Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu
Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 19 trên tổng số 19 bài trong đề mục
Sun Ming 20 giờ (permalink)
Kỳ 15
 
Giáo xứ Cao Đằng tôi vừa mới đến giúp, là một giáo xứ sông rạch, bởi bao là sông, kênh, rạch, mương… lớn, nhỏ, ngoằn ngoèo và chằng chịt chia ngang xẻ dọc, cắt chia giáo xứ này ra thành từng mảnh gọi là các khu như khu Trong, khu Giữa, khu Ngoài… và thành các xóm như xóm Rạch Lươn, xóm Mương Trê... Một giáo xứ khá cổ với nhà thờ được xây dựng vào năm 1920, lối kiến trúc Đông Tây lai tạp, vừa nhỏ, vừa không bắt mắt. Tôi ước lượng, với nhà thờ có sức chứa khoảng năm trăm người như thế thì giáo xứ có quá lắm cũng chỉ hai ngàn giáo dân là cùng. Ngược lại, khuôn viên nhà thờ là một khu đất rộng mênh mông và rất đẹp; ba mặt được bao bởi các con kênh, con rạch rộng sáu, bảy mét ngang, sâu vài ba mét đứng, lúc nào nước cũng trong vắt lượn lờ chảy thông ra con sông Hậu Giang bao la hùng vĩ. Trong khuôn viên nhà thờ có nhiều cây cổ thụ lớn nhỏ. Nằm ở một góc khuất râm mát thật đẹp là ngôi nhà các nữ tu Chúa Quan Phòng; nghe nói ngôi nhà này thưở xưa là nhà xứ, nhưng vì nằm khá xa nhà thờ, không tiện mục vụ, nên cha sở đời trước đổi cho các nữ tu, để ra ở ngôi nhà hiện nay nằm gần trục đường qua lại của giáo dân. Kiến trúc của ngôi nhà xứ bất đắc dĩ này thật tệ! Tôi đoán do những người thợ vườn vừa vẽ kiểu vừa xây dựng.
Cha sở sử dụng tất cả tầng trệt, một mình tôi ở trọn hết tầng trên của ngôi nhà một trệt một lầu. Nhà bếp nằm sau vừa tách biệt hẳn nhà xứ với bà bếp lớn tuổi nóng nảy, đanh đá; phụ bếp là một cô gái mồ côi, lỡ thời, dáng nảy nở, hừng hực sức sống và tràn trề sinh lực, áo mặc lúc nào cũng như muốn nổ tung bung các nút ra… nhưng tính thì “tưng tửng”, nói năng thì ngang như “bò lật ách”; có cả một chú bé hơn mười tuổi gọi bà bếp bằng cô, hình như được nuôi chỉ để sai vặt. Tuy nhiên vì cha sở luôn vắng nhà, nên “nhà trên” –cách gọi của cánh nhà bếp khi nói về nhà xứ- vẫn cứ như “nhà hoang chết chủ”.
Tôi không thích lắm sự vắng vẻ, nhưng vì không còn cách nào hơn nên lập tức, tôi tập thích nghi với sự tịch liêu này bằng cách đọc cho thật nhiều sách để trau dồi kiến thức và luyện võ thuật để tăng cường sức khỏe; nhờ đó không bao lâu, tôi cảm thấy cuộc sống vui hơn. Đúng ra cha sở Cao Đằng có giao tôi vài việc nhẹ: dạy giáo lý hằng ngày cho tất cả các lớp tiểu học của nhà thờ vào mỗi buổi sáng -thời này giáo xứ nào cũng đều có trường tiểu học, giáo xứ lớn có cả trường trung học- ngài còn giao tôi nhiệm vụ sinh hoạt với hội Con Đức Mẹ với hơn bốn mươi chị và hội Thiếu nhi Thánh Thể hơn trăm hội viên.
Cuộc sống đang trôi yên ổn, bỗng một hôm đang tắm vào buổi chiều, tôi nghe có tiếng lạ ở đâu đó rất gần phòng tắm. Đó là tiếng giống như ai rên rỉ vì đau đớn, có lúc nghe như tiếng khóc nấc tức tưởi. Tôi kịp giữ bình tĩnh, đứng yên để lượng định. Nhưng khi tôi không cử động thì tiếng lạ ấy cũng ngưng. Tôi thử tiếp tục kỳ cọ thì tiếng rên lại tiếp diễn. Lần này lắng tai nghe cho thật kỹ, tôi nhận thấy không phải chỉ đơn thuần là tiếng rên, mà còn pha thêm tiếng những người thợ xẻ gỗ thời xưa đang kéo cưa cách nặng nhọc. Thật không thể nào định hình nổi cái gì làm ra thứ tiếng rất lạ ấy.
Tắm xong, tôi mặc quần áo vào rồi đi vòng vòng khắp bên ngoài phòng tắm ở những nơi tôi có thể đi được để rà soát, xem xét. Tôi hoàn toàn không tìm ra được manh mối nào có thể nghi là nơi phát ra tiếng lạ kia. Chung quanh vẫn vắng lặng, khó ai hoặc loài thú nào có thể lai vãng.
Tôi mau quên chuyện này chỉ sau vài giờ.
Hôm sau vào giờ tắm, sự việc lại tái diễn. Tôi cố gắng tìm mọi cách để hiểu cho ra tiếng lạ ấy. Tôi thủng thẳng tắm để nghiệm ngẫm thứ tiếng lạ kỳ ấy là gì, ở đâu… tôi cố lắng tai để định hướng xem tiếng ấy vọng đến từ hướng nào. Lạ thật! Cũng không sao đoán định được nơi xuất phát. Tắm rửa đã xong mà vẫn không hiểu thêm hơn hôm qua một chút nào.
Sau khi tắm, tôi lại xem xét xung quanh “hiện trường” vài lần nữa, vậy mà chẳng mảy may lộ diện một manh mối dù chỉ để nghi ngờ, bởi như đã nói, khu nhà xứ hoàn toàn tách biệt hẳn với nhà ở của giáo dân bên ngoài bằng ba mặt đều là những khúc kênh rạch rộng, còn lại mặt kia là nhà thờ luôn vắng vẻ, dù có trường học nhưng dãy trường tiểu học tọa lạc ở rất xa, đã vậy riêng nhà xứ thôi thì đã tách biệt hẳn với nhà bếp, người nhà bếp không ai dám bén mảng lên nhà xứ, nơi cửa to cửa nhỏ đều lạnh lùng đóng kín, khi chẳng có việc gì, đã vậy bốn bề bao quanh khu vực nhà xứ vắng lặng không có tiếng động nào lọt vào vì cách rất xa đường xe cơ giới qua lại, vì sông rạch không thông thương chẳng mấy khi có xuồng ghe qua lại.
Ba bốn hôm sau ngày nào cũng vậy, hễ tắm một lúc tôi lại tiếp tục nghe thứ tiếng lạ ấy phát ra. Vốn quen với những chuyện ly kỳ trước đây ở giáo xứ An Biên, linh tính lúc này cho tôi cảm giác sợ hãi.
Khốn nỗi, sự sợ hãi bị đẩy đến mức độ lớn dữ khi một số Huynh trưởng Thiếu nhi Thánh thể trong giờ giải lao giữa buổi sinh hoạt chúa nhật kế tiếp, vô tình hay hữu ý không biết, hỏi tôi:
- Từ ngày thầy về đây đến giờ có gặp ma chưa?
- Thầy có thấy gì chưa?
- Thầy có gặp gì lạ hôn?

