BÓNG CHIM CÂU
TRÊN SÓNG BIỂN MIAMI
MẠNH TỨ dịch
từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha
Nhan đề "JOY"
NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1986
Cuốn tiểu thuyết này có được nhờ một phần lớn vào sự cộng tác hết lòng của một số đồng chí sau đây:
Tiến sĩ Êlêna Canđaz, văn học cổ điển, Khoa ngôn ngữ học,
Cử nhân Luix Anverex, văn học cổ điển, Khoa ngôn ngữ học,
Kỹ sư nông học Alexix Đê Bernađix, giám đốc Trạm quốc gia vi khuẩn cây cam chanh, Bộ Nông nghiệp,
Kỹ sư nông học Pêđrô Luix Bernan, giám đốc Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp,
Kỹ sư nông nghiệp Nócbêtô Matôx, cán bộ nghiên cứu của Trạm quốc gia vi khuẩn cây cam chanh, Bộ Nông nghiệp,
Kỹ sư nông nghiệp Elixêô Araăngô, người trồng cam chanh, Bộ Nông nghiệp,
Cử nhân Ănghen Vaxkex Midarex, Đoàn nhạc giao hưởng quốc gia,
Óoclanđô Rôblex, thuộc Nghĩa quân chống Tây-ban-nha
Và đặc biệt là Hôsê Pêrex Ramôx, Trung tâm đại học Hôsê Ăngtôniô Êchêvaria (CUJAE),
Ngoài ra cũng nhờ tiến sĩ Rôbéctô Phécnăngđéx Rêtamar đã gợi ý để tôi viết nên cuốn sách này.
Gửi tới tất cả các đồng chí lòng biết ơn
của tôi.
DANIEL CHAVARRÍA
Thành phố La Habana, 1977
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Cuốn sách được giới thiệu hôm nay với bạn đọc được coi là cuốn hay nhất trong những cuốn truyện được giải thưởng của Bộ Nội vụ Cuba từ năm 1972 tới năm 1977 là năm cuốn sách này được xuất bản (Nhà xuất bản Văn học- Nghệ thuật La Habana).
Tác giả Daniel Chavarría sinh năm 1933, là giáo sư văn học cổ điển, ngữ văn Hy La Trường đại học tổng hợp La Habana. Ban chấm giải có nhận xét sau đây khi xét trao giải nhất năm 1977:
«JOY» có được ba mặt thành công: nội dung thú vị, văn phong, ngôn ngữ phong phú và sử dụng khéo léo những biện pháp kỹ thuật. Cuốn truyện trinh thám phi thường này lấy đề tài chính là sự thâm nhập của CIA vào Cuba để phá hoại nền công nghiệp cam chanh của Cuba. Tác giả đã đưa chúng ta vào thế giới phức tạp của những cuộc đấu tranh chống gián điệp phá hoại và tác giả đã thành công rõ ràng».
«JOY» — tên cuốn sách — chỉ có nghĩa là Niềm Vui.
«JOY» cũng là tên một loại nước hoa mà vợ của một tên trùm gián điệp thường dùng và được tên này lấy để đặt tên cho kế hoạch phá hoại quy mô lớn của Cục tình báo trung ương Mỹ chống lại nước Cộng hòa Cuba.
«JOY» trở thành tên một chiến dịch phá hoại hết sức tinh vi và thâm độc của đế quốc Mỹ nhằm phá hoại nền kinh tế Cuba, cụ thể là sử dụng những thành tựu mới nhất của khoa vi sinh vật để phá hoại nền công nghiệp cam chanh của Cuba.
Để chống lại một chiến dịch phá hoại nguy hiểm như vậy, không những cần có một tinh thần cảnh giác nhạy bén, tinh thần chiến đấu cao mà còn cần có trí thông minh và những hiểu biết khoa học hiện đại nhất. Các chiến sĩ thuộc cơ quan phản gián và những cơ quan khoa học Cuba đã chứng tỏ bản lĩnh của mình trong việc đập tan âm mưu này của cơ quan tình báo Mỹ.
Ý đồ thâm độc và những thủ đoạn nham hiểm của chủ nghĩa đế quốc trong việc phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Cuba, và đặc biệt là cuộc đấu tranh của các cơ quan phản gián, của các nhà khoa học và nhân dân Cuba để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của mình là một bài học tốt cho cán bộ và nhân dân ta hiện nay, đang đấu tranh chống lại sự phá hoại nhiều mặt của kẻ thù.
Trong tinh thần đó, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn Bóng chim câu trên sóng biển Miami (tên Việt Nam do chúng tôi đặt cho cuốn «JOY») của Daniel Chavarría. Cuốn này được dịch theo nguyên tác. Năm 1983, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã xuất bản với một bản dịch khác, với nhan đề Kế hoạch "Joy".
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
1974
1. THÁNG GIÊNG
Đối với Felipe Carmona đường phố tựa như một người đàn bà. Với một số người, nó chẳng cho chút ân huệ gì, còn đối với một số người khác, lại cho tất cả. Về phần mình, Felipe Carmona biết rất rõ mọi bí mật của đường phố. Từ thuở còn thơ, hắn đã phải đi kiếm ăn trên các đường phố La Habana. Mười bảy tuổi, bắt đầu bán tạp hóa. Công việc làm ăn trôi chảy. Mười tám tuổi, hắn kiếm được một chân bán dụng cụ gia đình bằng điện, bán rao từng nhà. Công việc này cũng trôi chảy. Hắn có cái tính mạnh bạo của những nhà kinh doanh lớn và vững tin vào bản thân mình đến độ có lần thuê xe camiông chở mươi mười hai chiếc máy khâu đi ra phố bán hết ngay. Thật hiếm ngày hắn không bán được ba, bốn món hàng. Thường thường cứ mang xe camiông hàng đi, đến khi trở về, xe đều hết nhẵn.
Công việc sáng sáng đi bấm chuông từng nhà, sục vào từng hộ, chuyện trò với những người chẳng quen biết bao giờ để tìm cách sinh sống một cách có nghị lực và khéo léo, hắn cho là một nghề có vẻ trai tráng nhất trong các nghề sinh sống. Vì vậy hắn yêu quý đường phố như thể yêu quý một người đàn bà. Đối với hắn, người đàn bà đó đã dành cho tất cả. Hiếm có ngày nào mà hắn không giành được của ả dưới một trăm đồng peso tiền hoa hồng.
Thực tình Felipe Carmona có những thiên tính đặc biệt của một người chào hàng, vượt xa cái lối bán hàng theo bài bản mà là một kiểu bán hàng tùy hứng. Đôi khi, chiếc cặp xách trên tay, hắn bước ra đường phố vào buổi sáng, đi làm ăn. Ra đến góc phố gần nhà, tự nhiên chợt cảm thấy rằng ngày hôm đó không phải là ngày làm ăn của mình, lập tức không chút lưỡng lự hắn quay về nhà và lên giường nằm ngủ. Có những lần ngược lại, khi mà tất cả những anh chàng bán hàng đang tìm bóng mát nghỉ ngơi trong các bar, khi mà cái nắng Cuba khiến cho người ta phải suy nghĩ một chút trước khi quyết định có nên bước sang ngang đường không, Felipe Carmona lại đứng lên, rời khỏi bar và tuyên bố một cách quả quyết: «Giờ này mới thật là giờ làm ăn!». Và chính trong những giờ phút đầy cảm hứng mà nàng thơ kinh doanh bay xuống ấy là lúc mà Felipе Carmona xây dựng được những kỷ lục xuất sắc nhất của hắn.
