Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu
Thay đổi trang: << < 4 | Trang 4 của 4 trang, bài viết từ 46 đến 47 trên tổng số 47 bài trong đề mục
Sun Ming 23 giờ (permalink)
Kỳ 43
 
Loài người có những mâu thuẫn không thể lý giải.
Một trong những mâu thuẫn ấy là vừa cứng đầu vừa nhẹ dạ, vừa cương ngạnh vừa mềm yếu; tỏ ra cứng lòng tin rồi lại dễ tin như trẻ nít. Ta thường nghe có người luôn cảnh giác với hết mọi người nhưng vẫn bị lừa dễ ợt. Bạn của cha tôi là một ông Chệt (người Tàu) chủ tiệm thuốc Bắc lớn, tinh như cáo già, đến cả vợ con chưa chắc ông đã tin… vậy mà một anh chàng thư sinh “khố rách áo ôm” từ đâu đến và bằng cách nào đó đã chiếm được lòng tin của ông; chẳng lâu la gì, ông Chệt to sầm ấy lần lượt “dâng” cho hắn nhiều tiền, của… và để kết thúc, ông “dâng” nguyên một cô con gái rượu xinh đẹp của mình cho hắn để gia nghiệp sụp đổ tan tành..
Chỉ riêng việc tin-không tin mà cũng còn nhiều mâu thuẫn, ví dụ cái đáng tin, người đáng tin thì không được tin, việc giả tạo, người giả dối thì được “tin sái cổ” chỉ vì “tốt sơn, tốt gỗ”… Nhưng có lẽ mâu thuẫn “kỳ vĩ” nhất là phần lớn người Công giáo nhầm lẫn về đức tin của mình.
 
