Bào Chữa Theo Lối Nghệ Thuật - Henry Slesar
huytran 22.05.2026 00:42:13 (permalink)
Nguyên tác: Starring the Defense.
 
Ông Crawford nằm lọt thỏm trong chiếc ghế nệm êm ái trong phòng sách, đang chìm đắm trong giấc mơ hướng về quá khứ. Và mặc dù mái tóc đã bạc gần hết, ông vẫn có nét mặt của cậu trai trẻ thơ ngây. Bà giúp việc Jenny trìu mến ngắm ông chủ một lúc như mẹ hiền ngắm đứa con rồi mới đánh thức ông.
- Ngài Crawford! Ngài Brody đợi ngài ngoài cửa đã nửa giờ đồng hồ rồi. Chẳng lẽ ngài quên là có hẹn ngài Brody đến chơi hay sao?
- Ông Brody à?
Nói xong ông ta vùng ngay dậy với dáng trẻ trung hoàn toàn không hợp với cái tuổi sáu mươi của ông rồi đi nhanh ra phía cửa:
- Sao anh cứ ngồi ngoài này thế? Không vào đánh thức tôi dậy?
Ông Brody ngồi ngả lưng trên chiếc đi văng nệm, tay cầm cốc rượu giơ lên chào bạn.
- Anh đã có tuổi, cần nghỉ ngơi.   
- Anh nói thế mà nghe được à? - Crawford cằn nhằn khó chịu. 
Ông ta vớ chiếc áo len đan vất trên lưng ghế, nói to giọng rất vang:
- Bà Jenny, tăng nhiệt độ trong phòng cho tôi. Lạnh quá! 
Khoác áo len lên người, ông ngồi xuống chiếc ghế nệm bên cạnh khách.
- Thế nào? Năm nay ta làm một chuyến xuống miền nam hưởng nắng ấm chứ, anh thấy thế nào?
- Nhưng rồi anh lại vác theo máy quay phim và lại suốt ngày quay phong cảnh chứ gì? Không, tôi không đi đâu với anh hết. Và tôi cũng khuyên anh tự bằng lòng với cái nghề luật sư hiện nay đi, đừng luyến tiếc nghề diễn viên điện ảnh ấy nữa.
- Nhưng cái nghề này chẳng thể giàu được, - Crawford than vãn. - Chắc anh đã biết tôi vừa nhận việc dàn xếp vụ Desborn chứ? Bà già đâm xe vào ông ta đề nghị bồi thường ba trăm đô la và ông ta đã bằng lòng. Nếu làm ăn khéo, tôi với anh cũng chỉ nhận được một trăm của tòa là cùng.
- Thế là may rồi. Ở cái thành phố nhỏ này kiếm ăn đâu có dễ dàng. Muốn làm ăn to, khéo anh phải tìm một cộng sự khác vậy.
- Không đời nào. Anh với tôi hợp tính nhau, không phải chỉ trong công việc mà cả trong vui chơi nữa. Thế nào, ta làm vài ván chứ anh Brody?
Miệng cười khúc khích, ông Crawford đứng dậy, mở tủ lấy cỗ bài mới mua. Ông đang bóc giấy bọc ngoài cỗ bài thì có tiếng kẹt cửa. Ông đưa mắt nhìn khách, vẻ ngạc nhiên kèm theo lo ngại.
-  Chắc thằng Tod, con trai tôi, - ông lẩm bẩm. - Mọi khi nó có đi đâu theo kiểu này đâu nhỉ?
Ông đi nhanh ra phía cửa ngoài. Đúng là Tod. Ông Crawford lo ngại nhìn khuôn mặt tái nhợt của con trai. Tod mới hai mươi tuổi. Mắt cậu ta màu nâu giống mẹ, người vợ thứ hai của ông. Còn hốc mắt sâu kia thì đúng là của ông rồi.
- Có chuyện gì thế? Con đi đâu mà mười giờ khuya mới về thế này? Mà định hỏi ba cái gì chăng? Con cần gì, hả Tod?
Bàn tay phải cậu ta đỡ khuỷu tay trái. Không trả lời bố, cậu ta chỉ nhìn ông bằng cặp mắt tối sầm, rồi quay ra đi về phía cầu thang lên tầng hai.
- Tod! - Ông Crawford dịu dàng gọi. Ông biết tính con trai thất thường và hay cáu bẳn, nên không tỏ thái độ bực dọc gì với cậu ta hết. - Ba hỏi, thì con cũng trả lời một câu chứ?
- Ba để con lên gác. - Cậu ta nói.
Và ông Crawford nghe tiếng chân con trai chạy thình thình trên các bậc cầu thang, rồi tiếng cửa phòng của cậu ta mở.
"Chuyện gì thế nhỉ?" - ông Crawford tự hỏi. Bước vào phòng khách, ông nhìn bạn.
- Thằng bé hôm nay làm sao ấy.
- Thì anh biết tính nết cậu ta rồi thôi. - ông Brody đột nhiên bước nhanh về phía chân cầu thang, mắt chăm chú nhìn xuống đất. -  Anh Crawford, sao thế này? Hay là mắt tôi hoa, mà tôi lại thấy như có vết máu thế này? 
Ông Crawford vội bước ra và nhìn xuống chỗ khách trỏ. Đúng là có những vết thẫm màu. Ông cúi xuống, lấy ngón tay quệt đưa lên nhìn, thì đúng là máu thật. Ông đưa mắt nhìn lên gác.
- Anh cần tôi lên cùng không? - Ông Brody hỏi.
Ông Crawford lắc đầu. Ông bước hai bậc một, và trái với thường lệ ông không hề do dự lúc đến trước cửa phòng con trai. Tod có thói không thích ai vào phòng của cậu ta dù đó là bố cậu đi nữa. Nhưng hôm nay ông Crawford đẩy cửa vào.
Tod đã bỏ áo vét và đang bước trong phòng tắm ra. Ống tay sơ mi bên trái được kéo lên và một chiếc khăn mặt bông bọc cánh tay trần. Thấy bố bước vào, cậu ta lộ vẻ khó chịu vừa như thể nhận lỗi. 
- Con làm sao thế? - Ông Crawford hỏi. - Con bị thương à?
- Hơi một chút thôi, - Tod lúng búng. - một tai nạn xe cộ nhỏ thôi mà, không có gì trầm trọng hết. Ba yên tâm và xuống nhà đi. Con cần nằm nghỉ một chút.
- Không hơi đâu, vì máu chảy nhiều lắm. Đưa ba xem nào, Tod, - ông nói giọng kiên quyết.
Ông chìa tay ra nhưng Tod quay phắt đi:
- Con đã bảo không sao mà lại! Ba đừng gặng hỏi con thêm nữa.
Cậu cử động mạnh cánh tay và chiếc khăn bông bật ra một góc để lộ một vết thương khá lớn. Cậu nhăn mặt lại bực bội.
- Để ba mời thầy thuốc. Dễ bị nhiễm trùng lắm đấy. Nhưng con bị thương trong trường hợp nào? Con va vào người nào chăng?
- Xe không làm sao cả, - Tod nói sẵng giọng.
- Ba không nói đến xe. Ba muốn biết có chuyện gì xảy ra.
Ông bước nhanh đến bàn, nắm vai khiến Tod không kịp tránh.
- Tai nạn thế nào? Tod! 
- Thôi được. Không phải tai nạn mà là con đã đánh nhau.
- Đánh nhau dữ dội lắm à?
- Cũng như mọi cuộc đánh nhau khác.
Tiếng chân bước nặng nề dưới nhà. Ông Brody đã đứng dưới chân cầu thang gọi to:   
- Anh Crawford, anh xuống đây ngay.
- Có chuyện gì thế?
Ông Brody đã bước lên mấy bậc thang, thở hổn hển nói:
- Một chiếc xe cảnh sát vừa đậu trước cửa nhà. Họ sắp vào đây. Thế cháu sao rồi?
Ông đã đứng trước cửa phòng Tod, nhìn vào trong dò xét.
- Xe cảnh sát à? - ông Crawford hỏi rồi quay sang nhìn con trai. - Nghĩa là không phải chỉ đánh nhau bình thường. Con đã làm chuyện gì vậy Tod?
- Con không làm gì hết, con đã bảo rồi mà.
- Anh Crawford, anh nên xuống tiếp họ thì hơn, - ông Brody năn nỉ.
- Vâng, tôi xuống đây.
Hai người đi xuống dưới nhà. Tod không buồn khép cửa phòng cậu ta lại nữa.
Hai ông già vừa xuống đến chân cầu thang thì chuông ngoài cửa gọi. Crawford mở cửa. Một sĩ quan cảnh sát thái độ lịch sự bước vào chào, rồi hỏi:
- Thưa, đây là nhà ngài Crawford phải không ạ? Xin lỗi ngài, con trai ngài có nhà không ạ? Vừa có một tai nạn trên quốc lộ 4. Đúng ra không chỉ là tai nạn. Tôi xin phép được hỏi con trai ngài vài câu.
Thêm một sĩ quan cảnh sát nữa bước vào, thái độ lịch sự nhưng thận trọng, tay đặt lên chiếc thắt lưng da to bản bóng loáng.
- Tod! - ông Crawford gọi to. - Xuống đây, Tod!
Không thấy tiếng trả lời. Ông quay sang nhìn ông Brody bằng cặp mắt lo lắng. "Liệu Tod có làm hành động gì liều lĩnh không?"
Nhưng liền sau đấy Tod xuất hiện; cậu ta đứng trên đầu cầu thang tầng trên nhìn xuống. Khăn bông trắng vẫn quấn khuỷu tay bên trái. Chiếc áo vét không mặc mà vắt trên vai phải. Mặt cậu ta nở một nụ cười khinh bạc. Nhưng vì kinh nghiệm diễn viên điện ảnh của mình, ông Crawford nhận ra ngay đó là một nụ cười gượng gạo.
Ông nghe thấy đằng sau tiếng bật mở khuy bao súng của viên sỹ quan cảnh sát. Nhưng mọi sự đều diễn ra bình thản. Tod xuống thang gác.
- Anh tên là Tod, con trai ngài Crawford?
- Chính thế.
- Khoan đã, thưa ông sỹ quan. - Ông Crawford đỡ lời, nhưng hai viên sỹ quan cảnh sát cau mày và đề nghị ông đừng cản trở họ thi hành nhiệm vụ. Trong lúc đó Tod nhếch mép cười, như thể coi mọi chuyện đang diễn ra là trò hài hước.
- Chắng lẽ các ông lại không biết ba tôi, nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng một thời, Miles Crawford? 
Cậu ta hỏi. Và lúc nói câu ấy, Tod đưa mắt nhìn bố, cặp mắt tự hào và biết ơn. Rồi cậu ta nói tiếp:  
- Các ông cần gì tôi vậy, tôi xin sẵn sàng.
- Chúng tôi tạm giữ anh. - Một sĩ quan cảnh sát nghiêm nghị nói.