Tôi còn đang ngơ ngác chưa hiểu các Huynh trưởng ấy hỏi với ý gì thì một Huynh trưởng nữ khác khúc khích cười và cảnh báo:
- Ở khu nhà thờ này nhiều ma lắm thầy ơi! Nếu thầy sợ ma thì không nên ở Cao Đằng này!
Một Huynh trưởng nam khác nghiêm nghị nói:
- Thầy thấy không! Giáo dân các họ đạo khác đi lễ sáng từ rất sớm, mới ba giờ rưỡi hoặc bốn giờ đã có người đến nhà thờ rồi!… Còn họ đạo này tuyệt nhiên không ai dám đến nhà thờ vào lúc đó. Thậm chí ngay cả đến lúc gà gáy sáng, đến lúc hừng đông ló dạng… còn chưa ai dám léo hánh tới nhà thờ…
Tôi bán tín bán nghi. Dù vậy không dám hỏi gì thêm; nghĩ bụng: gạn hỏi kỹ lưỡng thì kỳ quá đi! Tôi đành giả bộ không quan tâm những gì các Huynh trưởng ấy nói, nhưng khi họ ra về để tôi lại một mình, đến lúc ấy tôi cảm thấy chột dạ vì có ma hay không, chưa biết, nhưng hiện tượng lạ thì đã có.
Khi cha sở về, tôi kể lại cho ngài nghe và xin ý kiến. Cha sở tỏ ra rất ngạc nhiên, nhưng sau một buổi tìm hiểu, hỏi han người này người kia không kết quả, cha sở, người sôi nổi hoạt động và thích di chuyển, chẳng mấy chốc quên khuấy đi mọi việc và không còn hỏi han gì tôi nữa.
Suốt cả tuần tiếp theo không tìm ra manh mối về tính chất và nơi phát ra tiếng lạ, tôi sống trong sự nghi nan, thắc mắc và sợ hãi. Nhiều lần tôi nghĩ đến Ông Lực Lượng; nghĩ ông ấy luôn theo dõi tôi, có thể đang làm gì đó hại tôi… chưa chừng! Tôi gia tăng cầu nguyện, lần chuỗi, viếng Chúa, ngắm Đàng Thánh giá, Tôi không còn dám vô nhà tắm để tắm rửa và làm mọi việc cần thiết một cách tự nhiên nữa, mà là vội vã trong sợ sệt. Cũng nên nói thêm, chuyện tắm rửa ở đây có hơi nhiêu khê phức tạp, vì không điện, không nước, nên mỗi lần muốn tắm phải báo nhà bếp để bà bếp sai cô gái mồ côi-lỡ thời xách hai thùng nước lên, tức là không phải muốn tắm lúc nào cũng được.
Tôi còn sống thêm một tuần nữa trong căng thẳng dù đã tìm hết cách để làm sáng tỏ mọi chuyện xem ra không phải ngẫu nhiên này.
Tới ngày tôi được trở về An Biên theo định kỳ để thăm cha Luca, cha sở cũ. Gặp ngài tôi kể và hỏi cha về tiếng lạ ấy. Cha sở hỏi han thật rõ mọi chi tiết rồi ngài im lặng suy nghĩ, sau đó bảo tôi đừng sợ, cứ về để ngài sẽ giải quyết cho.
Trở về nhà xứ, dù mọi việc vẫn diễn ra như cũ, nhưng tôi hơi vững dạ vì một khi cha sở Luca hứa thì ngài nhất định sẽ can thiệp đến nới đến chốn.
Rồi một hôm tôi đang tắm cùng với tiếng rên rỉ-khóc lóc-kéo cưa như cũ, bỗng tôi giật nảy mình khi có tiếng quát to gọi giật ngược một cách nóng nảy của ai đó từ dưới nhà gọi vọng lên, giọng nữ to khỏe và chát chúa nghe dữ đến phát sợ:
  - Hoa! Hoa đâu rồi!... Con Hoa!...
Ở khu nhà xứ này Hoa là tên chỉ duy nhất của cô gái-mồ côi-lỡ thời. Càng giật thót khi tôi nghe một tiếng “Dạ” thật lớn phát ra từ địa điểm nào đó hình như quanh quẩn gần bên tôi, rồi tiếng chân từ trên lầu một hối hả chạy xuống. Lúc này tôi mới định thần để nghe rõ mồn một tiếng bà bếp quát:
- Mày làm gì trên đó? Hả? Mày làm gì trên đó?
Không có tiếng trả lời. Bà bếp quát:
- Mày làm gì mà áo vặn quần vo thế kia? Hả? Mày thành tinh rồi hả? Tao hỏi mày làm gì trên đó? Đồ yêu tinh nè…! Yêu tinh nè…!...
Tiếng roi quất tới tấp cùng với tiếng la mắng, tiếng khóc, tiếng van xin… xa dần nhỏ dần.., lòng tôi càng thêm nghi vấn. Tôi tự nhủ: Ở đây có lẽ có nhiều chuyện còn bí hiểm hơn ở An Biên nữa! Thật không hiểu nổi!
Sau đó tôi không còn nghe tiếng rên rỉ-khóc lóc-kéo cưa mỗi khi tắm rửa nữa. Tôi thấy có gì đó không bình thường, nhưng nghĩ chắc cha sở Luca làm gì đó giúp tôi, nên Ông Lực Lượng thôi không phá tôi nữa.
Cho đến khi gặp lại cha sở Luca lần tiếp theo, ngài hỏi tôi:
- Con có còn nghe thấy tiếng lạ nữa không?
Tôi thưa “đã hết” rồi kể lại mọi việc vừa xảy ra. Nghe xong suy nghĩ một lúc, cha sở lắc đầu nói với giọng cảm thán:
- Ôi thân phận con người! Ai cũng như ai, đều yếu đuối dưới sức nặng của đam mê!
<bài viết được chỉnh sửa lúc 20 giờ bởi Sun Ming >
#16
    Sun Ming 20 giờ (permalink)
    Kỳ 16
     
    Sau vụ tiếng lạ ở phòng tắm, tôi phải mất hai ba tuần mới ổn định được tâm lý. Tôi nghĩ, phái nữ vì là phái đẹp, phái yếu, họ rất mong manh, dễ tan dễ vỡ nên Chúa trang bị cho họ trí khôn “mẫn cảm”, linh cảm nhạy bén, trực giác chính xác, giác quan tinh tường… làm vũ khí tự vệ; còn phái nam ngược hẳn, vì đã có thể hình to khỏe cứng chắc với sức mạnh làm vũ khí, nên so với phụ nữ họ thô thiển hơn, chậm chạp hơn, cẩu thả lại hay quên sót… bằng tuổi nhau phái nữ đã khôn lanh hơn phái nam. Vậy giả sử ở vào trường hợp tôi, một cô gái sẽ nhanh chóng nhận định và đưa ra kết luận về bản chất sự việc. Vậy mà tôi ngu ngốc, lớ ngớ cho đến giờ vẫn chưa phân tỏ sự việc, chỉ lờ mớ đoán già đoán non. Các cha sở thời xưa rất kỹ tính, không dễ nói toạc ra mọi chuyện, do đó trong khi tôi cứ nhằm Ông Lực Lượng mà nghi hoặc thì cha sở Luca ở An Biên lại bảo không phải.