Đúng thế, đường phố chính là cuộc đời của hắn. Nơi đó đúng là nơi người ta vung vãi tiền, người ta vất đi hoặc tặng cho nhau. Sao lại có thể không thấy điều đó? Sao lại có thể chịu nhịn đói? Điều đó cũng rõ ràng dễ hiểu: vì tất cả mọi người đâu có hoàn toàn giống nhau. Và đó cũng là cái lý của tất cả mọi sự việc. Năm 1957, hắn bắt đầu làm nghề chào hàng, bán những phiếu bảo hiểm cho tập đoàn bảo hiểm. Trong nghề bán tín phiếu, hắn cũng nổi bật. Hắn có cái năng khiếu trời cho được giới kinh doanh đánh giá cao, tức là cái tài làm cho nhiều người phải thọc tay vào túi rút tiền để mua những thứ mà họ không cần thiết. Đúng là một nhà kinh doanh có tài vận động, một người tạo ra sự giàu có, một người thúc đẩy sự tiến bộ theo như những lời nhận xét ghi trong tấm bằng mà hắn cứ từng định kỳ nhất định chiếm được.
Tháng giêng năm 1959, Felipe Carmona tròn hai mươi tuổi. Lúc đó, hắn đã là hội viên của Vedado Tennis và của Miramar Yacht Club, hai hội thể thao của tầng lớp quý phái. Từ trước, hắn vẫn luôn tìm cách liên hệ với những người thuộc tầng lớp trên, lớp quý phái. Khi hắn vận động để gia nhập Yacht Club, có người đã khuyên hắn ta chẳng nên mặc vào người cái áo của thằng điên, rằng rồi hắn chẳng thể chịu đựng nổi cái lối chi tiêu quá quắt nó đòi hỏi trong việc giao tiếp với tầng lớp xã hội đó, v.v... Nhưng Felipe Carmona, con người sống ở Cuba từ bé có bao giờ sợ chi tiêu đâu. Càng kiếm được nhiều thì càng tiêu khỏe, hắn phớt lờ những lời khuyên đó, tham gia vào Hội Yacht Club, đánh bạn với tầng lớp này, và công việc kinh doanh của hắn lại có vẻ tốt hơn, thu nhập tăng lên gấp bội.
Nhưng năm 1959, tầng lớp người đó bắt đầu ra đi. Đối với Felipe, hắn không thiếu những đề nghị trao cho những công việc làm ăn tại Mỹ, nhưng lúc đó hắn không nhận. Sau đó cũng vậy, khi những ông chủ tập đoàn bảo hiểm muốn mang hắn đi theo hắn cũng không đi. Mẹ hắn vừa được phát hiện có một ung thư ở hạch và sẽ chết bất cứ lúc nào, nên hắn cần phải ở bên bà cụ. Đó là điều tối thiểu hắn có nhiệm vụ phải làm. Ngoài ra Felipe đinh ninh rằng mình không cần thiết phải đi đâu cả, chẳng bao giờ nên rời bỏ căn nhà xinh xắn của mình ở khu Vedado, cũng chẳng cần phải chịu một sự hy sinh nào ngoài đất nước Cuba làm gì. Bọn Mỹ sẽ không cho phép tồn tại việc đang xảy ra trên đất nước của hắn. Đúng, đơn giản là họ sẽ không cho phép như thế! Phải, thử xem có cái đầu nào chấp nhận được rằng bất cứ anh chàng chết đói nào cũng có thể được sống như hắn, một cái máy làm ra tiền, một động lực thúc đẩy tiến bộ? Hắn đã lôi ra được những tấm giấy bạc từ dưới những tảng đá. Lôi ra hàng xấp, hàng đống. Và bây giờ bọn hèn mọn ấy đến, bọn không có khả năng kiếm được một đồng peso một ngày, chúng đòi Agustin Batista, đòi họ hàng Falla, họ hàng nhà Gómez Mena phải phân chia đều cho họ? Không, không thể được! Đấy là những lực lượng sống động nhất của quốc gia, những người sáng tạo ra tài sản, của cải. Đúng, bọn người đó đã cướp của cải của hắn. Hắn cũng vậy, và tất cả mọi người đều ăn cướp những cái gì có thể cướp được, cái lẽ cuộc đời nó như thế mà. Chẳng phải tụi cộng sản không là những tên cướp tồi tệ nhất, cướp của tất cả mọi người, thậm chí tước đoạt cả những gì người ta nhận được của cha mẹ ông bà người ta để lại. Không, cái đó không thể kéo dài được. Người Mỹ không cho phép như thế: đó là điều chắc chắn.
Sau sự kiện Girón, điều chắc chắn của hắn bắt đầu lung lay. Cái tập đoàn bảo hiểm của hắn đã rời khỏi đất nước và mẹ hắn cũng chưa chết hẳn. Hắn liên hệ với những phần tử phản cách mạng và cộng tác trong một số vụ phá hoại nho nhỏ.
Hắn cảm thấy ngột ngạt. Cuba thay đổi từng ngày. Những đường phố La Habana bây giờ đã không còn vẻ cám dỗ như trước nữa. Bây giờ không còn ai vất tiền vung vãi như xưa. Tài năng khác thường về bán hàng của hắn bắt đầu bị lỗi thời trong cái thế giới lộn xộn này. Sau đó, khi cái Ủy ban bảo vệ cách mạng quái quỷ kia bắt đầu tăng cường sự canh phòng xem xét, hắn không còn chịu đựng nổi. Thôi thì bà già tha thứ cho hắn, Felipe Carmona không thể kham được cái đó. Hắn bèn quyết định ra đi, muốn ra sao thì ra. Hắn báo cho mẹ biết đã gửi đơn xin làm thủ tục ra đi bởi biết rằng nếu không rời khỏi đất nước chắc chắn sẽ phạm phải những điều càn rỡ. Và nếu bà già cũng muốn đi cùng hắn...
Bà già không đi, thà chết trong sự khó chịu ở đất nước vào cuối năm 1962, và đến tháng hai năm 1963, Felipe Carmona rời khỏi Cuba sang Camarioca, nóng lòng được trở lại sống cùng với những người thuộc tầng lớp hội viên của Yacht Club, và nhất là, lại thu vén được từng cuộn giấy bạc xanh xanh, những tờ giấy bạc đáng yêu biết bao, như trong thời kỳ huy hoàng trước kia của hắn. Thật là tuyệt! Khi con tàu đã ra khơi, hắn cảm thấy như vừa ra đời lần nữa.
Hắn bị thất vọng lớn. Nói đúng hơn là hắn bị hai cái lầm. Vừa mới tới, tất cả những bậc đàn anh kếch xù của Yacht Club đều đóng sập cửa trước mũi hắn, và những tờ giấy xanh người ta cũng không tung vãi như hắn tưởng.
Trong thời gian làm quen với thung thổ, đợi được giao bán một loại hàng mà hắn ưa thích, hắn nhận bán thứ hàng đầu tiên mà hắn tìm được qua lời rao vặt trên tờ Người Thông tin Miami: giấy vệ sinh Waldorf, mềm mại như lông ngỗng. Hãy mua giấy vuốt ve Waldorf, các ngài sẽ vui trong cuộc đời!
Mặc dù hắn giao du chủ yếu trong bọn người Cuba lưu vong và Mỹ La-tinh nói chung, trong thành phố này và có thể trong cả cái nước này, có chút gì đó đã không để cho nàng thơ kinh doanh xuống cùng hắn. Hắn cho rằng những kết quả tồi tàn mà hắn kiếm được ở đây có lẽ tại cái tính chất ít quý phái của thứ sản phẩm đó, dù rằng xưa nay hắn vẫn thường nói rằng một người bán hàng vĩ đại có thể bán được tất cả mọi thứ hàng đặt trước mặt mình, từ phân bột cho tới một chiếc tàu ngầm.
