Ê-đi-xơn - Barbu Apelevianu

Tác giả Bài
huytran
  • Số bài : 1530
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Ê-đi-xơn - Barbu Apelevianu - 2 giờ
Nguyên tác: Vrajitorul - Viata marelui inventator Thomas Alva Edison
Hoàng Thị Đậu dịch
NXB Kim Đồng 1988

PHẦN I
 


Một nhà chính trị lưu vong
 
Đầu thế kỷ thứ mười chín, một người đàn ông tên là Samuel Edison, sau khi lưu lạc qua nhiều vùng ở ven hồ Erie đã định cư tại tỉnh Milan, thuộc bang Ohio. Ông là một nhà chính trị lưu vong từ bắc Canada đến. Ở đấy, cuộc nổi dậy của tư sản Canada, vì không biết dựa vào các chúa đất địa phương và sự liên kết với các nhà tư sản nhỏ bị chèn ép nên đã bị quân đội Anh dập tắt một cách khủng khiếp. Samuel Edison cũng tham gia vào cuộc nổi dậy ấy, nên sau khi cuộc nổi dậy bị đàn áp, ông vội vàng trốn đi, sợ nếu bị bắt, tất sẽ phải chịu những hình phạt ghê gớm.
Trên đường lưu lạc, ông đã trải qua biết bao gian lao, nguy hiểm, đã từng nhịn đói, chịu rét; đã từng đi bộ hàng trăm dặm đường. Để trốn thoát sang Hoa Kỳ, ông đã phải lén lút đi vào ban đêm không dám nghỉ, hướng theo các ngôi sao và bóng các ngọn cổ thụ của những cánh rừng già Canada. Ông đã phải vất vả lần theo lối mòn của người địa phương và đã có lúc phải liều nhảy trên những tảng băng trôi để vượt sông…
Ở Canada, ông còn vợ và hai con. Gia sản của ông đã bị chính phủ Canada tịch thu ngay sau lúc cuộc nổi dậy bị đàn áp. Vì thế, Samuel, dù thế nào chăng nữa, cũng phải tìm chốn sinh cơ lập nghiệp ở nơi khác. Ông dừng lại ở tỉnh lỵ Milan, bên bờ hồ Huron. Ở đây dân cư hầu hết đều làm nghề chuyên chở ngũ cốc trên hồ từ các miền phì nhiêu về các miền phía đông cằn cỗi. Ngoài ra họ còn sinh sống bằng nghề buôn bán lúa mì và nghề chở đò dọc. Ở Ohio hồi ấy chưa có đường sắt hoặc phương tiện giao thông, vận chuyển đường dài nào khác. Dọc theo hồ, có rất nhiều nhà kho chứa ngũ cốc. Các công trường sửa chữa tàu, thuyền cũng mọc lên san sát, dân cư có vẻ trù phù. Lúc đầu, Samuel Edison mở một xưởng làm ngói gỗ là thứ ngói thuở ấy ai cũng ưa dùng để lợp nhà. Việc buôn bán của ông rất phát đạt.
Ít lâu sau, cũng trong năm 1839, Samuel nhờ được một người bạn thân là thuyền trưởng Alva Bradley có tàu chạy trên hồ Erie đưa vợ con ông từ Canada sang. Thế rồi ông chuyển sang buôn ngũ cốc. Ông là một người rất minh mẫn, chăm chỉ, lại biết tính toán nên kiếm ra rất nhiều tiền.
Tổ tiên Samuel vốn gốc người Hà Lan, di cư đến bờ hồ Zuiderzee, một vùng phì nhiêu của châu Mỹ mới. Đây là một mảnh đất ai đến cũng nuôi mộng làm giàu. Ông nội của Samuel là John, thuộc cánh những người đi khai hoang. Họ ủng hộ vua Anh, chống lại phái cấp tiến. John lao vào hoạt động chống lại cuộc đấu tranh giành độc lập cho Bắc Mỹ. Trong cuộc chiến tranh lừng lẫy này, John Edison đã là một "tory", nghĩa là một người ủng hộ nhà vua Anh, và thuộc phái bảo thủ. Bị bắt, bị tịch thu toàn bộ gia sản, nhà đại điền chủ John may mắn không phải chịu tử hình. Nhưng sau tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ, John bị đày đi cùng với nhiều "tory" khác. Sarah Ogden, vợ John, cùng với bảy đứa con cũng theo ông đi. Cả gia đình dừng lại ở miền tây Canada và đã chịu đựng mọi gian khổ, thiếu thốn, lao động cật lực để khai phá rừng hoang. Nhờ tính cần cù và lòng quyết tâm không chịu thua số phận, thua mọi khó khăn nên chẳng bao lâu họ đã là chủ nhân của một vùng đất phì nhiêu.