 
Nói những điều trên để dẫn đến chuyện đức tin của số đông giáo dân là đức tin không thật.
Đức tin không thật à? – Thưa phải! Đúng là đức tin không thật.
Không thật ở chỗ có hình thức mà không có nội dung. Nghĩa là giáo dân chỉ giữ đạo nhà thờ mà không giữ đạo Lời Chúa. Lẽ ra họ phải hiểu rằng tin Chúa là thực hiện mọi điều Chúa dạy thì số đông giáo dân đã hiểu tin Chúa là đi lễ thật siêng, đọc kinh thật nhiều, xin lễ nhiều tiền nhiều lần, sinh hoạt hội đoàn, tham dự phong trào, rước xách, hành hương, dâng cúng, làm từ thiện… Từ cách hiểu sai ấy đã nảy sinh biết bao rối rắm dây chuyền, trí khôn ra mông muội không sao hiểu Lời Chúa và những diễn biến chung quanh, theo đuôi rồi mù quáng đến độ sống ngược lại với cả Phúc âm và v.v…
Sau đây là một mẫu chuyện nhỏ trong đại chủng viện lúc tôi đang theo học.
Trong giờ học tín lý, một đại chủng sinh đứng lên xin phát biểu:
- Thưa cha, cho phép con đặt nghi vấn. Đó là: có thể đức tin của chúng ta ngày nay rất khác với đức tin người Do Thái, hơn nữa, với đức tin của những người ngoại đạo lúc ấy như phụ nữ Samaritana bên bờ giếng Giacóp chẳng hạn? Cũng là tin Đức Chúa Giêsu Kitô, nhưng 2 loại đức tin rất khác nhau.
Cha giáo gõ gõ nhẹ ngón tay trên mặt bàn trong tâm thế có vẻ thú vị; trong khi đó, cả lớp gần 80 thầy bỗng như tỉnh ngủ, cựa mình nhìn về phía phát ra tiếng phát biểu.
Cha giáo mỉm cười hỏi:
- Khác làm sao? Thầy cứ nói tiếp xem nào!
Thầy “Vân đù” -vì cận thị nặng, đi đứng lù đù nên bạn bè đùa giỡn đặt tên như vậy- thưa:
- Thưa cha, khác nhau về bản chất và về chiều sâu cạn. Nghĩa là bản chất đức tin ngày hôm nay của chúng ta không phải là bản chất thật của đức tin; từ đó sinh ra nông cạn và nông nổi.
Cả lớp lao xao, kẻ cười cợt người bàn tán.
Cha giáo thích thú ra mặt. Nhìn cả lớp một lượt xong cha hỏi:
- Thầy nói có cơ sở chứ?
Có vẻ như đã chuẩn bị đâu vào đó, thầy “Vân đù” nghiêm chỉnh trình bày:
- Thưa cha! Con nghĩ rằng nếu đức tin của những người xưa là đức tin vận động, thì đức tin của chúng ta ngày nay là đức tin thụ động; nghĩa là chúng ta tin kiểu bị cuốn đi mà chẳng có chút gì gọi là phấn đấu, lựa chọn… nói trắng ra chúng ta ngày nay tin mà chẳng bỏ ra một “xu” máu, mồ hôi hay nước mắt… nào cả! Tin dễ ợt!
Cha giáo mà còn bật cười thành tiếng.
Một vài thầy khác đứng lên xin phản bác. Nói là phản bác, thực ra cũng chỉ giống như người ta lượm đá cuội ném vào xe tăng, vì thói thường trong các lớp học ở đại chủng viện, chẳng ai đối thoại gì với giáo sư thì thôi, hễ có ai lên tiếng thì lập tức nhiều người hùa nhau đến như tranh nói.
Cha giáo chẳng mấy để ý đến những gì khác ngoài những lời phát biểu của thầy “Vân đù”, bằng chứng là ngài cứ chốc chốc lại nhìn cái tay “lù đù vác bảy tám cái lu” kia. Chờ cho có được một khoảnh khắc im ắng nhỏ nhoi, cha giáo nói:
- Thầy nghi ngờ có cơ sở, và cơ sở khá tốt. Tôi đồng ý. Chính vì thế nhiều vấn đề về đức tin cần phải được đặt lại. Thật vậy! Tin Chúa đâu phải chuyện chơi.
...
Câu chuyện còn dài, nhưng cho thấy giáo dân thụ hưởng chiến lợi phẩm của đức tin thời cha ông, hoàn toàn không phải là đức tin tự mình phấn đấu, trả giá mà có được. Chiến lợi phẩm do tiền nhân, gần đây nhất là 117 vị thánh và biết bao anh hùng tử đạo thầm lặng khác, đã chiến đấu đổ máu. Vì tin Chúa không phải là chuyện dễ. Không phải trả giá, sẽ không có đức tin.
Trong đại chủng viện lúc đó có một số thầy chạy theo phong trào Cấp tiến, đêm ngày chẳng chịu lo học hành cứ lo tiếp xúc với những linh mục và những trí thức cấp tiến bên ngoài… sau đó họp bàn, cho ra những tuyên ngôn, tuyên bố, gửi những yêu sách, thỉnh cầu, kiến nghị này nọ lên hết ban giám đốc đại chủng viện, đến các đức giám mục… vì đi đến chỗ quá đà nên cả nhóm hơn mười thầy đều bị đuổi khỏi đại chủng viện. Ngày xách va-ly ra về, nhóm này gặp anh em còn ở lại tuyên bố một câu xanh rờn:
- Các cậu ở lại mà hưởng những thành quả của tụi tớ làm nên nhé!
Đó là một kiểu làm linh tinh. Tin Chúa đúng nghĩa không làm những chuyện khờ dại như thế.
Thêm một chuyện nữa.
Thông lệ năm nào cũng vậy, các thầy thần học năm I được ban giám đốc cho tổ chức một buổi hội thảo mang tên: “Chuyện những người lính từ tiền tuyến trở về”. Buổi hội thảo là dịp để các thầy vừa đi giúp xứ (gọi là những người lính) 2 năm trở về bắt đầu nhập học thần học, kể lại chuyện mình đi giúp xứ để làm kinh nghiệm cho các thầy triết học chuẩn bị đi giúp xứ tiếp theo. Sau phần trình bày, các thầy triết học thi nhau đặt câu hỏi.
Suốt buổi hội thảo, tất cả hội trường chỉ xoay tới xoay lui quanh những chuyện vui buồn giữa thầy giúp xứ với cha sở, với bà bếp và với giáo dân, thậm chí nêu lên những mánh khóe đối phó với cha sở và những người vừa kể… Thật là vô bổ! Lẽ ra phải trao nhau những kinh nghiệm sống đức tin, làm chứng niềm tin vào Chúa trong cuộc sống…
Đó cũng là một kiểu linh tinh khác. Tin Chúa thật sự sẽ thấy rõ việc gì cần làm, việc gì không. Việc cần làm là hết mình lo thực thi Lời Chúa.
Tôi chỉ kể vài điển hình của người có đức tin không thật.
Kẻ tin thật vừa không rảnh rỗi, vừa phải trả giá đắt cho niềm tin của mình. Ví dụ vì tin vào Lời Chúa dạy nên thực thi sự hiền lành; vì hiền lành là lội ngược dòng với thế tục nên bị dập vùi; vì bị dập vùi nên thua thiệt, bị hàm oan, bị đau đớn; dẫu thế vẫn kiên gan làm theo Lời Chúa. Đó là tin Chúa. Đó là đức tin có thật. Ngược lại, người giữ đạo hình thức luôn xuôi dòng với thế tục (có khi còn ở trong một phe nhóm như thế tục vẫn làm) bình ổn, trơn tru, may mắn và an lành… Tin như thế thật dễ! Ai mà không tin được! Tin như thế không trả giá gì! Nhưng đó không phải là tin Chúa. Tin Chúa sao có thể dễ đến như vậy! Không! Tin Chúa phải khó nhọc, nhục tủi và gian truân.
Nguy hơn! Ma quỷ khôn ngoan dụ dẫn, đưa dắt và ru ngủ người ta đi vào con đường tin Chúa hình thức: con đường tin Chúa lót hoa trải thảm, trơn tru, êm ái, dễ chịu, vinh sang… ngay từ trong chủng viện, để sau này các chủng sinh cũng sẽ dắt theo bao nhiêu giáo dân cùng đi con đường dễ dãi đó.
 
 
 
Trong khi kể lại câu chuyện quỷ xưng tội, cha Luca tự thuật chuyện riêng đời mình:
Đang ở một giáo xứ nhỏ vùng ngoại ô sau khi chịu chức linh mục được 5 năm, một đêm kia tôi bị đánh thức tầm 1 giờ sáng để “đi kẻ liệt” tức đi giải tội, trao Mình Chúa và xức dầu cho bệnh nhân hấp hối.
Khi đến nơi tôi làm các phép bí tích một cách qua quýt cho mau để về còn ngủ tiếp; mai là một ngày nhiều việc. Về đến nhà tôi phóng vô giường chìm ngay vào một giấc ngủ sâu.

