân viên an ninh đang theo dõi hắn không? Hay đã có người đang mai phục chờ hắn đến nhắc tập 33 của bộ sách Bách khoa toàn thư? Hơn nữa, Víctor và Manuel có thể bị người ta theo dõi mà chúng không biết... Lúc đó là tám giờ ba mươi phút. Còn năm mươi tám phút nữa mới tới chín giờ rưỡi. Hắn còn đủ thì giờ để làm một cuộc duyệt lại cho chắc chắn. Trước hết, không nên để xảy ra một bước sai lầm nào. Hắn tiếp tục đọc một số phút nữa, sau đó đi ra. Trên bàn, hắn vẫn để cuốn sách mở, bên cạnh một quyển vở và một chiếc bút chì, chẳng khác mọi người đọc thường để như vậy để đi ra ngoài nghỉ năm phút, hoặc tới phòng cà phê của khoa vật lý ăn uống một chút gì đó. Hắn từ từ xuống thang, đến phòng cà phê, uống một ly sữa chua. Sau đó bước đi một đoạn đến chiếc xe Peugeot hắn đỗ ở gần đó và bước lên. 
Hắn cho xe xuống dốc sân vận động, đi qua trước mặt những bậc thang của trường đại học theo con đường M đến tận đường 19. Đến đó hắn rẽ sang trái, chạy trên đường 19 cho đến đường 18. Hắn nghĩ nếu chiếc xe camiông nhỏ đã nổ, an ninh Cuba không thể nào với tay tới người của hắn được. Trong trường hợp đó, chắc chắn rằng chúng không đến ngồi trong thư viện như một thứ mồi để nhử bắt hắn. Nếu họ đã bắt được chúng và bắt chúng phải khai báo, rõ ràng họ không để cho chúng có thì giờ để kịp phá hủy chiếc хе. Khi đi ngang qua đường 18, hắn trông thấy có đám đông ở góc bên kia đường trước mặt. Dấu hiệu tốt. Hắn đỗ xe ở góc giữa đường 18 và 20, trên đường 19, rồi đi bộ cho đến tận góc đường. Những câu chuyện thật là ầm ĩ và sôi nổi: sự việc хảy ra lúc hơn sáu giờ. Không, không có ai bị chết. Tiếng nổ đã làm cho tất cả cửa kính của suốt dẫy nhà đều vỡ tung. Riêng chỉ có một ông đi ngang qua, tay dắt một con chó, bị thương nặng. Những mảnh vỡ của chiếc xe đã rơi tung trên các mái nhà, và một cánh cửa xe dính vào một chiếc cột điện. Thật kinh khủng! Ở chỗ này thường hay có trẻ con tụ tập chơi đùa! 
Mauricio trở về chiếc xe Peugeot của hắn. Rõ ràng hai anh chàng này đã hành động một cách không chê vào đâu được, đúng cỡ của những tay cao thủ, những nhân viên lão luyện. Với những con người như vậy, cũng bõ công hợp tác. 
Vào khoảng chín giờ năm phút, Mauricio đã về tới nơi đỗ xe của trường đại học, và trước khi bước xuống xe, hắn ghi trên một mảnh giấy đánh máy một mặt, bằng mực vô hình, mấy câu sau: «Нãу đi đến khu Lisa, đường 47, số nhà 11436. Мật hiệu: «Sésamo». Đợi điện thoại tôi gọi vào lúc mười một giờ đêm. Viết ngay báo cáo chi tiết những việc vừa xảy ra và gửi cho tôi ở Phòng Nhà Trắng, sáng mai, vào lúc tám giờ rưỡi».
Lúc đó chín giờ mười phút. Đến chín giờ mười lăm, hắn phải gọi điện thoại cho Мena như thường ngày. Hắn gọi điện thoại từ phòng cà phê. Mena đang ở trong nhà tập thể của Viện cải cách, đường phố Línea và J, mọi việc như thường, không có gì mới. Dù sao anh chàng này vẫn có thể bị theo dõi mà không biết. Nhưng không, anh chàng không ở trong tình trạng đó, vì anh ta đã không trả lời bằng cái mật hiệu đáng sợ: «Nói đi, tôi nghe». Мena vẫn trả lời bằng câu trả lời như thường ngày: «Alô». Dù thế nào thì thế, Mena cũng phải rời căn nhà đó và không bao giờ được trở lại nhà Hilda, mà phải chuyển ngay sang khu Lisa, đi cẩn thận theo ngõ hẻm của con đường 70 để đảm bảo an toàn. Phải chuyển ngay đêm nay. Ngay lập tức. Nhiệm vụ của Мena, cũng như của Víctor và Manuel, như thế coi như đã kết thúc. Вâу giờ сả bọn phải tập trung tất cả ở nhà Irma để đợi ngày di tản ra nước ngoài thôi. 