Đứa con đầu lòng của (John là?) Samuel đã lập gia đình năm 1792 và có nhiều con. Một trong các trẻ đó, sinh năm 1804, cũng tên là Samuel. Để khỏi lẫn, người ta gọi chú bé là Samuel Trẻ. Sau bốn mươi ba năm, chính Samuel Trẻ này đã trở thành cha đẻ của một nhà phát minh khoa học tiếng tăm lẫy lừng.
Vào đầu thế kỷ mười chín, nước Anh quyết tâm thực hiện chính sách thôn tính Canada Thượng (ngày này là bang Ontario). Thế là những hoạt động nhằm thôn tính vùng bờ bắc và bờ tây hồ Erie bắt đầu. Để chiếm khéo đất đai của những người di cư khai hoang, chính phủ Anh ở bắc Canada bèn hứa bồi thường cho họ cả quyền làm chủ vĩnh viễn ở những miền đất ấy. Riêng đối với những gia đình dòng dõi các tory thì nhà vua Anh lại càng tỏ vẻ quan tâm đặc biệt. Họ được mời đến chọn nhận những vùng đất mới trước và được chuẩn bị đón tiếp chu đáo.
Và thế là những đoàn xe bò, xe ngựa, xe trượt chở người, chở vật… ra đi dọc Canada, từ miền đông sang miền tây rồi lên miền Bắc.
Năm 1811, bấy giờ John đã là một cụ già tám mươi tuổi nhưng vẫn rất khoẻ. Cụ tập hợp toàn đại gia đình lại, cắt đặt công việc chuẩn bị, sau đó dẫn đầu đoàn người lên đường đi về hướng tây. Gia đình Edison mang theo hàng đàn bò và đã đi bộ hàng trăm ki-lô-mét qua những vùng đất đai cằn cỗi. Sau khi đã lang thang nhiều nơi, vượt biên giới bắc Hoa Kỳ, trên bờ sông Hudson rồi từ đó qua con thác nổi tiếng hung dữ Niagara, cái đại gia đình đầy trẻ con và đồ đạc ấy leo ngược lên miền tây hoang dại của Canada phủ đầy sương giá và những rừng già nối tiếp nhau không dứt.
Sau nhiều ngày đi ròng rã, bàn chân người lớn và trẻ con đều đã rớm máu thì một chiều nọ, khi nơi chân trời phía tây ráng đỏ đục ngầu dữ dội như tròng mắt của một con quái vật đang dịu dần, thì người chủ gia đình già nua ấy đã đưa được cả đoàn con cháu mình tới mảnh đất được chia. Bỏ mũ ra, mặc cho mái tóc bạc gió lùa bay tung, như một cây đại thụ, cụ John rướn tấm thân già còn tráng kiện, quay lại đàn con cháu, nói lớn giọng trang trọng:
– Chúng ta sẽ ở lại đất này!
Nói rồi, cụ quỳ xuống hôn lên mặt đất. Tất cả trẻ, già, trai, gái đều theo vị tộc trưởng, quỳ xuống hôn mảnh đất mới mà từ đây đã trở thành quê hương của họ.
Đó là một thung lũng đẹp, xung quanh có những rừng thông. Họ ở lại đó và đặt tên đất là Vienna. Họ chặt cây, dựng nhà, vỡ hoang thành những cánh đồng rộng. Từng gia đình nhỏ cật sức làm việc. Họ nuôi gia súc, săn bắn, phá rừng, lấy gỗ. Vienna phát triển rất nhanh, dần dần đã có cái dáng của một làng rồi một tỉnh lỵ. Họ đóng từng bè gỗ lớn, loại gỗ dùng cho các công trình và chở sang bán ở nước Anh.