Đang ngủ say, tôi nghe tiếng đập cửa và nói:
- Ông cố ơi! Tôi mất linh hồn rồi!
Tôi giật mình nhưng cứ tưởng mình nằm mơ.
Tiếng đập cửa kèm theo tiếng nói lặp lại với âm thanh vừa như ở gần vừa như từ xa vọng lại:
- Ông cố ơi! Tôi mất linh hồn rồi!
Theo phản xạ tôi vừa vùng dậy tốc mùng xỏ chân vào dép vừa hỏi:
- Ai đó? Ai kêu…
Nhưng mới chỉ vừa hỏi tới đó tôi đã kịp định thần với câu nói đầy ấn tượng: “tôi mất linh hồn rồi!”. Tôi khựng lại. Cùng lúc, tiếng đập cửa và tiếng nói lại oang oang lần nữa:
- Tôi là Ba Nhơn! Tôi mất linh hồn rồi! Tôi mất linh hồn rồi ông biết không?
Nghe đến đây tôi rút hai chân lên giường, thụt lui chui nhanh vào trong mùng, tim đập mạnh và người bắt đầu run… trí óc dần nhớ ra mình vừa “đi kẻ liệt” cho một người đàn ông tên Ba Nhơn.
Tôi không dám lên tiếng nữa mà chỉ biết ngồi thu lu một góc. Tôi run đến nỗi giường chiếu mùng mền đều như run theo bần bật.
Tiếng nói bắt đầu đổi sang giọng kể lể xen lẫn tiếng khóc nức nở:
- Tại tôi hết! Hm. Hm. Hm… Tôi đọc kinh xem lễ mà vẫn chạy theo bùa phép. Tôi tin Chúa mà làm theo ma quỷ. Hm. Hm. Hm… Tại tôi hết! Hm. Hm. Hm… Tôi đọc kinh xem lễ mà vẫn chạy theo bùa phép. Hm. Hm. Hm… Tôi tin Chúa mà làm theo ma quỷ. Tại tôi hết! Hm. Hm. Hm… Tôi đọc kinh xem lễ mà vẫn chạy theo bùa phép. Tôi tin Chúa mà làm theo ma quỷ… Hm. Hm. Hm…
Ba Nhơn cứ lặp đi lặp lại tới lui những câu ấy. Sau đó có vẻ như ông ta bị ai đưa đi, nên tiếng nói nhỏ lại và xa dần.
Tôi cứ ngồi ở góc mùng cho tới sáng, giáo dân phải đến dẫn tôi qua nhà thờ dâng thánh lễ.
Tôi sợ đến nỗi từ hôm đó, đêm không dám ngủ một mình suốt một thời gian dài.
Dẫu sợ, nhưng tôi thấy mình đã học được một bài học quý giá về đức tin. Đó là có hai cách tin: tin bằng hành động và tin bằng hình thức. Nếu ai tin bằng hành động thì sẽ không hình thức; nếu ai tin bằng hình thức thì sẽ không hành động. Tin bằng hành động là làm theo Lời Chúa dạy. Tin bằng hình thức là chỉ đọc kinh xem lễ… rồi hết.
 
 
 
Cha Luca truyền lại cho tôi bài học đó, tôi sống theo và hai năm giúp xứ của tôi là hai năm đầy sóng gió gian truân, nhiều lúc tưởng chừng bị gãy đổ. Trở về đại chủng viện, bằng cái nhìn ấy, tôi nhận ra, ngay trong nơi đào tạo linh mục rõ ràng có hai loại đức tin, một là đức tin thật và hai là đức tin không thật. Đức tin thật là thực hành Lời Chúa để rồi phải trả giá đắt bằng mọi đau khổ; đức tin không thật là không thực hành Lời Chúa -chỉ sống hình thức- để rồi an nhàn, thảnh thơi trôi theo thói đời và ngày càng bị chính hình thức cuốn trôi. Thú thực, trong những năm học ở đây, tôi không tìm ra được ai tin Chúa thật. Cũng phải! Vì người có đức tin thật thì thầm lặng và kín tiếng, khó lòng nhận ra họ.
Người Công giáo thì đông, nhà thờ lúc nào cũng tấp nập, hội đoàn hoạt động luôn rôm rả, nhưng ít người có đức tin thật, vì đời sống của những người có đức tin thật thì lặng lẽ, không ồn ào, không gây chú ý cho ai và không hấp dẫn ai, đã vậy có khi họ còn là những người bị lên án, bị rẻ rúng và vu khống… thậm chí có khi còn bị loại trừ.
Ma quỷ đã thành công trong việc kéo lôi người Công giáo đi theo hướng hình thức để tránh xa đức tin thật, rồi sau cùng sẽ rơi vào quỹ đạo của chúng.
Tôi có thử đề cập như vậy với hai người bạn cùng lớp, nhưng một người nghe xong thì ậm ừ cho qua, người kia thì quyết liệt phản bác quan điểm của tôi với lý do rất buồn cười là: “chả lẽ đông người đi con đường ấy mà lại là sai quấy hay sao?
 
 
 
