Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu
Thay đổi trang: < 123 | Trang 3 của 3 trang, bài viết từ 31 đến 38 trên tổng số 38 bài trong đề mục
Sun Ming 02.05.2026 20:40:34 (permalink)
Kỳ 30
 
Trở về giáo xứ An Biên trong một dịp cấm phòng cuối năm, cha sở Luca bảo tôi nghỉ lại một đêm. Cũng sẵn đã muốn như thế để có cơ hội xin cha dạy nhiều điều tôi đang thắc mắc, tôi vâng lời ngay.
Cơm tối xong tôi vào phòng cha. Như thường lệ, cha con bắc ghế ngồi bên nhau hàn huyên như một người cha và một người con chia nhau tâm sự.
Tôi kể cha nghe một câu chuyện mà tôi cho là khó hiểu để xin cha giải thích hoặc cho vài ý kiến để đối phó. Tôi kể:
- Ở Long Thạnh có một giáo phái rất lạ. Cái lạ trước nhất là mỗi tháng tín đồ tụ họp nhau lại vào đêm trăng rằm ở một đền thờ là ngôi nhà bát giác, che chắn bít bùng kín mít như một kho lương thực. Cái lạ tiếp theo là tại đó họ quây quần xung quanh một bàn thờ tròn lớn bằng xi măng ở giữa phủ nhung đỏ, trên bàn thờ đặt một tô sành rất lớn chứa đầy máu tươi của khi thì bò, khi thì trâu, dê hay heo hoặc gà, vịt. Điều lạ nữa là họ thờ một vị thần tướng mạo mặt mũi trông rất dữ tợn và hung ác, ăn mặc như các mãnh tướng trong các tuồng cổ, một tay cầm kích, một tay cầm hình nhân một con người đang oằn oại đau đớn. Vị mãnh tướng đứng nghênh ngang trông rất uy dũng tên là Đức Thượng Thiên Hoằng Vĩ, họ cho là còn cao hơn Đức Chúa Giêsu của ta. Một điểm lạ khác, theo con dò hỏi, giáo lý của họ là diệt kẻ ác và điều ác bằng sự thịnh nộ, độc dữ và quyết liệt nhất; tín đồ nào diệt được nhiều người ác và nhiều sự ác sẽ được thăng thiên sau khi chết.
Cha sở Luca hỏi:
- Giáo phái này tên gì và có đông tín đồ không?
- Thưa cha, giáo phái đó tên là Tam Không, chủ trương “không người ác, không điều ác và không ý nghĩ ác”. Giáo phái có khoảng vài ngàn tín đồ chỉ tính riêng tại Long Thạnh, ở nơi khác có không và có bao nhiêu tín đồ thì con không được biết, nhưng hầu hết tín đồ người nào cũng có vẻ gì đó đằng đằng xác tín, khích khí sùng đạo… cứ xem họ uống máu sống một cách tự nhiên, ngon lành, không biết sợ… thì hiểu ngay họ không đùa khi theo đạo.
Tôi xin phép kể thêm về một số điểm đặc biệt của giáo phái này cho cha Luca rõ trước khi đi hỏi ý kiến của cha:
- Về mặt tổ chức, họ có nhiều điểm giống Công giáo, ví dụ thứ nhất họ có một vị Cao Pháp sư đứng đầu gọi là Pháp chủ Tối cao với quyền bính tuyệt đối như đức giáo hoàng bên ta. Ví dụ thứ hai là bên dưới vị Cao Pháp sư là cả một hệ thống gồm cấp đạo sư, cấp đạo sĩ và cấp học sĩ so như giáo sĩ và tu sĩ của ta, giới này không khác gì giới quý tộc, hưởng rất nhiều quyền lợi, ngày này qua ngày khác cứ ở không chẳng hề lao động, sản xuất… mà vẫn cứ được hưởng thụ đầy tràn, đã vậy lại còn được “ăn trên ngồi trốc”, được các tín đồ cung phụng hết chỗ nói, “phán” ra điều gì mọi tín đồ đều phải răm rắp vâng nghe… chính bởi vì thế mà giới quý tộc này -để bảo vệ quyền lợi quá to lớn của mình- đâm ra bảo vệ đạo giáo một cách điên cuồng đến không ngại đổ máu. Bên dưới giới này là tín đồ. Ví dụ thứ ba là ngoài những Đại lễ Trăng Rằm mỗi tháng một lần, họ còn tụ họp riêng từng nhóm gọi là Hộ lề mỗi tuần một lần, Khẩu lề mỗi ngày một lần, để trông nom, củng cố và giám sát tín đồ thật chặt chẽ. Ví dụ thứ tư là việc dâng cúng tuy không bị luật lệ bắt buộc, nhưng phương pháp khuyến khích, hô hào, cổ võ, tuyên truyền, xách động, khuyên nhủ… rất khôn ngoan khéo léo đã khiến tín đồ ồ ạt dâng cúng hàng bao nhiêu đất ruộng, đất vườn, nhà cửa, tài sản, tiền bạc… không chút tiếc xót. Ví dụ thứ năm là họ truyền đạo bằng phương thức rất thông minh, tức chung nhất và có hệ thống, họ dùng sự kín ẩn để gợi tính tò mò. Nói chung, giáo phái này tổ chức rất chặt chẽ, khôn ngoan và quy củ, chứng tỏ người sáng lập hẳn phải là người từ ở trong đạo Công giáo bước ra.
Tôi bước vào chuyện chính, tức xin lời dạy của cha Luca:
- Lần họp mặt tất cả các tôn giáo vùng Long Thạnh tại một ngôi chùa lớn, trong giờ họp và ăn trưa, con được ngồi cạnh một vị đạo sư trẻ của Tam Không giáo, diện mạo nghiêm trang và quyết đoán. Ông ta kết bạn và sau đó lui tới thăm con nhiều lần. Ông ta thay mặt các đạo sư cao cấp mời con đến thăm viếng và tham dự các nghi lễ của Tam Không giáo. Con có đến dự đôi ba lần, con quan sát, tìm hiểu và đã vừa trình bày cha rõ như trên. Họ rất quý con, tuy vậy cho đến nay con vẫn chưa được diện kiến vị Pháp chủ Tối cao của Tam Không giáo, và hình như họ đang cố gắng chiêu mộ con vào đạo của họ. Con xin cha cho con lời khuyên nên tiếp tục mối bang giao với họ hay nên cắt đứt.
Cha Luca từ đầu đã rất chăm chú lắng nghe mọi điều tôi nói. Ngài hỏi:
- Con có cảm giác thế nào mỗi khi đến tham dự nghi lễ của họ?
Tôi suy nghĩ một lúc rồi thưa:
- Thưa cha, con cảm thấy rờn rợn và có điều gì làm con hơi sợ hãi.
Cha Luca nói:
- Nghi lễ thờ phượng và tế tự là nơi phản chiếu tình trạng đức tin, tinh thần, giáo lý, lẫn văn hóa của một tôn giáo. Nếu nghi lễ của họ gây cho con một cảm giác như vậy, thì việc đầu tiên con không nên tham dự các nghi lễ của họ nữa, dù chỉ dự khán bàng quan.
Không đợi tôi hỏi, ngài nói tiếp:
- Còn mối bang giao, nếu thấy không cần thiết, con nên nhạt dần rồi cắt đứt. Nhất thiết đừng cho họ nuôi hy vọng sẽ thuyết phục con theo đạo.
Tôi hứa sẽ vâng theo lời khuyên của cha. Cha Luca kể chuyện.

Lần kia Ông Lực Lượng vào xưng tội, Ông nói:
- Chúng ta có thể tự biến mình thành những thiên thần chói lọi ánh sáng để lừa dối nhân loại huống hồ gì thành lập một vài tôn giáo, núp trong giáo sĩ, nhà tu đức, chuyên gia thần học, hoặc đưa ra những giáo thuyết xuất chúng, vẽ ra những lý tưởng mới lạ và hấp dẫn.
Vừa nghe xong tôi bắt giật mình ngạc nhiên, vì trí tôi lâu nay vẫn đơn sơ nghĩ rằng ma quỷ chỉ làm những chuyện xấu xa, đưa ra những cám dỗ nhãn tiền, nấp trong những kẻ thủ ác và độc hiểm… chớ đâu ngờ rằng ma quỷ có thể hóa trang thành những thiên thần sáng chói. Nếu đã cải trang thành những thiên thần sáng chói còn được, thì thử hỏi ma quỷ làm gì không dám ở trong giám mục, linh mục, tu sĩ, người thánh thiện đạo đức, kẻ danh giá đạo mạo… nào đó! Tôi kêu lên:
- Chết cha! Như vậy Các Ông đã gây hỗn loạn trên trái đất này hết rồi! Còn có gì đáng tin nữa hay nói đúng ra phải tỉnh táo sao đây để dò cho ra những gì của Các Ông và những gì không do Các Ông!
Ông Lực Lượng vừa xoa xoa cằm khoái chí vừa cười cười một cách nham hiểm:
- Chớ ông muốn Chúng ta phải như thế nào? Khờ khạo như loài người các ông ư? Không! Gây hỗn loạn, tạo “giả lộng thành chân”, gây hoang mang, ảo tưởng, nghi ngờ… là việc của Chúng ta. Loài người các ông sẽ ngày càng cực kỳ hoang mang, ngờ vực, lẫn lộn và nhầm lẫn. Sao Chúng ta có thể ngồi yên để cho loài người các ông thế chỗ của Chúng ta ở trên thiên đàng chứ? Chúng ta cố hết sức để một ngày nào đó nhân loại các người sẽ không còn đức tin nữa, Hãy nhớ lại Ông Chúa Giêsu đã nói: “Khi Con Người đến, liệu có tìm được đức tin trên mặt đất này hay không?”(*)
Tôi nhớ trong Phúc âm có câu đó, cho nên tôi chỉ biết thở dài, không còn biết nói thêm gì nữa. Ông Lực Lượng thấy tôi sợ hãi nên nói thêm:
- Chúng ta long trọng báo trước cho các người… Nói tới đây Ông ta thở dài và lắc đầu làm ra vẻ chán nản vì thương xót dòng giống loài người: - … Và cho dù có báo trước thế nào đi nữa, nhưng vì loài người các ông là thứ động vật đần độn mà lại hay tự phụ, nên lời cảnh báo có nghiêm trọng mấy cũng sẽ chẳng ăn thua gì đâu!... Chúng ta báo trước rằng Chúng ta sẽ còn làm nhiều điều gây hỗn loạn, gây hoang mang, gây vọng tưởng, gây ngờ vực và gây lầm lẫn… đến nỗi trí óc non nớt của các người không thể tưởng tượng ra nổi. Chúng ta đùa giỡn các người như ông chủ đùa giỡn với chó con khờ dại.
Từ ngày nói chuyện với Ông Lực Lượng, dù vẫn xác tín loài người là loài duy nhất được Chúa yêu thương tạo dựng giống hình ảnh Chúa và được Chúa đích thân xuống thế cứu chuộc v.v… nhưng tôi không còn cái tính tự phụ rằng loài người thông minh, khôn ngoan, thông suốt nữa. Cho nên khi Ông Lực Lượng tỏ vẻ miệt thị loài người, tôi cũng không thấy nổi giận trong lòng như lúc đầu mới trò chuyện với Ông ta… Tuy nhiên tôi cũng trả đũa lại Ông ta:
- Triết gia Seneca nói: “Errare humanum est; perseverare diabolicum”: Loài người hay sai lầm, quỷ dữ hay cố chấp. Chúng tôi ngu xuẩn thì đã nói, nhưng chúng tôi là loài hiền lành, khiêm tốn. Vì sao? Vì chúng tôi biết sửa sai sau đó, nghĩa là nếu phát hiện mình đi sai đường, chúng tôi biết quay đầu lại, đó là điều khiến Chúa thương chúng tôi. Còn Các Ông, đã sai thì sai luôn, đã đi lầm đường thì cứ lầm cho đến lúc phải diệt vong. Thưa Ông! Đằng nào tốt?
Tôi trưng ngạn ngữ Latin, lạy Chúa! Ông Lực Lượng cũng không chịu thua, xổ liền một tràng:
- Kịch tác gia Titus Maccius Plautus cũng nói: “Homo homini lupus est”, con người là chó sói của con người. Hai con chó đang quấn quít với nhau vui vẻ, thử ai ném xuống một cục xương, lập tức chúng sẽ quay ra hung hãn đối đầu, cắn xé nhau không thương xót để giành giật cục xương. Con người các ông không hề khác chút xíu nào! Quyền lợi, danh vọng, địa vị, lợi lộc, tiền bạc thậm chí cả phụ nữ… như những cục xương, có thể khiến các người nổ ra chiến tranh, chém giết hàng loạt, trừ khử và tru diệt lẫn nhau tàn nhẫn đến không còn chút tình người bằng mọi cách. Các ông có hơn gì những con chó!
Tôi bắt đầu bí. Ông ta không để tôi thua trong bình an:
- “Homines quod volunt credunt”. Julius Caesar, lãnh tụ quân sự và chính trị của người Rôma còn bảo như thế, nghĩa là con người tin điều gì họ muốn. Để phá cho hư nát cả nhân loại, Chúng ta tận dụng khai thác hai điểm này, ông nghe cho rõ! Một là Đạo Công giáo do Ông Chúa Giêsu đem xuống, là đạo đúng, đạo thật. Nhưng được bao nhiêu người nhận biết và đi theo? Đó! Nhân loại các người còn lập ra hàng trăm thứ đạo khác cho lẫn lộn thật giả. Sự ngu muội đó đã đánh đồng đạo Chúa với các thứ đạo lôm côm khác, khiến nhân loại lùng nhùng biết đâu mà phân tỏ. Hai là ngay giữa lòng Công giáo, chính người của các ông còn dựng lên hàng trăm điều buộc giáo dân phải tin, phải giữ, trong khi Ông Chúa Giêsu bảo: “Ách của Ta êm ái, gánh của Ta nhẹ nhàng”(**). Chế ra đủ thứ lỉnh kỉnh phụ thuộc như thế vừa là vô tình chống lại Ông Chúa, vừa làm cho đạo thật vốn rất giản đơn nhẹ nhàng ngày càng trở nên tù mù, rối rắm như tà đạo khiến nhiều kẻ cho rằng đạo chỉ là một mớ mê tín dị đoan, là á phiện ru ngủ nhân tâm.
Tôi hỏi như tuyệt vọng:
- Chúa ơi! Các Ông đang dùng chính những người trong đạo để phá đạo, phải vậy không?
Ông Lực Lượng phá lên cười:
- Phải! Cứ đi nói cho giám mục của ông nghe, xem ông ấy có làm được gì không.
Không còn biết nói gì nữa, tôi âm ư trong miệng bài hát: “Này con là Đá, trên viên đá này Cha xây Giáo Hội muôn đời kiên trung. Này con là Đá: Sa-tan sức hùng, mưu ma vẫy vùng không hề chuyển rung”.
Ông Lực Lượng nhìn tôi với vẻ tức giận một lát rồi bỏ đi.

Bước ra khỏi câu chuyện, cha sở kết luận:
- Ngày xưa người ta thường nói: “Đạo nào cũng tốt, vì đạo nào cũng dạy con người làm lành, lánh dữ”. Ngày nay không thể nói như thế được! Lý do ngày càng có nhiều thứ đạo kỳ quái với giáo thuyết kinh dị như đạo Klu Klux Klan ở Mỹ chuyên đóng đinh người da đen trên thập giá; giáo phái Đa Thê ở Texas Mỹ, giáo phái Aum ở Nhật, giáo phái Scientology, giáo phái Satan ở Ý gồm các hệ phái “Kẻ dữ của quỷ Satan”, “Các trẻ em của Satan”, “Giáo Hội của Satan Torino”, “Huynh đoàn Lucifer”, “Hội Satan”, “Các con cái của Satan”, “Ierudole của thần Ishtar”, đạo thờ Thần Chết, Tam Ðiểm, Mormon… và còn nhiều nữa không thể kể hết.
Tôi lắng nghe không bỏ sót chi tiết nào, lòng thầm khâm phục cha sở. Cha không cho tôi suy nghĩ thêm, cảnh báo ngay rằng:
- Nhưng vậy đã nói! Ngay trong những tôn giáo lớn thuộc loại vạn niên đại thụ như Công giáo, Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo… vẫn chứa chấp tà giáo bên trong. Đó là những lý thuyết sai lạc được phủ lên bằng những từ ngữ rất kêu, những lối sống hưởng thụ, ích kỷ được khoác lên bằng những chiêu bài rất bóng bẩy, hãm hại nhau bằng vỏ bọc bác ái v.v… Đó chính là những tà đạo nằm trong chính đạo.
Ngài vỗ nhẹ vào vai tôi bảo:
- Ma quỷ thì luôn rình rập chực chờ, còn chúng ta thì vô tư sơ hở. Cái gì cảm thấy không có lợi con cứ tránh đi để khỏi mất giờ, tốn công, đã vậy còn hàm ẩn nhiều nguy cơ nữa.
Tôi về Long Thạnh, cắt đứt dần mối quan hệ với Tam Không giáo.
 
 
(*) Lc 18:8b
(**) Mt 11: 28-30
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.05.2026 02:39:51 bởi Sun Ming >
#31
    Sun Ming 06.05.2026 10:05:56 (permalink)
    Lâu lâu xin nhắc lại: truyện vẫn đang đăng dài kỳ trên Nguyệt san Thánh nhạc Ngày nay phát hành trong nước VN. Quý bạn đọc nào muốn theo dõi thường trực xin xem xét việc mua báo dài hạn để ủng hộ.
     
    Cá nhân tôi chỉ là 1 người đọc thường, nhưng nhận thấy nhóm làm Nguyệt san này có tâm huyết, nên mới có mong muốn tờ báo được lan tỏa rộng hơn trong cộng đồng.
     