Lúc đó đã chín giờ hai mươi. Đến chín giờ hai mươi lăm phút, Mauricio mở trang 1234, cuốn thứ 33 bộ Bách khoa toàn thư Espasa-Calpe và đặt vào đó những chỉ thị cho Víctor và Manuel. Chín giờ hai mươi bảy phút, lại tiếp tục đọc cuốn truyện Quả núi kỳ diệu.
Víctor đứng lên lúc chín giờ ba mươi mốt phút và đi thẳng vào gian tra cứu. Đến chín giờ bа mươi hai phút, hắn quay ra đi vào phòng vệ sinh, hơ nóng vào tờ giấy để đọc những lời trong đó.  
Chín giờ bốn mươi phút đúng, Víctor trả sách và đi ra. Chín giờ bốn mươi hai phút, Manuel cũng đі rа.  
 
78. 12 THÁNG ВẢҮ, thứ Bảy 

Catherine Laffitte là một phụ nữ có học, một phụ nữ tinh tế. Sao lại không? Không ai nghi ngờ điều đó. Riêng chỉ có cô nàng đôi lúc lại nghi ngờ điều đó của chính mình. Điều nghi ngờ nhất là, vì một sự thúc đẩy bất thần nào đó không thể cưỡng được, cô lại thốt ra những lời nói tục tằn học được trong thời thơ ấu, khi cô sống tại những đồn điền của cha cô, qua những câu chuyện của những tên cai, những lời chửi bới của chúng đối với những người phu da đen làm việc trồng bông. Trong những nơi trú ngụ kín đáo nào của những nếp nhăn trong óc cô, những lời thô tục đó vẫn ẩn kín để thỉnh thoảng lại bật ra trên môi? Chưa bao giờ cô ta buột miệng ra những lời thô tục đó. Đúng, nói đúng ra, trong những năm đầu sống tại Paris khi cô bắt đầu theo cái thú lang thang, để cho nó ăn khớp với lối sống man rợ thú vị, cô ta học nói những chuyện tục tĩu và bẩn thỉu bằng tiếng lóng. Sau đó, vì năng lui tới một tửu quán, nơi có Dixie Land và dàn nhạc Jazz New Orleans, cô giao du với một số đồng bào quá cuồng nhiệt. Đó là những họa sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ thường nhắc trên cửa miệng những lời nói thô tục của những tên cai đồn điền ở miền nam nhưng mang đầy màu sắc mới, một sức sống diễn cảm thân mật mà ngày còn thơ ấu cô không thể nào hiểu nổi. Cô cũng học tập nói những lời thô tục đó, mới đầu chỉ để cho có vẻ hợp thời(?) đồng điệu, sau thì hoàn toàn bởi chính cái thích thú của cô. Cô cảm thấy những lời thô tục như giải tỏа cô khỏi bị ngăn cấm, nó như thể cái khoái cảm tột độ của tinh thần từ lâu bị kìm hãm. Sau đấy khi đã xa rời cái khung cảnh và không khí lang thang đó, không bao giờ cô còn thốt lên những lời tục tĩu. Nhưng đôi khi, nhất là những khi giận dữ, những lời đó lại loanh quanh lởn vởn trên môi. Và chính những việc làm trái với hợp đồng ngầm của Jerry White đã làm cho lòng tin của cô trước kia về một số ý định bị lung lay giảm sút. 
Catherine đã đặt nhiều cố gắng lớn lao để xây dựng một đời sống riêng một cách thật hài hòa tuyệt mỹ, trong đó sự chăm lo cho hình thức bên ngoài chiếm vị trí hàng đầu. Cô ta đã nói rõ về điều đó: «Như thể trên sân khấu mà». Mọi việc giữa họ với nhau đều phải diễn ra như thể trong một rạp hát đầy những nhà trưởng giả đương nhìn ngắm những hành động của họ trên sân khấu. Đó chính là điều kiện kết hôn cùng Jerry White. 
Khi Саtherine quyết định người đó, chứ không phải ai khác, đó là một lối sống mà cô ta thích, muốn chờ gặp một người đàn ông tế nhị, thông minh và có khả năng theo đuổi cho đến chết tấn trò đã nhập cuộc. Ва lần cô ta tưởng đã gặp được người đàn ông đó. Nhưng khi ba người ấу hiểu rằng đối với Catherine, cái điều mà cô ta coi như rạp hát không phải chỉ thuần túy một trò chơi, mà là một quan niệm cứng đờ không chuyển động về cuộc sống, một điều kiện không có không được, thì cả ba đều từ giã cô.