Xin hãy nghe cha Luca kể tiếp một câu chuyện nữa.
Có một lần Ông Lực lượng hỏi tôi:
- Ông có chắc giáo dân của ông thật sự tin Chúa không?
Vì câu hỏi rơi vào đúng vấn đề tôi trăn trở từ lâu, nên tôi hiểu ngay cụm từ “tin Chúa” hàm nghĩa gì. Nhưng tôi nhanh trí quyết chộp lấy cơ hội này để học hỏi. Tôi giả vờ đáp:
- Nếu không tin Chúa, họ đi lễ ì xèo làm chi? Họ đọc kinh um sùm làm gì? Và nếu không tin Chúa thì miệng họ đâu thể lúc nào cũng lấy danh Chúa và kêu cầu danh kêu tên Chúa?
Ông Lực lượng quét cặp mắt sắc như dao cạo trên người tôi. Tôi nghĩ: loài người ai mà có cặp mắt như thế ấy là người rất… rất…thông minh. Tôi tự nhủ: không được coi thường!
Ông ta nhún vai nói:
- Đó là tin… sao?
Tuy vậy tôi vẫn hơi có chút bất ngờ. Nhưng đã có ý thăm dò, nên tôi tiếp tục đẩy đưa câu chuyện trong sự vu vơ và ám chỉ, tuyệt nhiên không để lộ điều gì mình biết:
- Chắc Chúa cũng nhân từ chấp nhận.
Ông Lực lượng nói ngay:
- Không đâu! Những người ấy sớm muộn gì cũng thuộc về Chúng ta.
Tôi vui mừng nghĩ: Phải vậy chứ! Ma quỷ thì ma quỷ! Phải có lúc thua trí con người! Ông ta rơi vào bẫy của tôi. Tôi làm bộ không chịu:
- Chúa rất nhân lành, thợ đến muộn cũng được trả công 1 đồng như thợ đến sớm.(1)
Ông Lực lượng lại rơi vào bẫy lần nữa khi Ông cười gằn đắc thắng:
- Ông lão gàn dở khó ưa! Đến giờ chết những người không tin Chúa thật sẽ cảm thấy điều gì biết không?... Họ cảm thấy thua đến trắng tay. Thế là nuối tiếc! Thế là thất vọng! Thế là họ chỉ còn biết lao theo Chúng ta. Hm… hm… hm…
Cha Luca giải thích cho tôi hiểu rằng, trong câu chuyện của cha với Ông Lực lượng, cha muốn tìm biết điều cha suy nghĩ có đúng hay không.
Một là: toàn thể người Công giáo được chia làm 2 loại, loại tin Chúa thật và loại tin Chúa không thật.
Hai là: số phận của những người tin Chúa không thật mai này khi chết sẽ ra sao?
Nhưng nếu hỏi thẳng, đời nào Ông Lực lượng nói thật. Cha Luca phải dùng mưu mẹo để khai thác Ông ấy, và cha đã thành công.
Tôi nghĩ trong Ngày Chung thẩm, thiên thần chia đôi nhân loại ra làm hai.
- Những người tin Chúa thật ở một bên, vì họ thực thi Lời Chúa: “khi Ta đói các con cho Ta ăn…” và những người không tin Chúa thật sẽ ở một bên: “vì khi Ta đói các người không cho Ta ăn…” (2)
- Những người tin Chúa không thật và những kẻ không có đức tin ở một bên là vì họ không tin Chúa hoặc tin bằng miệng lưỡi “Lạy Chúa! Lạy Chúa…” (3)
Bất giác tôi nhớ lại Lời Chúa phán:
- Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất này nữa chăng? (4)
Câu nói thật ý nghĩa và thấu thị! Chúa nhìn thấy trước nên ngao ngán phán như vậy.
Tôi quyết tâm, sẽ tìm mọi cách cho bằng được, đứng vào số những người tin Chúa thật.
 
 
(1) Mt 20:1-16.
(2) Mt 25:35-36.
(3) Mt 7:21.
(4) Lc 18:8.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 23 giờ bởi Sun Ming >
#46
    Sun Ming 1 giờ (permalink)
    Kỳ 44
    (Phần đầu của kỳ 44)

    Công giáo là đạo yêu thương. Đó là điều Giáo hội hằng dạy và mọi người hằng nghe, vì Chúa Kitô xuống trần lập đạo yêu thương bằng cách rao giảng lòng yêu thương, đề ra giới luật yêu thương, ban những huấn lệnh yêu thương, luôn nhắc nhở yêu thương và nhất là chính Người đã trở nên hiện thân lòng yêu thương của Thiên Chúa.
    Người Đức nói đúng: “Con đường từ trí óc đến bàn tay là con đường dài nhất”, nghĩa là nghĩ thì hay nhưng đôi khi khó hành động; ý tôi muốn nói biết rõ, hiểu rành, thông quán về bản chất đạo mình, là đạo yêu thương, nhưng thử hỏi có được bao nhiêu người Công giáo sống đúng yêu thương?
    Đừng nói rằng họ biết yêu thương nhưng không biết cách sống yêu thương! Không! Tôi không chịu! Bởi vì kẻ đã yêu thương tự khắc biết muôn ngàn vạn ức cách sống yêu thương. Thánh Augustinô nói: “Cứ yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. Không sống yêu thương tức là không yêu thương. Cho nên thật đau lòng mà nói: Công giáo là đạo yêu thương gồm chứa những tín đồ không sống yêu thương. Nói như vậy vì người các đạo khác sống yêu thương hơn người Công giáo.
     