    Kỳ 31
     
    Khoảng ba giờ trưa, đang đi thăm nhà một số giáo dân vừa bị trúng đạn pháo kích sáng nay, một số em Thiếu nhi Thánh thể ngành Thiếu chạy hộc tốc đến gặp tôi. Vừa thở hổn hển các em ấy vừa báo tin:
    - Thưa thầy, có cha đến!
    Tôi ngạc nhiên. Nhưng gạn hỏi mãi các em cũng chẳng cho biết thêm được điều gì khác ngoại trừ “ông cha đó già như cha sở Chân Phúc”.
    Tôi vội thu xếp mọi việc và trở về nhà xứ; vừa đi bộ, vừa thầm đoán xem ai mà lại là linh mục, đã vậy còn lớn tuổi… linh mục lớn tuổi nào mà dám đến đây, trừ duy nhất cha sở Chân Phúc. Nhớ lại một lần vào lễ Giáng sinh, cha sở Chân Phúc cử cha phó trẻ, tức linh mục hiệu trưởng trung học, đến đây để dâng thánh lễ. Cứ xem cái dáng vẻ cập rập, bồn chồn, âu lo… cứ để ý thấy ngài chỉ giảng vài ba câu qua quýt, dâng thánh lễ vội vàng, lễ xong chỉ uống một vài ngụm nước chứ không kịp ăn uống chút gì, lật đật ra xe bao (xe thuê trọn gói) trở về thị xã Chân Phúc ngay lập tức sau đó… thì ai cũng dư biết ngài sợ cái giáo họ bất hạnh này, nơi luôn phải hứng chịu pháo kích liên lỉ, đến mức nào! Bởi vậy từ khi tôi đến đây, không hề có ai viếng thăm tôi mà chi. Nay bỗng nhiên có một người lớn tuổi không ngại đường xa khó đi, người đó lại là một linh mục không ngại mất giờ mất việc, thậm chí không sợ cả hiểm nguy rình rập từng giờ từng phút… đến với chúng tôi.
    Vừa đi vừa suy nghĩ miên man, tôi đã về đến nơi lúc nào không biết.
    Vừa vào sân nhà thờ, tôi “hết hồn” khi thấy cha sở Luca, dáng vẫn cao gầy, đang được một số giáo dân của tôi vây quanh. Chắc những người giáo dân nghèo khó và chất phác ấy còn mừng hơn cả tôi nữa vì bỗng chốc có được một vị khách quý chiếu cố đến thăm họ giữa một hoàn cảnh bi đát như thế này.
    Tôi bắt tay cha mà nước mắt cứ trào ra không sao kiềm giữ lại được. Tôi vô cùng xúc động bởi nhiều lý do, không thể diễn tả hết nhiều lý do ấy được trong một lúc.
    Tôi và số giáo dân hiện diện, vì mừng rỡ tột bậc, cố tìm ra mọi cách tốt nhất để đón tiếp cha sở Luca; nhưng càng cố gắng, càng luýnh quýnh đến tức cười. Thật thế, ước chừng cha sở đặt chân đến đây có cả gần một tiếng đồng hồ qua, vậy mà bây giờ mấy ông Biện mới đánh trống ầm vang và liên hồi để chào đón cha, hoặc có ý báo tin cho toàn họ đạo kẻ xa người gần để cùng nhau mừng vui và hãnh diện cũng nên. Chẳng bao lâu sau, giáo dân kéo đến đông nghịt đầy nhà đầy sân, các ông các cậu thì đứng ngồi vây chung quanh cha, các bà các cô thì lăng xăng người đi chợ, kẻ về nhà bắt gà làm thịt, người khác lo chuẩn bị bếp núc để làm tiệc, người thì quét dọn nhà cửa, có người còn chu đáo lo đi gánh nước từ con sông biên giới gần đó về đổ cho đầy hết các lu hũ trong nhà dưới, trẻ em dự phần bằng cách quấn quýt, chạy nhảy, cười đùa nô nức khắp nơi.
    Ngay chiều hôm đó chúng tôi được cha Luca giải tội, dâng thánh lễ, đặc biệt hơn, còn cử hành bí tích xức dầu cho những người xấu số đang hấp hối vì trúng đạn pháo kích mới sáng nay.
    Khuya rồi mà giáo dân vẫn còn nấn ná ở khu nhà thờ, không ai muốn về.

    Những ngày cha Luca lưu lại ở đây coi như là những ngày hội của cả giáo họ, tôi cảm thấy vui và ấm cúng biết bao! Cha và tôi, cả hai không thể chuyện vãn vào lúc đêm về như những khi ở giáo xứ An Biên, vì chiều tối nào, giáo dân cũng tập họp chung quanh rồi ở lại mãi bên cha cho đến tận khuya, vì cha luôn vui vẻ hiền lành chứ không nghiêm nghị như các linh mục thời bấy giờ, vì cha cởi mở chứ không thận trọng giữ ý như các giáo sĩ tu sĩ thường thấy.
    Tôi kể cha nghe đủ mọi chuyện, đưa cha đi xem từng ngõ ngách của giáo họ Thạnh Lộc. Tôi nghĩ, riêng đối với cha Luca, chỉ cần một lần đến đây thôi, cha sẽ biết tất cả những gì tôi trải qua; quả thật, cha tỏ ra rất thông cảm cho hoàn cảnh của tôi ở đây; cha nói rằng dù tôi mới chỉ đi giúp xứ, tức đi thử (*) thôi mà đã gặp gấp nhiều lần gian khổ hơn một số đông linh mục.
    Thảm hại làm sao! Cha vừa mới nêu nhận xét vào ngày hôm trước, thì ngay ngày hôm sau đã xảy ra chuyện.
    Đó là chuyện một em huynh trưởng trong xứ đoàn Thiếu nhi Thánh thể Thạnh Lộc tên Mai Lan, tuổi 16. Cha Mai Lan mất sớm, em hiện ở với mẹ là người có đạo và với một ông dượng ghẻ người ngoại đạo; ông dượng ghẻ này lại đang là phó xã trưởng xã Thạnh Lộc. Dượng ghẻ có tà tâm nên luôn tìm mọi cách để chiếm đoạt em cho bằng được. Vì kháng cự kịch liệt mà em luôn bị dượng ghẻ trút giận bằng mọi cách hiểm độc và phi lý có thể.
    Chuyện không dừng ở đó. Mai Lan rất nhiệt tình trong sinh hoạt Thiếu nhi Thánh Thể, nên ông dượng ghẻ đâm ra thù ghét nhà thờ, thù ghét Thiếu nhi Thánh thể, nhưng người mà ông thù ghét nhất là tôi - Mai Lan nhiều lần tỏ cho tôi biết như thế. Rất nhiều lần mượn rượu, ông dượng ghẻ của Mai Lan đã đến đứng trước nhà thờ và chửi tôi bằng những lời lẽ rất tục tĩu, chứa biết bao là sự vu khống nhơ bẩn. Do ông ta đang giữ chức vụ phó xã trưởng, nên chẳng ai trong họ đạo – toàn là dân hồi hương từ Campuchia - dám lên tiếng phản đối hay khuyên can; thấy vậy tôi cũng cứ một mực nhịn thua không dám tỏ thái độ gì.
    Hôm đó là ngày thứ ba kể từ khi cha sở Luca đến thăm, đang giờ nghỉ trưa, bỗng ông Đức, dượng ghẻ của Mai Lan xuất hiện. Ông đến trước nhà thờ lớn tiếng chửi tôi như những lần trước; tuy nhiên, lần này, có lẽ ông ta uống nhiều rượu hơn lại còn mang theo một khẩu súng ngắn, cho nên sau một hồi chửi bới không thấy đã tức, ông ta rút súng xông vào nhà xứ tìm tôi.
    Thời buổi loạn lạc này mạng sống của người dân ở vùng biên giới rất bị coi rẻ; kẻ có súng là kẻ có quyền trên tất cả; vả lại giáo dân là những người dân địa phương mà còn sợ hãi huống chi tôi là kẻ từ xa đến tạm ngụ trong mảnh đất quá dữ dằn này; đồng thời ở vùng biên giới giặc giã, cướp bóc và hỗn loạn như thế này những người có quyền, nhiều khi chỉ vì một cơn nóng giận, có thể dễ dàng bắn chết một người dân, xong đâu đó chỉ cần chụp lên nạn nhân một cái mũ gì đó là êm chuyện… Có lẽ biết hết những điều đó nên cha Luca bảo tôi:
    - Thầy lánh mặt mau lên!
    Tôi nhanh chân chạy vào nấp dưới chân cây thánh giá to cạnh bàn thờ, tai vẫn tiếp tục lắng nghe, trí vẫn lượng định trù tính xem sẽ phải chạy đi đâu tiếp theo nếu ông ta xông vào tận nơi đây. Đã vậy tôi lại còn hơi lo lắng cho cha Luca. Nhưng rồi chợt nghĩ, hình như cha không tỏ vẻ gì là lo sợ. Và thế là tôi tạm yên tâm.
    Thông thường giọng nói ông dượng ghẻ của Mai Lan đã rất to và ồm oàm xứng với tướng mạo cao to vạm vỡ như đức hộ pháp của ông, giờ đây giọng nói khiếp khủng ấy lại đang luôn la hét thô tục, tru tréo ghê rợn và kèm theo cả nghiến răng, kêu tên tôi để rủa xả:
    - Đ.m. thằng thầy đâu rồi? Đ.m. mày trốn hả! Đ.m. hôm nay mày tận số rồi! Tao bắn nát đầu mày cho coi!...
    Miệng thì la hét vang dậy cả một vùng, tay thì lên đạn khẩu súng ngắn rôm rốp nghe phát rợn người. Chưa hết, ông ta lại còn bắn hai ba phát súng chỉ thiên cho tôi thêm hoảng sợ. Tôi biết lúc này giáo dân của tôi chỉ có nước trà trộn vào đám đông tụ tập trước cửa nhà thờ, hồi hộp đứng nhìn thôi, chứ chẳng có ai dám đứng ra lên tiếng bênh vực tôi đâu.
    Nhưng không gian bỗng im bặt.

    Khoảng năm ba phút sau tôi nghe tiếng cha sở Luca gọi:
    - Thầy ơi!... Thầy ơi!... Ra phòng khách uống nước!
    Nghe cha sở Luca gọi, tôi mừng rỡ, cảm thấy vững tâm nên liền rời cung thánh và ra ngoài phòng khách với cha. Cha Luca nói với tôi:
    - Ông ta về nãy giờ rồi!
    Thở ra một hơi dài tỏ vẻ thật buồn, cha Luca hỏi:
    - Chuyện này xảy ra nhiều lần rồi! Có phải vậy không con?
    Tôi vẫn còn run, thưa:
    - Dạ phải! Nhưng mấy lần trước ông ta chỉ đứng ngoài nhà thờ chửi con đã rồi ra về. Lần này không ngờ lại dữ dằn đến như thế!
    Đám đông tan dần. Giáo dân lục tục kéo đến xì xào ngoài sân. Các bà các cô đứng tụm vào nhau khóc vì chua xót cho tôi. Các ông Biện chưa hết sợ hãi, nhờ lẩn trong đám đông người ngoại đạo hiếu kỳ ngoài hàng rào dâm bụt của nhà thờ mà chứng kiến từ đầu đến cuối sự việc, bây giờ thì thào kể tôi nghe:
    - Lạ lắm thầy ơi! Khi thằng cha Đức xông vô nhà thờ, gặp ngay cha Luca. Lạ lùng làm sao! Cha Luca chỉ đứng im nhìn thẳng vào chả, tự nhiên chả đứng sựng lại, câm họng rồi từ từ rút êm.
    Giáo dân lẫn tôi, không ai hiểu nổi tại sao cha sở Luca chỉ nhìn thôi mà có thể khống chế ông Đức đang hung hăng như một con thú điên. Thử nghĩ, ông ta là phó xã trưởng lâu năm, rất có thế lực và luôn “coi trời bằng vung” ở vùng đất “chợ Đầu Hổ” lừng danh này, ông ta có bao giờ biết sợ ai. Người thì đoán thế này, kẻ thì suy thế khác. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng cha Luca, một con người dám đối thoại trực tiếp với ma, tranh cãi thẳng thắn với quỷ, hẳn đức độ và tâm khí của cha, khi cần, có thể làm cho người khác nao núng.
    Việc tiếp theo là làm cách gì đó để đừng xảy ra sự việc tương tự. Mọi người bàn tán rất hăng, giải pháp được nhiều người nói tới là khuyên Mai Lan nên ra khỏi Thiếu nhi Thánh thể, không được sinh hoạt trong đoàn thể này nữa.
    Vừa nghe kể giải pháp này, cha sở Luca nghiêm sắc mặt bác bỏ ngay lập tức. Cha cho rằng giải quyết như vậy là bất nhân, là loại trừ nhau, là thiếu bác ái một cách sơ đẳng.

    Lúc còn riêng mình cha với tôi, tôi hỏi cha:
    - Thưa cha, cha đã làm gì khiến ông Đức dừng lại?
    Cha sở Luca trả lời:
    - Cha không làm gì. Lúc đó cha suy nghĩ, nếu gặp một con trâu điên, cha cũng sẽ bỏ chạy như mọi người, nhưng với một con người thì khác. Ta có thể thuyết phục bằng cách nào đó.
    Tôi tò mò:
    - Xin cha dạy con đi! Cha đã dùng cách nào để thuyết phục ông ta?
    Cha sở Luca đáp:
    - Bằng cả tấm lòng hiền lành, cha nhìn ông ta.
    Nghe cha sở Luca nói, tôi cảm thấy thất vọng, vì tôi không tin lắm vào điều đó.
    Như đọc được từ ánh mắt tôi sự nghi nan, cha Luca nói thêm:
    - Khi làm điều sai, dù thế nào thì tận đáy lòng người ta vẫn còn đó nỗi rụt rè nhát sợ. Sự hiền dịu của ta lúc ấy điểm vào trúng phần nhân tính còn sót lại ấy.
    Cha Luca im lặng chốc lát rồi giải thích:
    - Cha đã học được cách này ở Chúa Giêsu khi Người hiền lành nhìn môn đồ Phêrô sau khi ông này chối Chúa lần thứ ba (**). - Ngập ngừng giây lát cha lại nói tiếp - Cũng chẳng phải cha tự mình có thể rút ra bài học ấy, nhưng Ông Lực Lượng đã vô tình hé mở cho cha trong một lần nói chuyện. Ông ta nói: “… chính cái nhìn hiền lành của ông Chúa mà Chúng ta không giữ được cái tay Phêrô về phía Chúng ta…"
    Đến đây thì tôi bị thuyết phục hoàn toàn, tôi sửng sốt vì cái bí quyết giản đơn mà linh nghiệm ấy.

    Tôi suy nghĩ về điều đó nhiều đến nỗi cứ chập chờn suốt đêm.
    Sáng ra, khi các ông Biện và một số giáo dân nhiệt thành tụ họp trước cửa nhà thờ sau thánh lễ để tiếp tục bàn bạc giải pháp sao cho ông phó xã trưởng không còn đến nhà thờ bức bách tôi nữa. Tôi khuyên họ:
    - Xin quý ông bà yên tâm! Cha sở Luca đã truyền cho tôi cách để giữ mình. Tôi sẽ làm theo cách đó.
    Họ xin tôi nói cho họ nghe. Tôi kể hết tất cả.
    Mọi người, giống như tôi lúc đầu, không tiếp thu nổi bài học, nhưng vì thấy tôi vui vẻ và tin tưởng, nên họ đành xuôi theo cho tôi vui lòng.
    Tuy nhiên, tôi không phải dùng đến bí quyết quý giá và linh diệu ấy dù chỉ một lần, vì ông Đức, phó xã trưởng, tức dượng ghẻ của Mai Lan, đã không bao giờ đến nhà thờ uy hiếp tôi nữa cho đến ngày tôi rời khỏi giáo họ Thạnh Lộc.
    Trên đường đời về sau này, những khi tôi bị oan khuất, bị hiếp đáp, bị trù dập, bị đối xử tàn độc bất công… tôi đều đối phó bằng sự hiền lành - dĩ nhiên tôi không đủ lực để dùng cái nhìn hiền lành mà tức thời thu phục nhân tâm được giống như cha Luca, mà chỉ nín nhịn trong âm thầm - nhưng mỗi lần hiền lành nhịn nhục là một lần tôi vừa gặt hái thành công mỹ mãn, vừa thấy mình lớn thêm lên, còn những người hãm hại bức bách tôi đều trở nên không còn có thể làm gì được nữa, chỉ còn biết trở nên tốt hơn mà thôi.

    Cha sở Luca ra về. Ngài đã để lại cho tôi một bài học vô giá.
     
    (*) probation.
    (**) Lc 22:61
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 06.05.2026 10:52:43 bởi Sun Ming >
    #32
      Sun Ming 08.05.2026 09:32:59 (permalink)
      Kỳ 32
       
      Buổi tĩnh tâm tháng như thường lệ vừa kết thúc, đức giám mục hỏi tôi có về An Biên thăm cha sở Luca không thì cho ngài gửi một phong thư khẩn cho cha sở. Tôi lập tức quyết định về An Biên, nên lãnh ngay phong thư để gọi là có cớ về thăm cha Luca.
      Khoảng 10 giờ sáng về đến nhà xứ, tôi thấy giáo dân đông nghịt từ trong ra ngoài. Tôi hốt hoảng với ý nghĩ không biết có chuyện gì chẳng lành xảy ra cho cha sở hay không. Nhưng những người giáo dân đứng bên ngoài tỏ vẻ mừng rỡ khi gặp lại tôi, họ làm cho tôi hết lo lắng bằng cách mau mắn thuật lại chuyện đã xảy ra hơn tuần qua và nay đang còn tiếp diễn bên trong phòng khách nhà xứ. Đó là chuyện giáo dân tổ chức mai phục gần một tháng trời ở đất thánh (*) để theo dõi và cuối cùng đã bắt giữ được một nhóm người lén lút đào huyệt mộ lấy cắp sọ người để luyện thiên linh cái (**). Hiện cha sở và chính quyền địa phương cấp xã đang hiệp nhau điều tra xét xử.
      Bị trí tò mò thôi thúc, từ ngoài cổng, tôi nhích dần từng bước vào gần phòng khách nhà xứ để chứng kiến cho rõ. Những người giáo dân khác lại tóm tắt đầu đuôi câu chuyện cho tôi nghe thêm: Nhóm người này gồm một đàn ông trọng tuổi và hai thanh niên từ trên núi Tà Lơn (***) xuống, mua chuộc được một ông Biện tên X, nuôi giấu trong nhà, để cứ đến đêm khuya thì kéo nhau ra đất thánh đào mộ những cô gái đồng trinh, lấy cắp sọ để luyện âm binh. Từ sáng đến giờ họ không chịu khai nhận điều gì.
      Trong phòng khách rộng của nhà xứ vọng ra giọng sang sảng của ông xã trưởng:
      - Tôi hỏi lần nữa, các người đã đào xới bao nhiêu mộ? Đã lấy đi bao nhiêu sọ cô gái?
      Im lặng.
      - Các người cứ im lặng hoài. Tôi báo cho biết, nếu không khai, tôi sẽ tròng quần đàn bà đẻ lên đầu các người, để âm binh hành hại các người cho tới chết, chịu không?
      “Đòn tâm lý” của ông xã trưởng lập tức hiệu nghiệm. Vừa nghe đến đó, một giọng đàn ông người Miên (Campuchia) nói tiếng Việt lơ lớ trả lời:
      - Tui tui… đa lây đươc… hai, hai… cai so (Tụi tui đã lấy được hai cái sọ).
      Giọng nói lơ lớ vừa dứt, giáo dân trong lẫn ngoài phòng họp gào thét lên:
      - Mẹ nó! Dữ hôn! Nghe quần dơ của đàn bà đẻ mới chịu khai!
      - Quân khốn kiếp! Mẹ chúng nó!
      - Rồi thì cũng phải có cách để bọn này mở miệng chớ!
      - Ai mách cho ông xã trưởng “nước cờ” đó vậy?
      - Vừa rồi ông ta được bà xã nhắc tuồng thì phải!