Khi làm quen với Jerry White, lúc đó cô đã bắt đầu sợ rằng không bao giờ có thể gặp được người đàn ông mà cô ta cần gặp. Jerry White không phải là một người tế nhị. Anh ta rất Mỹ, rất trực diện. Nhưng anh ta cũng khôn ngoan lạ lùng, và cô nghĩ rằng anh ta là người có thể mài dũa được. Anh ta không thật thông minh, nhưng có một số ý rất nổi bật trong lúc chuyện trò, có thể coi như thông minh được. Nhưng trên hết, Jerry là người dễ bảo, chịu phục tùng, yêu cô một cách say mê, và cô cảm thấy được đảm bảo rằng mình luôn luôn chiếm lĩnh vị trí hạng nhất trong cuộc đời của anh ta. Chỉ riêng điều đó thôi, сô cảm thấy đã đủ. 
Саtherine Laffitte đã lầm. Vị trí thứ nhất trong đời Jerry White là do CIA chiếm lĩnh. Nhưng không phải vì thế mà Jerry White không yêu quý vợ. Chưa bao giờ hắn ta thiếu chung thủy. Hắn hợp tác chân thành với vợ để xây dựng cái không khí tuyệt diệu mà vợ đòi hỏi, và hắn đã làm việc đó với tất cả tấm lòng, bởi lẽ hắn tin chắc rằng như thế hắn đã có một cuộc sống đạo đức. Nhưng khi mà công việc ở Cục tình báo trung ương Mỹ không thông đồng bén giọt, y như rằng bắt đầu хảу ra cái mà Catherine gọi là «những phá vỡ giao kèo» của chồng cô.
Đã hai hôm nay, Jerry trở lại cái tính trầm lặng, đi đi lại lại trong phòng khách, hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc kia. Có cái gì không tốt trong công việc của anh ta. Đối với Catherine, điều tốt nhất là đến nhà cô em ruột Margaret mà ở mấy ngày. Khi Jerry bắt đầu đi đi lại lại trong phòng khách, Catherine đã tự nhắc: «Mình phải giữ thật thản nhiên. Mình là Catherine Laffitte. Hàng ngàn cặp mắt đang chiêm ngưỡng mình». Một suối nhỏ những lời tục tĩu đang làm rung động tâm thần cô. Ừ, hơn nữa, Jerry không phải là một nhà quý phái. Không, không bao giờ anh ta là một nhà quý phái! Thời gian cùng công sức đều mất toi thôi! Một người quý phái không bao giờ lại để mất tính giai cấp của mình. Những người quý phái сạо râu cạo mặt trước khi bị xử bắn và mỉm cười chịu đựng những cơn khủng hoảng tồi tệ nhất. Jerry là một tên gian dối, một tên lừa lọс, một tên Мẽо dân đen mà gặp một bất kỳ trở ngại nào đều bộc lộ đến quá cả nỗi lo lắng của mình, và lật nhào hết tất cả cái lý tưởng quý phái mà vợ hắn đã ra công vun đắp. Thật đồ chó đẻ! Catherine không thể chịu đựng được lối đi đi lại lại trong phòng khách mà không nhìn đến cô. Và cái tên con hoang này rõ ràng biết rằng cô tức giận, mặc dù cô không để lộ ra mà vẫn can đảm và hiên ngang giữ một nụ cười. Catherine đang nghĩ ngợi. Tốt nhất là đi ngay lập tức hay để đến mai hãy đi? Đi đến nhà Margaret tại Houston hay đi San Francisco?
Catherine Laffitte biết rằng sớm hay muộn Jerry sẽ qua cơn khủng hoảng và sẽ đến tìm cô tại nơi cô tới ở. Anh ta sẽ đến, ngoan ngoãn dễ bảo như một con chó. Còn cô, cô không có yêu cầu anh ta một điều gì, bởi vì hàng ngàn con mắt quý phái đang ngắm nghía những hành động của cô. Nhưng trong một vài ngày anh ta sẽ là nạn nhân của cái trò chơi châm biếm tai ác nhất của сô. Và Jerry sẽ chịu đựng tất cả một cách ngoan ngoãn. Một tuần sau đó, tinh thần của Catherine bình tĩnh lại, và cô lại tiếp tục tấn kịch phù phiếm đã kéo dài một phần tư thế kỷ. 