     
    Đại chủng viện là nơi đào tạo các linh mục, những cán bộ cao cấp và ưu tú của đạo Công giáo, vậy mà không rốt ráo dạy sống bác ái yêu thương.
    Tôi nói có bằng chứng.
    Bằng chứng thứ nhất: Chủng viện không luôn nhấn mạnh căn cơ của “giữ đạo” là sống bác ái.
    Tôi học võ thuật đạo gia Thái cực quyền suốt 9 năm liền. Vừa vào học đã được dạy thuộc câu: “Thái cực quyền trước để tu tâm dưỡng tính, kế đến nâng cao sức khỏe, sau cùng mới kỷ kích phòng thân”. Ngày nào cũng được sư phụ nhắc và nhấn mạnh hoài đến nỗi người nội lực càng thâm hậu, thần thái càng giống “tiên phong đạo cốt” (phong thái của tiên ông, cốt cách của đạo sĩ) tức sức khỏe sung mãn, thần khí hiền hòa.
    Học hết đại chủng viện mà đại chủng sinh vẫn không biết rõ “giữ đạo” tức theo Chúa, theo Chúa tức làm theo Lời Người trong Phúc âm, làm theo Lời Người tức sống bác ái; cũng không biết chính vì vậy mà ngày chung thẩm Chúa chỉ lấy bác ái ra mà phán xét. Đại chủng sinh không nắm vững điểu cốt thiết đó, nên không hiểu câu Chúa nói: “kẻ được gọi thì nhiều, kẻ được chọn thì ít” (Mt 22,14) áp dụng cho ơn cứu độ: nhiều người “giữ đạo”, nhưng ít kẻ làm theo Lời Chúa sống bác ái để được cứu độ… hoàn toàn không phải áp dụng cho việc đi tu: vào chủng viện thì đông, tốt nghiệp linh mục thì ít (lầm tưởng như vậy nên cứ hãnh diện hão rồi giải thích bậy cho giáo dân để rồi truyền nhau ý tưởng sai ấy mà tôn vinh linh mục lên quá mức).
    Dịp hè năm 1972, nhân giúp xứ 1 tháng ở họ đạo lớn và cổ kính kia, ghé thăm nhà ông Biện sở Hậu, người nổi tiếng văn hay chữ tốt, nho học uyên thâm, giáo lý thông thạo... được cha sở lẫn giáo dân trong họ đạo kính nể và tín nhiệm. Thấy tôi còn trẻ, ông nói năng luôn ra vẻ mình là một giáo sư. Tôi lại một mực lễ độ lắng nghe nên ông càng thích thú “tuôn ra” hết những gì ông tâm đắc. Ông kể nhiều chuyện, trong đó có câu chuyện này.
    Xưa có đoàn truyền giáo gồm 2 linh mục và 1 thầy trợ sĩ người Bồ Đào Nha (1), người nào người nấy râu tóc xồm xoàm… vào nước ta. Giảng đạo một thời gian, vua nghe lời gièm pha nên muốn đuổi. Nhưng để đuổi cho khéo, vua cho vời cha bề trên vào rồi đưa ra 3 câu hỏi với điều kiện sau 3 ngày nếu giải được trót lọt hết 3 câu thì ở, giải không được, dù một câu, phải bị trục xuất.
    Cha bề trên ghi chép cẩn thận 3 câu hỏi:
    - Câu hỏi thứ nhất: “Mặt trời nặng bao nhiêu cân?”.
    - Câu hỏi thứ hai: “Đương kim Thánh thượng giá bao nhiêu tiền?”.
    - Câu hỏi thứ ba: “Nói xem hiện Thánh thượng đang nghĩ gì trong đầu?”.
    Lãnh 3 câu hỏi trở về, cả cha bề trên lẫn cha phó bề trên đều vò đầu bứt tóc suy nghĩ thâu đêm suốt sáng, suy nghĩ đến bỏ cả ăn uống quên luôn cả ngủ nghỉ. Riêng ông thầy nấu bếp vì luôn bị coi là ít học, địa vị trợ sĩ thấp bé, ở trong đoàn truyền giáo chẳng qua như người giúp việc để lo các bữa ăn và làm những việc chân tay mà thôi… nên thầy không được ai hỏi ý kiến; sở dĩ biết được sự việc kèm theo nội dung 3 câu hỏi chẳng qua nhờ nghe loáng thoáng lúc 2 cha bàn bạc với nhau; vì vậy thầy tự nghĩ không phải phận sự của mình; dẫu cùng chung nỗi âu lo, nhưng thầy không dám hó hé lấy nửa lời.
    Đến gần hết ngày thứ ba, ngày cuối cùng của hạn định vua ra, cơm trên bàn 5 lần 7 lượt bị bỏ phế lạnh tanh vì chẳng ai ngó ngàng tới, hai cha cứ thay nhau đi tới đi lui, lắc đầu, thở dài… đến giữa khuya rồi mà chẳng ai tìm ra lời giải dù chỉ để trả lời cho một câu trong 3 câu hỏi quá hóc búa.
    Khi trời gần sáng, thầy nấu bếp vì thức theo nên ngủ gà ngủ gật… bỗng thầy cảm thấy quá bức xúc không chịu nổi nữa nên quyết định thức dậy hẳn, dụi hai mắt, bước lên nhà trên gặp hai cha thưa:
    - Bẩm hai cha!... Việc này xin hai cha giao con lo liệu có được không?... Họ hỏi cối chày thì chúng ta phải đáp lại bằng chày và cối; mà chày… cối… là việc của con, không đến lượt quý cha phải bận tâm đâu ạ!... Sáng nay xin cho một mình con đi trả lời cho nhà vua. Con hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Giờ xin hai cha ăn chút gì rồi đi nghỉ kẻo đổ bệnh.
    Thoạt nghe, hai cha giẫy nẫy lên kêu:
    - Không được! Không thể được!... Đừng có mà nói liều! v.v…
    Nhưng nghĩ kỹ một hồi thấy không còn cách nào khác; Thật vậy! Suy cho cùng, đàng nào cũng bị đuổi. Còn tí hy vọng gì cứ thắp hết lên.
    Cha bề trên lột áo mình ra mặc cho thầy nấu bếp, lấy đai lưng của mình thắt cho thầy, lấy mão gậy mình trao cho thầy ấy luôn... Nhìn qua không ai có thể ngờ đó là thầy nấu bếp.
    Trời đã thật sáng, thầy nấu bếp đến gặp vua thật đúng giờ như đã hẹn. Vào sân rồng thầy nấu bếp trông thấy các quan văn võ, ai nấy đều ung dung chễm chệ, vừa quạt phe phẩy vừa vuốt râu trê rung đùi cười nói ra cái điều đắc ý, cộng thêm vẻ khinh khi thách thức làm sao!…
    Hiệu lệnh nổi lên, vua ra.