      Đợi cho mọi người nguôi bớt la ó, ông thiếu úy Trưởng cuộc Cảnh sát nói lớn:
      - Các ông đã luyện được bùa phép gì chưa? Tại sao có bùa phép các ông vẫn bị bắt đây?
      Im lặng tiếp. Không ai nghĩ nhóm người này sẽ trả lời câu hỏi khó chịu trên. Nhưng…
      - Tai tương lanh cua tui thua tương lanh cua ông nay (Tại tướng lãnh của tui thua tướng lãnh của ông này).
      Giáo dân phút chốc im bặt một giây, rồi đột ngột cười rộ lên cách khoái trá, người này liền nói cho người kia biết “ông này” mà ông thầy bùa người Miên muốn ám chỉ chính là cha sở Luca. Ông thầy bùa người Miên sau đó còn khai thêm:
      - Tuong lanh cua ông nay là Mi-ka-e! (Tướng lãnh của ông này là Micae).
      Nghe đến đó tôi thì bỗng rùng mình; còn tất cả những giáo dân An Biên có mặt ở đó thì phấn khích tột độ giống như họ vừa mới được chứng kiến một sự lạ. Đức tin bình dân và lòng đạo truyền thống bao đời của họ như sóng thần dâng cao.

      Còn nhiều câu hỏi khác được đặt ra, kèm theo là những câu trả lời rất thú vị; qua đó mọi người biết được những thông tin chính, đại loại nhóm người có ba, gồm một thầy bùa cao tuổi và hai đệ tử khoảng trên dưới ba mươi tuổi. Họ nghĩ chỉ có ở các nghĩa trang người Công giáo, họ mới có thể biết chắc mộ nào là của các cô gái đồng trinh; đồng thời họ tin hồn của các cô gái đồng trinh người Công giáo có sức mạnh rất đặc biệt; chính vì những lý do đó mà nhóm người này liều lĩnh đến ngu xuẩn bất chấp hậu quả ra sao. Họ còn khai thêm, ông Biện X. ăn hối lộ của họ một số lớn vàng vòng và tiền bạc, nên chính ông là người giúp việc cho họ để họ luyện thiên linh cái trở thành những thầy bùa quyền lực v.v…
      Ông Trùm họ đạo đã đặt một câu hỏi thú vị hơn:
      - Biết thiên thần Micae mạnh hơn âm binh, vậy tại sao các ông không theo mà lại chọn theo âm binh?
      Người đàn ông cao tuổi tức thầy bùa người Miên trả lời ngay không cần suy nghĩ:
      - Vi chi co âm binh mơi chiu nghe tui tui sai khiên (Vì chỉ có âm binh mới chịu nghe tụi tui sai khiến).

      Sau này theo tôi biết, vì vào thời buổi bấy giờ, pháp luật chưa quy định nghiêm minh việc xử phạt một số tội đặc biệt về mê tín dị đoan, cho nên chờ cho nhóm người luyện bùa khai nhận hết những hành vi bất chính bất nhân của họ xong, chính quyền giải họ về nhốt tại xã. Vài ba ngày sau, buộc họ nộp phạt một số tiền rất cao, rồi cho họ tự do.
      Riêng ông Biện X. bị Ban Quý chức quyết định bãi chức, khai trừ khỏi hàng ngũ chức việc họ đạo; nhưng rồi vì không thể sống nổi với sự chỉ trích, miệt thị và tẩy chay để trả thù của giáo dân, ông ta đã dời nhà đi ra miền ngoài biệt tích. Sau đó, mọi người trong họ đạo sửa sang, tu bổ và đặt ra những biện pháp để bảo vệ đất thánh, vì đối với các giáo xứ thuộc Đàng Trong, gọi nghĩa trang bằng danh từ đất thánh không phải là vô căn vô cớ, nhưng hàm ý tỏ lòng trọng kính nơi ông bà tổ tiên của giáo dân họ đạo đang yên nghỉ, nơi chôn cất những người đã chịu phép rửa tội được cứu rỗi, nơi có thể có các vị thánh đang an vị, nơi đã được làm phép long trọng một lần khi khánh thành và nhiều lần làm phép huyệt mộ khi an táng ai đó, và vân vân….

      Cha sở bảo tôi ngủ lại An Biên một đêm cho khỏe. Đêm đó cha dạy tôi.
      - Thấy mọi sự xảy ra rành rạnh như thế ai cũng lên án nhóm người tà pháp. Thực ra chưa phải! Họ cũng đáng lên án thật nhưng có người và có thứ tội còn đáng bị lên án hơn. Thấy sự việc xảy ra kinh khủng như thế ai cũng sợ hãi, đề phòng và tránh xa bùa ngải tà mỵ. Thực ra chưa đúng lắm! Bùa ngải ma thuật cũng đáng sợ, đáng đề phòng và đáng tránh xa thật nhưng có cái đáng sợ hãi, đề phòng và tránh xa hơn gấp ngàn lần. Nhìn sự việc rồi phán đoán sai như thế tức là người Công giáo vẫn thường xuyên lầm lẫn và bị mắc lừa. Mắc lừa như vậy là đã trúng kế của quỷ ma rồi! Giao tiếp nhiều với Ông Lực Lượng qua năm này tháng nọ đã làm cho cha có được nhận xét như thế. Và đó là nhận xét đúng con ạ!
      Tôi nôn nóng chờ đợi xem cha nói tiếp sự thể như thế nào thì cha bất ngờ lên cơn ho sặc sụa và liên hồi không dứt. Mặt cha từ đỏ như gấc chuyển dần qua xanh xám. Tôi dìu cha đến giường, đỡ cha nằm nghỉ, rót nước cho cha và cố làm mọi cái có thể để cha ngưng cơn ho đột ngột và lạ kỳ.
      Tự dưng thoáng như ánh chớp lóe vụt qua trong đầu tôi một ý nghĩ hơi tầm bậy: hay cơn ho này do chính Ông Lực Lượng gây ra để ngăn cha nói chuyện tiếp với tôi. Tôi nhìn cha. Bất thần bốn mắt gặp nhau sao cảm như có gì đó giống nhau giữa hai cha con.

      Tôi không phải chờ lâu. Cha Luca bớt ho dần, ngồi dậy, tiến về chiếc ghế phô-tơi để kể tiếp chuyện. Cha nói với giọng nho nhỏ nhưng không khó nghe:
      - Cái nguy hại xấu xa đáng lên án và đáng đề phòng mà cha định nói đến đó là nết xấu ham mê tiền của. Trong vụ vừa qua chính ông Biện X. và nết xấu ham mê tiền của nơi ông ta đáng lên án, đáng sợ và đáng đề phòng, vì ông ta ham mê tiền của đến bán đứng cả họ đạo An Biên.
      Ngừng lại giây lát, cha hỏi tôi:
      - Tại sao vậy con có biết không? – Vì nết xấu ham mê tiền của vô cùng nguy hiểm. Trong Phúc âm Chúa cảnh báo nhiều lần lắm con ạ! Ví dụ khi có người nhờ Chúa phân xử vụ chia gia tài thì Người phán:“phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”; Chúa dạy người giàu có khó vào Nước Trời hơn con lạc đà chui qua lỗ kim; không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của; hãy về bán hết gia tài phân phát cho kẻ nghèo; Chúa còn lấy những dụ ngôn về số phận của những người phú hộ để dạy chúng ta; nhưng bài học đáng giá nhất là môn đồ Giuđa vì ham tiền mà sa xuống tận cùng vực thẳm v.v…
      Chưa cần nói người đời, chỉ tạm lấy người tu chúng ta ra mà nói.
      Ai cũng đổ xô xét nét người tu xem có nết xấu ham mê sắc dục hay không, trong khi nết xấu ham mê tiền của là cái đáng bị lên án thì lại bỏ qua. Tại sao? - Tại vì nết xấu ham mê sắc dục dễ bị bắt quả tang, còn nết xấu ham mê tiền của thì dễ che giấu, dễ ngụy trang và dễ phủ nhận.
      Chính vì thế mà người tu chúng ta tha hồ ham mê tiền của, đôi khi lòng ham muốn bốc cháy với nhiệt độ cao hơn cả người đời. Con đừng tỏ ra “sốc”! Mà hãy sáng suốt nhìn nhận, để tự tránh về sau, rằng rất nhiều giáo sĩ ham mê tiền của đến chà đạp danh dự của Giáo hội và của cả Chúa Kitô mà chẳng bị ai lên án.
      Thấy cha dừng nói một lúc để lấy sức, tôi đợi vài phút rồi hỏi:
      - Thưa cha các dòng tu khấn ba lời khấn, trong đó có lời khấn sống khó nghèo cũng vì lý do đó phải không ạ?
      Cha Luca cười tươi đáp:
      - Phải rồi! Con đã hiểu ra! Tuy nhiên lời khấn đó dễ bị sai phạm nhất.
      Cha nói tiếp:
      - Không phải những nết xấu khác là vô hại, nhưng nết xấu ham mê tiền của nguy hại vô cùng! Lý do vì nó bị coi nhẹ, không bị chú ý, khó bị kiểm soát, ít ai đề phòng, giáo dân đã không nhắc giúp còn tạo thêm nhiều cơ hội để người tu sai phạm, nếu có sai phạm thì chẳng bị ai buộc tội và nguy hại nhất là sự sa ngã diễn biến là dần dần. Cả một hệ thống bẫy-thòng lọng của Satan.

      Đêm đó ngủ lại nhà xứ An Biên, tự nhiên trong lòng tôi cảm thấy bất an. Giấc ngủ chập chờn, mộng mị đan xen việc này lẫn việc kia.
      Nửa đêm khi tôi đang chập chờn nửa tỉnh nửa mê, tôi nghe tiếng quát:
      - May đưng xen vao viêc cua chung tao! Khong nghe đung co trach! (Mày đừng xen vào việc của chúng tao! Không nghe đừng có trách!) 
      Tôi nghe giọng nói của ông thầy bùa người Miên lơ lớ lặp đi lặp lại, dù rằng đến lần thứ ba hay thứ tư tôi đã khá tỉnh táo. Tiếng nói có vẻ ma quái ấy nằm sâu ở đâu đó trong đầu, tôi nghe bằng ý nghĩ chứ không phải bằng tai.
      Tôi không ngủ được từ đó cho đến sáng. Sáng ra tôi kể cho cha sở Luca. Cha bảo:
      - Chắc tại con bị ám ảnh bởi giọng nói của ông thầy bùa người Miên hôm qua đó thôi!
      Tuy tin vào mọi điều cha Luca nói, cha là người sống bằng tình cảm, nhưng lại luôn suy nghĩ và hành động bằng lý trí… nhưng trên đường về Long Thạnh, tôi cứ âu lo suy đoán xem mình đã làm gì để bị gọi là “xen vào việc của” ai đó.

      15g30 tôi về đến nơi. Xe dừng trước cổng nhà thờ Long Thạnh, tôi chưa kịp bước xuống xe đã có ba người đàn bà ra đón. Dường như họ đợi tôi đã lâu nên hồn nhiên reo lên khi vừa thấy bóng tôi.
      Ba người đàn bà đến học giáo lý tân tòng theo lời hẹn của tôi cách đây một tuần.
      Và câu trả lời cho câu tôi miên man tự hỏi trong đầu từ sáng đến giờ “mình đã làm gì để bị gọi là xen vào việc của ai đó?” nằm ở trong ba người đàn bà này. Tôi xin phép sẽ kể vào dịp tới.
       
       
      (*) đất thánh: cách gọi của giáo dân Đàng Trong khi nói đến nghĩa địa của một họ đạo.
      (**) là thuật điều khiển các oan hồn gọi chung là âm binh của những người necrophilie. Necrophilie do sự kết hợp của hai từ Hy lạp là Nekro và Philie (nekro: xác chết, philie: sự yêu thích, sự ham muốn giao cấu); necrophilie được dùng để mô tả một hành động giao cấu với xác chết, bí quyết luyện hồn phổ biến trong giới thầy tu trên núi. Theo đó, ai luyện thành công thuật thiên linh cái sẽ có khả năng biết trước được tương lai, kêu được gió, bất khả xâm phạm, sai khiến được âm binh, có thể tàng hình, hãm hại người bằng mọi cách... Người sửa morasse xin chú thích thêm: Tháng 6.2002, Tòa án Tối Cao tại Tp HCM đã xử tử hình Phạm văn Tuấn, (sinh 1957, gốc người An Biên, Kiên Giang, có vợ và 3 con) thường trú tại ấp Hạ, xã Tân Quới, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp vì tội lần lượt giết chết 3 phụ nữ; với mỗi người sau khi giết chết xong, hắn giao cấu với xác chết rồi cắt đầu… để luyện thiên linh cái. Khi công an đến bắt, hắn tưởng mình có tà thuật thật, nên tỏ vẻ khinh khỉnh, xấc láo và thách thức công an.
      (***) núi Tà Lơn thuộc tỉnh Kampot, Campuchia, nơi cư trú của đông đảo các giới tu sĩ chuyên tà thuật . 
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 09.05.2026 00:24:33 bởi Sun Ming >
      #33
        Sun Ming 09.05.2026 00:49:07 (permalink)
        Kỳ 33
         