Hắn từ giã món giấy vệ sinh và chuyển sang bán đồ chơi trẻ em. Cũng vậy, công việc cũng không chạy. Phần lớn những người Cuba ở đây đều là một lũ phá sản không đủ tiền mua thuốc xì gà, hoặc có kẻ còn xì gà thực, cũng không bao giờ mở cửa tiếp một đồng bào nào của họ. Đó là cái luật rừng xanh. Tựu trung, ở đây không ai có thể mua đồ chơi cho con mình được. Vấn đề gay nhất của Felipe ở chỗ hắn không biết tiếng Anh. Nếu hắn muốn sống bằng nghề bán hàng, bằng áp-phe, hắn vẫn phải rao chào bằng tiếng Tây ban-nha, nên không ổn. Suốt năm 1963, hắn chỉ kiếm được một chút hoa hồng khốn khổ, tồi tệ không đủ để sống trong một khách sạn nhỏ nhoi hạng bét, hôi mùi lam lũ và mùi ma túy. Việc đã xảy ra với hắn như vậy đấy! Đối với hắn, một con người hồi ở Cuba không bao giờ thu nhập dưới ba mươi nghìn peso trong một năm! Còn than vãn sao không biết tiết kiệm trước kia làm gì! Tại sao trước không chịu học tiếng Anh?
Hắn quyết định đi thử may rủi của số phận tại New York. Hắn muốn thoát khỏi cái không khí Cuba của miền Florida, và nhận thấy bắt buộc phải học tiếng Anh để rồi sẽ trở thành ngôi sao chào hàng như xưa kia ở Cuba. Tất cả vấn đề nằm ở chỗ ngôn ngữ đó.
Ở New York, hắn phải chết dở ở ngoại ô, bởi vì bán hàng bằng tiếng Anh, thôi đi, đơn giản là hắn không biết tiếng. Thêm nữa cái rét ở New York cũng làm cho hắn trở nên hèn nhát. Hắn bắt đầu lo rằng với cái rét này, dù cho hắn có sõi tiếng Anh như Alan Ladd, cũng chẳng bao giờ nàng thơ kinh doanh thèm hạ xuống để phù hộ hắn. Anh chàng cựu vô địch bán hàng đắt khách nhất của tập đoàn bảo hiểm, bây giờ khóc rấm rứt trong cái buồng tồi tàn không có lò sưởi, ở phố 111 và đại lộ Lexington.
Một người cùng trọ trong ngôi nhà này, làm công việc bồi bàn tại một tiệm cà phê của Câu lạc bộ Columbus, tìm được cho hắn một chân rửa bát kiếm được mỗi tuần bốn mươi đôla. Hắn nhận liền. Sau một ít ngày làm việc, họ chuyển hắn vào phục vụ khách trong phòng ăn uống, lương mỗi tuần chỉ có hai mươi lăm đôla, nhưng cộng thêm tiền «nước» mà khách cho cũng được năm mươi đôla một tuần. Hắn đinh ninh rằng tốt nhất cứ ở lại làm việc tại đó cho đến khi học thông cái thứ tiếng chết tiệt kia đối với hắn sao mà khó thế. Sau đó sẽ trở về làm công việc quen thuộc của mình, để bay bổng, bay cao trong cái nghề bán rao hàng bằng tiếng Anh, giống như trong phim ảnh. Hắn đã xem đến chán những phim ảnh của Rock Hudson và Robert Mitchum. Đôi lúc hắn lấy lại được chút lòng tin vào mình để cảm thấy một cách thoảng qua rằng ở đây, đồng đôla giấy, những đồng đôla yêu quý, những tờ giấy bạc xanh xanh đáng yêu, lại rơi vung vãi trên đường phố, và đường phố lại vẫn như là một người đàn bà, mà anh chàng đàn ông lại chính là hắn, Felipе Carmona! Nhưng khi đèn bật lên và bước ra ngoài đường để cái lạnh New York táp vào mặt buốt cứng, tinh thần của hắn chùn lại, hắn cảm thấy cô độc, đến nỗi đã nghĩ tới mẹ hắn. Và điều tệ hại nhất là trong lúc hắn đang tự nhồi vào mình quyết tâm và can đảm, khi đang quay trở lại, trong giây lát, một anh chàng đàn ông của những đường phố nóng ẩm của La Habana hắn lại để ý chợt thấy người đàn bà ghê gớm là đường phố New York đây, cô ta không để cho hắn có một chút xơ múi gì, không cho hắn một chút ân huệ nào cả. Nếu muốn đánh đổ được cô ả, cần phải đánh đổ bằng tiếng Anh!
Một buổi chiều, Alvarito Fernández Puig tới quán cà phê và ngồi vào bàn mà Felipe phải phục vụ. Alvarito là một người khoảng năm mươi tuổi, nhưng trông già hơn tuổi nhiều. Felipe biết được tuổi chính xác của ông ta vì năm 1957 hắn đã bán cho ông ta một số phiếu bảo hiểm về sinh mệnh và đánh đổi cho ông ta một cô người tình trú ngụ tại khu Vibora, sau đó lại thuyết phục được ông mua thêm phiếu bảo hiểm cho ba xưởng đường thuộc tài sản của ông nữa. Việc bảo hiểm bao gồm đến tất cả mọi thiệt hại, rủi ro do trộm cắp, hỏa hoạn, lừa gạt và những bất ngờ nào đó gây nên. Nhưng thật đáng buồn là tập đoàn bảo hiểm lại không bảo hiểm cho khách hàng của nó về những thiệt hại, những tai biến do cách mạng. Cho nên trên thực tế, Alvarito đã bị một vố thua lỗ khi mua những phiếu bảo hiểm đó. Sau đó Felipe có gặp lại Alvarito vài ba lần ở Yatch Club, thậm chí có lần cùng dự một buổi tiệc tại nhà đại tá Paredes, người thân tín của Alvarito, sống ở ngay gần nhà Felipe, tại khu Vedado. Sau bữa tiệc Alvarito thấy trong người khó chịu, Felipe đã đưa ông ta lên xe của mình và để ông nghỉ tại nhà mình đêm đó.
Buổi chiều hôm đó, khi Felipe thấy ông ta bước vào tiệm cà phê, hắn đã định lẩn trốn vào trong nhà vệ sinh, nhưng rồi cái ông bạn cũ ấy thế nào cũng vào, lúc đó lại càng thêm ê. Hắn bèn quyết định chường mặt với cái khó chịu mà làm nhiệm vụ của mình. Thật xấu hổ, một ngôi sao bán hàng như hắn mà bây giờ làm chân bồi bàn! Hắn vừa đưa khăn lau chiếc bàn mà một người khách vừa rời khỏi, vừa đút vào túi mười lăm xu tiền thù lao người khách để lại. Khi Alvarito rời mắt khỏi tờ báo để gọi cốc sôcôla, bằng tiếng Anh, và nhìn vào mặt hắn, Felipe muốn rằng mặt đất nứt ngay ra và hắn, Felipe Carmona, có thể sẵn sàng lao xuống vực thẳm đó. Nhưng may sao, Alvarito không nhận ra hắn. Ông ta không có một cử chỉ nào tỏ vẻ ngạc nhiên. Sau cốc sôcôla, ông ta gọi một cốc rượu mạnh rồi ngồi cắm cúi đọc tờ Thời báo New York đến nửa tiếng đồng hồ. Cử chỉ đó làm cho Felipe yên tâm, mặc dù không hiểu tại sao, hắn bắt đầu cảm thấy cay đắng mênh mông trước mặt con người ấy.
Khi Alvarito gọi hắn để trả tiền, dúi vào tay hắn một tờ giấy bạc năm đôla, và trong lúc Felipe đưa lại tiền thừa, hắn nghe mà không nhìn vào mặt ông ta, tiếng ông ta nói với hắn: «Gọi điện thoại đến cho tôi vào bảy giờ rưỡi chiều nay, theo số điện thoại mà tôi để ở đấy cho anh». Felipe nhìn vào bàn và trông thấy Alvarito, vừa đứng lên vừa đặt một miếng giấy dưới một chiếc cặp dùng để kẹp vé số. «Gọi xin nói chuyện với Frank», không nhìn hắn, ông ta nói thêm như vậy rồi bước ra.