- Nhưng con trai tôi đã làm gì? - Ông Crawford hét to lên, - và các ông có giấy tờ gì không mà có quyền đưa con tôi đi?   
- Thưa ngài Crawford! Tất nhiên chúng tôi có mang theo lệnh tạm giam. Con trai ngài đã xô xát với một thanh niên tên là Juley Herman, hai người đánh nhau trên quốc lộ 4. Anh thanh niên kia bị thương rất nặng.
- Nặng đến mức nào? - ông Crawford hỏi.
- Anh hãy đem theo những thứ gì cần đến trong đêm nay. Ngày mai ngài thân sinh ra anh sẽ đem áo quần và vật dụng cần thiết vào cho anh sau. Tôi rất tiếc nhưng đành phải giải con trai Ngài đi ngay bây giờ.
- Khoan đã! Khoan đã! Cho tôi cùng đi với các ông, - nói xong ông Crawford nhảy hai bước tới giá áo ngoài cửa, lấy chiếc pantô.
- Các ông giải con tôi đến đâu bây giờ? Các ông thuộc đồn nào?
- Khu vực tám, thưa Ngài. Nhưng nếu đi, Ngài sẽ phải dùng xe của ngài. Tốt nhất là sáng mai Ngài hãy đến. Tối nay chúng tôi cũng chưa tiến hành được gì đâu.
- Tôi đi cùng với các ông! - Ông Crawford nhắc lại, rồi ông quay sang con trai. - Đừng lo lắng gì hết, Tod. Ba sẽ đem đến cho con các thứ cần thiết cho tối nay và đêm nay. Sáng mai ba sẽ làm thủ tục xin bảo lãnh và đón con về nhà.
- Thưa Ngài Crawford...
Ông Crawford cau mặt nhìn viên sĩ quan cảnh sát.
- Ngài đừng nên đặt quá nhiều hi vọng vào chuyện bảo lãnh và các chuyện gì khác. Vì Ngài hẳn thừa hiểu. Bản thân Ngài là luật sư. Ngài không lạ gì những trường hợp như thế này...
- Như thế này là sao, các ông định nói gì vậy?
- Cậu thanh niên kia... Juley Herman đã chết.
Ông Brody nắm lấy vai ông Crawford bóp mạnh.
- Để tôi đưa anh đi. Tôi sẽ chở anh đến đồn cảnh sát. Anh có tuổi rồi và cầm tay lái không được bảo đảm lắm. Nào, ta đi.
Nói xong ông ra lấy áo pantô khoác lên người, rồi dìu bạn đi như dìu một đứa trẻ.
Mãi đến hai giờ sáng hai người mới về đến nhà. Họ không được gặp Tod. Cậu ta bị đưa đi chụp ảnh, lấy vân tay rồi bị nhốt riêng như một tội phạm nguy hiểm. Một thanh tra cảnh sát tên là Raphael nhận tiếp hai ông Crawford và Brody mười phút nhưng cũng chẳng làm họ rõ thêm sự việc được mấy.  
Đại cương câu chuyện đã diễn ra là như thế này. Tod cùng với hai thanh niên khác thách nhau uống rượu và phóng xe, đây không phải lần đầu tiên họ lao vào những chuyện như thế này. Một cuộc tranh cãi nổ ra. Và họ phân thắng bại bằng võ lực ngay bên đường quốc lộ. Họ dùng dao lưỡi dài mười xentimet. Kết quả Tod thắng trận, còn Juley thì hiện nằm trong nhà xác của đồn cảnh sát số Tám. Bà mẹ anh ta đã li dị chồng hiện đang ngồi khóc thảm thiết bên cạnh xác con.
Về đến nhà, ông Crawford bắt đầu tự buộc tội mình.
- Tôi còn làm gì khác được kia chứ? - Ông đau đớn than thở với bạn. - Tôi không làm được gì hết! Anh thừa biết tôi đã một thời sống điên rồ như thế nào ở Hollywood. Rồi đến cái vụ xảy ra ở đó khiến tôi suy sụp đã tưởng không ngóc lên được. Sau đấy đến cái văn phòng luật sư khốn kiếp mà tôi ở thành phố này...
- Thế này cũng là tốt rồi. Anh đừng ngoái nhìn quá khứ để mà tự dằn vặt như thế nữa. Có ích gì đâu? - Brody an ủi bạn.
- Thế rồi chuyện li dị với Elena cũng chẳng đưa lại điều gì khấm khá hơn! Anh thừa biết đấy, tôi lấy vợ lần thứ ba cũng chỉ vì lo cho thằng Tod.
- Thôi đi, tôi xin anh... - ông Brody năn nỉ.
- Tôi hiểu là cô Fern không có máu làm mẹ, nhưng anh phải công nhận cô ấy đã cố gắng đến mức tội nghiệp, và cuối cùng cô ấy không chịu nữa thì ta cũng phải hiểu cho cô ấy.
- Anh đi ngủ cho lại sức, anh Crawford, - ông Brody nói.
- Cứ tưởng rời xa ngành điện ảnh là mọi sự sẽ lại yên ổn. Cứ tưởng sau đó tôi có thể tạo cho nó một cuộc sống bình thản giống như mọi đứa trẻ khác. Nhưng khốn nỗi, nó nhiễm phải cái thói lạnh lùng đến sợ! Cái thói ấy trở thành như bệnh mãn tính của nó. Chính do đấy mà nó đâm uống rượu, do không biết làm cái gì để giết thời giờ mà lại. Chẳng hay nêu lý do như vậy có làm giảm được tội của nó không nhỉ, anh nghĩ sao?
- Anh biết luật rồi còn gì, anh Crawford. Dù say hay tỉnh thì cũng không khác là bao. Các quan tòa không ưa gì những kẻ làm chết người.
Ông Crawford đấm mạnh tay xuống chiếc bàn nhỏ.
- Tôi sẽ đến nói với họ, anh Brody! Tôi sẽ đích thân đến nói với họ rằng trong tội của thằng Tod có tội của tôi. Và họ sẽ thấy không thể đổ toàn bộ trách nhiệm lên đầu một mình nó được. Mà phải xử cả tôi. Phải bắt tôi chia xẻ phần án của nó. 
Ông ôm thật chặt đầu. Ông Brody đứng dậy, bước tới gần bạn. Nhưng không phải Crawford khóc. Ông ta chỉ ôm chặt lấy đầu, che kín bộ mặt. Ông Brody ra tắt bớt đèn, cốt để giục bạn đi ngủ. Lúc quay vào, ông thấy bạn đang chăm chú nhìn những hình vẽ trên thảm.
- Mà tại sao lại không nhỉ, anh Brody? Tại sao tôi lại không nói với nhà chức trách để nhận đỡ một phần tội cho con tôi nhỉ? Tại sao?
- Tại sao?
- Tại sao tôi không đứng lên bào chữa cho thằng Tod nhà tôi nhỉ. Ngay trong phiên tòa xử nó?
- Anh không phải là luật sư hình sự, anh Crawford! Nhất là trong những vụ xét xử như thế này. Anh là luật sư kinh tế. Chỉ tranh chấp tài sản mới thuộc phạm vi anh. Không phải những vụ hình sự.
- Không đúng. Tôi đã đăng kí để được tham gia các phiên tòa. - Mắt ông Crawford sáng rực lên. - Không điều luật nào cấm con người ta bào chữa cho người ruột thịt. Mà ai có thể bào chữa cho bị cáo hơn người thân của anh ta? Tất nhiên tôi sẽ nhờ một nhà chuyên môn về luật hình sự lo hồ sơ cho tôi. Mà anh biết hội đồng xét xử là thứ gì rồi. Anh đã bao nhiêu lần dự các phiên tòa. Mười hai người, mỗi người mỗi ý, phải làm sao thuyết phục được tất cả mười hai người đó, phải gây được thiện cảm với họ thì mới hi vọng giảm nhẹ tội cho thằng Tod. Mà cái công việc thuyết phục gây thiện cảm ấy còn ai làm hiệu quả hơn cha của nó?
- Cha nó hay một diễn viên điện ảnh?
- Thì có gì cản trở đâu, việc tôi đã từng là diễn viên? Và nếu như trong lúc bào chữa cho nó, tôi có dùng đến kinh nghiệm của người nghệ sỹ? - Crawford kêu lên. - Ai chẳng biết tôi đã đóng vai trạng sư trong hơn một chục bộ phim. Chính điều đó khiến sau khi rời khỏi điện ảnh, tôi đã chọn vào học trường luật. Anh Brody! Tôi tin rằng tôi có thể bào chữa cho con trai tôi và tôi sẽ làm tốt!
- Tôi thấy phải nhắc anh rằng có thể coi đây là một thứ biểu diễn của anh và phiên tòa là một bộ phim, nhưng có điều khác mà anh không thể bỏ qua. Nó là một bộ phim siêu hạng! S-i-ê-u hạng, anh nhớ cho, anh Crawford.
Ông Crawford đứng phắt dậy.
- Sáng mai tôi sẽ gặp cậu Charles, nhờ cậu ta giới thiệu cho một luật sư hình sự loại giỏi. Sau đấy chúng ta sẽ tính xem nên thế nào.
Ông bước lên thang gác, đĩnh đạc, đã bắt đầu giống như một nghệ sĩ lớn, hoặc nói cách khác, giống như bản thân ông vào cái thời huy hoàng ngày nào.
***
Ở đầu dây bên kia, Charles có vẻ vẫn còn ngái ngủ, mặc dù lúc ông Crawford gọi điện cho anh ta, đồng hồ đã chỉ tám giờ. Nhưng vẻ khó chịu của anh ta biến mất ngay khi nghe ông Crawford trình bày ý định. Charles rất tán thành ý đồ của ông và họ sôi nổi bàn bạc bằng điện thoại trong gần nửa giờ đồng hồ. Lúc đặt máy xuống, ông Crawford ghi lên cuốn sổ điện thoại địa chỉ của một luật sư: EDWIN C. RUTHERFORD, 74 Phố Wall. 
Thật ra ý đồ của ông Crawford, Charles không mặn mà gì lắm, nhưng anh cố không để lộ ra, định phó mặc cho ông luật sư Rutherford. 
Rutherford là một người vóc cao lớn nhưng dáng điệu thì lại õng ẹo, lúc nào cũng có vẻ như uể oải chán chường. Ông ta luôn luôn nghiêng bên này lại nghiêng bên kia trên chiếc ghế kê sau bàn giấy như người ngồi trên lưng ngựa, và chiếc bàn giấy kia là một con ngựa quý vậy. Trong lúc ông Crawford trình bày, Rutherford ngọ nguậy không yên, hết lắc người lại gãi gáy gãi cổ, rồi lấy bàn tay đập ruồi, ngoáy ầm ĩ chiếc thìa trong tách cà phê và ấn gẫy hai chiếc bút chì lúc ngoáy những chữ gì đó trên tờ giấy. 