    Cha sở Cao Đằng đi vắng luôn, thường khi chỉ trở về vào mỗi chiều thứ bảy. Về đến nhà xứ, có khi rửa mặt xong cha lại cỡi xe Honda-dame đi ngay lên giáo họ cách đó bốn cây số để giải tội, dâng thánh lễ chúa nhật, giải quyết mục vụ rồi quay về giáo xứ ăn tối, chuẩn bị cho sáng chúa nhật dâng thánh lễ ở giáo xứ chính, chiều chúa nhật cử hành chầu phép lành, sáng thứ hai lại ra đi tiếp, để lại tôi một mình ở nhà lo liệu mọi việc.
    Trong những việc tôi được giao, có việc dạy giáo lý Tân tòng và giáo lý Hôn nhân. Tân tòng thì ít, nhưng Hôn nhân thì nhiều. Dù suốt thời kỳ tiểu chủng viện từ thưở mười hai đến nay đã hăm hai tuổi, được học giáo lý hầu như mỗi ngày, lúc này lại còn vừa học xong phân khoa Triết… nhưng khả năng am tường mọi “lẽ đạo” (1) thì chưa đến đâu, bởi vậy dạy giáo lý Tân tòng cứ một chiều trên nói dưới nghe thì được, nhưng để đối phó với những câu hỏi “dọc ngang” thì chết không kịp trối; cũng thế, dạy giáo lý Hôn nhân nói năng leo lẻo là thế, nhưng đụng phải những câu hỏi thuộc hàng “em biết hỏi ai” thì lớ ngớ như “học trò ăn vụng cá kho”.
    Cần phải nói rõ hơn, giáo xứ này là giáo xứ khá đặc biệt. Thật vậy! Phải sau một thời gian tôi mới biết rằng, nếu từ ngoài nhìn vào ai cũng tưởng trình độ giáo dân chỉ ở mức trung bình vùng quê, nhưng ngờ đâu! Không phải vậy! Giáo xứ ẩn chứa bên trong nhiều người có kiến thức lẫn tri thức nhưng khiêm tốn; nhiều bậc thức giả về tôn giáo, nhiều người có đầu óc tiến bộ về mọi mặt nhưng kín đáo; đặc biệt vùng này nhiều tôn giáo như Công giáo, Tin Lành giáo, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Bà-la-môn giáo, Bà Hai giáo, đạo Ông Bà… sống chung thuận thảo hòa ái.
    Trước tiên xin kể việc tôi dạy giáo lý Tân tòng.
    Khi Ban Quý chức dẫn người nào đó đến cha sở xin vào đạo, cha sở vui mừng nhận ngay sau một vài câu hỏi về nguồn gốc và thân thế; cha sở gọi tôi và giao tôi dạy với vài lời dặn dò đại loại như: “Người này vô đạo để có chồng đạo”, “Anh này vào đạo để lấy vợ đạo”, “Bác này vô đạo vì mộ đạo”, “người này vốn đạo Ông Bà”, “người này đang đạo Phật giáo Hòa Hảo”, “ông A đây cao tuổi, học ít thôi!”, “cô B cần học ba tháng” v.v… Tôi xếp thời khóa biểu học cho từng người.
    Điều đặc biệt, cha sở không bao giờ cho phép tôi dạy nhiều người học chung một lớp, cha thường nhắc đi nhắc lại câu: “Dạy giáo lý là dạy tâm tính!”. Sau này tôi mới thấy quả đúng vậy thật! Đức tin là tâm tính mới của người gia nhập đạo Công giáo. Cũng vì thế, từng người một, ai học xong sẽ được lãnh bí tích Thanh tẩy vào đúng ngày chúa nhật. Tân tín hữu thường mời cha sở và tôi dự một bữa tiệc nhỏ hay một bữa cơm gia đình sau đó, nhưng cha sở cũng lại giao tôi đi đại diện. Giáo dân thấy thế gọi đùa tôi là “cha phó”. Đã không ngăn, cha sở lại còn đùa theo “Ừ! Cha phó nhỏ của tôi đó! Rán mà giữ, mất đền không nổi đâu đấy!”.
    Nhưng cha sở đâu ngờ chính những bữa ăn đó lại là nỗi ngại sợ của tôi trong toàn bộ công việc dạy giáo lý. Rất nhiều lần tôi nuốt không trôi vì trong lúc ăn với nhiều thành phần thuộc các tôn giáo khác cùng dự tiệc, có những lão ông râu tóc bạc phơ, có những người ăn vận như những anh hùng áo vải kháng chiến chống Pháp thời Đề Thám, Phan Đình Phùng, có những người tóc dài chấm vai, gương mặt trắng xanh lúc nào cũng nghiêm nghị… họ đặt cho tôi những câu hỏi về “lẽ đạo” rất hiểm hóc làm tôi mắc cở đến tái người vì không sao giải đáp nổi, lúc ấy vì bí tịt, mặt tôi có lẽ thộn ra trông buồn cười lắm! Lại còn thế này nữa! Chính thái độ rộng lượng và tử tế của họ lại càng làm tôi như muốn chui xuống đất mà trốn. Còn nhớ trong bữa tiệc kia chừng vài mươi người, một ông tóc đen búi sau gáy, áo dài đen, thuộc Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương hỏi tôi:
    - Đạo nào cũng tốt nhưng tại sao phải theo đạo Công giáo?
    Tôi ấp úng một lúc rồi trả lời quanh co chi đó bây giờ tôi không còn nhớ mình nói gì nữa, chỉ nghe một tiếng cười rần rồi im bặt. Một ông lão mặc áo bà ba vải satanh trắng trách móc mọi người:
    - Các người mời ông thầy về đây để chung vui hay để bắt bí người ta?

    Lần khác trong một bữa tiệc, một ông lão có vẻ người đọc nhiều sách, hỏi tôi sau khi đã rào trước đón sau năm lần bảy lượt:
    - Bẩm thầy! Phúc âm ghi “các con tha tội ai, nấy được tha…” tôi trộm hỏi, tại sao phạm lỗi với người này mà người khác tha, nếu tôi xúc phạm người hàng xóm, tôi đến với linh mục là được tha… như vậy có trớ trêu quái đản lắm không, hay ta đã hiểu sai lời Chúa nói… ? Thưa thầy!
    Mồ hôi đẫm ướt hết lưng áo, tôi khó nhọc lắm mới nói xong lời xin lỗi rồi xin khất, để về hỏi cha sở và sẽ tìm đến tận nhà ông cụ mà trả lời sau.