Khi Alvarito đặt vấn đề yêu cầu hắn cộng tác với CIA, hắn nhận liền. Hắn được hưởng lương ba trăm đôla hàng tháng, cộng thêm tiền xe cộ đi lại, và Cục tình báo trung ương Mỹ mở một tài khoản cho hắn, mà hắn có thể đặt ở bất cứ một ngân hàng nào, số tiền ba mươi ngàn đôla. Hắn có thể rút số tiền đó ra một lúc, vào ngày 14 tháng 3 năm 1970. Đó không phải một món tiền lớn. Như vậy tính ra chỉ khoảng 6.000 đô la mỗi năm. Nhưng cả 5 năm cộng lại, hắn có được một số tiền cọc như vậy để có thể bắt đầu một cuộc đời mới. Trường hợp nếu Felipe chết trước kỳ hạn đã định đó, khoản tiền sẽ do ông Ralph Murdock, giám mục Dòng Con chiên chờ sự tái hiện của Chúa ngày thứ bảy trong tuần, thuộc địa phận Seaport, bang Maine, hoặc bất kỳ ai giữ chức vụ đó ngày 14 tháng 5 năm 1970 được lãnh.
Felipe còn có thể làm được gì khác? Cái viễn cảnh thả nổi cuộc đời và tự do của mình trong 5 năm đối với hắn không có gì thú vị. Nhưng hắn biết rằng thời gian trôi rất nhanh, và hắn thì cần tìm một cách nào đó để thoát khỏi hoàn cảnh xuống dốc bi đát đang gặp phải.
Trước khi ký giao kèo, hắn phải qua một thời kỳ thử thách và sáu tháng huấn luyện cơ bản. Giữa những năm 1966-1967, hắn tiến hành ba chuyến công cán ngắn ở Cuba, để hoàn thành nhiệm vụ liên lạc và tổ chức một số nhóm phản cách mạng. Trong những chuyến công cán đó không chuyến nào hắn ở lại Cuba quá một tuần lễ. Năm 1968 và 1969, hắn làm việc ở Puerto Rico và Venezuela. Hắn rất mê không khí của thủ đô Caracas. Hắn nghĩ rằng nơi đó sẽ mở ra nhiều triển vọng tốt đối với hắn, và đã quyết định sau khi lĩnh được số tiền thưởng ba mươi ngàn đôla hắn sẽ ở hẳn tại Venezuela. Ở đó, hắn sẽ trở lại nghề bán hàng bằng tiếng Tây-ban-nha một lần nữa.
Trong 3 năm làm việc theo giao kèo hắn đã trải qua nhiều nguy hiểm và có cái lo lắng bị tóm trong hai trường hợp. Hắn quyết định, nếu hắn còn sống được đến năm 70, sẽ không ký thêm giao kèo làm việc với CIA nữa.
Sau khi hết hạn giao kèo, người ta vẫn để cho hắn ở trong tổ chức của CIA, trong một chân bình thường, lương khá hơn. Nhưng đến được bậc thang nàу rồi, sau 5 năm kinh khủng, đối với Felipe Carmona bây giờ cái kho báu đáng mơ ước nhất là được sống yên lành, khi tỉnh dậy mỗi buổi sáng không bị giật mình và trong giấc ngủ không có những cơn ác mộng. Hắn ký một biên bản ghi lời khai tất cả những việc đã làm trong mấy năm đó, rồi chuyển vào nội trú một tuần trong một trại tập trung, tại đó người ta huấn luyện cho hắn đến tận từng chi tiết nhỏ, và bằng tất cả mọi thứ tài liệu, hình ảnh, bằng thu thanh... về sự khôn ngoan cần thiết biết giữ mồm miệng sau khi ra khỏi cơ quan CIA. Cuối cùng, ngày 11 tháng Năm, vào lúc tám giờ sáng, hắn lĩnh số tiền ba mươi ngàn đôla và lấy vé đi Venezuela.
Hắn trù tính công việc bán tín phiếu bảo hiểm, nhưng ngay lập tức hắn nhận thấy tại đây công việc đó cũng không chạy. Thật quả nàng thơ kinh doanh của hắn đã ở lại Cuba. Hoàn cảnh xuống dốc vẫn tiếp diễn, mà bây giờ không phải tại lý do ngôn ngữ. Cái gì đã đến với hắn như vậу? Sự thật là hắn không cảm thấу ham muốn bán hàng như trước kia. Hắn trở nên ngại ngùng trước những cuộc gặp gỡ, không tấn công trực diện, và thường hay kết thúc câu chuyện trước khi cần kết thúc, khi người khách hàng hãy còn chưa mềm lòng đến độ, và dĩ nhiên cái lô-gich xảy ra là công việc coi như thất bại. Hắn nhận thấy tất cả những sai lầm và thiếu sót. Làm gì mà һắn không nhận thấy? Nhưng cái đáng buồn là biết như vậy mà không biết cách nào để chạy chữa hàn gắn được những sai lầm thiếu sót của mình. Rõ ràng từ khi rời khỏi thành phố La Habana, Felipe chưa bao giờ được trở về với ngôi sao chào hàng của những năm 50. Có thể vì hắn đã già hơn một chút, nhưng cái đó cũng chưa phải cái quyết định những thất bại liên tiếp của hắn. Điều quyết định những thất bại đó sinh ra bởi không bao giờ hắn có thể lấy lại được lòng tin vào mình như trước. Mà hắn lại là một người bán hàng tùy hứng, người bán hàng theo cảm xúc. Nếu không có nàng thơ cặp kè theo mình, thất bại đó thật là điều đơn giản. Và nàng thơ của Felipe Carmona thực sự đã ở lại La Habana.
Hắn quyết định không quay trở lại nghề bán hàng như trước nữa. Hắn mua một cửa tiệm bánh ngô trong khu nhà im lặng và thuê một căn hộ nhỏ ở đồi Bello Montе. Hai năm 1970 và 1971, hắn sống bằng nghề đó, nhưng chỉ có thể nâng được vốn lên thêm mười hai ngàn đồng. Thấy rằng phải làm việc ít nhất mười bốn tiếng đồng hồ một ngày để kiếm được một số lãi mà hắn cho là mỏng manh như thế, hắn bèn nhượng lại cửa hiệu đó, lập một tiệm quảng cáo, trở thành ông bầu của những nhà nghệ sĩ và để cho một nữ ca sĩ vặt trụi hết đến lông tơ. Tháng Mười một năm 1973, tất cả của cải của hắn còn lại bốn ngàn tám trăm đôla, còn những món nợ mà hắn chưa trả lên tới con số mười lăm ngàn.
Lẳng lặng, hắn chuồn đi theo con đường biên giới với Colombia đến Cúcuta rồi từ đấy đến thủ đô Bogota để đáp chuyến máy bay đầu tiên trong ngày đi New Үork. Hắn tìm gặp Alvarito, người vẫn tiếp tục làm công việc chiêu mộ cho CIA tại một nơi gần Madison, nhờ ông ta giới thiệu cho một công việc của cơ quan đó. Hắn cảm thấy còn trẻ, mới có ba mươi chín tuổi, và vẫn có thể làm việc để lại được nhận một món tiền thưởng như trước kia.
Alvarito cho hắn biết lúc đó không có việc gì, và cho biết thêm rằng đã một thời gian khá lâu, những công việc của CIA bị thu gọn bớt. Nhưng dầu sao ông ta cũng dặn hắn để lại cách thức tìm báo cho hắn biết một khi có công việc gì đó.
Rời khỏi nơi gặp gỡ Alvarito, Felipe đến thẳng một sòng bạc mà hắn biết, ở Coney Island, nơi đó có một bàn quay số bằng ngà và một khung cảnh giả như của Pháp. Nơi đó chỉ những kẻ giàu có mới tới, sẵn sàng trả một trăm đôla tiền vào cửa, và sòng bạc cai quản bởi một số găngxtơ người Ý. Bàn quay số này có số không và hai số không, và đáng lẽ phải trả ba mươi sáu đôla cho mỗi đồng đôla trúng số, họ chỉ trả ba mươi lăm. Nhưng họ nhận những món tiền đánh số tới một ngàn một lần đặt, và ba mươi lăm ngàn đôla cho những lần đặt to nhất.