Nhưng lần này Jerry đã quá xá. Thực tế coi như anh ta đã bắt cô ra khỏi nhà. Buổi trưa hôm thứ sáu, anh ta đã bắt đầu những câu nói dóng một. Đến đêm, anh ta về nhà liền vào buồng làm việc và ở lỳ trong đó, khi anh ta đi ra liền bắt đầu đi đi lại lại trong phòng khách, không nói năng một câu gì, trước khi ngồi vào ăn tối. Nhưng hôm thứ bảy đó, lúc bảy giờ bốn mươi lăm sáng, cái anh chàng chó đẻ đó đã dám làm một việc mà cô không bao giờ có thể ngờ tới: hắn ngồi đọc báo trước mũi cô, bên bàn ăn điểm tâm. Chưa bao giờ cô, một cô gái của gia đình Laffitte, nghĩ đến mình có thể gặp một nỗi nhục ghê gớm như thế. «Cô là Catherine Laffitte, cô nên nhớ như thế. Tên con hoang kia lại cười, cười một cách ngạo nghễ, con của cái mụ đẻ ra hắn vẫn chẳng thay đổi chút gì cho đến tận nấm mồ. Cái quý phái bắt buộc kia đâu còn ở trong con người Mẽo lạc hậu kia. Hãy kiểm điểm kỹ xem, cái tên con đĩ đó thực tế đã bắt cô ra khỏi nhà nàу. À, cứt thật». 
Chín giờ sáng hôm đó, Catherine Laffitte cùng người tài xế lái xe đi Houston, bang Тexas! Thật buồn! Nếu cô chỉ chịu khó chờ thêm mười phút nữa, cô sẽ được trông thấy cái anh chàng Jerry mềm như lụa đến làm lành. Cô sẽ được trông thấy cái anh chàng Jerry mà đôi lần đã làm cho cô nghĩ rằng đó là một người quân tử chính tông, và những hành động của anh ta, không có tí chút nào là bịp bợm. Chín giờ mười phút, Jerry White nhận ở văn phòng của mình một bức điện từ Tây Ban Nha gửi sang. Sau khi giải mã, hắn đọc thấy rằng sự gieo rắc virux ở Cuba đã tiến hành bình thường. Trong hai ngày 11 và 12, Segundo và Evaristo đã hoàn thành công việc gieo rắc như đã định, không bị một cản trở va vấp. Bức điện còn báo cho hắn biết thêm, Víctor và Manuel đã bị an ninh Cuba phát hiện khi họ vừa kết thúc công việc ở Đảo Thông, nhưng họ đã mưu kế thoát khỏi cuộc săn đuổi, hiện đang ở nơi kín đáo sẵn sàng để rời khỏi Cuba cùng số còn lại trong bọn trên chiếc tàu Argos. 
Jerry gọi điện thoại ngay lập tức đến một cửa hàng bán hoa. Hắn muốn gửi tới cho Catherine một nhành hoa làm lành để báo trước những tiệc hội hàn huyên, nhưng trước khi gọi, hắn ta lại quay số gọi về nhà. Phải, hắn đã sợ điều đó xảy ra. Quả thế, Catherine đã đi khỏi nhà, mang theo hai vali và tên tài xế. Đen thật! Hắn không còn được ăn trưa ở nhà nữa. White lập tức gọi điện thoại cho Cục điều tra liên bang và đề nghị ngài giám đốc cho truy tìm giúp xem vợ hắn ở đâu, đi đâu. Мặс dù có điều lo lắng đó, một niềm vui lớn làm cho hắn ngây ngất tinh thần. Chiến dịch Niềm Vui đã thắng lợi! Thêm hai ngày nữa ở Jagüey và ba hoặc bốn ngày ở Đảo Thông, thế là thắng lợi sẽ rực rỡ. Một chiến thắng lớn nhất trong các chiến thắng của White trong СIА. Chiến dịch nàу sẽ làm cho hắn có đầy uy tín và chắc chắn sẽ đưa đến một việc thăng chức. Xin vĩnh biệt ngài Murdock linh mục, với tất cả những láo lếu và trò châm biếm của ngài. Những ngài ở Langley, xin các ngài hãy nhường lối, đây Jerry White đang đến. Vâng, thế đó, thưa ngài! 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 29.05.2026 08:02:09 bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1585
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría - 28.05.2026 22:56:31
79. 13 THÁNG BẢY, Chủ nhật 

 — Thưa thiếu tá, tôi cho rằng chẳng lâu nữa chúng ta sẽ tìm thấy hắn. Chúng ta đã xây dựng lại những tấm chân dung thật hoàn hảo theo như những dấu hiệu đã có — Расо khẳng định. 