    Một lần khác, trong bữa tiệc có nhiều bàn ăn, bàn bên cạnh ồn ào luận lẽ, sau đó cử đại diện sang nhờ tôi giải đáp cho họ câu hỏi:
    - Nếu Chúa nhân từ hẳn đã tha cho phẩm thiên thần Lucifer đã phản nghịch cùng Chúa, để họ không trở thành quỷ? Hoặc giả bây giờ Chúa tha cũng còn kịp mà?
    Tôi còn chưa kịp hoàn hồn thì bàn bên trái có người đứng lên hỏi:
    - Thưa… thầy học rộng hiểu cao, nghe cha sở nói đã qua phi-lô (2), vậy xin thầy giảng nghĩa đôi chút về tội nguyên tổ: Rằng nếu Chúa là Đấng công minh, nhân ái và đặc biệt… chính Người là Tình yêu, sao Người còn chấp chi thứ tội cỏn con như “ăn trái cấm” của Ông Bà Nguyên Tổ, lại chấp chi mà chấp cho đến nay trên hàng triệu triệu thế hệ con cháu, tất cả đều là những kẻ không hề biết ất giáp gì… vả lại thứ tội ấy đâu trọng nặng bằng bao nhiêu thứ tội ngày nay chúng ta có thể biết… ?
    Như được đà, lần lượt hết bàn này đến bàn khác trong nhà đám đều có người nêu câu hỏi, đại loại câu nào cũng nặng đến hàng tấn, đè tôi đến bẹp dí:
    - Mọi thứ tội sau khi “nhúng vào” phép Giải tội đều sạch tuyệt đối, vì thế người Công giáo tha hồ phạm tội và phạm tội nhiều hơn người lương, đúng không? Vì họ đã có phép thần thông, cây đũa thần, nước phép hồ lô… mà người lương không có…?
    - Câu truyền phép khác câu thần chú chỗ nào?
    - Tại sao người Công giáo đi lễ hoài vẫn trơ ra không hề biến đổi tốt hơn?

    Còn nữa và còn nữa. Phải nói tôi “từ chết đến bị thương”; tôi chết chìm trong bao là thắc mắc của mọi người. Tuy nhiên tôi có cảm giác không ai có ác ý, tất cả họ chỉ có ước muốn tìm hiểu thêm về giáo lý, ngặt nỗi xưa nay cha sở ở quá xa họ, bây giờ họ đạo lần đầu tiên có tôi là thầy giúp xứ, đi đến với họ và thường xuyên gần gũi họ hơn, họ muốn giải bày để được hiểu biết thêm mà thôi. Uổng cho tôi! Quá non nớt nên bất lực mà còn gặp đúng ngay giáo xứ quá đam mê “lẽ đạo”. Ban đầu tôi ngượng ngùng, xấu hổ, mặc cảm đến sợ sệt việc đi dự các bữa tiệc vì vâng lời cha sở, thêm vào, chẳng bao giờ tôi kêu gào mà được các ông Quý Chức chịu đoái hoài để đi cùng… May! Trong tôi còn chút bản tính gan liều nên lần nào cũng bấm bụng đi ăn tiệc mà như đi vào trận mặc với tâm lý “thua là cái chắc!”.
    Một hôm khi tôi đang bị vây khốn tứ bề, mặt mày có lẽ xanh như tàu lá chuối, mồ hôi mẹ mồ hôi con tuôn rơi lã chã… bỗng một ông già dáng hiền từ đáng kính, đến đứng sau lưng vỗ vai tôi nhè nhẹ bảo:
    - Ông thầy ơi! Ông thầy đừng sợ! Ông thầy không cần phải trả lời hết mọi câu hỏi của họ đâu! Không ai buộc thầy! Vì kiến thức nằm trong các câu hỏi chứ không hẳn lúc nào cũng nằm trong các câu trả lời…
    Lẽ thường, giáo xứ nào và lúc nào cũng có một số giáo dân chống đối cha sở. Nếu nghĩ có một giáo xứ nào nơi đó giáo dân tất thảy đều răm rắp một lòng tùng phục cha xứ thì ý nghĩ đó là không thực, vì trong bất kỳ một tập thể nào, sự phát sinh nhóm người chống đối luôn nằm trong quy trình phát triển tự nhiên, nhờ đó, mọi sinh hoạt tâm lý lẫn thể lý của tập thể trở nên quân bình, khiến không gì có thể đi đến chỗ hoặc thái quá, hoặc bất cập. Cho nên có thể có những người chống đối cha sở nằm trong số những người chất vấn tôi, nhưng trong trí óc non nớt của tôi lúc đó, tôi nghĩ cha sở cần biết hết những suy nghĩ của giáo dân thì hay biết mấy!
    Một hôm dự tiệc của một tân tín hữu ở xa nhà thờ phía bên kia cánh đồng nhỏ khoản đãi. Bữa tiệc tổ chức vào lúc trưa kéo dài đến gần chiều. Có tất cả ba bàn ăn, hai bàn đàn ông và một bàn phụ nữ với hơn ba mươi thực khách. Sau gần một giờ, số thực khách phụ nữ rút lui để lại hai bàn ăn của đàn ông. Họ vừa uống rượu vừa bàn luận việc đời, việc đạo. Riêng việc đạo, ban đầu người ta xoay quanh chuyện cha sở, dần đi đến những việc thuộc lãnh vực giáo lý rồi giáo luật. Tôi nhận xét thấy hơn hai mươi người còn ngồi lại thuộc nhiều thành phần, phần đông là giáo dân, một số người còn lại thuộc các tôn giáo khác, đa số có học thức trình độ từ tú tài, trung học… trở xuống, cũng có những người có vẻ nông dân đặc sệt.
    Sau khi nói chán chê về những tật xấu của cha sở cách tự nhiên không dè chừng sự có mặt của tôi, họ bắt đầu cãi nhau về bác ái của Công giáo khác với từ bi của Phật giáo, tội và căn tội theo quan niệm của hai bên, ăn chay theo quan niệm mỗi bên, thiên đàng và niết bàn, tu hành của các đạo, tương lai của con người sau khi chết và cuối cùng không tránh khỏi so sánh Chúa và Phật.
    Bỗng tôi bị một Phật tử ăn mặc theo lối cư sĩ (3) chất vấn:
    - Tại sao tu sĩ Phật giáo “xuống tóc” còn tu sĩ Công giáo vẫn để tóc?
    Tôi trả lời:
    - Vì bên Phật giáo tu là bỏ và lánh xa đời, còn chúng tôi tu là đi với đời.
    Vị cư sĩ Phật giáo kia hỏi:
    - Nhưng điều gì để người ta nhận ra các tu sĩ Công giáo thật sự đang tu? Vì độc thân là điều ai cũng có thể kiểm soát, nhưng chế ngự “tình riêng” ai mà kiểm soát được? (NV: xin chỉ ghi lại đại ý)
    Khi tôi còn chưa biết trả lời ra sao thì một người đàn ông cao tuổi giúp trả lời thay:
    - Chính vì vượt ra sự kiểm soát, nên tiết chế phải là một quyết định có tính tự nguyện hoàn toàn và mạnh mẽ. Sự tiết chế vì thế sẽ có giá trị hơn!
    Vị cư sĩ Phật giáo kia chưa chịu:
    - Đó vẫn còn trên lý thuyết, đạo là lý thuyết chuyển thành thực sống dù bất cứ trong phạm vi nào. Nếu vẫn còn lý thuyết sao gọi được là đạo? Có người còn nói nhìn mấy ông cha bên ngoài ăn mặc chải chuốt, bảnh bao, nhà lầu xe hơi sang trọng hơn người, làm sao chắc được bên trong có tiết chế?
    Tôi cũng không thể trả lời, để mặc những giáo dân trong hai bàn ăn xoay trở giúp. Họ cũng đưa ra nhiều câu trả lời, nhưng một lúc sau có một người đàn ông trung niên giải đáp khá rành rọt:
    - Tu là chính, đã có chí tu thì y phục, phong cách chỉ là phụ thuộc, vì có câu “chiếc áo không làm nên thầy tu”.
    Xem ra vị cư sĩ Phật giáo kia không hài lòng cho lắm, nhưng thay vì đối chất thì ông vừa cười nụ vừa lầm bầm với những người ngồi cùng bàn “nhưng không tu, ai mặc áo làm gì!”.
    Từ câu trả lời trên tôi học thêm một điều: có hai cách tu, một là tu bên trong, hai là tu bên ngoài. Người Biệt phái có nhiều lần trách Chúa sao không tu bên ngoài.