        Như tôi đã thưa, tôi sẽ kể chuyện ba phụ nữ đến với tôi để học giáo lý tân tòng.
        Bởi vì sau vụ xét xử đám người của ông thầy bùa người Miên, với sự tiếp tay của ông Biện X., đến giáo xứ An Biên quật mồ các thiếu nữ đồng trinh để moi sọ lên luyện thiên linh cái, tôi nghe tiếng văng vẳng trong đầu nhiều lần rằng: “Mày đừng xen vào việc của chúng tao! Không nghe đừng có trách!”, trùng hợp với việc bỗng dưng có ba phụ nữ mặc y phục toàn đen đến xin học đạo.
        Gây ấn tượng cho tôi: một là việc cùng lúc có đến ba phụ nữ tuổi trung bình ngoài ba mươi đến bốn mươi, hai là cả ba thân thiết nhau như ba chị em ruột, ba là tất cả đều có chồng có con, đều có cảnh khổ như nhau, bốn là cả ba đều có cùng một động cơ thúc đẩy học đạo để được “nấp bóng đạo Công giáo”, năm là họ ăn mặc lúc nào cũng toàn đen và ai cũng có gương mặt trầm uất lạ lùng. Ba người cùng đến gặp tôi, rụt rè nhưng hết sức chân thành bày tỏ ý định tha thiết xin học đạo và theo đạo. Tuy không nói ra, nhưng lúc đó tôi rất mừng rỡ đón tiếp và hăng hái xếp giờ để dạy.
        Càng dạy họ lâu tôi càng hiểu rõ ngọn nguồn về họ.
        Người lớn tuổi nhất tên Lẹ. Chị Lẹ 36 tuổi. Đã có chồng và hai con. Sống với chồng bao nhiêu năm thì cũng bấy nhiêu năm bị chồng hành hạ, đánh đập và ngược đãi rất thương tâm. Nhân chồng có vợ bé, chị Lẹ nhờ chính quyền can thiệp cho chị ly dị để thoát khỏi tay người chồng quá vũ phu và độc ác; nhưng không được. Chị cầu cứu đến thế lực của một thầy bùa danh tiếng trong vùng và đã được toại nguyện.
        Người thứ hai tên Mai. Chị Mai 33 tuổi. Đã có chồng và có con nhưng con chị đã mất từ lúc mới lên vài tháng tuổi; bị chồng đánh đập tàn nhẫn hầu như hằng ngày sau mỗi cơn nhậu say xỉn, nhất là sau những trận thua cờ bạc đến trắng tay… Sau một trận đòn chết đi sống lại lần cuối, chị Mai được chị Lẹ đưa đến với thầy bùa nói trên và cũng được cứu thoát.
        Người thứ ba tên Liên. Chị Liên 32 tuổi. Đã có chồng và có một đứa con. Chồng chị Liên vì nghi ngờ cha ruột của anh ta có tình ý và thông dâm với vợ mình nên ghen tuông không thể tưởng rồi sau đó lao vào một đơn vị biệt kích cảm tử, từ đó vắng nhà biền biệt, thỉnh thoảng có về thăm nhưng là để đánh đập chị không nương tay. Chị Liên cũng nhờ đến cùng một thầy bùa như chị Lẹ và chị Mai và đã trút bỏ được người chồng tàn nhẫn.
        Cả ba có hoàn cảnh đặc biệt đau khổ, đều rất căm hận đàn ông, nên dễ dàng đến với nhau kết thân rồi giúp đỡ nhau và nương tựa nhau đến độ trở nên thân thiết như ba chị em ruột.
        Nhưng điều làm tôi vô cùng sửng sốt là cả ba đều đã, thông qua ông thầy bùa, ký công-tra(*) bán mình cho ma quỷ. Thoạt đầu tôi không tin, lại còn tưởng rằng các chị nói đùa cho vui; đó chẳng qua là vì tôi suy nghĩ, nếu thật sự đã bán cuộc đời mình cho ma quỷ, ba chị không thể nào đến nhà thờ được chứ đừng nói học giáo lý hoặc manh nha có ý đồ xin tòng đạo; tôi còn nghĩ thêm rằng, nếu thật sự các chị đã bán linh hồn cho ma quỷ thì hình hài dung mạo của các chị không thể bình thường quá đỗi như tôi đang trông thấy, nghĩa là hiện tôi trông thấy dung mạo và phong cách của ba chị vẫn cứ như người bình thường, lại còn có vẻ tiều tụy, nghèo hèn và đầy vẻ cam phận; tôi còn nghĩ xa hơn như thế này, nếu thật là những người của ma quỷ hẳn không hề thuận thảo nhau, huống chi đoàn kết, giúp đỡ nhau và cùng nhau hướng đến một điều gì tốt đẹp.
        Nhưng dần dần qua câu chuyện, các chị đã giải đáp hết mọi thắc mắc đó của tôi, cho tôi biết thêm nhiều chuyện đặc biệt –thật là… trong giờ học giáo lý tôi là người dạy cho các chị, nhưng ngoài giờ học giáo lý các chị là những người dạy lại tôi-, các chị kể:
        Một hôm chị Lẹ, người lớn tuổi nhất, tình cờ lượm được một xâu chuỗi trên đường ra chợ trở về. Tưởng đá quý, chị đem về nhà cất giữ. Sau một thời gian, chị nghiệm ra rằng, từ khi đem xâu chuỗi về nhà cất giữ chị bị những cơn đau dữ dội khi thì chỗ này khi thì chỗ khác trong cơ thể, kèm theo là những cơn bức bối trong thâm tâm lẫn thể xác vô cùng ray rức và khó chịu không thể tả; cứ mỗi lần xảy ra như thế chị thử vứt xâu chuỗi ra đống rác sau nhà thì mọi sự bỗng dưng biến mất, khỏe mạnh lại bình thường. Lẽ thường, ai gặp cảnh ngộ như thế hẳn sẽ rất mừng rỡ và vứt bỏ xâu chuỗi đi cho xa; chị Lẹ thì không; chị linh cảm có điều gì đó bí ẩn… chị liền tìm cách hỏi han một người có đạo bởi chị thấy ở đầu xâu chuỗi có gắn một cây thánh giá. Khi biết ra đó là một chuỗi kinh quan trọng của người Công giáo, chị Lẹ càng tò mò hơn gấp nhiều lần, chị lý luận: tại sao người Công giáo giữ nó bên mình thì không sao, còn mình giữ trong nhà thì sinh ra đủ mọi chuyện xấu. Còn nhiều chuyện khác nữa xảy ra chung quanh vụ xâu chuỗi khiến chị Lẹ ngày càng tin rằng có một quyền lực còn mạnh hơn thầy bùa và ma quỷ, quyền lực ấy nằm trong đạo Công giáo. Chị chia sẻ với chị Mai và chị Liên. Dần dần họ tìm đến người Công giáo trong xóm đạo để trao đổi, hỏi han và xin ý kiến. Tôi chỉ kể sơ qua chuyện xâu chuỗi, và chỉ kể một cách tóm tắt, vì còn rất nhiều chuyện không thể kể ra ở đây. Nói tóm, một duyên may kỳ lạ đã cứu ba người phụ nữ bất hạnh đang ở tận đáy vực sâu của đời người. Duyên may ấy chính là lòng xót thương của Đức Mẹ đối với những ai gìn giữ chuỗi Môi khôi, dù mới chỉ là cất giữ xâu chuỗi thôi. Tôi dám quả quyết như vậy.
        Chuyện đi học giáo lý để xin tòng đạo cũng là kết quả của cả một hành trình gian lao khổ ải. Ai tinh ý một chút đều có thể có nhận xét rằng có những người đến với Chúa dễ dàng đến độ giản đơn, những cũng có những người để đến được với Chúa, họ phải nếm đủ mùi vị cay đắng tân toan; điều đó cho biết, Chúa chọn ai người đó được, Chúa không chọn thì ngay cả cái ước muốn cũng không có.
        Ba chị học đạo rất chăm chỉ và đặc biệt là cố gắng vượt bậc, vì trong thời gian học, đã xảy ra nhiều trở ngại tưởng chừng như họ bị thất bại khiến phải “giữa đường gãy gánh”. Nhiều chuyện xảy ra liên tiếp, ví dụ chị Mai bị trộm vét sạch hết của cải trong nhà chỉ trong một đêm ngủ mê. Nào hai đứa con của chị Lẹ bỗng dưng thay nhau bị bạo bệnh tưởng không còn có thể giữ nổi mạng sống nữa. Nào là giữa đêm thanh vắng, nhà chị Liên phát hỏa cháy rụi mà không sao tìm được nguyên nhân. Thôi thì biết bao tai ương xảy đến cho ba chị, vừa dồn dập vừa oan nghiệt, may là tôi có chút ít hiểu biết cộng với chút ít kinh nghiệm nhỏ nhoi, nên biết dùng lời lẽ lẫn cử chỉ để trấn an, chia sẻ và nâng đỡ các chị, giúp các chị vượt qua.
        Không chỉ các chị mà thôi, chính tôi đây, một hôm ông mặt dẹp đến đe dọa tôi đừng dạy ba người đàn bà ấy học đạo, vì họ là cán bộ CS nằm vùng, chính quyền đang theo dõi, và cả tôi cũng bị theo dõi lây v.v... Thời này dễ bị người khác chụp mũ và dễ mất mạng vì những lối chụp mũ như thế. Nhưng chuyện sau đây thì đúng là quá quắt! Một hôm vô cớ, có hai người đàn ông hung dữ đến gây sự với tôi và sau đó la ầm lên rằng tôi quyến rũ ba người phụ nữ để lấy cả ba làm vợ. Tôi bị mệnh danh là “thầy tu ba vợ” trong toàn vùng suốt từ đó cho đến ngày tôi ra đi khỏi Long Thạnh (**).
        Trong suốt thời gian ba phụ nữ bất hạnh đang trên con đường đến với bí tích Rửa tội, tôi là người vừa dạy vừa cận kề để ủi an, nâng đỡ, cổ vũ và nhất là giải thích “điều hơn lẽ thiệt” họ; trong lúc ấy không ai biết, cha sở Chân Phúc và cha sở Luca lại là những người nâng đỡ, ủi an, nâng đỡ và cổ vũ lại tôi, -tôi thường xuyên liên lạc để xin ý kiến các ngài- nhờ một lực lượng cứng cáp sau lưng, tôi hoàn thành nhiệm vụ cực kỳ khó khăn mà với sức tôi, một mình tôi không thể làm được.

        Đến ngày rửa tội, chuyện càng không đơn giản.
        Ba người phụ nữ bị hành hạ đến tơi tả.
        Khi cha sở Chân Phúc hỏi chị Lẹ:
        - Con có từ bỏ ma quỷ không?
        Chưa kịp trả lời, chị Lẹ ngã vật xuống đất mạnh đến nỗi nghe một tiếng “ạch”, đôi mắt trợn trừng, bọt mép sùi ra, giãy giụa như con cá bị đập đầu đánh vẩy.
        Rất bình tĩnh và đầy kinh nghiệm, cha sở Chân Phúc lập tức ngồi thụp xuống theo, đổ nước trên đầu và đọc công thức rửa tội ngay cho chị. Chị dần bớt co giật, từ từ tỉnh lại rồi sau đó trở lại bình an như cũ.
        Trong lúc đang rửa tội cho chị Lẹ, chị Liên thình lình vùng bỏ chạy như bị ai đuổi. Nhờ cha sở Chân Phúc đã tiên liệu, nên bố trí sẵn nhiều đàn ông và thanh niên để rượt đuổi theo chị. Bao nhiêu là đàn ông lẫn thanh niên mạnh khỏe nhanh nhẹn, nhưng không ai chạy kịp với chị Liên. Gần một giờ sau người ta mới đem được chị về trong tình trạng áo quần tả tơi, tóc tai bù xù và còn có cả một sợi dây luộc (***) đang quấn quanh cổ chứng tỏ có ai đó nhất định xiết cổ hay treo chị lên cây để giết chết chị.
        Chị Mai thì khác. Cứ đứng nhe răng cười với nụ cười… đáng sợ. Dù không té vật, dù không bỏ chạy, nhưng cái cách của chị Mai làm mọi người ớn cả xương sống. Quả đúng như vậy! Khi cha sở Chân Phúc toan rửa tội cho chị, chị gạt phắt tay cha; những giáo dân đàn ông lao động với chân tay lộ rõ những bắp thịt cuồn cuộn, gân guốc chắc nịch… chỉ cố làm một việc là giữ chị lại thôi, vậy mà xem ra chẳng ăn nhằm gì. Thế là một cuộc đấu vật xảy ra giữa một người phụ nữ ốm yếu duy nhất với năm bảy người đàn ông sức lực ngay tại lòng nhà thờ. Cuối cùng phải vất vả lắm đám đàn ông kia mới người giữ tay người nắm chân chị Mai cho chị ở yên trong tích tắc. Cha sở Chân Phúc rảy nước thánh trên đầu chị và đọc công thức rửa tội, sau đó chị mới dịu dần lại và ngoan ngoãn lãnh nhận những nghi thức tiếp theo.
        Sau khi đã rửa tội cho ba phụ nữ xong, mọi người thở phào nhẹ nhõm và tỏ ra rất vui mừng. Thánh lễ kết thúc, ba chị lại trở về trạng thái của những phụ nữ tay yếu chân mềm, mạnh khỏe và tươi tỉnh. Cha sở Chân Phúc cấm không cho ai tỏ vẻ hay bàn luận về bất cứ điều gì trong câu chuyện rửa tội vừa xảy ra. Mọi giáo dân có mặt trong thánh lễ hôm đó càng tin Chúa mạnh mẽ và quyết liệt hơn.
        Bài giảng thánh lễ của cha sở Chân Phúc hôm đó có một câu rất hay:
        - Chơi với ai, người đó sẽ chơi lại. Đi với ai, người đó sẽ ủng hộ. Tin vào ai, người đó sẽ giúp đỡ. Vậy nếu chúng ta chơi với ma quỷ, đi với ma quỷ và tin vào ma quỷ, tất ma quỷ sẽ xúm xít vây quanh lẩn quất ngày đêm bên chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta theo Chúa, tin Chúa và kết hiệp với Chúa… Chúa sẽ ở bên cạnh chúng ta.
        Những lời trên rất thích hợp trong hoàn cảnh và nơi chốn này, vì dân vùng này rất tin nghe các thầy bùa, họ chạy đến thầy bùa nhanh, dễ, và tự nhiên như ta ghé nhà thuốc mỗi khi trái gió trở trời.

        Tôi kể lại mọi việc với cha sở Luca sau đó, cha khuyên tôi:
        - Hãy cẩn thận! Vì chuyện chưa chấm dứt ở đó đâu con ạ!
        Đúng như thế.
        Ông thầy bùa, người đã từng can dự vào cuộc đời của ba phụ nữ, sai người nhắn gửi tôi:
        - Mày đã xen vào việc của chúng tao. Mày sẽ không yên với chúng tao đâu!
        Vài ngày sau một người lạ hoắc khác đến cũng nhắc lại cùng một lời đe dọa như trên.
        Khoảng năm bảy hôm gì đó, một người lạ mặt nữa cũng mang đến cho tôi “thông điệp” ấy lần nữa.
        Tôi rất lo sợ. Không thể bất cứ lúc nào cũng chạy về cầu cứu với cha Luca; còn về cầu cứu với cha sở Chân Phúc thì dễ quá, nhưng ngài không phải là người để tôi trao đổi những chuyện đại loại như vậy.
        Tôi ôn lại trong đầu tất cả những chuyện cha Luca kể cho tôi nghe, ôn lại những điều tôi đã thấy cha Luca làm để từ đó tôi rút ra cho mình một giải pháp tốt nhất.
        Sau đó khoảng một tuần, giữa khuya đang ngủ, tôi giật mình vì nhiều tiếng động lạ lùng. Những tiếng động đó gồm có tiếng đoàn quân đi, tiếng ngựa hí, tiếng binh khí va nhau loảng xoảng, tiếng la hét, tiếng khóc than rên rỉ, gầm rú, chửi rủa, lẫn tiếng quát tháo ra lệnh và gắt gỏng. Tất cả cộng lại thành một thứ tiếng ồn nghe ghê rợn lạ –tôi không thể tả nổi cảm giác sợ hãi, cảm giác mà đến hôm nay tôi còn có thể hình dung lại được-, tiếng ồn ấy nghe hình như đang diễn ra trên hai con đường ôm sát cạnh khu vực nhà thờ.
        Vì nhà xứ có một bức tường nằm sát đường, giường ngủ của tôi lại nằm sát bức tường ấy, nên tôi có thể nghe được tiếng chân người qua lại, chính vì vậy tôi nghe rõ tiếng ồn lạ như sát bên tai.
        Tôi ngồi dậy đôi ba lần để định hướng tiếng ồn, nhưng không hề nghe tiếng ồn vào được trong sân nhà thờ, mà chỉ diễn ra ở ngoài đường, ở hai con đường một trước cửa nhà thờ, một bên hông phải nhà thờ.
        Tiếng ồn kéo dài cho đến gần giờ xả lệnh giới nghiêm đêm của quân đội thì dứt. Rồi cứ diễn ra như vậy hằng đêm trong suốt hơn hai tuần.
        Lúc đầu tôi không hiểu, nhưng dần dần tôi hiểu ra đó là trò của các thầy bùa muốn ám hại tôi; có điều tôi không hiểu ám hại kiểu gì kỳ lạ, tôi sợ hãi chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng không, sau hai tuần lễ -chỉ đơn giản làm tôi mất ngủ- mọi chuyện chấm dứt êm thắm.

        Khi kể lại cho cha Luca nghe, cha hỏi tôi đã dùng giải pháp gì, tôi thưa bắt chước cha tôi luôn cứ chốc lát lại giục lòng tin Chúa tuyệt đối.
        Còn cha thì lý giải cho tôi biết, đó là tiếng ồn của đám âm binh hùng hậu của ông thầy bùa định đến hãm hại tôi, nhưng do vào đến sân nhà thờ còn chưa được thì lấy gì mà hãm hại.
        Câu chuyện dần dần cũng phai mờ theo thời gian và theo ký ức non trẻ của tôi. Tuy nhiên mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn sợ. Sợ thì sợ, nhưng tôi rất vững tâm, vì sự tin tưởng tuyệt đối vào Chúa chính là sức mạnh vạn năng không quyền lực nào có thể bức hiếp tôi được; nhớ lời cha sở Chân Phúc:
        - Chơi với ai, người đó sẽ chơi lại. Đi với ai, người đó sẽ ủng hộ. Tin vào ai, người đó sẽ giúp đỡ. Vậy nếu chúng ta chơi với ma quỷ, đi với ma quỷ và tin vào ma quỷ, tất ma quỷ sẽ xúm xít vây quanh lẩn quất ngày đêm bên chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta theo Chúa, tin Chúa và kết hiệp với Chúa… Chúa sẽ ở bên cạnh chúng ta.
         
         
        (*) Công-tra (contrat): hợp đồng.
        (**) Sau ngày 30.4.1975, tôi có về thăm lại họ đạo Long Thạnh. Vừa đến bến xe, mấy tay chạy xe ôm ở đó nhác trông thấy tôi đã chào hỏi, cười đùa, chọc giỡn với vẻ thân thiện: “A! Ông thầy tu ba vợ!”; “Lâu quá rồi không gặp nghe!”; “Khổ cho ông! Có tiếng mà không có miếng!” v.v… Điều đó cho hay, tuy tôi bị người lương cả một vùng gán cho biệt danh không mấy tốt đẹp ấy, nhưng họ đã chẳng tin, trái lại còn dành cho tôi nhiều thiện cảm.
        (***) Dây luộc: một loại dây bện bằng xơ dừa, rất chắc, thông dụng ở miền Tây Nam bộ.
         
        Đã mang đến chương 33
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 ngày và 6 giờ bởi Thanh Vân >
        #34
          Sun Ming 6 giờ (permalink)
          Kỳ 34
           