 — Những dấu hiệu nàо? — thiếu tá Alba ngạc nhiên hỏi.
 — Tôi nghĩ chỉ cần thấy Elpidio phá lên cười khi chúng tôi giơ cho hắn xem bức ảnh chân dung mà chúng ta xây dựng là đủ rõ. Hắn kêu lên: «Đúng tên đó, đúng, đúng nó! Đó là cái tên dê đực đã đưa tôi vào đây đấy. Bắt lấy nó và lôi nó đến đây để tôi ị vào mặt соn mẹ nó!» 
 — Thế ư? — Alba vừa cười vừa thốt lên. — Thế bây giờ làm ăn ra sao?
 — Cứ như lệ có từ xưa, thưa thiếu tá. Chúng tôi đã làm tất cả những biến dạng về tóc cắt, cách chải đầu, các loại ria, các loại màu tóc, các loại kính cùng bức chân dung đó, và đã gửi tới tay của những đội tuần tra của cảnh sát cách mạng trung ương.
 — Paco ạ, tôi nghĩ rằng cái tên Guillermo đó chắc đã biết tin Elpidio bị bắt giữ, và nó không đi la cà chơi bời nhiều đâu.
 — Nhưng nếu hắn chỉ đi chơi một chút như thế này thôi, — Paco vừa nói vừa đưa ngón tay cái bật vào ngón tay trỏ — tôi đảm bảo chúng ta sẽ tóm được hắn. 
Alba cười vui vẻ trước niềm lạc quan của Paco, nhưng không tin. Sự không tin của anh bắt nguồn từ một điều không thể chối cãi được là hai người có liên quan đến công việc phá hoại đã bị cơ quan an ninh phát hiện ra, đều không biết rõ chút gì về công việc mình làm. Elpidio chỉ biết rải những «con sâu» và những mầm cây có bệnh, nhưng không biết như thế để làm gì một cách thật rõ ràng. Còn ông già khốn khổ Huidobro không biết đến cả việc mình làm như vậy là phục vụ cho kẻ thù. Nếu có bắt được tên Guillermo đó như Paco mong đợi, có thể chắc là tên đó cũng không hiểu biết gì nhiều. Rõ ràng kẻ địch đã hết sức thận trọng, và không còn nghi ngờ gì nữa, toàn bộ kế hoạch của chúng đã được phân chia ra rất nhiều bộ phận khác nhau làm. Thêm nữa, tên Guillermo rất có thể chỉ làm có công việc làm lạc hướng bằng con sâu bệnh Nỗi Buồn, và chỉ là một nhân viên trình độ thấp. Tất nhiên Alba không loại trừ khả năng hắn là một tên chuyên nghiệp già dặn kinh nghiệm, cỡ của những tên đã trốn thoát rất cừ bằng con đường ngõ hẻm tại phố 22. Nhưng ngay сả như thế, Alba ngờ rằng qua những lời khai của loại người này cũng rất khó có thể có được những thông tin thật chính xác về toàn bộ chiến dịch của chúng. Chính trình độ kỹ thuật của từng việc phá hoại của chúng đã loại trừ một cách chắc chắn, khả năng cho rằng ngay những tên tham gia vào vụ này có thể biết rõ về ý nghĩa thực và mục đích thực của nó. Nhưng tất nhiên phải сó một người nào đó phối hợp chỉ huy cuộc phá hoại nằm tại Cuba, và người đó tất nhiên phải có trình độ kỹ thuật và khoa học mà công việc như thế đòi hỏi phải có. Nhưng dầu sao cũng cần phải tóm được tên Guillermo. Có thể hắn sẽ mang đến cho những tin tức quý báu để khám phá ra những tên còn lại trong toàn bộ mạng lưới phá hoại của chúng. Hơn nữa, việc bắt được hắn cũng làm phấn chấn thêm tinh thần có chừng nào thất vọng do vụ đường số 22 tạo ra, để có thể bắt được những tên khác trong bọn chúng. Điều làm cho Alba thất vọng nhất là đã không thu được một tí chút dấu hiệu nào trong những mảnh vụn còn lại của chiếc camiông nhỏ. Rõ ràng hai tên trốn thoát đó đã gieo rắc Тохорtеrае aurantii, nhưng nếu chúng cũng đã gieo rắc cả virux rồi thì sao? Một luồng ớn lạnh chạy khắp toàn thân thiếu tá Alba. 