    Tất cả các câu chất vấn đều được tôi ghi nhớ và đem về trình cha sở khi ngài về. Có câu cha giải đáp được, có câu cha lúng túng một lúc. Nhưng có một câu chất vấn gay gắt nhất tôi không dám trình ngài, câu này do một người ngồi cạnh trong một lần ăn bữa tiệc lớn, khi mọi người đặt câu hỏi rồi ồn ào bàn luận, người đó hỏi nhỏ vào tai tôi. Tôi cố tìm gặp lại người đó, nhưng dò la hỏi han cặn kẽ thì không ai đoán ra được. Khi đặt câu hỏi cho tôi xong, người lạ đó bảo không cần trả lời ngay, có thể sau này khi nào làm linh mục xong, trả lời cũng được.
    Tôi sẽ đọc câu chất vấn ấy ra vào lúc nào câu chuyện tôi kể đến chỗ cần phải nêu.
     
     
    (1) “lẽ đạo”: từ ngữ nhà đạo xưa, nghĩa là tất cả những gì thuộc về đạo Công giáo.
    (2) “phi-lô”: nói tắt của chữ philosophie: triết học.
    (3) cư sĩ: người tu tại gia.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 20 giờ bởi Sun Ming >
    #17
      Sun Ming 19 giờ (permalink)
      Kỳ 17
       