    Thầy nấu bếp rón rén quỳ gối giữa sân chầu xin trả lời 3 câu hỏi. Cứ mỗi câu được một vị quan to tiếng xướng lên để nhắc lại cho có đầu có đuôi; dứt tiếng thì thầy nấu bếp mới trả lời. Viên quan xướng câu đầu tiên:
    - Câu thứ nhất: “Mặt trời cân nặng nhiêu cân?”
    Thầy nấu bếp trả lời:
    – Muôn tâu Thánh thượng, mặt trời cân nặng 6 cân.
    - Ồ!!!... - cả triều đình ngạc nhiên “ồ” lên to tiếng kèm theo là những cặp mắt trợn ngược.
    Vua cũng thế. Nhưng sau một lúc bình tĩnh, vua đập long án chỉ tay vào thầy nấu bếp quát:
    - Láo! Đừng nói liều!... Nhà ngươi đã cân chưa mà biết? Ngươi khá giải thích cho tường tận!... Không xong ta chém bay đầu!
    Thầy nấu bếp có vẻ đã không run sợ thì chớ, lại còn tỉnh rụi như không. Ông thưa ngay chẳng thèm suy nghĩ:
    - Muôn tâu Thánh thượng! Vì cứ 6 giờ sáng nó mọc lên, rồi thì 6 giờ chiều nó lại lặn xuống. Không 6 cân thì nặng nhiêu cân đây! Nếu bệ hạ và quý quan ai không tin cứ cân thử!
    Có đến cả… giờ đồng hồ cho vua lẫn đám quan lại mặc tình chụm đầu vào nhau thì thào luận đàm, bàn bạc, lắm lúc còn có tiếng cãi cọ, gầm gừ… nữa.
    Mãi vẫn không xong. Thấy không cách gì bẻ lại cái lý luận cối chày kia, nhà vua đành miễn cưỡng chấp nhận câu trả lời. Đến đây thì vẻ hống hách đe dọa, vẻ cao ngạo thách thức của vua quan lúc đầu mười phần giảm đi năm. Ông quan to bụng kia tuyên đọc câu thứ hai:
    - Câu hỏi thứ hai: “Đương kim Thánh thượng giá nhiêu tiền?”
    Đúng là hỏi để bắt chết; tuy nhiên thầy nấu bếp vẫn không hề hấn gì, trái lại còn ung dung thoải mái là khác! Thầy dõng dạc thưa:
    - Muôn tâu Thánh thượng! Thánh thượng giá 29 đồng.
    Cả triều thần hoảng hốt kêu ầm lên “Khi quân đại tội!... Khi quân đại tội!...”; còn vua thì bật đứng lên, mặt đỏ bừng, mắt lộ thần, lông mày vốn đã xếch giờ như dựng ngược cả lên… đập long án “chát chát ầm ầm” quát to như sấm nổ:
    - Khi quân phạm thượng! Bây đâu! Chém!
    Các quan hùa theo. Nhưng có vài vị quan già quỳ gối:
    - Xin hãy khoan!
    - Xin bệ hạ bớt giận!
    - Xin hãy để hắn giải thích rồi chém cũng chưa muộn.
    Vân vân…
    Vua ngồi xuống, từ từ rồi cũng bớt giận, cho nói.
    Thầy nấu bếp giập đầu xuống đất -giấu cái cười trong hàng râu rậm xì- nhưng vẫn còn nguyên cái phong thái coi chốn “đạn lạc tên bay” này chẳng ra cái thá gì. Ông tâu:
    - Muôn tâu! Hạ thần nói có căn cơ sách vở. Đó là vì Chúa của hạ thần kính thờ đích thị là Thiên Chúa, Chúa tể trời đất và muôn loài... thế mà người ta bán Người chỉ với giá 30 đồng sách sử còn ghi rành rạnh. Thánh thượng chỉ là vua có một cõi, giá sao bằng. Bất quá 29 đồng mà thôi. Thế là được giá lắm rồi ạ!
    Vì chẳng ai hiểu ất giáp, mặt cứ ngơ ngơ, nên thầy nấu bếp chộp lấy cơ hội làm thêm một ‘tăng” giảng đạo giữa triều đình ngoại giáo, khiển được vua quan im ắng lắng nghe. Họ nghe mà lòng hừng hực nộ khí bởi không ai chịu nổi sự đánh giá nhà vua rẻ bèo như thế, càng tức hơn khi chẳng ai có nổi một lý lẽ gì để đánh bạt, để xóa bỏ, để dập tắt dù biết rằng lý lẽ thầy nấu bếp đưa ra chỉ là thứ lý lẽ chày cối. Tức nhất là tội khi quân nặng thế mà chẳng cách nào bắt tội cho được.
    Rồi thì mọi sự cũng dần lắng dịu, bá quan văn võ ai nấy đều hy vọng tiếp theo đây nhất định bắt bí được để tống cổ nhóm Tây dương bạch quỷ này. Vị quan độc chúc trừng trừng cặp mắt đọc tiếp câu thứ ba:
    - Câu hỏi thứ ba: “Hiện Thánh thượng đang nghĩ gì trong đầu?”
    Câu hỏi thứ ba vừa được ban ra, các quan lập tức xì xầm tiên đoán “Phen này hắn không thoát khỏi tội chết!”, “lần này cho mầy chết nhé!”, “đừng có mà khua môi múa mép!” v.v… kèm theo là những tiếng cười gằn nghiến răng trèo trẹo đe dọa.
    Thầy nấu bếp không chút nao núng lo âu, thần sắc vẫn an định như thường, xin trả lời:
    - Muôn tâu bệ hạ! Bệ hạ đang nghĩ thần là cha bề trên.
    Nhà vua nói:
    - Thì đúng vậy!
    - Muôn tâu! Dù hạ thần chỉ là một ông thầy nấu bếp, mà Thánh thượng vẫn nghĩ thần là cha bề trên. Đó không phải là hạ thần đã đọc được ý nghĩ của Thánh thượng sao?
    Cả triều đình im phăng phắc. Thầy nấu bếp tâu:
    - Muôn tâu Thánh thượng! Trước triều đình chúng thần không nói sai điều gì, tất sẽ không đem những điều tà mỵ mà giảng dạy cho dân chúng. Cúi xin Thánh thượng anh minh xét định cho chúng thần được tự do giảng đạo như bệ hạ đã minh hứa.
    Sau đó ngót một triều đại dài trước khi nhà vua băng hà, đoàn truyền giáo ấy được giảng đạo tự do không ai làm khó. Số người tin Chúa ngày một tăng.
    Câu chuyện không mang lại điều gì sâu sắc để học hỏi, nhưng lại được ông Biện sở đắc ý vì cho rằng Công giáo là đạo khôn ngoan hơn hẳn vua quan v.v... trong khi lẽ ra phải truyền dạy mọi người Công giáo là đạo bác ái yêu thương, ai theo đạo phải sống bác ái, đó mới thật là theo Chúa.
     