Nhưng khi ông Crawford nói xong, ông rất ngạc nhiên thấy ông luật sư uể oải kia đột nhiên biến đổi hẳn. Ông ta bắt đầu phân tích sự việc một cách chính xác và tỷ mỷ vô cùng, về trách nhiệm pháp lý của cậu Tod cũng như những khả năng có thể khai thác để làm giảm tội lỗi. Và điều đáng ngạc nhiên hơn cả là ông ta rất thông cảm với ý định của ông Crawford muốn được đích thân bào chữa cho con trai trước tòa.
- Tôi thấy có gì không được đâu nhỉ? - Rutherford nói bằng giọng thô lỗ. - Ông là luật sư chính thức, mặc dù ông chưa làm cái công việc bào chữa trước tòa trong những vụ án hình sự như thế này. Chắc ông biết câu tục ngữ "Kẻ nào tự đảm nhận bào chữa cho bản thân thì coi mọi luật sư đều là xuẩn ngốc hết"? 
Crawford mỉm cười:  
- Tôi nhớ một câu có lẽ thú vị hơn. Chỉ ai đứng trong cuộc mới thấm thía pháp luật. Đó là câu của Halifax. 
Rutherford gõ mạnh ngón tay xuống bàn như thể đè chết một con ruồi nào đó: 
- Và ông định sẽ theo đúng phương châm ấy chăng, thưa ông Crawford? Và ông định làm cho các vị quan tòa “thấm thía” vấn đề? 
- Ông nên nhớ, tôi là cha của bị can. 
- Và còn một vấn đề nữa. Ông Charles có cho tôi biết ông đã từng là diễn viên, là nghệ sỹ màn ảnh? 
- Đúng thế, nhưng đã lâu quá rồi, đấy là vào thập kỷ 20, lần cuối cùng tôi đóng phim là năm 1933. Đến năm 1940 thì tôi được phép đứng bào chữa trong các phiên tòa. Cũng đã tốt nghiệp trường luật và thôi hẳn nghề nghệ thuật.
Rutherford tò mò nhìn khách.
- Mà có lẽ, - Crawford nói tiếp. - Chính vì tôi đã từng đóng phim mà tôi muốn tự đứng ra bào chữa cho con tôi. Nghề diễn viên buộc tôi phải tập cách chinh phục tình cảm của cử tọa. 
- Tôi hiểu. 
- Tôi không định làm thay công việc trạng sư vụ án của ông, mà tôi chỉ xin đảm nhận phần biểu diễn. Biểu diễn vai ông dành cho tôi. 
Cách dùng từ có vẻ không chính xác, khiến Rutherford hơi cau mày. Nhưng ông Crawford thấy không cần đính chính lại.  
- Chuyện ấy để sau chúng ta sẽ bàn, - Rutherford nói. - Theo tôi, vấn đề chính yếu hiện nay là cậu con trai ông. Cậu ta tên là gì?
- Tod. 
- Tod. - Rutherford nhắc lại. - Theo tôi, cậu ta được quyền có tiếng nói trong vụ này. Ông có tin chắc cậu ta chịu để ông bào chữa cho cậu ta trước tòa không? Cậu ta phạm tội giết người, và cậu ta đã đủ tuổi để có thể ngồi vào ghế điện. Ít nhất ông cũng phải hỏi xem cậu ta có chịu để ông bào chữa không đã! 
Crawford đột nhiên hồ nghi.  
- Ông nói đúng, tôi phải hỏi nó thật. 
Sáng hôm sau ông được phép gặp con trai. Sau khi bộ phận kiểm sát định tội, Tod được giải đến giam tại nhà tù trên đại lộ Fleet và liền sau đó, cậu thích nghi ngay với hoàn cảnh mới. Lúc ông Crawford nhìn thấy con trai bước vào phòng tiếp khách của nhà tù, ông thấy cậu ta có vẻ lạnh lùng và nhẫn nhục trong bộ quần áo tù nhân màu xám. 
- Con khỏe không? - Ông Crawford hỏi con trai. - Họ đối xử với con ra sao?  
Tod nhún vai. Cậu có vẻ không muốn có cuộc thăm viếng này 
- Tình hình tiến triển tốt, - ông Crawford nói tiếp. - Ba đã kể hết với ông Rutherford. Ông luật sư mà con đã gặp chiều hôm qua ấy. Ba e rằng không bảo lĩnh để con ra và về ở nhà trong thời gian này được. 
- Bao giờ thì viện kiểm sát có bản luận tội chính thức?  
- Tuần sau. Từ nay đến đó ông luật sư và ba phải tìm ra đủ lý lẽ để chứng minh đây là vụ giết người không có dụng ý từ trước. Con hiểu sự khác nhau chứ?
Tod cúi xuống nhìn vào bàn tay cậu ta.
- Toàn bộ vấn đề là ở chỗ ấy: cố tình hay không cố tình, - ông Crawford nói nhỏ. - Chuyện đánh nhau nếu không có dụng ý giết người thì khác với có dụng ý. Ông Rutherford đã giảng cho con hiểu rồi chứ?
- Ông ấy nói suốt hai tiếng đồng hồ, nhưng con không nghe kỹ lắm.
Crawford ghé sát tai con hơn nữa.
- Tod! Ba muốn hỏi con một điều quan trọng, rất quan trọng. 
- Điều gì ạ? 
- Nếu ba nhận đứng bào chữa trước tòa cho con thì con nghĩ sao? Tất nhiên không phải một mình ba mà cả ông luật sư Rutherford nữa. Ông ấy làm toàn bộ công việc chuẩn bị. Ba chỉ là người phát ngôn thôi. Con thấy được không Tod? 
Cậu trai có vẻ khó chịu: 
- Con chưa hiểu. Ba có phải luật sư hình sự đâu? 
- Đúng thế. Và ba rất có thể sẽ phạm những sơ suất tai hại. Nhưng đã có ông Rutherford cùng ở đấy, sẽ gỡ lại cho ba. Ba đứng lên bào chữa cho con vì ba tin rằng ba có thể gây cảm tình với hội đồng xét xử. Ba có thể buộc họ phải hiểu vấn đề theo hướng ba đề ra. 
Crawford ngừng nói, đau xót thấy nét mặt lạnh lùng của đứa con. 
- Nếu con không đồng ý thì ba cũng thôi. Chẳng nói con cũng biết, đây là vấn đề hết sức quan trọng. Con đã đủ tuổi thành niên và con có quyền từ chối.  
- Ba làm việc đó là vì con ư? - Tod nhẹ nhàng hỏi. 
Cậu nhìn lên và thấy mắt cha cậu ướt.                         
- Ơ kìa, ba!
Cậu đưa cả hai bàn tay ra nắm tay ông, và Crawford bắt gặp trong mắt con trai một ánh ngạc nhiên và như thể vừa khám phá ra được điều gì đó.
***
Ngay sau khi có bản luận tội chính thức, luật sư Rutherford bỗng như thành con người khác hẳn. Thái độ uể oải hờ hững của ông hôm trước đột nhiên biến đâu mất tăm, và thay vào đấy là cặp mắt sắc sảo. Việc ông bắt ông Crawford ngốn cho hết bộ luật hình sự chứng tỏ ông đã nhập cuộc. Không những thế, Rutherford còn không ngày nào không tỏ vẻ nghi ngờ Crawford, đoán trước rằng việc ông này bào chữa trước tòa sẽ phạm rất nhiều sơ suất và chỉ thành trò cười cho mọi người. Rutherford sỉ vả Crawford thậm tệ, có lúc còn mỉa mai ông này chỉ là thứ trạng sư trên phim ảnh mà thôi. Thậm chí đến độ ông ta còn dọa, nếu ông Crawford giở trước phiên tòa những cử chỉ dáng điệu "nghệ sĩ Hollywood", thì ông ta sẽ từ chối không nhận vụ án này nữa. Mặt khác, Rutherford lại đề ra những giải pháp bắt Crawford phải tập để thực hiện sau này trong phiên tòa xét xử.
Luật sư Rutherford dẫn ra hàng chục chứng lý, những trích dẫn trong văn bản bộ luật, bắt ông Crawford phải nghe và nhớ kỹ. Chẳng hạn:
"Sự cố ý, dụng ý phải xuất hiện trước hành động một khoảng thời gian nhất định. Tất nhiên khoảng thời gian ấy không đòi hỏi phải dài, nhưng cũng phải đủ để đương sự suy tính, cân nhắc chọn lựa giữa quyết định nên giết đối phương hay không nên giết, tóm lại là khoảng thời gian cần thiết để hình thành một quyết định".
- Đoạn bào chữa trên là trích trong Vụ án Majore, - Rutherford nói. - Toàn bộ vấn đề là ở giai đoạn gọi là nghị luận. Điều quan trọng nhất chúng ta cần chứng minh là ở đây không có dụng ý giết người.
- Nhưng liệu chúng ta có chứng minh được như thế không? Ông đã nghe thằng con tôi trình bày lại diễn biến. Bọn chúng đỗ xe bên vệ đường một cách đàng hoàng rồi bước ra và bắt đầu bong nhau. Chúng biết là chúng đang làm gì chứ. 
- Ông tưởng thế à? Chúng ta phải chứng minh là Tod không hề có ý định giết bạn. Ranh giới giữa có dụng ý và không có dụng ý rất mong manh, và ông với tôi phải thuyết phục tòa tin vào lập luận chúng ta đưa ra. Tôi với ông cần chứng minh rằng không có thời gian nào để cậu Tod hình thành dụng ý. Sự việc diễn biến nhanh đến mức không còn lấy một phút dành cho đương sự cân nhắc. Điều đó quả là hết sức khó chứng minh. Và tôi cũng đã biết rõ lão công tố viên vụ này. Lão Hanley ấy đúng là một thứ mặt sắt đen sì. Lão thuộc trường phái "Sát nhân giả tử", nợ máu phải trả bằng máu!
- Ông nói có lẽ đúng, - Crawford buồn bã nói. - Có lẽ nên để ông đứng ra bào chữa thì hơn là tôi.
- Ông nói thật lòng đấy chứ? - Rutherford cau mặt hỏi giọng khinh bỉ. 
- Không đâu! - Crawford vội vã đáp. - Sự việc ở đây rõ ràng là một chuỗi diễn biến dồn dập các sự kiện. Điều quan trọng là những ý nghĩ gì đã diễn ra trong óc thằng con tôi? Đấy chính là khe hở tôi tính khoét sâu vào. Tôi sẽ bắt các thành viên hội đồng xét xử phải tin vào những lý lẽ tôi đưa ra. 
Rutherford định thở phào nhẹ nhõm nhưng cố nén lại. 
- Ta nghỉ đã. Ngày mai, cũng vào giờ như hôm nay, ông Crawford!
