Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu
Thay đổi trang: << < 45 | Trang 5 của 5 trang, bài viết từ 61 đến 63 trên tổng số 63 bài trong đề mục
Sun Ming 23.06.2026 11:46:26 (permalink)
Kỳ 50
 
(Phần 2 của kỳ 50)
 
Lời Tòa soạn: Trước khi đọc tiếp phần 2 kỳ 50, quý độc giả tùy nghi đọc bài “Quái gở chuyện người đàn bà ngoại tình với ma”, để rộng đường phán đoán.
 
Trước khi kể tiếp, thầy Thời nói:
- Đối với thế giới bên kia sau khi chết, thế giới chúng ta đang sống thật nhỏ bé, tù túng, nghèo nàn như một giọt nước so với biển cả mênh mông. Vậy mà chúng ta cứ lầm tưởng mình khôn giỏi, biết nhiều… chúng ta tranh chấp hơn thua, và còn làm đủ mọi chuyện hư ảo.
Thời nở một nụ cười mỉa mai rồi kể tiếp.
- Giáo dân còn kể nhiều hiện tượng kỳ lạ khác nữa, nhưng tôi không thể thuật lại cho anh nghe tất cả trong cùng một lúc.
Bây giờ tôi kể những gì do những người ngoại giáo sống lân cận với nhà thờ Muồng Rền thuật lại khi được dò hỏi. Họ thuật lại rất thành thật mọi chuyện xưa lẫn chuyện nay kèm theo những nhận xét thẳng thắn.
Họ nói rằng khi biết có một nhà tu trẻ được cử đến ở trong khu nhà thờ, họ cảm thấy bớt sợ hãi mỗi lần có việc phải đi trên con đường ngang qua khu vực này dù là ban ngày; tuy an tâm về phần mình, nhưng một mặt cũng rất lo ngại cho số phận của nhà tu trẻ tuổi ấy khi phải một mình vào ở ngay trong hang ổ của quỷ ma rất rùng rợn, vậy mà tu sĩ trẻ ấy vẫn cứ hồn nhiên không hay biết; những người ngoại giáo nhún vai cho biết giả sử thuê họ với bất cứ giá tiền cao cỡ nào, trong số họ sẽ chẳng có một ai dám nhận lời đến ở nơi ấy dù chỉ một đêm.
“Tại sao vậy?” Thời tự hỏi rồi tự trả lời:
Họ kể, vì trước kia khu đất này được một nhóm các nhà sư không rõ tung tích từ đâu kéo đến mua lại rồi dựng lên một ngôi chùa mái ngói khang trang. Tuy nhiên vì tung tích các sư sãi ấy rất bất minh, ngôi chùa bất nghiêm, hoạt động trong ngôi chùa ngày càng lộ rõ sự bất chính… nghĩa là các sư sãi có lối sống không ra người tu hành, ngôi chùa không thờ Phật, không hoạt động tụng kinh niệm Phật, thuyết pháp, cúng dường, dạy điều cứu khổ chúng sinh… như các ngôi chùa bình thường khác, mà chỉ tổ chức luyện bùa luyện ngải, luyện thư luyện thuốc, quy tập và nuôi dưỡng âm binh, lên đồng, xủ quẻ bói toán và còn gây biết bao nhiêu điều rất dị đoan, phức tạp, ám chướng, tà mị… cho nên một thời gian sau, chính quyền sở tại ra lệnh đóng cửa chùa, tịch thu thửa đất rộng lớn có đến hơn 1 hécta. Ngôi chùa bị bỏ hoang từ đó.
Trong suốt thời gian dài ngôi chùa tuy bề ngoài có vẻ vắng lặng, nhưng thực tế bên trong không phải như thế; có nhiều tiếng động và nhiều bóng người qua lại, âm khí vẫn bao trùm… ai có việc phải đi ngang qua khu đất này đều bất giác cứ muốn chạy thục mạng để nhanh qua chốn ấy, nhiều người còn kể lại những hiện tượng kỳ quái rất đáng sợ ở quanh ngôi chùa. Thêm vào đó, từ ngoài đường đi vào chếch góc phải sân chùa, có một cây da xà lâu năm thành cổ thụ, thân to bằng ba bốn người ôm… cây da xà càng làm cho khu đất lẫn ngôi chùa trở nên u ám và rùng rợn hơn biết bao khi bỗng dưng có một thiếu phụ trẻ đẹp cùng với con nhỏ, hai mẹ con treo cổ chết. Thiếu phụ ấy có chồng là sĩ quan Biệt động quân. Người vùng này kể đầu đuôi như sau:
Tay sĩ quan Biệt động kể trên trốn người thân hay trốn vợ lớn nên đưa người tình – thiếu phụ khi ấy là một cô gái rất trẻ và rất đẹp - từ xa đến đây mua đất cất nhà sinh sống. Sau khi cô vợ mang thai và sinh con, trong một lần cãi nhau kịch liệt, tay sĩ quan bỏ vợ đi biền biệt không về nữa… vì uất ức thế nào mà thiếu phụ bồng con đến cây da xà làm thòng lọng treo cổ đứa bé cho đến chết rồi làm thòng lọng tự treo cổ mình chết ngay bên cạnh đứa con, ai ai trong vùng nghe kể đều cảm thấy xót xa thương cảm.
Từ đó trở đi, vong hồn hai mẹ con thường xuyên lẩn khuất, xuất hiện quanh ngôi chùa bất kể ngày đêm đi kèm với tiếng khóc lóc nghe rất bi ai, nhiều khi chỉ nghe tiếng khóc khi thì của người mẹ, khi thì của đứa con phát ra từ cây da xà, có người thì thấy thiếu phụ bồng con đi qua đi lại cách nóng nảy bồn chồn trước sân chùa, dưới gốc cổ thụ hoặc đi quanh ngôi chùa. Lạ một điều, tất cả những ai nghe hoặc thấy hai mẹ con đều có cảm giác hình hài lẫn tiếng khóc của họ đều rất thật, thật như người sống, thật đến mức có người không nhớ rằng hai mẹ con đã chết, cứ tưởng họ đang sống, chừng khi đi ngang qua rồi mới sực tỉnh thì kinh hãi vụt bỏ chạy. Ý những người ngoại giáo muốn nói là hai “con ma” này không hề sợ người, sợ tiếng động, sợ ánh sáng ban ngày, trái lại dạn dĩ và lộng hành đến mức như trở thành người sống.
Vì có quá nhiều tai tiếng nên chính quyền sở tại lại can thiệp lần nữa, họ cho những loại xe cơ giới hạng nặng đến giật sập ngôi chùa, băm nát tất cả rồi xúc đổ lấp đầy hồ cá bên cạnh, san bằng tất cả thành bình địa trở nên một khu đất bằng phẳng hoang tàn, chỉ còn trơ lại duy nhất cây da xà – không thể làm gì được - đứng tỏa bóng âm u ở một góc.
Một thời gian dài sau đó, bên đạo Chúa (công giáo) cử người đến thương lượng với chính quyền để mua lại khu đất hoang nói trên và dựng lên ngôi nhà thờ lấy tên nhà thờ Muồng Rền, ngôi nhà thờ mái tôn nho nhỏ như ngày nay. Kể từ khi có nhà thờ, khu đất bớt đáng sợ hơn chút ít.
Cứ theo dòng thời gian mà kể thì một thời gian sau nữa thầy tu trẻ tuổi tên Tư Báu về ở trong khu đất ấy. Sự hiện diện của thầy Tư làm cho mọi người an tâm hơn nữa, con đường trước mặt đã dần có nhiều người qua lại, có người còn dạn chân thỉnh thoảng mon men bước vào tí chút trong khu đất để tò mò quan sát.
Sau khi điểm lại lịch sử khu đất nhà thờ Muồng Rền và những sự kiện liên quan, những người bên lương (ngoại giáo) còn hồn nhiên kể thêm một số sự kiện kèm theo cảm tưởng của họ:
- Những tưởng đạo Chúa mạnh hơn các đạo khác, ông cha ông thầy mạnh hơn các ông sư ông sãi… Nào ngờ! Nhưng mà… đã là người thì ai cũng như ai thôi!
Sở dĩ họ nói như vậy là vì ngôi nhà thờ với cây thánh giá hiên ngang và một ông thầy tu trẻ tuổi lúc nào mặt mũi cũng nghiêm trang trong bộ áo dòng đen… ấy vậy mà chẳng đuổi được ma quỷ cho chúng rời xa khu đất để tẩy sạch tà khí chúng mang đến, ngược lại hình như còn rủ rê chúng đến nhiều hơn, nhởn nhơ lui tới không chút kiêng dè. Chúng lộ nguyên hình lần đầu tiên để cho bọn trẻ con trông thấy.
Sau khi thầy Tư về ở đây được một thời gian ngắn, có hai bé trai con nhà nghèo bên lương độ 12 tuổi, sáng sáng thức dậy vào lúc gà gáy lần đầu, rủ nhau sang nhà máy nước đá cách non 1 cây số, nơi đó có hãng cà-rem (kem cây), mỗi chú lãnh một thùng đầy cà-rem đi bán dạo khắp các xóm lân cận. Thường chúng đi ngã lộ cái (quốc lộ), nhưng hôm đó, hứng chí sao đó hai chú rủ nhau đi “đường nhà thờ”. Khi còn ở đằng xa chúng thấy trong khu nhà thờ có một phụ nữ trẻ mặc áo bà ba màu tối, tay bồng con nhỏ từ trên cây da xà tuột xuống, đi thẳng về phía phòng thầy Tư. Hai chú bé vô tư đứng lại nhìn. Người phụ nữ đi vào căn chòi thầy Tư Báu một lúc lại bồng con trở ra, vô ra năm ba bận rồi xăm xăm đi đến cây da xà leo lên cây dễ như ta đi lên cầu thang, sau đó mất hút trong lùm tối của tán cây.