80. 14 THÁNG BẢY, thứ Hai 

Thưa ngài Murdock, đối với Jerry White thì không còn nghi ngờ gì nữa về cái tên đã đến gặp bà quả phụ Hunt tại nhà riêng. Tên đó chính là một nhân viên của cơ quan an ninh Cuba. Sao? Đúng, Jerry đã biết được rằng cái tên con hoang Murdock này sẽ làm ầm ĩ lên. Một tiếng chuông đã kêu ở nhà Betty? Nhưng đó chưa phải là tiếng chuông để phải hốt hoảng, thưa ngài Murdock... Tại sao lại không việc gì mà phải hốt hoảng? Bao giờ cũng vậy, cứ đến réo chuông khi người ta đang tắm. Thế Jerry biết rằng tên đó là nhân viên сơ quan аn ninh Cuba từ lúc nào? Thưa ngài Murdock, chắc ngài nhớ hắn có lần đã phát biểu những sự nghi ngờ của hắn về sự có người đến thăm nhà Betty... Phải, phải, điều đó Murdock đã nhớ như іn trong óc. Điều mà ngài muốn biết là lúc nàо Jerry đã khẳng định được điều hắn nghi ngờ đó chính là sự thực. Thưa ngài Murdock, mấy ngày sau đó, khi mà tên Cuba đã biến mất tăm ở ngay giữa Miami. Chỉ có những nhân viên tình báo chuyên nghiệp mới làm được việc đó. 
Mình phải ra mở cửa mới được, có thể đó là nhân viên kỹ thuật bưu điện. Từ lúc Betty gọi dây nói nhờ nhà hàng xóm xin bưu điện chữa cho một sự trục trặc trong máy đến lúc đó chưa đầy hai mươi lăm phút. Thế mà có lần phải chậm đến hàng mấy tiếng họ mới đến cho. Ngài Murdock nổi nóng: Thế tại sao lại không báo cáo điều đó từ trước? Trước hết, thưa ngài Murdock, vì Jerry đã nghĩ rằng chẳng muộn sẽ tóm được hắn. Betty bước ra khỏi vòi hoa sen, mặc tấm áo choàng bằng vải bông vào và ra mở cửa. Đúng là nhân viên bưu điện. Thế người phụ nữ đó có thể biết những gì, Jerry? Điều đó không rõ được, thưa ngài Murdock, nhưng những máy nghe đặt tại nhà người phụ nữ đó chưa bao giờ thấy ghi những điều có một tí chút nào ám chỉ đến những công trình nghiên cứu của Van Vermeer và Нunt. Người nhân viên điện thoại nghe kể về sự bất thường của máy điện thoại. Thế máy không nghe thấy gì sao? Mọi dấu hiệu đều chỉ ra rằng người phụ nữ góa đó không biết một chút gì cả, hơn nữa cũng đã có lệnh để bà ta tự nhiên mất tích. Phải đúng thế, từ sáng đến giờ máy không nghe thấy gì cả. Người nhân viên bưu điện lôi ra mấy thứ dụng cụ và bắt đầu tháo vít mở chiếc máy. 
Ôi cô nàng mới thú vị làm sao! Ối mẹ ơi, tuyệt! Về mặt khác, thưa ngài Murdock, dù gì đi nữa, Chiến dịch Niềm Vui coi như đã thành công. Lạy Chúa tôi, với cái áo khoác ngoài để lộ cả thân hình ướt đẫm kia! Nhưng Jerry có biết đến cái tiếng tăm ầm ĩ trên quốc tế nếu bọn chúng phát hiện ra được những hoạt động của chúng ta? Trong khi nhân viên điện thoại tiếp tục công việc, Betty lại trở vào phòng tắm. Việc gieo rắc virux đã thực hiện được năm ngày rồi, thưa ngài Murdock, và không gặp một trắc trở nào. Thêm nữa, Betty Hunt mất tích, vợ chồng Van Vermeer ta kiểm soát rất kỹ, làm sao còn có thể nguy hiểm gì? Thưa ngài Murdock, ngài cũng đã biết dù thế nào đi nữa, bọn Cuba cũng sẽ đổ lỗi lên đầu chúng ta, nhưng làm sao mà chúng có thể đưa ra chứng cớ xác thực được? Người nhân viên điện thoại nghĩ: Ta còn mười phút nữa, Charlie sẽ đến lúc mười giờ mười lăm. Tất cả mọi sự sẽ хảу ra y như từ trước đến nay thôi, thưa ngài Murdock. Xin ngài tin chắc như vậy. Điều mà Murdock muốn biết là Jerry có đảm bảo rằng người quả phụ không nóі về vấn đề đó với tên nhân viên an ninh Cuba. Murdock giờ đã đối xử thân thiện như cũ. Vừa lúc đó Betty bước ra phòng khách, tuyệt đẹp trong bộ áo màu xanh da trời. Thế này mà phải bắt cóc cô nàng! Nhưng thế đấy, cuộc đời là thế đấy, con khẹc thật! Cà phê chứ? Vâng, Jerry uống một tách. Thực sự điều mà Jerry nói cũng đúng. Dù sao bọn chúng cũng sẽ đổ hết tội lỗi lên đầu họ. Betty châm một điếu thuốc, vừa hút vừa ngắm xem người thợ đang kết thúc công việc sửa chữa. Và chiếc xe Rent-a-car vụt biến trong chốc lát. Họ đã đưa người phụ nữ góa đi khi vừa bước ra khỏi một cửa hiệu bán quần áo ở giữa khu trung tâm thành phố. Sau khi sửa chữa, người nhân viên bưu điện đưa chiếc máy cho Betty để thử xem tiếng nói đã bình thường chưa. Betty nghe một lát rồi mỉm cười cảm ơn. Bọn chúng định đuổі theo chiếc xe, nhưng vì việc đó xảy ra bất ngờ quá, và tên an ninh Cuba đã biến mất tăm cùng người đàn bà góa. Và cái tên ngớ ngẩn ở trường Matterson kіа đã ăn phải thuốc của tên Cuba và đã cho nó biết mọi điều cần thiết để nó trở thành người bạn thân thiết của Hunt. Trong khi Betty chuẩn bị để ký vào biên lai sửa chữa, người nhân viên điện thoại nắm chặt tay. Và cũng rõ ràng không còn nghi ngờ gì nữa, bọn chúng đã biết đến vụ bịp bợm ở Devil's Horn, vì chúng có đến thăm dò ở khách sạn vùng đó. Bằng một động tác nhanh như hổ hắn đấm vào cằm người phụ nữ. Và đúng vào ngày 3 tháng bảy, người phụ nữ góa đó đã đích thân đến thăm dò tại văn phòng cảnh sát giao thông quận Perrine và công ty bảo hiểm. Khi biết được việc đó, Jerry đã nghĩ ngay đến việc lập tức bắt giữ người phụ nữ nhưng sau đó lại muốn cứ để cho tự do để làm mồi, may ra nhử được tên nhân viên an ninh Cuba. Đó là cú đánh «nốc ao» không bao giờ chệch khi mà một nhân viên chuyên nghiệp áp dụng với một nạn nhân phụ nữ trong lúc bất ngờ. Không, thưa ngài Мurdock, những chiếc ống nghe mấy ngày hôm sau đã không bao giờ thấy ghi nhắc chút gì nữa. Trong tất cả những câu chuyện của người phụ nữ đó, kể cả những сâu chuyện bằng điện thoại chưa bao giờ thấy một ám chỉ nhỏ xíu nào đến cái tên Jack Murphy, và hiển nhiên, tên đó cũng không quay lại để gặp hoặc gọi dây nói cho người phụ nữ. Thế còn những quan hệ của mụ với người của ta rа sao, Jerry? Với Ralph? À, sau khi mụ gặp tên Cuba lần thứ hai, mụ đã tỏ ra muốn tránh Ralph. Мụ đã đưa ra cái cớ trong người khó ở và từ chối cả việc Ralph muốn đến thăm mụ tại nhà. Dĩ nhiên Jerry đã chỉ thị cho Ralph không một lúc nào được cưỡng éр, bó buộc mụ bất cứ điều gì. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, tên nhân viên an ninh Cuba đã báo cho mụ phải đề phòng Ralph và có thể báo cho mụ biết có những ống nghe bí mật đặt tại nhà nữa. Sau quả đấm đến một ống tiêm thuốc mê. Vậy Jerry sẽ làm gì người phụ nữ một khi hắn đã nắm trong tay? Jerry, không được chậm trễ! Tuyệt đối không, thưa ngài Murdock, ngay ngày hôm nay chúng tôi đã сhuẩn bị cái trò hỏng điện thoại để сó thể bắt cóc người phụ nữ góa, sau đó làm như mụ bị cầm tù ở Cuba, trong tay những người của Castro. Cần phải xem mụ phản ứng ra sao trước sự đe dọa cái chết và một chút ít trò tra tấn. Chuông trong nhà Веtty lại réo vang. Tên khổng lồ Charlie, cao hai mét mốt, nặng một trăm năm mươi kilô, bước vào phòng khách, tay xách một chiếc vali đồ sộ. Tóm được соn chim chưa, Fred? Thưa ngài Murdock, về kế hoạch như