Họ giàu có dần…
Năm 1837, như ta đã biết, cuộc nổi dậy của tư sản Canada đã kết thúc một cách đáng buồn. Samuel Edison Trẻ, cháu nội của cụ John Edison, đã chạy sang Milan, bỏ lại Canada xa xôi nấm mồ người ông đáng kính mà chỉ có tuổi già mới khuất phục nổi.
Samuel Edison Trẻ nói với vợ:
– Nancy ạ, chúng ta sẽ xây dựng lại từ đầu bằng chính những bàn tay của chúng ta như xưa kia cha ông chúng ta đã làm. Hãy nâng cao niềm hy vọng em ạ, và hãy tập trung sức để lao động!
– Phải như vậy thôi, mình ạ - bà Samuel dịu dàng trả lời chồng
<bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi huytran >

huytran
  • Số bài : 1530
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.10.2004
Re:Ê-đi-xơn - Barbu Apelevianu - 2 giờ
Tom
 
Làm ngói gỗ một thời gian, Samuel Edison Trẻ quay sang buôn bán ngũ cốc. Hồi ấy người ta chỉ chuyên chở hàng hoá bằng đường thuỷ. Buôn bán ngày càng phát triển. Đứa con lớn của ông, tên là Bill, có tài vẽ, sau này sẽ trở thành Giám đốc Liên đoàn tàu điện ở Port Huron. Tanny hay Tania, một cô gái mảnh dẻ, dịu dàng, đứa con thứ hai, sau này sẽ là người chị, người bạn tận tụy của nhà phát minh khoa học nổi tiếng tương lai, khi ấy chưa sinh ra.
Vào giữa thế kỷ trước, một điều tất nhiên nhưng cũng là điều bất lợi cho dân tỉnh Milan, đã xảy ra. Đó là khắp nước Mỹ, các nhà tư bản công nghiệp bắt đầu xây dựng hệ thống đường xe lửa. Gần Milan, cũng có một đường. Do đó, chẳng ai còn chuyên chở hàng hoá bằng đường thuỷ nữa vì vừa tốn tiền hơn chở bằng xe lửa vừa không an toàn bằng. Cả thành phố việc buôn bán hầu như tê liệt. Cơn bão kinh tế đã ập vào gia đình ông Samuel chăm chỉ. Việc buôn bán ngũ cốc và ngói gỗ ngày càng sa sút. Cả gia đình lại quay ra làm vườn. Nhưng nghề làm vườn chẳng đem lại mấy lợi tức, Samuel không hề nản chí, ngày ngày vẫn cần cù chăm bón mảnh vườn nhà. Ông dũng cảm đương đầu với mọi khó khăn, thiếu thốn. Bà Samuel trông coi mọi việc trong nhà giúp chồng.
Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, ngày mười một tháng hai năm 1847 đứa con thứ ba của ông bà Samuel ra đời: Thomas Alva Edison, thường gọi tắt là Tom. Cậu là đứa trẻ yếu ớt nhưng lại hay nghịch, rất hiếu kỳ, vì vậy mà thường hay bị đòn nhất.
Lên năm tuổi, có lần Tom chui vào chuồng gà và ngạc nhiên nhìn gà nằm trong ổ trứng, đuổi cũng không đi và ít lâu sau cậu bé sửng sốt thấy trứng gà nở thành gà con. Cậu bảo mẹ:
– Mẹ ơi, con gà mái nhà ta làm ra bao nhiêu là gà con, rất xinh mẹ ạ, mẹ ra mà xem.
Hai mẹ con dắt tay nhau ra xem gà đã xuống ổ đang bới đất. Tom bảo mẹ:
– Mẹ ơi, gà mái làm thế nào mà trứng lại biến thành gà con được hở mẹ?
– Gà mẹ chẳng làm gì cả, con ạ, nó chỉ nằm ấp để giữ cho trứng nóng thôi, còn cái trứng tự nó nở thành gà con đấy!
– Thật ư mẹ? Thế nghĩa là giữ cho nóng thì nó nở thành gà con ư? Bao giờ cũng thế chứ mẹ?
– Đúng con ạ, nhưng chỉ có gà mới biết làm thôi.