      Lần thứ ba về thăm lại cha sở Luca ở An Biên, cha kể tiếp:
      - Ông Lực lượng đã làm một vụ “kinh thiên động địa” tại giáo xứ này vào lúc đó. Trong những ngày ở tại An Biên, thầy đã có nghe giáo dân kể lại rồi chưa và thầy thấy sao không biết, chứ chuyện này không làm tôi quên một chi tiết nào. Đó là xúi giục một người đàn ông bỗng dưng đòi phong thánh.
      Tôi thưa ngay:
      - Thưa cha người đó là ông Tư Đúng, phải không ạ?
      Cha sở gật đầu xác nhận xong, hỏi tôi có nghe người nào đó kể lại rõ ràng chưa. Tôi thưa nghe nhiều người kể, nhưng mỗi người kể một nẻo, mỗi chuyện theo một phách, làm tôi không còn muốn nghe nữa và không lưu giữ chi trong đầu. Cha sở bắt đầu kể:
      Đó là vụ mà qua nó, tôi học hỏi và rút tỉa cho mình rất nhiều bài học và kinh nghiệm. Tưởng cũng nên chia sẻ cho thầy, để rút bớt thời gian tôi luyện trong đường tu.
      Ông Tư Đúng là một giáo dân khoảng trên bốn mươi tuổi, bị phong hủi, nhờ uống thuốc của cha Tê-phan dòng Phanxicô, bệnh không tiếp tục phát triển, nhưng cũng để lại những di chứng trên thân thể. Không vợ con, rất nguội lạnh chuyện giữ đạo, chuyên bán vé số bằng xe đạp khắp cù lao này từ An Biên qua kênh Hội Đồng, Thuận Hảo, Tấn Hòa và Tấn Quý. Bỗng một hôm nào đó, ông bỗng quay ngoắt một trăm tám mươi độ trở lại với nhà thờ. Sáng lễ chiều chầu phép lành, sau phép lành còn đọc kinh nhiều Đài Đức Mẹ ở nhà thờ lẫn trong xóm. Một thời gian sau ông còn gia nhập nhóm Môi-sen -những người già luân phiên chầu Thánh Thể hai mươi bốn giờ mỗi ngày-, còn ở Legio ư? Cũng có mặt ông luôn. Giờ phụng vụ nào của nhà thờ đều không vắng ông: ông đến sớm, mở cửa sổ, đốt đèn, phụ ông Từ Nhà thờ đủ việc, sau ba hồi chuông ông đọc kinh sang sảng với mọi người, dần dà các ông Ban Quý chức vui lòng nhường cho ông xướng kinh sáng chiều ngày thường chỉ trừ chúa nhật… Nói chung bỗng dưng do một động cơ nào đó ông bỗng trở thành một tín hữu hết sức sốt sắng và vô cùng nhiệt thành. Lạ mãi hóa quen, giáo xứ bỗng gọi ông là “ông thánh Đúng”.
      Một hôm ông đến gặp tôi thưa:
      - Con có một sứ điệp của Chúa gửi đến cha.
      Tôi hỏi:
      - Sao Chúa không bày tỏ thánh ý Người trực tiếp cho tôi mà lại nói qua ông?
      Ông Tư Đúng trả lời:
      - Vì cha là người tội lỗi, nên Chúa không nói trực tiếp cho cha.
      Tôi ngập ngừng giây lát rồi gật đầu chấp nhận mình là người tội lỗi, liền hỏi thêm:
      - Sứ điệp ấy thế nào?
      Ông Tư Đúng lấy trong túi ra một tờ giấy vàng nhạt, hơi nhàu nát, nhỏ bằng bàn tay, bảo tôi quỳ xuống để đón nhận sứ điệp -lúc đó ông vẫn đứng giữa phòng tôi như từ khi mới bước vào-. 
      Tôi bối rối vì nghĩ mưu kế này của ông cũng khá hiểm, là con dao hai lưỡi: nếu tôi không quỳ, có nghĩa là tôi không muốn nghe Lời Chúa, nếu tôi quỳ, tôi trở thành một diễn viên trong vở kịch của ông. Tôi đưa ra đề nghị vừa tránh phải nghe lời ông, vừa để “dục hoãn cầu mưu”:
      - Người có chức thánh chỉ quỳ trước người có chức thánh. Việc này khó quá! Thôi thì ông tóm ý Chúa nói gì, không cần đọc nguyên văn!
      Giằng co mãi cuối cùng ông Tư Đúng phải chịu. Ông tóm ý:
      - Chúa muốn cha phải phong thánh cho tôi.
      Tôi ngỡ ngàng đến giật thót cả người. Nhưng rồi tôi cố trấn tĩnh, cố kiên nhẫn để tìm cách đưa ông ra về sao cho êm thắm. Tôi tỏ vẻ tiếc rẻ:
      - Chậc! Không có vị thánh nào được phong khi còn sống. Được! Tôi sẽ xin đức giám mục đệ trình tòa thánh sau khi ông chết.
      Ông Tư Đúng không bối rối như tôi tưởng, nhưng nhăn mặt tỏ vẻ khó chịu vì tôi quá bảo thủ:
      - Cha cứ cho tôi là người đầu tiên được phong thánh khi còn đang sống đi!
      - Chậc! Chậc! Chậc!... Tôi đồng ý! Nhưng vị thánh nào cũng phải có vài phép lạ “bỏ túi”. Ông đã có mấy phép lạ và đó là những phép lạ gì?
      Tới đây những tưởng ông sẽ rút lui. Nhưng không! Ông Tư Đúng sừng sỏ hơn tôi tưởng:
      - Chuyện đó có gì là khó! Một là tôi tự chữa mình hết hẳn phong cùi. Hai là tôi từng là người môi giới mại dâm bỗng bỏ ngang và trở nên người thánh thiện. Ba là làm phép ly nước lã trở nên thuốc chữa bệnh cho không biết bao nhiêu người. Không phải một, hai, ba… mà là hàng chục phép lạ.
      Nghe ông nói, tự dưng tôi nghĩ ông bà mình nói đúng: “Một người nói ngang ba làng cãi không lại”. Tôi tự nhủ phải thật kiên nhẫn và bình tĩnh với người giở chứng này. Đây là một việc mà các cha sở phải quan tâm giải quyết chứ không nóng nảy xua đuổi người ta đi cho xong chuyện. Tôi giải thích:
      - Theo ông Tư, mọi điều kiện để được phong thánh coi như đã đủ, phải vậy không?
      Ông Tư Đúng gật đầu đồng ý cái rụp. Tôi nói tiếp:
      - Việc này phải có chữ ký của một số đông giáo dân đồng thanh xin phong thánh cho ông Tư.
      Tôi nhận ra mình đã lầm đánh giá thấp người giáo dân này của tôi khi ông lập tức móc trong túi ra tờ giấy to gần bằng chiếc bàn giấy của tôi, trong đó chi chít có lẽ đến cả vài trăm chữ ký, dấu gạch thập, dấu lăn tay, đã thế còn kèm theo họ tên người ký v.v…. Tôi càng choáng váng hơn khi thấy tên của một hay hai ông Biện trong Ban Quý chức.
      Lạy Chúa! Tới nước này tôi phải bước hẳn vào một chiến thuật nghiêm túc. Tôi yêu cầu:
      - Đông người là thế! Nhưng tôi thì chưa thuận tin. Ông Tư làm gì đó cho tôi tin xem!
      Nói có Chúa! Ông Tư Đúng không ngần ngại cầm lấy cây thước sắt vuông trên bàn giấy, bỗng cây thước sắt hóa nên mềm nhũn, ông quấn cây thước vào ngón tay cái của mình như ta cuốn một sợi dây. Tôi thấy ngay đây là chuyện có liên quan đến ông Lực lượng chứ không phải chuyện đùa. Tôi hoàn hồn trong tích tắc và giữ vững tinh thần:
      - Được! Tôi sẽ cho ông Biện Việc (1) thu thập đủ mọi chứng cớ, rồi trình lên đức giám mục.
      Tỏ vẻ hơi do dự chút ít, ông Tư Đúng cũng hài lòng và gật đầu nói:
      - Phải mau lên! Vì thời gian không còn nhiều.
      Nói xong ông ra về.
      Cha sở đứng lên lại bàn nước uống một ngụm nước rồi ngồi xuống kể tiếp:
      Tôi triệu tập Ban Quý chức ngay tối hôm đó. Tôi vỡ lẽ. Thì ra đã từ lâu có quá nhiều người chạy theo ông Tư Đúng. Tôi càng sửng sốt khi đếm được gần nửa số các ông trong Ban Quý chức bênh vực ông Tư Đúng. Tôi phải mất non một giờ để làm cho họ đồng nhất trở lại, rồi mới bàn tiếp giải pháp xử sự. Chỉ vì không đi thăm họ đạo, không theo dõi sát sao họ đạo, không quan tâm sức khỏe của họ đạo dù chỉ một thời gian ngắn, tôi đã buông họ đạo rơi vào cơn khủng hoảng đức tin nặng không thể tả.
      Sau khi bàn luận xong xuôi, thống nhất ý kiến và quyết tâm với đường hướng và kế hoạch mới, các ông ra về, tôi cầu nguyện và ăn chay, vì tôi tin ông Lực lượng chủ mưu việc này. Những lúc thế này ông Lực lượng không đi xưng tội nữa, vì nếu vậy thì sự đối thoại sẽ làm vấn đề rõ ra.
      Không cần tôi cho mời, ông Tư Đúng lại đến xin biết kết quả. Tôi nói:
      - Muốn được phong thánh, ông Tư phải xưng tội mỗi ba ngày một lần, rước lễ mỗi ngày, chầu Thánh Thể mỗi ngày mười hai giờ, học thuộc và đọc lớn tiếng một trăm lần mỗi ngày câu Phúc âm Gioan đoạn mười bốn câu sáu: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, không ai đến được với CHA mà không qua Thầy”…
      Vừa nói tôi vừa đưa mảnh giấy ghi như ghi thực đơn những việc vừa kể. Ông Tư Đúng cười khảy:
      - Nhằm nhò gì ba chuyện lẻ tẻ đó!
      Thấy tôi còn chưa tin, còn có vẻ “người phàm xác thịt” ông “bật mí”:
      - Cha biết tôi sống bằng gì hai năm qua mà không cần đi bán vé số hay làm lụng nuôi tôi và hai ông bà già (2)… không?
      Tôi chưa kịp trả lời, ông nói:
      - Tự nhiên có người cho tiền, cho mượn tiền, trả tiền, gửi cất giữ giùm tiền, bỏ quên tiền… liên tục. Chúa nuôi tôi đó! Và đó cũng là một phép lạ lớn lao rùng rợn nữa!
      Đợi cho ông nói xong, tôi nói tiếp:
      - Và một điều kiện này để được phong thánh: Đó là từ hôm nay trở đi, ông Tư ngưng hết mọi việc xướng kinh, hoặc đọc thưa kinh to tiếng trong nhà thờ, trước và sau mỗi thánh lễ hoặc chầu phép lành, hãy quỳ gối trước cửa nhà thờ nơi mọi người ra vô, ông Tư đeo trên cổ một tấm bảng nhỏ có ghi: “Tôi là kẻ có tội” như vua thánh Theodorio (Tê-ô-đô-ri-ô) ngày xưa từng quỳ gối trước cửa nhà thờ chính tòa của thánh giám mục Ambrosio (Am-brô-si-ô).
      Khi vừa nghe đến đây, ông Tư Đúng “nhảy dựng” lên, mắt long lên, miệng hoác ra, quơ tay chỉ trỏ:
      - Ê! Đâu có được! Tôi là thánh mà sao phải quỳ gối? Làm sao xưng mình là kẻ có tội?
      Tôi bình tĩnh trả lời:
      - Không vị thánh nào là không nhận mình “Tôi là kẻ có tội”. Nếu ông Tư làm đủ và đúng những điều trên, tôi lập tức chuyển hồ sơ phong thánh ông Tư sang tòa giám mục và đề nghị tòa giám mục chuyển về Rôma xin đức giáo tông, vì phong thánh thuộc thẩm quyền của đức giáo tông (3) bên tòa thánh Vatican.
      Ông Tư Đúng bắt đầu chỉ trích tôi, ông cho tôi là người chống lệnh Chúa và cuối cùng ông cho tôi là người của Satan và là người “giáo hội lầm”… rồi nóng nảy bực tức ra về. Ra đường ông còn la to hơn. Nghe nói ông la mắng tôi từ đầu trên xóm dưới bằng bao lời tục tĩu bẩn thỉu.
      Những tháng ngày tiếp theo, tôi không sống yên. Nào là thư nặc danh, nào là truyền đơn rơi vãi khắp nơi “cha sở ăn nằm với bà bếp”, nào là xúi người biểu tình chống đối tôi, giữa đêm ném đá vào phòng tôi, thư tới tấp gửi về tòa giám mục yêu cầu thuyên chuyển tôi đi nơi khác… Ôi thôi! Đủ thứ trò chơi xấu tôi phải lãnh chịu không thể kể xiết.
      Cha sở bảo tôi ăn cơm trưa với ngài rồi hãy về. Trong bữa ăn ngài tóm tắt:
      - Ma quỷ thường gây xáo trộn, hỗn loạn, bùng nhùng và mông muội, rối tinh lên… để tạo sự lầm lẫn rồi thu hoạch những tâm hồn hoang mang, yếu đuối…
      Nhưng tôi nhớ và tâm đắc nhất câu cha dạy:
      - Vẻ bề ngoài “người của ma quỷ” không khác “người của Chúa Thánh Thần”. Dùng đức Khiêm nhường làm thuốc thử sẽ phân biệt được ngay. 
       