Felipe đặt một ngàn đôla đầu tiên vào con số 8. Khi người quay số rao bằng thứ tiếng Pháp cà khổ của hắn rằng «Không còn ai ư?», Felipe nhắm nghiền đôi mắt và cầu đến Đức Mẹ đồng trinh phù hộ cho һắn được nghe thấy tiếng rao ngọt lịm nhất trên đời: số 8! Thế là hắn sẽ có 35 ngàn đôla cứu mạng, khiến hắn được loại ra khỏi cảnh khốn cùng và thoát khỏi CIA. Và có nghĩa là nó sẽ mang lại cho hắn một cuộc đời và niềm lạc quan. «Xin Đức Mẹ đồng trinh xinh đẹp, cho con được là người xứng đáng được...». Người quay số xướng như hát: Số 19! với một giọng thật vô cùng thản nhiên.
Lần thứ hai người quay số lại xướng con số được: hai số 00. Đến khi hắn chuyển sang đặt ngàn đôla thứ ba của hắn sang số 23, người quay số lại xướng lên con số được của lần đó: Số 8! Lúc đó hắn muốn khóc rống lên như một đứa trẻ. Số hắn thật đen. Hắn đã làm gì để đến nỗi phải chịu sự đen đủi đó của số phận? Hay đó là sự trừng phạt của Thượng đế vì việc đối xử của hắn đối với mẹ? Hắn còn có cách nào khác để làm đâu?
Ngàn cuối cùng һắn không dám đặt vào loại ăn cả mất tất. Hắn đặt vào số Tài, và thắng trở thành bốn ngàn. Hắn đặt cả bốn ngàn vào số chẵn và khi quay, số được lại là số lẻ! Vừa đúng hết nhẵn cả số tiền mà hắn vừa gỡ lại!
Trong túi hắn còn lại mười bảу đôla và bảy mươi lăm xu, nhưng hắn cảm thấy dễ chịu hơn. Hắn đã mất bốn ngàn đô như thể rứt được ra khỏi người một gánh nặng.
Ngày hôm sau, hắn tìm được công việc bán một loại thuốc mới chuyên trị chai tay. Hắn kiếm trong vòng một tuần lễ hai mươi ba đôla tiền hoa hồng, mà một phần trong số tiền ấy hắn phải chi dùng vào việc mua chính loại thuốc đó để bôi vào chân tay mình, vì cứ đến đêm, hắn cảm thấy hai chân nóng như phải lửa bởi suốt ngày cuốc bộ từ hiệu thuốc này đến hiệu thuốc khác. Số tiền còn lại chỉ đủ cho hắn xơi món dồi thịt rán và trả tiền thuê phòng trọ ở một khách sạn tồi tàn.
Một ít ngày sau đó, Alvarito đến cho biết có một việc làm ở Cuba một năm rưỡi, ngon một cách nóng bỏng giòn tan. Hắn phải ký giao kèo trong một thời kỳ nhất định, được nhận ba mươi sáu ngàn đôla tiền thưởng. «Ba mươi sáu ngàn đôla trong một năm rưỡi làm việc? Rõ ràng số phận của hắn lại bay lên!». Trong hoàn cảnh cùng khốn đó, Felipe Carmona sẵn sàng đón mừng ký giao kèo với đích thân cả quỷ Satan.
Mọi giấy tờ thủ tục đều làm tại New York, mở một tài khoản tại First National City Bank ở New York, trả hết vào ngày 31 tháng Bảy năm 1975, trong trường hợp người chủ tài khoản bị chết, sẽ chuyển tài khoản sang cho Dòng Con chiên địa phận Seaport, bang Maine.
2. THÁNG HAI
— Người Mỹ rất quan tâm chú ý đến vấn đề này từ khi ta thổ lộ với họ — Viên đại tá vừa nói vừa châm một điếu xì gà — Ngay lập tức họ yêu cầu ta cho họ bản tường trình đến hết mọi chi tiết về những việc mà Thú Dữ đã làm tại Cuba.
— Thế làm sao Ngài biết được những gì Thú Dữ đã làm được ở Cuba, thưa đại tá? — Felipe hỏi.
— Ta trông thấy một số ảnh trong một tờ tạp chí Cuba, mấy tháng trước đây, và ta đã cho tiến hành một loạt điều tra ở bên đó để xem có phải chính thật hắn ta không.
— Ngài đã lấy một tấm ảnh ở tạp chí ra làm như một chuyện trong phim ảnh...
Viên đại tá nhổ xuống bãi cỏ, rồi đưa tay rút chiếc dép ở chân ra đập nát một con bướm vừa đến đậu vào một chiếc cọc cột đu. Sau đó lão ta ngả người về phía sau, mắt lim dim và, tay vẫn cầm chiếc dép, đưa lưng bàn tay quệt ngang trán.
— Vì rằng đã lâu rồi, khỉ ạ. Thú Dữ đã làm với ta.. từ năm 1950 đến năm 1958. Cũng nhiều năm phải không? Ta đã hiểu rõ hắn. Thêm nữa, ta đã suốt đời ngắm nghía những khuôn mặt các tên tội phạm bị giam giữ, ảnh tù nhân; và mẹ kiếp...
— Nhưng tất cả những cái đó— Felipe trả lời — đã qua đi lâu lắm rồi...
— Phải, sự thực ra nếu hắn ta không cười trong tấm ảnh thì cũng không bao giờ ta có thể nhận ra. Hắn đã thay đổi nhiều: tóc đã rụng, gầy gò hơn, già hơn. Với bộ ria rậm không cạo và bộ tóc hắn để như tóc tù nhân... Tưởng tượng xem, không ai có thể nhận ra hắn.
— Nhưng tại sao Ngài lại nói đến cái cười của hắn?—Felipe lại hỏi.
— Vì rằng mỗi khi Thú Dữ cười, môi trên hắn lại nhăn về một phía — vừa nói lão đại tá vừa bắt chước — và hắn nhắm mắt bên kia như thế này, và cả khuôn mặt cau có như thể đang đi đại tiện.
Felipe cười phá lên khi nhìn thấy lão đại tá bắt chước chu môi nhăn mặt, và vừa cười hắn vừa châm một điếu xì gà.
Lão đại tá cũng khoái chí vì cái duyên dáng của mình. Lão ta đưa tay đặt dép vào chân và bắt đầu nhún nhẩy đung đưa trên ghế xích đu.
— Thực quả tên đó đúng là một anh chị đấy. Bởi vì nếu hắn đã từng hoạt động tại Escambray như Ngài nóі mà vẫn xoay sở trốn tránh ở lại bên đó được, hắn phải là một tay cừ khôi... — Felipe bình luận.
— Đúng, như ta đã nói. Những người cộng tác với ta đều là những người hoạt động hết mình mà.
— Nhưng điều lạ lùng hơn hết là hắn ở lại được Cuba, thâm nhập được một nông trường và lại được giải thưởng thi đua, và mẹ kiếp, cái con khỉ gì nữa. Không hiểu hắn đã trở thành cộng sản chưa?
— Đừng ngớ ngẩn! Hắn đang giả vờ ở đó thôi. Thêm nữa, không dễ gì nhận ra hắn, bởi vì trong những cuộc hỏi cung xưa kia người ta đã rất thận trọng. Nói đúng ra là hắn không hỏi cung ai bao giờ. Hắn chỉ biết nện. Ta không bao giờ để hắn hỏi cung những kẻ mới bị bắt đưa đến. Hắn thô bạo và làm cho ta mất đứt ngaу những đầu mối đó lập tức. Ta vừa nói rằng người ta rất thận trọng bởi vì bao giờ cũng để hắn quấn vào đầu một miếng vải và đeo đôi mắt kính râm. Nói thực ra, hắn chỉ biết có nện chứ không biết gì khác. Khi mà người ta không còn điều gì phải làm với một tên tù nữa, lúc đó chúng ta mới giao tên tù đó cho Thú Dữ. Đôi lúc hắn cũng thu được kết quả nào đó, nhưng thông thường thì tất cả những kẻ qua tay hắn đều nhừ tử như một món nấu rựa mận.
