(URL) KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT

Thay đổi trang: < 12345678 > | Trang 5 của 8 trang, bài viết từ 121 đến 150 trên tổng số 221 bài trong đề mục
Tác giả Bài
Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 17.01.2011 00:48:46
.

 
                                        DƯỚI ĐÂY LÀ HAI "ĐƠN PHẢN BÁC"
                                CỦA PNT LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN
 





                                                 

                                          Nhà thơ PHẠM NGỌC THÁI                                                        
                                                        Lên án những gian tà



  Sau khi tôi cho xuất bản tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM & biếu tặng –  Tôi  hỏi về sự nhận xét tác phẩm?
  - Trong  một sáng mùa xuân, dưới mái hiên của HNV ( tại 9 Nguyễn Đình Chiểu HN), chính ông Hữu Thỉnh - Chủ tịch HNVVN đã phát biểu:
      -    Anh vĩ đại rồi! 
 
       Nhà văn Cao Tiến Lê khen hết lời.   
      Còn nhà thơ Lê Đình Cánh thì đánh giá: Phạm Ngọc Thái đã đi trước các nhà thơ đương đại của HNVVN 4-50 năm!

 
      Người bạn thơ Nguyễn Quang Thiều của tôi cũng ca ngợi: Tập thơ rất tuyệt!
      Nhà thơ đồng thời là nhà bình luận "Chân dung & đối thoại" Trần Đăng Khoa từng phát biểu:

          "Phạm Ngọc Thái - Một thiên tài cô độc!".

     Vào một buổi cùng ngồi uống bia, nhà thơ Bằng Việt (Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thủ đô) đã nói với tôi: "Đúng là anh có cả một thế giới thơ riêng! Nhưng... số anh không may!". 

       Không may có nghĩa là sao? Là sẽ có nhiều kẻ ghen ghét,đố kỵ... tìm cách dìm lấp chăng? - Thế thì phải mượn cụ Nguyễn Du một câu thơ mà chiêm nghiệm rằng:
                     Chữ tài đi với chữ tai một vần
 
      Hay là, phải ngửa mặt lên trời mà than như Tố Như:
 
                     Bất tri tam bách dư niên hậu
                     Thiên hạ hà nhân…”có khóc ta”?...
      Nhưng anh Bằng Việt là ai nhỉ? Cũng một tầm bậc có tên tuổi đương thời. Trong lĩnh vực báo chí, văn chương... quyền hạn có kém gì Hữu Thỉnh? Thế đấy!...
 
      Chẳng thế mà nhà thơ Chử Văn Long - Khi tôi chuẩn bị cho xuất bản tập thơ “Rung động trái tim” ấy, anh nói: “Ông cẩn thận, kẻo chúng hơi hóng biết được... chúng sẽ đâm chọc với NXB, sẽ phá - Ông khó mà xuất bản”!
     Tôi đã phải lẳng lặng mà làm... cho đến khi tập thơ xuất bản trót lọt xong rồi! Cầm tập thơ rất đẹp trên tay tôi biếu, anh phải thốt lên : Đúng là... thượng đế đã không cắt hết đường ai!
 
     Tôi bảo: Đúng thế - Trời hại thì mới sợ, chứ... người hại thì không sợ!
      Để rồi xem mây mù có thể che lấp được bầu trời mãi hay không?
                    

      Sau đây là nguyên văn hai bản thông cáo - Có tính chất phê phán đối với những người thừa hành nhiệm vụ:


___________________________________________________________________________________________



                                                                                                                                                                                   
 
 
                                                 
            
                                       Gửi ông:         Hữu Thỉnh
                                                             Chủ tịch  HNVVN
                                       
 Cùng Ban chấp hành HNVVN

 


    
                                                                          
                                         Hữu Thỉnh - Chủ tịch HNVVN     
 


    ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (II)
 


   Sau đơn phản bác (ĐPB) đầu tiên tôi đã gửi tới các ông, các Viện và trong Hội Văn học  từ ngày 15/1/2010 – Trong ĐPB.II này, tôi không nói lại cái việc mà các ông cùng ban bệ đã có dã tâm, cố tình dìm lấp tôi!...mà chỉ muốn nhắc với các ông một số điểm như sau:
 
1/-    Nếu các ông gạt bỏ được sự vị kỷ, nhỏ mọn của con người:
 
     Có tổ chức đánh giá tập thơ Rung động trái tim (RĐTT),  tôi đã cho xuất bản tại NXB Thanh niên 2009 vừa qua -  Tôi tin:  sự vô giá của tập thơ sẽ không còn chỉ của riêng tôi, mà nó sẽ là tài sản của cả nền văn học quốc gia.


Tôi xin khẳng định lại: Tập thơ RĐTT không chỉ là một tập thơ sâu sắc và tầm vóc nhất so với hàng nghìn các tập thơ đã xuất bản từ 1975 đến nay, mà nó còn là một tập thơ hay, độc đáo của cả nghìn năm văn hiến Thăng Long.


Thì trong Lễ kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, đó chẳng phải là thành quả quí báu của nền thi ca đối với nước non hay sao? Trong đó các ông là những người lãnh đạo, cầm cân nẩy mực… vừa tỏ ra cao thượng và có trách nhiệm, chí ít cũng của một giai đoạn thơ ca trong đương đại nước nhà. Đằng này các ông chỉ giỏi kiếm bổng lộc quốc gia - Chỉ sợ PNT này vượt lên trên mặt, tức là vượt lên trên chân dung các ông!

 
2/-  Các ông định cứ lơ đi ư? Các ông định tâm “để lâu cứt trâu sẽ hoá bùn” ư?

        Nếu các ông tìm mọi cách để phủ nhận, bới móc hay thoá mạ lên các tình thơ trong tập RĐTT – Thì đồng thời cũng chính là dịp cho mọi người sẽ xô vào để  đọc, nghiền ngẫm và thưởng thức… lập tức thế giới bên trong các tình thơ của tôi sẽ trở nên bất hủ, kỳ diệu ngay!.... Đó là nguyên lý của loại thơ tồn tại, thơ hay và sâu sắc điển hình của tập thơ RĐTT. Trong Tuyển thơ đại bàng (TTĐB) của tôi có đến cả trăm bài tôi đã đạt được sự viên mãn như thế!

Như tôi đã nói trong ĐPB.I ( xin xem lại - có lưu kèm theo với văn bản này), rằng: Tập thơ RĐTT dám nói là có thể đem so sánh với tầm vóc thơ bà Hồ Xuân Hương, một trong ba thi hào dân tộc của nước nhà.  Đấy, tập thơ tôi đang cho công bố: ai cũng có thể đọc và phán xét nó, ai cũng có thể cào xé hoặc bôi xấu nó - xem có thể dập vùi nổi nó không?    
 
         Tập thơ “Rung động trái tim” chính gốc đẹp và dầy 200 trang đã được xuất bản ấy (chứ không phải là tập thơ mỏng nhỏ tôi trích ra, photo ít bài quảng bá) - Riêng các nhà lý luận phê bình hay các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học  thì PNT xin biếu tặng, còn với quảng đại văn nghệ sỹ và công chúng… tác giả có thể bán rộng rãi cho mọi người để còn có khả năng mà tái bản tiếp – Ai muốn mua liên hệ với nhà thơ qua ĐT  01683024194,  Email phamngocthai48@yahoo.com.vn, gửi thư  hoặc đáo qua thăm nhà.

 
3/-     Vào mùa thu năm Giáp Thân (2004) tôi đã gửi tới ông Hữu Thỉnh cùng ba Viện một bức thông điệp dưới dạng viết ngỏ -  
 
      Hồi đó còn gọi ông là Tổng thư ký Ban chấp hành HNVVN.  Trong bức thông điệp đó có đoạn tôi đã viết:

“  … Nhìn chung TTĐB của tôi là loại thơ muôn tuổi, thứ thơ thuộc ngôn ngữ thi ca triết học. Rất nhiều các bài thơ hay hoặc khá hay vào hàng đẳng cấp, thơ của mọi thời đại. Từ thơ tình tới thơ đời tuy chắt ra từ trong đời riêng tác giả, nhưng đều mang nỗi nhân quần thế thái, tính xã hội sâu xa…”.

Và tôi còn nhấn mạnh:

“ Tôi xin sẵn sàng diễn trình: đọc thơ, bình luận và phân tích - về TTĐB nói chung (cụ thể là với tập thơ RĐTT này mà tôi tin là  đã đạt đến đỉnh thi sơn), trên cơ sở những bài thơ hay và kiệt tác - Trước tất cả các nhà văn, nhà thơ, các nhà lý luận phê bình, các tiến sỹ, giáo sư, thạc sỹ hay các viện sỹ văn học trong toàn quốc, trên đại sảnh của HNVVN… bằng phong cách tuỳ hứng của một thi nhân!”.

Hôm nay tôi vẫn xin nhắc lại với các ông điều đó.

 
4/-     Cũng trong bức Thông điệp năm Giáp thân ấy có đoạn tôi đã viết:  
 
   “ Khi xưa Hàn Mặc Tử vì lâm bệnh hiểm nghèo đã mất sớm ở Gành Ráng, lúc đó thi nhân cũng chỉ mới xuất bản được một tập Gái quê – Ông Trần Thanh Mại là một nhà nghiên cứu lý luận văn học ở Huế, đã lên tận nơi mà thi nhân tạ thế, thu lượm từng trang bản thảo viết tay, lúc sống thi nhân đã sáng tác bị vương vãi trong dân. Để sau này (vào năm 1988) – Nhà thơ Chế Lan Viên (CLV) đã biên tập trọn vẹn “Tuyển thơ Hàn Mặc Tử” và xuất bản cho Người, cũng lưu giữ lại cho nền văn học của nước non.

Trong lời đề tựa cho tuyển thơ, chính CLV đã từng đánh giá: Hàn Mặc Tử (HMT), anh là ai? – Ông đã khẳng định: Mai sau, những cái tầm thường mực thước biến tan đi không còn nữa, và còn lại của cái thời kỳ này, một chút gì đáng kể đó là HMT!... Và lời tiên tri của ông đã đúng, HMT chính là một thi nhân lớn nhất thời tiền chiến”!
 
Còn các ông diễn văn và miệng nói thì có vẻ nhân văn đấy, mặc dù làm việc quốc gia… nhưng tấm lòng và trái tim nhân đạo thì chưa bằng một nhà văn như Trần Thanh Mại của thời kỳ thực dân, phong kiến cũ.

 
5/-  Tôi đã định tìm cách gửi tập thơ Rung động trái tim đi thế giới để tham dự giải Nobel!

     Nhưng khó khăn lớn nhất chính là công việc dịch thuật ra tiếng nước ngoài. Hơn nữa, vấn đề dịch thơ nó đòi hỏi không chỉ ngoại ngữ giỏi mà trình độ chuyên nghiệp dịch tác phẩm văn học phải cao nữa.
 
      Nếu được HNV với tư cách quốc gia đứng ra đảm nhận việc đó, thì chắc không phải là việc quá khó. Nhất là vừa qua (vào ngày 5/1/2010) ông Hữu Thỉnh có tham gia một Hội nghị mang tính Quốc tế để mở rộng việc giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài - gồm các nhà văn, nhà thơ và các dịch giả từ 32 nước trên thế giới đến nước ta – Tôi thiết nghĩ: Một tập thơ với giá trị như tập RĐTT, có lẽ cũng xứng đáng để được HNV quan tâm làm điều đó.

Ở Ấn Độ - Đại thi hào Tagore,  chẳng phải Người đã được giải Nobel cũng chỉ bằng tập thơ Lời dâng đó thôi!

 

6/-  Tôi viết tiếp ĐPB (II) này còn mang theo mục đích:
 
  Mai sau khi lịch sử nghiên cứu về tôi sẽ hiểu sâu sắc hơn – Nhà thơ đã phải sống trong một đương đại mà những chân dung thi ca của ta hạn chế thế nào? Nhất là thực chất khuôn mặt thật của những người cầm cân nẩy mực trong HNV đối với  nền thi ca đó như các ông… thì lòng dạ, tâm địa đã cư xử với Người ra sao?

Nói đi rồi nói lại: Đại thi hào Uýt-Man nước Mỹ trong buổi đương thời, Người chẳng cũng đã từng phải chịu cảnh dập vùi, thoá mạ của bao phường văn sỹ nhỏ nhen đó hay sao?... Những tầm bậc siêu nhân thường phải gánh chịu “nợ đời”, chẳng phải chỉ riêng tôi!


     Hoài Thanh đã từng viết trong Thi nhân Việt Nam, khi Người bình bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên rằng: Một thiên kiệt tác, một bài thơ hay cũng đủ để lưu danh!... Huống chi cả tập thơ RĐTT dám nói là trang trọng và bất hủ, có cả chục bài thơ hay và kiệt tác – Tôi tin rằng: Rồi đây, cùng với bao nhiêu thiên tuyệt tác nữa trong Tuyển thơ đại bàng của tôi lần lượt được xuất bản, nó có khả năng để tạo nên cả một “vạn lý trường thành” của thi ca mà sừng sững đến muôn năm.
 
 
                                                                        Viết tại đất Thăng Long
                                                                      Mùa xuân năm Canh Dần
                                                                            NGƯỜI PHẢN BÁC

 
                                                                    (Đã ký)
 
 
                                                                                   

                                                          PHẠM NGỌC THÁI

 

*     Sao gửi đến ba Viện và lưu vào lịch sử

  
 
 
   _______________________________________________________________________________                                                                    
 
 
                                                          

                                    Gửi:   Ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn
                                             Cùng Ban chấp hành HNVVN

                Đồng gửi:    Vũ Quần Phương
                                          Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN (K.VII)



                                   
                                                  
                                      Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN (K.VII)   
                                            Vũ Quần Phương



  ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (I)

      Tôi - Nhà thơ Phạm Ngọc Thái, hiện trú ngụ tại ngõ 194 (số 34), phố Quán Thánh, Hà Nội.

A- PHẢN BÁC I
/.

  Việc làm thiếu trong sáng, thuộc vào nhân cách, đạo đức (của ban bệ nào, hay do các ông chỉ đạo thì tôi không biết?) - Theo như cách xử sự mà tôi nhìn nhận trong những năm tháng qua, tôi cho rằng rất thiếu trách nhiệm và cả nhân tâm đối với một nhà thơ như tôi. Như đã cố tình dìm lấp trong đợt xét duyệt vừa qua, nhằm gạt bỏ người xin vào Hội. Tôi chỉ biết rằng trong hàng trăm nhà thơ xin vào HNVVN năm 2009 này đều có danh sách (xem công bố của HNV trên mạng internet), riêng tôi bị ỉm đi. Cá nhân tôi nhận định: Đó là một sự hèn kém, thậm chí là thiếu liêm sỉ của những người có cương vị  trong công tác văn học (riêng về thơ ca). Sự chưa được nhân đức đó không thể chấp nhận được.

B-  PHẢN BÁC II/.  


      Thực tình, do tâm dạ luôn muốn hướng tới lòng nhân hòa của con người, dẫu có tồi tệ hơn thế  tôi cũng sẽ chỉ chép miệng bỏ qua - Nhưng với tôi, các ông tư cách là những người có trách nhiệm quốc gia,  tâm linh, tình cảm cùng khát vọng là nhà thơ với nhau. Tất nhiên là số vận của các ông thì đã được hưởng bổng lộc quá nhiều, chứ không "chó ăn đá , gà ăn sỏi" như tôi - làm như thế... thì có lẽ là nhỏ mọn. Để tự cứu mình tôi buộc lòng phải lên án! Như nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có lần nói với tôi: "Phải tự cứu mình thôi, Thái ạ!".