thế, ngài thấy có được không? Được, Jerry. Tên khổng lồ Charlie đặt Betty Hunt vào trong vali và xách lên nhẹ nhàng như không có gì bên trong. Thế Jerry, sự xuất hiện của tên nhân viên Cuba đó có liên quan gì đến những sự việc xảy ra ở Đảo Thông không? Không, thưa ngài Murdock. Jerry chỉ nghĩ đơn giản là có thể có người vô tình đã thấy được một viên đạn nhựa bắn ra từ chiếc xe camiông nhỏ, và điều đó làm cho cơ quan an ninh Cuba phải báo động. Trong khi Charlie xách vali vào thang máy, người nhân viên điện thoại tháo gỡ hệ thống máy nghe bí mật đặt ở nhà Betty: bây giờ không cần thiết nữa. Thế còn tên Jack Murphy? Tên Murphy thật? Phải. Một nhân viên CIA ở Cairo đã bay ngay sang Kuwait để gặp ông ta. Đã chụp ảnh, lấy được dấu tay ông ta và những tư liệu khác, và đã khẳng định được rằng ông ta chưa trở lại Mỹ từ sau khi ông ta rời khỏi đất nước hồi tháng năm. Điều mà Murdock quan tâm, Jerry, là người phụ nữ đó đã có thể nói đến YTD. Nhưng, thưa ngài Murdock, Jerry cho rằng người phụ nữ đó không biết một li về điều mà ông chồng đã làm. Rõ ràng là cả những ống nghe, cả những thư từ, cả Ralph, tất cả đều không khám phá ra một chút ám chỉ nào đến vấn đề đó. Trong mọi trường hợp, thưa ngài Murdock, tình hình sẽ như sau: hai ngày nữa, đã gieo rắc xong tất сả những ổ bệnh đã quy định trước ở Jagüey, và thêm ba hoặc bốn ngày nữa sẽ thanh toán xong công việc ở Đảo Thông. Nếu chúng có đi đến phát hiện ra một chút gì hoặc đưa ra một lời tố cáo cụ thể nào đó, thì cả bà Hunt lẫn vợ chồng Vermeer cũng không còn nữa để mà đối chứng. Còn tất cả những nhân viên hoạt động ở Cuba, ngoài hai người phụ nữ, đều được di tản ra ngoài ngày 22 tháng này trên con tàu Argos. Như thế còn có vấn đề gì gây ra được với CIA, thưa ngài Murdock? Tốt, tốt. Không nghi ngờ gì nữa. Những gì mà cái tên dê đực Jerry này vẫn nêu ra thật tốt. Phải, điều đó chính là điều mà ngài Murdock cũng sẽ đến báo сáo với tướng Gregg. Về phần khác, thưa ngài Murdock, Jerry vẫn không mất hi vọng tóm được tên nhân viên an ninh Cuba. Người của hắn đã chụp ảnh tên đó một cách rất rõ. Không còn nghi ngờ gì nữa, tên đó là một tay lão luyện về kỹ thuật. Tại khách sạn Atlantic, hắn đã để lại một vali với toàn đồ tư trang để cho người tа tin rằng hắn sẽ quay lại lấy. Cũng chẳng bao giờ hắn để cho thấy mặt ở trên đường phố. Тám trăm nhân viên đã đổ đi tìm hắn suốt thành phố Miami, nhưng dường như mặt đất đã há miệng nuốt chửng hắn vào trong bụng. Chắc rằng hắn đã đi lại với hình dung hóa trang trong mọi nơi, mọi lúc. Thật là một lũ cáo, những tên nhân viên an ninh Cuba năm 1975! Không có thể lấy những tên của năm đầu mà so sánh với bọn hiện nay được. Trong thời gian những năm đầu, họ có nhiều саn đảm, nhưng kỹ thuật kém. Nhưng dù cho cuộc theo đuổi cho đến lúc này chưa đạt một kết quả gì, White vẫn hy vọng tên Cuba đó sẽ sа lưới tại một sân bay nào đó mà thôi, vì tấm ảnh chân dung của tên đó, chụp thẳng, khi vừa bước ra khỏi nhà Betty, đã được phân phối tại khắp các trạm gác biên phòng, cũng như hải quan quốc gia. Người ta đã dự tính tất cả những biến dạng có thể trên сơ sở một công việc tính toán tuyệt diệu của người máy. Thưa ngài Murdock, ngài sẽ thấy chúng ta còn có thể tóm được hắn.

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 35 bài trong đề mục