Tom thích quá. Cậu nghĩ thế thì dễ quá, vả lại gà làm được thì mình cũng làm được. Thế là chẳng bảo ai, cậu trèo lên gác xép ở lì trên ấy.
Cả sáng, rồi cả chiều, chẳng ai thấy Tom đâu. Bà mẹ đi tìm khắp nơi và cuối cùng thấy chú bé đang ngồi im trên rổ trứng đặt ở góc căn gác xép.
– Con làm gì thế, Tom?
– Con ấp trứng cho nó nở thành gà con.
Bà mẹ buồn cười. Bà bế cậu bé lên hôn chùn chụt.
– Con yêu của mẹ ạ, con chưa thi được với gà đâu. Thôi, xuống mẹ thay quần áo cho. Con xem này, con làm vỡ hết trứng gà của mẹ rồi!
Dù trứng có bị vỡ thì Tom, cậu bé năm tuổi, cũng là người đầu tiên nghĩ đến cách ấp trứng nhân tạo.
 
Những trò tinh nghịch và những mầm mống của thiên tài
 
Ở tuổi thiếu niên, trong khi các cậu bé khác còn ham chơi thì Tom đã không những luôn băn khoăn tìm hiểu mọi vật xung quanh mình mà còn muốn hiểu thấu đáo các vật đó. Cái gì cũng làm cậu ngạc nhiên. Cậu không hỏi ai được thì tự đặt cho mình các câu hỏi và cố tìm cách tự trả lời.
Vào thời kỳ tỉnh lỵ Milan còn là một thương cảng nhỏ, cậu bé đã suốt ngày ngắm nhìn không biết mỏi những hoạt động nhộn nhịp của bến tàu, của xe cộ; đã say sưa theo dõi không chán nhịp điệu lao động khẩn trương ở nơi bốc dỡ hàng hoá của công nhân khuân vác... Đôi khi vì mải xem các máy cưa cưa gỗ làm ngói, cậu đã về nhà muộn. Chiều hôm ấy, chắc chắn là cậu sẽ bị ông Samuel mắng cho một trận thậm tệ về tội chỉ đi lang thang vô ích.
Cậu không hề chơi các trò chơi mà ở vào lứa tuổi cậu em nào cũng ham mê. Cậu chỉ thích đi nhặt các mẩu gỗ ngoài công trường rồi ghép lại thành kè, thành bến, thành nhà kho, v.v...
– Tom, làm gì thế con?
Đó là câu hỏi bà mẹ luôn luôn hỏi cậu, lo lắng thấy cậu lúc nào cũng bận những việc không đâu, đến nỗi bỏ cả ăn, cả ngủ.
Cái cảnh phồn vinh trên bến dưới thuyền Tom đã thấy trong thời thơ ấu của mình không tồn tại lâu: Con đường sắt gần Milan hoàn thành thì bến tàu cũng bắt đầu hoang vắng. Gia đình Samuel cũng dọn sang Port Huron ở phía nam hồ Huron.
Ở Port Huron có một thư viện, tuy nhỏ nhưng cũng có đủ mọi loại sách của tất cả các môn khoa học. Ngay từ bảy tuổi, Tom cũng đã hàng ngày đến đó đọc sách. Tom đọc bất cứ sách gì có ở thư viện. Năm lên chín tuổi, cậu đã đọc "Triết học tự nhiên và triết học kinh nghiệm" của Richard Green-Parker xuất bản năm 1856. Cho đến năm mười hai tuổi, cậu bé đã đọc hầu hết các sách cơ bản về văn hoá thế giới, những cuốn được người đương thời rất quý như "Lịch sử sự tiến bộ và thoái hoá của đế quốc La Mã" của Gibbons, "Lịch sử Đại Anh quốc" của Hume, "Lịch sử thế giới" của Syr, "Bách khoa toàn thư sơ đẳng" của Peny, "Lịch sử sự cách tân" của Burton. Cậu đã đọc nghiến ngấu, say mê những cuốn sách đó.
Tuy khác hẳn những trẻ cùng tuổi nhưng Tom cũng có một người bạn thân. Đó là Michael Oates. Cha mẹ Michael ở Michigan. Đôi bạn hợp nhau và thân nhau vì cũng gặp nhau ở chỗ thèm hiểu biết, thích khám phá.