 Còn nhỏ tuổi lại không hề nghe người lớn đồn thổi nhiều, nên hai chú bé thấy là lạ thì tò mò đứng ngây ra nhìn một lúc mà không hề nghĩ ngợi gì, nhìn xong rồi lại đi tiếp, khi đi ngang qua cây da xà, hai chú bé lại còn nghe thêm tiếng hai mẹ con khóc rấm rứt trên lùm cây.
Do phải lo bán cà-rem vất vả suốt ngày để đem tiền về cho gia đình, hai chú bé chẳng quan tâm gì, chỉ biết lần nào đi lấy cà-rem sáng sớm ngang qua nhà thờ đều thấy lại cảnh ấy, lâu dần đâm quen, chẳng buồn kể… cho đến một hôm nhân tình cờ nghe người lớn nói về khu nhà thờ, hai chú bé hồn nhiên góp chuyện.
Thời ngưng một lúc để nhớ lại thêm, vừa lượng định xem có đủ thời gian cho câu chuyện hay không, vì chúng tôi đã mất hơn nửa buổi sáng. Tôi nói với Thời rằng không sao, còn có cả buổi chiều nữa. Thời an tâm kể tiếp.
Khi biết chúng tôi quan tâm đặc biệt những hiện tượng xảy ra nơi Báu, những người bên lương kể tiếp những gì họ biết về “thiếu phụ bồng con” trong khu đất nhà thờ. Họ kể:
Trong khoảng thời gian kể từ ngày khu đất hoang được mua lại dựng nhà thờ… cho đến khi thầy Tư Báu dọn về ở, đã có ít nhất 5 hoặc 6 người đàn ông treo cổ tự tử trên cây da xà, họ đều là binh sĩ còn đang tại ngũ; người dân xung quanh càng tin rằng 5, 6 quân nhân trên do “thiếu phụ bồng con” kia rủ rê, mê hoặc và đẩy đến chỗ thắt cổ chết treo. Những “con ma” khác đang đầy ra ở đó, nhưng không đáng sợ bằng “con ma thiếu phụ bồng con” này, vì các mối nguy hiểm với vẻ ngoài hung tợn ít hại được người cho bằng các mối nguy hiểm với vẻ ngoài đẹp đẽ, quyến rũ, ngọt ngào và êm dịu. “Thiếu phụ bồng con” hết sức xảo quyệt đã dùng nhan sắc, dục tính, sự thương cảm và cả sự đáng thương của trẻ con để hạ gục những tay đàn ông đa tình, đa cảm, đa mê...
Một người thoát chết cùng với bạn anh ta kể lại. Những lời kể của cả hai đủ kết thành một câu chuyện, câu chuyện này xảy ra ngay sau khi bên đạo Chúa mua lại đất dựng nhà thờ, rồi nhà thờ ấy cũng bị bỏ hoang trước khi thầy Tư Báu đến ở. Đây là câu chuyện xảy ra trước khi thầy Tư Báu đến ở khoảng 2 năm.
Hai thanh niên nhà quê người trong vùng cùng trốn quân dịch (1) nghĩ rằng lính quốc gia vốn vừa kiêng nể chốn tôn nghiêm, vừa sợ ma quỷ, chắc hẳn không dám bước chân vào khu nhà thờ để lùng sục bắt lính (2)… lại cộng thêm tuổi trẻ vốn tính xem chuyện ma quỷ là chuyện tầm phào, hai chàng trai Phúc, Kiêng cùng rủ nhau đêm đêm đến chui vào ngủ trong nhà thờ vách tôn sơ sài hoang vắng, tránh bị lính ruồng xét khi đang ngủ ở nhà mình.
Sau vài đêm ngủ yên lành chẳng một chút động tịnh, Phúc, Kiêng rất an tâm và hí hửng với “sự chọn lựa thông thái” của mình. Vừa hí hửng xong, ngay chính đêm đó, đang ngủ Kiêng giật mình tỉnh giấc vì tiếng động lạ ngoài sân; nhìn ra khe hở giữa 2 tấm tôn, trong đêm khuya dưới ánh trăng vằng vặc sáng, Kiêng thấy một thiếu phụ bồng con, dáng người và gương mặt đẹp tuyệt vời đang bồng con đứng, ánh mắt có vẻ như hướng vào đúng chỗ hai anh em đang nằm ngủ. Thấy lạ, nhưng không có vẻ gì nguy hiểm nên Kiêng không đánh thức Phúc thêm một lần nào nữa, mà một mình âm thầm theo dõi và len lén ngắm thiếu phụ xinh đẹp không thể tả.
Bước đi tới rồi lại bước đi lui với vẻ ngần ngại, một lát sau thiếu phụ tìm một chỗ gần với tầm mắt của Kiêng, ngồi xuống, từ từ cởi hết hàng nút áo đang mặc, vạch ra phơi trần hết cả hai bầu ngực căng tròn và trắng nõn rồi cho con bú. Kiêng mê mẩn chiêm ngắm đến no mắt không biết chán. Cho con bú hàng giờ mới xong, thiếu phụ đậy áo lại, cài nút rồi đứng lên bồng con đi về phía con đường trước mặt và mất hút.
Đêm sau cảnh ấy tái diễn lại. Lần này, thiếu phụ đến gần vách nhà thờ hơn, chỉ còn cách bức vách vài mét, Kiêng được ngắm nhìn thỏa thê thân thể thiếu phụ một cách rõ ràng hơn đêm trước.
Các đêm tiếp theo thiếu phụ dần dần tiến gần hơn nữa, có lúc gần như ngồi sát vào vách tôn cho Kiêng chỉ còn cách nàng một làn tôn mỏng, gần đến nỗi Kiêng nghe được tiếng đứa bé bú, tiếng hơi thở nhè nhẹ gợi tình của thiếu phụ, tiếng thở ấy lắm lúc như hổn hển, vẻ như khao khát, chờ đợi… một điều gì đó.
Sức sống trẻ rạo rực trong cơ thể của thanh niên thiếu nữ mới lớn, nhất là ở vào độ tuổi 17 được ông bà ta diễn tả “Gái thở dài, trai nằm sấp”, đã vậy còn tiếp xúc hoài với cảnh “trêu ngươi” như thế thì dẫu bậc thánh nhân cũng không có gì bảo đảm khỏi sa ngã. Một đêm kia, “thiếu phụ bồng con” còn vô tình để lộ thân thể ra hơn và làm những động tác gây bức bối đến tột cùng… không thể được nữa, Kiêng chui tọt ra khỏi nhà thờ đến với thiếu phụ.
Đến đây tuy Kiêng không kể ra, nhưng ai nghe cũng đều ngầm hiểu những “diễn tiến phức tạp” tiếp theo.
Kể từ đó trở đi, sự việc như vậy cứ diễn ra liên tục hằng đêm chẳng ai hay biết, trong khi Phúc đi cùng thì lại cứ ngủ say như chết.
Nhưng việc gì cũng có kết cục. Cái kết cục xảy đến dần dần, bắt đầu ở chỗ Kiêng ngày càng trở nên xanh xao, gương mặt hốc hác, má hóp mắt thụt, dáng người đờ đẫn như mất hồn; gia đình Kiêng phát hiện điều ấy trước tiên nhưng hỏi han không ra lẽ, vì Kiêng cứ một mực trả lời “không có gì” xảy ra, mỗi đêm vẫn ngủ, không bị ai sách nhiễu... Có lẽ Phúc cũng được gia đình tra hỏi nên ngầm quyết tâm để ý và theo dõi.
Vào một đêm, Phúc giả ngủ say để theo dõi Kiêng từng động tĩnh. Giữa khuya khi Kiêng nhỏm dậy đi, lén theo ra khỏi nhà thờ, Phúc tá hỏa khi chứng kiến cảnh Kiêng thoăn thoắt leo lên cây da xà, rồi làm những chuyện hết sức bậy bạ với một cành cây, gọi mấy Kiêng vẫn không nghe. Sau một hồi lâu, Phúc mới vất vả đưa được Kiêng xuống đất trở về lại chỗ ngủ.
Tuy vậy Kiêng vẫn không nghe bất cứ lời can ngăn nào của Phúc. Phúc cảm thấy đau lòng và khổ sở khi hằng đêm phải chứng kiến mọi việc như vậy. Dại dột làm sao! Phúc cứ ngỡ Kiêng mắc bệnh thủ dâm nên không dám thuật chuyện cho gia đình Kiêng hoặc cho bất cứ người lớn nào nghe biết, phần vì muốn giữ bí mật cho bạn, phần vì để tránh khuấy động chỗ trốn quân dịch đang rất thuận lợi an toàn.
Trong khi chưa biết xoay xở ra sao để giúp bạn, thì một buổi sáng nọ sau khi thức dậy, Phúc thấy Kiêng ngồi buồn bã ủ dột, hỏi han một lúc Kiêng thú thật hôm nay đã đến ngày phải rời nhà, bỏ gia đình, để cùng đi với người tình thiếu phụ đến một nơi thật xa để xây tổ uyên ương.
Lâu nay những tưởng bạn mình mắc bệnh lạ, bây giờ Phúc mới hiểu ra Kiêng đã yêu một người nào đó. Khuyên mãi không xong Phúc nghĩ thôi thì cũng tốt, cứ để Kiêng đi theo tiếng gọi tình yêu của ai đó, để hằng đêm khỏi phải làm những chuyện bậy bạ nữa.
Tối đêm đó, Kiêng đến nhà thờ ngủ với một túi quần áo bọc kỹ giấu trong bụng. Nửa đêm Kiêng lồm cồm bò dậy như có ai vừa đánh thức. Phúc lẩn thẩn thế nào lại cứ để vật vờ trong trạng thái nửa ngủ nửa thức. Một lúc sau chợt tỉnh hẳn, linh tính báo một điều gì đó, Phúc chạy ra ngoài nhìn lên cây da xà thì thấy Kiêng thắt cổ treo lủng lẳng trên một cành cây cao. Vất vả lắm Phúc mới đưa bạn xuống. May sao Kiêng dần dần hồi tỉnh.
Phúc vẫn tưởng Kiêng thất tình đến tự tử, nhưng sau này, Kiêng kể, “thiếu phụ bồng con” đã đưa Kiêng đi gặp rất nhiều người và những người ấy xúi giục, giúp Kiêng từ leo lên cây cho đến buộc dây rồi treo cổ… để cùng đi với người tình “thiếu phụ bồng con”.
 