          Sau khi ba người đàn bà “áo đen” gia nhập đạo Công giáo một cách suông sẻ, (nói suông sẻ cho oai kỳ thực tôi đã phải lắm phen “lên ruột”) tôi bắt đầu có linh cảm mình sẽ gặp nhiều rắc rối.
          Đúng như vậy. Rắc rối thứ nhất bắt đầu.
          Vào một ngày giữa tuần, đang nghỉ trưa, tôi nghe tiếng được tiếng mất giọng đàn ông say rượu chửi oang oang ở ngoài đường gần cổng nhà thờ. Tiếp theo là tiếng la ó có vẻ phản đối lại của những phụ nữ bán bánh, nước… người Công giáo gần đó; tuy nhiên giọng đàn ông kia vẫn cứ to ầm lấn át. Không khó lắm! Chỉ trong phút chốc tôi đã nhận biết cách đại khái, đó là những lời thóa mạ Đức Mẹ của một người đàn ông và những tiếng bênh vực của những người phụ nữ.
          Tôi bước ra đứng ở ngạch cửa để biết cho rõ ai cả gan phạm thượng đến như thế vào thời buổi tôn giáo như một mồi lửa bén nhạy.
          Đó là tay cảnh sát, sau này tôi mới biết, tên Thân, nhậu say vào giữa trưa rồi đến trước cổng nhà thờ, vô cớ chỉ thẳng tượng Đức Mẹ Phù hộ Các Giáo hữu đặt trên cao ở mặt tiền nhà thờ mà chửi bới sỉ mạ một cách hết sức hỗn láo và phạm thượng.
          Tôi lúng túng chưa biết cách xử trí thế nào cho phải do luôn ghi nhớ quy luật: động đến những người thuộc chính quyền không hề hay ho chút nào.
          Hình như có người đến dìu hắn đi.
          Câu chuyện lập tức như lửa cháy bùng và lan rộng. Ban Quý chức và giáo dân bắt đầu tuôn đến nhà thờ như đi dự thánh lễ, gương mặt ai nấy lộ vẻ hết sức căng thẳng bởi nào là tức giận khi có kẻ xúc phạm đến Đức Mẹ, Đấng muôn người như một đều kính yêu; nào là căm giận kẻ đã chà đạp niềm tin của người Công giáo; nào là bị ức chế không dám phản ứng mạnh mẽ tức thời với những người thuộc ngành cảnh sát là ngành rất có thế ở các vùng biên giới hỗn loạn; nào là cảm thấy bị sỉ nhục khi có người dám xúc phạm đến nhà thờ của họ đạo, đến danh dự của họ đạo, đến hàng ngàn giáo dân... Nỗi thôi thúc nhất trong lòng họ lúc này là phải làm cái gì đó để trả đũa, trừng phạt… kẻo cha mẹ hiền lành con cái sẽ bị lấn hiếp về lâu về dài. Gần như sắp nổ ra một cuộc chiến tôn giáo tại giáo xứ Long Thạnh.
          Từng nhóm người nam theo nam, nữ theo nữ, già theo già, trẻ theo trẻ… túm tụm vào nhau bàn tán huyên náo và nảy lửa. Nhưng bàn ra tán vào đủ cách qua nhiều giờ liền vẫn không ra giải pháp đối phó nào khả thi; tôi bỗng bị thôi thúc bởi một áp lực gì đó bên trong nên đưa ra ý kiến:
          - Việc không giải quyết nổi này sao chúng ta không đem đến Chân Phúc trình với cha sở để ngài lo liệu giúp?
          Ai nấy bỗng như sực tỉnh rồi nhiệt liệt tán đồng.
          Tôi nảy ra tiếp một ý kiến nữa:
          - Ai đi tìm ông Giáp Luông dùm tôi! Vì từ đầu đến giờ tôi không thấy ông ấy. Chắc ông ấy đang bận rộn công việc gì ở đâu đó.
          Mọi người ú ớ. Kẻ hỏi xem mục đích, người rên rỉ “cái ông vô công rỗi nghề ấy hả?”, có kẻ không ngại miệng kêu lên “thầy tìm cái thằng cha vô tích sự ấy mà làm gì thầy ơi! Bao nhiêu người đây bàn còn chưa xong chuyện…” v.v…
          Tôi trả lời:
          - Cứ tìm cho được ông ấy về đây đã!
          Cũng dễ! Cánh đàn ông không phải mất nhiều thời giờ và nhiều công sức cũng đã đưa ông ta từ mâm nhậu “cóc ổi” về tận nhà thờ; cái khổ người cao lêu nghêu, đen nhẻm và gầy đuột như cây cột cháy rất đặc trưng ấy chẳng làm ai thích thú, nhưng mọi người cũng cứ tò mò muốn xem ông ta được tôi “ưu ái” vì cái gì. Tôi nói với ông:
          - Ông Giáp đã nghe hết sự việc rồi! Bây giờ phiền ông ngày mai đi ngay xuống gặp cha sở và trình bày mọi sự để xin cha giải quyết.
          Mọi người cười ồ. Ông Giáp Luông, con người thất học, khoái rượu và mê đàn bà –ai đặt ông ta lên làm ông Giáp thì tôi chưa tìm ra- lại còn nổi tiếng ba xạo và ma mãnh… nhưng lúc này bỗng tỏ vẻ khiêm tốn và thành thật. Ông ta la rân như bị bỏng lửa:
          - Không! Không được đâu! Thầy biểu tôi nhảy vào lửa tôi nhảy liền nhưng đừng sai tôi đi gặp cha sở, đừng bắt tôi trình thưa này nọ, bởi vì tôi đã không có “lời lẽ”, cái tội nhậu nhẹt lè phè của tôi cha sở còn chưa xử tội, giờ lại còn vác xác đến để lẻo mép… Không được đâu thầy ơi!...
          Tôi chỉ chờ có thế. Tuy nhiên tôi vẫn làm ra vẻ cố thuyết phục:
          - Vì ông chơi thân với chính quyền, bồ bịch với cảnh sát, nên ông sẽ thông suốt hơn mà trình bày mọi chuyện cho cha sở rõ… Chậc!... Hay là ông thấy ai ở đây có thể đại diện giáo dân đến gặp cha sở, xin thử đề cử!
          Tôi hỏi cho có hỏi, ở đây ai mà không đồng lòng đề cử ông Biện Chắc lãnh nhiệm vụ ấy.
          Chiều đến khi mọi người đã ra về, tôi nói với ông Biện Chắc rằng ngày mai không cần phải đi đâu, việc này chúng ta tự giải quyết được mà không cần đến cha sở. Tôi phân tích cho ông Biện Chắc rõ, chính ông Giáp Luông sẽ là người nhanh nhảu đi mật báo cho cảnh sát cuộc rõ ý định của chúng ta; mà giới chính quyền thì dư biết cha sở Chân Phúc là người rất có thế lực với tỉnh trưởng, quận trưởng… vậy khi biết điều đó, cả cuộc cảnh sát sẽ rung rinh, sau đó họ tự biết phải giải quyết ra sao cho đẹp lòng giáo dân của cha sở Chân Phúc.
          Không sai. Vào khoảng 21 giờ, ông trung úy trưởng cuộc cảnh sát Long Thạnh đi cùng 2 sĩ quan đến xin gặp tôi, nói lời xin lỗi thay cho toàn cuộc và xin nhận hình phạt cho tay cảnh sát liều lĩnh ban trưa. Tôi nói sẽ cho người đi Chân Phúc xin ý kiến cha sở, rồi báo lại.
          Ba hôm sau tôi mời ông trung úy trưởng cuộc đến và thông báo cha sở cho tôi và giáo dân tự quyền quyết định. Nhưng vì “tình làng nghĩa xóm” giữa họ đạo với cuộc cảnh sát địa phương, chúng tôi không đòi hỏi gì, chỉ cần phạm nhân làm một số việc có tính nghi thức trước mặt giáo dân là đủ.
          10 giờ sáng hôm sau, trước sự chứng kiến của đông đảo giáo dân đứng chật sân nhà thờ, đích thân viên trung úy trưởng cuộc cảnh sát giải tên Thân đến giữa sân, sau khi nói lớn lời xin lỗi Đức Mẹ, quỳ lạy 3 lạy, hắn ta ngỏ lời xin lỗi giáo dân, xong xuôi dâng đôi đèn cầy lớn để làm lễ chuộc tội.
          Ai nấy hả hê và truyền tụng cách giải quyết êm thắm vừa có tính răn đe của tôi. Lúc đó tôi cảm thấy tự hào và lên mặt kiêu hãnh. Ngày xưa, giới chủng sinh (từ tiểu chủng sinh cho đến đại chủng sinh) chúng tôi có tâm lý không mấy ngưỡng mộ những linh mục thánh thiện, bác ái, khiêm tốn, hiền lành… nhưng lại rất ngưỡng mộ những linh mục “hét ra lửa” tức có thế lực với chính quyền các cấp, những linh mục “ăn to nói lớn” chẳng sợ ai, những linh mục có phong cách ông lớn, hay những vị nhiều mưu kế chính trị và khôn lanh ứng phó với mọi người. Đành rằng chủng viện không trực tiếp dạy các môn học như ngoại giao, chính trị, lãnh đạo; đành rằng chủng viện không trực tiếp đào tạo tính quan liêu, tính quý tộc, tính kiêu căng, hống hách, óc địa chủ và thống trị… nhưng chủng viện cứ để mặc chủng sinh (là những người trẻ ở độ tuổi non nớt luôn tìm cho mình một vài thần tượng) tự do nuôi dưỡng những khát vọng rất đối nghịch với nếp sống tu (là sửa), nếp sống từ bỏ, nếp sống chứng nhân Tin mừng (về bác ái, khiêm tốn, hiền lành). Chính vì vậy tôi mau chóng và dễ dàng lầm tưởng và tự đắc rằng mình vừa mới làm nên một kỳ tích hiển hách.
          Có lẽ chính vì vậy mà ngay lập tức sau đó, tôi gánh chịu một tai họa suýt mất mạng.

          Ông Giáp Luông là người cáo giác hết tất cả những gì tôi phê bình chỉ trích chính quyền nhất là ngành cảnh sát. Thật vậy, vì bất bình, tôi theo gương một số linh mục lúc bấy giờ, dùng giảng đài trên cung thánh để lái mọi dịp giải thích Lời Chúa sang hướng nặng lời với chính quyền. Chính quyền nhất là cảnh sát cuộc có lẽ căm ghét tôi kinh khủng; vì thế chuyện họ tìm mọi cách triệt hạ tôi là điều không tránh khỏi.
          Lần cấm phòng tháng kế tiếp, sau khi ra phòng, trên đường trở về Long Thạnh, tôi ghé chơi nhà xứ Chân Phúc; vì mải mê vui đùa với một vài người bạn tu mà lỡ quên cả giờ giấc cho đến khi giật mình nhìn đồng hồ thì trời đã qua buổi trưa, tôi hối hả lên đường. Sau khi sang sông, tôi kêu một chiếc xe Honda ôm thẳng về Long Thạnh.
          Xe chạy ngon trớn, qua khỏi những ngôi làng âm u, tịch mịch và buồn tẻ của người Chăm thì trời cũng vừa sụp tối; lúc này xe bắt đầu tăng tốc để vượt nhanh qua vùng cây cối rậm rạp, hoang vắng và tối mù.
          Bất ngờ có nhiều tiếng súng nổ.
          Chiếc xe đang chạy với tốc độ cao bỗng như khựng lại, rú lên rồi quăng anh lái xe cùng với tôi xuống đường đất văng về phía trước; chúng tôi “bay” đi một quãng khá xa va vào các gốc cây ven đường. Trong khoảng thời gian nhanh như chớp ấy tôi còn kịp nghe ra được tiếng những viên đạn rít “chiu chíu” ồ ạt bay ngang qua tai gần như bao phủ lấy tôi. Sau đó tôi không còn biết gì nữa.

          Khi tỉnh dậy, tôi không còn nghe tiếng súng hay tiếng động gì nữa ở chung quanh. Mất khá lâu tôi mới nhận ra mình còn sống và đang nằm trên đất lạnh giữa trời tối đen như mực; chợt có tiếng người thì thào nói chuyện với nhau:
          - Chết thiệt chưa?
          - Đ.m. sao mà sống nổi!
          - Thôi! Rút!
          Tôi sợ quá nên giả bộ nằm im như chết. Thận trọng chờ đợi thật lâu đến lúc thấy đã chắc chắn không còn ai quẩn quanh nơi đó nữa, trong bóng đêm mịt mù, tôi từ từ nhổm dậy quan sát tới lui năm lần bảy lượt. Tôi cảm thấy đau đớn khắp người. Thử cử động từng bộ phận cơ thể xong, tôi cố gắng cho thật nhanh đứng lên và rời ngay khỏi nơi này.
          Sự hoảng sợ khiến tôi quên mọi đau đớn đồng thời cho tôi thêm sức mạnh dù đầu đang nhức từng cơn như búa bổ, tứ chi gần như rơi rụng từng phần; tôi len lỏi trong hàng cây cao cao ven đường, vừa lê từng bước vừa nép sát lề đường và cũng vừa chong mắt nhìn vào bóng tối và lắng tai nghe từng tiếng động; tôi lếch thếch đi bộ thật êm hướng về Long Thạnh. Cứ đi một quãng ngắn, tôi lại ngồi xuống đất hay dựa vào thân cây để nghỉ mệt. Tuy mừng rỡ vì vừa thoát chết nhưng lòng vẫn nặng trĩu mối âu lo sợ hãi.

          Khi còn cách Long Thạnh khoảng vài ba cây số thì trời đã mờ mờ sáng. Đói, khát, mệt và đau đớn; tôi thầm nghĩ trong đời mình chưa từng nếm trải mùi gian nan cam khổ như thế này. Tôi do dự mãi rồi sau cùng quyết định ghé vào một ngôi nhà nhỏ ven đường vừa mới mở cửa để xin nước uống. Nhìn thấy dáng dấp thê thảm, áo quần tả tơi của tôi chủ nhà ngạc nhiên, hỏi han. Khi biết tôi bị cướp, hai vợ chồng già giúp đỡ lau chùi và băng bó vết thương, cho uống nước và ăn một cái bánh ít, rồi người chồng đi ra xóm vắng; một lúc lâu ông đưa về một chiếc xe đạp kéo thùng; người đạp xe lôi thùng lặng lẽ chở tôi về nhà thờ Long Thạnh.

          Khi xe dừng trước cổng nhà thờ, tôi thấy các ông Biện, Giáp và nhiều giáo dân đang tụ tập ở đó; tất cả đều nhất loạt reo lên mừng rỡ như tôi vừa “từ cõi chết” trở về. Họ đỡ xuống và dìu tôi vào nhà xứ.
          Trong khi săn sóc vết thương cho tôi, mọi người phát hiện tôi bị nứt trán, rách da đầu, gẫy cánh tay phải, giập bàn chân trái và tưa tét đầu gối cùng rất nhiều vết thương do đạn gây xước da chằng chịt khắp người; rồi vì phải lê lết đi bộ suốt đêm trên một quãng đường dài gần hai mươi cây số nên vết thương ở bàn chân phải sưng phù và lở loét trông rất kinh khủng…
          Thầy thuốc băng bó, chữa trị, kê đơn hốt thuốc, còn các bà thì lo cho tôi ăn uống… Khi cảm thấy sức khỏe đang dần hồi phục, tôi mới tuần tự kể lại mọi việc nhưng vẫn cứ với ý nghĩ cùng cái giọng của một người vừa thoát chết từ một vụ giết người cướp của… đến khi các ông Biện, Giáp và giáo dân thuật lại rằng vừa mới sáng sớm đã có một thanh niên lạ mặt đến kêu cửa nhà ông Biện Chắc báo tin: “… ông thầy nhà thờ của các ông bị VC bắn chết tại xóm Chàm, mau đi xuống lấy xác” thì ý nghĩ của tôi và mọi người bắt đầu thay đổi. Họ kể tiếp: Tin sét đánh đó làm chấn động mọi người. Nhưng phải chờ hết giờ giới nghiêm, một nhóm giáo dân tức tốc đi ngay đến xóm Chàm.
          Mọi người chưa kịp kể xong câu chuyện thì nhóm giáo dân vừa nói đã về đến, họ ào ào vô nhà xứ. Tất cả những người này sững sờ và vui mừng khi nhìn thấy tôi. Họ kể đã gặp một xác chết nằm bên vệ đường với nhiều vết đạn ghim vào người. Họ mang về cho tôi túi xách bên trong vẫn còn đầy đủ giấy tờ tùy thân.
          Càng ngày câu chuyện tôi bị “cướp” càng trở nên khó hiểu.
          Nhưng rồi ngày qua ngày, bằng nhiều cách thăm dò, hỏi han, điều tra của nhiều giáo dân nam nữ già trẻ theo nhiều hướng khác nhau, cuối cùng mọi người xác định rằng tôi không bị cướp, nhưng bị một thế lực nào đó dàn dựng vở kịch “VC ám sát” để âm mưu giết tôi; thời buổi này người ta thường dùng mánh khóe tàn độc đó để thực hiện những cuộc thanh toán lẫn nhau.

          Trong dịp về thăm cha Luca sau đó, khi nghe tôi kể hết đầu đuôi câu chuyện, cha hỏi:
          - Nghe cách con kể, cha tin rằng con đã rút ra nhiều bài học, phải vậy không?
          Tôi thưa:
          - Thưa bài học đó là không được phép kiêu căng tự mãn; không bao giờ dùng giảng đài để chỉ trích ai.
          Có vẻ chưa hài lòng, cha Luca hỏi
          - Con không còn bài học nào nữa sao?
          Khi thấy tôi ấp úng không thể nói thêm được điều gì khác, cha ôn tồn dạy:
          - Mọi cảnh huống đều có thể xử trí bằng tinh thần Phúc âm! Tức bác ái yêu thương qua khiêm tốn và hiền lành.
          Tôi xin cha giải thích cách xử trí bằng tinh thần Phúc âm khi đang đứng giữa người cảnh sát phạm thượng và giáo dân quyết đòi cho được danh dự. Cha không giải thích trực tiếp vào thẳng vấn đề, nhưng nêu lên ba yếu tố giúp tôi suy nghĩ sự việc cách giản đơn. Cha nói:
          - Một là anh cảnh sát đó là người say rượu. Hai là người Công giáo thường coi trọng danh dự đến mất khôn. Ba là khiêm tốn và hiền lành có sức giải quyết mọi vấn đề cách tốt nhất.
          Cha sở Luca nhắc thêm:
          - Lẽ ra người tu chúng ta phải luôn nêu gương sống tinh thần Phúc âm trong mọi tình huống. Đằng này ngược lại.
          #35
            Sun Ming 5 giờ (permalink)
            Kỳ 35
             
            Như tôi đã thưa, sau khi ba phụ nữ “áo đen” lãnh bí tích Thanh tẩy, tôi bắt đầu có linh cảm mình sẽ gặp nhiều rắc rối. Quả đúng như vậy! Rắc rối thứ nhất vừa xong, tôi gặp ngay rắc rối thứ hai.
            Trước khi kể tiếp, tôi muốn nói chút suy nghĩ nhỏ. Phải thừa nhận Chúa vô cùng khôn ngoan, công bình, nhân hậu và đầy tình thương, đã an bài từ việc lớn đến việc nhỏ cho mọi con cái trên đời; một ví dụ mọn, dân quê hẩm hiu bị thiếu vắng bệnh viện, bác sĩ, thuốc men... thì Chúa liền bù đắp cho họ biết những phương thức lạ kỳ để chữa khỏi một số bệnh cách dễ dàng và mau chóng -dẫu dân thị thành không tin và có cười nhạo khinh dể. Ý tôi muốn nói, với những vết thương bị từ vụ chết hụt, nếu tôi đến bệnh viện tỉnh, chắc các bác sĩ sẽ chữa trị rườm rà và lâu lắc bằng thuốc men lỉnh kỉnh, chi phí tốn kém… trái lại, ở đây chỉ với ba ông thầy ta luôn sẵn lòng, tôi được chữa khỏi chỉ trong thời gian ngắn không ngờ: mười ngày. Một ông thầy chuyên về bó xương chẳng ồn ào, cách băng bó có vẻ thiếu vệ sinh nhưng chưa đầy một tuần, tay gãy của tôi lành lặn như cũ, trán bị nứt cũng chỉ bôi thuốc và bôi thuốc. Một ông thầy chuyên về các vết thương thuộc da thịt lại càng nhẹ nhàng hơn, xức thuốc tựa như bôi dầu nóng, vậy mà chỗ lở loét ghê nhất cũng chẳng có dịp để nhiễm trùng. Một ông thầy chuyên về nội thương chỉ cần bắt mạch hốt vài ba thang thuốc Bắc vừa trị bệnh vừa bồi bổ khiến tôi hoàn toàn khỏe mạnh như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Thật vậy! Mãi đến sau này tôi vẫn không bị một thứ bệnh hậu nào hành hạ.