Tối hôm đó, về gần đến nhà, ông đã nhìn thấy bà Jenny giúp việc đang giằng co với bốn nhà báo, kiên quyết đuổi họ đi. Ông phải lách qua bà giúp việc và đám khách không mời đó mới vào được nhà. Ông gặp ông bạn Brody đang đứng ở sau cửa với bộ mặt giận dữ. Brody bàn với bạn cách tống khứ đám phóng viên quấy rầy này, nhưng Crawford nghĩ khác. Ông lại thấy cần tiếp các nhà báo. Cần lôi kéo họ về phía mình. Brody bực tức đành ngồi phịch xuống chiếc ghế nệm kê hành lang.
Bà giúp việc Jenny được lệnh mời các nhà báo vào phòng khách. Bà không hiểu sao ông chủ lại quyết định như vậy, cho nên bà vẫn bực tức hét: "Các ông có chùi đế giày rồi hãy bước vào không nào?" Lát sau lại thấy giọng bà vang lên: "Có gạt tàn đấy. Sao các ông gạt xuống thảm thế kia?"
Mấy phóng viên thi nhau hỏi Crawford. Họ muốn biết kế hoạch dự tính của ông để giảm tội cho con trai. Đến khi họ đề cập đến điện ảnh, Brody ngồi ở một góc càu nhàu, nhưng Crawford vẫn để yên cho họ hỏi. Một nhà báo nói: 
- Xin ông cho biết, thưa ông Crawford, có phải thời gian làm nghệ sĩ màn ảnh, ông nhiều lần đóng vai trạng sư bào chữa trước tòa không? 
- Đúng thế. Nhưng chuyện đó hoàn toàn không giống với việc đứng bào chữa trước tòa lần này.  
- Đã bao nhiêu năm ông bỏ nghệ thuật rồi, thưa ông Crawford? Hình như gần hai chục năm phải không, thưa ông.  
- Quả là gần hai chục năm thật! 
- Anh Crawford! - Brody không nhịn nổi đã bật đứng dậy, đầu lắc rất mạnh như để ngăn chặn một sự dại dột không sao sửa chữa nổi. - Anh hãy mời họ về ngay đi, nghe tôi! Đừng tiếp họ nữa, Crawford.   
- Thưa ông Crawford, ông tin rằng kinh nghiệm đóng phim sẽ giúp ông bào chữa kết quả cho con trai ông chứ? 
- Tất nhiên là không rồi. 
- Trong những phim ông đóng, có bộ phim nào vai trạng sư bào chữa bị thất bại không? 
- Không thể có chuyện như thế.  
- Vậy là ông tính quay lại màn ảnh một lần nữa, thưa ông Crawford? 
- Đời nào lại như thế! - Crawford giận dữ đáp, mắt long lên nhìn thẳng vào người phóng viên trẻ vừa đưa ra câu trên. - Tôi là trạng sư và đã làm nghề ấy hai chục năm rồi. 
Chàng phóng viên mỉm cười lấy lòng:
 - Nhưng lần này ông bào chữa trước tòa thì cũng gần như một sự quay trở lại với nghề diễn viên ngày trước, đúng không thưa ông Crawford? Nói cách khác, lần này ông đóng vai trước tòa, và nếu như một đạo diễn điện ảnh nào đấy... 
Tiếng một cái tát tai vang lên không ai có thể ngờ được. Đột nhiên khắp phòng khách im lặng, và mọi người như còn nghe thấy tiếng vọng của cái tát tai vừa rồi. Má chàng phóng viên trẻ tuổi trắng dần trở lại. Brody vội cứu vãn ngay tình thế. Ông mời các phóng viên nhà báo đi ra. Trong lúc tiễn họ, ông luôn miệng xin lỗi và thanh minh để dịu bớt nỗi giận dữ đã bị chủ nhà đối xử thô bạo.   
Lúc Brody trở vào phòng khách, ông thấy bạn đang ngắm nghía bàn tay vừa nãy đã đập vào mặt người phóng viên. 
- Ta uống chút rượu đi, anh Crawford. Và lần sau anh đừng nói nhiều như thế. Để dành lúc ra trước tòa và lúc cần nói để tranh thủ tình cảm trên trang báo.
Crawford quay nhìn bạn:  
- Anh thấy thế nào, Brody? 
- Tôi thấy anh rất mệt mỏi, anh Crawford ạ. 
- Brody, tôi cam đoan với anh rằng tôi nhận việc bào chữa trước tòa lần này hoàn toàn không phải do tôi nhớ nghề đóng phim. Đã lâu lắm rồi, trong óc tôi không thấy xuất hiện cái ý muốn ấy. Anh thừa biết rồi, phải không?  
- Anh nói thì tôi biết vậy thôi! - Brody nói và rót rượu ra đầy hai ly.
***
Crawford đã từng đứng trước tòa, từng đối phó với các chánh án, các phụ thẩm để bảo vệ quyền lợi các khách hàng của ông. Nhưng chưa bao giờ ông lo lắng cho kết quả việc bào chữa của ông như lần này. Lúc tòa bắt đầu làm việc, suýt nữa ông bảo với Rutherford rằng ông đã thay đổi ý kiến, rằng ông không đủ hiểu biết và kinh nghiệm cần thiết để bào chữa trong một vụ án hình sự như thế này, rằng vị trí của ông phải là dưới hàng ghế công chúng dưới kia chứ không phải tại đây, nơi dành cho luật sư bào chữa.
Nhưng ông không nói gì hết. Phiên tòa đã bắt đầu. Các bồi thẩm đã ngồi vào chỗ. Vị chánh án trịnh trọng bước ra trong bộ áo quần tòa màu đen. Rutherford bước đến sát tấm hàng rào gỗ để đưa Crawford bản ghi những ý kiến cần phát biểu đó mà ông ta đã chuẩn bị. Trong lúc đó công tố viên Hanley, chừng năm chục tuổi, với mái tóc vàng và nét mặt thông thái nhờ thêm có cặp kính kẹp mũi không gọng, đã đứng lên mở đầu bản cáo trạng Giọng lão ta bình thản, không bộc lộ tình cảm gì hết. Các câu nói cấu trúc giản dị mạch lạc, thuật lại những diễn biến trong cái đêm ấy, làm hội đồng xét xử lắng nghe chăm chú nhưng không tỏ cảm xúc gì hết. 
Trong lúc nghe viên công tố đọc, trong óc Crawford thoáng nghĩ lóe tia hy vọng bản cáo trạng được đọc bằng giọng đơn điệu và làm ngán tai mọi người. Ông ghé nói nhỏ vào tai Rutherford điều nhận xét ấy và thấy Rutherford lắc đầu không tán thành. Khi ấy ông Crawford mới hiểu cần chăm chú lắng nghe hơn, và bỗng ông nhận ra rằng lão Hanley rất cáo. Lão dùng cái giọng đều đều kia đánh lừa cử tọa để về cuối mới đanh thép lên án. Khi lão ngồi xuống, các bồi thẩm tuy không bị kích động, nhưng đều có vẻ thấy lập luận của công tố viên là chính xác, và không cần phải cân nhắc gì thêm nữa.
Crawford đã bàn trước với luật sư của mình, ông Rutherford, là chưa lên tiếng gì hết, cứ để phiên tòa bước qua phần hỏi nhân chứng. Bây giờ là nhân chứng thứ nhất. Hanley quả là táo tợn. Lão đề nghị hỏi ngay nhân chứng quan trọng nhất của vụ xét xử: bị cáo Tod, con trai ông Crawford.
Tod đầu óc đang lơ lửng tận đâu. Lúc nghe gọi đến tên, cậu ta mới sực tỉnh, ngạc nhiên thấy mình đang đứng trước vành móng ngựa. Rõ ràng cậu không nghĩ rằng mình lại có thể bị ai gọi tên kiểu như vậy. Khi nghe viên công tố Hanley yêu cầu kể lại những diễn biến vào cái đêm hôm ấy, cậu ấp úng kể chẳng thành đầu đuôi và mạch lạc gì hết, khiến lão Hanley luôn luôn phải định hướng lại cho cho cậu. Cậu nói cậu đã uống quá nhiều rượu, và chuyện ấy vẫn thường xảy ra. Cậu nêu tên hai người bạn trẻ cùng uống với cậu và nêu nguyên nhân dẫn họ đến chỗ xô xát.
- Chúng tôi kéo đến thăm mấy cô gái. Mấy cô này nhà ở đầu bên kia thành phố và thường tiếp bạn trai. Juley đem theo một chai lên xe và cả bọn chúng tôi cùng uống. Tôi không muốn để Juley uống vì cậu ta cầm tay lái và bởi vì đấy không phải xe của tôi mà là của ba tôi. Cậu ta nổi nóng, và từ chuyện này chúng tôi giọ sang chuyện khác. Cuối cùng chúng tôi cãi nhau xung quanh một trong mấy cô gái mà chúng tôi sắp đến thăm. Đúng lúc đó Juley hãm xe lại và đòi đánh nhau. Cậu bạn thứ ba tên là Rudy can, nhưng tôi và Juley đều đang rất nóng. Đến lúc đấy thì có tiếng đề nghị thanh toán vụ cãi lộn này ngay bên vệ đường.
- Ai đề nghị? - Hanley hỏi.
- Tôi không nhớ nữa. Nhưng lúc chúng tôi ra khỏi xe, tôi chưa biết rằng Juley muốn thanh toán vụ cãi lộn bằng dao. Mãi đến lúc thấy cậu ta rút dao ra tôi mới hiểu. Thế là tôi cũng rút dao của tôi ra.
- Anh thường đem dao theo mỗi khi đi chơi à?
- Vâng.
- Anh kể tiếp đi.
- Tất cả chỉ có như thế thôi. Hai chúng tôi đánh nhau. Juley đâm trúng tôi trước, thế là tôi nóng máu lên và đâm cậu ta. Khi đó tôi không nghĩ là cậu ta có thể chết. Tôi lên xe về. Lúc đó đầu óc tôi quay cuồng và tôi đã để mặc cả hai cậu ấy ở lại chỗ đó.
- Anh đã để lại con dao vẫn còn cắm trên người nạn nhân?
- Vâng, - Tod nói. - Đúng như thế. 
Theo lời Rutherford khuyên, ông Crawford không xin tòa cho được hỏi thêm gì nhân chứng. Hai người tính toán là nên để Crawford đứng theo tư thế nhân chứng giải tội. Và lần đầu tiên ông lên tiếng trước tòa là khi viên công tố gọi cậu Rudy Trask lên hỏi. 
Lão Hanley thẩm tra lại xem có đúng Rudy là người thứ ba, cùng đi với bị can và nạn nhân không, sau đó lão yêu cầu Rudy kể lại diễn biến sự việc. Cậu ta kể không khác gì Tod, nhưng lão Hanley đưa ra một câu hỏi sinh tử.
- Trước cái đêm xảy ra việc chết người đó, giữa bị can Tod và nạn nhân Juley có xảy ra cãi cọ gì không?
- Có, - Rudy đáp. 
- Lớn không? Có đến mức đánh nhau không?
- Có, nhưng hai cậu ấy chưa dùng dao mà chỉ bằng chân tay không.   
- Hai người có hằn thù nhau không?  
- Chỉ thỉnh thoảng thôi.
- Họ thù nhau về chuyện gì? 
- Nhiều chuyện lắm. Đôi khi về chuyện gái. Có lần về việc Juley nói đụng đến bố của Tod.
Nghe đến đấy, có tiếng xì xào dưới ghế khán giả. Crawford xoay người và ho một tiếng, Rudy vẫn nói tiếp.
- Vì Juley rất hay trêu trọc và làm nhục Tod, chẳng hạn cậu ta hỏi sao Tod không đi làm nghệ sĩ điện ảnh, để trở thành ngôi sao màn bạc như bố cậu ấy ngày nào. Mỗi lần Juley giở cái trò mỉa mai ấy ra, Tod rất cáu. Thêm nữa, tính Tod cũng lại dễ tự ái cho nên nói chuyện với cậu ta không dễ dàng gì.
- Những cuộc đánh nhau chân tay không ấy có dữ dội lắm không?
- Có một lần Tod bẻ trẹo cổ tay của Juley. 
- Có báo cảnh sát không?
- Không, - Rudy nói. 
- Thế là đủ, - lão Hanley nói.
Bây giờ đến lượt Crawford. Ông đứng dậy, tim đập thình thịch, cảm giác hồi hộp còn hơn cả khi đứng trước ống kính máy quay phim. Nhận thức rõ hàng ngàn cặp mắt đang chăm chú nhìn mình, ông trấn tĩnh bước đến trước thành chắn của khu vực nhân chứng.
- Tôi xin hỏi cậu Rudy. Theo cậu biết thì Tod nhà tôi quen và chơi với cậu Juley đã lâu chưa?
- Khoảng tám đến mười tháng.
- Con tôi có hay gặp cậu Juley không?
- Mỗi tuần vài ba lần. 
- Vậy hai đứa là bạn của nhau chứ không phải kẻ thù, cậu có tán thành như thế không? 
Lão công tố Hanley đứng dậy phản đối, cho rằng câu hỏi của Crawford không được khách quan. Chánh án cũng tán thành nhận xét của công tố.
- Ta trở lại những cuộc đánh nhau tay không giữa hai cậu trai ấy, - Crawford nói tiếp. - Đặc biệt là cái lần mà Tod làm trẹo cổ tay của cậu Juley. Trước đó hai đứa có dụng ý là sẽ đánh nhau như cái lần đánh nhau bằng dao sau này không? Chắc cậu biết chứ? 
- Không. Hai bạn ấy không định trước mà ngẫu nhiên xảy ra thôi.
- Tức là hoàn toàn không có dự định.
- Tôi nghĩ là thế. Juley đánh Tod trước...
- Cậu vừa nói Juley đánh trước?
- Nhưng trước đó Tod gọi Juley là thằng...
- Gọi là gì không quan trọng. Cái quan trọng là chỗ Juley đánh trước, đúng như thế chứ?
- Đúng.   
- Thế cuộc xô xát đêm 14 tháng Mười cũng khởi đầu như vậy chăng? Cậu Rudy, cậu đã chứng kiến sự việc. Phải chăng ngay cả lần sau Juley cũng khởi đầu trước? Ai đánh cú đầu tiên?
- Điều ấy rất khó nói.
- Cậu Juley đã đâm Tod bị thương ở cánh tay đúng thế không? Có phải đây là cú đánh trước của cậu Juley không? Cậu có theo dõi cuộc đánh nhau chứ? Hay cậu không để ý, cậu Rudy?
- Tất nhiên là tôi theo dõi. Tod bị thương trước, đúng thế, nhưng...
- Thế là đủ rồi, tôi không cần hỏi thêm gì nữa.
Nói xong Crawford quay gót lui về chỗ. Tim ông đập rất mạnh và mắt ông mờ đi, hầu như không nhìn rõ gì nữa. Tuy vậy ông vẫn nhìn thấy trên mặt luật sư Rutherford một nụ cười hài lòng. Nghĩa là ông đã xử sự đúng.
Sang đến ngày xử thứ hai thì rắc rối mới bắt đầu nảy sinh. Lúc Hanley bước vào, lão dẫn theo một cô gái khá đẹp nhưng có vẻ dễ dãi, môi son đỏ chót, tên là Barbara. Cô ta dáng điệu trơ trẽn và phấn sáp lòe loẹt quá mức cái tuổi rất trẻ của cô, chỉ mới 17. Chính cô là nguyên nhân gây ra xích mích dẫn đến đâm chém nhau giữa hai chàng trai. Không hiểu Rutherford vốn ghét phụ nữ hay vì đã có kinh nghiệm mà ông dặn Crawford phải cảnh giác trước nhân chứng phụ nữ. Ông nói phụ nữ hay có định kiến và họ nhìn vấn đề bao giờ cũng lệch theo cảm tính. Và lời dặn dò của ông tỏ ra đúng đắn, nhất là trưởng hợp cô gái Barbara này.
Viên công tố hỏi trước: 
- Cô có nhìn thấy Juley và Tod cãi cọ nhau? Và nhìn thấy cả việc hai người đánh nhau nữa chứ?
- Vâng, đúng thế, - cô gái hất đầu cho mái tóc lật ra phía sau rồi nói. - Hai anh ấy chuyên cãi cọ nhau, bất cứ lúc nào và bất cứ về chuyện gì. Đôi khi cả chuyện tôi nữa, - cô nói và khẽ mỉm cười.
- Vậy mà họ lại thường xuyên chơi với nhau? Cô có thấy chuyện đó là lạ không?
- Nhiều người thích chơi với họ, - cảm thấy nhận xét của mình thông minh, cô có vẻ kiêu hãnh.
- Cô cho rằng hai người đó ghét nhau?
- Chuyện ấy quá rõ.
- Cô căn cứ vào đâu?
- Không phải chỉ vì tôi thấy hai anh ấy cãi cọ nhau, mà bởi vì Tod nói với tôi là như thế. Có lần anh ấy còn nói sẽ có ngày giết Juley. Thế chẳng phải họ ghét nhau là gì? 
Nói xong cô nhìn sang Tod với vẻ thách thức và thú vị thấy trong phòng ồn ào.
- Cô bảo rằng Tod có lần đã nói ra miệng lời đe giết Juley? 
- Mà không phải chỉ nói một lần. Đó là sự thật. Anh ấy bảo tôi rằng nếu Juley cứ tán tỉnh tôi thì anh ấy sẽ giết Juley.
Rutherford ghé tai Crawford dặn dò nhanh mấy câu về cách hỏi nhân chứng, nhằm làm mọi người thấy tư cách đạo đức đáng ngờ của cô gái, đồng thời kích cho cô nói lên những lời bôi xấu Tod để cho mọi người thấy là cô ta có định kiến với Tod. Nhưng khi Crawford nhận xét là cô Barbara không ưa Tod, cô mỉm cười rất tươi đáp:
- Nhưng chính tôi lại rất quý Tod. Tôi rất mến anh ấy và không muốn nhìn thấy anh ấy phải khổ. Nhưng tôi cũng không thể giấu những điều anh ấy đã nói với tôi, đúng thế không?
Cảm thấy đã thắng một bàn, cô trâng tráo liếc nhìn ông Crawford.
Còn ba nhân chứng về hướng buộc tội nữa. Cả ba đều khẳng định tính tình thô lỗ và nóng nảy của Tod, cũng như sự xung khắc giữa nạn nhân với Tod. Mấy nhân viên cảnh sát khai về vụ đâm chém nhau và việc con dao vẫn còn cắm trên người Juley, về việc Tod phóng ngay về nhà, việc đến bắt cậu ta, và điều có lẽ quan trọng nhất là họ không thấy biểu hiện hối hận của bị can.
Bên buộc tội dùng thêm hai ngày nữa để đưa thêm chứng cớ và bức tường kết tội cứ mỗi giờ một cao thêm, khó có thể phá đổ. Những câu hỏi của bên gỡ tội đâm thành phản tác dụng, chỉ làm tăng thêm bằng chứng về tội lỗi của bị can. Khốn nỗi bên gỡ tội không hề có nhân chứng riêng của mình, và họ buộc phải sử dụng những gì họ có trong tay, tức là những lời khai của các nhân chứng và lập luận của họ.
Hai luật sư Rutherford và Crawford chỉ còn đặt hy vọng cuối cùng vào Tod.
Thấy bố gọi, cậu bước đến thanh gỗ. Crawford cố cường điệu thái độ nghiêm khắc của mình để tỏ ra mình khách quan.
- Lúc bước ra khỏi xe ô tô, anh đã có dụng ý sẽ giết chết Juley chưa?
- Chưa. 
 - Hay anh có ý định làm anh ta bị thương? Hay anh hoàn toàn chỉ nghĩ đến chuyện tự vệ?
Tod ngập ngừng.
- Tôi không còn nhớ lúc ấy tôi nghĩ gì. Tôi đang say rượu và hầu như không còn biết gì hết.
Crawford thở rất mạnh:
- Anh có ghét Juley không?
- Không.
- Nhưng anh thường xuyên cãi cọ với Juley. Tại sao vậy? 
- Tôi không biết. Có người bảo cả hai chúng tôi đều nóng tính và lại hay trêu chọc nhau Nhưng lần nào cãi cọ xong, chúng tôi cũng làm lành. Hai chúng tôi đã khá thân với nhau trước khi quen cô kia.
- Anh muốn nói đến cô Barbara?
- Vâng.
- Anh có yêu cô ấy không?
- Tôi không biết, có lẽ hơi một chút.
- Anh đã nói với cô ấy là sẽ giết Juley, có không?
- Theo tôi nhớ thì tôi không nói câu nào như thế với Barbara.
- Thế theo anh thì tại sao cô Barbara lại khai như vậy? 
Tod nhún vai. 
- Barbara yêu Juley. Cô muốn căm ghét tôi sau cái chuyện không may vừa rồi. Cô ấy muốn trả thù cho người yêu.
Bên công tố phản đối câu trả lời vừa rồi, và Tòa tán thành lời phản đối ấy.
Mồ hôi chảy ròng ròng trên trán Crawford, xuống lọt vào cả mắt và ông liên tục đưa khăn thấm.
- Đã có lúc nào anh nghĩ đến giết người không?
Tod cúi đầu nhìn xuống đất.
- Không, - cậu đáp. - Tôi đã nói rồi.
- Ý nghĩ giết Juley chỉ đêm hôm đó mới nảy ra trong óc anh phải không?
Tod không đáp. Sự im lặng của cậu rất bất lợi cho cậu. Ông Crawford nghiêng hẳn người trên thanh gỗ ngăn.
- Tôi đề nghị cậu trả lời câu hỏi vừa rồi.
- Tôi không biết, - Tod nói. - Tôi hoàn toàn không biết lúc ấy tôi nghĩ gì.
- Nhưng anh có nghĩ đến việc giết?
Tod buông thả hai vai xuống.
- Lúc đó tôi không nghĩ điều gì cụ thể. Tôi chỉ làm cái hành động mà tôi cảm thấy phải làm. Có vậy thôi. 
Cả hội trường im phăng phắc. Không khí nặng nề ngột ngạt. Hàng ghế dưới có tiếng ho và nghe giống như tiếng súng nổ.
- Tôi hỏi đã xong, - ông Crawford nói với con rất khẽ. 
Ông quay về bàn bào chữa. Luật sư Rutherford lập tức đứng dậy, tuyên bố bào chữa không cần phát biểu thêm gì, và đề nghị Tòa kết án bị can về tội giết người không có dụng ý. Nhưng viên chánh án không chịu và yêu cầu luật sư bào chữa chiều nay sẽ trình bày rõ các lập luận của họ.
Lúc ra khỏi phòng họp Crawford nói với Rutherford:
- Sẽ tốt thôi, rồi anh xem. Tôi sẽ bắt họ phải mến thằng Tod, rồi anh sẽ thấy tôi làm được.
***
Hai giờ chiều hôm đó, Crawford đứng dậy nói lời bào chữa cho bị can. Cho đến giờ phút ấy, các ủy viên hội đồng xét xử mới chỉ là từng cá nhân trước mắt ông, có người đáng mến, có người không đáng mến. Nhưng từ giờ phút này tất cả hòa lại thành một đối tượng chung, không thể tách biệt người này với người kia được, và họ thành công chúng! Crawford đứng im lặng một lát khoảng 10 giây để định thần rồi bắt đầu nói bằng giọng trầm và đều đều:
- Thưa các vị trong hội đồng xét xử, thưa các ông các bà. Một cậu trai trẻ đã chết và tất cả những ai chịu trách nhiệm trước công lý đều đòi cậu ta phải được trả thù. Sát nhân giả tử, nguyên tắc ấy đã tồn tại bao nhiêu đời. Thần công lý, với tấm khăn che mắt để khỏi thiên vị, ngồi trước cửa phòng xét xử dưới hình dạng bức tượng cũng đòi như vậy. Và khi các quý vị rời khỏi hội trường này, các vị đều mang nặng trĩu trong lòng trách nhiệm của việc đòi cái chết hoặc tha chết cho một nhân mạng. Nhưng lúc này, trong khi các quý vị còn ngồi tại đây, tôi muốn xin phép được đặt một câu hỏi.   
Liệu có công lý tuyệt đối không? Một thứ công lý tuyệt đối hoàn hảo, công bằng, không bị chi phối những định kiến cũng như những lợi ích riêng tư? Nếu như có một công lý như thế thì chúng ta sung sướng biết bao. Khốn nỗi có phải bao giờ tội ác cũng bị trừng phạt và trừng phạt công bằng? Có phải những người không bị trừng phạt đều là những thiên thần vô tội cả chăng? Ôi, nếu như các vị chưa bao giờ phạm một lỗi lầm gì, không hề làm thiệt hại đến bất cứ ai, chưa hề làm ai đau đớn về tinh thần cũng như thể xác thì đúng là các qúy vị hoàn toàn có quyền quy định hình phạt cho cậu con trai đang đứng vị trí can phạm kia. 
Giọng ông mỗi lúc một cao lên, vang to:
- Nếu như các quý vị chỉ căn cứ vào một hành động trong chốc lát, một cái chớp mí mắt, một cánh tay giơ lên bổ xuống, một giây phút lầm lỡ trong cuộc đời một con người để gạt anh ta ra khỏi thế gian, tước đi của người ta cái quyền được sống, được hít thở khí trời, được luyến tiếc, được chuộc lại những lỗi lầm đã chót phạm phải mà các vị không thấy áy náy chút nào hết thì thật là may mắn cho các quý vị.
Nhưng xin các quý vị hãy ngẫm nghĩ về những gì các quý vị đang làm. Phải chăng các vị đã có lần nói một câu nặng lời với vợ, với con và sau đó ân hận? Sửa lại lỗi lầm đó chẳng khó khăn gì. Một cái hôn, một lời nói trìu mến là yên ổn cả. Phải chăng các vị đã có lần cũng giáng một cái tát lên má con, nói một câu dối trá, đánh rơi vỡ một cái đĩa?! Và hình phạt các vị đã phải chịu là gì? Một nỗi day dứt trong lòng. Nhưng không ai nỡ nhốt các vị vào trong phòng khóa lại, không cho các vị có dịp được tỏ lòng hối hận, được làm điều gì đó để chuộc lại lỗi lầm!
Cậu trai kia đã phạm một tội lớn hơn nhiều so với việc làm vỡ một cái đĩa. Cậu ta đã bẻ gãy cuộc sống của một con người. Trong một lúc nóng giận làm mờ mắt, không còn kịp suy nghĩ gì nữa. Phải chăng đó là một tội ác có dụng ý từ trước. Không! hoàn toàn không hơn gì dụng ý khi các vị làm vỡ một cái đĩa, tát một đứa con. Bởi vì cậu ta làm chết người khác trước mặt nhân chứng, đâu phải lén lút?
Crawford lúc lên giọng, lúc xuống giọng, luôn cố ghìm lại niềm tha thiết hoặc thương cảm đang tràn ngập trong tim. Ông cảm thấy nhiều lúc như không điều khiển được bản thân nữa, mà các câu các chữ cứ tự ý từ trong đáy lòng tuôn trào ra.
Nói xong bài diễn văn bào chữa, Crawford phải nắm lấy thanh gỗ để khỏi ngã rồi cúi đầu xuống, quay gót lui về chỗ. Và lúc này ông mới chợt nhận ra rằng cả hội trường im phăng phắc trong một lúc lâu. Rồi đột nhiên như sực tỉnh, cả phòng họp vang lên như sấm tiếng vỗ tay vang dội và kéo dài. Crawford cố làm như không nghe thấy tiếng vỗ tay báo hiệu sự thành công rực rỡ của bài bào chữa. Ông cúi đầu lặng lẽ ngồi xuống, bên cạnh Rutherford. 
 Vị chủ tọa phiên tòa bối rối không nỡ rung chuông lấy lại trật tự của buổi xét xử. Tiếng vỗ tay đã ngừng nhưng âm vang vẫn như chưa dứt.
Lão Hanley đã đứng dậy. Lão lộ vẻ bối rối: 
- Kính thưa Ngài chủ tọa. 
- Ông cứ nói, ông công tố?
- Do thấy cử tọa nhiệt liệt hoan nghênh bài bào chữa của ông Crawford, tôi đề nghị ngừng phiên tòa và lui bài đáp của bên công tố lại sáng mai.
- Tôi bằng lòng. Tòa tuyên bố nghỉ. Sáng mai mười giờ sẽ tiếp tục. 
Mọi người đứng dậy, ồn ào đi ra cửa, bàn tán sôi nổi. Luật sư Rutherford nói nhỏ với Crawford lúc họ ra đến hành lang:
- Thật không ngờ. Tôi không thể ngờ ông lại thành công đến như vậy, ông Crawford!
Còn lão công tố Hanley thì môi mím chặt, ôm chiếc cặp da to phồng vào nách bước đến gần họ, nhếch một nụ cười cay đắng:
- Một bài bào chữa tuyệt vời, thưa ông Crawford. Đúng là ông thật sự có tài. Trước nay tôi vẫn đánh giá ông rất cao. 
- Cảm ơn ông.
Lúc lão đi rồi, Rutherford nhìn theo, nói với bạn:
- Chưa thể tin được lão này đâu.
Sáng hôm sau khi phiên tòa họp lại, bàn công tố không đơn giản như mọi khi mà bày những hộp lớn nhỏ. Tòa bắt đầu làm việc, lão Hanley đứng dậy nói với hội đồng xét xử:
- Kính thưa Tòa. Trước khi trình bày bản luận tội, tôi xin đề nghị một điều như sau tuy điều ấy không bình thường. Tòa xét xử các vụ án phải căn cứ vào những sự việc chứ không phải vào tình cảm.
Chủ tọa phiên tòa mỉm cười. 
- Đúng là như thế. Chúng tôi đều cũng nghĩ như vậy. Bây giờ xin mời ông công tố phát biểu.
Lão Hanley rõ ràng nín thở và nói:
- Tôi đề nghị Tòa cho phép chiếu một đoạn phim để tham khảo.
Rutherford đưa mắt nhìn Crawford một cách hốt hoảng. Nhưng Crawford mải nhìn máy chiếu và màn ảnh nhỏ vừa được chăng lên.
- Đoạn phim này có dính đến vụ án?
- Thưa Ngài chủ tọa, không phải thế. Đây là đoạn phim kết thúc của bộ phim "Bị can" do hãng phim Liên hợp sản xuất năm 1931. Tôi may mắn mượn được trong kho lưu trữ ở Long Island. Tôi tin rằng một đoạn trong bộ phim này giúp chúng ta nhìn nhận đúng hơn bài bào chữa của ông Crawford hôm qua. Vậy Ngài chủ tọa cho phép?
Viên chánh án gật đầu. Ánh sáng trong phòng họp được giảm bớt, và trên màn ảnh xuất hiện một phiên tòa khác, cũng lại một phiên tòa xét xử. Hội đồng xét xử gồm những diễn viên đóng vai. Một diễn viên đứng tuổi, tóc hoa râm đóng vai chủ tọa. Luật sư bào chữa bắt đầu phát biểu. Đó chính là Crawford, khi đó mới 31 tuổi và là diễn viên điện ảnh sắm vai này. 
Tiếng máy quay xè xè và tiếng luật sư trong phim vang lên:
- Một cậu trai trẻ đã chết và tất cả những ai chịu trách nhiệm trước công lý đều đòi cậu ta phải được trả thù...
Bài bào chữa hôm qua được lặp lại gần như từng chữ. Tiếng xì xào trong phòng họp. Rutherford níu cánh tay Crawford, lúc này đang bối rối đến cực độ. Ông thấy mình bấy giờ, trẻ trung và đẹp trai, diễn cái đoạn mà hồi ấy báo chí hết lời ca ngợi nhưng bây giờ thì lại gây hậu quả hoàn toàn ngược lại. Đoạn phim đã biến bài bào chữa của ông trong phiên họp hôm qua trở thành một trò hài hước. 
- Liệu có công lý tuyệt đối không? Một thứ công lý hoàn hảo, công bằng, không bị chi phối bởi những định kiến cũng như những lợi ích riêng tư, - tiếng trong loa vẫn vang lên.
Không chịu đựng thêm được nữa, Crawford nói như rên rỉ vào tai Rutherford:
- Anh làm ơn yêu cầu ngưng cái trò này lại cho tôi nhờ. Mau lên tôi không thể chịu thêm được nữa!
Rutherford lên tiếng:
- Kính thưa Tòa... Kính thưa tòa...
Tiếng trong loa vẫn vang lên.
- Ôi, nếu như quý vị chưa hề phạm một lỗi lầm nào, chưa hề làm thiệt hại đến ai, thể xác cũng như tinh thần...
Crawford thét lên:
- Dừng lại ngay!
Lão Hanley nói nhỏ vào tai người thợ máy và đèn bật sáng trở lại. Lão quay về phía bàn chủ tọa:
- Kính thưa Tòa, tôi nghĩ đoạn phim vừa rồi thế là đủ, và đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu của bên bào chữa là ngừng chiếu.
Nói đến đây lão quay sang phía Crawford, thản nhiên:
- Tôi vốn hâm mộ tài năng nghệ thuật của ông, thưa ông Crawford, cho nên hôm qua về tôi chợt nhớ ra đã nghe những lời bào chữa ấy ở đâu rồi, và tôi sực nghĩ đến bộ phim hồi trẻ tôi đã xem và rất mê, với ông trong vai chính, vai luật sư bào chữa. Hôm qua ông đã tác động mạnh đến tình cảm của chủ tọa mà theo tôi thế là không đúng. Việc xét xử phải căn cứ vào bằng chứng, vào sự việc chứ không phải vào tình cảm. Và tôi nghĩ cần cho mọi người xem đoạn phim này để xóa đi những tình cảm hôm qua do ông gợi lên. Đồng thời cũng để mọi người một lần nữa thấy rõ ông Crawford đúng là một nghệ sĩ thiên tài về đóng kịch.
Nói xong lão về chỗ. Crawford vẫn đứng yên như pho tượng nhưng vẻ mặt thể hiện một nỗi mệt mỏi vô cùng. Ông quay sang bàn chủ tọa và nói bằng giọng khàn đặc lại.
- Kính thưa Tòa! Đúng thế. Bài bào chữa hôm qua không phải do tôi soạn mà người khác viết ra cho tôi thể hiện. Nhưng tôi đã dùng nó vì thấy lời lẽ rất chính xác những tâm tư của tôi. 
Một sự im lặng đáp lại lời Crawford. Ông nhìn thấy vẻ mặt nhẫn nhục của Tod. Nghĩa là ông đã làm hỏng việc bào chữa cho con trai ông!
Ông đau đớn nói tiếp:
- Tôi đã biến thành trò cười cho các vị. Tôi thừa nhận. Chỉ xin các vị tha hồ cười vào mặt tôi, nhưng đừng vì thế mà nghiệt ngã với Tod con trai tôi. Tôi mới là kẻ có tội. Xin trừng trị tôi. Đừng trừng trị nó mà hãy trừng trị tôi.
Crawford ngước nhìn các thẩm phán và chỉ thấy những bộ mặt lạnh lùng. Ông cúi đầu lê bước về chỗ. Nhưng đột nhiên ông đứng lại. Mọi người vẫn nhìn theo chưa hiểu có chuyện gì.
- Kính thưa Tòa, - Crawford hướng về phía bàn chủ tọa. - Tôi đòi phải có sự công bằng 
- Nghĩa là sao? - vị chủ tọa chưa hiểu gì hết.
- Ngài đã cho phép bên công tố chiếu một đoạn phim, thì bây giờ bên bào chữa cũng xin Ngài cho chiếu một đoạn khác. 
- Tôi chưa hiểu để làm gì? 
- Bởi vì có một đoạn, sau đoạn phiên tòa và cũng là đoạn kết thúc của bộ phim.
Lão Hanley đã đang cất các thứ dụng cụ chiếu phim vào trong.
- Kính thưa Tòa, tôi không hề có ý định biến phiên xét xử thành một buổi sinh hoạt điện ảnh.
- Khoan đã! - Crawford phản đối. - Như thế là không công bằng. Đã đưa phim ra phải để người ta xem phần kết thúc. Đó mới là đoạn quan trọng nhất, đoạn về số phận của chàng thanh niên kia sau phiên xét xử.
Vị chủ tọa phiên tòa ngơ ngác chưa hiểu gì hết, nhưng cũng tò mò muốn biết sự thể này dẫn đến đâu.
- Thôi được! Tôi đã đồng ý cho bên công tố chiếu một đoạn phim thì bây giờ tôi cũng bằng lòng để bên bào chữa chiếu một đoạn khác. 
- Nhưng thưa Ngài chủ tọa...
- Ông vui lòng, ông công tố.
Viên công tố nhún vai rồi ra hiệu cho người thợ máy. Đèn trong hội trường được tắt bớt. Trên màn ảnh hiện lên quang cảnh phiên tòa đoạn cuối. Các thành viên của hội đồng xét xử đi thành hàng một vào hội trường và chiếm vị trí. Vị chủ tọa đứng dậy long trọng tuyên án: "Chúng tôi, những thành viên của Hội đồng xét xử, sau khi đã bàn luận cân nhắc, quyết định bị can phạm tội giết người có dụng ý và nhận án tử hình".
Trên màn ảnh hiện lên căn nhà giam với những xà lim nối tiếp nhau. Đến một xà lim án chém, trên tấm phản hẹp, một thanh niên đang ngồi đợi giờ thi hành án.
Cửa xà lim mở. Vị linh mục của nhà tù cầm cây thánh giá vào, đem tới cho tù nhân, không phải niềm hy vọng mà là niềm an ủi. Cha đặt bàn tay lên vai tù nhân. Cậu ta òa khóc nức nở. Cha linh mục mở cuốn Kinh Thánh và đọc mấy lời để tiễn chàng trai sang thế giới bên kia.
Đến lượt viên quản đốc nhà tù vào cùng với hai lính canh. Chỉ còn mười phút nữa sẽ đến giờ hành quyết. Chàng trai trẻ tù nhân đứng dậy, khóc nức nở và nói rằng cậu ta rất ăn năn về việc đã gây ra, rồi cậu ta nhân danh bà mẹ đã mất đề nghị tha tội. Viên quản đốc nhà tù rõ ràng rất cảm động, nhưng không làm gì được hết. Ông ta gỡ tay cậu trai đang níu chặt tay ông rồi ra hiệu cho hai lính gác. 
Lính cởi giày cho tù nhân, xỏ vào đó đôi giày vải nhẹ, rạch quần của cậu rồi xốc nách cậu đưa đi. Cậu tù nhân khuỵu xuống, người mềm oặt như cái giẻ rách. Cậu bị lôi đi trong tiếng lầm rầm cầu nguyện của cha cố, tiếng bản thân cậu khóc nức nở, van nài xin tha tội, hoặc ít nhất cũng cho cậu sống trên cõi đời thêm một ngày, một giờ, thậm chí một lúc cũng được.
Đám dẫn giải lấp sau một cái cổng, và khi họ ra hết, hai cánh cổng nặng nề khép lại với chữ "Hết". 
***
Đèn phòng họp bị bật sáng như cũ. Im phăng phắc. Rutherford đưa mắt nhìn các quan tòa xem phản ứng của họ ra sao. Họ họp kín và chưa đầy một tiếng đồng hồ sau bước ra, công bố án của Tod Crawford là 20 năm tù về tội giết người không cố tình.
Ông Crawford trào nước mắt nhưng ông vội chùi đi ngay để ôm trìu mến đứa con trai.

VŨ ĐÌNH PHÒNG dịch

HẾT
<bài viết được chỉnh sửa lúc 22.05.2026 12:45:23 bởi huytran >
#1
    huytran 22.05.2026 06:36:10 (permalink)
    Một câu chuyện viết khá hơn (dù không đặc sắc lắm), của cùng tác giả, và dịch cũng khá hơn, để đền bù cho cái truyện ngắn đầy vô lý và bản dịch nhiều chỗ tối nghĩa ở trên.
     
    Người hâm mộ đặc biệt
    Henry Slesar

    “Đưa mụ già độc địa ấy ra khỏi đây!”, Maxwell St. John gầm lên, đập nắm đấm lên chiếc khay trên giường khiến mấy cái đĩa của bệnh viện kêu loảng xoảng. “Nếu ta nghe thêm một tiếng khóc bù lu bù loa nữa của mụ ta sẽ bục cả chỉ khâu vết thương ra đấy!”
    Cô Cassidy, nữ y tá, trông khá sửng sốt: “Nhưng ông St. John, tôi nghĩ ông sẽ vui khi thấy vợ ông. Bà nhà đã chờ hàng giờ liền…”
    “Thật ư, Max?” Herb Devon từ phía chân giường nói lên: “Aggie đã lo lắng đến phát bệnh vì ông từ khi bà ấy nghe nói về ca phẫu thuật. Bà ta đã bay cả chặng đường dài từ thành phố Kansas tới đây”.
    “Rất có thể trên cái cán chổi của mụ!”
    St. John nhấc cái đầu hói nhẵn thính như viên đạn ra khỏi gối để nhìn trừng trừng Devon. Cái nhìn quắc mắt trứ danh. Người ta có thể thấy nó sau lưng những quyển trường thiên tiểu thuyết dày cộm, luôn được các nhà phê bình xếp vào hạng: “Kiệt tác của Mỹ”. Nó có thể khiến những nữ hội viên hâm mộ từ Albany đến Pasadena phát rùng mình xúc động từ trên các bục diễn thuyết. Giờ đây, người ta có thể thấy nó đầy rẫy trên mọi loại phương tiện báo chí, dưới dòng tít: “VĂN HÀO MAXWELL ST. JOHN ĐANG TRONG CA PHẪU THUẬT”.
    “Từ hồi ly thân ta đã không gặp vợ và cũng chẳng muốn gặp mụ ta lúc này. Mà thật ra, ta cũng không muốn gặp bất kỳ ai. Ta thậm chí phát bệnh khi nhìn thấy anh”.
    Devon, tay đại diện cho tác giả, trả lời cứng ngắc. “Tốt thôi”, anh ta lạnh lùng nói. “Tôi sẽ đi nếu ông muốn.”
    “Ta muốn thế. Ta muốn anh đi và tránh xa ra cho đến khi ta gọi. Và còn cô, Cô…”
    Cô Cassidy run rẩy. “Vâng, thưa ông St. John?”
    “Cô được thuê để săn sóc ta, nhưng cô nên lấy làm hổ thẹn cho công việc của mình. Ta muốn cô không cho phép ai vào phòng này, cô hiểu chứ? Nếu Tổng thống và cả Nội các của ông ta muốn gặp ta, ta cũng muốn cô tống khứ họ ra ngoài”.
    “Có cả tá người dưới lầu”, Devon nói. “Rất nhiều bạn cũ của ông, Max. Ông đang cư xử không được nhã nhặn lắm”.
    “Ơn Trời, ta không việc gì phải nhã nhặn cả. Đó là đặc quyền của bậc thiên tài”. Ông ta cười thô lỗ đoạn cau mày do cơn đau chính mình gây ra. “Ta đang đau đớn!”, ông ta hét lớn. “Bác sĩ Duncan vẫn liệt ta vào danh sách những bệnh nhân nặng. Ta có thể chết! Tại sao ta lại phải quan tâm đến những kẻ viếng thăm?”
    “Ông không phải gặp ai cả”, cô Cassidy nói đầy lo lắng.
    “Khốn kiếp, tất nhiên là ta không. Nhưng dù sao thì ai ngoài đó vậy?”
    “Sam và Della,” Devon nói. “Leonard, Ralph Summers, cái ông Higgins nhỏ bé vui vẻ mà ông từng rất thích…”
    “Higgins!” St. John nói oang oang, chống người trở lên. “Tại sao anh không nói với ta là Higgins đã đến đây? Đó là người duy nhất trên trái đất này đáng được gặp…”
    Cô Cassidy hỏi: “Higgins là ai vậy?”
    Devon cau mày chán ghét. “Chả ai cả”.
    “Đừng nghe lời anh ta. Higgins là ngọn nến kiên định nhất, sáng chói nhất trong cảnh tăm tối và cái thế giới thô thiển này”
    “Anh ta là người hâm mộ số một của St. John.” Devon giải thích. “Hay kẻ nịnh hót số một tùy theo quan điểm của cô.”
    “Thôi phô bày sự ngu dốt của anh đi, Herb. Willard Higgins là người hâm mộ trung thành tận tụy, người hâm mộ chính cống duy nhất mà ta có. Nếu ta có nguyện cầu cho ai thì anh ta là người duy nhất ta nghĩ đến để tuyên dương trước Chúa”.
    “Được rồi, anh ta ắt hẳn phải thế nào đó”, cô Cassidy lí nhí.
    “Người đàn ông đó đã tận tụy cả đời với ta và sự nghiệp của ta. Và tại sao chứ? Chính bởi sự sùng bái chân thành dành cho một thiên tài, đó mới là lý do, chứ chẳng vì lợi lộc cá nhân nào cả. Chả có phần trăm chia chác nào cho Higgins trong đó cả, phải không Herb?”. Ông ta nhìn tay đại diện một cách khinh thị.
    Devon đỏ mặt đi ra cửa. “Nếu ông muốn tôi làm bất kỳ điều gì, chỉ cần gọi thôi”.
    “Tất cả điều ta muốn là mang Huggins vào đây, ngay bây giờ”.
    “Nhưng ông…”, cô y tá nói, “Tôi nhớ ông đã bảo là…”
    “Đừng có bận tâm điều ta đã nói! Ta sẽ gặp Higgins và ta muốn tiếp anh ta một mình”.
    Willard Higgins đi vào vài phút sau đó. Anh ta là một người nhỏ thó ăn bận xoàng xĩnh với hàng râu mép không hơn một vết nhọ lờ mờ ngay dưới mũi. Anh ta nói chuyện cứ như thể đang vật lộn với căn bệnh cảm cúm kinh niên và có thói quen nhịp những ngón tay lại với nhau. Anh ta lặng lẽ chào người bệnh đúng kiểu cách bệnh viện nhưng Maxwell St. John rống lên. “Huggins, anh bạn cũ đa sầu đa cảm của ta! Thật vui vì anh đến thăm ta!”
    “Ông thế nào rồi, ông St. John?  Tôi thật không biết diễn tả là mình buồn đến thế nào khi nghe tin về bệnh tình của ông…”
    “Tất cả chuyện này là một âm mưu đó, Willard. Cô y tá ngoài kia, cô Cassidy ấy. Ai biết được cô ta có phải là một nhân viên CIA chính cống không chớ?” Ông ta cười ha hả khi nhìn vào gương mặt hoang mang của Higgins và sau đó ôm lấy ngực rên rỉ. “Ồ, Willard, bọn họ đã cắt mất những phần cơ thể tốt nhất của ta”.
    “Ông ổn cả chứ, ông St. John? Ông muốn gọi y tá không?”
    “Không, không Willard. Chỉ cần nói ta biết có gì mới không. Hội Người hâm mộ Maxwell St. John thế nào rồi?”
    “Ồ, ông có thể đoán được mà”, Higgins lẹ làng đáp. “Tôi đã cấp tốc viết thư cho mọi chi hội trưởng. Chúng tôi đã bàn tính về việc bắt đầu gây quỹ quà tặng cho ông, nhưng tôi biết ông có hứng thú ra sao với những món quà và mấy cái bình thủy tinh chạm hoa văn kiểu đó”.
    St. John cười khoái trá.
    “Nhưng tôi phải thú thật là”, Higgins ranh mãnh nói “ Đích thân tôi muốn mang cho ông một thứ nho nhỏ. Nó chẳng nhiều nhặn gì, nhưng ông có thể hiểu tôi biết ơn ông đến dường nào…”
    “Anh không cần phải biết ơn tôi, Willard. Anh quả là là người bạn thực sự mà tôi có”.
    “Ồ đừng nói thế ông St. John. Vì sao chứ, cả thế giới này là bạn của ông”. Anh ta lấy ra một gói nhỏ từ trong túi áo và gỡ sợi dây buộc màu xanh dương. Có một cái hộp bên trong đựng một cái bọc bằng da lộn nâu. Từ trong bọc, Higgins lấy ra một cái bật lửa có hai mặt bằng sứ mô tả một cảnh đi săn. “Nó không nhiều nhặn gì”, Higgins lặp lại.
    “Không nhiều ư?”, St. John đáp. “Nó là một kỷ vật đáng yêu ghi dấu lần đầu tiên ta phải nằm bệnh viện thế này”, đoạn nhe răng cười tận mang tai. Ông ta lật nó ngược lại và trông thấy cái mác nhỏ ghi: “6,95 đô la”. “Cám ơn, Willard. Nhưng anh không nên tiêu tiền mồ hôi nước mắt vì ta, ta biết anh luôn phải chật vật xoay xở”.
    “Mọi thứ chẳng mấy tốt”, Higgins thừa nhận. “ Nhưng tôi thực lòng không bận tâm, ông St. John. Miễn là tôi có được tình bạn với ông. Đó mới là điều quan trọng”.
    “Anh có điều đó, Willard, anh có”, Maxwell St. John nói, ngoác rộng miệng. “Ta vẫn hơi uể oải vì thuốc. Anh có phiền không nếu ta chỉ nhắm mắt lại một chốc thôi?”
    Người đàn ông đồ sộ nhắm đôi mắt lại và nặng nề ngả vào đám gối khiến bọn chúng lập tức trở nên xô lệch.
    “Để tôi đặt lại chúng cho ông, ông St. John”.
    Một cách cẩn thận, Willard đặt lại những chiếc gối cho ngay ngắn. Ông nhà văn vẫn thấy không thoải mái, nên anh ta đề nghị: “Tôi nghĩ rằng tôi sẽ lấy cái gối trên cùng ra, ông St. John nhỉ? Chỉ tại nhiều gối quá, tôi nghĩ thế!”
    “Đúng đấy, bạn thân mến”.
    Ông ta thở dài và gập đôi tay lên trên cái bụng to phệu. Sau một khắc, ông ta bắt đầu thở rõ ràng.
    “Ông muốn ngủ phải không, ông St. John? Ông muốn tôi về chứ?”
    “Không không, anh cứ quẩn quanh ở đây nhé Willard. Tôi muốn nghe thêm về Hội Người hâm mộ…”
    “Vâng thưa ông St. John”.
    “Người bạn đích thực duy nhất mà tôi có…”, St. John lầm rầm.
    “Vâng,” Willard Higgins nói. Anh ta ngồi bất động im lìm trên cái ghế bên cạnh giường, giữ riết cái gối không dùng đến trên đùi. Khi những tiếng thở sâu trở thành tiếng ngáy, anh ta cúi đầu lại gần hơn và thì thầm: “Ông St. John?”
    Khi ông nhà văn đã không còn đáp lời, anh ta đứng dậy và nhấc cái gối lên trên cái đầu hình viên đạn và di chuyển nó chậm chậm đến khi nó gần như chạm vào cái miệng đang há mở. Vào khoảnh khắc cuối cùng, anh ta ấn chặt nó xuống cho đến khi khuôn mặt kia hoàn toàn chìm ngập bên dưới nó. Gồng mọi cơ bắp trên đôi cánh tay gầy gò của mình, anh ta giữ cái gối thật chặt ghìm cứng cả hai bên đầu của Maxwell St. John đến nỗi tiếng kêu thét hãi hùng nghèn nghẹt của ông nhà văn còn khó mà nghe rõ bằng tiếng hơi xì trong  lò sưởi, tiếng cồm cộp của gót giày bên ngoài hành lang hay những thanh âm xe cộ ngắt quãng ngoài lộ. Khi St. John ngừng quẫy đập và mềm rũ, Higgins nâng cái gối lên một cách cẩn trọng và nhìn chằm chằm vào việc làm của anh ta.
    Sau đó, anh ta cúi đầu xuống ngực ông nhà văn và lắng nghe. Thỏa mãn vì nó đã hoàn toàn im lặng, anh ta chạy ra cửa phòng bệnh viện, thét lớn: “Y tá! Y tá! Y tá đâu!”
     
    ***
     
    Martin Lefcort cắn đôi môi khi gã ta nghiêng về phía trước kiểm tra những món bên trong cái va li sờn cũ đặt trên bàn giấy của gã. Gã nhặt nhạnh đám giấy tờ một cách thận trọng, không muốn làm hỏng bất kỳ mảnh giấy quý giá nào. Sau đó, gã nhìn Willard Higgins ngồi bên kia bàn và mỉm cười, nụ cười của một con buôn thỏa mãn.
    “Quả là cả một bộ sưu tập chớ gì nữa”, gã nói. “Tôi chưa từng biết bất kỳ ai trên đời sở hữu cả một kho kỷ vật khổng lồ của St. John như thế này…”
    “Phải mất nhiều năm trời đấy”, Higgins nói. “Ông St. John đúng là một người bạn tốt và viết thư cho tôi thường xuyên”. Anh ta nhịp những ngón tay lại với nhau. “Tôi muốn hỏi rằng ông nghĩ sao về giá trị của chúng…”
    “Ồ, tôi hứa với anh nó sẽ là một khoản khá khẩm. Anh nhớ điều tôi đã nói với anh lần cuối cùng anh ở đây chớ?”
    “Vâng”, Willard Higgins lãnh đạm đáp. “Ông nói rằng những thứ giấy má này sẽ đáng giá gấp mười lần sau khi ông St. John chết”.
    Lefcort thở dài. “Đúng thế”, gã ta nói. “ Thật buồn khi nhận ra rằng ông ta không còn ở bên chúng ta…”
    “Quả vậy!” Willard Higgins, người hâm mộ đặc biệt của Maxwell St. John đáp lại.
     
    Ngọc Văn dịch
    Nguồn: https://doanhnhanplus.vn/...o-dac-biet-581870.html
    #2
      Chuyển nhanh đến:

      Thống kê hiện tại

      Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
      Kiểu:
      2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9