     
    Bằng chứng thứ hai là: chủng viện không dạy chủng sinh làm gì để có bác ái mà sống.
    Chủng viện chỉ dạy kiến thức triết lý, thần học, tín lý, giáo luật, thánh kinh, giáo sử, tu đức… mỗi chiều tối có giờ huấn đức, tuy nhiên giờ huấn đức cũng chỉ dạy nhân bản. Mỗi đại chủng sinh khi nhập đại chủng viện phải chọn cho mình một cha giáo sư làm linh hướng, kỳ thực những vị giáo sư đó chưa đủ sức hướng dẫn một người thật sự khao khát và quyết tâm sống trọn lành bằng bác ái. Chưa có một vị chân sư dạn dày kinh nghiệm về đường thiêng liêng, nhất là về tu đức Phúc âm để dạy dỗ, hướng dẫn, dìu dắt các đại chủng sinh. Lý lẽ của bằng chứng này là: không ai dạy và không ai nêu tấm gương để chỉ đường bác ái.
    Tôi có 1 người bác ruột và 2 người cậu ruột đều làm linh mục. Đó là những cha sở đầy uy quyền. tôi còn nhớ những năm của thập niên 50, khi vùng quê tôi vô cùng biến động vì loạn lạc, linh mục là những quan lớn, vì kính trọng linh mục nên ngôi nhà tôi ở, ai đi ngang qua cũng đứng lại cúi chào, ít lắm cũng giở nón… vì đó là nhà có người làm linh mục; giữa đêm khuya chỉ linh mục mới được đi từ làng này qua quận nọ mà không hề sợ băng nhóm nào bắt nạt; một số linh mục lúc đó có cả ôtô con nhập từ nước ngoài vào. Từ nhỏ đến lớn, tôi chỉ biết có một điều: đi tu cho giống bác và hai cậu, đi tu là sang trọng, tuyệt nhiên tôi không hề biết bác ái là tất cả.
    May mắn làm sao tôi được gặp cha Luca! Từ đó trở đi tôi mới biết từ gốc rễ cho đến ngọn ngành mọi việc. Từ đó tôi mới biết không thể đi tu như bác và hai cậu. Nhưng các bạn của tôi thì sao?
     