            Khi tôi bắt đầu lao vào công việc thường ngày, bỗng một hôm có hai cô gái xinh đẹp lộng lẫy, tuổi độ đôi mươi cùng nhau đến xin học để được vào đạo Công giáo.
            Như thường lệ, tôi sắp xếp lịch dạy vào 2 giờ trưa mỗi ngày trừ chúa nhật và hăng say đem hết những kiến thức giáo lý nói cho họ. Bù lại, hai cô gái chăm học, siêng năng và đúng giờ.
            Tôi và hai cô gái mau chóng thân thiện với nhau vì họ thường hay nán lại một chút sau mỗi giờ học để trò chuyện, quét qua cái nhà, sắp xếp lại phòng khách, hoặc để giúp tôi vài việc lặt vặt trong nhà thờ. Thỉnh thoảng họ còn mua cho tôi đồ dùng linh tinh, quà bánh chút đỉnh… Nói chung, hai cô gái trẻ tuy rất đẹp nhưng cởi mở, ngoan hiền, duyên dáng và thật dễ mến.
            Có vài lúc tâm tư tôi thoáng chút nghi ngờ, ý nghĩ tôi thoáng chút lo lắng khi chợt nghĩ rằng, hai cô gái dáng người của phố thị này do ai sai tới để hãm hại tôi cũng nên; hoặc họ ngụy trang người tốt với ý đồ xấu. Nghi ngờ, lo lắng chỉ thoáng qua rồi tôi lại quên ngay khi thấy càng ngày hai cô học trò dễ cưng càng quyến luyến tôi cách lạ kỳ, quyến luyến hơn mức bình thường. Tôi không dám chắc trăm phần trăm là cả hai cùng phải lòng tôi, nhưng ánh mắt, cử chỉ, lời nói và nụ cười của họ lúc nào cũng hàm ý, lúc nào cũng làm cho tôi ngây ngất.
            Dần dần họ biết hết mọi ngõ ngách trong nhà. Đôi lúc họ còn sử dụng phòng vệ sinh, phòng tắm của tôi một cách rất thoải mái hồn nhiên. Thậm chí nhiều khi họ ra vô phòng ngủ rồi leo lên giường tôi để nghịch ngợm nằm thử.
            Nghĩ cũng tội cho giáo dân! Tôi đoán có lẽ trong thời gian đó thể nào cũng có vài ông Biện, ông Giáp, hay vài giáo dân muốn nhắc nhở, cảnh giác, khuyên nhủ để tôi đừng buông thả, đừng trầm mình trong sự liều lĩnh, chí ít cũng nên thận trọng đừng quá tin ai, nhất nữa tin những cô gái trẻ đẹp không phải người trong họ đạo. Có lẽ tại vì thời này tuy là thời của chiến tranh hỗn loạn, nhưng những tệ nạn như lừa gạt, ăn trộm, cướp giật, lừa tình… tương đối ít. Thật vậy! Đây là thời mà để quên xe đạp hay xe gắn máy ngoài đường không mấy khi bị trộm; tối ngủ không cần đóng cửa nhà; các nhà thờ đâu đâu cũng đều mở toang mọi cánh cửa và để như vậy suốt cả ngày, mặc ai ra vô tùy ý mà chẳng có việc gì xảy ra; người ta chưa có khái niệm rõ ràng về hàng giả, người giả, kẻ gian, vì thế người ta ít nghi ngờ nhau… Hay cũng có lẽ vì giáo dân rất kiêng dè tôi nên tuyệt nhiên chẳng ai dám lên tiếng để nhắc nhở, khuyên răn tôi. Vậy là tôi mặc sức “tung hoành” làm theo bản năng, sở thích và phán đoán ngốc nghếch của mình.
            Lâu ngày, hai cô học trò trẻ đẹp và quyến rũ ấy còn tìm mọi dịp để nắm tay tôi, để động chạm vào thân thể nhau, để đứng sát sạt như muốn dán vào người tôi dù miệng lúc nào cũng “thầy… thầy, trò… trò” ra vẻ nghiêm túc, ra cái điều chẳng có ý gì khác. Tôi cũng vậy nào có hơn gì!
            Mới chỉ có non một tháng mà ba thầy trò đã thân thuộc nhau, quen hơi nhau như đã qua một năm dài.
            Những giờ giáo lý ngày càng kéo dài ra hơn, vì tôi lúc nào cũng muốn được ở bên họ; lòng trí tôi đê mê quên hết thế sự khi có họ kề bên. Trong hai cô gái, tôi hứng thú nhiều hơn với cô tên Bích. Thấy tôi thiên vị như thế nhưng cô còn lại tên Loan chẳng những không ghen tuông, trái lại còn khuyến khích và giúp cho chúng tôi càng thân mật nhau hơn.
            Có những hôm khi từ phòng tắm bước ra vừa vào đến cửa phòng ngủ tôi tá hỏa khi nhìn thấy hai cô gái trút bỏ hết áo quần, trần truồng nằm trên giường tôi, miệng còn kêu: “Phòng thầy nóng nực quá thầy ơi!” để giải thích cho việc lõa thể tự nhiên như vậy.
            Có những lần cô Bích vào phòng tắm, rồi lấy lý do nhờ tôi việc gì đó, khi tôi bước vào thấy cô trần truồng. Đã không e thẹn, cô ta còn ra vẻ như tình thế bắt buộc phải vậy.
            Có những lúc cả hai ôm lấy tôi và có những cử chỉ cực kỳ khêu gợi.
            Tôi cứ để mọi việc trôi đi mà không có chút can ngăn. Đó là sự sai lầm và hư hỏng của tôi, điều làm tôi phải trả giá đắt. Sau này mỗi khi thưa chuyện với bất cứ bề trên nào, tôi đều thú nhận đúng sự thật, tuyệt không tìm cách biện minh cho mình, vì nhiều khi hậu quả xấu xảy đến chỉ vì mình buông mình trôi xuôi chưa cần phải có hành động xấu.

            Rồi chuyện gì phải đến cũng đến. Tôi thường tắm rửa vào buổi trưa, vừa do thói quen, vừa do nắng xứ này –sát nách Campuchia- có vẻ quá nóng vào buổi trưa, nhưng cũng vừa do hoàn cảnh, tức trong thời dụng biểu hằng ngày của mình, từ trưa đến chiều và từ chiều cho đến tận mười giờ đêm, tôi không còn một chút thời giờ dư nào để lo việc riêng mình.
            Chuyện xảy ra vào một ngày đầu tuần. Hôm đó nghỉ trưa vừa dậy, nghe tiếng chuyện trò ngoài sân nhà thờ tôi biết ngay hai cô học trò yêu dấu, Bích và Loan, đến học giáo lý như thường lệ. Nhìn đồng hồ thấy chưa tới giờ dạy, tôi vào phòng tắm.
            Tắm gần xong, tôi bỗng nghe tiếng la hét vang dội ngoài cổng nhà thờ. Tiếp theo là những thứ tiếng ồn ào của một nhóm người.
            Khi tôi chưa kịp nhận ra sự thể thì tiếng la hét ồn ào cùng tiếng chân chạy rầm rập của nhóm người đó tiến vào nhà xứ, xông vào tận phòng tôi đang tắm. Nhóm người đó vừa đập cửa phòng tắm vừa la hét ầm ĩ:
            - Đ.m. mở cửa! Mở cửa! Mở cửa ra mau, thằng chó!
            Không biết chuyện gì nhưng tôi không vội mở chốt cửa, để chờ xem có việc gì. Họ bắt đầu đập cửa mạnh hơn, dộng cửa, rồi mạnh tay đập phá đến tan tành cánh cửa gỗ mỏng manh, miệng la hét cách dữ tợn khi vừa thấy tôi:
            - Nó đây rồi! Bắt nó! Bắt nó giải cho chính quyền! Thằng đội lốt thầy tu! Thằng đồi trụy! Thằng trốn quân dịch để đi bắt gái, để hiếp dâm con gái nhà lành! ...
            Và còn nhiều tiếng la hét rủa xả thô bỉ nữa tôi không thể nào nhớ hết.
            Tôi không hiểu nhóm người này là ai, động lực gì khiến họ căm ghét tôi đến vu khống trắng trợn như vậy; cũng có thể họ là cha, bác, chú, anh, em, bạn… gì của hai cô học trò xinh đẹp kia cũng nên! Nhưng cái gì khiến họ vu khống tôi tội “bắt gái”; tôi đã làm gì để họ trút lên đầu tôi tội “hãm hiếp con gái nhà lành”?
            Phá được cửa, nhóm hung dữ ước độ bảy tám người phần đông là đàn ông trai tráng, xông vào túm chặt lấy tôi, lôi tôi ra ngoài không cho tôi kịp mặc áo quần; may là trên người tôi vẫn còn một chiếc quần đùi trắng, chiếc quần còn đang đẫm nước vì tôi đang tắm.
            Họ quát nạt, trói và hung hăng đẩy tôi ra ngoài sân nhà thờ.
            Ra tới sân, tôi còn hoảng hốt hơn khi nhìn thấy một cảnh tượng không thể ngờ. Hai cô học trò xinh đẹp kiều diễm ngày nào của tôi có mặt ở đó nhưng bỗng dưng họ như diễn viên đổi vai thay lốt; họ không còn là những cô học trò ngoan hiền, duyên dáng và dễ thương nữa rồi, mà đã trở thành những cô gái rất lạ lùng: già giặn, lõi đời, chua ngoa, đanh đá, dữ tợn và có vẻ gì đó rất gian manh xảo trá... tôi không thể tưởng tượng nổi! Cô gái tên Bích không một mảnh vải che thân, trần truồng như nhộng, hai tay bụm lại che phần thân thể phía dưới đang máu chảy đầm đìa, đứng dựa hờ vào tường vừa khóc rên ư ử vừa nhìn tôi với ánh mắt căm thù. Cùng lúc đó cô gái tên Loan với chiếc áo trắng mong manh dường như bị xé đến rách te tua, để lộ nguyên bộ ngực ra, đứng giữa sân dậm chân la hét một cách dữ dằn không ngớt những lời chửi bới tục tĩu và những lời nguyền rủa rất cay độc nhắm vào tôi.
            Khi tôi bị đẩy ra sân, cô gái tên Loan còn chỉ thẳng vào mặt tôi hét to:
            - Nó đó! Chính thằng khốn nạn này đây! Con quỷ râu xanh! Nó hãm hiếp hai chị em tôi! Nó làm hại đời con gái chúng tôi rồi!... Bà con tới đây mà xem! Thằng thầy tu hãm hiếp con gái… Trời tru đất diệt nó đi!... Đ.m. thằng thầy tu!
            Cô gái tên Loan còn hét to bằng nhiều lời lẽ tục tĩu khác nữa mà tôi không thể kể ra đây.
            Đến đây thì tôi bắt đầu dần hiểu ra mọi chuyện.
            Như đất trời đảo lộn, tôi cảm thấy mình lâu nay bị hai cô gái này lừa dối khủng khiếp, nói là để học đạo, nhưng để gài bẫy.
            Tuy nhiên, khi tôi quan sát thấy những người bắt trói mình đều là những người xa lạ, không hề có một giáo dân nào trong số họ, tôi liền cảm thấy bình tĩnh lại chút ít; vả lại, xô đẩy kéo lôi tôi ra được tới sân nhà thờ thì nhóm người này giờ đây hình như chẳng còn vẻ gì là hung dữ như ban đầu nữa, lại giống như chẳng còn việc gì để làm nữa, họ đứng xa xa có vẻ sớ rớ. Ngẫm nghĩ thấy đúng! Tự nãy giờ nhóm người này chung quy đã có đánh, có đá… tôi cái nào đâu! Còn nói trói thì cũng chỉ là buộc dây quanh hai cổ tay tôi một cách sơ sài đến nỗi tôi tin mình có thể bứt đứt dây trói dễ dàng. Nghĩ đến đó tôi có một cảm giác hơi yên tâm; cũng từ đó, tôi từ từ lấy lại chút ít bình tĩnh và đứng yên không nói tiếng nào.
            Chỉ trong nháy mắt, có lẽ chưa đầy 5 phút từ khi diễn ra sự việc, như đã có sắp đặt và như đã chực chờ sẵn đâu đó từ lâu, đại diện chính quyền xã, ấp, đi cùng với hai viên cảnh sát viên áo trắng, vài anh lính thuộc lực lượng nhân dân tự vệ vác súng trường có mặt đầy đủ; đối với hai cô gái thì họ đưa quần áo cho mặc, đối với tôi thì không, ngược lại họ còn mắng mỏ, hăm dọa và nạt nộ tôi một lúc; họ vào phòng học lôi bàn ghế ra ngồi lấy lời khai của hai cô gái -phải nói hai cô gái khai toàn những lời láo xược, man trá và bịa đặt trắng trợn không chút ngượng ngùng.
            Sau khi lập biên bản xong, họ đọc to rồi ép buộc tôi ký tên vào. Tôi nhất định không chịu ký. Họ quát tháo, mắng chửi rồi dọa sẽ giam tôi vào tù... Nhưng mặc cho họ nói gì, làm gì, tôi vẫn không ký tên vào tờ biên bản hình như đã được soạn sẵn từ trước.
            Thấy không buộc tôi được, họ cùng ký tên với nhau, rồi sai người đi tìm các ông Biện, ông Giáp để ký vào biên bản; nhưng mãi vẫn không tìm được ông Quý chức hay giáo dân nào ngoại trừ một vài giáo dân lam lũ nghèo dốt lấp ló chen lẫn với những người hiếu kỳ ngoại đạo đứng quanh các hàng rào nhà thờ.
            Nhóm người thuộc chính quyền lại sai nhau đi tìm ban Quý chức nhiều lần nữa.
            Tôi thấy lạ và tự hỏi tại sao vào lúc này, ban Quý chức lẫn giáo dân đang ở nơi đâu mà mất tăm mất biệt. Họ có hay biết sự việc đang xảy ra hay không? Nếu biết thì họ ở đâu và làm gì? Nếu không hùa theo hai cô gái kia và nhóm người lạ mặt nọ thì cũng hiện diện chứng kiến vì tò mò; nếu không bênh vực tôi thì cũng có mặt để xem người ta uy hiếp một ông thầy từng giúp đỡ họ đạo của họ. Tôi thật không hiểu ra làm sao, mọi tình huống đều có vẻ khó hiểu.
            Tôi còn đang nghĩ ngợi lung tung thì bỗng nghe tiếng huyên náo ở đoạn đường bên trái trước cổng nhà thờ. Một đám rất đông người có tổ chức kéo đến nhà thờ; đi đầu là một số ông trong ban Quý chức, sau đó là giáo dân. Tất cả rầm rập nhưng thinh lặng, tay không cầm gậy gộc hay một thứ gì... kéo đến đông đến nỗi đứng gần như chật kín sân nhà thờ, tràn ra ngoài đường.
            Tôi vẫn kịp nhận thấy, khi đám đông giáo dân còn cách nhà thờ gần trăm mét, nhóm người vây bắt tôi lúc nãy bỗng nhiên nháo nhào bỏ chạy tán loạn chui trốn mất dạng vào các con hẻm gần đó; hai cô gái láo liên hết nhìn chính quyền lại nhìn đám người đang đi tới, hình như hai cô gái cực kỳ lúng túng vì sợ hãi chẳng biết tính sao, nhưng rồi chỉ trong phút chốc, họ cũng nhanh chân bỏ chạy ra khỏi sân nhà thờ, rồi trốn thoát mà chẳng ai buồn ngăn chặn. Vài anh lính nhân dân tự vệ nhân không ai để ý, cũng khéo léo lách mình qua những lổ hổng của hàng rào dâm bụt trốn ra khỏi sân nhà thờ.
            Cũng vậy, khi ban Quý chức và giáo dân rầm rộ nhưng im lặng và trật tự tiến vào đứng chật kín sân nhà thờ, trong khi một vài ông Biện vội đi vào trong nhà lấy y phục ra cho tôi mặc, thì nhóm người thuộc chính quyền tự động đứng lên, nép vào nhau đứng ở dưới tán cây xoài, mất hết vẻ huênh hoang lúc ban đầu. Chỉ còn duy nhất ông đại diện Hội đồng xã là ngồi nhấp nhỏm trên ghế sau chiếc bàn; có vẻ như ông ta cố lấy hết can đảm để chìa tờ giấy biên bản hướng về phía các ông Biện ông Giáp và nói:
            - Ông thầy tu của các người đã vi phạm thuần phong mỹ tục cách công khai giữa thanh thiên bạch nhật và bị bắt quả tang. Nay lấy lời khai của những cô gái nạn nhân với sự chứng kiến của nhiều người, chính quyền lập biên bản, nhưng ông ta không chịu ký tên thì các ông phải đứng ra đại diện ký thay để đưa về cấp trên giải quyết.
            Các ông Biện, Giáp và giáo dân im phăng phắc, không ai lên tiếng.
            Chờ một lúc ông đại diện Hội đồng xã lại nói tiếp:
            - Ký hay không ký thì chúng tôi cũng phải giải ông ta về giam tại xã chờ ngày chuyển lên quận và tỉnh để đưa ra tòa...
            Mọi người vẫn trả lời bằng sự im lặng tuyệt đối. Ông đại diện Hội đồng xã còn nói thêm vài câu nữa, nhưng cũng chỉ nhận được sự im lặng.
            Đến hơn ba giờ chiều, nắng dịu, những người hiếu kỳ cũng nản lòng bỏ về dần, ông đại diện Hội đồng xã cuối cùng cũng đứng dậy rời khỏi ghế và nói một lần cuối:
            - Hừm! Tôi cho các người suy nghĩ đêm nay. Nếu không ký chúng tôi sẽ hành động, lúc đó đừng có trách.
            Ông lẹ làng ra về, nhóm tùy tùng cũng lẽo đẽo bước theo sau một cách rón rén.
            ...
            Khi tôi kể lại mọi sự việc cho ban Quý chức và giáo dân thì mọi người cũng đua nhau kể cho tôi nghe rằng từ lâu tất cả đã bàn bạc và chuẩn bị tinh thần để đối phó với tình huống xấu mà chính quyền sẽ hãm hại tôi. Vì vậy khi vừa nghe xảy ra chuyện, trước hết không ai tin, kế đến họp bàn cách đối phó.
            Nghe xong chuyện tôi mới biết họ đạo thực tình thương tôi, đồng thời nghiệm ra rằng, nhiều khi giáo dân biết hết và biết trước cả giáo sĩ tu sĩ, nhưng vì giáo dân không nói, khiến giáo sĩ tu sĩ cứ cho họ là ngu muội, dễ bảo... để rồi nhiều khi đi quá trớn và chuốc lấy thất bại.
            ...
            Sau khi mọi người ra về, tôi dần dần rơi vào cơn khủng hoảng của sự chán nản cùng cực. Khoảng vài ngày sau, tôi có một quyết định hầu như rất chắc chắn trong đầu rằng mình sẽ không tiếp tục đi tu nữa. Tôi không tỏ cho ai biết ý định ấy của mình, tôi giấu cơn giông tố đang ầm ầm nổi lên trong tâm hồn bằng cách giả bệnh suốt một tuần. Tôi tránh cả việc vào nhà thờ để khỏi kinh sách gì nữa với giáo dân, chỉ còn giữ duy nhất việc lần chuỗi và lần trong nước mắt.
            Tội nghiệp! Các ông Biện, ông Giáp… chia phiên canh giữ cho tôi khỏi bị hãm hại; nhưng họ đâu thể canh giữ nỗi buồn sầu chán nản lớn lao đang tấn công lòng tôi.
            Thương cho giáo dân! Nhất là các bà, rán tìm cách an ủi tôi, nhưng đâu ai biết tôi đang tìm cách trốn chạy.
            Lúc này tôi chỉ thèm về với má tôi thôi.
            Suy đi tính lại nhiều lần, tôi quyết tâm trốn khỏi họ đạo vào sáng đầu tuần tới.
            #36
              Sun Ming 5 giờ (permalink)
              Kỳ 36 
               