       
      1) Biện Việc là chức danh do các Cố Tây đặt ra cho một người trong Ban Quý chức lo việc văn phòng và kế toán của giáo xứ.
      2) Cách gọi kính cẩn ám chỉ cha và mẹ ruột mình khi nói chuyện với người khác.
      3) Ngày xưa gọi đức giáo hoàng bằng: đức giáo tông, đức thánh Phapha…
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 6 giờ bởi Sun Ming >
      #18
        Sun Ming 1 giờ (permalink)
        Truyện càng về sau càng nảy sinh nhiều tình tiết đa dạng, mới mẻ, mong sẽ được nhiều bạn đọc đón xem. 

        Hiện giờ truyện vẫn được tiếp tục đăng dài kỳ trên Nguyệt san Thánh nhạc Ngày nay. Để theo dõi truyện liên tục và mau chóng, bạn đọc sống tại VN nên đặt mua Nguyệt san này, xem như 1 cách khuyến khích tác giả. Dùng Google sẽ tìm ra phương cách liên hệ.

         
        Kỳ 18
         
         Ngoài việc dạy giáo lý tân tòng, tôi còn dạy giáo lý hôn nhân như đã nói trước đây.
        Có lần tôi hỏi cha sở sao không nhờ những ông Biện ông Giáp hoặc những người lớn tuổi đáng kính trong họ đạo dạy giáo lý hôn nhân, cha sở trả lời rằng vì giáo dân đặt tin tưởng vào giáo sĩ hay tu sĩ hơn, đã có lần trao việc đó cho các ông Biện cao tuổi, nhưng cách dạy của các ông không có sư phạm, nên cha không giao nữa, mà chính cha trực tiếp dạy.
        Tôi chia việc dạy giáo lý hôn nhân thành hai phần, một là phần giáo lý về bí tích hôn phối, hai là phần đời sống gia đình. Về bí tích hôn phối tôi không rành bao nhiêu vì chưa học thần học, về đời sống gia đình tôi cũng không am hiểu, nên cũng rất ấp úng. Nhưng vì cha sở đã giao, nên tôi phải tự rèn luyện mình cho có kiến thức tối thiểu để dạy. Tôi đi tìm sách vở nơi các nhà sách và tự nghiên cứu.
        Tôi lại chia phần giáo lý làm hai phần: phần một ý nghĩa, mục đích, tôn chỉ, đường hướng hôn nhân; phần hai cách sống đời tín hữu trong hôn nhân công giáo.
        Tôi cũng lại chia phần đời sống hôn nhân làm hai phần: phần một lý thuyết phần hai thực tế.
        Nói chung, tôi dạy cũng tạm được, tức cũng có cái để nói, nhưng ngẫm lại, chỉ toàn là kiến thức từ sách vở chứ chưa có kiến thức từ kinh nghiệm. Vì vậy một hôm, có đôi nam nữ kia hỏi tôi:
        - Thưa thầy! Làm sao để được hạnh phúc trong chăn gối lẫn trong đời thường?
        Theo đánh giá lúc đó, tôi thấy họ hỏi thật lòng chứ không có ý bắt bí. Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
        - Dù ở đâu, quý anh chị cần quan tâm và hy sinh cho nhau.
        Cũng may là câu trả lời như vậy càng về sau này tôi càng thấy tuy không chu đáo nhưng không sai.
        Tuy nhiên chuyện dạy giáo lý hôn nhân không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Có một đôi nam nữ sau khi học xong làm đám cưới. Sau đám cưới vài ngày nổ ra chuyện lớn, cô dâu bỗng dưng bỏ chồng để trở về lại nhà cha mẹ vì xích mích to với chồng; chuyện ngày càng nổ ra lớn. Ban đầu chỉ trong phạm vi hai vợ chồng, dần dần đến hai gia đình, rồi đến hai dòng họ vì đôi bên đều là những gia đình thuộc giới “danh gia vọng tộc” trong họ đạo.
        Chuyện cãi vã nhanh chóng biến thành bạo động rồi thù hận… Ban Quý chức nhiệt thành can thiệp nhưng không giải quyết được. Người ta đưa nhau đến cha sở vào mỗi chúa nhật, nhưng vẫn không tốt hơn. Cha sở bàn bạc với ban Quý chức và sau đó giao tôi thử gọi đôi vợ chồng đến để hỏi han cho ra lẽ.
        Tôi suy tới tính lui liền gọi cô dâu trước. Khi cô dâu đến, tôi hỏi:
        - Tại sao em bỏ chồng?
        Cô dâu trả lời dễ dàng đến không ngờ:
        - Thưa thầy! Em lấy lầm phải một “con trâu điên”.
        - Trời! Sao em nói vậy?
        - Thưa thầy! Đêm động phòng thôi mà “nó” hành hạ em đến bảy lần. Phải đi nhà thương thầy ơi!
        Tôi ngây ngô:
        - Tại sao hành hạ? Hành hạ là làm sao? Và hành hạ gì… mà đến bảy lần lại còn phải đi nhà thương?
        Tức giận nên xổ ra một tràng, sực tỉnh, cô dâu đỏ mặt. Lúc đó tôi cũng vừa hiểu ra, liền nhỏ nhẹ hỏi:
        - Hậu quả như vậy nên phải to chuyện đến không nhìn mặt nhau nữa?
        Cô dâu trả lời:
        - “Nó” còn bảo nó có quyền làm gì thì làm… ! Em thấy không thể sống nổi với loài súc vật ấy được!
        Tôi hỏi:
        - Nếu “nó” không làm như thế nữa, em có trở lại với “nó” không để thầy biết mà khuyên “nó”? Cũng nên có ai khuyên giải chứ! Chừng nào “nó” không nghe mới tính tiếp…!
        Cô dâu ấp úng lâu lắm. Khóc. Suy nghĩ đắn đo một lúc lâu mới thẫn thờ trả lời:
        - … Dù sao em cũng một đời chồng! Cũng khổ tâm lắm thầy ơi!...
        Tôi lờ mờ hiểu ở thôn quê nước ta, phận nhi nữ nhiều nỗi oan khiên như câu tục ngữ phong dao xưa:
        Trai chê vợ, mất của tay không
        Gái chê chồng, một đồng đền bốn …
        Tôi đợi cho cha sở về vào chúa nhật kế tiếp, kể tự sự cho ngài nghe, ngài “Ồ” lên một tiếng như đã thấy được manh mối. Nghe lời cha chỉ dẫn mọi lẽ, vài hôm sau tôi gọi chàng rể đến. Chú rể đến với tâm trạng bực dọc và trả lời tôi bằng những câu nhát gừng.
        Nhưng khi nghe tôi giải thích những khó khăn của phụ nữ trong việc chăn gối, quan niệm của họ về tính giao, sự thụ động của họ trong tính giao, sự ham thích không đồng đều của đôi bên, nhất là cơ quan tế nhị của họ là nhạy cảm, mỏng manh và dễ bị tổn thương v.v… những điều mà khi dạy giáo lý hôn nhân vì ngại miệng tôi không nói.
        Tôi phải dùng tình cảm thầy trò, phải kiên nhẫn, mềm mỏng, khéo léo và phải mất đến đôi ba ngày tôi mới thuyết phục nổi chú rể, nhờ cho chú rể xem thêm sách, xem thêm tranh minh họa, chú rể dần dần hiểu ra và bắt đầu đổi lòng từ giận ghét ra thương cảm vợ.
        Tôi rất mừng khi chú rể đồng ý gặp vợ có sự chứng kiến của tôi. Tôi hẹn một ngày hai người gặp nhau để giải hòa. Trong cuộc giải hòa anh chồng trẻ nhận lỗi là mình không biết, hứa sẽ không tái phạm nữa v.v… Hai anh chị nắm tay nhau. Tiếp theo sau đó là gia đình đôi bên dần hòa thuận lại và đôi vợ chồng tái xum họp.
        Sau “trận” đó, tôi mắc cỡ và cảm thấy mình có lỗi. Đó là lỗi không biết gì về hôn nhân mà dạy giáo lý hôn nhân. Tuy nhiên ngộ ra đời sống hôn nhân có hai mặt, nổi và chìm. Mặt chìm có nhiều khả năng tác động mạnh và gây ảnh hưởng nặng nề đến mặt nổi.
        Hôn nhân là cuộc phối hợp hai tâm hồn và hai thân xác. Giáo lý hôn nhân cần chỉ ra cách phối hợp hai tâm hồn tức phối hợp tínhnết; tính gồm có tâm lý, quan niệm, quan điểm, tình cảm, trí óc, suy nghĩ… nết gồm có sở thích, thói quen, khuynh hướng, khả năng, sở trường sở đoản… Giáo lý hôn nhân còn phải chỉ ra cách phối hợp hai thể xác gồm có quan năngcảm xúc; quan năng là sắp xếp sao cho các cơ quan tác hợp tương ứng; cảm xúc là làm cho sự vui thích, cảm động… được giao phối cách hài hòa.
        Người như tôi chưa có khả năng dạy giáo lý hôn nhân, nếu nói những đôi vợ chồng khác do tôi dạy vẫn suôn sẻ thì xin thưa, họ có may mắn là tự tìm ra sự phối ngẫu dần dần; còn không, chắc là họ chịu đựng nhau tức một thứ hôn nhân lấy đạo đức ra chế ngự. Tôi trộm nghĩ: rất nhiều những cuộc hôn nhân do đạo đức chế ngự, ít có cuộc hôn nhân lý tưởng. Tôi lại nghĩ thêm: có thể có nhiều vị thánh trong các cuộc đời hôn nhân, nếu hiểu rộng ra nghĩa “thánh” là nhịn nhục liên tục, chịu đựng nhau liên tục, tha thứ nhau liên tục, quảng đại với nhau liên tục, nâng đỡ và giúp đỡ nhau, nêu gương cho con cái liên tục… “thánh” do xử sự theo Tin Mừng đối với người gần gũi mình nhất. Tôi thầm cảm phục những đôi vợ chồng trên đời này, nhất là các đôi vợ chồng thời xưa.
        Có lần cha sở Luca nói: “đời sống gia đình vui ít buồn nhiều, quyền lợi ít trách nhiệm nhiều, chỉ một bước người ta có thể nên thánh…”. Lúc ấy nghe vậy tôi không hiểu, nay mới hiểu.
        Sau vụ kể trên, bắt đầu từ hôm đó, có nhiều người vợ, thỉnh thoảng vài người chồng, đến với tôi để than thở, tâm sự về chuyện gia đình mình. Ngày tôi càng xác tín hơn lên cuộc sống gia đình là cuộc sống không dễ dàng.
        Trong số những người vợ đến tâm sự, có một người vợ cứ vài ba ngày lại đến than thở với tôi về người chồng “nát rượu” và hành hung vợ mỗi khi say. Ban đầu tôi chỉ nghe mà không biết khuyên nhủ làm sao. Đến lần thứ ba, tôi đề nghị với chị một giải pháp. Tôi sẽ hợp tác cùng với chị để cầu nguyện và ăn chay, cùng lúc chị phải cố gắng im lặng nhẫn nhịn và vẫn cứ một mực yêu thương và kính trọng chồng, đừng nói bất cứ lời nào xúc phạm nhất là lúc chồng đang say.
        Một người vợ khác đến tâm sự chồng mình đam mê cờ bạc làm tán gia bại sản. Tôi cũng dùng cách trên để khuyên giải.
        Còn thêm một vài trường hợp nan giải nữa gần giống vậy, tôi thường không biết làm sao chỉ có một lời khuyên giống nhau cho mọi người vì cứ như trí óc nông cạn của tôi suy: nhất hạng là cầu nguyện và ăn chay, nhì hạng là theo Chúa dạy nhẫn nhịn, tha thứ và yêu thương. Thật ra tôi cũng không biết những người vợ ấy có về làm theo tôi bày ra hay không và sự thể ra sao… vì ít ai quay trở lại cho tôi biết kết quả.
        #19
          Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 19 trên tổng số 19 bài trong đề mục
          Chuyển nhanh đến:

          Thống kê hiện tại

          Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
          Kiểu:
          2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9