(còn tiếp)
 
 
(1) Ngày xưa nam thanh niên đến 17 tuổi phải gia nhập một quân chủng nào đó trong quân đội, ai không đi gọi người đó là trốn quân dịch, chính quyền lùng sục ngày đêm để bắt người trốn quân dịch, tuy nhiên họ rất kiêng dè những chốn trang nghiêm như nhà thờ, chùa, tu viện…
(2) Bắt người trốn quân dịch.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi Sun Ming >
#61
    Sun Ming 24.06.2026 06:58:03 (permalink)
    Kỳ 50
     
    (Phần 3 của kỳ 50) 
     
    Thấy Thời thao thao bất tuyệt kể chuyện, sợ anh mệt, tôi rót cho anh một ly đầy nước. Lợi dụng trong lúc Thời đang uống nước, tôi tranh thủ hỏi:
    - Anh có tin những chuyện thuộc về “ma đưa lối, quỷ đưa đường” không?
    Thời không trả lời ngay vào câu hỏi:
    - Người trẻ tuổi và những người chưa từng trải sóng gió cuộc đời thường không chịu tin, nhưng ai càng lớn tuổi, càng trải nghiệm nhiều… hẳn thật, không bao giờ có thái độ xem thường. Kẻ dốt thường thấy mình thông minh, kẻ mù thường tưởng mình thông sáng. Nghĩa là chung quanh chuyện Báu, em tôi, lúc đầu tôi không mấy tin những chuyện ma quỷ nói chung, cho đến khi nghe thuật chuyện đi gặp Bà Cậu Hai Chơn.
    Tôi không có ý định bài bác hay cật vấn Thời, chỉ là muốn bày tỏ rằng, tôi đang nghiêm túc lắng nghe những gì Thời kể. Nhưng Thời đã nói vậy nên tôi lặng thinh nghe tiếp. Thời kể:
    Người lương, nhất là người lương xứ này, dành cho thầy đồng thầy bóng, tức các “ông cô bà cậu”… một niềm tin đáng kể. Khi gặp chuyện khó xử, khó giải thích hoặc nguy kịch… họ liền chạy đến nhờ hạng đồng cô bóng cậu này. Tuy có nhiều chuyện rất “bá xàm bá láp”, nhưng thỉnh thoảng cũng có chuyện mà ta nên ý tứ xem xét, không thể vội vàng phủ nhận.
    Lẽ dĩ nhiên lúc này những người bên lương tìm ngay đến một bà đồng biệt danh là Bà Cậu Hai Chơn. Đó là một người á nam á nữ, thân xác to kềnh là còn của một tay đàn ông cỡ “đấng hộ pháp”, nhưng giọng nói lại là của một người đàn bà nhõng nhẽo. Bà Cậu Hai Chơn còn hội tụ trong người nhiều sự tương nghịch kinh khủng, tương nghịch đến buồn cười; ví dụ Bà Cậu vừa nhai trầu bỏm bẻm đến nỗi lúc nào cũng đỏ chót cái miệng rộng hoác, vừa hút thuốc lá thơm hiệu Philip Moris phì phèo liên tục đến mức khói bay nghi ngút; môi son má phấn, mắt ướt mi cong, õng ẹo kiểu “yểu điệu thục nữ” là thế, nhưng tóc lại cắt ngắn kiểu “đờ-mi gạc-xông” (demi-garçon) (1); lúc nào cũng tỏ vẻ một trang anh thư khuê các mong manh đến độ “một chiếc lá rơi cũng làm em thảng thốt…” nhưng ít ai biết hễ giận lên thì có thể hất một phát lăn long lóc cả một chiếc bàn cẩn đá cẩm thạch to đùng, xô nhẹ một cú đủ làm đổ ập cả một chiếc tủ đứng bằng gỗ căm xe cà chắc nặng trịch... Nói chung rất khó xác định và dành cho con người này một giới tính hẳn hoi nghiêm túc trong hai giới nam nữ. Tuy nhiên “tài” gọi vong linh về nhập xác (lên đồng) và “tài” nói những điều thuộc về quá khứ vị lai của Bà Cậu Hai Chơn thì thần diệu đến mức… lính sư đoàn thủa ấy lắm phen còn phải chịu xếp hàng để chờ tới lượt vào cầu cậy.
    Khi thấy nhiều hiện tượng kỳ bí xảy ra tại nhà thờ Muồng Rền, nhất là khi thấy một nhà tu trẻ tuổi có những biểu hiện dị thường nguy hiểm, những người bên lương tư vấn cho một vài giáo dân họ đạo, rồi cùng nhau đi đến nhà Bà Cậu Hai Chơn. Cũng phải! Giáo dân ở đây ít học ít hiểu, tin Chúa một mà ngán ma quỷ đến mười… nên họ đồng ý ngay tắp lự với lời đề nghị ấy của những người láng giềng bên lương tốt bụng.