              Ý định trốn đi khỏi giáo xứ Long Thạnh, hay nói chính xác là trốn khỏi đời tu, vì quá chán mà không muốn tu nữa… đã nung nấu tâm can đến mức làm tôi mưu mô, khéo léo đóng kịch như đã vui vẻ trở lại với mọi người. Giáo dân ai cũng hớn hở vui mừng. Nhưng thật ra họ đâu ngờ rằng trong đầu, tôi đang lên kế hoạch ra đi rất chi tiết.
              Sở dĩ phải lên kế hoạch vì sau lần thứ hai bị hãm hại, cả giáo xứ quyết tâm không bao giờ rời mắt khỏi tôi đến nửa giây để bảo vệ tôi nghiêm nhặt… bằng cách họ cắt đặt sao cho luân phiên, lúc nào cũng có hai người ở trong nhà xứ quanh quẩn bên tôi. Mục đích, nếu lỡ xảy ra chuyện, một người ở lại sát bên tôi còn người kia đi cấp báo ngay cho một trong năm điểm canh –năm điểm canh chẳng qua là năm gia đình rất nhiệt tình, hăng say, lại nữa đều ở gần nhà thờ- năm điểm canh sẽ tỏa ra đi thông báo ngay cho khắp giáo xứ. Vì vậy kế hoạch là mưu kế giúp tôi qua mặt được “hệ thống bảo vệ” tinh vi ấy để trốn khỏi giáo xứ cách trót lọt.
              Tuy thấy trước mọi việc có vẻ sẽ rất khó khăn; nhưng vì quyết tâm quá mạnh mẽ, nên tôi vẫn có những toan tính có thể gọi là hoàn hảo.

              Khoảng 9 giờ sáng thứ hai, thời gian đầu tuần và đầu ngày này là thời gian mọi người luôn tất bật đi làm, đi công việc hay đi học… Do đã giả đò bị đầy bụng từ ngày hôm trước, nên lúc này tôi dễ dàng lấy lý do mình bỗng dưng bị đau bụng dữ dội.
              Tôi kêu Bên, một thiếu niên 16 tuổi, quê mùa, chân chất và cục mịch cạo gió và giác gió cho tôi.
              Được một lúc, tôi sai Hùng, một thanh niên bị tật ở chân, 21 tuổi, khôn khéo và láu lỉnh, đến tiệm thuốc Bắc của thầy Kính người Hoa thân quen nằm ở giữa chợ Long Thạnh để mua cho tôi một ít thuốc trị bệnh trúng thực. Thoạt nghe tôi sai, Hùng hơi thừ người suy nghĩ trong thoáng chốc; nhưng rồi anh cũng đành vâng lời. Úp cái nón lên đầu, Hùng khập khiễng đi ra đường. Tôi đã ước tính từ trước rằng với cách đi đứng không bình thường đó, thời gian đi và về lẫn phải nhùng nhằng trả lời cho những câu hỏi ân cần quá mức của thầy Kính… Hùng sẽ mất khoảng trên dưới 30 phút mới về đến nơi.
              Hùng vừa ra khỏi nhà, tôi lại ôm bụng lăn lộn, mặt thì nhăn nhó, miệng thì rên rỉ não nề… Thấy Bên đứng gần đó mặt cũng nhăn nhúm theo, tôi bảo Bên:
              - Đến nhà… bà năm Nào… xin bà… bứt cho thầy… một bó lá xông đau bụng… mau… lên!
              Không một chút do dự, Bên “dạ” rân một tiếng, rồi ba chân bốn cẳng phóng như bay ra khỏi cổng nhà xứ. Tôi cũng đã nhẩm tính từ lâu rằng chú bé này đi đến nhà bà năm Nào, cho dù hôm nay bà ấy có trở chứng, không đi lên vườn cách nhà non hai cây số để hái trầu về bán như thường nhật, thì mọi chuyện xảy ra dẫu suông sẻ lắm thì chú bé Bên cũng phải mất ít nhất 15 phút mới về đến nhà xứ.
              Khi Bên vừa khuất sau dãy nhà trước mặt, tôi quơ vội chiếc túi hiệu Air France nhỏ gọn thời này mọi người thường dùng, chứa bên trong chỉ vỏn vẹn một bộ quần áo xi-vin (civil) và vài món đồ lặt vặt –còn hai chiếc áo dòng đen thì tôi đã cẩn thận xếp gọn và đặt dưới chân tượng Đức Mẹ trong nhà thờ cho giống với hạnh các thánh xưa kể về một vị thánh đã làm như thế khi trốn khỏi nhà dòng để đi hoang. Tôi cẩn thận bằng cách thập thò một lúc nơi cánh cửa ra vào của nhà xứ để lượng định tình hình.
              Nhìn qua một lượt dãy hàng quán bánh nước phía bên kia đường chếch cổng nhà thờ, với đầy đủ các phụ nữ nhanh nhảu, háu chuyện và ưa rùm beng, tôi bỗng cảm thấy nên thay đổi một chút trong kế hoạch. Tôi bỏ lại hành lý, chỉ ra đi mình không.
              Với phong cách đàng hoàng như mọi hôm, tôi bước ra khỏi cổng nhà thờ.
              Tiến thẳng lại chỗ bán nước giải khát, tôi nói với chị đứng sau xe bán nước:
              - Khoảng năm phút sau, chị Bảy cho bé Thảo bưng vào cho tôi 3 ly nước đá hột é. Vì một lát sau tôi có ba người khách.
              Tôi vừa móc tiền ra trả vừa trò chuyện bâng quơ và vui vẻ với những phụ nữ còn lại ở các sạp bên cạnh. Đang nói chuyện này chuyện kia, tôi đột nhiên hỏi mọi người:
              - Vào giờ này, bà năm Nào đi hái trầu đã về đến nhà chưa? Các chị có biết không?
              Các phụ nữ đua nhau trả lời. Không màng nghe, tôi vội rảo bước tiến về một con hẻm vắng nhất trong số các con hẻm gần đó. Vừa đi, tai tôi vừa văng vẳng nghe các phụ nữ hỏi với theo:
              - Ủa! Sao thầy đi lối đó?
              - Đi đường này nè thầy ơi!
              - Nhà bà năm Nào đi hướng này chớ! Sao thầy lại đi lối đó? …
              Tôi luồn lách qua những con hẻm chằng chịt. Tôi vẫy tay thay cho lời đáp trả lại những lời chào, hỏi búa xua của những người đi đường lẫn những người trong nhà cạnh đường.
              Thoát ra khỏi hẻm tôi gặp ngay khu chợ cá. Thoát ra khỏi chợ cá tôi bước vào khu phố bán nồi niêu xoong chảo, đồ gốm và bếp lò. Ở đầu kia của khu phố là rạp hát nhỏ; trước rạp hát tôi thấy khoảng đất trống có bãi xe ôm. Tôi ngồi lên một chiếc xe Honda 67 màu đen của người đàn ông thương phế binh trọng tuổi dáng vẻ hiền lành, ít nói rồi xin đi về bến đò Chân Phúc.
              Khi xe đã chạy suôn sẻ thoát ra khỏi chợ Long Thạnh, tim tôi mới dịu lại, không còn đập loạn xạ như trước vì tin chắc rằng kế hoạch của mình đã thành công mỹ mãn.
              Bây giờ đã đến lúc tôi phải quên hết quá khứ buồn tủi để chỉ nghĩ đến tương lai trước mặt, ngày mai sẽ làm gì, ngày mai sẽ ra sao... Tôi nghĩ rằng, một khi xuất tu thì phải đi lính tức vào quân đội ngay. Hoàn cảnh của tôi hiện giờ chỉ nên vào trường sĩ quan Thủ Đức mà thôi. Còn tương lai ra sao thì chỉ biết phó mặc cho định mệnh. Tuy nhiên trước hết phải về nhà và nói rõ ràng ngọn nguồn phân tỏ cho má tôi biết… Chắc má tôi khóc đến sưng cả mắt cho coi! Tôi không định ghé cha Luca.
              Khi xe đã đi vào con đường độc đạo dẫn về bến đó Chân Phúc chừng vài cây số, khi đầu óc tôi còn đang lan man đủ chuyện thì thình lình người đàn ông thương phế binh lái xe ôm kêu lên:
              - Cái gì nữa vậy trời?...
              Tôi nhìn ra trước mặt.
              Nhưng khi vừa kịp nhận ra thì cũng là lúc đám người cùng với xe cộ đã đứng dàn ra giữa đường cản hết lối đi.
              Tôi vô cùng sửng sốt khi nhận ra đám người chận đường đó là những người đàn ông và phụ nữ giáo dân Long Thạnh. Có cả vài ông Biện, ông Giáp ở trong số đó nữa. Một vài người nói như quát với người lái xe ôm hiền lành:
              - Yêu cầu dừng xe lại!
              - Yêu cầu anh quay đầu xe trở về Long Thạnh ngay cho!
              - Yêu cầu anh nhận tiền lộ phí rồi để thầy tui lại, quay trở về!
              Để một hai người thu xếp với ông lái xe, số còn lại vây quanh vây lấy tôi vừa nắm áo nắm tay… vừa khóc lóc rên rỉ vang dậy cả một khúc đường:
              - Thầy ơi thầy bỏ đi hả thầy?
              - Thầy đành lòng bỏ chúng con sao thầy?
              - Thầy ghét chúng con lắm hả thầy?
              - Thầy ơi trở về với chúng con đi!
              - Thầy ơi!... Thầy ơi!…
              Tôi bàng hoàng, ngượng ngập, tiu nghỉu… chỉ biết đứng đờ ra đến không còn thốt ra được một lời nào.
              Tôi im lặng riu ríu bước lên ngồi sau xe Honda của một ông Biện rồi cùng đoàn người trở về nhà xứ Long Thạnh.
              Về đến nhà xứ tôi thấy giáo dân, có cả một số người lương, đã tu tập kín ngoài sân lẫn trong nhà; mọi người khóc như mưa; trong khi khóc, kẻ trách, người xin, kẻ than, người kể:
              - … Cũng phải thôi! Giáo xứ này bạc bẽo với thầy quá nên thầy mới bỏ đi…
              - Thầy ơi! Đi làm chi tức tưởi như vậy!...
              - Chúng con có tội tình gì mà thầy đành lòng bỏ chúng con…

              Họ làm tôi khóc mùi.
              Nhưng tôi khóc vì chuyện khác. Chuyện tôi day dứt và trăn trở bao ngày với ý định muốn bỏ trốn khỏi đời tu nhưng số kiếp không cho. Thấy tôi khóc, mọi người già trẻ lớn bé càng khóc lớn.
              Gần đến trưa, ban Quý chức tề tựu đầy đủ. Họ đại diện cho giáo xứ nói lên đủ mọi lời chân tình. Họ nhận về mình những lỗi mà họ không có. Tôi cảm thấy xót xa trong lòng không thể tả và thầm trách mình đã đối xử không tốt với họ đạo. Để đền đáp, tôi không ngần ngại hứa với họ sẽ không bỏ đi cho tới kỳ hạn bề trên ấn định. Nói gì thì nói, tôi vẫn cứ giấu việc tôi ra đi là vì quá chán đời tu, không muốn tu nữa… chứ nào có giận hờn gì giáo dân!
              Giáo dân không chịu về nhà, chỉ một số ít ra về, số còn lại cứ nấn ná mãi ở nhà xứ.
              Tối đến, một phần đông ra về, số ở lại, cánh đàn ông thì uống trà hút thuốc, các phụ nữ thì nấu nướng… tất cả cố tìm mọi cách làm cho tôi vui. Họ còn qua đêm ở nhà xứ với cái vẻ như sợ tôi lại bỏ đi lần nữa.

              Vài ngày hôm sau, vì đã trải qua nhiều ngày ăn không trôi, nhiều đêm không chợp mắt, vì tâm trạng lúc nào cũng căng thẳng trong rối rắm bất an, buồn sầu chán nản, âu lo do dự… tôi thấy cơ thể có vấn đề, nghĩa là bỗng dưng tôi cảm thấy suy sụp và yếu dần. Tôi từ từ chìm vào cơn bệnh thương hàn kèm thêm suy nhược cơ thể.
              Tôi mê man trong những cơn sốt liên tiếp và vật lộn với những ác mộng xảy ra không ngừng.

              Tôi liệt giường suốt một thời gian dài. Nhờ giáo dân cùng với các thầy thuốc Bắc người Hoa, người Việt tận tình chạy chữa, chăm sóc… cuối cùng tôi thoát khỏi cơn nguy kịch, bình phục trở lại trong sự mừng rỡ của giáo dân họ đạo.
              Tôi tin chắc có ai đó đã đến tận giáo xứ An Biên báo tin và kể hết tình hình của tôi nên cha sở Luca đến thăm tôi.
              Ngày cha đến, tôi còn nằm liệt trên giường bệnh nên không hay biết. Một buổi trưa mở mắt ra tôi thấy cha ngồi cạnh giường, cầm tay tôi cha nhẹ nhàng an ủi:
              - Rán đi con! Rồi mọi việc cũng sẽ qua thôi!

              Cha ở lại với tôi đến hơn một tuần. Một hôm khi thấy tôi đã khỏe nhiều, cha hỏi:
              - Con định bỏ tu phải không?
              Tôi ngại sợ, tránh ánh mắt của cha và không biết thưa lại gì. Cha cũng im lặng.
              Tôi thắc mắc không hiểu do đâu mà cha biết ý định thầm kín, ý định mà tôi chưa một lần nói ra với ai. Tuy nhiên khi nhìn thấy hai chiếc áo dòng đen được giặt ủi, treo cẩn thận trên mắc áo ở đầu giường, tôi đoán giáo dân đã hiểu được điều gì trong lòng tôi. Tôi khéo léo dò la tin tức nơi các phụ nữ, nhưng các bà này cũng úp mở rằng “trong những lần mê sảng, thầy ú ớ ghê lắm!
              Khi thấy tôi gần trở lại bình thường, cha Luca khích lệ:
              - Con can đảm và mạnh mẽ lắm! Ở trường hợp như con, khó ai có thể đứng vững được.
              Cha im lặng một lúc rồi nói tiếp:
              - Đây là trận đòn thứ ba mà ma quỷ muốn quật ngã con. Nhưng họ không làm được vì có Đức Mẹ phù hộ con đặc biệt.
              Tôi sửng sốt hỏi:
              - Thưa… làm sao cha có thể biết những chuyện đó?
              Cha Luca trả lời ngay:
              - Ông Lực Lượng nói cho cha biết. Cha còn đọc được trong cách nói, Ông ấy có vẻ nể nang con.
              Cha khuyên nhủ:
              - Tu hay không tu… không quan trọng con ạ! Quan trọng là có đi theo ơn gọi “làm theo Lời Chúa dạy bảo trong Phúc âm” hay không. Đó mới chính là ơn gọi Chúa đặt trong lòng mỗi người kể cả giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ… Ơn kêu gọi không phải là gọi đi tu, cho nên tu hay không tu… chỉ là những cách sống.
              Cha cười nhẹ:
              - Chỉ vì tìm tước lợi chứ không tìm việc “làm theo Lời Chúa”, nên một số người tu trở thành đứa con thứ trong dụ ngôn “Hai người con” Chúa kể… Miệng họ khấn, hứa leo lẻo “Thưa cha, con sẽ ra đồng làm việc với cha” nhưng chẳng đi (*).
              Tôi cảm thấy nhẹ lòng. Cha Luca nói ít, nhưng tôi hiểu nhiều. Tu hay không tu không còn là vấn đề. Nếu tu tiếp, đó phải là sự tự nguyện cao. Ở đời, người ta nói “tự nguyện chịu bất an và đau khổ” chứ có ai lại nói “tự nguyện hưởng an ổn và tước lộc”? Bắt đầu từ hôm đó, tôi nhận thức được nhiều vấn đề một cách rất đúng đắn.
              Cảm thấy vui vẻ và phấn chấn, tôi hỏi cha Luca:
              - Thưa… cha vừa nói đây là trận đòn thứ ba mà… ma quỷ…
              Cha Luca đọc được hết ý nghĩ của tôi, cha đáp:
              - Phải! Hôm nay sau trận đòn động đến chính thân xác con xong, sẽ chẳng còn trận đòn nào xảy ra nữa. Con có thể yên tâm cho tới ngày trở lại đại chủng viện học tiếp.
              Cha dạy tôi một bí quyết:
              - Mỗi khi gặp âu lo, buồn sầu, sợ hãi… con hãy đọc to lên bất kỳ một câu nào do chính miệng Chúa phán. Con sẽ thấy ngay sự bình an.