Dưới hầm nhà, Tom lập một "phòng thí nghiệm". Ngoài thì giờ ở trường ra, Tom không hề đi đâu, cậu chỉ ở đấy, thí nghiệm lại tất cả những gì đã học. Ai cũng cười Tom, chỉ riêng mẹ và chị Tania là ủng hộ. Tania là một cô bé cũng ưa những công việc tìm tòi của em mình.
Chỉ trong một tuần, Tom dạy chị học thuộc lòng các chữ cái bằng tín hiệu morse. Từ nay, hai chị em đã có một trò chơi mới: có thể nói chuyện "bí mật" trước mặt mọi người mà chẳng ai hay biết.
Tom có một điều bực mình là chị Tania hay dậy muộn và mẹ chỉ toàn sai Tom lên gọi. Sáng nào cũng vậy, trong lúc đang ngủ ngon thì Tom bị mẹ lay dậy, bảo:
– Tom, lên gác đánh thức chị Tania dậy, kẻo chị lại đi học muộn!
Tom đành mắt nhắm mắt mở đi gọi chị. Mà nào có phải chỉ gọi một tiếng là chị dậy đâu. Tom phải lay chị hàng mươi phút chị mới mở mắt. Để khỏi chui ra khỏi chăn ấm, Tom nghĩ ra một cách gọi rất mầu nhiệm làm cho chị phải dậy ngay mỗi khi mẹ vừa sai Tom. Một buổi sáng, khi mẹ vừa gọi: "Tom, lên gác gọi chị Tania..." cậu liền thò tay ra khỏi chăn, kéo một thanh gỗ treo nằm ngang xuống. Thế là ở trên gác chị Tania dậy ngay tức khắc! Máy gì mà tài thế? Thì ra Tom làm một thanh gỗ, buộc vào hai đầu thanh gỗ hai sợi dây gai; hai đầu kia em buộc vào hai cổ chân chị Tania. Khi kéo một đầu thanh gỗ thì một chân Tania sẽ bị lôi ra ngoài chăn, nếu kéo mạnh quá thì cả Tania cũng bị lôi ra khỏi giường.
Ngoài ra, Tom còn làm máy... "nói" ở phòng Tania. Em gắn một cái phễu vào đầu một ống dẫn nước đã bỏ đi ở trên gác. Ống này được đặt từ trên gác xuống căn hầm nhà, vào tận "phòng thí nghiệm" của Tom. Ở dưới này, Tom cũng gắn cái phễu nữa vào đầu ống, và thế là hai chị em cứ việc nói chuyện với nhau, một ở trên gác, một ở trong "phòng thí nghiệm".
Một hôm, Tania gọi "ống nói" cho Tom báo một "tin dữ":
– Alo, Tom!
– Alo, chị Tania, cái gì thế?
– Này, nếu em không đóng cánh cửa sổ lại thì chị không dậy đâu nhé, vì bỏ chăn ra chị sẽ bị cảm lạnh đấy.
– Chị không dậy thì mặc chị. Cô Howard sẽ phạt chị!
– Sao lại thế? Cứ đóng cửa vào, chị dậy ngay.
– Em không đóng được. "Máy" hỏng rồi!
– Kệ, chữa đi!
– Em thử xem nhé?
Tom kéo mạnh sợi dây buộc vào cánh cửa sổ lắp kính trên gác để thử, ai ngờ cánh cửa bật ra và rơi xuống đất, kính vỡ tan. Tom bị cha đánh cho một trận rất đau vì cái "trò điên" ấy.
Cứ sáng sáng Tom và Tania dắt tay nhau cùng đi đến trường. Hôm ấy, Tom cắm đầu đi không nói năng gì, Tania hỏi:
– Em nghĩ gì thế?
– Em nghĩ tại sao người ta không tìm cách giữ tiếng nói lại để nó bay phí hoài đi mất.
– Nhưng giữ lại để làm gì?
– Chị ngốc lắm. Nếu có thể được thì em sẽ giữ lại bài diễn thuyết của Washington và của Franklin.
... Có ai ngờ đâu là trong đầu óc của cậu bé mười hai tuổi ấy, đã có cái ý nghĩ mầm mống về máy ghi âm.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >