Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu
Sun Ming 5 giờ (permalink)
TÁC PHẨM ĐĂNG TRONG NGUYỆT SAN THÁNH NHẠC NGÀY NAY
TIỂU THUYẾT CÔNG GIÁO.
QUỶ XƯNG TỘI
MA VĂN LIÊU
 
                    Kỳ 1
 
Chiếc trẹt nhỏ (1) cập bờ nhả ra vỏn vẹn ba người khách qua sông. Mưa suốt.
Tôi bước lên bờ dốc trơn trượt đất nhão. Lạ lẫm nhìn khắp một lượt. Đến bên chiếc xe lôi đạp gần nhất nằm đơn độc dưới tán lá xoài u tối bởi con mưa chiều.
Người đạp xe lôi đội chiếc nón rơm cũ sùm sụp che gần hết gương mặt, lên tiếng:
- Đi xe thầy ơi!
Tôi gật đầu giả bộ rành đường. Quăng túi xách nặng lên xe:
- Về nhà thờ An Biên.
Không trả lời một tiếng, người đạp xe lôi kéo xe ra khỏi chỗ đậu, nhảy thót lên yên bắt đầu đạp hướng về con đường đất âm u vắng vẻ trước mặt.
Tôi hơi an tâm vì như vậy chứng tỏ mình đang đi đúng đường về nhiệm sở. …
- Thầy về trường trung học Mê Linh hả?
Người đạp xe lôi đột nhiên hỏi.
Tôi định nói thật, nhưng thôi, giả bộ để dò xét:
- Ừ!… Mà sao ông biết?
- Đoán thôi! Vì người trẻ bảnh bao như thầy còn mặc đồ xi-vin (2) đi về hướng nhà thờ thì chém chết cũng phải về dạy trường trung học Mê Linh chớ đi đâu!
Tôi cười. Nghĩ nhanh: thời chiến thanh niên phải đi lính mặc đồ lính, ai còn ăng-tơ-nuy (3) như tôi kể là hiếm lạ. Cha này cũng nhiều chuyện, đường đất sình lầy trơn trượt lo giữ xe vừa thăng bằng vừa chạy tới được đã khó, vậy mà còn bắt chuyện tùm lum.
- Sời! Tôi chở mấy thầy như ông hoài sao lại không biết!
Nhìn hai bên đường thỉnh thoảng mới có nhà, tôi ái ngại cho cảnh buồn tênh ở nơi này, rồi hình dung mình sẽ ở đây những một năm mười hai tháng.
Càng đi, càng hiện ra nhiều ngôi nhà ở hai bên đường, cảnh vật hơi sáng sủa hơn.
Xe dừng lại. Bên trái đường là ngôi nhà thờ cổ kính cao ngất, bên phải đường là trường trung học tư thục Mê Linh rộng lớn khang trang.
Trả tiền xe xong tôi nhắm cổng nhà thờ đi vào. Nhà xứ hiện ra bên trái. Tôi mạnh dạn bước vô. Tối om và vắng lặng. Tôi tìm phòng cha sở. Gõ cửa mãi không có tiếng động nào đáp lại. Tôi ngơ ngác đi tới đi lui ở hành lang.
Năm phút rồi mười phút…
Bỗng có tiếng chân người từ bên nhà thờ đi qua, tôi đứng đón ở cửa phụ ra vào. Một người đàn ông cao to, vai ngang, mũi cao, nước da có lẽ trắng nhợt, mắt trũng sâu nhưng sáng quắc bước vào nhìn tôi chằm chặp.
-Chào bác!

- Chào bác!
- Tìm ai?
- Dạ muốn gặp cha sở…
-Cha sở ăn tối dưới bếp.
Tôi ngập ngừng. Người đàn ông vẫn nhìn tôi chăm chăm:
- Ổng đau nên xuống bếp ăn… Mày là cha hay là thầy vậy?
Tôi nhận thấy trong cách nói của người đàn ông có gì hơi lạ, nhưng trời đã âm u, bên trong ngôi nhà kiểu Âu châu cổ kính lại càng tối. Chịu! Không thể nhìn rõ mặt người đàn ông.
- Đi! Đi xuống gặp ông cha sở. Mày là cha hay là thầy hả?... Hả?...Hả?
- Là thầy giúp xứ.
- Tao biết rồi! Mấy ông phó (4) có nói rồi. Đi xuống cha sở
Trên đường đi băng qua sân rộng giữa nhà xứ và nhà bếp. Người đàn ông thì thào:
- Có tiền không cho tao năm đồng!
Tôi giật thót cả người ngạc nhiên. Im lặng một lúc. Móc trong túi hai đồng tiền thối cuốc xe lôi vừa rồi, tôi nhét hết vào tay người đàn ông coi như mua cảm tình để mai mốt có khi nhờ đến. Tôi nói:
- Đi xe hết rồi còn bấy nhiêu đó thôi bác ơi!
- Ừ! Kìa ổng đó, vô đi.
Người đàn ông tay nhét vội tiền vô túi tay đẩy lưng tôi vào bếp bằng sức mạnh thô bạo:
- Ông Út! Có thằng tướng này tới giúp xứ kìa!
Tôi bước vào chào cha sở. Thật trái ngược với cuộc “đón tiếp giáo đầu” vừa qua. Cha sở là một linh mục già tuổi ngoài sáu mươi tôi từng nghe nhưng chưa biết mặt, nhẹ nhàng vui vẻ dừng bữa ăn, bắt tay tôi cách trìu mến. Hỏi han ân cần đôi câu xong, cha bảo bà bếp dọn bữa cho tôi cùng ăn.
Trong bữa ăn, cha hỏi han thêm nhiều chuyện kèm theo những lời chỉ dẫn.
Tôi ăn ngon dù thức ăn chỉ có món cá tạp nhạp kho chung với trái bần..
Ăn xong cha hỏi:
- Lúc nãy thằng Đôm có xin tiền không?
Cha giải thích người đàn ông lúc nãy tên là Đôm, con rơi của lính Lê Dương thời Pháp thuộc, được các nữ tu dòng Chúa Quan Phòng nuôi dưỡng đến lớn, nay nhà xứ nuôi chỉ chuyên một chuyện gánh nước, tính hơi “tâng tâng” nhưng không đến nỗi..

Trời tối nhanh. Mới sáu giờ hơn mà trời đặc quánh một màu đen u buồn. Không tiện đi đâu đó vài vòng tò mò, tìm hai cha phó để chào nhưng các ngài đi vắng, tôi đóng cửa phòng ngủ một giấc vô tư đến khi chuông nhà thờ ầm ĩ đánh thức tôi dậy vào lúc 4 giờ sáng.
 
(1) Trẹt: tên gọi chiếc phà nhỏ bằng gỗ, chỉ có thể chở người, xe đạp, xe gắn máy, bất đắc dĩ mới chở được một xe ô tô con 4 chỗ ngồi.. thường thấy trẹt ở các con sông nhỏ vùng ĐBSCL.
(2) Xi-vin tức tiếng Pháp là civil nghĩa là dân thường.
(3) Ăng-te-nuy tiếng Pháp là entenue, nghĩa là ăn mặc quần tây bỏ áo trong quần nghiêm chỉnh.
(4) Ý nói hai linh mục phó xứ đang ở đó.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 4 giờ bởi Sun Ming >
#1
    Sun Ming 5 giờ (permalink)
    Kỳ 2
     
    Chẳng cần tốn nhiều giờ mới biết cha sở già hiền lành để mặc hai cha trẻ, tiếng là cha phó, nhưng chỉ lo việc trường học, một vị giữ chức hiệu trưởng, vị kia giữ chức giám đốc Trung học Tư thục Công giáo Mê Linh… thậm chí ai gọi các vị là “cha phó”, các vị còn giẫy nẩy tỏ vẻ không đồng ý.
    Hai vị sống độc lập và rất tự do tựa hồ không phải dưới quyền cha sở.
    Tôi cùng lúc làm việc cho hai “chính phủ”, giờ hành chánh dạy bên trường dưới sự điều động của hai cha phó. Những giờ còn lại giúp cha sở lo mục vụ, khi thì bên nhà thờ khi thì ở nhà xứ dưới quyền cha sở.
    Nghe giáo dân xầm xì cha sở và hai cha phó có “khía cạnh” với nhau, nhưng tôi nghĩ không phải. Cha sở rất hiền chẳng nói động đến ai thì hai cha phó cũng vậy. Có lẽ do đôi bên phân chia quá rạch ròi ranh giới công việc, giao tế, phòng ốc, tài chánh nhất là bếp núc… khiến người ngoài nhìn vào đoán già đoán non.
    Phần tôi chẳng có vấn đề! Chỉ hơi mệt vì dạy một lúc hai lớp nhất và nhì bậc tiểu học, mệt như thế rồi mà còn thường xuyên bị gọi dậy thay chỗ “không lương” cho bất kỳ giáo sư nào bên trung học vắng mặt.
    Trưa và tối về ăn cơm với hai cha phó. Thỉnh thoảng hai vị đi vắng thì sang ăn với cha sở. Có lẽ biết tôi quần quật nên ngài thương hỏi han, chuyện trò ngọt ngào vui vẻ như cha với con. Đặc biệt tính cha đã bình dân giản dị còn rất khôi hài, khiến bất cứ lúc nào xong việc bên trường là tôi chạy đến ở bên ngài.
    Tôi thương ngài còn vì thấy rõ ngài rất cô đơn, ít ai lui tới. Khu vực ngài ở tối tăm, vắng vẻ với mọi thứ đồ đạc cũ kỹ và lạnh ngắt.
    Tôi thích kể linh tinh đủ chuyện cho ngài nghe. Tình cảm cha con ngày một sâu nặng.

    Thấm thoát đã hai tháng.
    Lúc này cha sở thường hỏi về tôi hơi nhiều. Tôi vẫn cứ thiệt thà.
    Nhiều lúc nghe tôi kể những chuyện “dở hơi” của chính mình, cha cười ngặt nghẽo rồi chêm vào: “Hô hô hô!... Mày ngu quá!”, hay là “Hì hì hì!... Cái thằng! Coi vậy mà khờ quá thể!”.
    Những câu mắng yêu đó làm tôi thấy thích trong bụng, vì được nghe nhiều câu lịch thiệp nhưng khiến nặng lòng.
    Một buổi tối kia cha gọi:
    - Con biết cạo gió hôn?
    - Dạ biết!
    - Vô… vô… cạo cho cha đi!
    Cạo xong ngài bảo: “đợi cha một chút”. Cha sở đi lại giá treo áo, móc moi sục sạo hết trong túi hai ba cái áo dòng, đi lại bàn buya-rô kéo hết mọi ngăn tìm tòi, sắp sắp đếm đếm mãi… rồi dúi vào túi áo tôi, về phòng tôi đếm được đúng 34 đồng toàn là tiền lẻ. Thì ra ngài cho tôi tiền.
    Sáng hôm sau lễ xong cha kêu lại hỏi:
    - Tiền hôm qua còn không, cho cha mượn đỡ 20 đồng để đi Châu Long.
    Tôi nghĩ hôm qua cha đã cho tôi hết số tiền cha có! Lòng tôi rưng rưng một nỗi niềm khó tả.

    Cha sở dạy tôi hết chuyện này đến chuyện kia.
    Suốt ngày trong tuần cha sở quẩn quanh ở tòa giải tội nằm gần phòng thánh nhìn ra nghĩa địa vắng tanh. Cha dạy tôi rằng, làm như thế để khuyến khích giáo dân không nhút nhát lại còn năng đi xưng tội, và cũng để ai rước cha đi kẻ liệt biết lối mà tìm và lúc nào cũng tìm ra cha sở.
    Mỗi khi đi kẻ liệt, cha bảo tôi đi cùng.
    Khi lập lời rao hôn phối, chứng giấy rửa tội, lập khẩu cung, dạy giáo lý hôn phối hay tân tòng, giáo lý thêm sức… cha đều cho tôi ở kề bên, tập cho tôi làm việc.
    Một hôm cha hỏi:
    - Con có sợ ma quỷ không?
    Tuổi trẻ chưa tinh đời nên không biết sợ gì nhiều, tôi mạnh miệng trả lời ngay:
    - Thưa không!
    Cha cười rồi ngập ngừng không nói.
    ….
    Hôm khác cha hỏi:
    - Khi gặp ma gặp quỷ con phải làm sao?
    Tôi lúng túng, chưa biết ý cha muốn dạy gì, nhưng cũng trả lời cách chân thành:
    - Thưa… chắc con hỏi chuyện!... Vì ba con lúc xưa dạy, khi gặp ma quỷ, nên nhân danh Chúa hỏi nó muốn gì mà hiện ra, để nó có thể nói cho ta điều gì đó…
    Cha sở gật gù cười rồi lại im lặng.

    Hai cha phó sử dụng hết mọi phòng thuộc khu vực mình trong nhà xứ, nên chỉ cho tôi một góc hành lang đối diện cầu thang để làm chỗ ngủ và cất đồ dùng cá nhân… Thấy chỗ ngủ trống hoác, hàng ngày đầy dẫy kẻ lên người xuống trong số đó có nhiều phụ nữ… nhân dịp về nhà, tôi xin mẹ tôi tấm ri-đô để che chắn cho kín đáo. Một đêm mưa rỉ rả chừng như không dứt, lúc hơn mười một giờ, cha sở bỗng bước vào chỗ tôi đang ngủ, ngài gọi:
    - Xuống phòng cha bảo!
    Tôi mới lim dim ngủ, nên ngồi bật dậy, chỉ kịp thoáng thấy bóng cha lui ra, tôi nhanh nhẹn chạy theo nhưng cha đi nhanh quá, tôi không theo kịp cha đã mất hút ngay ở cầu thang.
    Tôi chạy ngay xuống phòng cha sở..
    Đến cửa phòng, nhìn vào tôi thấy nhiều người giáo dân lố nhố bên trong với vẻ khẩn trương và tất bật, nhưng khi tôi rón rén bước vào thì chẳng ai màng để ý đến tôi. Tôi định thần thì ra cha sở đang nằm trên giường và đang cơn bệnh nặng. Mọi người lăng xăng và khẩn trương lo lắng. Tôi đứng đó với tâm trạng bần thần cứ nghĩ mình đang mơ, rồi cũng chẳng biết làm gì. Xớ rớ coi có ai sai gì thì làm.
    Mãi một lúc lâu sau, khi mọi người thưa dần, cha sở đã qua cơn nguy hiểm, ngài tỉnh lại và thều thào với bà bếp đang ở gần.
    Bà bếp liếc nhìn tôi:
    - Thưa cha có thầy Bảy đang ở đây.
    Cha sở lại thều thào nói tiếp điều chi. Bà bếp ngoắc kêu tôi lại:
    - Thầy Bảy lại gần đây! Cha muốn nói gì…
    Cha sở ra hiệu cho mọi người lui ra ngồi ngoài hành lang, chỉ để lại mình tôi với ngài.
    Cha sở mệt nhọc ra hiệu tôi kéo ghế ngồi gần bên ngài. Cha hắng giọng đôi ba lần rồi bắt đầu nói với giọng rất yếu ớt và vất vả.
    - Tôi không biết nói sao, nhưng tôi phải kể một chuyện mà tôi cần phải để lại trước khi chết.
    Tôi bàng hoàng cả người, không nói được lời nào, chỉ biết trố mắt im lặng lắng tai nghe từng lời ngài nói. Cha sở nói tiếp:
    - Thầy phải hứa không được kể cho ai trừ… chỉ kể cho đức giám mục... Lẽ ra tôi phải kể cho ngài từ lâu, nhưng bao nhiêu lần tôi không làm được..
    Cha sở có vẻ tỉnh táo hơn lên khi thốt ra được những lời như vậy. Tôi chưa tin lắm, nhưng hơi yên tâm nghe ngài nói tiếp:
    - Tôi gặp một chuyện lạ đã từ ba bốn năm nay. Tôi không định kể ai nghe, nhưng tình hình sức khỏe… tôi thấy mình chắc không qua nổi đêm nay, nên nhờ thầy kể lại cho đức cha giùm… sau khi tôi nhắm mắt…
    Tôi lắc đầu như cái máy. Nhớ lại lúc ba tôi hấp hối, ba nói gì nói, tôi không màng nghe, mà cứ lắc đầu phủ nhận thực tế giống như hôm nay.
    Tôi vừa mong cha sở đừng nói để cha đừng chết, vừa tò mò muốn nghe chuyện bí mật và chắc là quan trọng lắm. Cha nhìn tôi như dò xét thêm, đo lường sự trung tín của tôi. Tôi hiểu ý:
    - Thưa cha, con xin hứa giữ kín mọi chuyện cha giao, chỉ nói với đức cha thôi! Con thề có Chúa. Con xin thề có Chúa.
    Cha sở có vẻ hài lòng. Sợ nghe không rõ, tôi gập người xuống sát bên cha. Cha nói tiếp:
    - Vào buổi chiều thứ hai sau Phục sinh, chầu phép lành xong mọi người ra về, tôi nán lại tòa giải tội để đọc sách nguyện, có một người đàn ông từ nghĩa địa đi vào xưng tội, tôi không nhìn rõ mặt ông ta vì không cần...
    ……
    - Ông ta quỳ xuống nhưng… không làm dấu thánh giá, cũng không nói gì như người ta thường xưng tội. Tôi cũng im lặng chờ đợi...
    .…
    - Một lúc lâu, ông ta thở dài rồi đứng lên đi ra. Ông ta không đi về hướng nghĩa địa nữa, mà đi nhanh ra phía trước cửa nhà thờ mà không thấy đi về hướng nào. Ông ta mặc quần đen áo trắng cũ kỹ và tầm thường...
    ..…
    - Chuyện xảy ra đúng như vậy thêm nhiều lần nữa, nhưng cách nhau khi thì một tuần, khi thì một tháng. Nhưng tôi không tài nào giữ ông ta lại… Có lúc chỉ vừa mới mở miệng định khuyên nên mạnh dạn xưng tội… thì ông ta đứng lên đi nhanh và mất biệt.

    - Tôi bắt đầu rùng mình hơi lo mỗi khi nghĩ tới ông ta, nhưng nhờ tràng hạt Mân Côi, nhờ Lời Chúa… nên tôi không sợ lắm, cứ bình thản để xem sự việc đến đâu.
    Cha sở đổi thế nằm và im lặng. Tôi chờ đợi ngài nói tiếp.
    Nhưng không, tiếng ngài thở đều rồi từ từ ngáy hơi lớn như đang ngủ say. Tôi vẫn im lặng chờ đợi. Một lúc sau vẫn thế, nên tôi đứng dậy và ra ngoài nói với mọi người:
    - Cha ngủ rồi!
    Mọi người “ồ” lên mừng rỡ bảo nhau cha sở ngủ được là đã qua cơn nguy hiểm. Ai về nhà nấy chỉ để lại ông biện già và chồng bà bếp canh chừng.
    Tôi về phòng ngủ. Ngồi thừ suy nghĩ về câu chuyện tuy chưa đến đâu, nhưng lòng cứ sờ sợ.
    Tôi bỗng giật mình nhớ lại và tự hỏi ai đánh thức tôi dậy? Cha sở đau nặng thì làm sao ngài có thể lên cầu thang và đánh thức tôi chứ!
    Ai? Lòng tự trấn an rằng lúc đó mình mơ, nhưng trí vẫn nghi ngờ, mơ gì mà đúng lúc, mơ gì mà bóng đặc biệt của cha sở và giọng nói đặc trưng riêng của cha sở, lại còn biến mất ở cầu thang tối?
    Gần sáng tôi mới chợp mắt được.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi Sun Ming >
    #2
      Sun Ming 2 giờ (permalink)
      Kỳ 3
       
      Nhận nhiệm vụ ở bất kỳ giáo xứ nào, các cha, các thầy không cần tốn nhiều công sức tìm hiểu, giáo dân ở đó tự động cung cấp đầy đủ mọi loại thông tin từ thượng vàng đến hạ cám. Đặt chân đến đây mới non ba tháng, nhưng tôi biết rất nhiều về giáo xứ này. Đây là giáo xứ cổ kính nhất nhì miền Tây Nam bộ, chu vi rộng bao gồm vài ba xã, giáo dân gần mười ngàn người …
      Nhiều di tích cổ xưa còn lưu giữ, nhiều câu chuyện lạ như huyền thoại thánh tích từ đây còn được kể lại cách trang trọng giữa một không gian gần như tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài đang sục sôi chiến sự. Kèm theo đó càng ngày tôi càng phát hiện nhiều thứ đồ đạc cổ quái từ trong phòng thánh, ngoài nghĩa địa, trong kho vật dụng của nhà xứ, kho sách vở, các mộ bia và cả đến quần thể kiến trúc khu nhà thờ v.v… Không biết khung cảnh các khu lâu đài cổ ở các nước châu Âu ra sao, nhưng dựa vào tiểu thuyết, tôi tưởng tượng ở đây đẹp gần như vậy. Ở đây, tôi cảm thấy rất thích, dù lắm lúc giữa ban ngày ban mặt có chuyện cần bước vào phòng thánh một mình đã cảm thấy sờ sợ bởi không khí vắng lặng, tịch nhiên, thật là đặc biệt.
      Cha sở hồi phục sức khỏe dần dần.
      Coi vậy mà cũng có rất nhiều giáo dân đến thăm ngài chứ không phải bỏ mặc ông già. Tôi cũng thăm nom ngài đều đều như đứa con đối với người cha, nhưng lúc nào tôi cũng nóng lòng muốn nghe ngài kể tiếp câu chuyện đêm đó ngài đang kể dang dở. Nhất là tôi đợi cho ngài khỏe để tôi sẽ kể ngài nghe hiện tượng rất lạ xảy ra cho tôi vào đêm ngài lâm bệnh nặng.
      Hơn một tuần sau, cha sở gọi tôi vào ăn tối.
      Thấy ngài tỉnh táo, ăn xong, tôi thuật lại chuyện lạ đêm đó.
      Nghe xong cha sở lặng thinh không nói gì. Tôi không dám hỏi thêm.
      Cuối bữa ăn, lúc tráng miệng, cha bảo ăn xong sẽ kể chuyện tiếp cho tôi nghe.
      Tôi rót nước đem lại chiếc ghế phô-tơi cũ, khéo léo đặt trên chiếc đôn nhỏ bên cạnh chiếc ghế. Uống vài ngụm nước xong ngài hỏi:
      - Con có hồ nghi người đánh thức con đêm đó là một ông biện nào đó không?
      Tôi trả lời nhanh không suy nghĩ:
      - Thưa không ạ! Vì người đánh thức con giống cha từ hình dạng cho đến giọng nói đến độ con không lầm với ai được ạ!
      Cha sở già không tươi vui như nửa giờ trước đây nữa, ngài trở nên trầm mặc lạ thường.
      Và bỗng dưng tôi cảm thấy lạnh rần cả chiều dài xương sống từ trên xuống dưới.
      Im lặng một lúc, cha sở xua tay bảo:
      - Tạm gác chuyện ấy lại sau này hẵng tính. Bây giờ tôi kể tiếp chuyện đêm đó còn dang dở. Có lẽ mỗi đêm tôi kể một chút, đêm nào mệt thì tôi kể ít hoặc không kể. Nhưng thầy phải hứa, trong thời gian này, không kể lại cho ai nghe những gì tôi nói.
      Tôi ngồi bệt dưới nền gạch tàu cổ xưa và bóng loáng do đi lại và lau chùi quá nhiều nên lên nước, sát bên cạnh để ngài không phải nói to. Ngài bắt đầu kể:
      - Cho đến một buổi chiều kia, linh tính báo tôi biết người đàn ông này hôm nay sẽ xưng tội, chí ít cũng nói gì đó, vì tôi chuẩn bị để nhất quyết lấy danh Chúa mà hỏi.
      Cho nên khi ông ta vừa quỳ xuống tôi nói ngay:
      - Con ơi! Con đến đây nhiều lần lắm rồi! Lần này con hãy can đảm xưng tội đi!
      Im lặng.
      Tôi gõ nhẹ vào tòa cáo giải vài tiếng để thúc giục. Sau đó tôi nói thêm:
      - Con yên tâm! Không có tội nào là quá nặng để Chúa không tha và cha phải giật mình. Con nói đi cha đang nghe đây!
      Người đàn ông thở ra, rồi “dạ” một tiếng thật nhẹ nhàng và dễ mến.
      Nhưng sau đó lại im lặng.Tôi kiên nhẫn chờ đợi.
      Khoảng mười phút sau, người đàn ông nói:
      - Tôi không phải là người giáo dân bình thường như ông tưởng. Tôi là “Lực lượng”, từ lâu nhằm chọn ông để nói chuyện phải quấy. Ông nên chuẩn bị thật kỹ để nghe tội của tôi!
      Cha sở bỗng nắm lấy tay tôi. Do bàn tay cha lạnh như nước đá cùng với cái nắm tay quá bất ngờ đã khiến tôi giật đến bắn người.
      - Thầy biết không! Vừa nghe đến đó tôi muốn vùng đứng lên bỏ chạy. Nhưng không sao làm nổi chuyện quá đơn giản ấy. Có một sức mạnh gì đó đã ghì tôi ngồi lại cách nặng nề như bị dán trên ghế. Phải mất một thời gian khá lâu tôi mới dần dần bình tĩnh, hay đúng hơn là tỉnh lại.
      Người đàn ông tên là “Lực lượng” nói tiếp:
      - Chúng ta đây tuy vậy vẫn thích người khờ như ông, vì người khờ thì trung thực, có sao nói vậy không thêm bớt để truyền đạt lại đúng những gì Chúng ta đây muốn. Ngoài ông, không có ai có đủ mọi điều kiện cần thiết để Chúng ta nhờ được.
      Im lặng một lúc, ông Lực lượng nói:
      - Hôm nay vậy đã đủ. Thứ ba tuần sau chúng ta sẽ nói tiếp.
      Nói xong hắn đứng lên và đi ra theo đúng hướng lâu nay hắn đã rời đi. Tôi ngồi đó cho đến khi thằng bé Lộc cháu bà bếp vào mời về nhà xứ ăn cơm tối, nếu không tôi sẽ ngồi ở đó luôn trong trạng thái bàng hoàng.
      Tôi không dám rời phòng cha sở để ra ngoài khi bóng đêm bên ngoài tự bao giờ đã dày đặc. Cha sở hiểu chuyện, ngài đưa tôi chiếc áo Đức Bà Carmêlô để mang vào.
      Đêm đó tôi cũng không ngủ được hoặc đúng hơn, giấc ngủ chỉ là những phút chập chờn nửa tỉnh nửa mê. Nằm co ro trong xó nhà tưởng tượng mình được bảo vệ chỉ bằng một bức màn vải mong manh bất định, thèm được ở trong phòng đóng kín cửa lại, cho nên tôi vặn đèn dầu sáng lên và chong như vậy suốt cả đêm. Giữa đêm khuya, tiếng mèo kêu rú trên nóc nhà bếp hoặc chỉ cần bất kỳ một tiếng động nhẹ nào đó cũng làm tôi giật mình sợ hãi.
      Sáng ra, tôi dè chừng với hết mọi người tôi gặp phải…
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi Sun Ming >
      #3
        Sun Ming 2 giờ (permalink)
        Kỳ 4
         
        Ở đời tránh tà lại cứ gặp ma, tôi cố gắng tránh phụ nữ, vậy mà cứ đụng mặt họ hoài, nào là các cô gái duyên dáng trong các hội đoàn như Huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội Con Đức Mẹ, giới Nữ thanh… nào là các thiếu nữ xinh đẹp trong họ đạo thường lui tới nhà thờ giúp việc quét dọn, chưa đủ, biết bao là các cô nữ sinh trung học áo dài trắng thướt tha quyến rũ có đạo lẫn ngoại đạo mà tôi phải tiếp xúc hằng ngày khi qua khu vực trường học.
        Nói đúng ra tôi cũng ham thích và muốn gần phụ nữ lắm, vì mình cũng là trai mới lớn, đang thuộc lứa tuổi gái thở dài trai nằm sấp, mặc áo dòng đen ra bộ dạng thế chứ uy nghiêm cái nỗi gì! Nhưng vì biết thân biết phận: mình đang dốc chí đi tu, đã vậy bản chất lại yếu đuối dễ sa ngã do cái tính lãng mạn, mà điều này mẹ tôi thường nhắc nhở luôn miệng. Nhưng mà tránh làm sao được khi ở vị trí của tôi! Ngày nào như ngày ấy, lúc đang ngồi dạy học trong lớp bốn-lớp năm, cứ đến giờ ra chơi bên trường trung học là các cô nữ sinh như bầy tiên nữ kéo ùa sang đứng ở các cửa sổ nhìn vào xem tôi dạy, có khi còn bông đùa chọc ghẹo tôi nữa, trong số ấy có những cô hết sức xinh đẹp đúng với truyền khẩu dân gian trong vùng gái Cù lao anh hào cũng chết… .
        Thế thôi thì cũng đã đủ chết! Đàng này khi thì tôi bị chặn đường, khi thì nhận được những lá thư mực tím tỏ tình qua tay các học trò bé bỏng của tôi vô tư chuyển giúp, lúc khác bị xông vào“phòng”, có lần bị một cô lù lù nằm ngay trên giường… cũng bởi các cô gái ra vào nhà xứ dễ dàng như tôi đã nói. Tôi nghĩ không biết mình ở đây suốt một năm dài rồi sẽ ra sao, đàn anh đã có mấy “đấng” xuất tu cũng bởi tự chốn này rồi, mình giỏi gì! Coi chừng còn rũ áo ra đi khi trời chưa sáng nữa ấy!
        Ba hôm sau vào buổi trưa cha sở bảo tối hôm nay sẽ kể chuyện tiếp.
        Ăn cơm tối xong cha ngồi chỗ cũ, tôi cũng vậy. Cha kể tiếp:
        Đúng thứ ba sau người đàn ông tên Lực lượng đến. Lần này ông ta nói:
        - Ông sợ lắm phải không?
        Ông ta cười khì một tiếng rồi nói tiếp:
        - Chúng ta đây sẽ chẳng làm gì động đến tinh thần lẫn thể xác ông đâu mà sợ! Chúng ta muốn làm gì con người và làm lúc nào mà chẳng được! Chúng ta đã chuẩn bị để ông bớt sợ. Rồi chúng mình sẽ trở thành như bạn bè với nhau cả cho mà coi!
        Tôi chẳng biết nói gì hơn, chỉ lắng nghe với chút suy nghĩ: “… bạn bè gì với ma với quỷ các người!” Nhưng tôi chưa kịp nghĩ tiếp thì ông Lực lượng nói:
        - Tại sao ông lại hẹp hòi như vậy? Rất nhiều người đã làm bạn mà là bạn thân thiết, làm đồng bọn với Chúng ta, thậm chí trở nên một với Chúng ta. Vậy thì hà cớ gì ông với tôi không thể làm bạn với nhau được? Có thể chúng ta làm bạn với nhau trong công việc.
        Tôi hết hồn. Ông Lực lượng đọc thấu cả ý nghĩ. Ôi! Thật là không giống với xưa nay tôi tưởng ma quỷ không đọc được ý nghĩ của con người, nên chúng mới đến cám dỗ ngay Chúa Giêsu sau bốn mươi ngày đêm ăn chay trong sa mạc để thăm dò xem Người là con người thường như chúng ta hay là con người-Chúa.
        Lúc này thấy cha sở nhấp miếng nước, tôi tranh thủ hỏi một câu mà mấy ngày qua thắc mắc:
        - Nhưng thưa cha! Cho tới lúc đó, cha đã biết chắc ông Lực lượng này là quỷ chưa ạ?
        Cha sở nhíu mày một chút để nhớ lại rồi trả lời:
        - Ừ! Phải... Ông Lực lượng không nói ra từng chữ, nhưng có khả năng làm cho tôi thấy được ông chính là phát ngôn viên của hỏa ngục, ông ta là quỷ chính cống.
        Tôi rùng mình một cái thật mạnh đến không thể giấu được. Cha sở kể tiếp với vẻ không lưu ý:
        Tiếp theo, ông ta vừa hỏi vừa trả lời:
        - Ông có biết tại sao Chúng ta dùng tòa cáo giải để nói chuyện với ông không?
        - Vì đây là nơi quen thuộc Chúng ta rất thích lui tới.
        Ông Lực lượng tiếp:
        - Ông có biết tại sao Chúng ta dùng mưu kế xưng tội?
        - Vì chỉ có nơi này thuận tiện nhất để chúng mình nói chuyện với nhau mà không ai làm phiền.
        - Ông có biết xưng tội để làm gì không?
        – Chúng ta đây xưng tội không để được xá giải, cũng không để giúp loài người các ông biết kế hoạch, mưu đồ, chiến thuật… của Chúng ta mà tránh tội, nhưng để loài người hiểu thêm về Chúng ta rằng: Chúng ta khôn ngoan không kém Thiên Chúa. Loài người phải thực sự kính phục Chúng ta. Tuy nhiên Chúng ta xưng tội còn với nhiều dụng ý khác nữa.
        Bỗng ông Lực lượng thay đổi, giọng nói trở nên đanh thép rùng rợn, làm cho tôi nổi gai ốc và cảm thấy mình chưa từng gặp nỗi sợ hãi nào lớn hơn:
        - Vì Chúng ta không xưng để được giải, nên ông không được làm dấu thánh giá trên Chúng ta.
        Tôi gật đầu một cách vô ý thức. Ông ta đứng lên vừa nói tiếp:
        - Hôm nay chúng mình giải quyết một số việc như thế, lần sau mọi chuyện sẽ bắt đầu.
        Tôi để ý thấy cha sở hơi mệt và thở khò khè. Thật ra cha nói với tôi rất nhiều và rất chi tiết, tôi không thể ghi hết lại đây vì trí nhớ của tôi có hạn. Tôi lại có ba thắc mắc, một là cha chẳng cho tôi ghi lại trong lúc đang nghe lẫn sau đó, mà phải để yên trong bụng! Cha dặn hoài câu đó; hai là khi kể chuyện, cha thật nghiêm nghị và lịch sự, không gọi tôi bằng con, mầy, cái thằng, chú bé, thằng nhỏ… xưng bằng cha, bằng tao…, mà cứ luôn một điều thầy hai điều tôi xa lạ…; ba là tại sao cha có vẻ kính nể và gọi quỷ bằng ông, ông ta, ông Lực lượng….?
        Phải nói bất cứ đêm nào sau khi nghe cha kể xong, tôi lại y như rằng: không ngủ được đêm đó dù tuổi trẻ và công việc cực nhọc ban ngày buộc ngủ vùi mới phải.
        Vài hôm sau cha gọi tôi rồi kể tiếp:
        Ông Lực lượng nói:
        - Chúng ta sẽ bắt đầu bằng những câu chuyện ngay trong họ đạo của ông. Giáo xứ này cũ kỹ, vì cũ và kỹ chính là bảo thủ, bảo thủ luôn có cao ngạo tự đắc, ích kỷ và nhiều thứ khác nên là nơi Chúng ta trú ngụ và hoạt động tốt nhất. Chúng ta nấp thật sâu trong bóng tối của cũ kỹ, còn Ông Chúa Thánh Thần lại khác! Ông ấy là chính sự canh tân và đổi mới liên tục và mãi mãi.
        Tôi giật mình vì nghĩ lại mình đã ngoài bảy mươi tuổi, cũ và kỹ lắm thay! Ông Lực lượng biết ngay liền trấn an:
        - Không! Chúng ta không hàm ý nói cũ kỹ theo quan niệm thời gian.
        Ông Lực lượng vừa nói vừa phì cười cho cái tính ngốc nghếch của tôi:
        - Thì đấy! Trí con người nhỏ như hạt tiêu, nói đàng này hiểu đàng khác! Nhưng mà như thế thì tiện cho Chúng ta tha hồ khai thác cốt gây chia rẽ và bất hòa mãi mãi - khắp nơi giữa loài người.
        Tôi đang định hỏi: “Các ông đã làm gì để phá giáo xứ tôi?” thì ông ta đã trả lời:
        - Ô! Phá mà làm gì! Chúng ta chỉ “mượn gió bẻ măng” vì con người đã dọn sẵn tất cả, luôn sơ hở, cứ hớ hênh, hồn nhiên dọn cỗ, khờ khạo bày biện và coi như “lắp đạn” sẵn cho Chúng ta bắn, Chúng ta là mưu trí! Nên không cần làm gì cả!
        Lúc này tôi quá sức thắc mắc, không còn kiềm chế được nữa nên hỏi cha sở:
        - Thưa cha! Vậy thì cuộc nói chuyện giữa cha với quỷ không cần phải nói bằng môi miệng, chỉ nói với nhau bằng trí thôi ư?
        Cha sở kêu lên:
        - Có lúc tôi chỉ suy nghĩ, có lúc tôi buột miệng thành lời, nhưng ông Lực lượng thì hầu hết nói với tôi bằng ý nghĩ. Tôi thấy những lúc nói với nhau bằng ý nghĩ, câu chuyện trở nên nhanh, gọn và chính xác. Nhờ thế mà đôi khi có người qua lại vẫn không nghe thấy dù một tiếng xì xào nhỏ nào giữa tôi và ông Lực lượng. Nhưng dẫu có lúc ông ta mở miệng thì giọng nói cũng nhẹ nhàng, trong vắt, hiền lành, lịch sự và có khi còn ngọt ngào nữa là đàng khác.
        Tôi ngạc nhiên quá sức! Nghĩ lại thấy ở loài người có lúc cũng nói với nhau bằng tư tưởng, bằng cảm giác hay linh cảm qua đôi mắt, qua cử chỉ, qua các giác quan hoặc nói bằng linh cảm… không dùng môi miệng thốt ra, kiểu nói đó thú vị làm sao! Chính xác, gọn nhẹ và nhất là không thể lầm lẫn! Tôi tưởng tượng sau này về bên kia thế giới, người ta đâu còn thân xác mà nói với nhau bằng âm thanh môi miệng, chỉ còn trao đổi với nhau bằng ý nghĩ mà thôi. Thật vậy, lời nói luôn hạn hẹp đủ điều, bị đóng khung trong ngôn ngữ từ vựng và văn hóa… gây méo mó, lời nói luôn bị xô lệch vì lẽ một lời bao giờ cũng có đôi ba nghĩa, ông bà xưa quá từng trải nên cảnh báo: “văn ngôn bất tận ý, ý bất tận cùng kỳ lý” hay “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, miệng không vành mới méo tứ tung”… Nhiều cuộc cãi nhau đến bất hòa sinh chém giết do lời nói, rất nhiều tội lỗi từ lời nói mà ra, lời nói có thể nhanh chóng hạ giá trị người nói… Chúa Kitôdạy chí lý… “nhưng cái gì miệng lưỡi thốt ra mới làm cho người ta trở nên nhơ nhớp” (Mt 15:11), vậy nên ông Lực lượng chẳng thèm dùng kiểu nói chuyện bằng lời nói của con người.
        Hôm nay, cha sở không có vẻ mệt, nhưng ngài dừng lại bất chợt do bà bếp gõ cửa xin gặp để lấy tiền chợ cho tuần tới. Tôi lui về “phòng” với nhiều suy tư, nhưng cái tôi nghĩ ngợi nhiều nhất là bất ngờ khám phá Chúa Thánh Thần là canh tân và đổi mới, bất ngờ hiểu lời nói đôi lúc rất bất tiện.
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi Sun Ming >
        #4
          Sun Ming 2 giờ (permalink)
          Kỳ 5
           
          Sau khi nghe ông Lực lượng nói giáo xứ này cũ kỹ, tôi để ý thấy đúng. Đúng nhất là cũ kỹ về phong hóa. Giáo xứ còn giữ những phong tục cổ xưa như đàn ông mặc áo dài đen, phụ nữ trẻ để cả hai vú trần trước mặt nhiều người khi cho con bú dù trước hay ngay sau đó lại tỏ ra rất ý tứ, kín đáo và e thẹn, việc “giữ linh hồn” rùng rợn đến nỗi người hấp hối, theo tôi, có thể chết nhanh vì sợ hơn là vì bệnh, hiện tượng gì cũng được giải thích theo chiều hướng bùa ngải, quỷ ma, Chúa phạt, Đức Mẹ vặn cổ
          Câu chuyện sau đây có thể minh họa phần nào tính cũ kỹ về phong tục, tập quán và nếp sống của họ đạo.
          Sáng chiều đều đặn mỗi ngày có một người đàn bà sáng mắt dắt theo cô con gái khiếm thị tuổi trạc hai mươi đến ba mươi, thân hình nảy nở… đi nhà thờ. Họ đến nhà thờ hầu như luôn đúng vào lúc tôi từ nhà xứ đi qua. Ban đầu người mẹ chào tôi, còn cô gái hơi cúi đầu bẽn lẽn. Dần dần cô gái bạo dạn chào tôi còn nhanh trước hơn cả người mẹ do khả năng linh cảm nhạy bén của người khiếm thị bẩm sinh và chào với vẻ vui tươi lạ lùng… tôi luôn đáp lại lời chào bằng những câu hỏi thân tình vui vẻ.
          Vì tôi có biết một ít nghề thuốc Nam như thăm mạch, đốt tiêm bức, chữa người bị thống phong, nấu các loại dầu trị bệnh, hốt vài ba loại thuốc thang trị bệnh thời tiết… và ít hiểu biết vặt về huyệt đạo nên ra tay giúp quý ông quý bà ở dưới nhà bếp khá kết quả, được giáo dân đồn đãi.
          Một hôm người mẹ ấy nài nỉ tôi đến giúp con gái khiếm thị của bà đang bệnh. Tôi xin phép và cha sở đồng ý. Sau giờ chầu phép lành chiều tôi tranh thủ đi ngay cho kịp về ăn tối, cha sở cho một ông Giáp việc (người trong Ban Hành giáo) đi cùng. Tôi vào buồng ngồi trên chiếc ghế nhỏ kê cạnh giường cô gái để bắt mạch, ông Giáp việc và người mẹ ở bên ngoài ngăn cách bằng một bức màn nhỏ mỏng. Khi tôi đang bắt mạch, thình lình cô gái bật ngồi dậy, chồm lên, hai tay ôm chặt cổ tôi bằng một sức mạnh không thể kháng cự nổi.
          Tôi kêu lên Cái gì vậy? Cái gì vậy? Ông Giáp việc và người mẹ xông vào gỡ tay cô gái ra, nhưng cả hai thất bại vì càng cố gỡ, hai tay cô gái càng xiết cổ tôi chặt đến muốn nghẹt thở, mặt cô gái chà vào mặt tôi, sẵn đà người mẹ nắm chân lôi ra, đôi chân cô gái lừa được thế kẹp chặt vào một đùi phải của tôi, rồi giằng co trong tư thế đó, cô gái giẫy dụa rên rỉ như sắp chết đến nơi. Ông Giáp việc tay thì tháo tháo gỡ gỡ miệng thì kêu Giêsu Maria Giuse liên hồi kỳ trận. Sau một lúc không xong, ông chạy ra đường kêu vài người đến giúp. Hai hay ba người nữa đến, kẻ kêu tên Chúa, người lấy sách kinh Mục lục đập phành phạch lên đầu cô gái, người khác rảy nước thánh lia lịa lên hai chúng tôi đang quằn quại… nhiều đến ướt cả người, mục đích để xua trừ ma quỷ.
          Đến một lúc nào đó tôi không nhớ, cô gái bỗng giật giật cả người, miệng thở hào hển rồi từ từ nhão người ra, mềm nhũn như cọng bún buông tôi ra để nằm vật xuống giường, đôi mắt nhắm nghiền như người sắp chết. Vì nghề thuốc ấm ớ chẳng tới đâu, nên tôi hoảng sợ và cuống quít không biết phải làm gì, nhưng mọi người có mặt thì cho rằng kêu Chúa và rảy nước thánh thế là kết quả, họ dìu tôi đang tóc tai bù xù, quần áo xộc xệch như quân binh vừa thất trận… ra bàn thờ để cùng nhau đọc kinh Tôi thân Rất Thánh Thiên thần.
          Ngày hôm sau tin đồn rùm beng lên trong cả họ đạo con Nhung quỷ ám, con Nhung thành tinh, thành quỷ… với đủ mọi tình tiết éo le và giật gân nghe đến chết khiếp. Trong khi mọi người rùng mình ghê sợ thì tôi, ký ức và linh tính chẳng cho một cảm giác gì hãi sợ, trái lại chỉ đơn thuần một cảm giác là lạ khi bỗng dưng cả thân hình con gái đồ sộ, mềm mại và nóng rực phủ chụp lên người từ trên xuống dưới.
          Thương thay! Từ đó không thấy hai mẹ con cô gái khiếm thị ấy đến nhà thờ nữa có lẽ vì quan niệm cũ kỹ, phán quyết nặng nề đã chôn và vùi họ, hai phụ nữ vốn cô đơn-không chồng-vắng cha, và hoàn cảnh sẽ còn cô đơn hơn nữa.
          Cha sở bảo tôi kể lại mọi chuyện. Nghe xong cha trầm ngâm một lúc rồi dặn:
          - Sau này bất cứ đi đâu, làm gì, con nên giữ chiếc áo dòng. Chẳng gì! Đó trước tiên là dấu hiệu của những người tình nguyện theo Chúa.
          Lúc đó tôi không hiểu hết ý cha, vì mãi nghĩ mình phạm lỗi tu sĩ: khi đi ra ngoài không mặc áo dòng. Sau này tôi mới hiểu được ý cha muốn khuyên chiếc áo dòng như hàng rào có thể giúp ngăn chặn một số hiểm nguy cho đời tu trì.
          Vào một đêm sau đó hai hôm, cha sở kể tiếp:
          Ông Lực lượng nói:
          - Chúng ta làm cho giáo dân của ông cũ kỹ như một cỗ máy già nua rỉ sét, tâm hồn họ không có khả năng đón nhận điều gì mới. Vì “bình cũ không chứa được rượu mới”! Họ không thể đón nhận Phúc âm và mọi điều Phúc âm dạy mà Chúa muốn, cũng chính là họ sẽ không đón nhận được ơn Cứu độ dù họ đang ở kề bên chính kho báu quý giá vô song là Phúc âm.
          Tôi hỏi:
          - Chính các ông cũng cũ kỹ chớ nói chi ai! Cứ chống Đức Chúa Trời và cứ làm tình làm tội con người chúng tôi để phản nghịch cùng Chúa!
          Ông Lực lượng trả lời:
          - Đó là bản tính của Chúng ta rồi! Trong khi hoàn vũ đổi mới hằng giây, Thiên Chúa sáng tạo hằng tích tắc, thì Chúng ta kéo ngược trở lại bằng mọi cách. Rất đông con người đang tiếp sức Chúng ta.
          Tôi hỏi:
          - Ông có thể nói rõ ra hơn được không, vì tôi học hết Lý đoán, chưa bao giờ nghe tới cũ kỹ là xấu…
          Ông Lực lượng cười to:
          - Con người các ông lầm to! Chỗ hiểm yếu thì bỏ liều, nơi chẳng đáng thì cố làm cho to chuyện. Tôi sẽ kể ông nghe vài thí dụ nhỏ, đó là gia đình ông hương Tú Kỳ ở xóm Trên (ông Kỳ đỗ Tú tài, giữ chức hương cả thời 1945-1950, mọi người đã quen gọi thế dù nay chẳng có quyền hành gì; giàu có và rất được nể trọng). Ông ấy luôn tự hào về vốn kiến thức cũ kỹ của mình, ông ấy dạy con theo hướng cũ, ông ấy tự hào về danh dự rỗng tuếch, ông ấy không học hỏi thêm, đến nhà thờ ông ấy chỉ tìm tiếng chào hỏi, câu khen tặng, đi họp hành, tiệc tùng, ma chay, giỗ lỵ…ông ấy luôn khoe những thứ cũ kỹ như gia phong, nề nếp, thành tích xưa, kinh nghiệm cũ… Càng cao tuổi, ông ấy càng bám víu sự cũ kỹ để ẩn núp và tự bảo vệ đến vợ con cháu chắt họ hàng không ai có thể xâm phạm nói chi đến hàng xóm láng giềng. Cùng một cách đó, Chúng ta đã khiến bọn Pharisêu ngày xưa đóng đinh cả Con Thiên Chúa chứ đừng nói đến ông hương Tú Kỳ sẽ hư mất.
          Thấy tôi vẫn chưa hiểu lắm, ông Lực lượng nêu thêm thí dụ:
          - Ông cứ nghĩ sự cũ kỹ đã giết chết ông Galilê (nhà bác học quả quyết trái đất quay quanh mặt trời khiến Giáo hội trừng phạt), bà Jeanne d’Arc (thánh nữ người Pháp bị tòa án Giáo hội lúc đó tuyên án thiêu sống), làm Lutherô ly giáo, làm Giáo hội Công giáo chia rẽ, làm một số tôn giáo lớn trở nên cuồng tín đến phi luân…
          Ông Lực lượng cười khẩy:
          - Chẳng lẽ Chúng ta mà lại giảng cho ông tất cả để ông hiểu hay sao? Nói chung, cũ kỹ là tử huyệt có thể khai thác mãi để đánh đổ loài người. Vatican luôn có thói quen bầu lên những người có tinh thần đổi mới… làm giáo hoàng, rồi sau đó trói họ lại không cho họ đổi mới. Đó là công thức hành động của Chúng ta. Tuy nhiên cũng có lần Chúng ta phát hoảng lên khi ông Gioan Hai Mươi Ba và ông Phaolô Sáu tổ chức công đồng, nhưng hoảng là thừa! Vì công đồng đến nay vẫn chưa làm gì để đổi mới Giáo hội. Nói tóm, ông đã hiểu thế nào là cũ kỹ và sự nguy hiểm của nó. Chúng ta biết rằng về chuyện này, có nói ông cũng chẳng làm gì được vì nhiều guồng máy đồ sộ của loài người các ông sẽ vẫn còn nặng nề và cũ kỹ..
          Ông Lực lượng giống như thở ra khoan khoái và kêu lên:
          - Hoan nghênh sự cũ kỹ! Chúng ta còn khai thác nó lâu dài để kéo con người ù lỳ và làm hư công trình Cứu độ của ông Chúa Ngôi Hai.
          Tới đây thì tôi đã hiểu. Bỗng tôi rùng mình khi thấy mình biết được một điều bí mật của hỏa ngục. Trong cái rùng mình dữ dội ấy, ông Lực lượng biến mất. Đây là lần đầu tiên ông ấy ra đi như thế.
          Cha sở im lặng với gương mặt lo âu giống như chuyện vừa mới diễn ra. Tôi hỏi:
          - Thưa cha, mình phải làm gì đi ạ! Con cũng cảm thấy ông ấy cho mình biết được một sự thật kinh khủng.
          Cha sở lắc đầu chầm chậm:
          - Làm gì bây giờ? Chuyện lớn như trái đất, hệ thống như cỗ máy… liệu tôi với thầy có thể làm gì được bây giờ! Chi bằng chúng ta mỗi người phải tự làm mới hằng ngày, rồi xin Đức Chúa Thánh Thần canh tân bộ mặt trái đất.
          Nghe quen quen. A! Thì ra trong bài giảng lễ chúa nhật nào cha sở cũng lặp đi lặp lại cụm từ tự làm mới: Giờ tôi mới hiểu.
           
          Đêm đó về “phòng” tôi lặng lẽ ghi vài trang cảm tưởng và những dòng quyết tâm, để sau này phòng khi làm linh mục, tôi sẽ giúp giáo dân hiểu tội đầu tiên mà quỷ xưng là tội ngăn chặn sự đổi mới.
          Sáng sớm khi chuông nhà thờ đổ, tôi thức dậy nhưng bỗng thấy xung quanh tối mù. Thì ra đèn chong đã tắt tự lúc nào. Tôi quờ quạng tìm nhưng mãi vẫn không thấy cây đèn trứng vịt quen thuộc nằm chỗ nào. Tôi xé quơ vội giấy để đốt soi tìm và mồi lửa. Đốt được ngọn đèn mới hay mình đã đốt rụi hết những tờ giấy ghi chép đêm qua. Tôi rùng mình sởn gáy với ý nghĩ ông Lực lượng đang ở đâu đây.     
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi Sun Ming >
          #5
            Sun Ming 1 giờ (permalink)
            Kỳ 6
             
            Tôi không hiểu tại sao giáo xứ này có nhiều người mất trí như vậy.
            Trước hết là người đàn ông tên Đôm tôi gặp ở hành lang nhà xứ buổi chiều tối hôm tôi mới đến đây. Người đàn ông này bất bình thường một cách khó hiểu. Tôi gọi bằng anh cho lịch sự nhưng cả giáo xứ chỉ gọi anh bằng “thằng”: thằng Đôm với vẻ thân mật, vừa do thói quen địa phương vừa do quen miệng từ lâu… chứ không phải khinh dể, ngược lại anh rất được mọi người, xin nhấn mạnh là mọi người không trừ ai, quý mến. Bất bình thường một cách khó hiểu… ra sao xin nghe tôi kể tiếp.
            Tuổi của anh Đôm trạc bốn mươi lúc tôi đang ở đây, anh to xương, cao lớn, lưng thẳng, vai ngang, rắn rỏi, khỏe mạnh… đúng dáng của một người đàn ông lý tưởng. Da trắng, mắt đen nhưng sâu thăm thẳm, gò má thấp, mũi thẳng, miệng rộng… rất giống người Âu châu. Người ta truyền miệng nhau rằng anh Đôm là con lai giữa một phụ nữ VN với một anh lính Pháp dòng Lê dương (lính đánh thuê do Pháp tuyển mộ từ các thuộc địa của họ)… nên anh thừa hưởng được nhiều nét đẹp Âu châu.
            Ăn nói thẳng tuột, thô thiển, đần độn nhưng có duyên. Siêng năng lao động với công việc đặc trưng là gánh nước miễn phí cho nhà xứ, cho bất kỳ gia đình nào dù lương dù giáo khi nhà đó có việc thuộc hôn, quan, tang hoặc tế… mà không đòi một điều kiện gì, thậm chí mỗi khi gánh nước xong, có xới cho anh Đôm một tô cơm, gặp lúc vui anh ăn, buồn buồn anh cũng từ chối luôn.
            Dân xứ này dùng nước sông, nên việc gánh nước là việc nặng nhọc nhất là đối với những gia đình ở xa, cách con sông vài trăm mét hay hơn kém một cây số, dịp hội hè đình đám phải sử dụng nhiều nước cho nấu nướng, lau dọn, giặt rửa… cho nên anh Đôm đã phụ trách gánh nước cho nhà đám thì phải gánh nước suốt thời kỳ đám tiệc hai ba ngày liền. Không cần ai mời mọc, báo tin hay yêu cầu… thấy nhà nào rộn lên là anh đến làm “nhiệm vụ tự đặt”. Phải nói rằng, điều đó làm vừa lòng mọi gia chủ! Chuyện gánh nước tuy là chuyện nhỏ! Nhưng cảm tình anh tạo được lại rất to từ người lớn đến người nhỏ, cả đến các cha các thầy các sơ đâu đâu cũng thích và nhắc đến anh.
            Riêng ở nhà xứ, anh Đôm dành riêng một thời biểu gánh nước tự nguyện thường xuyên, nghiêm túc và đầy tính kỷ luật: 2 lần một ngày vào 3g - 4g sáng, 15g -16g chiều, nhà xứ phải“thả lỏng” luôn luôn một cửa sau nhất định, suốt ngày lẫn đêm để anh đến nhẹ nhàng gánh nước châm đầy hết các nơi có thể chứa mà không làm phiền ai. Nói chung các bồn nước, phuy, lu, hũ, choé, thùng chậu… trong nhà xứ từ nhà trên xuống bếp dưới lúc nào cũng đầy nước, hễ lưng nước là anh Đôm có vẻ không chịu nổi.
            Buồn cười thay! Trước khi gánh nước suất chiều (15g-16g), bao giờ anh cũng đi khắp nơi không kiêng dè chỗ nào và bất cứ ai để khua khoắng hết mọi người trong nhà xứ phải đi tắm bằng câu cửa miệng: “đi tắm đi nghe!”, để sau đó tiện cho anh lại cho châm đầy nước mà an tâm vào buổi tối… giả dụ cha sở có đang tiếp khách, cha phó có đang họp… anh Đôm cũng không từ, anh nhẹ nhàng ló đầu vô phòng khẽ khàng nhắc: “đi tắm đi nghe!”, thậm chí có những hôm vào dịp áp lễ trọng, các cha đang ngồi trong tòa giải tội làm nhiệm vụ, anh cũng đến đứng chỗ nào gần đó nhắc bằng giọng thì thào:“đi tắm đi nghe!”, vậy mà có cha nào cảm thấy phiền đâu! Trái lại giới giáo sĩ tu sĩ từng đến giáo xứ này đều nói đùa với nhau: đến xứ này ta được lo chu đáo đến cả việc nhắc đi tắm. Nói dối có tội! Có lần đức giám mục đến dâng lễ 10g, ở lại sau cơm trưa hơi muộn, cũng được anh Đôm thò đầu vào nhắc“đi tắm đi nghe!”, lúc đó cha sở không cần phải xin lỗi, bởi đức giám mục được dịp no cười và đối đáp bông đùa với anh vài câu để giải trí.
            Anh Đôm không có nhà cửa để ở. Từ được nuôi trong viện mồ côi của các nữ tu dòng Chúa Quan Phòng (Providence) gần đó, anh bước ra đời với cách sống phiêu linh lãng tử như thế. Ở đâu cũng là nhà anh, anh muốn ăn ở đâu thì tới đó mà ăn – một tô cơm to có khi chan nước lã cũng được- anh muốn ngủ đâu thì ngủ –một chỗ ngả lưng không chăn lẫn gối cũng an giấc-, trái lại, ai cũng muốn anh đến ở nhà họ để họ được lo cho anh chút ít.
            Chuyện về anh Đôm có thể kể hoài không hết, còn có nhiều người mất trí khác, mỗi người một vẻ “thời danh dị tích” khác nhau… như ông Tám Mú đêm nào trăng lên thì đi gom hết dép, guốc, thùng, xô, mũ, áo…. Của gia đình nào đó lỡ quên hoặc để hớ hênh, đem chất đống ở đầu cầu gần nhà thờ xong, sáng ra đi báo tin cho mọi người đến nhận lại, hoặc sáng sớm đứng trước cổng nhà thờ đón người đi lễ bằng những tràng tiếng Pháp thật chuẩn, ngày kia cao hứng mở tủ cắt hết vạt sau áo dài của bà vợ… như thầy giáo Khéo lúc nào cũng khoe dạy học cho một lớp 80 học trò đi thi đỗ 100; như bà Chín Híp-py đi phát tiền cho người đi đường; như ông No-e đứng ở bến đò lăm le cái khăn lanh tay lau đầu lau mặt bất kỳ ai đi đò vào buổi sáng, ai nhìn thấy khách đi đò nhất là các cô gái chạy dạt ra, cười khanh khách rân một góc vừa né tránh là biết ngay đang bị ông rượt đuổi để lau mặt; như chú Tiết gặp ai cũng rủ: “đánh lộn với tao không”, “đánh lộn với tao đi!” v.v… Thật là một xứ sở đầy kỳ nhân dị vật, đầy chuyện cổ tích.
            Cha sở kể tiếp:
            Ông Lực Lượng bảo chính ông ấy làm rối tung cả họ đạo này… vì những người đó là những phát ngôn viên cho ông ấy.
            Tôi hỏi:
            - Quyền lực kinh khiếp như Các Ông… sao không dùng những người khôn ngoan mà lại dùng những kẻ mất trí?
            Ông Lực Lượng trả lời ngay:
            - Vì người ta rất tin vào những gì người mất trí nói.
            Tôi hỏi:
            -Trường hợp người “bị quỷ ám” thì sao? Có Các Ông nhúng tay vào đúng không?
            Ông Lực Lượng trả lời:
            - Những ai tin Chúng ta, thường xuyên nghĩ đến Chúng ta, cậy vào Chúng ta, tại sao Chúng ta làm ngơ? Nói tóm cả những ai phủ nhận Thiên Chúa, Chúng ta đến với họ.
            - Tại sao Các Ông không mượn xác người bên lương?
            - Á à! Người lương đôi khi tốt hơn người Công giáo các ông! Nhưng nói cho cùng, Chúng ta thích những tâm hồn bội phản Thiên Chúa hơn, để Chúng ta trả thù Thiên Chúa, Còn người lương, Chúng ta thật không thấy hứng thú.
            Tôi hỏi:-
            Như vậy những người mất trí ở đây đều được Các Ông nhập xác?
            - Không! Chúng ta chỉ nương náu vào sự mất trí của họ..
            Khi về phòng tôi bỗng nhớ lại, anh Đôm là người tốt, nhưng nhiều lúc anh hứng lên, khỏa thân tồng ngồng đi lại ở phía sau nhà bếp, nơi có các bà các cô đang làm việc, gây dao động cho nhiều người nhưng đó có ai trách cứ hay ngăn chặn được, lý do là vì anh là kẻ mất trí, không thể nào thuyết phục khuyên can hay nhắc nhở.
            Người ta kể nhau nhiều về cô gái Tuyết Ma, thường đợi đến những đêm trăng, cô trần trưồng đi lại ở trường học - Tuyết Ma là cô gái khoảng đôi mươi tên Tuyết, cô nữ sinh thuộc hàng hoa khôi trường Mê Linh này bị cha mẹ hủy hoại mối tình đầu nên buồn quá sinh mất trí, cứ hình dung một cô gái đẹp khỏa thân xõa tóc đi dưới ánh trăng trông như ma quái thì đủ biết sẽ dấy lên bao là tư tưởng, ước muốn tà mỵ trong lòng giới nam nữ thanh niên cỡ nào!
            Cha sở kể tiếp.
            Tôi hỏi:
            - Các Ông khôn ngoan quá thể! Cho nên còn nhiều cách khác để cám dỗ, sao lại dùng “chiêu” xem chừng hơi hèn hạ bẩn thỉu… để hại giáo dân của tôi!…
            Ông Lực Lượng cười:
            - Ai bảo với ông đó là phương kế hèn hạ và bẩn thỉu? Tự cổ chí kim anh hùng nào không sụp đổ vì nữ sắc và dục tính. Đã có bao nhiêu người chống đỡ nổi cái món này? Dục tính là nhu cầu, hành vi, nếp sinh hoạt và đời sống… rất cao đẹp tự bản chất cho đến dụng đích, nhưng chính con người đã nghĩ xấu về nó, biến nó thành hèn hạ và bẩn thỉu. Chúng ta chỉ nương vào tình thế ấy mà hành động.
            Tôi đột ngột kết luận:
            - À ra! Nhiều điều Chúa ban là cao đẹp và hữu ích, nhưng Các Ông đã biến thành hèn hạ và bẩn thỉu, đó là mưu chước “tương kế tựu kế” của Các Ông! Ôi Các Ông khôn ngoan và hiểm độc biết bao!
            Ông Lực Lượng cười xòa:
            - Vậy là ông hiểu Chúng ta thêm chút nữa rồi đấy! Chúc mừng!

            Khi ngồi trong lớp dạy học cho các em học trò bé bỏng, tôi bỗng nghĩ: Mình chưa hiểu nổi cái cha sở phát hiện, chỉ mơ hồ thấy rằng làm hư những giá trị cuộc sống chính là một trong những mưu ma chước quỷ! Điểm lại tôi thấy câu chuyện người bạn cùng lớp của tôi ở tiểu chủng viện, việc anh đi tu là tốt, thấy không hợp anh xuất tu cũng là chuyện không xấu, nhưng cha mẹ anh ấy mắng nhiếc, hành hạ bằng đủ mọi cách khiến anh treo cổ tự tử ở sau nhà (chuyện xảy ra cách đây khoảng 5 năm) chẳng phải từ chuyện tốt trở nên xấu tệ là gì!
            Bắt đầu từ hôm đó tôi cảm thấy sợ sự thâm hiểm của ma quỷ hơn.
             
            <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi Sun Ming >
            #6
              Sun Ming 1 giờ (permalink)
              Kỳ 7
               
              Một hôm có hai người đàn ông tới gặp cha sở. Người đàn ông thứ nhất dáng cao to, mày dày, râu rậm, chừng bốn mươi tuổi. Người đàn ông thứ hai cao, gầy, mặt dẹp, khó đăm đăm, nhưng vai vế có vẻ bề trên của người đàn ông dữ tợn thứ nhất. Hai người bước vào phòng cha sở lúc tôi vừa có việc từ bên trường trở về phòng riêng. Khi vừa quay xuống cầu thang để sang bên trường lại đã nghe tiếng sang sảng của hai người khách lạ nói chuyện với cha sở, giọng nói khác xa giọng của giáo dân ở đây thưa chuyện lễ phép với cha sở, không giống giọng nói của giới sĩ quan quân đội hay giới chính quyền luôn lịch sự và nhún nhường trước cha sở, cũng không giống giọng của các linh mục có việc đến đây nói năng nhỏ nhẹ. Tôi tò mò vì giọng nói vang như lệnh vỡ, ẩn chứa uy lực khiến nghe vừa cảm thấy hấp dẫn vừa cảm thấy nể sợ của một trong hai người, nhưng không biết rõ của người đàn ông nào, người cao to mày dày râu rậm hay người cao gầy dáng điệu uy nghi khuôn phép. Khi tôi còn đang đi chầm chậm để lắng nghe thì bỗng cửa phụ phòng cha sở xịch mở, từ trong, người đàn ông cao to bước ra liếc nhìn tôi với đôi mắt sáng quắc, ánh nhìn sắc như dao chứa đầy vẻ đe dọa. Tôi sợ quá nên đi nhanh một mạch qua trường học.
              Tối hôm đó thái độ cha sở hơi lạ, tôi hỏi cha điều gì cha cũng chậm trả lời, dáng như suy tư chuyện gì hoặc để lòng ở đâu đâu quên cả thực tại.
              Nhưng rồi chuyện đó cũng trôi qua vì cha sở không kể ra điều gì về hai người đàn ông rất lạ lùng.
              Câu chuyện tôi đang kể đây cũng như chuyện hai người đàn ông lạ… xảy ra vào năm 1972, mãi tám năm sau, năm 1980, lúc cha sở về lưu trú tại nhà hưu dưỡng giáo phận, tôi ghé thăm cha thường xuyên để cha kể cho hết chuyện, trong một lần kể, cha thuật lại câu chuyện hai người đàn ông lạ ấy chính là hai người khác cũng của Lực Lượng sai đến. Họ đưa ra hai đề nghị để cha chọn một.
              Một là cha sở sẽ được về tòa giám mục, được trọng dụng và cất nhắc, cha sẽ làm được nhiều điều lớn lao khiến giám mục tin cậy, các linh mục khác vị nể đến có thể được cất nhắc lên cao nhất.
              Hai là cha sở sẽ vẫn ở lại họ đạo, nhưng tiền bạc, của cải, phương tiện, sự sung sướng… sẽ rất dồi dào, đời sống trở nên sang trọng, may mắn, dễ chịu đến tận cuối cuộc đời.
              Đổi lại, cha sở đừng bao giờ giảng về những gì thuộc đức bác ái như cha hằng nhắc đi nhắc lại trong mọi bài giảng.
              Nhưng cha sở nói với tôi lúc đó –tức năm 1980- rằng, cha không nhận đề nghị nào cả. Thế là không biết có đúng như cha nghĩ không, kể từ đó trở đi, bệnh của cha càng ngày càng nặng, càng dây dưa và càng phi lý, hành hạ thể xác cha không ngừng.

              Trở lại thời gian của câu chuyện tôi đang kể -năm 1972-
              Hai cha phó bỗng dưng ngày càng tỏ ra cáu gắt, đi đến ghét cay ghét đắng cha sở. Hai cha bày kế cho một số giáo dân làm đơn gửi tòa giám mục yêu cầu thuyên chuyển cha sở đi nơi khác, rồi cắt nhấc “cha phó lớn” –giáo dân ở đây gọi linh mục hiệu trưởng nhiều tuổi hơn lại có dáng dấp bệ vệ… là “cha phó lớn”, còn linh mục giám đốc trẻ hơn, dáng nhỏ thó là “cha phó nhỏ”- lên làm cha sở.
              Tôi biết được điều này không do cha sở kể, nhưng do giáo dân, bởi vì không có chuyện gì giấu nổi giáo dân, mà cũng chẳng có chuyện gì mà giáo dân không nhanh chóng thông tin cho nhau phút chốc lan rộng. Trong họ đạo lúc này xào xáo rất nhiều, người bênh vực cha sở, kẻ đứng về hai cha phó. Giờ cơm nào tôi cũng bị hai cha phó yêu cầu tuyên xưng đức tin với hai ngài. Tôi sợ quá nhưng đã quyết, vừa theo phương sách giả dại qua ải, vừa nhất nhất mọi chuyện đều xin ý kiến cha sở.
              Thật có quá nhiều điều để kể ra trong vụ giáo xứ bị khủng hoảng quyền lực này! Có quá nhiều điều để kể về cử chỉ, hành động và lời nói của hai cha phó, của một số giáo dân theo đóm ăn tàn, nhưng tôi vốn không định kể những chuyện phụ thuộc như vậy, vì đó thuộc những“chuyện làng nhàng muôn thuở” ai đã từng sống đời mục vụ giáo xứ đều biết, nó “nhiều tập” đến nỗi chẳng khác “chuyện dài nhiều tập của mẹ chồng nàng dâu”; lại nữa chuyện cũng sẽ chẳng đi đến đâu vì lực lượng hai bên tương phản, bên hai cha phó ồn ào huyên náo, kẻ tụ tập người tới lui, kẻ lăng xăng người năng nổ… cứ ngày ngày tấp nập, xì xào bàn mưu tính kế, nói năng manh động và dễ gây xúc phạm, trong khi đó bên cha sở, một mình cha cứ im lặng thui thủi, thậm chí không hề động tĩnh, chẳng ai tới lui với cha để làm gì, cha cứ một mực làm việc bổn phận dường như chẳng hay biết có chuyện gì xảy ra. Hai bên lực lượng chẳng cân phân chút nào! Tôi đoán rồi chẳng bao lâu chuyện này sẽ xẹp xuống.
               
              Cha sở vẫn kể chuyện tiếp cho tôi nghe. Một hôm cha kể:
              Vào năm đó sau khi ông Lực Lượng đã đến xưng tội với tôi được khoảng vài tuần, trong giáo xứ xảy ra nhiều chuyện chia rẽ, phe này chống đối phe kia, nhóm nọ bàn mưu hại nhóm khác, thậm chí dòng họ Lê có nhiều người trong Ban Quý chức, cậy quyền cậy thế bắt nạt những người thuộc dòng họ Nguyễn. Tôi hỏi ông Lực Lượng:
              - Hiện giáo xứ tôi đang loạn đả, hỗn độn do bất hòa chia rẽ đến… rối như canh hẹ, hẳn là có bàn tay Các Ông nhúng vào đấy nhỉ?
              Ông Lực Lượng cười rung cả tòa giải tội. Cười xong một lúc sau Ông đáp:
              - Các người cứ như con nít! Cái gì xấu cũng đổ trên đầu Chúng ta. Có nhớ một câu kinh trong đó các người nêu rằng: có tới “ba thù” tức ba kẻ thù là ma quỷ, thế gian và xác thịt.
              Ông ngưng một chút rồi nói tiếp:
              - Có nhiều việc không cần đến Chúng ta, vì có nhiều tội của các người thuộc bản năng xúi giục, có nhiều tội thuộc về xã hội của các người lôi cuốn nhau… Đôi lúc Chúng ta chẳng cần phải làm gì!
              Tôi hỏi:
              - Giáo xứ tôi hiện lộn xộn, Các Ông đứng ngoài? Hóa ra Các Ông có lúc cũng trong sạch đấy nhỉ?
              Ông Lực Lượng trả lời ngay:
              - Nguyên tắc của Chúng ta là phải làm những chuyện nhỏ để đưa đến kết quả lớn, chứ không làm những chuyện lớn chỉ đưa đến kết quả nhỏ. Đúng ra Chúng ta điều khiển mọi việc bằng nguyên lý. Giống như Thiên Chúa, Ông ấy cũng điều khiển vạn vật bằng nguyên lý. Các người trí mỏng nên suy nghĩ vụn vặt. Chuyện giáo xứ ông hiện giờ là chuyện thuộc bản năng và xã hội. Chúng ta không xúi giục, mà chỉ cần lái nó đi về hướng bất lợi cho Thiên Chúa.
              Cha sở nhìn tôi với ánh mắt người thầy:
              - Thầy thấy không! Chúng ta làm cớ cho ma quỷ lợi dụng mà thôi! Nhiều khi Họ chẳng cần làm gì động móng tay, Họ chỉ ngồi chờ thu lợi.
              Tôi không biết cha nói chung chung hay có ý ám chỉ chuyện hai cha phó hiện đang âm mưu lật đổ cha. Nhưng tôi cảm thấy ở cha một tâm hồn đầy bình an và sâu lặng. Tôi ngập ngừng hỏi cha:
              - Như vậy mình phải làm sao thưa cha?
              Cha sở cười nhẹ nhàng, giọng trầm hơn dù vốn đã trầm, chậm và từ tốn:
              - Sao mà kiểm soát nổi bản năng? Nó như con ngựa chứng. Sao mà an tĩnh giữa xã hội bất an và sóng gió? Đời như biển động.
              Cha sở nói khẽ khàng như chỉ cho mình tôi nghe:
              - Thầy hãy mặc lấy lòng bác ái.
               
              Đêm đó tôi ngủ với một ác mộng:
              Tôi thấy mình đi giữa hai bờ vực thẳm sâu hút hai bên. Nhưng sau lưng tôi có rất đông người đang bổ nhào đến rượt bắt tôi cùng với những tiếng gào thét:
              - Mầy không thoát khỏi tao đâu!… Mầy không thoát khỏi tao đâu!...
              Tôi vừa chạy thục mạng vừa la hét ú ớ. Sợ nhất là muốn chạy nhưng không sao nhấc chân lên nổi. Tiếp đến bị đánh thức do chính tiếng la của mình, nhưng tôi không sao mở mắt ra được dù rất muốn. Vật vã rất lâu tôi mới mở mắt ra. Cảm giác cho hay có một bóng đen to lớn đứng cạnh ngay đầu giường cùng với tiếng thì thầm đay nghiến kia:
              - Mầy không thoát khỏi tay tao đâu!
              Thức dậy được rồi, dù đã rất lâu tôi vẫn không phân biệt đâu là mộng đâu là thực. Bóng đen ở đầu giường đã biến mất, nhưng tôi vẫn còn mông muội lắm! Mồ hôi vã ra từng chân tơ kẽ tóc, làm ướt đẫm cả chiếc áo mai-ô dù trời lúc một giờ sáng đang trở lạnh. Tôi hết sức sợ hãi cứ ngồi bó gối trên giường mà chẳng dám động đậy, sau cùng chỉ còn biết bấm đốt ngón tay lần chuỗi cho đến sáng.
              <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi Sun Ming >
              #7
                Sun Ming 1 giờ (permalink)
                Kỳ 8
                 
                Trong giáo xứ bỗng xảy ra một câu chuyện có thể gọi là hy hữu.
                Một cô gái trẻ tuổi trạc đôi mươi, dễ nhìn, bỗng xưng mình được Đức Mẹ nhập vào. Cô gái từ thân phận con một gia đình nghèo, ít học, không có mặt trong bất kỳ hội đoàn nào như hội Con Đức Mẹ, hội Thiếu nhi Thánh Thể, hội Nữ Thanh giáo xứ, hội Legio… ít lui tới nhà thờ, ít ra đường, ít giao du, khép kín, nhút nhát và e lệ, nay bỗng dưng trở nên hoạt bát, nói nhiều, biết nhiều thậm chí có thể nói ra những lời thông thái.
                Người ta kể: cô gái tên Ngoan một hôm sau giờ kinh mai của gia đình, cô kêu nhức đầu rồi bất tỉnh, một lúc sau tỉnh dậy cô nhất định bắt cha mẹ và các em phải quỳ gối dưới chân mình vì mình hiện đang là Đức Mẹ Maria.
                Cha mẹ cô Ngoan ban đầu không chịu nổi, nhưng dần dần thấy cô gái nói năng khác thường, làm nhiều điều kinh dị ví dụ chẳng ăn chẳng uống lẫn ngủ nghỉ suốt nhiều ngày mà vẫn tỉnh khỏe, đặt tay chữa bệnh cho mẹ mình, hay ăn nói bạo dạn hẳn ra…Những gì thuộc hiện tượng không đáng được kể ra, xin vắn tắt để chỉ nói những kín ẩn bên trong.
                Hàng xóm nhanh biết tin rồi dần dần tụ tập đến nhà cô Ngoan, vì đã có sẵn lòng thành tín với Đức Mẹ từ lâu nên nay dựa vào chuyện lạ này mà nảy sinh đủ điều mê tín. Ban đầu ít người tin, những người tin là chỉ giáo dân, nhưng dần có nhiều người tin là những ông giáp ông biện (thành viên ban Hành giáo ngày nay)… trong họ đạo. Chẳng trách! Vì cô gái nói nhiều điều cao siêu ngay đến trí khôn tôi cũng còn “bưng bưng chóng mặt” huống gì giáo hữu ở đây phần đông ít học, ví dụ câu:
                - Mẹ là nhân chứng cho tình yêu Thiên Chúa…
                Hoặc cô gái nói trước rằng ngày mai ai sẽ đến viếng cô. Chuyện này thì nhiều người phát hoảng: cô gái dùng tay bốc được ngọn lửa lớn ở cây nến sáp to đùng này, rồi mồi lửa sang những cây nến khác như ta bốc một nhúm bột.
                Một đồn mười, mười đồn trăm… ngày càng nhiều người tuôn đến với cô Ngoan để xem vì tò mò, để cầu khấn ơn này ơn kia vì tin tưởng. Lúc đầu là giáo hữu địa phương, dần đến giáo hữu các giáo xứ lân cận, rồi người lương, cả đến quân nhân mặc quân phục cũng chen lấn với mọi người… khiến chính quyền địa phương phải nhọc mệt để giữ trật tự.
                Ngay từ đầu vừa nghe chuyện xảy ra, tôi đã hỏi cha sở:
                - Thưa cha! Phải cắt nghĩa làm sao khi các em lớp giáo lý hoặc những người lớn hỏi thực hư vụ này?
                Cha sở bảo tôi:
                - Thầy cứ trả lời rằng đừng tin vào những chuyện như thế với ba lý do: Một là từ ngàn xưa, Chúa lẫn Đức Mẹ đến với con cái bằng con đường quang minh chính đại chứ không nhập xác v.v…; hai là mỗi hiện tượng là do Chúa và Đức Mẹ làm, đều nhằm gửi đến con cái thông điệp chan chứa yêu thương và hữu ích; ba là phải chờ Giáo hội phán quyết.
                Nghe cha sở dạy vậy, tôi thường xuyên nghe ngóng hiện tượng lạ ấy bằng khuôn mẫu phán đoán ngài vừa đưa ra, rồi an tâm và xác tín trả lời cho các em các lớp giáo lý và người lớn chung quanh khi họ hỏi ý kiến.
                Một đêm kia, khi cha sở kể tiếp chuyện. Cha kể rằng:
                Trước kia cũng có một chuyện không khác chuyện này. Người bị mượn xác cũng là một cô gái. Lúc đó tôi hỏi ông Lực lượng:
                - Do các ông làm hết đó mà!
                Ông ta thẳng thừng công nhận:
                - Phải! Chúng ta đưa con người đến chỗ mơ hồ, hoang mang rồi lầm lạc.Ranh giới giữa thực và hư rất tốt để Chúng ta làm việc đó. Đầu óc con người các ông rất tò mò, cả tin. Chúng ta đưa con người đến chỗ hoang mang, mơ hồ và lung lạc họ. Dẫn con người đến chỗ lầm lạc là việc làm của Chúng ta.
                - Các Ông đã làm thế với các bè rối xưa nay trong Giáo hội ư?
                - Rất đúng! Những đầu óc thông minh tự kiêu, những đức tin yếu đuối, những hoang mang dốt nát, nhất là những ai chỉ cần có một chút dấu hiệu dựa vào Chúng ta… là Chúng ta đến ngay. Chúng ta làm cho con người hiểu sai cả Phúc âm, hiểu sai Phụng vụ, hiểu sai lòng yêu thương của Chúa, hiểu sai ơn cứu độ, hiểu sai về nhau và hiểu sai về Chúa.
                Tôi hỏi ông Lực lượng:
                - Hẳn chính tôi có lúc cũng sai!... Vậy sự sai lầm luôn do chính các Ông dựng lên?
                Ông Lực lượng không chối:
                - Phải! Chúng ta phải và sẽ còn phải gây sai lầm khắp mặt đất!
                Tôi kể chuyện hôm trước tôi ngủ, sau cơn mơ tôi thấy những sự kiện giống như thật. Cha sở an ủi tôi và bảo đó hoàn toàn là sự mê muội do giấc ngủ mang đến. Đừng bao giờ để lý trí mình bị ám ảnh. Nói chung phải lánh thật xa những gì mơ hồ, đồn đoán, giả định… Đó là bài học rất lớn cho tôi cho đến suốt cuộc đời.
                Không biết tại sao mỗi khi được ở kề bên cha sở, tôi cảm thấy vững dạ và an tâm không thể tả! Cho nên khi cha vừa dạy như vậy xong, tôi đã cảm thấy mạnh mẽ. Tính tôi rất nhút nhát, dù được cha thương –tôi dám khẳng định như vậy- nhưng chưa bao giờ tôi bớt nể trọng, khâm phục và kính sợ cha. Bây giờ thì tiện thể tôi hỏi luôn câu hỏi còn giấu kín trong lòng:
                - Thưa cha, hiện nay ông Lực lượng còn liên lạc với cha thường xuyên không ạ?
                Cha sở gật đầu:
                - Vẫn còn.
                Tôi hơi rùng mình khi nghĩ rằng nếu vậy thì tôi cũng có liên can chi đó với quyền lực bóng tối. Hình như đoán biết tôi sợ hãi, cha trấn an:
                - Không sao đâu con! Thân xác con người chúng ta luôn phản ứng trước siêu hình. Vì chịu không nổi bóng dáng của siêu hình, cho nên thân xác phản ứng tự vệ. Nếu bình tâm suy xét hẳn thấy siêu hình là một thế giới hấp dẫn, nếu được tiếp xúc lâu dần thân xác sẽ quen. Khi hấp hối người ta quá sợ hãi bởi vì chưa quen. Người ta sợ ma nhưng rất thích nghe kể chuyện ma là vì thế.
                Tôi hỏi cha câu cuối:
                - Con có cảm giác bị ông Lực lượng theo dõi. Có đúng vậy không?
                Cha sở xoa đầu tôi:
                - Vì con thay cha sẽ kể lại mọi chuyện với giám mục, nên con bị chú ý đặc biệt hơn mọi người.
                Có lẽ đúng như thế thật! Bởi vì sau đó mấy hôm, tôi có việc đi về tỉnh.
                Do sáng sớm đi vội, nên quên bẵng mang theo bóp ví, tất nhiên không có một mảnh giấy lộn nào để tùy thân, lại còn mặc xi-vin (thường phục) nữa!
                Thời này trai tráng ra đường nếu không mặc quân phục thì phải có giấy tờ gì đó chứng minh rằng mình không “trốn quân dịch”. Các đại chủng sinh luôn được cấp giấy Hoãn dịch cấp hàng năm.
                Từ bến đò vừa mới bước lên bến xe Honda ôm, ba người mặc quân phục Cảnh sát Dã chiến ập tới vây lấy tôi. Một người nghiêm chào rồi đòi xem giấy tờ. Tôi chỉ còn biết ấp úng viện lẽ mình là tu sĩ đang đi công vụ, nhiệm sở ở nhà thờ lớn bên sông, vì đi gấp nên quên mang theo giấy tờ.
                Họ không chịu và bắt đầu hạch sách đủ điều rồi định áp giải tôi lên xe jeep gần đó để đưa đi.
                Đúng vào lúc đó đám quân nhân đứng rải rác bên kia đường đông chừng hơn một tiểu đội bắt đầu cãi nhau về chuyện gì đó nghe rất gay cấn.
                Tiếng chửi thề vang cả một góc trời. Súng ống bắt đầu khua và không lâu sau đó họ nổ súng thật. Dân chúng hai bên đường chạy dạt vô các dãy nhà gần đó, ba người lính định bắt giữ tôi giờ đã quên chuyện cũ, tham gia ngay vào cuộc ẩu đả để tôi trơ trọi một mình, nên tôi cũng bỏ chạy vào các dãy nhà để tránh lạc đạn. Không lâu, ba chiếc xe chất đầy lính Quân cảnh đến trấn áp và vãn hồi trật tự.
                Tôi thoát nạn nhưng không còn dám đi nữa mà quay trở về nhà. 
                <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi Sun Ming >
                #8
                  Sun Ming 42 phút (permalink)
                  Kỳ 9
                   
                  Chuyện cô Ngoan “được Đức Mẹ nhập tràng” ồn ào, kinh động và gây hiếu kỳ đến độ đi đâu cũng nghe người ta chỉ bàn tán xôn xao có bấy nhiêu, kèm theo đồn dại nhiều thông tin thất thiệt, nhiều kỳ tích lâm ly kỳ bí với niềm xác tín mạnh mẽ vững chắc không gì có thể làm suy suyển được… Nhưng rồi cũng tiêu tan nhanh chóng.
                  Số là từ khi bắt đầu xảy ra chuyện lạ, người này muốn cha sở công nhận, kẻ khác muốn cha lập kế hoạch để tôn kính Đức Mẹ cách đặc biệt hơn, người nọ lại còn đề nghị làm lễ rước cô Ngoan về nhà thờ v.v… phần đông dư luận muốn cha sở phải công bố trên tòa giảng những điều Đức Mẹ dạy, những điều Đức Mẹ làm qua miệng qua tay cô gái thất học và nhà quê này.
                  Cha sở dứt khoát từ chối mọi thỉnh cầu lẫn những lời đề nghị.
                  Tôi hết sức chăm chú dõi theo cha sở mong học được những gì hay nơi cha. Dịp này tôi mới thấy thật rõ cha có đức tính trầm tĩnh, kiên cường, can đảm và thận trọng toát lên từ óc sáng suốt chứ không phải thận trọng do tính nhút nhát, mông muội… những đức tính ấy của cha thể hiện ngay trong lúc mọi chuyện đang sáng-tối, trắng-đen, úp-mở… đôi bên chưa phân tỏ, mọi người cứ rối tinh lên. Cha thường đưa ra chỉ một câu trả lời ngắn gọn và đầy ý nghĩa cho nhiều loại câu hỏi ngây thơ tìm hiểu hay ma mãnh bắt bí:
                  - Tôi đang chờ lệnh của Tòa giám mục đây!
                  Tôi được đọc các sách nói về sự lạ Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (Bồ Đào Nha), hiện ra ở Lộ Đức (Pháp), ở Trà Kiệu hay Lavang (Việt Nam)… nên biết được mỗi sự kiện như thế, giáo quyền rất nhọc tâm để đi đến một quyết định, vì con người bản tính ưa đẻ ra nhiều luồng dư luận tương phản nhau trước mỗi sự kiện lạ, khiến sự việc đã rối rắm càng thêm rối rắm. Đây là sự kiện tôi may mắn chứng kiến để tận dụng học hỏi cách xử trí của các đấng bề trên cấp giáo phận và cấp giáo xứ.
                  Sự mù mờ hư thực ngày một dâng cao, giáo dân ngày càng nhốn nháo bất an, quan điểm ngày càng phân cực, giáo xứ ngày càng chia rẽ… tất cả hầu như đã đi đến đỉnh điểm khi bỗng dưng một hôm, cô Ngoan gửi sứ giả đến nhà xứ yêu cầu cha sở phải thân hành đến nhà cô để “lạy chầu Đức Mẹ”.
                  Từ đầu câu chuyện đến giờ tôi không thấy cha sở liên lạc gì với tòa giám mục, nhất nữa ngay trong lúc này đang xảy ra sự việc thì chiến sự quanh vùng lại nổ ra trầm trọng, đường sá bị tắt nghẽn, trong đó, con đường huyết mạch từ giáo xứ về tòa giám mục buộc phải đi qua hai con sông đã khó, lính tráng đầy dẫy tra xét và công sự phòng thủ rào rắp chốt chận… càng làm khó thêm người đi đường. Tôi lo lắng không biết cha sở làm sao lãnh ý của đức giám mục được, làm sao để xử trí với diễn tiến bất ngờ và bất lợi như thế. Trước những sự kiện có dính dáng đến yếu tố thiêng thánh, vừa mù mờ vừa nhạy cảm như thế này, giáo quyền im lặng thì dễ, nhưng buộc phải lên tiếng hay buộc ứng xử cho ra lẽ thì thật khó! Mấy ngày qua, mỗi khi gặp mặt cha sở, tôi chăm chú để ý những phản ứng gì của ngài, nhưng tuyệt nhiên không một dấu hiệu gì của lo âu, xao xuyến, căng thẳng ngoại trừ duy một nét đơn sơ, hồn hậu cố hữu của vị cha sở nhà quê đầy chất “xứ Ars”trong truyện thánh Jean Vianey. Ngược lại đôi lúc tôi cảm thấy mình bỗng trở nên bé nhỏ làm sao khi ở trước mặt cha! Vì thế tôi im thin thít không dám hỏi ngài bất kỳ một điều gì dù rất muốn.

                  Bỗng sáng hôm đó trước “thánh lễ đèn dầu” -mỗi buổi sáng ngày thường cha sở dâng thánh lễ với đèn dầu đốt leo lét đó đây trong thánh đường rộng lớn, nhưng thỉnh thoảng có buổi sáng nào một trong hai cha phó dâng lễ do nhu cầu đặc biệt thì thắp đèn điện sáng choang, cho nên giáo dân trìu mến gọi đùa những thánh lễ cha sở dâng buổi sáng ngày thường là những “thánh lễ đèn dầu”-, sau khi thuật sơ lại cho cộng đoàn việc cô Ngoan gửi sứ giả đến yêu cầu triệu tập cha sở, cha sở vẫn với giọng nhẹ nhàng, công bố:
                  - Tôi đã cử ông trùm Lê Văn Đầu đến trao cô Ngoan tờ lệnh, tôi xin đọc để mọi người được biết một cách thật tỏ tường. -Nhìn vào tờ giấy khổ lớn, cha sở đọc với giọng dõng dạc và chậm rãi- “Đang bản quyền sở tại họ đạo An Biên, yêu cầu cô Têrêxa Phạm Thị Ngoan, 25 tuổi, con ông Phêrô Phạm Văn Chiêu và bà Anna Nguyễn Thị Xê, ngụ tại khu III, giáo xứ An Biên, người đã tự xưng được “Đức Mẹ nhập tràng”, trong vòng ba ngày, phải đến trình diện với cha sở tại nhà xứ.. Làm tại An Biên, thứ sáu, ngày 7 tháng 12 năm 1962, ký tên: linh mục Albeza Đặng Tuấn Anh.. Postscriptum: Lệnh này được ra lần thứ nhất.
                  Tôi hết sức bất ngờ, ngạc nhiên lẫn tò mò thú vị theo dõi. Ôi! Quả “ông già gân” – nhiều người gọi cha sở như vậy - đáng mặt một ông cha sở họ đạo lớn và phức tạp thế này! Đức cha không phân bổ sai ai bao giờ! Bề ngoài của cha sở hiền hậu rặt một chất “tiên phong đạo cốt” là thế! Nhưng bên trong, bây giờ tôi mới biết, bản lãnh, nghị lực và cứng rắn không thua gì thánh Ambrôsiô từng phạt đến cả vua (vua thánh Théodore) quỳ gối ngay trước tiền đình nhà thờ làm gương cho giáo dân ra vào! Có chết khiếp không chứ!
                  Suốt ba ngày sau đó không thấy cô Ngoan đến.
                  “Thánh lễ đèn dầu” sáng thứ hai tiếp theo, cha sở đọc lệnh triệu tập lần nữa, rồi cũng chấm dứt bằng câu:
                  - Post scriptum: Lệnh này được ra lần thứ hai.
                  Thêm ba ngày nữa vẫn không thấy cô Ngoan đến trình diện.
                  “Thánh lễ đèn dầu” sáng thứ năm trước đông đảo giáo dân hơn, cha sở đọc lệnh triệu tập lần thứ ba, cuối thư cũng kết thúc bằng câu cũ nhưng có dài hơn và hơi khác hơn:
                  - Post scriptum: Lệnh này được ra lần thứ ba. Sau ba lần triệu tập, nếu đương sự bất tuân vụ lệnh, giáo quyền sẽ có cách giải quyết.
                  Cô Ngoan cũng vẫn im hơi. Không đến.
                  Đúng là cha sở có ý đồ rõ rệt, cho nên chuyện sau đây rơi đúng vào sáng chúa nhật, trong thánh lễ đèn điện sáng choang và long trọng, cha sở mặc áo surplis (gọi nôm na là áo các phép) đeo dây stola (dây đeo cổ vòng ra trước ngực và buông thõng dài xuống đến dưới thắt lưng… để linh mục cử hành một số bí tích)… đường bệ và uy nghiêm công bố:
                  - Sau ba lần gửi lệnh triệu tập – cha sở giơ cao ba phong thư lên cho giáo dân xem – cô Têrêxa Phạm Thị Ngoan không vâng lời đấng Bản quyền sở tại... Nay tôi tuyên bố ra lệnh cấm cô Ngoan lấy danh Đức Mẹ Maria để hành sự mờ ám. Đồng thời tôi ra lệnh cấm mọi giáo hữu đến nhà đương sự.
                  Hình như có bóng dáng quyền uy của Thiên Chúa trong từng câu chữ… nên mọi người hiện diện ai nấy đều cảm thấy có một cái gì đó huyền bí thần tốc thần lực chuyển luân trong huyết quản khiến rần rần cả da thịt. Tất cả đều im phăng phắc với vẻ cung kính khiếp sợ.
                  Thánh lễ tiếp tục như mọi khi trong bầu khí sốt sắng lạ thường!
                  Sự kiện “cô Ngoan được Đức Mẹ nhập tràng” sau đó lụi tàn dần, vì giáo dân nào mà không tin nghe lời cha sở! Thế nên ngay lập tức, chẳng ai dám lui tới hoặc dám bén mảng đến nhà cô. Thật vậy! Giáo dân lúc nào cũng trông chờ sự hướng dẫn khôn ngoan, cả quyết của giáo quyền để họ được cung kính vâng lời, miễn sao với tư cách thay mặt Chúa quyết định dưới ơn soi sáng của Thánh khí và Sự thật.
                   
                  Nhưng sự việc thế thôi mà xong thì còn gì để nói! Hai cha phó vốn đã chống đối và muốn trục xuất cha sở, nay được dịp nổi lên, hiệp lực với cô Ngoan và bè phái ủng hộ để lôi kéo thêm nhiều giáo dân chống đối cha sở một cách công khai… ngày càng dữ dội hơn.
                  Thật là lộn xộn! Tôi không nghi ngờ hai cha phó, mà tin rằng có ai đó hiểm độc hơn thừa nước đục thả câu thổi vào giáo dân luồng tư tưởng cho rằng cha sở là thành viên của hội Tam điểm (Franconnerie) -một thứ giáo phái chống phá Giáo hội và xã hội – qua việc cha sở phủ nhận “Đức Mẹ nhập tràng” thế kia! -. Thời điểm này ngoài đời trong đạo cũng râm ran nhiều dư luận cho những nhân vật chóp bu của thế quyền là người thuộc hội Tam điểm, cho những ai thành đạt trong chính trị, quân sự lẫn thương mại… đều là người hội Tam điểm. Chính vì vậy lúc này mà quy kết cha sở là người của hội Tam điểm thì còn gì thuận lợi cho bằng!
                  Nhưng như ngọn đèn lóe sáng để rồi phụt tắt, sự kiện cô Ngoan bùng lên dăm bữa nửa tháng rồi tàn lụi nhanh không ngờ. Thêm một coup de grâce! (nghĩa chữ là một cú ân huệ, có nghĩa tử tội bị xử bắn còn đang ngắc ngoái, người ta bắn cho một viên đạn vào đầu giúp chết nhanh tránh đau đớn). Tòa giám mục vào cuộc. Cha phó lớn bị thuyên chuyển ngay tắp lự đến không kịp ai biết.

                  Khi sự việc đã dần ổn định, một hôm tôi rụt rè hỏi cha sở:
                  - Thưa cha! Cha giải quyết hay và đúng quá! Nhờ đâu cha sáng suốt phân định thực hư…?
                  Cha sở vẫn với giọng người cha hiền lành:
                  - Đâu có gì là hay hở con! Dùng phép thử “vâng lời” mọi việc sẽ được sẽ sáng tỏ.
                  Thấy tôi ngơ ngác cha giải thích thêm:
                  - Không có gì bằng “thuốc thử vâng lời”. “Thuốc thử vâng lời” thử được lòng trung tín, đức khiêm nhu, sự thành thật, ý chí, sự nhẫn nại, đức công bình, lòng mến, đức tin và vân vân… Chính Chúa Con cũng vâng lời Chúa Cha cho đến chết, Đức Mẹ cũng vâng lời Thiên Chúa sát rạt. Rồi con thấy đó! Đầy dẫy trong Phúc âm những đòi buộc, gương sáng, chuyện kể, dụ ngôn… về lòng tin. Tin là vâng lời chứ gì nữa! Ngược lại ma quỷ vốn loài thiên thần kiêu ngạo, chúng không thể vâng lời. Dùng vâng lời làm “thuốc thử” để tách việc nào của Thiên Chúa, việc nào của ma quỷ. Con hiểu không?
                  Tôi nhanh miệng không ngờ:
                  - Tệ thật! Vậy mà nhiều lúc con xem nhẹ đức vâng lời.
                  Cha sở cười vừa gật đầu:
                  - Hoặc người ta nói tới “vâng lời có điều kiện, có trao đổi…”… Không đúng! Đã vâng lời thì không điều kiện, không trao đổi, vì người vâng lời rất có cá tính, họ quyết định dứt khoát đến không suy nghĩ, không cân nhắc, không đong-đo-tính-đếm hay trăn trở, băn khoăn… lựa chọn! Còn thế là còn chưa vâng lời! Còn trẻ người ta ít vâng lời, càng già càng dễ vâng lời! Người vâng lời thì khiêm tốn đến nhỏ bé, tin tưởng mạnh mẽ đến hoàn toàn phó thác, nhất nữa là… vâng lời cấp tốc.
                  Phải nói tôi học ở cha sở nhiều hơn tôi tưởng.
                   Cũng nhờ đó đường tu trì của tôi bỗng sáng hơn lên khi tôi quyết định từ nay tôi sẽ vâng lời Chúa tuyệt đối và cấp tốc, nói đúng hơn là vâng lời bất kỳ điều gì Chúa quyết định nơi tôi.
                  Nhưng… có lẽ như thế mà đời tôi càng ngày càng gặp nhiều biến cố,  nhiều trở ngại, nhiều khổ đau!?
                  <bài viết được chỉnh sửa lúc 35 phút bởi Sun Ming >
                  #9
                    Sun Ming 25 phút (permalink)
                    Kỳ 10
                     
                    Mới đó mà đã bốn tháng tôi giúp xứ An Biên. Do công việc bù đầu bù cổ cộng thêm nhiều biến cố nên tôi không để ý đến thời gian. Nói vậy chứ công việc hay biến cố gì cũng không bằng biến cố xảy ra ngay chính trong đời tôi, chính biến cố tôi sắp kể đã làm tôi quên thời gian giúp xứ cực nhọc của mình. Biến cố này đã gây nhiều hậu quả cho tôi về sau dù rằng, nhờ đó tôi hiểu thấu cuộc đời hơn các bạn đồng môn và có nhiều kinh nghiệm hơn trong cách xử sự. Tôi xin tóm tắt.
                    Trong giáo xứ có gia đình ông Bảy Quý nề nếp nhất họ đạo do ông vừa có phong thái hơn người, vừa có người anh ruột linh mục là bạn thân của cha sở, có lẽ vì thế gia đình ông Bảy Quý như là thân nhân của chính cha sở, hai cô con gái rất đẹp và hai người con trai đang đi tu đều gọi cha sở bằng bác.
                    Cô con gái lớn của ông bà Bảy Quý tên Mỹ Ca hơn tôi mười tuổi, đẹp như một thiên thần và hát hay như một ca sĩ –thời này ca sĩ là Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Julie Quang, là Thanh Tuyền, Giao Linh, Giáng Thu…- thường lân la đến với cha sở hơn cả. Những khi gặp nhau tôi gọi Mỹ Ca bằng chị, sở dĩ từ đầu đến giờ tôi không nhắc đến là để hôm nay tôi mới dồn hết sức mà kể một lần một mạch, vì đời tôi tuy mới hơn hai mươi tuổi, nhưng gặp nhiều cớ sự hơn người khác gấp không biết bao nhiêu lần, có cảm tưởng tôi sống một năm, bằng người khác trải qua dễ chừng cả mươi năm, cho nên để kể chuyện đời, có lần người bạn chí thân bảo tôi kể, tôi nổi hứng kể huyên thuyên chuyện mình từ mười giờ tối hôm trước cho đến giờ đi lễ sáng hôm sau, kể đến độ nằm trên giường bên kia nó ngáy khò khò lúc nào tôi cũng chẳng hay.
                    Những lúc đầu gặp Mỹ Ca, tôi kính nể như một người chị, đối lại chị quý tôi như người em. Nhưng vì quen lân la khắp nơi trong nhà xứ, nên chị cũng lui tới “phòng” tôi một cách tự nhiên và dễ dàng, lại còn tặng tôi khi cái lược, lúc cái khăn, khi quả ổi…
                    Khoảng bốn giờ rưỡi sáng hôm đó gần đến mùa Noel, trời trở lạnh, khi tôi đang chuẩn bị đi lễ thì chị bước vào ôm chầm lấy tôi khẽ bảo: “Sao chị lạnh quá Liêu ơi!”. Tôi cứ để mặc chị ôm, không chừng… tôi cũng có ôm lại. Trong lúc ôm tôi, chị sờ nắn khắp người tôi khiến tôi lơ mơ không còn biết gì nữa. Hai chị em quấn quýt với nhau một lúc rồi đi lễ. Lòng tôi bỗng thấy có cái gì đó khác lạ, nhưng trí ý vẫn cứ đơn sơ nghĩ đó là tình chị em.
                    Chuyện vậy cứ xảy ra đều đặn ít lâu thì chị hôn trên mặt, trên cổ… và một hôm chị dậy tôi hôn môi, những lúc như vậy chị rên khe khẽ: “Chị thương em lắm Liêu ơi!... Liêu có thương chị không hở Liêu?”... Trong suốt thời gian cứ sáng nào cũng xảy ra như thế –vào lúc không ai có thể ngờ được khi cha sở ở sâu trong nhà thờ, hai cha phó thì chốt chặt cửa ngủ vùi, nhà xứ tối mù và vắng lạnh- tôi không từ chối điều gì với chị chỉ vì cảm xúc và cảm giác rất lạ nhấn chìm tôi đến tận dưới đáy vực sâu.
                    Hai chị em bắt đầu thấy ghiền nhau. Nói đúng ra chị Mỹ Ca sành sõi hơn, nên hễ khi tôi ngần ngại hay tỏ ra sợ hãi, chị lại thì thầm để đánh lạc hướng “… chị thương em như em ruột của chị vậy” hoặc “chị lạnh quá”, “em xem giùm, chị đau chỗ này quá!” v.v…Đang ngụp lặn trong tình yêu chị em ngang trái, xảy ra ba hiện tượng làm tôi hơi hoảng.
                    Một là mỗi khi Mỹ Ca đè tôi hay tôi kéo lôi Mỹ Ca nằm xuống giường thì có tiếng đập trên thanh sắt cuối giường. Ban đầu tiếng đập nghe nhỏ như ai đó dùng tay đập lên thanh sắt một tiếng, ai nghe thế có thể giải thích mình nghe lầm hay tiếng gì đó trùng hợp, dù vậy cũng đủ làm chúng tôi giật mình mất hứng và buông nhau ra ngay. Những ngày tiếp theo, tiếng đập trở nên lớn hơn và mạnh hơn khiến không thể lầm với tiếng động gì khác được, có xem xét kỹ thì không thấy điều gì có thể va chạm đến cái giường. Chúng tôi nhìn nhau lo ngại. Tôi bắt đầu hơi sợ.
                    Cuối cùng là sáng hôm đó, lúc chúng tôi còn chưa đè nhau ra giường thì một tiếng đập thực sự nổ lớn giữa một thanh sắt khác đập vào thanh sắt cuối giường. Chúng tôi giật bắn người, kinh hoàng và kéo nhau chạy ra khỏi “phòng”. Không thể cắt nghĩa được và cũng chẳng dám hỏi ai, Mỹ Ca lại hay sợ ma, nên từ đó chị sợ đến nỗi không dám lên “phòng” tôi nữa.
                    Hai là một hôm đang dạy học, có hai người đàn bà đạo đức siêng đi lễ sáng kéo nhau đến nói cho tôi biết, gần mỗi sáng đi lễ, lúc trời còn tối mịt, họ thấy một quầng lửa bay chầm chậm từ cây me cổ thụ bên trường, đáp xuống rồi chui tọt vào đúng vị trí “phòng” của tôi. Hai người hỏi tôi có nhìn thấy giống như thế không, hoặc có cảm thấy cái gì khác lạ không, các bà hỏi tôi rằng, nghe họ kể như thế tôi có đoán ra được điều gì hay không? Vì sợ “có tật giật mình”, nên tôi không dám hỏi cha sở, dù cha luôn là người từ bao lâu nay được tôi kể và hỏi han đủ thứ chuyện.
                    Ba là tôi được phép về thăm nhà một ngày để cầu nguyện cho cha tôi. Cha tôi xưa đau bệnh rồi mất đúng vào ngày 24 tháng 12, thời đó trong đạo không có tục ăn giỗ như bây giờ, chỉ là dự thánh lễ cầu nguyện rồi ra thăm mộ. Khi tôi vừa về đến nhà, mọi người kêu lên sao tôi hốc hác và nước da nhất là nơi mặt, mũi, cổ và tay chân… sậm lại như bị bệnh nám da. Má tôi mời thầy thuốc đến bắt mạch thì thầy nói tôi bị một trong những thứ bệnh tà. Ai cũng lo nhưng tôi là người lo nhất vì tới lúc này tôi biết chắc là mình đang bị một vấn đề gì đó...
                    Trên đường trở về nhiệm sở, tôi suy đi nghĩ lại nhiều lắm, cuối cùng quyết định không thể giữ một mình nỗi lo sợ nữa. Tối hôm đó tôi vào phòng cha sở với ý định thú nhận hết với cha như một vị linh hướng.
                    Khi tôi mới bước vô phòng, cha sở nhìn tôi vừa hỏi vừa nói:
                    - Xảy ra chuyện gì đó với con rồi! Đúng không?
                    Không toan tính trước, cũng chẳng biết tại sao, tôi chạy đến quỳ sụp xuống bên chân cha bên bàn cha đang làm việc. Tôi khóc nức nở đến nỗi có cảm tưởng không gì có thể cầm lại được những dòng nước mắt ăn năn.
                    Cha sở đặt tay lên vai tôi rồi kiên nhẫn chờ tôi khóc mùi mẫn.
                    Khi tôi bớt khóc, tôi thưa:
                    - Con là kẻ có tội…
                    Cha sở không để tôi nói tiếp, cha nói bằng giọng của một người cha thật dịu hiền:
                    - Con không cần phải nói gì! Cha biết hết rồi!
                    Cha nắm lấy hai vai tôi và nói thêm:
                    - Chúa cũng không chấp tội! Con bình tĩnh và nhận phép giải tội nghe con!
                    Tôi lại khóc. Vừa khóc vừa đọc kinh ăn năn tội.…
                    Khi về “phòng” tôi suy nghĩ và tự hỏi mãi, cha đã biết gì? Tại sao cha biết? Tôi thật không dám hỏi cha sau đó, một phần mắc cỡ, một phần sợ sệt.
                    Mãi hơn hai mươi năm sau, khi cha gần lìa đời, không do tôi hỏi, nhưng cha tự kể:
                    Lúc đó Ông Lực Lượng kể tôi nghe hết chuyện của thầy và đứa cháu gái. Kể xong Ông ấy bảo:
                    - Chúng ta không muốn mất thằng nhỏ quá sớm! Nó nằm trong kế hoạch của Chúng ta.
                    Tôi kêu lên:
                    - Các Ông định làm gì thằng nhỏ? Hãy để nó yên có được không! Nó có bề gì tôi trả lời với đức cha thế nào đây!
                    Ông Lực Lượng trấn an tôi:
                    - Chúng ta đã làm gì thằng nhỏ đâu mà ông la hoác lên như thế! Trái lại Chúng ta đang đẩy nó thoát ra khỏi cái mớ ngùng ngoằng đó đấy! Con người các ông như một nhúm bùi nhùi nhậy bắt lửa, chỉ cần một tàn lửa nhỏ thôi là cháy thật sạch!
                    Thật vậy, chẳng ai có thể nên thánh nếu Chúa không nâng đỡ, vì chỉ một tích tắc bất cứ con người nào cũng có thể sa ngã, thực tế đã chứng minh ngựa bốn chân còn xảy, bảy mươi chưa gọi mình lành… không ai dám tự hào mình khôn giỏi, ngược lại kẻ càng khôn ngoan thì cũng có những kế hoạch khôn ngoan một khi kẻ đó muốn phạm tội, kẻ càng kín kẽ thì ngã sa càng bí mật nếu muốn, cũng thế, nếu kẻ đơn giản phạm tội giản đơn thì người già giặn phạm tội càng nhuần nhuyễn, lão luyện và ma mãnh.
                    Mỹ Ca được gia đình cho sang Pháp và ở đó luôn, đến tận bây giờ rồi mà tôi vẫn không gặp lại. Cuộc đời tôi sau này bị thay đổi rất nhiều bởi mối tình bị cuốn ngay vào vòng xoáy đam mê,vì từ trước cho đến lúc đó, những cô gái yêu tôi, tỏ tình với tôi, theo đuổi tôi… tất thảy đều đến bằng một thứ tình yêu bình dị, thông thường, không trái ngang và lâm ly như trong tiểu thuyết lãng mạn, cũng chưa ai chế ngự tôi bằng nỗi đam mê khủng khiếp như thế. Thường các cô gái quê mới lớn trong các xứ đạo yêu các thầy đại chủng sinh bằng một thứ tình yêu rất hồn nhiên, nhẹ nhàng và kín đáo, yêu chỉ biết đứng xa mà nhìn trộm, được dịp thì lân la rón rén, có cơ hội ở riêng thì e thẹn đến mặt đỏ lựng cũng chẳng nói được một câu, rời nhau ra thì quyến luyến, bạo lắm cũng chỉ biết viết thư ngụ ý tỏ tình cách vụng dại hoặc tặng nhau tấm ảnh, chiếc khăn làm kỷ vật gửi gắm nỗi ước mơ… làm gì có hò hẹn, làm gì có cho nhau những thứ trái cấm đầu đời…
                    Mỹ Ca đột ngột đến rồi đột ngột đi để lại tôi đau đớn da diết một mình, đã thế còn lưu lại trong tôi những vết hằn khó lòng gột bỏ.
                    Đôi lúc tôi cảm thấy đi tu sao khó quá!
                    Còn việc Ông Lực Lượng có kế hoạch trên tôi, tuy mãi đến sau này cha sở mới tiết lộ nhưng tôi đã sớm suy đoán. Có nghĩa là sau khi Mỹ Ca bí mật rời Việt Nam đi Pháp không một lời từ biệt, tôi dần dần suy ra từ chỗ luôn bị Ông Lực Lượng theo dõi, cho đến quấy phá “mối tình” chớm nở giữa chúng tôi là nhằm giữ cho tôi sống trong bậc tu trì, nếu có thể làm đến linh mục nữa, để họ sử dụng tôi cách đắc lực hơn. Như vậy đủ biết họ khôn ngoan và đa mưu túc trí dường nào, họ không dễ hiểu như chúng ta nghĩ, không phải lúc nào họ cũng làm trò ma mị, làm ông Ba Bị, làm những điều quấy quá phơi bày trước mắt, hay nói chung đúng như chúng ta nghĩ cả đâu!
                    Tôi sẽ kể tiếp chuyện này khi đến thời điểm của nó.   
                    <bài viết được chỉnh sửa lúc 21 phút bởi Sun Ming >
                    #10
                      Sun Ming 4 phút (permalink)
                      Kỳ 11
                       
                      Tối thứ bảy cha sở gọi tôi vào phòng để kể tiếp câu chuyện. Với tư thế nửa nằm nửa ngồi lưng tựa vào đầu giường, ngài kể chuyện bằng giọng yếu ớt như vừa mới trải qua một cơn đau còn thấm mệt.
                      - Tôi sợ mình chết trước khi kể hết mọi chuyện cho thầy nghe. Cho nên, tôi sẽ kể khi nào thấy có thể được, để thầy tường thuật hết lại cho đức cha sau khi tôi mất.
                      Tôi lắc đầu nguầy nguậy theo quán tính, nhưng cha xua tay kịp chận lại những lời tôi định nói:
                      - Chết là chuyện thường! Con người ai cũng phải một lần bước qua! Bước qua với cung cách can đảm thì cái chết sẽ rụt rè, bước qua với tâm thái sợ hãi thì cái chết sẽ uy hiếp tinh thần chúng ta lắm lắm!
                      Tôi để yên cho ngài nói.
                      Cha sở nói tiếp sau khi bảo tôi kéo ghế ngồi thật gần:
                      Một lần khi ông Lực Lượng đến tòa cáo giải ở cuối nhà thờ nơi tôi đang ngồi, cũng vào lúc hoàng hôn nhá nhem tối như thường lệ, ông bảo:
                      - Ngày mai Chúng ta sẽ nhập vào xác cô gái ở cuối họ đạo ông, cô đó tên Bích, ông biết đó! Cô ta ít đi nhà thờ, sống lôi thôi gần như bỏ đạo…
                      Tôi hỏi:
                      - Để làm gì? Có phải để phát ngôn điều gì đó cho Các Ông hay không? Các Ông có đủ quyền phép và uy vũ làm những việc lớn lao, sao lại chọn hoài cái cách vụn vặt thô thiển này để nói…?
                      Ông Lực Lượng trả lời:
                      - Chuyện gì có thể gọi là lớn và chuyện gì có thể gọi là vụn vặt? Nhiều chuyện hô hoán là lớn lao mà thực tế thì rất nhỏ, nhiều chuyện có vẻ vặt vãnh mà thật ra to đùng! Chúng ta không chê bỏ dịp lớn nhỏ nào để có thể chứng minh cho con người biết sự có mặt và sức mạnh của Chúng ta.
                      Tôi hỏi:
                      - Các Ông làm gì cũng phải có phép của Chúa, đúng không? Chẳng lẽ Chúa để con cái Chúa mặc cho Các ông muốn làm gì thì làm… sao?
                      Ông Lực Lượng có vẻ bực mình:
                      - Chúa ban cho các người sự tự do, hàm nghĩa Chúa cũng cho Chúng ta được quấy phá trong phạm vi tự do đó. Ông thắc mắc chi nhiều quá vậy!
                      Tôi không nao núng, hỏi thêm:
                      - Nhưng phải nói, ai bị Các Ông mượn xác, sau đó cũng đều trở nên xác xơ thân thể đến là đau lòng! Chúa đầy lòng trắc ẩn lại cho phép cả điều đó xảy ra hay sao? Chúa nhân từ cả với Các Ông nữa chắc!
                      Ông Lực lượng trở mặt, đang bực bội lại vui vẻ trào lộng:
                      - Á à! Ông khôn ngoan và lém lỉnh như một chính trị gia chứ có thua ai! Vậy mà giám mục và các linh mục trong hàng ngũ ông lại cứ tưởng lầm! Ông định khai thác ở Chúng ta để hiểu thêm về Thiên Chúa nữa đấy! Tinh khôn phải biết!
                      Tôi gật đầu thừa nhận:
                      - “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” Nói chuyện với Các Ông tôi phải tận dụng chứ! Các Ông buộc tôi làm việc cho Các Ông, tất phải trả lương! Bằng đó thôi có gì là quá đáng!
                      Ông Lực Lượng vui vẻ thật sự:
                      - Được rồi! Tôi trả lời ông: Thiên Chúa dĩ nhiên đầy lòng trắc ẩn, Thiên Chúa đương nhiên là nhân từ, nhưng Ông ấy luôn tôn trọng trật tự tự nhiên, trong đó có luật “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”(*), ai hướng chiều về Chúng ta là Chúng ta đến với người ấy, ai có khuynh hướng với Chúng ta thì Chúng ta lui tới, ai cầu Chúng ta thì Chúng ta giúp đỡ, thấy thế Thiên Chúa đau lòng lắm nhưng phải chấp nhận vì đó là trật tự tự nhiên, Ông ấy lập ra thì Ông ấy tuân theo, chính Con Ông ấy xuống thế làm người bị dập vùi tơi tả, Ông ấy vẫn không can thiệp. Vì Con Ông ấy gia nhập vào vòng luân của luật tự nhiên. Đã gia nhập vào luật tự nhiên sao còn rút ra bằng sự miễn trừ nào đó?
                      Tôi muốn hỏi thêm nhưng Ông Lực Lượng phác tay tỏ cử chỉ không muốn nói về đề tài ấy nữa. Ông ta nói:
                      - Ông đừng có mà giở trò “trừ tà” trên con bé Bích với Chúng ta đấy nhé! Chỉ tổ vô ích thôi!
                      Tôi im lặng không trả lời, nhưng cũng tránh cả suy nghĩ, sợ trong suy nghĩ sẽ để lộ ra toan tính, mà toan tính ấy ông Lực Lượng có thể biết được.
                      Nhưng tôi không tài nào xua trí khôn nghĩ về điều khác được.
                      Theo thói quen, tôi giục lòng cầu xin Đức Chúa Thánh Thần đến giúp sức.
                      Bỗng trong nháy mắt, cái gì đó giống như một tia chớp xẹt nhanh qua đỉnh đầu tôi làm tôi như ngất xỉu trong tích tắc. Có thể ví mọi chuyện xảy ra gần giống như người ta bị điện giật.
                      Hoàn hồn trở lại tôi nhận ra không còn Ông Lực Lượng ở đó nữa. Tôi mơ hồ thấy Ông muốn lánh mặt đi thật lẹ khi Đức Chúa Thánh Thần ngự đến.
                      Ngày hôm sau ông Lực Lượng lại đến. Ông cau có bảo tôi rằng hễ khi nào đang nói chuyện với Ông thì đừng cầu nguyện. Đúng là Ông ấy có dặn như vậy nhiều lần. Tôi thanh minh rằng do thói quen mỗi khi không kiểm soát được mình thì cầu nguyện. Ông Lực Lượng chấp nhận lời xin lỗi rồi từ đó không nhắc đến nữa.
                      Cha sở kết luận bằng một câu:
                      - Thầy thấy đó! Không phải khen Họ, nhưng tôi thấy Họ cư xử không tồi!

                      Cha sở kể tiếp sau một cơn ho dài làm tôi cảm thấy xót xa.
                      Thầy biết không! Tôi là một đứa trẻ lỳ lợm lúc còn niên thiếu, là một chàng trai bướng bỉnh lúc thanh niên và là một người can cường lúc trung niên cho đến bây giờ. Đâu dễ cho ai muốn nói gì thì nói. Cho nên sau ba ngày ăn chay và cầu nguyện như Chúa từng dạy trong Phúc âm, sáng ngày thứ bảy tiếp theo sau đó, theo lời yêu cầu của giáo hữu, đồng thời tự thấy không nên để trong họ đạo do mình coi sóc mất trật tự. Tôi muốn bất kỳ một biến cố dù lớn dù nhỏ hễ xảy ra trong địa hạt do mình coi sóc, là giáo quyền, mình phải có ngay sự hướng dẫn cho giáo dân biết lối mà lần. Tôi vận áo “Các phép”(**) một mình tản bộ lên xóm trên cuối họ đạo để trừ tà.
                      Khi tôi mới băng qua khoảng đất trống để bước đến chuồng bò nơi cô gái tội nghiệp tên Bích đang bị gia đình xích lỏng bằng lòi tói (***), cô gái đã nói oang oang với tôi:
                      - Ông cha đi về đi! Đừng xía vô chuyện của Chúng ta! Chúng ta đã thỏa thuận rồi kia mà!
                      Tôi không tháo lui hoặc dừng bước, cứ đến cho thật gần cái đã. Cô gái tội nghiệp ăn vận một bộ cánh giờ đã rách rưới tả tơi và dơ bẩn vì phân bò dù vẫn còn lấp lánh chút nhan sắc. Tôi nói:
                      - Các Ông nên tôn trọng nhân phẩm, dù sao cũng…
                      Cô gái tội nghiệp nói tiếp theo với kiểu nhại giọng đầy giễu cợt:-
                      … là con cái của Chúa.
                      Nói vừa dứt, cô gái tội nghiệp cười sặc sụa, nhưng trong tiếng cười ấy có chứa chút gì đó sắc lạnh độc dữ nghe đến nổi gai ốc phát rùng mình.
                      Có đông ngươi kể cả giáo dân đi theo và nấp sau lưng tôi có vẻ sợ hãi. Họ còn cho biết cô gái tội nghiệp ban ngày bốc ăn bất cứ thứ gì có chung quanh ở dưới đất, còn ban đêm thì thức trắng và tru tréo, đêm khuya ai nghe cũng kinh tâm tán đởm và sởn tóc gáy.
                      Tôi suy nghĩ giây lát rồi bất chợt đưa ngay một đề nghị:
                      - Các Ông tha cho cô gái đi!
                      Cô gái tội nghiệp trả lời:
                      - Dễ như thế mà nói làm gì! Dễ như thế mà nói làm gì!...
                      Lại cười sặc sụa. Tôi thăm dò:
                      - Vậy tôi làm gì để Các Ông tha cho cô gái?
                      Cũng chính miệng cô gái tội nghiệp đối đáp:
                      - Ông phải thực hiện ba điều kiện.
                      Tôi hỏi:
                      - Là gì?
                      Cô gái đáp:
                      - Một là ông không được giảng gì về đức Bác ái trong vòng một năm.
                      Tôi bình tĩnh:
                      - Các Ông cứ nói tiếp đi!
                      - Hai là ông không được giảng gì về đức Tin trong vòng một năm... Ba là bỏ ý định cổ xúy Lần chuỗi trong họ đạo.
                      Tôi vặn vẹo:
                      - Trước khi tôi quyết định có đồng ý ba điều kiện đó hay không, tôi hỏi nè! Những điều kiện lớn lao như vậy sao Các Ông không nói thẳng với tôi mà phải nói qua cô gái tội nghiệp? Các Ông không biết rằng nói theo cái kiểu này khác nào Các Ông đang giảng và cổ vũ những điều vừa nói thay cho tôi. Mà xem chừng… còn thuyết phục hơn gấp bao nhiêu lần!
                      Cô gái tên Bích tội nghiệp nghe đến đó liền trả lời:
                      - Chúng ta biết ông rất thương người, nên dùng cô gái này chận chẹt ông mới xong. Chúng ta dư biết những gì ông nói, nhưng lời ông nói bao giờ cũng được đón nhận nhiều hơn.
                      Tôi im lặng một lúc rồi chấp nhận ba điều kiện trên.
                      Vừa nghe tôi chấp nhận ba điều kiện, cô gái tội nghiệp ngồi phịch xuống góc chuồng bò thở hồng hộc.Tôi hiểu dấu hiệu ấy là gì, nên bình thản ra về.
                      Mọi người kể lại rằng bắt đầu từ sau khi tôi rời bỏ chuồng bò, cô gái tội nghiệp bỗng từ từ dịu đi những dấu hiệu bất thường, bình lặng dần, một tuần sau thì trở lại bình thường.
                      Sau sự kiện đó, giáo dân họ đạo chia làm hai phe với hai quan điểm. Một là tin cậy vào Chúa vì sợ ma quỷ. Hai là sợ ma quỷ hơn sợ Chúa. Đúng là Họ đã làm cho cha rối rắm và cực khổ thêm lên rất nhiều. Một cha sở có trách nhiệm không phải chỉ điều hành sinh hoạt cho họ đạo,nhưng quan trọng là phải biết quan sát, theo dõi, bắt mạch và thăm dò phần hồn của họ đạo mình, để kịp thời lo toan phòng chống hay bốc thuốc cứu chữa. Chính vì thế cha khuyên mọi người phải hướng về Chúa bằng bất cứ giá nào. Con cũng vậy nghe con!
                      Tôi ngoan ngoãn “dạ”, rồi nhân tiện, tôi rụt rè nêu câu hỏi, bởi trong lòng cảm thấy rất thắc mắc:
                      - Thưa… tại sao cha lại chấp nhận ba điều kiện bất lợi… ấy?
                      Cha sở nhẹ nhàng đáp:
                      - Cha chấp nhận là vì tin rằng, hễ không giảng bằng lời nói, người ta vẫn còn có cách khác để giảng, đó là giảng bằng việc làm, tức dùng cuộc sống để nêu gương. Giảng bằng cách nêu gương lại còn tốt hơn gấp nhiều lần!
                      Tôi vỡ lẽ. Giảng bằng cách nêu gương thì ai cũng có thể giảng được. Tôi ra ngay một quyết tâm cho mình.
                       
                       
                      * Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu: nghĩa cùng giọng thì hợp nhau, cùng khí chất thì tìm đến nhau.
                      ** Tên tiếng Pháp là áo surplis, tên tiếng Latin là superpellicium, áo trắng mặc bên ngoài áo dòng đen (soutan) tay rộng bỏ lửng, được gấp nhiều nếp, có dây buộc cổ, dài tới gần đầu gối, dành cho linh mục mặc khi cử hành một số bí tích ngoài thánh lễ và dành cho các nam tu sĩ mặc dịp lễ trọng hay hát vêpre.
                      *** Lòi tói: một loại dây xích bằng sắt thô, rất nặng.  
                      <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 phút bởi Sun Ming >
                      #11
                        Chuyển nhanh đến:

                        Thống kê hiện tại

                        Hiện đang có 0 thành viên và 11 bạn đọc.
                        Kiểu:
                        2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9