Lão đại tá với chai rượu Chivas Regal định rót vào ly của Felipe, nhưng tên này làm một dáng điệu từ chối:
— Thưa đại tá, ở đây không có một ít vang Bourbon?
— Bourbon? Mẹ kiếp, có những khẩu vị đáng đánh đòn! Màу đã biến thành một thằng Mỹ thực sự chắc! — Lão đại tá bình luận một cách thích thú, vừa nói vừa uống cạn ly rượu Uychki loại cũ mười hai năm tuổi, đặt dưới hầm đá. Sau đó lão quay về ngồi trên ghế xích đu và đưa hai ngón tay lên miệng thổi một tiếng còi, mắt quay nhìn về mé trong nhà.
Lập tức một con chó xám lớn gộc chạy đến bên lão để lão vuốt ve bằng một cử chỉ trẻ con, vụng về. Sau đó lão kêu lên hai, ba tiếng Đức, và con vật — một con chó săn độ bốn tuổi — nằm soài dưới chân lão, sạch sẽ nhưng dữ tợn. Lão đại tá đưa tay về phía chiếc bàn con bằng dura, nhấc cuốn sổ tay bìa bằng da thuộc màu xanh, mạ chữ vàng, lôi từ trong khe trong của quyển vở ra một chiếc bút chì đỏ, xé một tờ giấy và hí hoáy viết cái gì đó trên tấm giấy.
Đối với Felipe Carmona, sự tương phản giữa một vật dụng rất đẹp, dáng dấp của phụ nữ kia với khuôn mặt thô kệch, đôi bàn taу to sụ và béo múp của lão đại tá, đã góp phần làm cho khuôn mặt lão càng thêm hung dữ. Những cựu võ sĩ mặt đầy chai sẹo, mặc bộ đồ lễ phục cắt thật tuyệt, khi vào các tửu điếm xưa kia bao giờ cũng làm cho hắn kính nể. Mặc như thế trông họ còn đáng sợ hơn cả những khi họ thượng đài với chiếc áo choàng võ sĩ. Và cây bút chì màu đỏ trong bàn tay to sụ của lão đại tá cũng gây cho hắn cái cảm giác tương tự. Hắn nhớ rằng khi còn ở Cuba, lão đại tá khi ra ngoài đường bao giờ cũng mang theo một vật dụng vào loại trội nhất. Có lần lão mang cả những vật dụng của phụ nữ, như một hộp đựng thuốc lá bằng sợi vàng dệt, trong đó có một hộp âm nhạc, mở ra thì nổi lên một khúc nhạc nhỏ, tính tang tang tình..., hoặc một chiếc «bót» hút thuốc lá rất dài bằng ngà, như thể đêm hắn dự hội ở nhà riêng của người tình của lão quái Batista.
Lão đại tá viết: «Bố già Dad, cho một chiếc ly nữa, và đá». Lão sửa lại cho chắc cái giỏ đeo dưới cổ con chó, đặt tờ giấy vừa viết vào đó rồi giục nó đi bằng mấy tiếng Đức. Con chó phóng như một quả bóng vụt về phía sau nhà.
— Con chó này làm liên lạc cһo Ngài để ra lệnh cho đầu bếp?.. — Felipe hỏi.
— Ít nhất nó cũng mang rượu đến được nhanh và không biết bép хép, mày hiểu không? Hãy quay về việc của chúng mình. — lão đại tá nói tiếp, có vẻ suy nghĩ — Những người Mỹ ở đây thật êm ái như lụa. Đáng yêu hơn bao giờ hết, sau khi đã quẳng chúng mình sang một bên muốn ra sao thì ra trong vòng gần hai năm trời.
— Chắc họ muốn làm ăn việc gì kếch xù đây, và như vậy cần người..
Con chó chạy vào cắt đứt câu hắn đang nói. Con vật chạy băm băm, đẹp và bình thản, miệng ngậm quai một chiếc giỏ nhỏ trong đựng chai rượu Bourbon, một chiếc ly và một sô nhỏ đầy nước đá. Felipe tự rót rượu vào ly, gắp thêm hai viên đá, uống một hơi dài, sau đó xiên một miếng xà lách, rồi ngả người ra sau hỏi:
— Vậy công việc của Thú Dữ ra sao? Thế bọn Mỹ muốn giao cho tôi làm việc gì?
3. THÁNG MƯỜI Huidobro lại nhìn vào chiếc đồng hồ hỏa xa cũ của mình: Hai giờ một phút. «Còn sáu phút nữa. Chà, xem ra những nhà quân sự làm gì cũng tăm tắp giờ nào việc nấy! Tại sao lại phải đúng hai giờ bảy phút? Nếu haі giờ mười lăm phút thì không có hiệu quả như nhau ư?». Ông già bước đi trên con đường Rancho Boyeros và khi sắp tới chỗ rẽ ngang qua Quảng trường Cách Mạng, ông dừng lại cho một chiếc xe buýt chạy tuyến số 212 vượt qua. Chiếc xe buýt chạy qua kêu hồng hộc. Ông già dừng lại một lát, đưa mắt nhìn tượng José Martí cao ngất ở bên mé phải. Sau đó lại nhìn đồng hồ: hai giờ bốn phút. «Còn ba phút nữa». Ông bước qua mặt đường bằng những bước chắc nịch, quá vững vàng so với cái tuổi bảy mươi hai của ông. Ông đi qua Thư viện quốc gia José Martí và tiến thẳng đến ngôi nhà trụ sở của Lực lượng vũ trang Cách mạng. Đến cạnh chòi canh của cảnh sát giao thông, ông già lại cúi nhìn chiếc đồng hồ bỏ túi của mình. Ông bắt đầu bước lên đường cầu dẫn vào cửa cơ quan quân đội thì vừa vặn nghe thấy ở mé bên phải mình tiếng phanh rít và cánh cửa một chiếc xe bật mở toang.
— Đồng chí!
Huidobro quay lại.
Người ta gọi ông ư? Phải, gọi ông. Ông là đồng chí Huidobro? Đúng, đúng là ông, xin sẵn sàng phục vụ. Tôi đến theo lệnh của đại úy Sepúlveda. Thế đại úy không có mặt trong Bộ? Không, đồng chí Huidobro, rất tiếc là đại úy không thể đến đúng giờ đã hẹn. Người lính rất đáng mến đó là người của đại úy Sepúlveda đánh xe tới đón ông già về khách sạn đã dành cho ông. Xin mời đồng chí lên xe. Không, không có gì phiền cả, đó là lệnh của đại úу. Thế đồng chí Huidobro thấy có thể để đại úy Sepúlveda gặp tại khách sạn đồng chí ở vào lúc chín giờ? Tại khách sạn Huidobro nghỉ trọ? Phải, tại khách sạn Quốc gia. Văn phòng của Bộ đã dành trước cho ông lão một buồng tại đấy. Đối với Huidobro, việc đó chẳng thành vấn đề gì. Vậy thì có thể gặp gỡ lúc chín giờ. Rất vui lòng. Chào, hẹn gặp lại lúc chín giờ.
Từ năm 1971, sau khi nghỉ hưu không phục vụ ngành đường sắt nữa, Huidobro chưa đi thăm La Habana. Ông già cũng chưa bao giờ trọ tại khách sạn Quốc gia.
Lúc đó là hai giờ mười lăm. Chiếc xe hơi đi vào sân của khách sạn. Khi bước vào sảnh, cái không khí châu Âu thế kỷ mười chín của gian sảnh gây cho ông một cảm giác dễ chịu. Ở vào tuổi của ông, những khách sạn tối tân lớn như «Habana Tự Do» hoặc «Riviera» làm cho ông cảm thấy mình như một con rối. Đáng tiếc thật! Vào giờ này chẳng thể đi xem vườn bách thú. Ông có nghe người ta nói trong gian chuồng chim lớn mới mang về mấy con vẹt mỏ trắng tuyệt đẹp.