    Chỉ sau có vài giây, Bà Cậu Hai Chơn rùng mình lắc nhẹ đầu một cái đã “phán” được liền:
    - …Tao là Hồ Thị Tuyết Lệ, vợ thằng đại úy Thắng. Tao là chúa mẫu khu nhà thờ Muồng Rền… (tiếp theo là những tiếng rít qua kẽ răng nghe rất khó chịu)…
    Theo lời thuật của hai giáo dân cùng đi với hai người bên lương, lúc ấy vừa nghe, ai cũng nổi da gà, dựng đứng lông tay lông chân, gần như muốn nhảy lùi bỏ chạy vì thấy con ma “thiếu phụ bồng con” là có thật, lại đang tiếp xúc trực diện chứ không còn nghe nói nghe đồn nghe tả… nữa.
    Im lặng một lúc, một người bên lương hỏi:
    - Chúa mẫu phải là “thiếu phụ bồng con” ở nhà thờ hay không?
    - (Nghiến răng trèo trẹo, nói rặc giọng phụ nữ) … Tao chớ ai!
    Cả bốn người đều tái mặt.
    Câu hỏi:
    - Tại sao chúa mẫu chết?
    - (Nghiến răng)…Thằng đại úy Thắng bỏ mẹ con tao đi với con đĩ khác. Không ai nuôi thì mẹ con tao chết chớ sao! (Khóc rống lên).
    Câu hỏi: - Bây giờ chúa mẫu đang ở đâu?
    - … (không trả lời).
    Câu hỏi khác:
    - Tại sao chúa mẫu chọn ở khu nhà thờ?
    - (Cười the thé nghe rất điếc tai)… Hai mẹ con tao chết tức chết tưởi ở đó thì chúng tao ở đó; chúng tao muốn mọi người phải chết theo chúng tao!
    Câu hỏi: - Có phải năm người đàn ông treo cổ ở cây da xà đều do chúa mẫu bắt… không?
    - (Lại cười một tràng; chưa bao giờ nghe giọng cười nào làm người ta sởn tóc gáy đến như thế)…
    Câu hỏi:
    - Chúa mẫu đang làm gì với ông thầy tu tên Báu…?
    - Tao và nam ấy đã thành vợ thành chồng! Nam ấy lấy tao hằng đêm!
    Câu hỏi:
    - Ở bên ấy… cũng chồng vợ được… hay sao?
    - Ai được siêu thoát thì không cần. Những vong linh như tao rất cần người sống quan tâm đến. Cho nên ai dễ nhập là chúng tao nhập.
    Một câu hỏi khác:
    - Sao không bắt ai lại bắt một người hiền lành… vô tội… như vậy?
    - (Im lặng… Lau nước mắt)…
    Câu hỏi:
    - Buông tha người ta ra có được không?
    Một câu hỏi khác:
    - Người ta là một thầy tu hiền hậu, người ta có tội gì mà bắt người ta chi… tội nghiệp?
    - (Im lặng)…
    Câu hỏi khác:
    - Sao không bắt mấy thằng lính ác ôn ở đồn Xà Ngát kia! Tụi đó hãm hiếp đàn bà con gái hà rầm như cơm bữa… đáng tội chết lắm chớ! Sao không làm hại bọn đó mà làm hại người lành làm chi?
    - (Bà Cậu Hai Chơn bỗng trừng mắt đỏ lừ, sừng sộ như muốn đứng lên ăn tươi nuốt sống tất cả những người có mặt; kinh khiếp làm sao cái miệng hoác ra xem chừng như có thể rộng đến tận mang tai, bà ta quát lớn)… Bọn đó thuộc quỷ dạ xoa, tao bắt làm chi nữa!
    Hiện tại bốn người - hai lương hai giáo - có vẻ dạn dĩ hơn.
    Câu hỏi:
    - Vậy ra tất cả bọn ác đều là người của quỷ dạ xoa?
    - Ừ! Chớ sao?
    Nói thêm:
    - Ai xâm hại tinh thần hoặc thân xác người khác đều là ngạ quỷ… nặng thì la sát, dạ xoa nhẹ thì quỷ hán…
    Câu hỏi:
    - Đang làm người sống mà cũng là quỷ được sao?
    - (Cười giọng rùng rợn)… Càng gây nhiều thù hận càng là quỷ… Cái tinh linh ngạ quỷ đâu cần sống hay chết, âm hay dương, thế giới bên này thế giới bên kia…
    Câu hỏi:
    - Tại sao chúa mẫu bắt ông thầy Báu chi cho tội nghiệp?
    - (Cười gằn)… Vì nam đó có duyên làm chồng của tao!
    Câu hỏi:
    - Có duyên là làm sao?
    Bà Cậu Hai Chơn mắt lim dim nói như thú tội:
    - Ai tin chúng tao, ai theo chúng tao, ai chơi với chúng tao đều là có duyên với chúng tao.
    Câu hỏi:
    - Một người âm một người dương sao kết chồng vợ được?
    - …
    Câu hỏi:
    - Chúa mẫu tha cho ông thầy có được không?
    Bà Cậu Hai Chơn im lặng một lúc giả đò như không nghe câu hỏi. Chị giáo dân lặp lại lời yêu cầu lần nữa cũng không thấy Bà Cậu phản ứng gì; khi câu yêu cầu được nhắc lại lần thứ ba, Bà Cậu Hai Chơn sừng sộ:
    - Vợ chồng người ta… bộ muốn bỏ là bỏ hả? Con quỷ cái kia! Mầy bỏ chồng mầy thử coi!
    Cuộc đấu khẩu bắt đầu gay cấn khi chị giáo dân tỏ vẻ cương lại. Dẫu sao, tất cả cũng chỉ là những câu nói mang tính trả treo, đốp chát, lời qua tiếng lại… chẳng đi đến đâu! Vì nhóm 4 người đi cầu đồng mà không hề có một dự tính gì trước cho quy củ, nên kết quả không có gì ngoài việc xác định thầy Báu bị “con ma thiếu phụ bồng con” ám nhập.
    Khi thuật lại cho những giáo dân khác, mọi người bàn bạc và lên kế hoạch 4 điểm.
    Một là báo tin ngay về cho cha sở.
    Hai là lập tức phải đốn hạ cây da xà.
    Ba là cắt cử những người khỏe mạnh và không biết sợ ma đến ngủ canh giữ thầy Báu hằng đêm.
    Bốn là xin cha sở trừ ma, làm phép lại toàn bộ khu vực nhà thờ, đặt nhà tạm có Mình Thánh Chúa luôn luôn – ý thứ tư không phải do giáo dân ở đây, vì họ chân chất giản đơn và thiếu hiểu, nhưng do một giáo dân họ đạo lân cận nhân đến chơi đề nghị.
    Khi báo tin về cho cha sở mọi việc, kể cả kế hoạch với 3 điểm còn lại, cha sở đồng ý đốn hạ cây da xà, nhưng thay vì bắt giáo dân ngày đêm phải canh gác thầy Báu thì ngài ra lệnh triệu hồi thầy Báu trở về nhà thờ chính; riêng việc trừ ma và đặt nhà tạm có Mình Thánh Chúa thì cha sở không chấp thuận vì lý do không người kề cận, gìn giữ và coi sóc cẩn thận nhà thờ.
    Khi được tin cha sở phản hồi, giáo dân rất hài lòng.
    Tại sao? Vì từ khi phát hiện ra thầy Báu lâm tà bệnh, giáo dân nhiều lần báo cho cha sở - qua cha phó đến dâng thánh lễ 2 tuần 1 lần - nhưng tất cả những thông báo kia đều chìm vào im lặng, không phản hồi, không một tiếng hỏi thêm.
    Tôi ra hiệu dừng lại câu chuyện để hỏi thầy Thời:
    - Tại sao lại có chuyện… bề trên thờ ơ như thế?
    Thầy Thời lắc đầu:
    - Đó là vấn đề! Rồi tôi sẽ kể tiếp và anh sẽ rõ. Thật ra tôi kể toàn bộ câu chuyện đứa em họ tên Báu với ý tứ cho ông biết tôi không còn niềm tin vào điều gì và vào ai nữa. Vậy thôi!
    Tuy Thời nói vậy, nhưng lòng tôi vẫn anh ách tức:
    - Hóa ra từ đầu đến giờ, giáo dân nhiều lần thông báo về nhà xứ, nhưng nhà xứ không quan tâm?
    Lắc đầu thay cho gật đầu, Thời ra vẻ ngán ngẩm:
    - Ông bình tĩnh! Tôi sẽ từ từ kể rõ đầu cua tai nheo. Lúc đó hẳn ông sẽ còn tức hơn cả tôi nữa!
    Tôi không tỏ thái độ gì hoặc nêu thêm ý kiến gì, rán bình tĩnh đón nghe. Thầy Thời kể tiếp câu chuyện.
    Mọi người nhất loạt cổ vũ nhau hy sinh bỏ việc nhà để khẩn trương tập họp nhau lại tại nhà thờ với đầy đủ dụng cụ, quyết tâm đốn ngã, chặt bỏ và thiêu hủy cho bằng được cây da xà khốn nạn, nguyên cớ bao nhiêu tội. Tức giận là thế, quyết tâm là thế, nhưng lòng họ vẫn sợ hãi không biết rồi chuyện gì sẽ xảy ra cho mình khi động chạm đến một vật đã trở nên quá “linh thiêng”, một nơi cư trú của oan hồn chướng khí… như thế.
    Khi một nhóm gồm nhiều phụ nữ tách ra làm nhiệm vụ giúp thầy Báu thu dọn mọi thứ đồ dùng để rời họ đạo trở về nhà thờ chính… thì có đến gần mười người đàn ông cởi trần trùng trục, với cả một quyết tâm cao ngất, bàn tính cách hạ cây da xà.
    Họ cử một người đàn ông lãnh nhiệm vụ chở thầy Báu trên một chiếc xe Honda đưa trả về cha sở.
    Với thái độ phờ phạc thất thần và hết sức bệ rạc, thầy Báu - mặc kệ cho mọi người muốn làm gì thì làm, không hề phản đối - chẳng thiết chào ai một tiếng, lững thững bước lên xe và ra đi. Mọi người thở phào khi cảm thấy họ đã thực hiện trót lọt xong 2 việc: báo cha sở và đưa thầy Báu tránh xa khỏi chốn nguy hiểm.

    Nhưng… chưa đầy một giờ sau, người đàn ông lái xe Honda quay về nhà thờ Muồng Rền báo tin dữ: “thầy Báu đã bỏ trốn!”. Người đàn ông hớt hải kể:
    - …đi được gần đến cua Hòa Ngãi, cách nhà thờ chính vài cây số, thầy Báu xin dừng xe để đi tiểu. Vậy mà tôi chờ mãi không thấy thầy ấy trở lại. Tôi chỉ biết đi tìm loanh quanh vớ vẩn thôi!
    Mọi người sững sờ.

    Vào lúc khoảng 9 giờ sáng, - tức sau khi ông giáo dân lái xe Honda báo tin chừng 30 phút, trong khi một số giáo dân nhiệt tình tản ra đi tìm, một người trong nhóm đốn hạ cây da xà phát hiện thầy Báu đang ra vô tỉnh rụi ở căn chòi của mình như chưa hề đi đâu và cũng tựa như chưa hề xảy ra chuyện gì. Mọi người hỏi nhau: thầy Báu trở về nhà cách nào và làm thế nào có thể trở về nhà nhanh như thế? Hoặc giả một ông thầy Báu khác? Có người còn đặt giả thuyết người ra đi lúc nãy là một hình nhân nào đó không phải là thầy Báu?! Mọi việc trở nên rối rắm kinh khủng!
    ...
    Tạm gác chuyện đi và về… của thầy Báu, hãy nói sang chuyện đốn hạ cây da xà.
    Chuyện không đơn giản!
    Không thể hiểu tại sao những người đàn ông giáo dân xứ này vốn xưa nay hiền như đất, thật như đếm, mộc mạc như những chú lính chì… bỗng nhiên hôm nay bỗng trở chứng; chỉ vì việc mé nhánh cho gọn để tiện đốn hạ một cây da, lại có thể bất đồng ý kiến với nhau đến “chín người mười ý”, đến tính toán hơn thiệt đủ điều, đến cãi nhau ầm vang dữ dội như thế! Tất cả 9 người lao vào nhau gân cổ lên cãi là cãi… cãi mãi cho đến tận trưa; ăn trưa vội vàng xong lại cãi nhau tiếp cho đến chiều… vẫn chưa đã, kéo nhau ra về mồm vẫn chưa ngưng ỏm tỏi. Thế là một ngày trôi qua, “án lệnh” đã quyết, mà cây da xà thì vẫn cứ nhởn nhơ đứng trơ trơ ngạo nghễ như bất khả xâm phạm.
    Hôm sau mọi chuyện vẫn xảy ra đúng như “kịch bản” của ngày hôm trước.
    Hôm sau nữa, ấy là ngày thứ ba, tiếng cãi nhau vẫn chưa nguôi, ngược lại, xem ra có chiều hướng tăng lên đến độ có thể xảy ra xung đột nặng hơn; với búa, dao phay, xà-beng, cưa, đục, tầm bứt đủ loại… sẵn trong tay, nếu xảy ra xung đột bằng tay chân, số phụ nữ đang quây quần nhau quanh đấy không ai không tin rằng sẽ có đổ máu. Thế nên tất cả phụ nữ đều đều lên tiếng khuyên can; kẻ khuyên chồng, người khuyên cha khuyên anh, kẻ khác khuyên em khuyên cháu… Dẫu vậy, tình hình vẫn không khá hơn, vì nhiều khi phụ nữ không làm dịu cơn nóng giận mà chỉ tổ… kích hoạt đàn ông hăng tiết hơn lên. Giọng nam giọng nữ hòa chung, tiếng cãi tiếng chửi, tiếng tru tiếng tréo, tiếng tục tiếng thanh… mạnh ai nấy rống lên nghe ồn ào không thể tưởng!
    Đúng vào lúc rất hỗn loạn và nguy kịch ấy của giáo họ Muồng Rền, một ông già mù bẩm sinh xuất hiện.
     
     
    (1) Kiểu tóc “nửa con trai” của những cô gái ngổ ngáo, của những người phụ nữ gặp “vấn đề” trong đời sống tình dục.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi Sun Ming >
    #62
      Sun Ming 1 giờ (permalink)
      Kỳ 50
       
      (Phần 4 của kỳ 50) 
       
      Tôi nhìn đồng hồ cốt để nhắc Thời sắp đến giờ ăn trưa; cần phải dừng lúc này để xuống nhà nguyện đọc kinh trưa lúc 11g30 trước bữa ăn. Thật ra không cần phải nhắc, thầy Thời cũng tỏ vẻ muốn dừng vì căn phòng chúng tôi đang ngồi đã trở nên ồn ào nhộn nhịp do các đại chủng sinh cùng phòng đang lục tục đi “sortie libre” (đi ra ngoài tự do) trở về.

      Giờ kinh chiều 14g vừa chấm dứt, trong khi mọi người huyên náo tiếp tục đi sortie libre buổi chiều, Thời và tôi mau mau kéo nhau lên sân thượng, ngồi dưới gốc rợp bóng mát của một cây sung già, chuyện trò tiếp.
      Thời kể:
      Người đàn ông mù bẩm sinh mình kể dang dở, thực ra đó là một ông cụ dáng cao to, vạm vỡ, quắc thước… ông còn rất tráng kiện và nhanh nhẹn dù tuổi đã trên 70. Ông cụ này chỉ thích ăn vận kiểu mình trần, lưng quấn xà-rông (1) như người Khơme; tính tình rất linh hoạt, vui tươi, nghĩa hiệp, khí phách rất hào sảng… cho dù đôi mắt có bị mù từ thuở nhỏ. Người đàn ông này tên gì ít ai để nhắc, chỉ biết gọi ông với cái tên Tám Mù. Tuy mù nhưng ông cụ có một mái ấm gia đình rất hạnh phúc với 3 người vợ và trên dưới khoảng 15 đứa con, một căn nhà ngói to đùng khang trang và bề thế nhất vùng cùng hơn một mẫu đất trồng toàn cây ăn trái loại quý hiếm.
      Loáng thoáng nghe người này người nọ kể lại, ngay từ đầu khi biết về cây da xà và những chuyện “mờ mịt”, ông Tám Mù đã tuyên bố thẳng thừng: “Phải tiêu diệt cây da xà mới xong chuyện!... Nhưng hạ nó không phải chuyện dễ!” Nay nghe mọi chuyện xảy ra và mọi người quyết tâm, ông đến để thử có giúp được gì trong việc trừ khử một thứ gọi là hủ bạo của xóm giềng… hay không.
      Ngồi sau lưng đứa con trai trên chiếc Honda SS đen, ông Tám Mù đến nhà thờ Muồng Rền cách nhà ông khoảng 3, 4 cây số.
      Thấy bóng ông Tám Mù xuất hiện, cơn hung hăng của đám đông, chẳng hiểu vì sao, bỗng dưng ỉu xìu rồi dịu lại dần; từ từ người này bớt nóng, kẻ kia bớt hung hăng, người khác bớt nói… tiếng ồn ào rồi thì cũng tắt tịt. Mọi người, xem giống như đang sắp chết đuối, bỗng tìm được chiếc phao, đang say đang mê muội bỗng tỉnh lại.
      Ông Tám Mù nghe vài người mắn chuyện mới vừa tóm tắt vài ba câu đã hiểu hết ngọn ngành, liền quát to:
      - Bọn bây không hạ nổi cây da thì thôi, cớ gì phải giận nhau!
      Quát xong ông cười ha hả với giọng vốn rổn rảng như loa kèn tây. Bằng một thần thái và phong cách của một bậc trưởng thượng, ông lại quát:
      - Thằng Tư Lê đâu?
      Hình như ông Tám Mù biết tên biết tính không sót ai trong một vùng với bán kính rộng lớn. Có tiếng “dạ” nho nhỏ. Ông Tám Mù mắng:
      - Tao những tưởng không có mầy trong đám này nên mới xảy ra cớ sự, dè đâu có mầy đây mà mầy không xử nổi công việc chặt cây. – Ông lại cười ha hả. cười xong hỏi - Tại sao vậy hả con? - Khi “mầy”, khi “con”, khi sẵng giọng, lúc lại bùi tai đến ngọt lịm… đó là cái cách nói chuyện rất riêng và rất hấp dẫn của ông Tám Mù; chính quyền xã ấp còn phải chịu thua một phép về cái tài thuyết dụ dân tình của ông.
      Ông Tám Mù hướng sang những người còn lại:
      - Tụi con dở lắm! Cả đám sân sẩn như thế này mà lại chịu mắc mưu một con mẹ đàn bà, mà mèn đét ơi! Một con mẹ đàn bà chết đã mươi… năm qua… Thấy tụi con phá “dinh cơ” của mẻ, nên con mẻ quậy tụi con đến xấc bấc xang bang… thấy chưa!
      Ông Tám Mù phất phất phủi phủi bàn tay như muốn nói “chuyện con nít quá!” và ra lệnh:
      - Bây giờ… nghe tao sắp đặt đây! Hai đứa phụ nữ đốt liền cho tao một bếp lò than đước thật nóng… mang ra đây! Hai đứa phụ nữ nữa đi lấy cho tao một nắm tỏi, một nắm quế khâu, ba nắm vỏ quýt khô… Hai con phụ nữ khác đem đến cho tao… v.v… - nhiều đến không thể nhớ nổi những yêu cầu của ông Tám Mù, nhưng chuyện ai người đó nhớ nên cũng xong.
      Ông ngoắt tay kêu:
      - Con nhỏ nào lanh tay lẹ chân, lại đây tao dặn!
      Ông Tám nói nhỏ vào tai chị Ba Dung điều gì không ai nghe biết, chỉ thấy… vừa nghe xong mệnh lệnh, chị Ba Dung té ù chạy đi thi hành ngay. Ông Tám Mù còn ra nhiều lệnh nữa cho nhóm phụ nữ mân mân sung sức, nhưng hễ ai nhận được lệnh đều không người nào dám phàn nàn, thắc mắc, nấn ná hay thoái thác hoặc thực hiện miễn cưỡng… tất cả đều răm rắp chạy đi chạy lại, tất bật thi hành như thi hành mệnh lệnh khẩn cấp của một ông tướng đầy quyền uy đang hồi trận mạc gay cấn giữa sống chết ngoài chiến trường biên ải.
      Khi bếp lò mang ra, mọi người đặt sát gốc cây da xà theo lệnh ông Tám Mù. Lần lượt ông Tám sai quạt bếp lò cho cháy đỏ, rồi dõng dạc ra lệnh bỏ từng món vào bếp nóng hừng hực rực lửa. Khi khói bốc lên cao - lạ làm sao khói cứ như bị hút lên cao! - đi vào tàng cây, len vào từng ngóc ngách của các nhánh lớn nhỏ, bỗng dưng trong phút chốc, cả một cây da xà xum xuê tán lá vươn rộng um tùm… trở nên mù mịt khói là khói! Khói nhiều đến độ ta thấy tất cả chỉ còn là một cây nấm khổng lồ, liên tưởng cây nấm khói của quả bom nguyên tử Hiroshima, Nagasaki thuở nào, dù nguồn cung cấp khói chỉ là một bếp lò cỏn con bé xíu.
      Đụn khói to lớn như thế, nhưng mùi hương thơm lại nhẹ nhàng và dễ chịu một cách thật khó tả.
      Đợi một lát, sau khi hỏi và được mọi người báo cáo rằng khói đang tan dần, ông ra lệnh:
      - Bây giờ mấy “thằng đực” (2) nghe tao biểu đây! Thằng Tư Lê buộc dây an toàn vào bụng, leo lên tuốt chót vót ngọn cây, tìm cho ra rồi chặt đọt cao nhất đem xuống đây cho tao! Thằng Hiệp thằng Tứ dùng dây luộc (3) trói cây lại, trói xong mỗi đứa cầm cho thật chặt hai đầu dây để thằng Tư Lê dễ chặt đọt cây! Thằng Chín Dứt, thằng Bảy Phủ, Năm Điều, Sáu Tự (4)… - ông Tám Mù dừng lại, đếm ngón tay thấy chưa đủ, ông gọi thêm cho đến khi đủ 7 người - tất cả ai có búa cầm búa, ai có dao cầm dao, ai có tầm bức cầm tầm bức đứng quanh gốc cây… hễ vừa nghe tiếng Tư Lê la lớn “đãng” thì đồng loạt “khai đao”, nhắm thẳng vào gốc cổ thụ mà chém tới tấp.
      Mọi diễn tiến đều suông sẻ và đúng nhịp. Có điều rất lạ! Cây da xà lúc này không khác gì một thân thể con người, bởi vì khi ông Tư Lê vừa la to “đãng” vừa chặt đứt phụp đọt cây trên vị trí cao nhất, thì bỗng… cả thân cây kêu lên răng rắc y như rùng mình đau đớn, sau đó hơi chuyển động lắc lư qua lại vài cái rồi bất động.
      Tiếng la to “đãng” của Tư Lê vừa dứt, bảy tay đàn ông lực lưỡng do Chín Dứt cầm đầu bằng hết sức lực, giáng những nhát búa, dao, tầm bức… vào thân cây, cả thân cây to cùng với các nhánh to nhỏ đều chuyển rung bần bật. Thật là không thể hiểu nổi!
      Tư Lê rời khỏi cây da xà an toàn - bà Tư Lê lo lắng chạy đến bên xem xét ngay; Chín Dứt và sáu người đàn ông trong nhóm hăng tiết, trút hết nỗi căm giận lâu ngày với cây da xà bằng những nhát chém dũng mãnh, những người còn lại đứng ngoài cũng ùa vào kẻ cưa người chặt, kẻ hò người reo… chỉ trong phút chốc, cây da xà còn trơ lại một thân to trụi lá. Trong khi những người đàn ông trở lại bản chất hiền hậu thường ngày thì những người đàn bà của họ vui sướng lo cơm lo nước với tất cả mọi sự chu đáo có thể. Thật!… Sức mạnh lớn không đến từ sự thù hận căm ghét, mà đến từ sự yêu thương, hòa thuận và nhất chí!
      Ông Tám Mù được mọi người nhất là cánh phụ nữ tung hô vạn tuế hết cỡ! Hứng chí ông tuyên bố luôn không cần ai phỏng vấn:
      - Đốn cây “cởi ếm” là nghề của tao! Trải dài từ Cao Miên (Campuchia) xuống đây, tao triệt tận gốc đếm tới cây này là cây thứ năm.
      Các chị hỏi:
      - Hổm rày sao Ông không đến? Để tụi con xém chút nữa là chém giết lẫn nhau!
      Ông Tám Mù khai thiệt:
      - Tao đi thăm thằng Út đóng đồn ở XL, trở về được tin là tao tức tốc đến ngay!
      Ông Tám Mù là thầy bùa có đẳng cấp đã bỏ nghề. Ông là người Việt gốc Miên, mù nhưng đôi tai và trực giác cực bén nhạy đã thay cho đôi mắt. Theo ông, cây da xà Muồng Rền là nơi ẩn trú của nhiều âm hồn, khó ai có thể triệt hạ được.
      Tôi nhắc thầy Thời:
      - Rồi sau đó, con ma “thiếu phụ bồng con” còn quậy phá nữa không? Số phận thầy Báu ra sao? Thầy ấy có được giải cứu không?
      Thời trả lời:
      - Khi không còn chỗ để trú ẩn, con ma “thiếu phụ bồng con” vào ở hẳn trong căn chòi thầy Báu. Giáo dân Muồng Rền, qua vụ đốn hạ cây da xà thành công, biết thêm tài năng của ông Tám Mù, nhất là phát hiện ông đã từng giao du với âm binh thần tướng, hiểu quỷ hiểu tà hơn người… thì càng nể vì ông hơn trước. Một số giáo dân liền tập họp lại, kéo đến nhà ông để trình bày tiếp sự việc thầy Báu.
      Ông Tám Mù hỏi đầu đuôi sự việc. Khi nghe mọi người kể xong, ông nói:
      - Những gì tụi bây kể, tao cũng đã nghe đã biết! Nhưng vì sự việc xảy ra ở nhà thờ Công giáo, với thầy tu Công giáo… tao không muốn dây dưa! Vì hễ sự gì liên quan đến Công giáo thì tao né, không muốn liên lụy!... Ý tao còn muốn để chức sắc Công giáo tự giải quyết xem thử các họ cứu người của mình cách nào, cứu được hay không… vì xưa nay Công giáo coi khinh các mối đạo khác, gọi những đạo khác là “thờ lạy bụt thần ma quỷ”. Còn việc đốn hạ cây da xà là bởi có liên quan đến bà con hàng xóm với tao nên tao ra tay, – ông cười hóm hỉnh - ra tay khi đã qua 3 ngày phía bên Công giáo không làm gì, chắc chẳng ai còn dám trách rằng tao xía vào chuyện riêng.
      Những giáo dân của giáo họ Muồng Rền có mặt lúc ấy nghe nói vậy thì thộn cả mặt, ê cả người, cứng cả họng và ngậm cả miệng… mắc cỡ cho đạo của mình; nhưng rồi, bởi vì cho đến giờ này, nhà thờ chính không cử ai đến giúp họ, họ không biết tính sao nên đành “ngậm bồ hòn” nhờ cậy ông Tám Mù.
      Nghe năn nỉ hoài ông Tám Mù phải mềm lòng vì nghĩ dù sao giáo dân họ Muồng Rền cũng là người cùng một xã, một ấp với nhau. Ông gật đầu:
      - Ừ!
      Sau khi nhận được lời hứa, nhóm giáo dân thiện chí hết sức an tâm, vừa ra về vừa chép miệng thở dài an ủi nhau:
      - Thôi kệ! Dù sao Ổng cũng là bậc hảo hán! Cậy dựa đấng anh hùng hay bậc quân tử đâu có gì phải xấu hổ!

      Đúng hẹn, ông Tám vẫn mình trần quấn xà-rông bảo nhóm giáo dân cùng với ông đến Bà Cậu Hai Chơn; ông nói để đi gặp con ma “thiếu phụ bồng con!” Mấy phụ nữ đi cùng vừa nghe thế đã bủn rủn muốn rụng rời cả tay chân.
      Khi còn ở đằng xa, mọi người đã thấy thấp thoáng bóng Bà Cậu Hai Chơn thập thò ở cổng nhà của bà ta với dáng vẻ đang trông ngóng ai. Và khi còn cách bà ta khoảng chưa đầy trăm mét, Bà Cậu Hai Chơn đã đon đả chạy đến rước ông Tám Mù:
      - Thân lạy Thầy Tám! Nghe tin thầy đến, con xin rước thầy vào nhà chơi!
      Nghe khựng liền, thầy Tám không cười đáp trả, bảo:
      - Giỏi quá ha! Tụi bây mật báo với nhau về tao nữa hả?
      Ông Tám Mù cằn nhằn tiếp:
      - Tao mà chơi gì với mầy? Mầy cho tao gặp con Tuyết Lệ lẹ lên!
      Không nghe hay giả đò không nghe, Bà Cậu hỏi:
      - Dạ…a…ã…? Thầy Tám nói chi?
      - Mầy điếc hả con?... Cho tao gặp con Tuyết Lệ! Lẹ lên!
      Bà Cậu riu ríu đi vào nhà, ngồi phịch xuống tràng kỷ bóng loáng kê trước bàn thờ, tự trùm vội chiếc khăn đỏ màu máu quen thuộc lên đầu rồi lắc lư; vài phút sau Bà Cậu rùng mình mạnh một cái, hai vai to đùng của Bà Cậu rung lên rồi hoác cái miệng rộng quá khổ ra ngáp một tiếng dài… bỗng Bà Cậu bật khóc ngon lành. Tiếng khóc từ nhỏ đến to dần, nghe rất ấm ức, tức tưởi và căm giận. Ông Tám đổ quạu, quát:
      - Mầy còn khóc được… hả Tuyết Lệ? Đã có chồng ngon lành, mầy giết chết thằng chồng ấy đi; giờ lại muốn lấy thầy tu để rồi cũng lại giết chết người ta nữa phải không?
      Tuyết Lệ - tên của con ma “thiếu phụ bồng con”, đang mượn xác Bà Cậu Hai Chơn - ngưng ngay tiếng khóc, giật phắt chiếc khăn đỏ trùm đầu xuống, mặt đối mặt với ông Tám trong tư thế hỗn xược, trợn đỏ mắt to đen lên tru tréo:
      - Ôn hoàn dịch vật! Tại thằng đó phản bội tui giết chứ sao.
      Tuyết Lệ - con ma “thiếu phụ bồng con” - đổi ngay giọng:
      - Còn thằng thầy tu này tui thương…
      - Mầy giết cả đứa con nhỏ mấy tháng tuổi của mầy thì mầy làm gì có thương với yêu! Mầy thương gì ai hả? Ma chẳng ra ma, quỷ chẳng ra quỷ như mầy chỉ có độc thù hận với hận thù mà thôi! Xạo với ai đừng xạo với tao!
      Nghe những lời ông Tám Mù vừa nói, con ma “thiếu phụ bồng con” nín thinh. Ông Tám Mù bảo:
      - Tao đến đây hôm nay không phải để cho mầy trả treo, mà cho mầy một đường sống. Mầy đang lang thang vất vưởng. Khổ như vậy không lo lấy thân còn làm hại người ta làm chi! Giả dụ đã xuống địa ngục yên nơi yên chỗ thì cũng đành. Đàng này chưa xong xại chuyện gì thì đường sống cho mầy là tìm đến chùa chiền, hoặc tịnh cư tịnh xá gì đó mà ở, để ngày đêm nghe tiếng kinh tiếng kệ, tiếng tụng câu niệm cho tâm thơi trí thảnh mà tan dần mối hận thù đi…
      Ông Tám Mù nói với giọng chứa chan thành ý, nghe tâm cảm tràn đầy… vậy mà nói chưa dứt lời thì Tuyết Lệ trả lời cộc lốc cắt ngang:
      - Tui không làm được!
      - Mầy làm được! Bảo đảm mầy làm được! Không ai dù sống dù chết mà không tự trút bỏ thù hận được, chỉ trừ khi số phận đã được quyết định xong. Mầy đã sa địa ngục đâu mà không làm được? Mầy còn đang lang thang chờ định phận mà! Hiểu sai rồi con ạ! Thôi tao hiểu: Chưa sa địa ngục nhưng rơi vào sự thù hận thì đó chẳng khác gì địa ngục, lửa đốt nóng như nhau!
      Bà Cậu Hai Chơn - hiện là Tuyết Lệ - lặng thinh nghe với dáng vẻ suy nghĩ. Thấy vậy ông Tám Mù dò ý:
      - Hay… mầy muốn tao ếm mầy chết kẹt trong nấm mồ?
      Bà Cậu Hai Chơn vừa nghe xong câu nói ấy liền giẫy nẩy lên, miệng hoác ra la lớn:
      - Không! Không! Tui lạy ông! Ông đừng ếm tui ngoài nghĩa địa!
      Ông Tám ra điều kiện:
      - Vậy thì mầy phải buông tha và tránh xa thằng thầy tu kia ngay!
      Tuyết Lệ rên rỉ:
      - Thằng đó yêu tui mà!... Tụi tui yêu nhau…
      Ông Tám tức giận cắt ngang:
      - (Chửi thề) Xạo! Người sống kẻ chết yêu nhau sao được! Mầy mượn hình dong ai đó… để đú đởn, để làm tình làm tội nó, rút hết tinh của nó khiến nó mê mệt với mầy! Yêu gì!
      Không muốn nói nữa, đứng lên, ông Tám hỏi một cách thình lình với chủ ý:
      - Nhưng… tại sao mầy bắt được thằng thầy tu ấy?
      Tuyết Lệ cũng trả lời không kịp đối phó:
      - Tại nó hâm hâm dở dở…
      - Hừ! Hâm… dở… thì ma quỷ chúng mầy bắt được…? Thiệt là… !
      Tuyết Lệ không giấu:
      - Thì luật âm dương vậy đó! Ai theo Sáng, Tối sẽ không đến. Ai theo Tối, Tối còn đến làm chi! Chỉ ai cõi lòng u u minh minh, mờ mờ mịt mịt… thì Tối đến liền.
      Ông Tám hỏi có ý cho chúng tôi nghe biết:
      - Vậy thằng thầy tu ấy…
      Tuyết Lệ nói tiếp lời ông Tám:
      - …nó hâm hâm, nó “ba rọi”… thiêng chẳng thiêng, tục chẳng tục… Lúc Sáng lúc Tối, nhờ nhờ, ảo ảo… Nó cầu kinh xong quay ra thù hận…
      Ông Tám sừng sộ:
      - Ủa! Mầy đâu phải quỷ mà làm việc quỷ?
      - Tất cả những gì thuộc về bóng tối là quỷ. Người đang sống có thể là quỷ được kia mà! Khác nhau cấp độ thôi! Kiêu ngạo, độc dữ, ích kỷ, nóng giận, bạo động trên thân thể hay tinh thần người khác … nhất là thù hận… là quỷ rồi!
      Ông Tám tự ái:
      - Mầy dạy đời tao đó hả? Cái con…
      Trước khi rời đi, ông Tám nhắc lại:
      - Tao nói rồi đó! Mầy phải buông dứt thằng thầy tu ấy ra, rồi đến chùa chiền mà tu, không… là tao ếm!
      Thấy Ông Tám Mù ra đi, Tuyết Lệ la lớn:
      - Nhưng tại sao ông cứ ám tui? Phá chỗ ở của tui rồi còn bắt tui này nọ? Tui có động gì đến ông đâu!
      Ông Tám đã ra đến hành lang nhà, ngoái cổ lại bảo:
      - Tại mầy không ở yên mà cứ làm hại người lương thiện.

      Về gần đến nhà, ông Tám Mù cam đoan với những người giáo dân - đi theo ông - rằng thầy Báu sẽ bình phục. Ông dặn dò họ thêm:
      - Cây da xà đã mất tích, nhà thờ hãy siêng mở cửa và năng đọc kinh đi!
      Ông Tám Mù không quên dặn thêm:
      - Đưa thằng thầy tu ấy nhanh chóng rời khỏi chốn này… nói cho nó biết tại sao nó bị như thế. Nếu nó không tu tỉnh thật sự, nó sẽ còn bị như vậy lần nữa.
        Tôi nói với thầy Thời:
      - Phải! Chúa từng nói Người không chấp nhận nổi tình trạng hâm hâm (5).
      Thời gật đầu đồng ý.
       
      (còn tiếp)
       
       
      (1) Xà-rông: từ ngữ do phiên âm từ tiếng Campuchia; từ này được dịch ra tiếng Việt là chiếc khố. Chiếc khố là một phần (thay cho cái quần) trong y phục truyền thống người Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia, Inđônêsia, Myanma… Chiếc khố thực chất chỉ là tấm vải dầy có sọc hay hoa sặc sỡ quấn quanh thân dưới của đàn ông lẫn phụ nữ.
      (2) Dù cách nói nghe thô thiển, nhưng đó là cách nói được cho là thân mật của những người già (như già làng, nhưng tự nổi trội chứ không do ai bầu chọn hoặc không do cha truyền con nối). Họ là những người rất có uy tín, thế lực do bản lãnh cao, khí chất ngang tàng, bất khuất và nghĩa hiệp hơn người… Những người này bất kỳ làng quê hay họ đạo nào (nhất là vùng miền Tây Nam bộ) cũng có. Người ta không ai phiền lòng về cách nói năng ấy, trái lại, còn kính nể và vâng lời cách thú vị. Quyền lực của những vị này là quyền lực mềm, nhưng hữu thực và mạnh hơn mọi quyền lực cứng khác. Các cha sở nên tìm đến họ ngay khi nhậm họ, đồng thời nên học và bắt chước họ.
      (3) Dây luộc: là loại dây thừng thật to, bện bằng xơ dừa rất khỏe và rất chắc.
      (4) Lối gọi số thứ tự thay cho tên là lối gọi rất lịch sự (kiêng, kỵ, húy tên người lớn). Đây là kiểu kiêng kỵ húy rất có văn hóa ở miền Tây Nam bộ do địa dư và phong thổ hình thành; còn lối gọi số thứ tự kèm tên là lối gọi của người trên với kẻ dưới, hoặc khi nhắc đến người thứ ba, hoặc khi cần phân biệt 2 người trùng tên.
      (5) Sách Khải Huyền đoạn 1, câu 11: “Điều ngươi thấy, hãy ghi vào sách và gởi cho bảy Hội Thánh”. Tôi cầu nguyện và đọc hết đoạn này và các đoạn kế tiếp, thấy như sau:
      Câu 11 nói: Bảy Hội Thánh là: Ê-phê-xô, Xi-miếc-na, Péc-ga-mô, Thy-a-ti-ra, Xác-đê, Phi-la đen-phi-a và Lao-đi-ki-a. Câu 19 Chúa nhắn nhủ: “Vậy ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này”. Xin trích dẫn để cùng suy niệm:
      1. Hội Thánh Ê-phê-xô: Hội thánh này có (chỗ này chắc tòa soạn đánh máy thiếu), suy nghĩ, việc làm, nhưng không có tấm lòng: “Ta biết các việc ngươi làm, nỗi vất vả và lòng kiên nhẫn của ngươi… những kẻ xưng mình là tông đồ, mà thực ra không phải...” Vì thế Chúa kêu trách: “Nhưng Ta trách ngươi điều này: “ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu. Vậy hãy nhớ xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải…” (x.Kh 2:25)
      2. Hội Thánh Xi-miếc-na: Hội Thánh này xưng đạo Chúa ra rất mạnh; nhưng không thật sự là con Chúa: Chúa biết rõ bạn “…Ta biết lời vu khống của những kẻ xưng mình là Do thái, mà thực ra không phải: chúng chỉ là thành viên của hội đường Xa-tan…Đừng sợ đau khổ các người sắp phải chịu…Hãy trung thành cho đến chết, rồi Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống.” (x.Kh 2:9 10).
      3. Hội Thánh Péc-ga-mô: Hội Thánh này biết và tin điều Chúa dạy mà không làm: “Nhưng Ta có điều trách: ở đó ngươi có những kẻ nắm giữ đạo lý của Bi-lơ-ham. Ông này đã dạy Ba-lác gây cớ vấp ngã cho con cái Ít-ra-en, ăn đồ cúng và làm chuyện gian dâm… Vậy hãy hối cải, bằng không, Ta sẽ đến với ngươi ngay tức khắc và sẽ dùng lưỡi gươm từ miệng Ta mà giao chiến”. (x. Kh 2: 14-16)
      4. Hội Thánh Thy-a-ti-ra: Hội Thánh dung túng cho những người lợi dụng danh Chúa để làm chuyện gian tham: Lời Chúa răn đe: “Ta biết các việc ngươi làm, biết đức ái, đức tin, công việc phục vụ và lòng khiên nhẫn của ngươi. Nhưng Ta trách ngươi điều này: ngươi dung túng I-de-ven, người đàn bà xưng mình là nữ ngôn sứ… Ta đã cho nó có thời gian hối cải mà từ bỏ thói gian dâm…Tất cả các Hội Thánh sẽ biết rằng Ta là Đấng dò thấu lòng dạ, và Ta sẽ tùy theo việc các ngươi làm mà thưởng phạt mỗi người… Ai có tai thì hãy nghe Thần khí nói với các hội Thánh.” (x.Kh 2:19-29)
      5. Hội Thánh Xác-đê: Hội Thánh này bề ngoài có vẻ sầm uất; nhưng là Hội Thánh bên trong đang chết: Sau đây là Lời của Thiên Chúa cảnh cáo: “Ta biết các việc ngươi làm, biết ngươi được tiếng là đang sống, mà thực ra đã chết, hãy tỉnh thức! Hãy củng cố chút sức còn lại đang suy tàn, vì Ta thấy các việc của ngươi không được hoàn hảo…Hãy nhớ lại: các ngươi đã lãnh nhận và nghe Lời Chúa thế nào, hãy tuân giữ và hối cải…!” (x.Kh 3:1-4)
      6. Hội Thánh Phi-la-đen-phi-a: Hội Thánh này nghe và thực hành Lời Thiên Chúa một cách đầy đủ nhất: Sau đây là Lời của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật tuyên bố: “Vì ngươi đã giữ Lời Ta dạy phải kiên nhẫn chịu đựng, nên Ta cũng giữ gìn ngươi cho khỏi giờ thử thách sắp xảy đến trên toàn cõi địa cầu, để thử thách những người sống trên mặt đất. Chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến; cái gì ngươi đang nắm chắc, hãy nắm chắc, đừng để ai lấy mất triều thiên dành cho ngươi. Ai thắng Ta sẽ cho làm cột trụ…” (x.Kh 3:10-12)
      7. Hội Thánh Lao-đi-ki-a: Hội Thánh này hâm hâm, dở dở, ba rọi, nửa mỡ, nửa nạc, chẳng nóng, chẳng lạnh: Đây là Lời Đấng Amen, Lời Chứng Nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên: “Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. Ngươi nói: “Tôi giầu có, tôi đã làm giầu, tôi chẳng thiếu thốn chi”; nhưng ngươi không biết ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ, đui mù và trần truồng…” (x.Kh 3:15-18).
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 50 phút bởi Sun Ming >
      #63
        Thay đổi trang: << < 45 | Trang 5 của 5 trang, bài viết từ 61 đến 63 trên tổng số 63 bài trong đề mục
        Chuyển nhanh đến:

        Thống kê hiện tại

        Hiện đang có 0 thành viên và 4 bạn đọc.
        Kiểu:
        2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9