              Càng về sau, tôi càng nghiệm ra. Đó là ba trận đòn của ma quỷ nhằm triệt hạ tôi. Trận thứ ba khủng khiếp hơn, họ làm tôi buồn chán đến nỗi phải trốn cho được khỏi đời tu; may mà Đức Mẹ Phù hộ Các Giáo hữu đã khiến cả họ đạo giúp tôi quay lại; khi thấy mưu mô không thành, ma quỷ liền quay sang làm tôi lâm trọng bệnh; trong cơn bệnh nặng tôi lại phải gánh chịu một chuỗi những ác mộng kinh khiếp.
              Dầu gì tôi cũng chỉ là một thanh niên mới lớn, non dạ, yếu lòng… nên tôi cứ rên rỉ với Chúa hoài:
              - Người ta gặp được Chúa bằng hành trình êm ả. Còn con, để gặp được Ngài, phải lao đao lê lết mới được sao, lạy Chúa?
               
               
              (*) Dụ ngôn hai người con (Mt 21:28).
              #37
                Sun Ming 4 giờ (permalink)
                Kỳ 37
                 
                Sau khi sóng gió qua đi, tôi lẫn mọi người trong họ đạo đều sống trong sự thận trọng tuyệt đối. Cũng nhờ những gian nan khổ ải, mà giữa tôi và họ đạo có một tình thương sâu đậm đặc biệt. Chẳng những vậy, những người lương sống quanh vùng cũng dành cho tôi những cảm tình nồng ấm.
                Tôi được cha sở Chân Phúc cho phép nghỉ ngơi mười ngày. Tôi liền về thăm má vài ngày rồi xin phép má tôi đến An Biên thăm cha sở Luca. Những ngày ở bên cha, cha và tôi trò chuyện hết sức thú vị. Buổi tối ngày đầu tiên trong lúc nói chuyện cha hỏi tôi:
                - Con có muốn tranh luận với ma quỷ không?
                Tôi hết hồn. Vì thời gian này nghe đến ma quỷ là tôi sợ khiếp vía. Nhưng vẫn còn sót lại trong đáy lòng một chút xíu tò mò, tôi hỏi:
                - Thưa cha… tranh luận là sao ạ?
                - Nói nôm na là cãi nhau với ông Lực Lượng đó!
                Tôi buột miệng thốt lên:
                - Chúa Bà! Sức con làm sao có thể sánh bằng ai huống chi đọ sức với ông Lực Lượng…!
                Cha sở phì cười, ngài bảo mai cứ đi với ngài.
                Sáng hôm sau, điểm tâm xong, cha dẫn tôi băng ruộng, vào tận một xóm nhỏ nằm trọi lõi giữa đồng vắng, đến một ngôi nhà lợp ngói, cổ kính nhưng gần như hoang tàn. Thấy cha con chúng tôi đến, những người hàng xóm đoán đúng chúng tôi muốn đi đâu, nên lục tục kéo nhau theo chúng tôi. Vài người phụ nữ than thở:
                - Ông cố (*) ơi! Mấy hôm rồi nó làm cả xóm không ai ngủ nghê gì được.
                Vài người chen vào kể “tội”. Một ông lớn tuổi hỏi:
                - Có phải hôm nay ông cố và ông thầy đến để bắt quỷ cho nó phải không?
                Cha sở trả lời:
                - Không phải! Chỉ đến thăm thôi.
                Trả lời xong, cha sở chuyện trò với mọi người một lúc, sau đó dắt tôi vào căn nhà trống trước trống sau, gần như chỉ còn lại những hàng cột to tròn và những bức tường loang lỗ. Cha sở và tôi bước vào. Những người hàng xóm cũng vào theo và lớn tiếng gọi:
                - Nga ơi! Có cha sở đến thăm. Bà thánh ơi! Tiên Nga ơi!...
                Xem cái cách gọi vui vẻ, cái cách không chút gì sợ hãi và còn cư xử khá thân tình của hàng xóm, tôi bớt đi sự sợ hãi lúc ban đầu khi nghe cha sở nói về người bị quỷ ám này.
                Một lúc lâu, từ nhà sau có tiếng chân người bước ra. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy đó là một cô gái đẹp, phải nói là đẹp như những hình vẽ trong các bìa tập học sinh hay các bức liễn truyện cổ treo tường thời đó. Một nét đẹp, tôi không hiểu “liêu trai chí dị” là gì, nhưng tôi nghĩ đẹp cổ quái chắc là như thế. Nhìn vào mái tóc đen dày xõa dài, khuôn mặt trang nghiêm, nước da trắng nhợt và đôi mắt to đen thăm thẳm… gợi lên trong tôi một cảm giác vừa ngưỡng mộ nhưng cũng vừa lo lắng.
                Cô gái mà cha sở nói là người bị quỷ ám, hàng xóm gọi là “bà thánh”, là “tiên nga” có vẻ lớn tuổi hơn tôi… nhìn tôi bằng một ánh mắt lạ kỳ, nếu như không có cha Luca ở cạnh, tôi bỏ chạy liền. Cô gái nói mà ánh mắt không rời khỏi tôi:
                - Chào ông cố…
                Chào cha sở cho có lệ xong, chị dùng ngón trỏ chỉ thẳng vào mặt tôi nói:
                - Người quen mà!...
                Gai ốc trong người tôi nổi rợn lên hết, tôi chỉ còn có một việc duy nhất là cố gắng đứng yên không vùng chạy ra khỏi nhà kẻo giáo dân chê cười.
                Cha sở Luca thì lại tỉnh queo. Ngài gọi tên chị là Nga và hỏi thăm xã giao. Chị Nga không trả lời hết những câu cha sở Luca hỏi, ngược lại chị tỏ vẻ phòng thủ, đồng thời mắt không rời khỏi tôi.
                Cha Luca kéo tôi đến ngồi trên băng ghế dài gần đó, chị Nga đi vài vòng xung quanh nhìn chằm chằm vào chúng tôi một lúc rồi cũng ngồi xuống chiếc võng mắc giữa hai cây cột to cách xa chúng tôi khoảng vài mét. Cha Luca hỏi:
                - Con ăn uống gì chưa?
                Chị Nga tỏ vẻ không nghe. Cha Luca nhắc lại câu hỏi hai lần nữa. Chị tỏ vẻ khó chịu trả lời:
                - Ăn gì mà ăn! Loài người các ông chỉ ham ăn ham uống!
                Cha sở Luca cười đáp:
                - Không ăn không uống làm sao mà sống?
                Chị Nga liếc. Vẫn còn đó cái nét đáng yêu của một người con gái đẹp khi liếc mắt mà tôi nhìn thấy trên phim ảnh; bây giờ tôi mới phát giác ra chính cặp mắt của chị vừa quyến rũ tôi vừa làm tôi lo sợ. Chị gắt gỏng với cha sở:
                - Đó! Chính lối nói đó che đậy thói mê ăn tham uống của con người. Con người mất nhiều giờ nhiều sức cho ăn uống. Bất cứ công cuộc gì, một đám người làm việc thì cũng có một đám người dưới bếp lo ăn uống. Thánh lễ lớn nào của các người lại chẳng khởi sự bằng rước nhau và kết thúc bằng ăn nhậu… Ăn nhậu đến coi Chúa Bà không ra gì.
                Cha sở gật đầu. Tôi cũng thấy đúng. Nhưng tôi bỗng ngứa miệng đến nỗi quên hết sợ hãi, hỏi:
                - Nhưng cái bụng đâu để cho người ta quên nó quá sáu giờ đồng hồ?
                Chị Nga liếc tôi một cái sắc như dao cạo, cái kiểu như ngầm nói “thằng ranh con! mày mà cũng ọ ẹ nữa ư?” Tôi nhìn chỗ khác. Chị nói ngay không cần suy nghĩ:
                - Đức Chúa Giêsu nhịn đến bốn mươi đêm ngày thì sao? Tại sao không bắt chước Chúa khống chế cái bụng đi! Hở ra là ăn, hở ra là nhậu như những thằng Pharisêu! Càng lớn chức to quyền càng phàm ăn… (Ban Biên tập xin được đục bỏ một số dòng)
                Cha Luca cười trong ánh mắt khi nhìn sang tôi. Cha hỏi chị Nga:
                - Trời đất! Không phải vạn vật Chúa ban để loài người hưởng dùng sao? Con nhìn mà xem! Dưới sông toàn là đồ ăn thức uống. Trên bờ cũng thức uống đồ ăn… thôi thì đủ loại đủ món; thậm chí trên trời chim muông cũng là thực phẩm. Nói chi! Cây cối rau cỏ mọc đầy quanh ta, xem ra nơi nào cũng là những thức ăn ngon lành do Chúa dọn sẵn cho con cái?
                Chị Nga “hứ” một tiếng rồi trả lời:
                - Cái tội đầu tiên con người phạm trên mặt đất khi vừa được dựng nên có phải là do ăn mà ra hay không? Chúa ban cho cả vườn địa đàng “muốn ăn gì thì ăn”. Nhưng có phải vì tham ăn mà mất cả vườn địa đàng không? Sao không biết rút kinh nghiệm?
                Hiện giờ thì tôi mạnh dạn hơn một chút. Tôi vặn vẹo:
                - Đó là lối tường thuật ám chỉ, không có thực. Chúa nhân lành nào mà bắt tội thèm ăn, phạt tội lỡ ăn bằng một hình phạt quá nặng, lại còn tru di “truy sát” đến tận cả trăm, ngàn, muôn, triệu… đời tử tôn con cháu hở chị! Chị hiểu sai về Đức Chúa Trời rồi!
                Tôi những tưởng chị Nga nổi khùng lên. Nhưng không, chị vẫn bình tĩnh, vẫn coi tôi là một chú học trò dám chọc thầy giáo. Chị thủng thẳng nói:
                - Nhưng sự ám chỉ ấy cũng là do thấy con người là loài tham ăn sinh hư việc. Sao không trích từ đó ra bài học?
                Tôi có cảm tưởng chị Nga có thể đứng trên bục giảng của trường đại học. Tôi cảm thấy lúng túng. Cha sở Luca hỏi:
                - Con ơi! Loài người, xét cho cùng, cũng chỉ là loài động vật thôi con ạ! Sự cần ăn cần uống là lẽ tự nhiên của bản năng sinh tồn. Tội từ đó mà công cũng từ đó. Còn có biết bao thánh nhân hãm ăn hãm uống, còn có rất nhiều người ăn uống chỉ đủ để sống thôi. Sự quá đà ở một số người cũng là việc bình thường thôi!
                Tôi nghĩ chị Nga sẽ chấm dứt chuyện ăn uống để đổi đề tài. Nhưng không, chị phản bác:
                - Nhưng mọi chuyện xấu như chiến tranh, cướp bóc, giành giật… xảy ra trên đời này đều có phải bắt nguồn từ tranh giành thực phẩm hay không?
                Im lặng. Thình lình chị Nga nhìn tôi và nói: “Lần này mày đừng mong chạy thoát” rồi nhanh như cắt nhảy xổ vào ôm chặt lấy tôi bằng đôi cánh tay cứng chắc như gọng kềm.
                Với sức trai trẻ, tôi cố hết sức để vùng ra nhưng không được.
                Những người đàn bà lẩn quẩn gần đó đồng loạt chạy tới để cùng với cha sở Luca giúp gỡ tay chị ra. Nhưng mọi người loay hoay, hì hục và cố hết sức vẫn không tài nào gỡ chị ra khỏi tôi cho được. Phần tôi, tôi có cảm tưởng như đang bị một quả núi đè lên; hoặc đôi lúc có cảm tưởng như bị nén chặt trong một cái khung bằng xương cứng ngắt, vì tạng người chị Nga gầy.
                Đột ngột chị cắn vào bên phải gần phía sau cổ tôi. Vì đau và vì hốt hoảng nên tôi la:
                - Giêsu Maria Giuse…!
                Chị Nga bỗng buông tôi ra, ỉu xìu để mặc cho mọi người lôi chị trở về chỗ cái võng.
                Ngồi xuống võng, chị vẫn tỉnh táo như không có chuyện gì xảy ra, tuy đôi mắt vẫn còn đỏ ngầu lừ lừ nhìn tôi. Cha sở Luca ngồi xuống ghế; mọi người lấy thuốc lá rịt vào vết cắn để cầm máu cho tôi. Một lúc sau cha sở hỏi chị:
                - Sao con lại làm như thế với khách?
                Không trả lời, chị nhìn tôi rồi phá lên cười:
                - Sợ rồi phải không? Đ.m. mới lớn có chừng ấy mà đã bày trò này trò nọ cản đường Chúng tao!
                Đang lúc tôi chưa hiểu ra ất giáp gì thì cha Luca hiểu và trả lời thay tôi:
                - Có gì đâu mà gọi là cản đường cản lối hở con! Nó chỉ làm theo bổn phận thôi mà!
                Tôi chỉ muốn ra về thôi, nên xin cha sở:
                - Thưa cha con muốn về…
                Cha sở Luca bảo tôi:
                - Con đã sợ rồi ư? Chúng ta có Chúa bên cạnh mà! Chẳng phải vừa rồi chỉ vì con kêu tên Chúa mà thoát nạn đó sao? –Chợt cha nhìn lên cổ tôi, cha nói tiếp- Ừ! Cũng phải về thôi! Chắc con đau lắm hả?
                Tôi vẫn còn hốt hoảng. Mấy người phụ nữ nói chen vào:
                - Cho thầy về đi cha ơi! Về xức thuốc đỏ để vết cắn đừng làm độc.
                Người đàn ông đang đứng gần đó cũng nói:
                - Người cắn coi vậy mà độc như chó cắn chớ không phải chơi! Cái con này xưa nay có từng cắn ai bao giờ đâu! Đồ quỷ yêu!
                Câu chửi “đồ quỷ yêu” vừa dứt, chị Nga đứng phắt dậy. Mọi người chỉ nghe một tiếng “hự” khô khốc, người đàn ông to xương cao kều và khệnh khạng là thế, vậy mà tức khắc bị quăng gọn ơ, bay ra khỏi cửa, vứt nằm chỏng gọng ở bụi chuối trước cửa nhà cách xa chỗ chúng tôi ngồi dễ chừng có đến mươi mét.
                Mọi người sợ tái mặt. Cha Luca bình tĩnh hơn, hỏi:
                - Ủa! Sao vậy?...
                Chị Nga nghiến răng trả lời:
                - Chúng tao không phải là “đồ”, cũng không phải là “quỷ’ là “ yêu”. Phải giữ mồm giữ miệng! Đừng có muốn nói gì là hả họng ra mà nói nghe chưa bọn con người!
                Cha sở hỏi ngay:
                - Nếu vậy thì con là ai?
                Không trả lời thẳng vào câu hỏi cha sở vừa nêu, chị Nga nói:
                - Con người có quyền gì mà ăn nói với Chúng tao như thế?
                Cha sở nghiêm sắc mặt, vặn lại:
                - Vậy thì… con người có làm gì mà Các Ông cứ tìm cách hãm hại? Cô gái này đã làm gì nên tội mà Các Ông mượn hình mượn xác để hành khổ cô bé?
                Chị Nga trả lời:
                - Ai tin Chúng tao thì Chúng tao tới. Nhà nào mở cửa thì Chúng tao vô.
                Đến đây thì tôi đã quá sợ, quá ao ước được nhanh chóng rời khỏi chốn này, vậy mà cha Luca vẫn cứ nhùng nhằng với quỷ. Tôi thấy trong lòng hơi tức cha. Đã vậy cha còn vừa chỉ vào tôi vừa hỏi:
                - Thằng nhỏ đã làm gì nên tội mà Các Ông thù hằn nó?
                Chị Nga trả lời:
                - Chẳng những thế, Chúng tao sẽ còn quấy phá nó suốt cuộc đời.
                Khi chúng tôi bước ra khỏi cửa, sau lưng chúng tôi rộ lên nhiều tiếng cười. Tôi đi thật nhanh, cảm thấy lạnh cả sống lưng vì những tràng cười đó.

                Về đến nhà, tôi hỏi cha sở lúc nãy sao cha không trừ quỷ. Cha sở trả lời:
                - Cha đã trừ quỷ có đến mấy lần. Tuy nhiên trừ xong thì quỷ lại nhập tiếp. Lần nhập sau nặng hơn lần trước. Lý do cô gái này là con duy nhất của đôi vợ chồng khá giả. Con nhìn những tàn tích còn sót lại của căn nhà thì đủ biết. Nhưng hai vợ chồng đam mê tiền của, nguội lạnh như những người không có đạo… Rồi xảy ra là, trong một lần làm ăn thất bại, chồng bắn chết vợ xong rồi thắt cổ tự tử. Hai ngôi mộ nằm chềnh ềnh bên trái trước nhà con thấy đó! Không ai và cũng không biết bao nhiêu lần mọi người bất lực không thể cải táng dời đi nơi khác được. Thế là từ đó cứ nhập vào đứa con gái.
                Cha Luca thêm:
                - Mỗi lần gặp, nó lý sự ghê lắm! Có điều cha đâu ngờ lần này nó dữ đến như vậy!
                Tôi hỏi ngay vào vấn đề khiến tôi quá đỗi lo sợ:
                - Thưa cha, quỷ nói sẽ quấy phá con suốt đời…
                Cha Luca trấn an tôi ngay:
                - Con ơi! Còn có Chúa mà con! Có Chúa thì ai làm gì được chúng ta! Dù sống ở hoàn cảnh nào, cha khuyên con: hãy coi việc “tin vào Chúa” là tất cả. Con hãy nhớ, nếu con luyện được đức tin kiên vững, cuộc đời của con kể như thành đạt mỹ mãn.
                Thình lình tôi nhớ lại, suốt lúc ở nhà chị Nga, giữa bầy hồn ma và quỷ dữ, không lúc nào tôi thấy cha Luca mất bình tĩnh; ngược lại, cha vẫn giữ một phong thái ung dung đĩnh đạc của một bề trên.
                Nghĩ vậy tôi bỗng cảm thấy hết sức yên tâm. Ngay lập tức, tôi bắt đầu lên kế hoạch cho đời mình: luyện đức tin kiên vững vào Chúa. Khi nghe tôi nói vậy, bạn bè nhạo: “Vậy những người Công giáo đều không có đức tin ư?”. Nhất thời lúc đó tôi không nghĩ ra câu trả lời, về sau tôi nghĩ ra, đức tin của những người khổ đau khác xa đức tin của những người giàu sang, hiển vinh và may mắn.
                 
                 
                (*) “ông cố” là cách giáo dân các họ đạo miền Nam từ thời các cố Tây xưng hô với các linh mục.
                #38
                  Thay đổi trang: < 123 | Trang 3 của 3 trang, bài viết từ 31 đến 38 trên tổng số 38 bài trong đề mục
                  Chuyển nhanh đến:

                  Thống kê hiện tại

                  Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
                  Kiểu:
                  2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9