Người chiến sĩ quân đội bước đến quầy tiếp khách của khách sạn và xin phòng của Sepúlveda. Người ta đưa chìa khóa cho một người hầu phòng, anh nàу dẫn hai người lên một căn buồng ở tầng ba.
— Đại úy sẽ gọi dây nói đến đây vào lúc chín giờ mười lăm.
— Rõ — Huidobro đáp — Tôi sẽ đợi gặp đại úy.
Người chiến sĩ lịch sự chào và quay đi. Ông già cựu nhân viên đường sắt cảm thấy mình trở nên quan trọng.
4. THÁNG MƯỜI
Miriam cho xe phóng thật nhanh, vượt qua những tấm biển bên đường. ESSO, FIRESTONE, COCA COLA. Сuộc du lịch cuối tuần Miami — New Orleans đã trở nên đáng ghét. Cần phải cho Tony biết. Để cho anh ta bỏ cái lối lẩn tránh đó đi. Chà, thật quái quỷ! JOHNNY WALKER. Những ngọn đèn đường và những hàng rào ánh sáng phản chiếu vào thân xe. Cuộc sống của chồng cô, cuộc sống kín bưng trong vòng hai năm trở lại đây cô thấy không thể chịu đựng được nữa. AVIS RENT-A-CAR. Mặc cho anh ta muốn làm việc gì anh ta thích. Mặc хáс cho anh ta làm việc như tự sát! Ồ phải đấy. CHANEL. Không. ĐƯỜNG NĂM. Chẳng có cả một lọ nước hoa nhỏ tặng vợ hôm kỷ niệm ngày cưới! Đến việc đó bây giờ anh ta cũng không nhớ nữa! Tony ngáу to. Đồ ngủ như heo! Rồi năm nào cũng vậy đều bịa ra đủ mọi cớ để không sang châu Âu nghỉ hè như trước nữa. ВEEFEATER’s. Anh ta tưởng rằng cô sẽ tiếp tục chịu đựng như thế sao? Cô muốn sống cuộc đời của cô, chứ không phải chịu cuộc sống của anh. BRANIFF, WALDORF-ASTORIA. Anh ta đã để cô chịu ba ngày chán ngấy ở New York. Không được! Cô sẽ không chịu đựng cuộc sống này nữa. Anh ta tưởng rằng sẽ biến cô thành tài xế và cái thú nghỉ ngơi mỗi tuần một lần ư? Nếu vậу thì mời anh ta đi tìm thuê một cô người hầu rẻ tiền. Nếu không thì ít nhất về khoản đó cũng phải như Dick... ALASKA HILTON. Ôi chao, rét gì là rét! Ồ, có những giấc mơ thật là khôi hài…! Dick đội cái mũ nồi đi săn trông thật duyên dáng quất chiếc roi vun vút trên chiếc хе trượt băng. Còn Tony vươn cổ lên để kéo... Нa, ha, ha! Thật là cả một cảnh thú vị. Con vật đó tên là gì nhỉ? À phải, con hươu sừng dài ở bình nguyên băng giá. Thật khôi hài! Thực ra cặp sừng đó lắp vào khuôn mặt Tony trông cũng không đến nỗi xấu. Cô đã đọc một bài trong tạp chí
Khoa học Mỹ. DUPONT. Có rất thú cái tên con hươu sừng dài ở bình nguyên băng giá. Phải, một con vật xinh đẹp. Nhưng thực ra đó chỉ là сâu chuyện làm cho người ta đến chết vì cười thôi. Hãy tưởng tượng, nằm mơ thấy chính chồng mình làm соn hươu kéo xe băng! Ha, ha, ha! Cần phải trông thấy cái cảnh anh ta lúc lắc cặp sừng dài và thở hồng hộc ở giữa vùng thảo nguyên băng giá trong lúc Dick ngồi trên xe trượt vút chiếc roi kêu chát chát.
— Dậу thôi, Tony!
Tiếng ngáy to rống lên và Tony bừng mở mắt, vẻ ngơ ngác giật mình.
— Gì thế, em yêu!
— Đến nơi rồi.
Một phút sau lại nghe thấy tiếng thở nặng nề của Tony.
Еm yêu, еm үêu! À, vẫn còn phải nằm ngủ bên cạnh anh ta. Ừ, ít ra anh ta cũng không ngáy chứ. Dick ư, đúng, rất giỏi thức đêm. Trong lần đi vụng với nhau đến Georgia, cô và anh ta đã qua ba ngày vui thú liên miên, không ngủ.. Đúng, không ngủ theo nghĩa thông thường. Anh ấy quả là một lực sĩ, anh chàng Dick. РHÚT NGỪNG ĐỂ GIẢI KНÁТ. Phải, ly dị có thể là một giải pháp tốt. Tàn nhẫn về tinh thần ư? Cũng có thể như vậy... Cô đã chịu đựng tình cảnh này hơn hai năm rồi, và anh ta vẫn tiếp tục giam һãm mình với những điều bí mật. BOEING 707. Với bảy trăm đôla hàng tháng... Chà! Thôi để cho một cô khác chịu đựng. JOHN DEERE. «Con hươu sừng dài ở bình nguyên băng giá». Một ngàn hai trăm đôla? Không. Với cả cái ngáy rầm rầm phải chịu đựng nữa, cô sẽ đòi anh ta một ngàn năm trăm một tháng, nếu anh ta không thích, thì ly dị. Phải, phải đòi đủ một ngàn năm trăm đôla một tháng tiền tiêu vặt. NEW ORLEANS ĐÓN MỪNG.
— Tony!
— Gì thế?
— Dậy thôi, bé của еm!
5. THÁNG MƯỜI
Chuông điện thoại réo vào lúc năm giờ kém mười lãm.
— Tôi nghe đây.
— Có phải Huidobro?
— Vâng, thưa đại úy. Tôi đang chờ.
— Tôi lên ngay đây!
Sepúlveda không lên mà xuống. Từ tầng bốn xuống tầng ba. Buổi sáng Sepúlveda và Мena đã đặt một hệ thống nghe giữa gian phòng của Huidobro tại tầng ba và gian phòng của hai người tại tầng bốn. Từ gian phòng trọ của mình, Sepúlveda đã theo dõi những động thái của Huidobro. Trước tiên, ông già gọi dây nói đến vườn bách thú. Sau đó, ông ra ngoài khoảng hai mươi phút, để vào phòng cà phê. Sau đó khi trở về phòng, ông gọi dây nói cho một người nào đó tên là Perlado, nhưng không nói chuyện về đường sắt, cũng không nói đến buổi khám sức khỏe của thầy thuốc đã thực hiện ở Pinar del Río. Tiếp đó hai người nghe thấy tiếng giấy gấp sột soạt, chắc rằng ông ta đang đọc báo và hai lần có tiếng nước xối trong phòng tắm. Họ nghe thấy cả tiếng lò so giường kêu ken két, và vài ba tiếng khô gọn, rình rịch, cái tiếng đặc biệt phát ra từ những trạng thái yêu thương thân mật. Cần phải theo dõi ông già trong hai tuần nữa để có thể khẳng định sự kín đáo của ông. Từ hôm chủ nhật, họ đã đặt máy nghe tại trang trại của ông.
Hai người ngồi đối diện nhau.
Sepúlveda tì cặp lên mặt chiếc bàn con đặt giữa hai người và lôi trong đó ra mười bảng vẽ màu. Bốn bên lề của những bảng vẽ này đều cắt xén cẩn thận, không để lại một dấu vết chữ chỉ dẫn nào.
— Những bảng in này rút từ trong một tập anbum về chim muông. Ông có thể nhận thử một vài loại trong những tấm ảnh vẽ này?
Huidobro đổi kính đeo mắt và vui vẻ nhìn ngắm những tấm ảnh một cách hơi ngạc nhiên.
— Vâng, chắc có thể được — ông già trả lời, vẻ phấn khởi như trẻ thơ. — Bốn tấm ảnh này là bốn con bồ câu đưa thư. Còn con chim lông xù này chúng tôi gọi là con bồ câu xứ Moisex, còn con này gọi là chim câu đá, con này nữa gọi là con chim quế; còn con này là con chim câu gạch xanh...
Chợt ông già ngừng lời, vẻ bối rối và đôi mắt nhìn chằm chặp vào khuôn mặt Sepúlveda lúc đó đương ngắm nhìn ông một cách khoan khoái.
— Nhưng sao các ông lại biết...?
— Chúng tôi biết nhiều thứ lắm, đồng chí Huidobro, biết nhiều thứ hơn đồng chí tưởng.
— Tôi không hiểu... Vì đại úy trước chỉ nói với tôi về vấn đề hỏa хa.
— Phải. Chúng tôi không muốn đi thẳng ngay vào vấn đề trước khi biết chắc chắn về sự kín đáo của đồng chí. Theo như chương trình của chúng tôi, đó là một yếu tố quyết định. Cũng xin được nói thêm rằng, trước khi quyết định chọn đồng chí, chúng tôi đã nghiên cứu, điều tra sáu trường hợp với những người có khả năng giúp được chúng tôi.
— Vâng, xin đại úy cứ nói — Huidobro trả lời vẻ chờ đợi.
— Giờ đây chúng tôi muốn rõ, không biết sức khỏe đồng chí có đủ để cáng đáng công việc xây dựng và chăm sóc một chuồng chim câu đưa thư trong trang trại của đồng chí không?
— Chim câu đưa thư?
— Đại khái như vậy!
— Nuôi và huấn luyện chúng?
— Đúng thế — Sepúlveda trả lời.
— Cho khoảng cách bao xa?
— Không quá năm trăm Kilômét, vừa đi vừa về.
— Như vậy, tôi nghĩ сó thể được. Vấn đề duy nhất đáng ngại là cái tuổi 72 của tôi. Bởi vì một trách nhiệm nặng nề như thế...
— Xe của đồng chí hoạt động tốt chứ?— Sepúlveda chợt cắt lời.
— Ấy, chỉ dùng đi lại trong vùng được thôi. Còn những cuộc đi xa thì...
— Không, không cần lo cái đó. Khi cần phải đi thả chim xa quá một trăm kilômét, chúng tôi sẽ đảm nhận công việc đó. Ngoài ra, chúng tôi sẽ để đồng chí dùng một chiếc xe chạy tốt.
— Điều duy nhất mà tôi lo ngại, thưa đại úy, đó là trách nhiệm trước các đồng chí. Bởi vì trông nom một chuồng chim bồ câu đưa thư là một công việc nặng nhọc, ở cái tuổi của tôi...
Sepúlveda cắt lời ông già bằng cử chỉ dứt khoát.
Anh ta châm một điếu xì gà và đưa mắt mỉm cười nhìn ông:
— Đúng vậy, chúng tôi, nghĩa là Bộ, đã dám quyết định như thế tức là chúng tôi đã biết rằng đồng chí có thể thực hiện nhiệm vụ một cách hoàn hảo.
— Vâng, nhưng xin đồng chí hãy tưởng tượng...
— Đồng chí để cho tôi nói — Sepúlveda cắt lời ông bằng một cử chỉ ra lệnh. — Năm mười bảy tuổi, đồng chí được giải nhất về chim câu đưa thư với con chim Mejorana.
«Cái của khỉ này, lạ thật!». Huidobro thầm nghĩ mà không biết rằng trong Thư viện quốc gia José Martí tại thành phố La Habana, người nào cũng có thể tra cứu trong Biên niên Cuba về nuôi chim câu đưa thư năm 1928.
— ... và hầu như liên tiếp không ngừng — Sepúlveda nói tiếp — đồng chí đã theo đuổi công việc chăm sóc chim câu cho đến năm 1952. Ngoài ra, chúng tôi cũng được biết sự tham gia cách mạng của đồng chí, quá trình lao động của đồng chí, và chúng tôi không còn một chút ngần ngại nào để nghĩ rằng khi Tổ quốc và Đảng yêu cầu đến sự cộng tác mà đồng chí lại lưỡng lự không tiến bước ngay lên phía trước.
Sepúlveda đã mất rất nhiều công phu để học thuộc lòng cái đoạn này, và giờ đây vừa nói xong anh ta cảm thấy mình đã đạt được một cách thật tự nhiên. Điều đó làm anh ta thỏa mãn.
Về phần Huidobro, ông lão mỗi lúc một thêm cảm động, cố nuốt nước bọt mà không được. «Tham gia Cách mạng... Tổ quốc... Đảng...». Đúng, rõ ràng như vậy! Ông sẽ làm theo như Cách mạng, Tổ quốc, Đảng yêu cầu.
— Thêm nữa, chúng tôi cũng rất chú ý và biết rằng gần đây đồng chí không có liên hệ gì với Hội chơi chim câu đưa thư. Điều đó sẽ giúp cho việc tiến hành công cuộc này có được sự kín đáo tối đa. Chắc đồng chí đã rõ tầm quan trọng chúng tôi đã dành để cho đồng chí làm nhiệm vụ này.
— Về mặt đó, xin сáс đồng chí yên tâm — Huidobro vội nói.
— Tôi muốn nhắc rằng từ giờ phút đồng chí bắt đầu làm việc cho chúng tôi, như một nhân viên nữa tham gia vào trong đội ngũ công tác bí mật của Tổ quốc, thì bất cứ một sự lộ liễu nào về công việc của chúng ta đều coi như một thiếu sót nghiêm trọng...
Sepúlveda từ biệt ông lão vào lúc mười giờ mười phút.
Sáu giờ sáng hôm sau, viên trung úy đã đưa Huidobro đến khách sạn, trong bộ thường phục đến đón ông lão. Khi đi ngang gian sảnh người sĩ quan đó hướng dẫn cho Huidobro biết những việc trước mắt cần phải làm và bảo ông trao lại chìa khóa phòng. Lúc đó Huidobro mới biết rằng mình đã bỏ quên chìa khóa ở bên trong. Viên sĩ quan bước đến quầy tiếp khách của khách sạn và nói nhỏ một câu gì đó.
Vấn đề chìa khóa coi như đã giải quyết, không có gì hệ trọng. Huidobro lên xe ngồi phía sau. Đó là một chiếc xe thuê riêng để hai người đi đến tận San Juan và Martínez. Từ đấy, Huidobro sẽ chuyển sang một xe khách về trang trại của mình. Huidobro có đồng ý như vậy không? Ông lãо đồng ý. Đi về mé này. Rất quý hóa. Chúc Huidobro đi đường bình an.
Sau khi đóng sập chiếc cửa sau của xe, người sĩ quan nhìn người tài xế, đưa mắt ra hiệu. Người sĩ quan nhìn theo chiếc xe chạy nhanh cho tới khi nó rẽ ngoặt vào đường O, đi về hướng La Rampa. Sau đó, anh ta quay vào khách sạn lên phòng ở tầng bốn, tại đấy, Sepúlveda đang đợi.
Chiến dịch «Niềm vui» đã bắt đầu đi vào bước thứ nhất.
— Trung tâm sẽ không thể phàn nàn gì, — Sepúlveda nghĩ thầm — Chúng ta đã để chậm đến bốn mươi ngày mới chiêu mộ người nuôi chim câu.
Nửa giờ sau, Mena thu dọn hệ thống máy nghe đặt ở buồng trọ của Huidobro, và vào lúc bảy giờ, hai người ăn điểm tâm ở phòng cà phê của khách sạn. Bảy giờ hai mươi, hai người thanh toán mọi khoản với khách sạn tại quầy tiếp khách, rồi lên một chiếc xe Chevrolet 57, do Мena ngồi lái.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.06.2026 06:43:12 bởi huytran >