     
    Bằng chứng thứ ba là: chủng sinh không sống bác ái và coi nhẹ bác ái.
    Như tôi đã thưa, các chủng sinh không biết rằng mình phải sống bác ái; nhưng đó chưa phải là vấn đề; vấn đề là nếu có biết đi nữa, các chủng sinh cũng không sống bác ái. Lý lẽ thuyết phục nhất của bằng chứng này là các đại chủng sinh, như tôi nói ngay từ đầu, không biết và có biết cũng không muốn đi vào đường trọn lành bằng sống đức bác ái; tại sao? - Vì một lẽ đơn giản: đi vào đường trọn lành này là đi ngược dòng với những người khác; mà hễ đi ngược tất khó “sống còn”. Chuyện này không hẳn chỉ do con người mà còn do chính ma quỷ; ma quỷ đã cố quyết ngăn chặn ngay từ đầu. Tôi biết ma quỷ ngăn chặn nhờ nghe được câu chuyện sau đây:
    Người bạn cùng phòng cũng dân lục tỉnh như tôi, một hôm không có chỗ ra ngoài đi chơi (2), anh ta ở lại phòng. Trong phòng lúc này chỉ còn 2 đứa, anh ta và tôi. Anh ta tâm sự:
    - Mình thấy anh có cái gì đó làm mình thích, nhưng tính mình nhút nhát chưa có dịp tâm sự với anh như 2 người bạn thân. May sao hôm nay được dịp.
    Người bạn, tên Hiền, hỏi tôi:
    - Anh có sợ ma không?
    Thấy tôi có vẻ chưa hiểu mục đích của câu hỏi, Hiền giải thích:
    - Ý mình muốn hỏi để xem có nên kể chuyện này hay không. Thôi kệ! Mình cứ kể đại nó đi, vì mình ấm ức để trong lòng không yên, mà kể ra bừa bãi sợ bạn bè có đứa nhạo cười.
    Đổi tư thế ngồi, Hiền bắt đầu kể:
    - Tính mình thì nhút nhát đối với người ta, nhưng không nhát lắm đối với ma quỷ hoặc với những hiện tượng siêu hình; trái lại mình rất tò mò là đàng khác. Trong năm giúp xứ đầu tiên có một dạo cha sở sai mình đến thăm viếng, ủi an và săn sóc ông cậu của cha đang rất cô đơn trong cảnh bệnh hoạn sắp chết… ở cách đó hơn 10 cây số. Tới lui hoài đâm ra mình rất được lòng ông già. Kêu là ông già nhưng ông tuổi chỉ ngoài 60, hiền lành, bị vợ con bỏ đi đâu mất –mình không dám hỏi- để mặc ông sống cô độc trong yếu đau. Ông già thấy mình chăm sóc chu đáo và hết tình nên coi mình như con. Cũng đáng! Vì cứ 3 ngày mình chạy xe gắn máy sang với ông già. Thế rồi bạo bệnh khiến ông già chết sau đó không lâu. Biết mình sẽ chết, ông già trối trăn lung tung. Đặc biệt trước khi ông già từ giã cõi đời khoảng một hai tuần, mình có xin ông già một điều.
    Vừa nói tới đó Hiền ngưng lại nhìn tôi một lúc rồi hỏi:
    - Nè! Có tin những gì mình nói không đó?
    - Hỏi gì kỳ vậy ông! –tôi cười thân mật- Không tin mà chịu ngồi đây nghe ông kể…!
    Hiền gật đầu tỏ vẻ yên tâm, kể tiếp:
    - Liêu có biết mình xin điều gì không?... Mình nói với ông già: “Khi nào về với Chúa, bác xin Chúa cho bác được về thăm con và nói con nghe chuyện bên ấy”. Ông già hứa. Đã vậy ông còn đùa: “Nếu Chúa cho về thiên đàng, bác nhất định về thăm con rồi mới về trên ấy”. Mình còn căn dặn: “Nhưng khi về thăm con, bác đừng làm con sợ nghe! Sợ là con chạy đó!”… Hai bác cháu xiết tay nhau cam kết thật chắc chắn.
    Nhìn Hiền tôi nghĩ cái anh chàng gầy yếu này coi vậy mà “bạo gan bạo phổi” hơn tôi nhiều. Tôi mỉm cười chăm chú nghe anh kể tiếp:
    - Mai táng ông già xong, nhằm lúc mình quá nhiều việc khiến quên khuấy chuyện ông già hứa về thăm. Nhẩm tính đã gần hai tuần. Mình nghĩ đơn giản chắc Chúa không cho phép nên ông già không về thăm mình. Nhưng rồi mình nghĩ tiếp: sao không tạo cơ hội thử xem, vì những ngày qua bận rộn và ì xèo quá làm sao ông già về thăm cho được. Nghĩ là làm, mình liền xin phép cha sở chạy xe về nhà ông già bất chấp trời chiều đang mưa dầm ướt đẫm.
    Tôi chợt rùng mình:
    - Anh quả là gan dạ! Tôi chịu thua anh luôn!
    Hiền kể tiếp:
    - Đến trước ngôi nhà hoang vắng nằm tách biệt hẳn với hàng xóm, quanh nhà cây cối rậm rạp um tùm… vả lại đang mưa dầm nên mình cảm thấy bầu không khí lạnh lẽo thê lương. Vừa dựng xe ở hàng hiên, mình đã nghe có tiếng động như nhà đang có người ở bên trong. Mình cố tự trấn an bằng ý nghĩ nhà vắng thì ắt có mèo quậy chuột phá. Ngần ngại một lúc lâu, mình lấy hết can đảm tiến đến cửa chính, tra chìa khóa vào ổ khóa, sau đó từ từ mở cửa nhà. Anh đoán xem mình thấy gì khi mở cửa ra…?
    Tôi lắc đầu ra hiệu không đoán nổi. Hiền tiếp:
    - Mình thấy giữa bóng tối thâm u của căn nhà có một vệt sáng ở sát cạnh bàn thờ giữa nhà. Ban đầu mình ngỡ là ánh sáng từ mái nhà dọi xuống… nhưng khi định rời mắt đi thì bỗng thấy vệt sáng ấy động đậy… Tim mình đập mạnh, nhưng vì chủ đích muốn được gặp ông già nên mình đứng nán lại ở cửa nhìn cho kỹ… Lạy Chúa! Bóng một người đang như mặc áo dòng trắng đứng thù lù ra đó. Phản xạ tự nhiên, mình phóng một cái… bay ra đến tận ngõ.
    Khi đã đứng đó thở hào hển một lúc, mình thấy xấu hổ liền quay vào. Vừa đi vài bước mình nghe văng vẳng tiếng gọi:
    - Hiền!... Hiền!... Hiền ơi!…!
    Mình thu hết bình tĩnh, lần mò từng bước đi vào. Vào giữa sân lại nghe tiếng ông già:
    - Bác Bảy đây! Bác cháu mình hứa với nhau rồi mà!
    Tôi mở miệng nhưng miệng nói lập cập và giọng nói thì cứ run lẩy bẩy:
    - Bác Bảy đừng làm con sợ nghe!... Bác đừng làm con sợ nghe!
    Ông già đáp lại bằng giọng nói nho nhỏ như hồi còn trên giường bệnh:
    - Không! Bác cháu mình mà! Bác không làm gì con đâu!
    Dần dần, tính tò mò bên trong trỗi dậy, mình đã vào được quá giữa sân, đứng tại chỗ run lập cập không phải vì lạnh mưa, mà vì lạnh sợ….
     
    (còn tiếp phần cuối của kỳ 44)
     
     
    (1) Bồ Đào Nha: tên chính thức là Cộng hòa Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: República Portuguesa), là một quốc gia nằm ở Tây Nam châu Âu trên bán đảo Iberia
    (2) Ra ngoài tự do: Mỗu tuần 2 lần vào chúa nhật và thứ năm, đại chủng viện mở cửa cho các thầy ra ngoài tự do (sortie libre).
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi Sun Ming >
    #47
      Thay đổi trang: << < 4 | Trang 4 của 4 trang, bài viết từ 46 đến 47 trên tổng số 47 bài trong đề mục
      Chuyển nhanh đến:

      Thống kê hiện tại

      Hiện đang có 0 thành viên và 3 bạn đọc.
      Kiểu:
      2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9