Đi vào ngay việc cụ thể, tôi xin nói về chân dung thơ tôi! Như trong lá đơn gửi Hội nhà văn (do nhà thơ Bằng việt và anh Phạm Đức giới thiệu), tôi đã viết - Đến nay tôi đã cho xuất bản 3 tập

-    Có một khoảng trời, NXB Hà Nội 1990.
-   Người đàn bà trắng, NXB Thanh niên 1994.
Rung động trái tim, NXB Thanh niên 2009.

Tôi xin tập trung nói về "Rung động trái tim", là tập thơ tôi mới cho xuất bản trong năm 2009 vừa rồi. Vì trên giấy tờ, tôi nói thẳng ngay vào những ý chủ chốt - Còn tất cả những gì cần hỏi... khi các ông hay là Ban chấp hành HNV tổ chức: cần gì tôi sẽ giải thích, thích gì tôi sẽ chiều.


             1/- "Rung động trái tim" (RĐTT) là một tập thơ hay hiếm có:

     Độc đáo và thi phẩm có giá trị tầm vóc cao đối với thi ca hiện đại nói riêng, cũng như của nền thi ca trong nghìn năm văn hiến Thăng Long nói chung.


-  Về độ dày của tập thơ là 200 trang, số lượng bài thơ thì ngót 50 bài. Nghĩa là,  số lượng bài thơ đã xuất bản trong tập ấy cũng tương đương với số bài thơ (cũng gần 50 bài) của bà Hồ Xuân Hương (HXH) để lại cho đời. Sở dĩ tôi dẫn chứng cụ thể với HXH là để nói rằng: Về độ hay và tầm vóc trong chân dung tập thơ RĐTT của Phạm Ngọc Thái (PNT) - chưa dám nói là vượt lên trên chân dung thơ HXH, nhưng HXH cũng chưa dễ gì đã vượt qua nổi chân dung tập thơ của tôi! Mà HXH là ai,  thì các ông đã biết: Bà là một trong ba thi hào dân tộc! ( xem trong tuyển văn luận "Ba thi hào dân tộc" của Xuân Diệu - NXB Văn học) - Tại sao tôi dám nói như thế?

a/-   Tập thơ RĐTT của tôi cơ bản là thuộc loại thơ trường cửu

  Thơ tồn tại qua mọi thời đại. Số bài thơ đạt khá hay trở lên cũng nhiều.


Nhưng thế nào mới được gọi là thơ hay? Tôi đưa ra đây vài ví dụ cụ thể:  Trước hết đó phải là loại thơ của mọi thời đại như:  Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, Điếu thu của Nguyễn Khuyến, Hai sắc hoa ti-gôn của TTKH , Mùa xuân chín - Đây thôn Vĩ Dạ - Bẽn lẽ của Hàn Mặc Tử v.v... và như thế mới được gọi là thơ hay! Những từ "thơ hay" tôi dùng trong văn bản này đều phải có ý nghĩa và tầm vóc tương đương nhất định với những bài thơ danh giá, trường cửu đó. Theo con mắt thơ của tôi: trong những nhà thơ lớn thời tiền chiến, Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn nhất - Ông có 3 bài thực sự được gọi là thơ hay như tôi đã điểm trên. Huy Cận được một bài Tràng Giang (chưa thật hay bằng 3 bài thơ của HMT), mới vào loại khá hay và cũng chỉ một bài đó mà thôi...

Thế mà chỉ riêng trong tập thơ RĐTT : Số lượng bài thơ hay đã khoảng chục bài, nếu kể từ khá hay trở lên thì phải trên đôi chục bài - Nghĩa là, chỉ tính riêng những bài thơ hay trong tập  tôi đã vượt gấp 3 lần thơ hay của thi nhân HMT, là nhà thơ lớn nhất thời tiền chiến. Trong đó ít bài còn có giá trị của những kiệt tác, tôi đã đạt đỉnh thi sơn cao hơn ông!

Tập thơ RĐTT tôi đã cho xuất bản rồi, còn đó ! Những bài thơ đó sẽ còn tồn tại mãi với đời. Không thể phủ lấp, dập vùi được! Cứ càng đọc, càng đào xới lên... càng sâu sắc, càng hay. Cho nên có thể nói rằng: Tập thơ RĐTT là một thi phẩm có chân dung loại cao, chí ít cũng sánh với tầm vóc của chân dung thơ HXH.

b/ Tôi xin đặt giải và thách đố:

Nếu có ai đưa ra được một dẫn chứng cụ thể trong hàng nghìn, hàng vạn các tập thơ của các nhà thơ đương đại đã được xuất bản từ năm 1975 đến nay, kể cả các tập thơ đã từng được giải nhất của HNV, hoặc do có điều kiện tốt đẹp nào đó mà đã được nhận giải quốc tế (nhưng không được lấy đó làm căn cứ xác định) - Nếu có một tập thơ nào đạt giá trị hay và tầm vóc cao hơn tập thơ RĐTT  của tôi - Thì PNT xin biếu người đó 5 triệu! Tuy nhiên người ấy  phải có bình luận, phân tích trên báo chí rằng: Tập thơ đó cụ thể bao nhiêu bài thơ hay - là những bài nào? Về độ viên mãn và hoàn bích cụ thể của từng bài thơ như thế nào? Đó có phải là những bài thơ có khả năng đạt giá trị bất hủ, thơ của mọi thời đại không?
 
Dám nói là sẽ không thể có một tập thơ nào XB từ năm 1975 đến nay tầm vóc cao được như thế đâu!

Bởi lẽ, nếu có một nhà thơ nào đó sáng tác được một tập thơ hay và cao hơn tập RĐTT, tôi cam đoan chắc chắn người đó sẽ trở thành đại thi hào!... Và dám nói, kể cả kẻ có con mắt nhìn ra giá trị của tập thơ đó  phải là một thiên tài... có khả năng thẩm định thi ca ít nhất cũng cỡ Hoài Thanh - Người đã từng làm nên một Tuyển "Thi nhân Việt Nam" bất hủ, truyền đời.

   
  2/-   Tại sao lại nói: Phạm Ngọc Thái sẽ là nhà thơ vĩ đại nhất VN !?

    Nói "sẽ là" có nghĩa: rồi trước sau thời đại, cũng như lịch sử sẽ xác nhận như thế!

Với Tuyển Thơ Đại Bàng 500 bài mà tôi đã cho công bố toàn bộ (kể cả lời bình) trên mạng internet, qua Web. của Việt Nam Thư quán (vnthuquan.net - Trang Diễn đàn - Danh mục Tác giả người Việt).

Tôi cũng đã rút ra một số lớn gần 400 bài, đóng tuyển cẩn thận, gọi là: Quyển I - Tuyển thơ đại bàng! Để gửi biếu một số nhà thơ như: Ông Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa... GS. Mã Giáng Lân, đồng thời gửi biếu lưu ở Viện Văn học VN, Hội nhà văn VN, Khoa văn trường Đại học Nhân văn Quốc gia v.v...

   Tôi từng nói với Trần Đăng Khoa rằng, tôi thường lấy Nguyễn Du để so sánh với chân dung thơ của mình - Thực ra tôi tin, là tôi đã vượt qua Nguyễn Du rồi!...

Nguyễn Du vĩ đại thật, Người là thánh thơ thật ( với Kiều, thể thơ lục bát... còn tôi cũng như Chế Lan Viên, thuộc loại thơ tự do hiện đại) - Nhưng lịch sử thi ca không phải cứ đến Nguyễn Du là dừng lại? Nếu cứ cho rằng: Tôi đã vượt qua Nguyễn Du đi, thì "Hậu sinh khả úy"... điều đó cũng có gì là trái với tự nhiên đâu! Sở dĩ tôi dám nhận định như vậy,,, cứ biết thế đã, để rồi lịch sử sẽ phán xét. Nhưng có thể đưa ra vài nhận định được tóm tắt cơ bản như sau:


a/.  Ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở Kiều của Nguyễn Du

Chính nằm trong nỗi kiếp đoạn trường, theo thuyết bản mệnh của Kinh Phật - Đời sống, Thế giới có thiên mệnh! Con người có bản mệnh!

   
   Song, Vũ trụ và Cuộc sống có cả duy tâm lẫn duy vật. Nghĩa là, tuy duy vật chưa thắng và cũng không thắng được duy tâm!... Nhưng vẫn có  "nhân thắng thiên", như thế giới có cả vô thần cùng hữu thần. Tình yêu và cuộc sống, xã hội... luôn chứa chất tính triết học đa dạng và rất sinh động! Chính trong Tuyển thơ của tôi, nhất là trong các bài thơ hay đã chứa bọc được cả thế giới trong nó mà tạo thành vũ trụ thơ ca - Chứ nó không hạn hẹp ở một chủ thuyết cố định. Nghĩa là thi phẩm phản ảnh tất cả những gì của thế giới đã có với tình yêu và cuộc sống con người!
  
  b/.   Trong Tuyển thơ Đại Bàng 500 bài đó -

Số lượng các bài thơ hay và kiệt tác hàng chục, nhất là nếu tính từ các bài thơ sâu sắc, khá hay trở lên - Tôi đã đạt được đến mức độ khổng lồ hàng trăm. Cũng như tôi đã nói: Nó đã tạo nên tầm vóc của một vũ trụ thi ca! Lịch sử của nghìn năm văn hiến Thăng Long, chưa từng có một thi nhân nào đạt được nhiều thơ hay và kiệt tác như thế! Còn nghìn năm sau có hay không, thì tôi không biết?

"Kiều" của Nguyễn Du bất hủ thật, hay thật, vĩ đại lắm!...nhưng tác phẩm của Người chưa mang tính của một vũ trụ thi ca.


c/.   Về nghệ thuật :

Kiều của Nguyễn Du viết theo thể lục bát - Thơ Đường, dĩ nhiên đạt độ mẫu mực, hay tuyệt vời! Ông là một Đại thi hào.

Còn thơ tôi, thuộc loại thơ tự do hiện đại:  Một số lượng thơ không nhỏ, tôi đã  hòa quyện giữa sự  sâu sắc của dòng thơ cổ phương Đông - Với các trường phái thơ lãng mạn, tượng trưng và cả siêu thực... của thơ hiện đại thế giới - Làm nên rất nhiều các bài thơ hay và kiệt tác!

Hiện nay tập thơ Rung động trái tim do NXB Thanh niên 2009 ấn hành, tôi vẫn dành một số tập. Các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học, các nhà lý luận, phê bình, cũng như các Hội văn học tỉnh, thành trong nước - Nếu muốn tham khảo có thể liên hệ, gặp gỡ -  tác giả xin biếu tặng.


                                                                        Viết tại đất Thăng Long
                                                                              Ngày 15/1/2010
                                                                              NGƯỜI PHẢN BÁC
                                                        (Đã ký)





                                                   PHẠM NGỌC THÁI



*   Sao gửi đến ba Viện: Viện Văn học VN, Viện Ngôn ngữ học
     Quốc gia, và Viện Văn hóa dân gian- để biết.

*  Văn bản này sẽ được công bố rộng rãi trong Hội văn học
    và lưu lại cho lịch sử mai sau xem xét.



                          
< Sửa đổi bởi: Nhatho_PhamNgocThai -- 24.9.2010 0:09:15 >
***********************************************************************************
  ********************************************************************

                        Ai muốn đọc tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM
                                     rất hay của PNT

                                Nhấp chuột vào Link dưới đây:
                            http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=625782


                        


                
                                 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2011 10:56:21 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 15.02.2011 00:18:02
.



                         BẢN ÁN DƯỚI MỒ

                                                         
                                                                       KỊCH DÀI
                                                                  Phạm Ngọc Thái
                                                                           Kỳ II



                                                      MÀN HAI

                               Phòng làm việc của giám đốc Công ty.
                     Ông Lãm đang sốt ruột, đi đi lại lại... Minh Phương vào.

Ô.LÃM -    (hỏi ngay) Bà đã cho chúng nó thu gọn hết cái mớ hồ sơ ấy
 vào chưa?
MINH PHƯƠNG -    Gớm, ông làm cứ như là chớp ấy !
Ô.LÃM -    Bà cũng phải đôn đốc chúng nó thu vào cho nhanh. Cái

thằng Tuấn ấy, nó mà bới ra thì lại lắm chuyện?
MINH PHƯƠNG -    Cũng chỉ trong vòng sáng nay tất cả sẽ được niêm
 phong cẩn thận, ông cứ yên tâm.
Ô.LÃM -    Yên tâm cái khỉ gì? Tôi đã bao nhiêu lần nói với bà: Nếu có
                   làm ăn thì cũng chỉ nên một vừa hai phải, bà có chịu nghe
                    tôi đâu.
MINH PHƯƠNG -    Thì ai bảo tự nhiên ông lại đưa cái thằng Tuấn về

                       làm trợ lý?
Ô.LÃM -    Thì ai biết đâu nó lại...
MINH PHƯƠNG -    Đã kinh nghiệm với thằng trợ lý lần trước, đáng

                   lý ông phải...
Ô.LÃM -    (ngắt lời) Tôi sẽ không để cho nó làm trợ lý nữa !
MINH PHƯƠNG -    Thôi ! Tôi khuyên ông cũng đừng vội lại làm ầm ĩ

                      lên, chẳng khác nào mình tự đổ thêm dầu vào lửa.
Ô.LÃM -    Thế bà bảo tôi phải chịu nó à?
MINH PHƯƠNG -    Trước mắt ta cứ xoa cho cái vụ Rô-ten-bớc

                     này êm đi đã ! Rồi... sẽ đến lượt nó?...
Ô.LÃM -   Tuỳ bà, liệu mà làm cho khéo. Tôi... tôi phải lên trên Bộ !
                       ( nói rồi, ông xách chiếc cặp da đen ra khỏi phòng.
                                    Ông Bản bước vào )
MINH PHƯƠNG -    Ông ấy vừa lên trên Bộ rồi ! Nhưng cứ trông bộ

                        dạng của anh, cũng đoán biết lại đang có chuyện gì?
Ô.BẢN -    Thằng Tuấn vẫn nhất quyết đòi mượn hồ sơ vụ Rô-ten-
bớc !
MINH PHƯƠNG -    Anh Lãm đã ra chỉ thị cho niêm phong lại !
Ô.BẢN -    Không ổn ! Không ổn !...
MINH PHƯƠNG -    Thế ra nó muốn làm gì thì làm à? Mà nó là con

                 trai của anh, anh phải ngăn nó lại chứ?
Ô.BẢN -    Ngăn cũng không nổi, thật đến khổ !
                         ( Ông Bản định ra, thì Minh Phương ngăn lại )
MINH PHƯƠNG -    Thì anh cứ ở lại đã, đi đâu phải vội !
Ô.BẢN -    Cô bảo ở lại làm gì? Còn làm được cái gì nữa?
MINH PHƯƠNG -    Ở lại với tôi ! Tôi sẽ giúp anh dịu lại...
Ô.BẢN -    Ồi !.... (định đi )
MINH PHƯƠNG -    (ngăn lại) Thì anh khoan một tý không được à?

                  Anh cứ lại gần đây !... Đứng sát nữa vào, sát nữa vào... Tôi
                cắn  anh hay sao mà?...
Ô.BẢN -    Nhưng cô muốn gì mới được cơ chứ?
MINH PHƯƠNG -    Bây giờ thì tôi mệt rồi ! Tôi chán ngấy tất cả rồi,

                tôi chán cả anh ! Thôi anh đi đi !
Ô.BẢN -    Ơ, ơ... Tự nhiên cô... Cô toàn sinh sự?
MINH PHƯƠNG -    Tôi sinh sự vì sao anh biết không? 
Ô.BẢN -    Tôi... tôi làm sao mà biết được?
MINH PHƯƠNG -    Bởi vì tôi không còn cái gì để mà sống cả !... Tôi

                    không còn cái gì để mà vui sướng cả !... Tôi không còn cái
                    gì để mà yêu cả !...
Ô.BẢN -    Thế là thế nào? Cô thì còn thiếu cái gì?...
MINH PHƯƠNG -    Chính vì thừa thãi quá, nên mới muốn tìm một cái

                       gì đó để mà sống cũng khó? Mà cuộc sống đã không còn
                     cái gì để cho mình yêu thích, thì có khác nào như chết!
Ô.BẢN -    Tôi chẳng hiểu ra làm sao cả? Cuộc sống của cô đầy đủ đến
                   thế, mà lại không còn cái gì để mà yêu thích? Tôi thấy lạ !...
MINH PHƯƠNG -    (trở nên mơ mộng) Có ! Cũng có đấy !... Dù nó chỉ

                      là một chút mỏng manh, một chút trong hy vọng... Nhưng
                     nó chính là cái đốm sáng duy nhất sót lại,  còn cháy leo lét
                      trong cuộc sống của tôi !
Ô.BẢN -    Tôi vẫn không thể nào hiểu được, cái đốm sáng quái quỉ ở

                    trong cô là cái gì?
MINH PHƯƠNG -    (mạnh mẽ) Là tình thương của tôi với anh?

Ô.BẢN -    Cô, cô điên rồi !
MINH PHƯƠNG -    Phải, tôi điên ! Tôi điên cũng vì anh !...
Ô.BẢN -    Cô này hay nhỉ?
MINH PHƯƠNG -    Chỉ có anh mới là niềm yêu thích của tôi ! Cái đốm

                       sáng leo lét của tôi ! Còn tất cả đối với tôi chán ngắt... (sôi
                        nổi) Anh Bản, anh hãy ôm lấy tôi đi ! Anh hãy vuốt ve tôi
                        ! Anh hãy...
Ô.BẢN -    Thôi, tôi xin cô ! Tôi xin cô !
MINH PHƯƠNG -    Anh hãy tận hưởng đi, Đừng để lỡ ! Anh sẽ thấy

                     cái đời đàn ông của anh đáng sống hơn ! Như thế... như
                      thế...
Ô.BẢN -    Ôi, không ! Cô Minh Phương, đừng nên làm như thế !...
MINH PHƯƠNG -    À, ra thế ! Thế thì anh chưa khôn ngoan bằng

                     thằng con anh? Thằng thứ hai ấy !
Ô.BẢN -    Tôi, tôi chịu không thể nào hiểu được cô?
(ông định bỏ đi )
MINH PHƯƠNG -    Thôi anh đi đi, rồi cố mà hiểu?
Ô.BẢN -    Cô loạn thần kinh rồi !
                                        
(ông Bản bỏ ra )
MINH PHƯƠNG -    Thế mà cũng gọi là đàn ông?
                                  
( Tài từ ngoài bước vào )
TÀI-  Tất cả hồ sơ về vụ Rô-ten-bớc, tôi đã cho thu gọn, cất vào trong tủ

                     khoá lại cẩn thận rồi !
MINH PHƯƠNG -    Thế là nó hết đường tìm tòi, bới móc ! Có phải thế

                    không anh Tài?
TÀI -    Mợ nói đúng !
MINH PHƯƠNG -    Ở đây tôi là trưởng phòng Kế toán Tài vụ , chứ

                    không phải là "mợ" !
TÀI -    Còn tôi là trưởng phòng nghiệp vụ ! Mợ bỏ quá, tôi cứ hay quen

                      mồm.
MINH PHƯƠNG -    Lại gọi là mợ rồi? Thôi, nói vào công việc đi. Này,

                    thế ngộ nhỡ thằng Tuấn nó không chịu dừng lại ! Nó cứ tìm
                     cách này, cách khác để bới ra... thì ta làm thế nào?
TÀI -    Thì ông trợ lý buộc phải chấp nhận một bài học...
MINH PHƯƠNG -    Như bài học với thằng trợ lý trước, hả? Ôi, chàng

                  trai tuyệt vời của tôi !
TÀI -    Ý của mợ là ý trời !... Đấy , tôi lại quên.
MINH PHƯƠNG -    Cậu vẫn để ý lão Mai Lâm đấy chứ ! Xem lão ta có

                      biểu hiện gì khác không? Hàng hoá lão đã chuyển hết rồi,
                      mà sao lão vẫn chưa chịu về Sàigòn?
TÀI -    Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy lão lởn vởn qua đây !... Mà hình như

                     lão Mai Lâm này với ông anh trai tôi, đang có một mối
                    quan hệ gì đó?...
MINH PHƯƠNG -   Thế thì cậu lại càng phải cần luôn luôn theo sát !
TÀI -    Nhất định tôi sẽ làm cho rõ.
MINH PHƯƠNG -    Không cẩn thận lão lại trở thành chiếc đòn càn hai

                        đầu ?
TÀI -    Nếu đúng như thế thì, cả với lão già này ta cũng không tha !
MINH PHƯƠNG -  Mới chỉ là đoán già, đoán non. Chưa biết đích

                    thực thì đừng vội làm ầm ĩ.
                                            (Tuấn bước vào phòng)        
MINH PHƯƠNG -    (với Tuấn ) Chắc là anh muốn gặp ông giám đốc ?

                   Nhưng ông giám đốc lại vừa đi lên Bộ.       
TUẤN -
    (ngần ngừ) Thôi để lát nữa tôi lên cũng được. (định đi)       
MINH PHƯƠNG -  (dò hỏi) Thế, anh cần gặp ông giám đốc có việc gì ?  
TUẤN -    À... tôi chỉ muốn mượn lại tập hồ sơ về vụ Rô-ten-bớc ?
       
MINH PHƯƠNG -    Để anh làm gì?
       

TÀI -    (nói xen vào) Tất cả vụ việc đã được giải quyết trọn vẹn. Coi như
                  đã kết thúc !        
TUẤN -  Anh chỉ muốn xem lại?
       
TÀI -
    (lạnh lùng) Tốt nhất là anh không nên xọc vào những công việc

                 không phải là phận sự của anh ?        
TUẤN -    Là một trưởng phòng nghiệp vụ , chắc chú cũng biết...
       
TÀI -    Anh không phải dậy khôn tôi ! Từ khi anh về công ty nhận cái

               chức trợ lý giám đốc, anh cứ làm rối tung cả lên... không ra
                 làm sao cả.        
TUẤN -    Nhưng kết luận để rồi qui kết về một vụ tổn thất hàng hoá
                 như thế là chưa rõ ràng ?        
TÀI -    Anh căn cứ vào đâu ?
TUẤN -    Tất nhiên là phải có ! Và cũng chính vì thế, tôi mới muốn xem
                 lại hồ sơ ?        
TÀI -    Nhưng những hồ sơ đó không phải thuộc phận sự của anh ?
       
TUẤN -    Tôi là một trợ lý giám đốc, tôi cần biết, dù mọi việc có xẩy ra

                   trước khi tôi về ? Hơn nữa, nếu tất cả đã rõ ràng minh bạch
                    thì cần gì phải dấu ?        
TÀI -    Không phải là dấu ! Mà đó là nguyên tắc bảo quản hồ sơ.
       
MINH PHƯƠNG -
    (làm bộ dàn hoà) Thôi !... Anh em có gì thì bảo

                      nhau, việc gì mà to tiếng? Người ngoài người ta lại cười.
                      (với Tuấn) Anh cứ về phòng tiếp tục làm việc của anh đi, để
                       tôi báo cáo lại với giám đốc,xem ý kiến của ông ấy ra sao?
TUẤN -    Thôi được. Đợi ông giám đốc về, tôi sẽ gặp.
                                         
                 
( Tuấn bực bội bước ra khỏi phòng )        

TÀI -    Mợ định cho anh ta mượn hồ sơ xem à ?        
MINH PHƯƠNG -    Ta không tự tay mở cửa để cho kẻ cướp vào nhà !

                      Nhưng căng với nó lúc này chưa có lợi...        
TÀI -    Xem chừng, anh ta không chịu để yên đâu ?
       
MINH PHƯƠNG -    Có lẽ cũng phải tìm cách ?
       
TÀI -    Mợ định dùng cách gì ?
(chợt hiểu) Hay là vẫn cái cách... như

                      với thằng trợ lý trước ?        
 MINH PHƯƠNG -    Thì cũng là bất đắc dĩ.        
TÀI -    Phải, thì cũng là bất đắc dĩ !...
(phá lên cười) Đúng là bất đắc dĩ,

                     là tại anh ta tự chuốc vạ vào thân thôi. Thưa đồng chí
                      trưởng phòng kế toán tài vụ, tôi hoàn toàn ăn ý với đồng
                     chí !            ( nói rồi Tài khoái chí bước ra khỏi phòng )      
MINH PHƯƠNG - (còn lại một mình ) Trời đất, sao tôi lại cứ phải dấn

                    thân mãi vào cái trò này ? (bỗng trở nên đanh ác) Nhưng
                     cũng là vì tại nó, tại nó cả. Nó dại thì cho nó chết !...  




                                                     MÀN  BA
 
                  Sáng sớm. Nhà khách của Công ty, bên cạnh là phòng
              thường trực nhỏ, gần cửa ra vào. Đi qua phòng thường trực
              có lối vào các phòng ban. Bác Khoát thường trực đang ngồi
               ở đó.
                    Tuấn, tay cầm chiếc túi da đựng tài liệu bước vào.
 

TUẤN -    Chào bác Khoát !
BÁC KHOÁT -    Chào anh Tuấn ! Hôm nay anh Tuấn đến làm
  việc sớm thế ?
TUẤN -    Có ít công việc cần phải giải quyết , bác ạ !
B.KHOÁT -    Thời buổi này mà còn có những người  vẫn tận
               tâm, tận lực như anh Tuấn, cũng hiếm đấy
TUẤN -    Cũng chỉ là do yêu cầu thôi, mà bác.
 B.KHOÁT -    (thở dài) Cứ nhìn anh tôi lại nhớ tới anh Trương. Anh ấy
                     cũng làm trợ lý cho ông giám  đốc trước lúc anh Tuấn chưa
 về đây.  Tuy có nhiều tuổi hơn anh, nhưng anh Trương cũng
 hoạt bát, năng  nổ lắm.
TUẤN -    Nghe nói, anh Trương phải về mất sức ?
B.KHOÁT -    Tuổi thì cũng chưa đến năm mươi. Đang khoẻ như vâm bỗng
                 nhiên sút hẳn, thế là… anh ấy phải bỏ dở công tác mà về.
 TUẤN -    Tôi cũng có nghe lời ra tiếng vào về việc phải về mất sức của
                  anh trợ lý ? Bác có biết…
B.KHOÁT -    (lắc đầu) Cũng nhiều người tò mò muốn hỏi, nhưng anh ấy
                  nhất định không nói. Kể cũng lạ, con người đang sôi nổi vui vẻ
                   như thế, bỗng nhiên…
TUẤN -    Chắc phải có điều gì uẩn khúc ?
B.KHOÁT -    Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp anh ấy cứ lang thang, vơ vẩn như
                   người mất trí.
TUẤN -    Lúc nào tôi cũng muốn gặp anh ấy chuyện trò, hỏi han xem  sự
                 thể thế nào ? Thôi, tôi vào làm việc bác nhé !
                       ( nói rồi, Tuấn chào bác thường trực đi vào phía trong.
                                             Lát sau, Mai Lâm từ cổng đi tới )
 MAI LÂM -    (với bác Khoát ) Chào bác thường trực !
B.KHOÁT -    Chào ông Mai Lâm ! Tôi lại cứ nghĩ ông đã chuyển hết hàng
                   rồi ?
MAI LÂM -    Cám ơn bác, cũng xong rồi ạ.
BÁC KHOÁT -    Chắc ông  chuẩn bị ký tiếp một hợp đồng mua bán khác ?
MAI LÂM -    Ồ không ! Tôi đến chỉ là muốn gặp anh trợ lý. Cũng có một
                   chút việc, không biết anh ấy...
B.KHOÁT -    Anh ấy cũng vừa vào trong phòng làm việc. Ông cứ ra ngồi
                    chờ ở phòng khách, tôi sẽ gọi điện thoại.
MAI LÂM -    (ngần ngừ) Nhưng thôi , thôi bác ạ ! Tôi đi đằng này một chút,
                    rồi tôi sẽ quay trở lại.
                        ( Mai Lâm định đi… Có tiếng hon-đa dừng trước cổng, Tài
                                                               bước vào )
TÀI -    Chào ông Mai Lâm !
MAI LÂM -    Chào anh Tài !
TÀI -    Tôi biết là thế nào cũng sẽ gặp ông ở đây !
MAI LÂM -    Sao anh lại nghĩ như thế ?
TÀI -    Chính tôi cần hỏi ông điều đó? Mời ông vào phòng khách !
                                            ( hai người tiến vào phòng khách )
TÀI -    (tiếp) Trong thời gian gần đây, tôi để ý… không mấy ngày  là ông
               không có mặt ở cái công ty  này ?
MAI LÂM -    Những ngày trước như anh biết: Tôi đến để vận chuyển cho
                hết số hàng.
TÀI -    Thế còn những ngày vừa qua, khi ông đã thu dọn đến kiện hàng
             cuối cùng ?
MAI LÂM -    Tất nhiên là tôi cũng có lý do.
TÀI -     Lý do của ông ?...
MAI LÂM -    Một lý do hết sức tế nhị ! Mà cũng chỉ là câu chuyện riêng tư…
TÀI -    Câu chuyện riêng tư của ông mà lại có quan hệ với ông anh của tôi
             ? Tức là anh trợ lý mà ông  muốn gặp đấy !
MAI LÂM -    Một mối quan hệ hoàn toàn đứng đắn.
TÀI -    Nghĩa là… cuộc gặp gỡ giữa hai người, không có quan hệ gì với
                  lô hàng ông đã mua vừa rồi ?
MAI LÂM -    Vâng, đúng như vậy !
TÀI -    Chẳng lẽ anh tôi với ông lại có quen biết nhau từ trước ?
MAI LÂM -    Ồ không, hoàn toàn không !
TÀI -    Vậy, ông tìm gặp anh trai tôi…
MAI LÂM -    Tôi đã nói rồi, đó là một lý do hết sức tế nhị.
TÀI -    Hừ, câu chuyện của ông cứ vòng vèo, lẩn quẩn. Nhưng nhất định là
                    phải có một cớ chứ ? Ông hãy cho tôi biết: Anh trợ lý cần gặp
                   ông để làm gì ? Anh ấy yêu cầu ông cái gì ?
MAI LÂM -    Anh Tuấn không có yêu cầu gì ở tôi cả ! Thậm chí, anh ta còn
                  không muốn gặp tôi.
TÀI -    Ông đừng đùa rỡn tôi như cái trò ú tim của trẻ con ? Ông cần nhớ
                  rằng: trước khi giám đốc của công ty chúng tôi đặt bút ký hợp
                 đồng  bán cho ông…
MAI LÂM -    Thì tôi đã cùng với anh và bà Minh Phương cam kết…
TÀI -    Những điều kiện không có trong hợp đồng !
MAI LÂM -    Tôi vẫn nhớ !
TÀI -    Thế mà ông…
MAI LÂM -    Tôi đã từng tham gia nhiều hợp đồng mua bán, những lô hàng
                  còn lớn hơn, rich rắc hơn và chưa từng để cho ai chê trách ?
TÀI -    Thôi được ! Tôi cũng chẳng muốn quan tâm tới cái mối quan hệ
             tế nhị của ông với người anh trai tôi. Nhưng tôi vẫn muốn nhắc
              nhở để ông biết: Một khi ông vi phạm những điều mà ông đã
              cam kết, thì ông...
MAI LÂM -    Tôi sẽ phải đón nhận những hậu quả không tốt chứ gì?
TÀI -    Tuỳ ông hiểu, kể cả luật rừng. Chào ông !
                      ( nói rồi Tài bỏ vào trong công ty )
MAI LÂM -    (cười mỉa) Kể cả luật rừng? Thằng khốn, ba cái tuổi ranh.
               Tao thách chúng mày có thể làm gì được với lão Mai Lâm này !
                  (bỗng lo lắng ) Nhưng còn thằng Tuấn ! Còn thằng Tuấn !...
               Có thể chúng nó sẽ hại nó? ( kiên quyết ) Ta phải tìm cách mà
                   cứu nó.
               ( Ông Mai Lâm định đi. Một cô gái trông khá tài tử, từ ngoài cổng
                    bước vào phòng thường trực - Đó là Trâm )
TRÂM -    (với bác thường trực tạt vào phía trong vừa ra) Cháu chào bác
                thường trực !
B.KHOÁT -    Chào cô !
TRÂM -    Cháu xin được gặp anh trợ lý giám đốc ! Hôm nay anh ấy có
                  đến làm việc không ạ?
B.KHOÁT -    Tất nhiên là có ! Anh ấy còn đến từ rất sớm.
TRÂM -    Thế thì may quá !
B.KHOÁT -    Cô là....
TRÂM -    Dạ, cháu là bạn gái của anh ấy ạ !
B.KHOÁT -    Tôi hiểu rồi. Anh trợ lý của chúng tôi thì có nhiều bạn
                 lắm !
TRÂM -    (ý nhị) Mà... toàn là những bạn gái phải không bác?
B.KHOÁT - (vô tình ) Tất nhiên !... À không, bạn cánh nam giới thì
                  nhiều hơn. Bạn gái cũng có, vừa vừa thôi. Mà tên cô là gì nhỉ?
TRÂM -    Cháu tên là "Trâm" ! Cháu có thể vào được chứ bác?
B.KHOÁT -    Được chứ ! Nếu đã là bạn, nhất lại là bạn gái của đồng
                 chí trợ lý chúng tôi, thì không thể là người xấu. Cô cứ để lại
                 chứng minh thư.
TRÂM -    Không sao ạ.  ( Trâm đưa giấy )
B.KHOÁT -    Thủ tục mà cô. (chỉ cho Trâm) Giờ thì cô đi thẳng lối này,
                 đến cái chỗ khu nhà hai tầng kia kìa... thì cô rẽ phải, qua 5
                  nhà nữa, đúng là phải 5 nhà nữa... tới ngôi nhà thứ 6, cô sẽ
                   nhìn thấy một tấm biển có đề: " Phòng trợ lý " ! Thì đấy,
                  anh trợ lý làm việc ở trong phòng trợ lý.
                    ( Trâm cám ơn bác thường trực rồi định đi vào, Mai Lâm từ nhà
                      khách tiến lại )
MAI LÂM -    Chào cô Trâm !
TRÂM -    Chào ông Mai Lâm ! Không ngờ lại được gặp ông ở đây?
MAI LÂM -    Với một nhà kinh doanh như tôi: Cứ chỗ nào có hàng là
                    tới !
B.KHOÁT -    Thì ra Ông và cô đây đã có quen biết nhau?
MAI LÂM -    Trong một cuộc kinh doanh, tôi cũng đã có hân hạnh
                  được gặp gỡ cô Trâm đây ! Ba của cô ấy là chủ của một siêu
                     thị lớn ở thành phố Sàigòn đấy, ông ạ !
B.KHOÁT -    Ra thế ! Thảo nào, trông cô ấy cứ như là diễn viên.
TRÂM -    (với Mai Lâm) Thế lần này ra đây, ông đã mua được hàng
                 chưa?
MAI LÂM -    À về hàng hoá thì mọi việc tôi đã giải quyết xong xuôi cả
                  rồi... Tôi cứ nhớ mãi, lần ấy làm việc với cô và ba của cô, là kỉ
                   niệm đẹp trong đời một thương nhân như tôi. Nhưng không
                   phải chỉ vì cô đẹp !
TRÂM -    Có lẽ tôi còn quá non nớt trong công việc kinh doanh?
MAI LÂM -    Về kinh nghiệm thì cô còn phải học nhiều, nhưng học
                  thức và sự nhậy bén trong công việc của cô đã thu phục tôi.
TRÂM -    Ông đã quá khen !
                                ( lúc này bác thường trực đã đi ra chỗ khác )
MAI LÂM -    Lúc nẫy cô Trâm có nói tới mối quan hệ của cô và anh
                   Tuấn?
TRÂM -   Chẳng lẽ mối quan hệ đó cũng làm ông quan tâm?
MAI LÂM -    Có một lần, vào một buổi chiều: Khi đó tâm trạng cô
                     không vui, đúng là lúc đó cô không vui... Cô mới thổ lộ một
                    chút tâm tình với tôi, như với một người già. Cô kể cho tôi
                     nghe về mối tình của cô từ thời còn sinh viên...
TRÂM -    Vâng. Chính là anh ấy, ông ạ ! Nhưng đó chỉ là quá khứ.
MAI LÂM -   Taị sao lại không phải là hiện tại... và cả tương lai? Cô
                   rất đẹp !...
TRÂM -    Tôi không thể rời bỏ thành phố Hồ Chí Minh để ra đây !
                      Anh ấy cũng không chịu rời Hà Nội !
MAI LÂM -    Nghĩa là, hai người vẫn yêu nhau ! Nhưng không ai chịu
                    rời bỏ nơi ở với thành phố của mình, để đến với người kia?
                    Nhưng gái theo chồng mà cô?...
TRÂM -    Cả một cơ nghiệp lớn mà ba tôi dành lại cho tôi đều ở
                    trong đó, với bao nhiêu ước vọng về cuộc sống của đời tôi?...
                   Và đó cũng là cả của anh ấy nữa chứ?
MAI LÂM -    (ngẫm nghĩ) Cũng có thể tôi sẽ giúp được cô.
TRÂM -    (ngạc nhiên) Cũng có thể ông sẽ giúp được tôi? (cười) Ông
                      không giúp được tôi đâu, ông Mai Lâm ạ. Anh ấy kiên
                    quyết lắm !
MAI LÂM -    Vâng. Tôi cũng chỉ mới nói là có thể? Giờ thì tôi phải xin
                   phép cô...
                    ( Mai Lâm ra cổng, Trâm vào trong Công ty. Lát sau,
                                        Tuyết từ cổng đi vào phòng thường trực )
TUYẾT -    (vào) Chào bác !
B.KHOÁT -    Chào cháu ! Hôm nay cháu Tuyết của bác rỗi nhỉ?
TUYẾT -    Thì cháu vẫn nghỉ hè mà bác.
B.KHOÁT -    Cả ba và mẹ cháu hôm nay chưa thấy đến cơ quan?
TUYẾT -    Dạ, cháu... cháu chỉ muốn gặp anh Tuấn thôi ạ !
B.KHOÁT -    (cười) Từ sáng đến giờ, ai đến cũng chỉ muốn gặp anh
                    Tuấn ! Với cháu Tuyết thì có thể vào không cần trình giấy.
TUYẾT -    Nhưng cháu chờ ở nhà khách này này. Bác gọi điện thoại
                      cho anh ấy giúp cháu, cháu chỉ gặp anh ấy một tí thôi !
B.KHOÁT -    Được, bác sẽ gọi. Nhưng chỉ gặp một tí thôi đấy nhé !
                             ( Bác Khoát gọi điện thoại, nhưng không có tiếng trả lời )
B.KHOÁT -    Không có trong phòng trợ lý. Có lẽ anh ấy đã xuống các
                     phòng ban rồi, cháu ạ !
TUYẾT -    Để cháu vào tìm vậy.
                                 ( Tuyết định vào, thì Tài ở trong Công ty đi ra )
TÀI -    Chào cô Tuyết. Bộ quần áo của cô hôm nay rất đẹp.
TUYẾT -    Anh khen tôi thì khen suốt đời.
TÀI -    Tôi khen, là tôi khen bộ quần áo của cô !
TUYẾT -    Thế tôi không đẹp à?
TÀI -    Tất nhiên. Bẩm sinh, bẩm sinh ra cô đã đẹp rồi ! (thay giọng) À,
                   mà tôi cũng đang muốn nói chuyện với cô.
TUYẾT -    Chuyện của anh Tài buồn hay vui?
TÀI -    Ta cứ vào phòng khách đã.
                                   ( họ vào phòng khách )
TÀI -    (tiếp) Tôi nói thế này... chỉ vì tôi quí cô ! Tôi thương cô ! Tôi
                  trân trọng cô ! Tôi, tôi nghĩ tới hạnh phúc của cô ! Tôi... tôi
                   muốn quan hệ của cô với anh tôi hoàn toàn tốt đẹp !
TUYẾT -    Anh Tài vào đề hay đấy, nhưng hơi dài dòng?
TÀI -    Xin cô chớ hiểu lầm.
TUYẾT -    Anh cứ nói.
TÀI -    Tôi cảm thấy ba cô và cả mẹ cô, ông bà có ý không bằng lòng về
                ông anh tôi !?
TUYẾT -    Anh chỉ mới cảm thấy thôi à?
TÀI -    Nếu như vậy thì tôi cũng lấy làm rất buồn.
TUYẾT -    Có gì thì anh cứ nói ra đi, không cần phải vòng vo?
TÀI -    Tôi sẽ vào ngay chuyện. Chỉ vì, ông anh tôi đã về hùa với một số
                  người, làm một số việc chưa hay... gây tổn hại tới ba cô?
TUYẾT -    Không, tôi tin là anh Tuấn sẽ không làm những điều xấu !
TÀI -    Nhưng những việc làm thiếu suy nghĩ chín chắn của anh tôi, để
                   cho những kẻ xấu lợi dụng... thì nó cũng đồng nghĩa !... Cô
                    có thương ba và mẹ của cô không?
TUYẾT -    Anh Tài nói hay nhỉ, tôi không thương ba và mẹ tôi thì tôi
                   thương ai?  Nếu anh cứ nói theo cái kiểu ấy, thì tôi không
                     thèm nói chuyện với anh nữa.
                                                ( Tuyết định đi...)
TÀI -    (ngăn lại) Ấy, cô Tuyết đừng phật lòng ! Tôi chỉ muốn báo cho
                    cô biết một điều, mà đáng lý tôi không muốn nói... rằng, ba
                    cô đang gặp nạn?
TUYẾT -    (giật mình) Ba tôi đang gặp nạn? Nhưng là nạn gì vậy, anh
                    đã làm cho tôi phát hoảng !
TÀI -    Ba cô có mắc sai lầm.
TUYẾT -    Nhưng đó là sai lầm gì mới được cơ chứ? Liệu có nặng lắm
                  không?
TÀI -    Thuộc về trách nhiệm chỉ đạo của giám đốc, nhưng chỉ do ông
                    ấy sơ ý?
TUYẾT -    Anh nói vậy nghĩa là sao?
TÀI -    Ý đồ của ba cô cũng không phải là xấu.
TUYẾT -    (cười) Thế thì có gì mà đáng sợ.  Nếu ý đồ của ba tôi không
                 xấu, mà chỉ do sơ ý? Ai chả có lúc...
TÀI -    Nhưng những kẻ xấu chúng chỉ chờ có dịp ấy. Ghen ăn tức ở mà
                 cô ! Chúng sẽ tìm cách moi móc đủ thứ chuyện... từ trước đến
                   nay để qui tội cho ông ! Mà làm lãnh đạo nếu bới ra thì lắm
                   chuyện lắm, cô không thể biết được đâu. Ông khó mà qua
                    khỏi, có khi bị truy tố pháp luật nữa là khác !
TUYẾT -   Chết,  có khi bị truy tố cả pháp luật cơ à? Nhưng đó là
                     những chuyện gì vậy?
TÀI -    Nó thuộc về công việc, cô cũng chỉ nên biết đến thế !
TUYẾT -    Liệu có nghiêm trọng đến thế không? Nhưng... anh nói với
                    tôi như vậy, là có ý...
TÀI -    Bởi vì, ba cô gặp sự lành hay dữ tuỳ thuộc vào anh trợ lý
                    Tuấn?... Người mà cô đang yêu và cũng được yêu lại.
TUYẾT -    Có nghĩa là tôi cần phải...
TÀI -    Ngăn những hành động thái quá của ông người yêu của cô lại !
                     Điều cốt yếu là ông ấy đừng có tìm cách bới móc những
                     chuyện đã qua? Chỉ tổ để cho kẻ xấu lợi dụng.
TUYẾT -    (hoang mang) Nhưng nếu anh ấy không nghe?
TÀI -    (vẻ đe doạ) Thì buộc lòng: Tôi, mẹ cô và cả ba cô nữa, sẽ phải
                  tìm cách dìm ông trợ lý xuống... đất !
TUYẾT -    Nhưng anh ấy là anh trai của anh cơ mà?
TÀI -    Vì quyền lợi chung tôi cũng không thể làm khác !
TUYẾT -    Anh nói thế là...
TÀI -    Suốt đời anh ta sẽ không thể ngóc đầu lên được đâu !...
TUYẾT -    Thật là khủng khiếp ! Sao chuyện lại có thể to tát đến thế?
TÀI -    Cô giúp được ba cô, tức là cô cũng cứu được cả người yêu !
TUYẾT -    Đựơc. Tôi sẽ nói để cho anh ấy hiểu !
TÀI -    Cô chỉ nên lựa lời mà nói. Cô tha lỗi, nếu tôi đã làm cho cô phải
                   lo lắng?
TUYẾT -    Cũng có thể tôi sẽ làm được điều gì đó cần thiết.
TÀI -    Tất cả tuỳ thuộc vào sự khéo léo của cô. Chào cô !
                                    ( Nói xong Tài bỏ ra cổng, nổ máy hon đa phóng đi )
B.KHOÁT -    (nhìn theo) Cái thằng, cấm bao giờ mở miệng chào hỏi ai.
                       ( Tuyết ra chào bác Khoát rồi chạy nhanh vào trong công ty.
                                     Lát sau, Tuấn và Tuyết cùng trở lại phòng khách )
TUYẾT -    Anh hãy hứa với em là anh sẽ không tìm tòi xem xét gì hết !
                    Anh hứa như thế nhé?
TUẤN -    Nhưng anh không hiểu vì sao, ai đã nói những gì mà làm cho
                    em hoảng lên như thế?
TUYẾT -    Nhưng anh làm thế để làm gì? Để hại ba em ư?
TUẤN -    Ai đã nói với em như vậy?
TUYẾT -   Em chỉ nghe người ta nói như vậy ! Em sợ...
TUẤN -    Chắc phải có kẻ nào xiên xỏ? (im lặng) Em cũng hiểu là, anh
                   chỉ muốn...
TUYẾT -    Những kẻ xấu có thể lợi dụng việc anh làm ! Ai mà chả
                   có đôi lúc sai lầm.
TUẤN -    Bỗng dưng em lại bổ nháo, bổ nhào vào những việc...
                     mà đáng lý em không cần biết?
TUYẾT -    Em lo cho ba ! Em lo cho cả anh !
TUẤN -    Người ta có đôi mắt, không phải để rồi cứ phải sống như một
                     thằng đui.
TUYẾT -    Anh làm gì thì cứ làm, nếu anh cho là đúng ! Nhưng đừng
                      làm tổn hại cho ba.
TUẤN -    Cuộc sống thật là lắm mâu thuẫn?
TUYẾT -    Em chỉ biết: Là anh hứa sẽ không làm gì tổn hại cho ba
                   em đấy?
TUẤN -    Anh không có ác ý gì với ba em ! Nhưng em cũng cần hiểu...
TUYẾT -    Em hiểu: nghĩa là anh đã đồng ý như thế với em rồi đấy
                    nhé?  Em về đây.
                    ( Tuyết ra đến cửa còn quay lại nói ) Anh nhớ là anh đã hứa !
                                      ( Tuyết ra hẳn. Tuấn đi về phía bác thường trực )
B.KHOÁT -    Những người muốn biết nhiều, thường khó có thể mà
                    sống được yên !
TUẤN -    Sáng nay bác có kể cho tôi nghe đôi nét về chuyện của anh
                     Trương !... Bác có biết nhà anh ấy ở đâu không bác?
B.KHOÁT -    Biết chứ ! Cũng đôi lần tôi đã tới nhà anh ấy.
TUẤN -    ( đưa cuốn sổ nhỏ) Bác ghi dùm địa chỉ.
B.KHOÁT -    ( viết) Có khi anh hỏi, may ra anh ấy nói đấy.
TUẤN -    Cũng nên đến thăm người ta một chút , bác ạ !
B.KHOÁT -    Nên quá ấy chứ, anh ấy là một con người tử tế !
                              ( Lúc này Trâm từ trong đi ra )
TRÂM -    (với Tuấn) Em đã phải đi khắp các phòng ban của Công ty để
                    tìm anh?
TUẤN -    Ồ, Trâm ! Em cứ như là tiên ở trên trời rơi xuống. Em ra Hà
                      Nội đột ngột như thế này, chắc lại có chuyện gì?
TRÂM -    Thế, anh cho là anh và em không còn liên quan gì hết?
                      Không quan hệ gì hết à?
TUẤN -    (lúng túng) Anh... anh không có ý như thế ! Ta sang phòng
                   khách nói chuyện cho tiện.
                                          ( họ sang phòng khách )
TRÂM -    Sáng nay khi đi tìm anh, em có gặp một cô gái ! Có người đã
                   chỉ cho em...
TUẤN -    À... Chắc là cô Tuyết !
TRÂM -    Em không quan tâm tới cái tên, mà chỉ muốn biết...
TUẤN -    Những điều em muốn biết thì em đã biết rồi !...
TRÂM -    À ra thế? Cô ta trông cũng sạch sẽ, dĩ nhiên là rất trẻ ! Lép-
                   tôn-xtôi có nói một câu, ý là: Đàn bà không có chân lý !... Em
                    lại muốn hỏi anh về chân lý của đàn ông?
TUẤN -    Điều đơn giản là: Tình yêu rất dễ mắc lỗi lầm... và trái tim
                   luôn luôn bị trừng phạt !
TRÂM -    Anh trả lời đến tức ! Em chỉ muốn biết là: anh có yêu cô
                    ta không?...
TUẤN -    Có ai đó đã viết hai câu thơ:
                             Tình yêu thì quá mênh mông
                             Nên tôi chẳng biết mình dừng ở đâu?
TRÂM -    ( cáu. Túm ngực Tuấn lay ) Thế này thì em hết chịu nổi với
                     anh rồi ! Ôi, những kỷ niệm. Những kỷ niệm thật xót xa?
                                        ( Trâm xúc động mạnh. Tuấn đỡ Trâm )
TUẤN -    Trâm ! Em bình tĩnh lại nào?
TRÂM -    Bao năm tháng đời sinh viên gặp anh ở nước
                 ngoài. Ôi, những kỷ niệm tình yêu của chúng ta đã thơ mộng
                    và đẹp biết bao ! Thế mà bây giờ anh quên hết cả rồi ! Anh
                   quên hết cả rồi !...
TUẤN -    Thực tế là thực tế. Chúng ta không phải là Chức Nữ với
                   Ngưu Lang: Hai đứa sống ở hai phương trời, hàng năm đến
                   thăm nhau một lần.
TRÂM -     Nhưng chưa đầy hai năm, em đã ra Hà Nội tới ba lần để tìm
                   anh?
TUẤN -    Cả lần này anh cũng không vào đó được !
TRÂM -    Anh thật là ác !
TUẤN -    Không. Không phải thế ! Hoàn toàn...
TRÂM -    Thế thì hãy vào đó với em ! Anh sẽ có tất cả: Cả tình yêu và
                     cơ đồ !... Cả cái siêu thị lớn ấy, ba em cũng giành cho em !
                     Anh vào đó mà làm giám đốc. Em sẽ mãi mãi là người vợ
                      chung thuỷ, là người bạn gái tốt của anh.
TUẤN -    (hơi hoảng hốt ) Không ! Không được nữa rồi ! Trâm, em hãy
                    tha lỗi cho anh. Anh không thể !
                                       ( Tuấn bỏ nhanh vào trong Công ty )
TRÂM -    (gọi theo) Anh Tuấn !...
B.KHOÁT -    (ngó theo) Cuộc sống đến là phức tạp.
                                                   ( Mai Lâm từ cổng vào, dáng vội vã )
 MAI LÂM -    (với bác Khoát) Chào ông! (nhìn thấy Trâm) À, cô Trâm
                     vẫn còn đây! May quá, tôi cứ sợ là không kịp gặp cô?
                                               (tiến vào phòng khách)
TRÂM -    Như có chuyện gì đang làm ông lo lắng?
MAI LÂM -    Có quan hệ cả tới cô!
TRÂM -    Cũng có quan hệ với tôi? Chuyện gì vậy ông Mai Lâm?
MAI LÂM -    Vì đó là chuyện liên quan tới anh Tuấn, người yêu của cô
                       trước đây.
TRÂM -   Không chỉ trước đây...
MAI LÂM -    Thế thì lại càng tốt! Chuyện rất phức tạp, cô hãy lại
                     gần đây.
                      ( Mai Lâm nhìn quanh, rồi thì thầm kể cho Trâm nghe.
                             Trâm từ ngạc nhiên đến lo lắng...)
TRÂM -    Nếu như thế thì anh ấy rất có thể bị?...
MAI LÂM -    Tôi đã lường trước tất cả.
TRÂM -    Ông làm cho tôi lo quá ! Nhưng liệu tôi có thể làm được
                      gì để ngăn ngừa chuyện ấy?
MAI LÂM -    Tôi có một người bạn cũ ở Hà Nội, ông ta là một võ sư và
                      có rất nhiều học trò.
TRÂM -    Những người học trò của ông ấy, họ cũng đều là những võ sỹ
                    cả chứ ạ?
MAI LÂM -    Đúng vậy. Bản thân ông ta cũng đã là một võ sỹ nổi tiếng,
                     tuy giờ thì đã già. Cô hãy chuyển ngay lá thư này
                      cho ông ấy, trong thư tôi đã nói rõ.
                              (Mai Lâm đưa cho Trâm một phong thư )
                      Cám ơn cô đã giúp đỡ!
TRÂM -    Làm được những gì để cứu giúp anh ấy, tôi sẽ không từ chối.
MAI LÂM -    May quá, một mình tôi e khi có sự cố không kịp?
TRÂM -    Khi cần thiết tôi sẽ gặp ông ở đâu?
MAI LÂM -    Ở nhà một người bạn của tôi cũng ngay tại Hà Nội này.
                                       ( nói rồi đưa cho Trâm một tấm các )
                  Đây là "tấm các" của ông ấy, cô cứ theo địa chỉ này mà tới!
TRÂM -    Được, tôi sẽ tới đó để gặp ông!
MAI LÂM -    Nếu tới đó mà cô không gặp tôi, thì cô hãy nói với người
                     bạn của tôi rằng: Mọi chi phí tốn kém bao nhiêu, tôi sẽ lo
                    chu tất!
TRÂM -    Tôi cũng có thể đóng góp mà.
MAI LÂM -    Giờ thì tôi phải xin phép cô !
TRÂM -    Vâng, chào ông!
                             ( Nói rồi Mai Lâm đi vội ra phía cổng. Trâm nhìn theo...)
                   
Thật không ngờ, sự thể lại có thể đến nông nỗi ấy!...


                                       

 
                                        MÀN BỐN

                      Buổi chiều, tại phòng ngoài nhà ông Bản: Một căn hộ
                      rộng trong khu tập thể.
                            Có đầy đủ gia đình nhà ông Bản, gồm: Ông Bản,
                      bà Nga,Tuấn và Tài. Không khí gia đình nặng nề.

TUẤN -    Sao mọi người yên lặng thế này? Tất cả đều muốn trốn
                   tránh, đã không ai còn dám nhìn thẳng vào cái sự thật ấy
                    nữa. Đã đến lúc tất cả phải tự dằn vặt lấy lương tâm của
                    mình, cả tội của mình !
TÀI -    Ông anh đã nói quá đáng lắm rồi đấy !
TUẤN -    Có quá đáng bằng những hành động mê muội của chú
                  không?
TÀI -    Nếu có đủ bằng chứng thì anh cứ việc khởi tố, cứ việc đưa
                  chúng tôi ra toà! Còn như, nếu anh không đủ bằng chứng...
TUẤN -    Thì sao?
TÀI -    Thì anh sẽ phải đền lại danh dự cho tôi !
                   ( Tài định nhảy vào đánh Tuấn, bà Nga hoảng hốt chạy lại ôm
                       lấy Tài )
BÀ NGA -    (với Tài) Anh không được như thế! Anh cứ giết tôi đi đã.
                  (với ông Bản) Sao ông lại cứ đứng đực ra như thế?
Ô.BẢN -    Thì tôi... tôi biết làm như thế nào bây giờ?  (với Tuấn) Bố xin
                     anh, anh hãy thương bố! Những việc ở Công ty không việc
                    gì đến anh, thì anh cũng đừng bới ra như thế, chỉ gây them
                    phiền toái. (với Tài) Anh!... Anh làm khổ tôi?
TÀI -    Nhưng không thể thể để anh ta cứ làm như bố người ta ! Chẳng
                    có được cái bằng chứng nào mà cứ nói bố bậy.
TUẤN -    Các người còn man rợ hơn cả ý nghĩ của tôi! Vậy thì , hãy
                   xem đây?
               ( Tuấn ra cửa vẫy ai đó. Ít phút sau, một người đàn ông ngót năm
                      mươi tuổi yếu ớt bước vào  -       đó là anh Trương! Nhìn thấy
                   Tài, Trương hơi hoảng hốt nhưng rồi trấn tĩnh lại )
TUẤN -    Con người này thì bố và cả chú Tài đều rất quên biết! Đây là
                  anh trợ lý ngày trước của ông giám đốc Công ty, đã phải về
                  mất sức mà?
TÀI -    Anh ta yếu thì anh ta phải về, có gì là lạ!
TUẤN -    Đó là hậu quả của những sự thô bạo! Chú và cả bà Minh
                  Phương đã biến anh ta từ một người khoẻ mạnh trở thành
                  một người suy nhược về tinh thần, từ một con người đang
                  sống lành mạnh hoá thành một thằng câm !
BÀ NGA -    (với Tuấn) Kìa con! Con nói những điều gì thật khủng
                  khiếp?
                       ( Bà nhìn ông Bản vẻ trách móc về sự im lặng của ông )
Ô.BẢN -    (lúng túng) Tôi... tôi cũng chẳng hiểu gì về những chuyện này
                    cả?
TÀI -    (với Tuấn) Tôi buộc phải cảnh cáo để anh biết: Nếu anh cứ tiếp
                     tục ăn nói kiểu này...
BÀ NGA -    Trời! Mẹ xin, mẹ xin tất cả hai anh!...(với Tuấn) Mẹ xin
                   con đừng nói nữa?
TUẤN -    (với Trương) Anh hãy cởi áo cho mọi người cùng xem!
                     ( Trương cởi áo, những thương tích vì bị đánh hằn đầy trên than
                        thể anh) 
BÀ NGA -    (lại gần Trương) Trời, làm sao anh lại có thể bị đến thế này?
                      Khủng khiếp quá!
TUẤN -    Những thương tích trên thân thể con người này, có đủ là bằng
                   chứng để lý giải cho việc anh ta phải về mất sức không?
TÀI -    Tôi không biết! Tôi không biết gì hết! Thương tích của anh ta
                 thì có liên quan quái gì đến tôi?
TUẤN -    ( cầm lại tập hồ sơ trong tay Trương ) Còn đây, đây là một
                    trong những bản sao hồ sơ về lô hàng Rô-ten-bớc mà anh
                    Trương đã dấu được?
TÀI -    (với Trương) Anh sẽ phải chịu trách nhiệm về tội ăn cắp hồ sơ
                   của cơ quan?
TUẤN -    Khi vụ Rô-ten-bớc xẩy ra, khi biết rằng người trợ lý này đã
                   nắm vững tất cả sự gian lận của các vị!... Không thể lôi kéo
                 và thuyết phục được anh ta, lo nguy cơ bị tố giác thì cả chú và
                bà Minh Phương đã...
TÀI -    (sừng sộ) Đừng có mà giở mãi cái giọng ?...
                            ( nhảy vào đánh Tuấn, song bị Tuấn vặn chéo tay lăng
                                       mạnh vào tường )
TUẤN -    Chú quên là... nếu muốn đọ sức thì tôi còn hơn chú!
TÀI -    Anh, anh sẽ phải trả giá!
TUẤN -    Chính chú và cả bà Minh Phương đã thuê một bọn
                 côn đồ để đánh anh Trương!
TÀI -    (tiến về phía Trương) Anh có nhìn thấy tôi đánh anh không đã?
TRƯƠNG -    Vâng, đúng là cậu không có mặt trong bọn chúng nó, cậu
                   không trực tiếp đánh tôi.
TÀI -    Thế mà chưa chi đã? Không có bằng chứng thì đừng có mà...
TUẤN -    Vì sợ hãi anh ta phải sống như một thằng câm! Còn bịp bợm
                hơn, khi tiễn anh ta về mất sức... các vị đã tổ chức một cuộc
                tiệc tùng chia tay thật linh đình, tung hô công trạng và trao
                 phần thưởng !? (với anh Trương) Anh Trương có thể về!...
                Anh đừng sợ, sẽ không ai còn dám đụng đến anh đâu?
TRƯƠNG -    Giờ cũng không việc gì mà tôi phải lo mãi. Tôi cũng đã
                    chuẩn bị, nếu chúng còn muốn hại tôi thì sẽ có người tố giác
                    thay tôi!
                                                 ( Trương ra khuất )
TÀI -    Tôi không biết! Tôi không biết gì hết !...
                                                  ( Tài bỏ ra nốt )
TUẤN -    (với ông Bản) Giờ thì bố thấy thế nào?
Ô.BẢN -    Nhưng bố không biết những chuyện đó! Bố không biết anh
                  Trương đã bị đánh. Bố không ngờ thằng Tài lại...
TUẤN -    (giơ tập hồ sơ) Thế còn cái vụ Rô-ten-bớc này? Là một chuyên
                  viên cố vấn cho ông giám đốc công ty - Bố có biết không?
Ô.BẢN -    Khi đó, bố chỉ nghĩ là: do thằng Tài lơ đãng, thiếu trách
                   nhiệm để xẩy ra.
TUẤN -    Còn ông giám đốc chỉ vì quá tin, phải không ạ?
 Ô.BẢN -    Anh Lãm là một bạn cũ của bố, lại có rất nhiều công
                  lao. Đối với thằng Tài, bố biết làm như thế nào... khi kẻ gây
                    ra có cả đứa con trai của mình?... Tuấn ạ, bố xin con! Nếu
                  cần, bố sẽ xin nhận tất cả mọi tội lỗi. Con hãy bỏ qua, dù sao
                   thì... sự cũng đã rồi, chẳng gỡ lại được.
TUẤN -    Thế còn bản án đối với người đang sống mà như đã chết kia?
                     Những thương tích trên thân thể anh trợ lý... Những chà
                    xéo, dẫm đạp lên tinh thần, cả linh hồn con người ấy...
                    Bố định xử trí như thế nào? (im lặng ) Bố không thể trả
                    lời được à?... Cũng đúng thôi, bởi vì giờ đây bố đang
                    phải đứng trước lương tri của chính bản thân mình, để trả
                   lời một lương tri khác !?Thưa bố, khi mà lương tri của bố
                    cũng không thể câm lặng được, thì lương tri của con sẽ phải
                    làm gì?
BÀ NGA -    Thế thì phải làm như thế nào mới được, con ơi?
TUẤN -    Xin phép mẹ con đi nghỉ một chút, con hơi mệt !
                 ( Tuấn bỏ vào phòng trong. Sân khấu chỉ còn lại hai vợ chồng ông
                               Bản )
BÀ NGA -    Trời ơi, Khủng khiếp quá! Khủng khiếp quá! Ông không
                    thấy gì hết à? Có thể chúng nó còn đâm chém nhau đấy.
                   Hay là, thằng Tuấn không phải là con ông?...
Ô.BẢN -   (sửng sốt) Cô không được nói như thế! Đối với tôi con nào chả
                  là con?
BÀ NGA -    Thế thì ông cũng phải làm một cái gì đi chứ? Tôi chả còn
                    hiểu ra làm sao cả. Gia đình đang yên lành, đùng một cái...
                    Này ông, qua câu chuyện của bố con ông: Tôi thấy hình như
                     thằng Tài nó đang mắc vào vụ gì khủng khiếp lắm, phải
                  không?
Ô.BẢN -    (lúng túng) Ờ... ờ...
BÀ NGA -    Coi bộ ông như thế thì đúng rồi. Thôi chết rồi! Sao ông
                   không ngăn nó?
Ô.BẢN -    Tôi có biết đâu mà ngăn. Mà... tôi cũng nói với nó nhiều, nó
                 có chịu nghe đâu.
BÀ NGA -    Thế còn cái chuyện anh Trương bị đánh mình mẩy đầy
                  thương tích ấy, liệu thằng Tài có dúng vào không?
Ô.BẢN -    Tôi, tôi làm sao mà biết được. Biết đâu, cũng có thể...
BÀ NGA -    Thế thì khổ tôi rồi! Khổ tôi rồi! Ông làm khổ tôi rồi?...
Ô.BẢN -    Ơ, cô này hay nhỉ? Tôi đã làm gì mà cô lại...
BÀ NGA -    Đúng! Chỉ bởi vì ông đã không làm gì. Ông đã không sớm
                 biết đường để can ngăn thằng Tài, mới nên nông nỗi này. Mà
                  ông còn lạ gì tính cách nó cơ chứ?
Ô.BẢN -    Cô thì còn chiều nó quá tôi?
BÀ NGA -    Thì tôi là mẹ nó! Tôi chỉ là một người đàn bà yếu đuối. Mới
                     lại... Những việc xẩy ra ở cơ quan của bố con ông,  tôi làm
                      sao mà biết? Chỉ tại vì ông nhu nhược quá! Đúng, tại ông
                     nhu nhược quá !
Ô.BẢN -    Vâng, tại tôi nhu nhược. Tại tôi tất!
                           ( Minh Phương và Tài xuất hiện ở cửa. Vừa lúc,
                                     Tuấn cũng từ nhà trong bước ra )
MINH PHƯƠNG -    (với Tuấn) Ông giám đốc có nói với tôi: Yêu cầu
                     anh trao lại hồ sơ mà thằng Trương đã dấu đi, rồi đưa cho
                     anh? Việc thằng Trương dám lấy cắp hồ sơ của cơ quan, tổ
                    chức họ sẽ có biện pháp!
TUẤN -    Nếu tôi không trao lại hồ sơ đó cho các vị?
MINH PHƯƠNG -    Thì bắt buộc phải coi anh như một kẻ đồng loã.
TUẤN -    Bà đừng đe doạ tôi?
MINH PHƯƠNG -    Anh không làm được gì đâu. Nên thông minh hơn
                      một chút!... Tôi có thể hứa với anh...
TUẤN -    (ngắt lời) Thôi đủ rồi. Các người có thể đi được rồi!
MINH PHƯƠNG -    À,à... thế thì ta lật con bài ngửa. Dù anh có biết tất
                  cả các chi tiết về Rô-ten-bớc, thì anh đã làm được gì? Anh
                   kêu lên đâu? Với ai? Ai sẽ nhận lời kêu của anh?
TUẤN -    Tôi biết là bà đã ngăn chặn tất cả.
MINH PHƯƠNG -    Còn việc anh cho là chúng tôi đã thuê bọn côn đồ
                 đánh thằng Trương? Ta cứ giả sử với nhau là chuyện như thế,
                  tôi chỉ giả sử thôi... thì bằng chứng đâu? Đánh lúc nào? Bọn
                    côn đồ ấy cụ thể là những đứa nào?
TUẤN -    Phải! Anh Trương có nói với tôi bọn chúng đều bịt mặt.
MINH PHƯƠNG -    Đấy là tôi chỉ giả dụ như thế, chứ hơi đâu tôi phải
                  bận lòng với những thương tích vớ vẩn trên người thằng trợ
                 lý ấy?
TUẤN -    Nghĩa là bà có thể lạnh lùng, thơ ơ với những số phận khốn
                   khổ?
MINH PHƯƠNG -    Tôi đến đây không để cãi vã với anh!
TUẤN -    Bà cũng đừng hy vọng tôi sẽ trao lại cho bà những hồ sơ của
                   vụ Rô-ten-bớc ấy!
TÀI -    Anh phải trả!
TUẤN -    Nếu các vị không có gì phải lo lắng, thì các vị cần lấy lại tập
                hồ sơ ấy để làm gì?
MINH PHƯƠNG -    (giận dữ) Anh còn đủ thời gian để suy nghĩ, tôi
                   khuyên anh nên khôn ngoan hơn!
                                                ( Nói rồi mụ tức tối bỏ ra )
TÀI -    Đúng thế, anh nên khôn ngoan hơn!...
                                                ( Tài theo sau, cũng ra nốt )
TUẤN -    Ôi, bọn người đê tiện! Thật đê tiện!
BÀ NGA -    Con ơi, mẹ sợ quá! Con làm thế làm gì rồi lại mang vạ vào
                   thân? Mình chỉ cốt sống cho yên.
Ô.BẢN -    (với Tuấn) Bố can anh. Một lần nữa bố can anh!
 TUẤN -    Tất cả, tất cả hoảng hốt hết cả rồi hay sao? Tôi sẽ đưa chúng
                   ra trước vành móng ngựa!
                                     ( Tuyết chạy bổ vào nhà )
BÀ NGA -    (ôm lấy Tuyết) Chắc cháu cũng biết chuyện rồi. Cháu hãy
                    khuyên can nó cháu nhé!... (với ông Bản) Ông cũng vào nhà
                     trong mà nghỉ đi, để các con nó nói chuyện với nhau. Ông
                    còn đứng ở đây làm gì?
Ô.BẢN -    Thì tôi vào.
                                  ( Hai vợ chồng ông Bản, bà Nga cùng vào nhà trong )
TUYẾT - (với Tuấn) Ở nhà em... khi đang ngồi  trên gác, em nghe rõ
                    tiếng anh Tài nói với mẹ em là: Anh muốn làm to chuyện?
                    Anh đã hứa với em rồi cơ mà, là anh sẽ bỏ qua...
TUẤN -    Nhưng sự thật kinh khủng quá, đến mức không thể làm
                  ngơ được.
TUYẾT -    Anh cứ nghĩ nó to thì nó to chứ!...
TUẤN -    Em chẳng biết gì cả?
TUYẾT -    Thì anh kể cho em nghe đi, xem nó kinh khủng đến mức độ
                   nào? (im lặng) Đấy, anh lại không chịu nói! Em biết ngay mà,
                   anh thì tốt... nhưng phải cái hay cố chấp?
TUẤN -    Em lại nghĩ về anh thế đấy?
TUYẾT -    Hãy nghe em mà thôi đi anh, anh làm thế thì quá!
TUẤN -    (ngẫm nghĩ) Ừ, mà em cũng không nên biết !? Tâm hồn em
                  thanh khiết quá, tấn trò đời thì quá bẩn ! Quá tàn nhẫn !...
                                  (Tuấn vẩn vơ ra xa nghĩ, quên khuấy Tuyết )
TUYẾT -    Kìa, anh Tuấn! Sao anh lại bỏ em ra đứng một mình như
                thế?
TUẤN -    (với Tuyết) Em hãy cứ hồn nhiên như vậy! Tâm hồn em hãy
                   cứ trong sáng như thế! Và cứ mơ mộng như những trang
                  tiểu thuyết mà em vẫn thường xem !...
TUYẾT - Anh thích em cứ như thế mãi à?
 TUẤN -    Ừ, nếu có thể thì em cứ như thế mãi !
TUYẾT -    Sao lại không? Nếu anh đã thích thì em sẽ như thế mãi, như
                    thế mãi suốt đời.
TUẤN -    Nhưng em sẽ không như thế mãi được đâu, Tuyết ạ! Thực tế
                 phũ phàng lắm.
TUYẾT -    (hồn nhiên) Nhất định rồi anh xem, em sẽ như thế mãi.
TUẤN -    Tâm hồn em sẽ phải vật vã, em sẽ hiểu như thế nào
                     là đau đớn?
TUYẾT -    Thì cũng có lúc em đã đau đớn rồi! Em đã phát hoảng lên,
                   em nghĩ: nhỡ ra anh và em...
TUẤN -    Sự đời còn khủng khiếp hơn nhiều! Anh sợ lúc đó em sẽ
                  không chịu đựng nổi?...
TUYẾT -    Không, nếu có anh thì em sẽ chịu được tất mà! Chẳng có cái
                    gì khủng khiếp hơn nếu phải xa anh?
TUẤN -   Em chưa lường hết được đâu Tuyết ạ,  cái ngày bất hạnh đó
                    sắp đến rồi?
TUYẾT -    Anh nói gì mà bi quan thế? Em chỉ cần có anh thôi! Chỉ cần
                          có anh thôi! Chỉ cần có anh thôi!... ( họ ôm lấy nhau ).


       
                                                 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 13.03.2011 10:22:38 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 13.03.2011 00:04:04
.


                                                     MÀN NĂM


                                  I-   CẢNH NHỎ XEN KẼ

                               Buổi tối, tại phòng khách nhà ông Lãm.
                         Minh Phương đang ngồi trên một chiếc salon chờ đợi.
                         Tài đi vào, ngó nghiêng khắp nhà.

MINH PHƯƠNG -    Cậu không phải lo, đi vắng hết rồi!
TÀI -    Những công việc đại loại như thế này cần phải cẩn thận.
MINH PHƯƠNG -    Chắc cậu vẫn tìm bọn cũ?
TÀI -    Hoàn toàn mới, mà thằng trùm lần này còn cứng tay hơn! Nó có

                  biệt danh gọi là "Hốt" - Thằng Hốt!
MINH PHƯƠNG -    Giờ hắn ở đâu?
TÀI -    Đang chờ ngoài hàng nước. (chần chừ) Mợ Minh Phương này?...
MINH PHƯƠNG -    Cứ trông dáng bộ của cậu, tôi cũng biết cậu đang

                    lo! Mọi khi sao cậu bạo dạn, táo tợn thế?
TÀI -    Tôi nghĩ, hay là mình cũng chưa nên vội?
MINH PHƯƠNG -    Hiện nay nó chưa làm bung ra ngoài, cần phải bịt

                          miệng nó lại ngay!
TÀI -    Nhưng nếu anh ta cũng bị như thằng Trương, thì ông bà già nhà

                       tôi sẽ không để yên đâu?
MINH PHƯƠNG -    Lần này thì phải phi tang nhân chứng.
TÀI -    Nghĩa là...
MINH PHƯƠNG -    Nghĩa là nó phải câm vĩnh viễn!
TÀI -    Không được, không thể làm như thế được.
MINH PHƯƠNG -    Hay là lương tâm cậu bị cắn rứt?
TÀI -    Thì cũng cố tìm ra một cách chỉ làm cho ông ta sợ là được.
MINH PHƯƠNG -    Tôi đã nghĩ hết cách! Với cái gan của thằng Tuấn,

                        không thể biến nó một người sống mà như câm? Chắc cậu
                       cũng không muốn phải vào nhà đá?
TÀI -    Tham nhũng một lô hàng, bất quá thì cũng chỉ tù ít năm?

                      Mà ông Lãm sẽ là cái lá bùa hộ mệnh cho cả tôi và mợ cơ
                        mà?
MINH PHƯƠNG -    Nếu chỉ mắc một tội tham ô, tham nhũng thì tôi

                      cũng chưa sợ.
TÀI -    Thế, mợ còn sợ cái gì?
MINH PHƯƠNG -    Chính là chuyện thằng Trương ngày trước! Chúng

                        nó mà kết cấu lại với nhau làm ầm ĩ lên, thì họ sẽ đem cả
                       tôi và cậu ra mà tùng xẻo.
TÀI -    Nhưng ngay cả chuyện thằng Trương, giờ cũng không phải chỉ

                    mình ông Tuấn biết?
MINH PHƯƠNG -    Tôi đã nghĩ ra được một cách có thể đánh

                     lừa được tất cả mọi người.
TÀI -    Mợ nói tôi nghe thử?
MINH PHƯƠNG -    Hàng ngày, hàng ngày trên các đường phố Hà

                         Nội... đã có biết bao nhiêu vụ tai nạn giao thông thường
                      xẩy ra. Có người thì bị thương, nhưng cũng nhiều người
                       chết?
TÀI -    Tôi hiểu rồi! Tôi hiểu rồi!... Có thế mà nghĩ nát cả óc.
MINH PHƯƠNG -    (thở dài) Cũng không còn cách lựa chọn nào khác.
TÀI -    Để tôi ra gọi thằng Hốt vào đây! (Tài định đi)
MINH PHƯƠNG -    Hãy khoan! Cậu có thể đưa nó đến một chỗ

                      kín đáo rồi liệu mà làm việc với nó?... tốn phí bao nhiêu tôi
                     sẽ cấp cho cậu đầy đủ.
TÀI -    (phá lên cười)...
MINH PHƯƠNG -    (bịt miệng Tài) Rừng có nách, vách có tai. Tại sao

                  cậu lại cười váng lên như thế?
TÀI -    Tôi cười, vì tôi thấy mợ... hơi dại quá!...Mợ đẩy mình tôi vào

                 cuộc, chỉ mình tôi nó biết mặt!...Để ngộ nhỡ... có xẩy ra
                 chuyện gì, thì mợ rũ tuột!
MINH PHƯƠNG -    Tôi không ngờ cậu lại nghĩ về tôi tồi tàn như

                 thế?...Thôi được, thì... cậu ra gọi nó vào đây!
TÀI -    Thế là tốt nhất!
                                       ( Tài ra ngoài )
MINH PHƯƠNG -    (một mình) Cũng đành liều.
                       ( ít phút, Tài cùng Hốt đi vào. Đó là một gã đàn ông to chắc,
                           trạc tuổi trung niên, tướng mạo lầm lì )

TÀI -    (với Minh Phương) Đây là anh Hốt, người mà tôi đã nói!
HỐT -    (với Minh Phương) Tôi cũng đã được Quí ông đây cho biết về

                       Quí danh của Quí bà!...
TÀI -    Kế hoạch cũng như giá cả, tôi đã trao đổi đầy đủ với anh Hốt

                      rồi. Bà xem có cần phải dặn dò gì thêm nữa không?
HỐT -    Các vị cứ yên tâm, Tôi cùng  các đệ tử của tôi sẽ làm

                        thoả đáng ý muốn của cả Quí Bà và Quí Ông !
TÀI -    Các anh cứ giải quyết cho thật gọn nhẹ, cho thật êm thấm!... Về

                      kinh phí chúng tôi sẽ thoả đáng, các anh không phải lo.
MINH PHƯƠNG -    Phần thủ tục coi như đã kết thúc?...
HỐT -    Thưa Quí Bà ! Đó mới chỉ là khúc dạo đầu. Khúc sau còn khó

                      khăn, nguy hiểm hơn nhiều.
MINH PHƯƠNG -    Ý ông muốn?...
HỐT -    Phi vụ này cực kỳ nguy hiểm. Không chỉ đòi hỏi ở chúng tôi sự

                cảm tử, mà cả sự chi phí để thực hiện phi vụ cũng tốn kém
                   lắm ạ !....
MINH PHƯƠNG -    Anh lại muốn tăng giá à?
HỐT -    Được phục vụ một người đàn bà quí phái, sang trọng như Quí

                  Bà... dĩ nhiên là chúng tôi phải hết sức cẩn thận, sự tăng giá
                    cũng là rất nên ! Cũng chỉ thêm 30% nữa thôi ạ.
MINH PHƯƠNG -    Sao tăng thêm mà nhiều thế?
HỐT -    Quí bà đồng ý chứ ạ?
MINH PHƯƠNG -    Thôi được, tôi đồng ý.
HỐT -    Quí bà có cần hỏi điều gì nữa không ạ?
MINH PHƯƠNG -    Tôi cũng muốn biết thêm vài chi tiết.
HỐT -    Rất lấy làm vinh hạnh nếu được làm vui lòng Quí bà.
MINH PHƯƠNG -    Ông đến đây bằng phương tiện gì?
HỐT -    Một thứ xe gắn máy mà nhân loại quen gọi là hon-đa! Thưa

                   Quí bà, một loại hon-đa chính hãng chứ không phải là đồ
                   rởm. Quí bà cứ yên lòng!
MINH PHƯƠNG -    Nó còn tốt chứ?
HỐT -    Nó mới được đập hộp khoảng vài ba chục năm nay. Lúc

                 nó được sản xuất, thì nó thuộc vào đời mới nhất trong
                  thời điểm đó... Với cái nhãn hiệu Xíp-pót-te-đờ-me-măng-xi,
                  xin Quí bà hoàn toàn yên tâm. Với cái giống Xíp-pót-te -đờ-
                   me-măng-xi này, nó có thể đạt tới vận tốc tối đa của chính
                    nó đấy ạ! Dùng vào phi vụ này đảm bảo chắc ăn.
MINH PHƯƠNG -    Ông sử dụng bao nhiêu người?
HỐT -    Để làm yên lòng một người đàn bà lộng lẫy như Qúi bà, tôi sẽ

               phải dùng tới hai trợ thủ cứng nhất của tôi! Xin Quí bà tăng
               thêm cho 20% nữa ạ?
MINH PHƯƠNG -    Đã tăng rồi, sao lại.... mà tăng thế hơi nhanh đấy?
HỐT -    Thưa Quí bà, tiền trượt giá còn tăng nhanh hơn đấy ạ! Quí bà

                chấp nhận chứ ạ? Đa tạ Quí bà! Quí bà còn muốn...
MINH PHƯƠNG -    Tôi muốn biết về các trợ thủ của ông?
HỐT -    Quí bà có thể hoàn toàn yên tâm, họ toàn là những thằng câm.
MINH PHƯƠNG -    Ông đã cắt lưỡi của họ?
HỐT -    Ồ không. Lưỡi, mồm, tai, mắt đến lục phủ ngũ tạng của

                  chúng đều còn nguyên cả. Ý tôi muốn nói: Đó là những người
                   hùng, rất hùng... thưa Quí Bà! Quí bà cho tăng thêm 10%
                 nữa ạ?
MINH PHƯƠNG -    Sao ông đòi tăng nhiều thế?
HỐT -    Luật của chúng tôi: Mỗi một câu hỏi có quan hệ tới sự nguy

                hiểm của bản thân, đều phải được tăng giá !
TÀI -    (đứng ở ngoài nói vào) Cái luật hơi quái đấy!
HỐT -    Quí bà chấp nhận chứ ạ?
MINH PHƯƠNG -    Nếu đã là luật thì tôi cũng đành.
HỐT -    Đa tạ Quí bà! Giờ xin Quí bà thực hiện cho một chút thủ tục

                    nho nhỏ ban đầu?
MINH PHƯƠNG -    Ông cứ nói!
HỐT -    Để thực hiện phi vụ một cách mỹ mãn nhất, bao giờ chúng tôi

                cũng nhận trước 50% số tiền như đã qui ước với Quí ông đây!
                (chỉ Tài) cùng với  số tiền mà Quí bà đã chấp nhận tăng thêm.
MINH PHƯƠNG -    Nhưng chưa làm mà các ông đã....
HỐT -    Thưa Quí bà, đó cũng là luật ạ!
TÀI -    (đứng ngoài) Lại luật? Toàn luật để húp của người ta.
HỐT -    Quí bà chấp nhận chứ ạ?
MINH PHƯƠNG -    Thôi được. Ông Tài đây  (chỉ vào Tài) sẽ thay tôi

                  thoả đáng và giao tiền cho ông! Chỉ miễn là...
HỐT -    Xin Quí bà cứ yên tâm! Tôi xin thay mặt các chiến hữu của tôi,

                  gửi tới Quí bà sự tràn trề cảm tạ... và chúc Quí bà an khang
                   thịnh vượng!...
                                                   ( Hốt định ra)
MINH PHƯƠNG -    (gọi giật) Còn một điều kiện nữa?
HỐT -    Tôi rất vui lòng!
MINH PHƯƠNG -    Mà thôi, kẻo ông lại...
HỐT -   Xin có điều gì thì Quí bà cứ nói! 
MINH PHƯƠNG -    Những cuộc gặp gỡ sau, ông Tài đây sẽ thay tôi

                gặp ông ở một địa điểm khác kín đaó hơn!
HỐT -    Nghĩa là tôi phải quên ngôi nhà này đi? Thưa Quí bà, tôi hiểu!
MINH PHƯƠNG -    Điều kiện này không gây thêm sự nguy hiểm, chắc

                   không cần phải tăng  thêm giá phần trăm... nữa đâu, ông Hốt
                   nhỉ?
HỐT -    Quí bà nói rất phải !....
                                                        
 
                                     

                                            CẢNH II.

                                   Vào một buổi tối cũng tại nhà ông Lãm.
                                Tài và Minh Phương từ ngoài cửa đi vào.
 
TÀI -    Cái ổ khoá nhà mợ tốt thật, mở cứ nhẹ như không!
MINH PHƯƠNG -    Khoá từ thời Tây đấy! Nhà này tôi cứ làm cho mỗi

                  người một chìa, có ra vào sớm tối thì người trong nhà không
                  bị quấy quả.
TÀI -    Này mợ, thế có ai trong nhà không?
MINH PHƯƠNG -    Tối nay: ông ấy thì lên Bộ dự chiêu đãi, còn con

                  Tuyết đi tham gia một diễn đàn tình yêu gì đó... ở ngoài thư
                  viện Hà Nội.
TÀI -    Tình yêu với chả diễn đàn, cũng chẳng bằng tôi và mợ yêu thật.
                                         ( Tài lại ôm lấy Minh Phương )
MINH PHƯƠNG -    Thì cũng từ từ một tý đã nào! Cậu cứ làm tôi như

                củ khoai không bằng.
TÀI -    Tối nay dứt khoát là mợ phải thưởng cho tôi rồi!
MINH PHƯƠNG -    Cậu không sợ à?
TÀI -    Mợ bảo tôi sợ gì?
MINH PHƯƠNG  -    Sợ là sợ cái lương tâm nó cắn rứt chứ còn sợ gì?...

                  Thằng Tuấn , anh cậu thì đang bị chúng nó săn đón để hành
                  quyết ở ngoài kia, còn tôi với cậu ở trong này lại...
TÀI -     Tôi và mợ mà không tranh thủ vui sướng với nhau thì tiếc quá!
MINH PHƯƠNG -    Hay là thôi?
TÀI -    Thôi là thôi thế nào?...
                                         ( ôm lấy Minh Phương)
                    Mợ cứ nần nẫn ra thế này, thôi thì phí của giời!
MINH PHƯƠNG -    Thì cũng gượm đã. Tôi vẫn chưa yên tâm, cậu đã

                   trao đổi chặt chẽ về kế hoạch hành sự... với thằng Hốt chưa?
                   Chẳng may có gì sơ ý xẩy ra thì chết?
TÀI -    Mọi việc tôi đã tính toán rất cẩn thận, mợ không phải lo.
MINH PHƯƠNG -    Dù sao thì... (thở dài)
TÀI -    Bây giờ thì mợ thưởng cho tôi nhé? Tôi sẽ lại bế mợ ra vườn...
MINH PHƯƠNG -    Làm gì có ai ở nhà mà phải ra vườn?
TÀI -    Nhưng nhỡ...
MINH PHƯƠNG -    Ừ, chỉ sợ ngộ nhỡ ông ấy hay con Tuyết đột xuất

                    về?...
TÀI -    Nhưng lo thế có mà lo suốt đời! Một nhoắng là xong ngay mà...

                   chả ai biết đâu mà sợ.
                                      ( Tài định sàm sỡ)
MINH PHƯƠNG -    Từ từ nghe tôi dặn đã, nếu có tình huống gì thì cậu

                    cứ nhảy qua cái cửa sổ này mà ra vườn nhé, ở trong này tôi
                   sẽ liệu cách nói...
TÀI -    (xun xoe) Chà , buổi ăn mừng chiến thắng của tôi và mợ tối nay

                   thật tuyệt!
MINH PHƯƠNG - Thì, tôi trở thành mâm cỗ để cậu xơi mừng chiến

                  thắng thì có?
TÀI -    Thì còn gì bằng!...
                   ( Tài lại tắt vợi đèn... cuộc tình xẩy ra trong bóng tối mờ,
                               thấp thoáng chỉ còn nghe thấy tiếng nói phát ra )

TÀI -    Từ từ thế này thôi nhé, mợ thấy sướng chưa?
MINH PHƯƠNG -    Ừ, ừ... sướng... sướng....
TÀI -    Với ông ấy... mợ có sướng thế này không?
MINH PHƯƠNG -    Chuyện,  ông ấy già rồi. Cậu còn trẻ mà... khoẻ

                 phát khiếp!...
TÀI -    Thế, ông ấy kiểu cách có phong phú không?
MINH PHƯƠNG -    Ừ, ừ... Ông ấy đi tây nhiều nên cũng phong phú...
               ( Ông Lãm bỗng xuất hiện ở phía cầu thang trên gác. Ông giơ tay
                  bật cung tắc điện ở cạnh cửa , đèn sáng lên. Nhìn cảnh tượng
                  ông rú lên rồi trượt ngã từ bậc cầu thang xuống nhà nằm lịm đi.
                  Bà Minh Phương vội kéo chiếc khăn lớn quấn che ngang người,
                  một tay giữ khăn để khỏi tuột... vội chạy đến phía chồng )

MINH PHƯƠNG -    Khổ, ai bảo ông không bước cho cẩn thận?
TÀI -    (đứng ngoài, nhìn ông Lãm tỉnh lại ) Mở mắt rồi! Ông ấy mở mắt

                    ra được rồi!...
                  ( ông Lãm lại nhắm nghiền mắt lại. Tài nhún vai, khinh khỉnh...

                  Lúc đó Tuyết cũng từ cửa vào, cô giật mình vội nép vào chỗ kín
                    nghe!...)
Ô.LÃM -    (chỉ vợ) Bà... bà tưởng tôi đi vắng nên bà lợi dụng!... Cũng

                   may mà tôi lại bị đau bụng, nên mới ở lại nhà. Bà, bà không
                   mặc ngay quần áo vào đi à? (với Tài) Cả anh nữa, đừng có
                   lồng ngồng ra như thế?
                           ( hai người vội vơ quần áo chạy vào trong ít phút, rồi ra...
                      Ông Lãm khó nhọc đứng dậy )
Ô.LÃM -    Bà làm tôi xấu hổ! Trời, thế này còn ra cái thể thống gì cơ

                      chứ? (với Tài) Tôi, tôi không ngờ anh? Đồ đổ đốn !...
TÀI -    Xin ông dùng từ cho lịch sự hơn một chút !
Ô.LÃM -    Trời, nó lại bảo tôi phải dùng từ cho lịch sự nữa đấy? ( quát

                      lên) Tao, tao sẽ cách chức mày! (với vợ ) Còn bà nữa,
                     hãy đi đi! Đi đi!...
MINH PHƯƠNG -    Ông bảo tôi phải đi đâu?

Ô.LÃM -    Bà đi đâu thì đi, tôi không thể nào còn chịu được nữa rồi.
                          
( ông Lãm giơ tay lên trời tỏ sự bất lực )
                  Đổ đốn hết cả rồi! Loạn hết cả rồi!
TÀI -   
(tiến lại gần ) Báo cáo đồng chí giám đốc, tôi có thể về được chứ                           
                    ạ?

Ô.LÃM -    Cút! Cút ngay!
TÀI -    (thản nhiên) Cút thì cút.
                        
(Tài định ra thì ông Lãm gọi giật lại)
Ô.LÃM -    Mà thôi, đứng lại! Anh phải ở lại đây!
TÀI -    Ở lại thì ở! Nhưng để làm gì ạ?                                           
 Ô.LÃM -    Bao nhiêu năm nay tôi đã cưu mang anh, tôi che đỡ cho anh,                                 bây giờ anh đối xử với tôi như thế này đây?
                Ngay cái vụ Rô-ten-Bớc: Nếu không có tôi, thì anh đã phải ra toà rồi
                 - Anh hiểu không?
TÀI -    Ông nói không đúng. Người ra toà trước tiên phải là ông!
MINH PHƯƠNG -    Vì người ký cuối cùng quyết định trên tất cả các văn bản,
              là ông Giám   đốc... chứ đâu phải là trưởng phòng Tài?
Ô.LÃM -    À, các người, ra các người về hùa với nhau định hại ta?
TÀI -    Ngược lại, chúng tôi đã mang về cho ông những món lợi kếch sù.
Ô.LÃM -    Các người đã lừa dối ta!
(với Tài) Công ty Nhật không chịu nhận hàng,
               gây thiệt hại hơn triệu đô la vì anh?
MINH PHƯƠNG -    Có cả tôi nữa chứ?
Ô.LÃM -    Phải , cả bà.  Vì các người đã bàn bạc với nhau cố tình giao hàng chậm...
               cốt để cho Nhật nó từ chối...
MINH PHƯƠNG -    Vậy mà ông vẫn đặt bút để ký vào các văn bản : Hàng chất
                lượng không đảm bảo với bao nhiêu lý do - Nào là đổ tại máy móc tồi,
                tại điều kiện khách quan này, khách quan nọ?...
TÀI -    Thế cho nên ông mới có cả một khối lượng hàng tơ lụa thực sự là đẹp,
               nhưng lại ghi là hàng bị phế... mà  bán lại cho doanh nghiệp của cái lão
               Mai Lâm ấy với giá hoá đơn rẻ mọn, để hưởng  khoản tiền chênh lệch
                "ma"... bên ngoài?
Ô.LÃM -    Các người đẩy ta vào thế cùng, buộc ta phải chèo chống?
MINH PHƯƠNG -    Ông nói dối! Chính ông biết rất rõ: Nếu có được lô hàng ấy...
                 thì sẽ kiếm được món lợi lớn!
Ô.LÃM -    Bà, bà quá lắm!
MINH PHƯƠNG -    Khi tôi gợi ý cho ông: tìm cách để lấy lô hàng?...
TÀI -    Ông tảng lờ như không biết!... Để cho bà nhà cùng với tôi lo liệu thay ông?
MINH PHƯƠNG -    Ông là một ông giám đốc không tốt lành gì đâu? Một ông chồng
             tồi tệ!... Ông luôn tỏ ra cao đạo. Tất cả tiền của, tài sản có được ở ngôi nhà
              này là nhờ tay tôi, ông đã thông qua tôi. Tôi cũng chẳng khác nào một công
              cụ để ông sử dụng, một cái bia chắn đỡ cho ông!...
(dằn giọng) Người bước
              ra khỏi ngôi nhà này là ông, chứ không phải là tôi?
                 
( Im lặng giây lát. Minh Phương lại gần ông Lãm,thay giọng mơn trớn)
          Ông Lãm ạ! Nói vậy thôi, dù sao tôi với ông cũng là vợ chồng mấy

                  chục năm nay, tôi vẫn thương ông!
      
         ( Như một cái cây chết đứng, ông Lãm ngả vào tay mụ Minh Phương...
                  mặc cho mụ ve vuốt )

Ô.LÃM -    Bà!... Bà nói bà thương tôi, bà có thương thật không?
MINH PHƯƠNG -    Chả thương ông thì thương ai?
TÀI -  
  (đứng ngoài) Như thế có phải là dễ chịu hơn không nào?
            
( Từ bên khe cửa, Tuyết từ nẫy đến giờ nghe rõ câu chuyện của bố mẹ...
          cô bàng hoàng choáng váng, như một cái cây ngã dập xuống sàn nhà rồi ngất đi)
MINH PHƯƠNG -   
( kêu lên) Con Tuyết!
             
  ( ông Lãm vội lại đỡ con. Tất cả xúm quanh đỡ Tuyết lên ghế. Tuyết tỉnh dần)
MINH PHƯƠNG -    Kiểu này đi chơi tối về lại bị cảm sương đây?
                                 
( có tiếng gõ cửa)
MINH PHƯƠNG -    Ai đấy? Ai mà đêm hôm khuya khoắt thế này vẫn còn gõ cửa?
TÀI -    Để tôi ra mở.
                     
( Tài mở cửa - Hốt , tay đã chói giật cánh khuỷu bị đẩy vào,
                                           theo sau là hai viên cảnh sát )
HỐT -   
( chỉ Minh Phương và Tài ) May quá họ ở cả đây! (với cảnh sát ) Vâng, thưa hai ông: Cả hai người này đấy ạ!
TÀI -   
(xô lại) Này anh Hốt! Đừng có mà...
CẢNH SÁT -    Nghĩa là các vị đã biết nhau từ trước?
TÀI -   
(biết lỡ lời) Cũng chỉ sơ sơ. Tôi chỉ gặp anh ta ngoài đường.
CẢNH SÁT -   
(với Minh Phương) Bà là Bùi thị Minh Phương! (với Tài) Còn anh?
TÀI -    Tôi là Nguyễn Khắc Tài.
CẢNH SÁT -    Theo lời khai của tên Hốt này, thì bà và anh đã thuê hắn để mưu sát hại...
HỐT -    Vâng, thưa ông thiếu uý cảnh sát: Đúng là Quí bà và Quí ông đây đã thuê tôi...
TÀI -    Anh nói láo.
MINH PHƯƠNG -  Các ông đừng có tin lời một thằng lưu manh.
HỐT -    Thưa Quí Bà: Nhờ có những người như Quí bà, mà những thằng lưu manh
                như tôi có cái để mà sống!
TUYẾT -   
(đến gần Hốt) Anh nói, mẹ tôi đã thuê anh để sát hại ai?
HỐT -    Thưa Quí cô! Đó là một thanh niên có tên gọi là Tuấn!
TUYẾT -    Trời!...
                   
( Tuyết ngất đi. Ông Lãm vội lại đỡ con )
Ô. LÃM -    Con gái tôi! Khéo nó chết mất.
(với Tài) Anh Tài, làm ơn gọi hộ tôi xe cấp cứu!
TÀI -   
(nhanh nhẩu) Tôi sẽ đi ngay.
                             
( Tài định đi...)
VIÊN  THIẾU UÝ  -  
  (ngăn lại) Anh ở lại! (nói với người cảnh sát cùng đi) Này hạ sỹ,
                   anh hãy đi gọi xe cấp cứu giúp gia đình.
HẠ SỸ  -  Rõ!
  (ra)
VIÊN THIẾU UÝ -   
(với Minh Phương và Tài ) Còn bây giờ thì mời bà, mời anh...
                  đến trụ sở của cơ quan cảnh sát làm đối chứng?
MINH PHƯƠNG -    Tôi....
VIÊN THIẾU UÝ -   
(ngắt lời) Dù sao thì các vị cũng không thể không đến!
             
( Tất cả Hốt- Tài- Minh Phương - và người cảnh sát ra khỏi phòng )
MINH PHƯƠNG -   
(còn ngoái lại nói với ông Lãm) Bây giờ thì ông đã thoả mãn rồi chứ?
                                                             
(ra khuất)
                            
    (Tuyết tỉnh dần trên tay ông Lãm)
Ô.LÃM -    Ôi, con gái của ba! Con gái của ba đã tỉnh rồi!
TUYẾT -    Tôi ở đâu thế này? Tôi sẽ đi đâu? Tôi sẽ về đâu? Các người, các người
                 thật là tệ! Ai đã giết anh ấy? chả lẽ mẹ tôi ư?
Ô.LÃM - Đúng là mẹ con đấy, con ạ! Chỉ vì sợ công việc bị bại lộ, mẹ con đã thuê người...
TUYẾT -    Không, không, không phải thế! Chính ba, chính ba đã giết anh ấy!...
                 Ba đã giết cả con!... Trời ơi...

                                     
( Ở ngoài đường xe cấp cứu rú còi )

                                               
                                    MÀN SÁU
   
                     ( Phòng ngoài nhà ông Bản, vào buổi sáng ngày hôm sau.
              Ông Bản mặc bộ quần áo thụng thường mặc ở nhà, ông luýnh
              quýnh với bộ quần áo sơ-mi đang treo trên mắc - Bà Nga từ
                                phòng trong bước ra )

BÀ NGA -    Ông vẫn chưa thay xong quần áo à? Ông chả lo lắng gì cả.
                 Sáng sớm hôm nay anh Lãm đã phải chạy vội đến đây, báo
                 cho ông và tôi  biết cái tin ghê rợn ấy!... Khổ thân tôi, ông
                 phải nhanh nhanh mà lên đồn cảnh sát xem hư thực nó ra
                   sao? Thằng Tuấn mà chết thật, thì ông sống một mình!
Ô.BẢN -    Thì tôi... tôi thay quần áo xong ngay bây giờ.
                       
  ( Ông Bản cầm bộ quần áo định đi vào nhà trong.
                                   Nghĩ thế nào đến cửa... lại dừng lại )

Ô.BẢN -    Thảm nào suốt đêm qua  cả thằng Tài lẫn thằng Tuấn ,
                     không thấy đứa nào về nhà.
BÀ NGA -    Thằng Tài thì đã bị cảnh sát giải đi cùng với chị Minh
                      Phương... rồi còn gì?  Nhưng thằng  Tuấn thì có biết nó đi
                     đâu? Sống chết ra sao?
Ô.BẢN -    Thì tôi cũng đã hỏi kỹ, nhưng anh Lãm cũng chả biết gì hơn.
BÀ NGA -    Thế cho nên tôi với ông  mới phải khẩn trương lên đồn, mà

                    hỏi tin tức về thằng Tuấn?... Khổ, có bộ quần áo mà ông
                     thay mãi không xong.
Ô.BẢN -    Được, bà chờ tôi! Tôi sẽ thay xong ngay bây giờ.
                 
 ( Ông Bản định bước vào nhà trong, nhưng nghĩ thế nào lại dừng

                                  lại )
Ô.BẢN -    Nhưng... nếu thằng Tuấn mà nó bị nạn thật, ấy là tôi cứ giả
                  dụ như thế! Thì đêm qua người ta đã phải báo ngay cho mình
                 biết chứ?
BÀ NGA -    Nhưng nếu nó không  xẩy ra chuyện gì, thì đêm qua nó đã
                    phải về nhà chứ? Thằng Tuấn có mắc tội gì đâu mà người ta
                     giữ nó ở lại đồn? (hoảng hốt) Nhỡ, nhỡ nó chết thật thì sao?
                    Khổ tôi rồi! Ông ơi, khổ tôi rồi! Tuấn ơi, tội nghiệp con. Mẹ
                   chết mất con ơi! Đừng, đừng bị làm sao con nhé? Mẹ cầu
                      mong, mẹ cầu mong... trời đất hãy phù hộ con tôi!
                                
( Tuyết hoảng hốt từ cửa chạy vào )

TUYẾT -    (với mình) Thế là anh ấy không về thật rồi! Anh ấy bị thật
                      rồi!...
                                          
( Tuyết khóc nấc lên )
BÀ NGA -   
(vội đỡ Tuyết) Cháu cũng không biết tin gì về anh Tuấn hả

                  cháu?
                                     
( bà lại chạy đến phía ông Bản )
                   Làm sao bây giờ? Ông nói đi, phải làm gì bây giờ? Ông,

                chính ông đã giết con!

                                          
                                           CẢNH MINH HOẠ

                
(  Trong tâm trạng mê sảng, Tuyết chạy từ góc này qua góc khác:

           Những tiếng nói trong màn kịch gia đình cứ vang lên chói vào tai cô )

                         GÓC MỘT

      -    TIẾNG ÔNG LÃM:  Vì các người đã đưa ta vào thế cùng... buộc

                                 ta phải chèo chống?
      -    TIẾNG MINH PHƯƠNG:    Ông nói dối! Chính ông biết rất rõ

                  có thể thu được một  món lợi kếch sù, nếu lấy được lô hàng
                  ấy để bán đi, cho nên ông...
      -    TIẾNG TÀI:    Ông tảng lờ như không biết, để cho bà nhà cùng

                      với tôi lo liệu thay ông!...

                          GÓC HAI

      - TIẾNG HỐT:    Thưa Quí bà! Nhờ những người như Quí bà, mà

                        những thằng lưu manh như tôi có cái để mà sống!

                         GÓC BA

      -    TIẾNG MINH PHƯƠNG:    Ông là một giám đốc không có tốt

                         lành gì đâu. Một ông chồng tồi!... Ông luôn tỏ ra mình
                          cao đạo. Tất cả tiền của, tài sản có được ở cái ngôi nhà
                           này là nhờ tay tôi! Ông đã thông qua tôi... Người phải
                       bước ra khỏi ngôi nhà này là ông, chứ không phải là tôi !?

                        GÓC BỐN

      -    TIẾNG HỐT:    Thưa Quí cô! Người mà Quí bà đã thuê tôi sát

                            hại... có tên gọi là "Tuấn"!
                                                           
( Tuyết rú lên...)


                               HÌNH ẢNH TUẤN HIỆN LÊN
                 - CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA HAI NGƯỜI:


TUẤN -    Em hãy cứ hồn nhiên như vậy! Tâm hồn em cứ trong sáng và

                   mơ mộng như những trang tiểu thuyết  mà em vẫn thường
                    xem...
TUYẾT -    Anh thích em cứ như thế mãi à?
TUẤN -    Thích!... Nếu có thể em cứ như thế mãi.
TUYẾT -    Nếu anh đã thích thì em sẽ như thế mãi, như thế mãi suốt

                    đời.
TUẤN -    Nhưng em sẽ không được như thế mãi đâu, Tuyết ạ! Thực tế

                      phũ phàng lắm. Tâm hồn em sẽ phải vật vã, em sẽ đau
                       đớn... Anh sợ lúc đó em sẽ không chịu đựng nổi?
TUYẾT -    Em chịu đựng được mà.
TUẤN -    Em không chịu đựng được đâu, Tuyết ạ! Ngày đó sắp đến

                   rồi...

                                 
        TRỞ LẠI THỰC TẠI
                                   
                                     ( Tuyết  lảo đảo bước ra phía cửa...
                                              vừa đi vừa lảm nhảm nói  )
     
 TUYẾT -   
(như kẻ mộng du) Ngày đó đã đến rồi!... Nhưng em chịu

                    được mà, anh Tuấn!  Em chỉ cần có anh thôi! Một mình
                    anh!...  Nhưng sao , sao anh lại  phải chết? Sao anh lại bỏ lại
                     một mình em?...
                              
( Tuyết vẫn lảm nhảm và bước ra khỏi nhà )
BÀ NGA -   
(với ông Bản) Ông có thấy không, con bé mất trí rồi!
Ô.BẢN -    Để tôi... bà chờ tôi vào thay quần áo, một tý tôi sẽ ra ngay!
                  
( Ông Bản cầm bộ quần áo đi hẳn vào nhà trong. Sân khấu chỉ

                   còn lại bà Nga )
BÀ NGA -   
(ngơ ngẩn) Ờ, ông đi thay quần áo nhanh lên, Thằng Tuấn

                     có khi nó chết thật rồi đấy!...
                            ( Ông Mai Lâm bỗng xuất hiện ở cửa )
MAI LÂM -    (vào hẳn nhà) Không, thằng Tuấn không chết! Nó đã được
                       cứu thoát!...
BÀ NGA -    Ông nói: Thằng Tuấn, con tôi không chết à? Có thật như

                     thế không? Nhưng ai đã cứu thoát nó? Có phải là ông đã
                     cứu thoát cho con tôi không?
MAI LÂM -    Phải, tôi đã cứu thoát cho con!
BÀ NGA -    Ông nói cứ như nó là con ông ấy !?
MAI LÂM  -    Thì...
BÀ NGA -   
(bỗng nhiên giật mình ) Nhưng ông... Trông ông như là ông

                     Mai Lâm phải không?
MAI LÂM -   Phải! - Tay tư sản của thành phố Sàigòn trước kia... từ

                         ngày chưa giải phóng, người chồng cũ của bà đây!
BÀ NGA -    Tôi nhớ rồi, mặc dù trông ông đã khác xưa nhiều  lắm.
MAI LÂM -    Thì đã mấy chục năm nay còn gì? Hồi ấy tôi và bà còn

                       trẻ, bây giờ đều đã già nua hết cả rồi !
BÀ NGA -    Tôi đã quên đi cái ngày ấy! Tôi đã quên đi cái hình ảnh tàn
                      nhẫn ấy của ông!...Ông còn trở lại đây làm gì, khi mà ông
                      đã bỏ mặc mẹ con tôi ở lại... vội chạy di tản một mình sang
                        Mỹ để thoát thân?
MAI LÂM -   Nhưng cũng tại vì hồi đó bà và con lại đến tận thành phố
                       Nha Trang thăm người nhà, mà quân cộng sản lại đánh
                       vào Sàigòn nhanh quá tôi không kịp đón. Tôi sợ...
BÀ NGA -    Ông sợ chết chứ gì? Nên bỏ mẹ con tôi muốn sống chết thế

                      nào mặc xác, không cần biết?
MAI LÂM -    Tôi không dám mong bà và con tha thứ. Tôi có lỗi với bà

                     và lỗi với con!...
BÀ NGA -    Chỉ là lỗi thôi hay sao? Còn hơn thế chứ!
MAI LÂM -    Tôi biết có nói thế nào thì bà cũng không bỏ quá cho tôi

                       đâu? Chuyện đã chót rồi, biết làm thế nào được. Thì... Tôi
                        chỉ biết quì xuống đây để tạ lỗi với bà!...
                  
( Nói xong Mai Lâm quì trước bà Nga sụp lậy. Trước đó ông

                    Bản từ nhà trong đã ra đứng ở cửa phòng. Lúc này bước tới...)
Ô.BẢN -   
(với Mai Lâm) Kìa, ông không phải quì như thế! Lúc đó ông

                      là một tư sản Sàigòn, quân cách mạng ào tới... đã làm ông
                       sợ hãi quá nên mới vội chạy trốn. (im lặng ít phút) Thế mà
                        những ngày tiếp xúc với ông ở Công ty, tôi đã không biết
                       ông là bố đẻ của thằng Tuấn đấy?
MAI LÂM -    Bởi vì dạo đó tôi và ông đã gặp nhau lần nào đâu?
BÀ NGA -   
(với Mai Lâm) Tôi cũng đã kể về ông cho ông nhà tôi đây

                        nghe (chỉ ông Bản) một đôi lần.
MAI LÂM -    Vâng, tôi là quá khứ.
(với ông Bản) Rất cám ơn ông hồi

                       đó đã cứu mẹ con bà ấy ra khỏi sự hoạn nạn!
Ô.BẢN -    Khi đó tôi cùng với quân giải phóng tràn vào để giải phóng
                       thành phố Sàigòn. Thế rồi, tôi gặp mẹ con cô ấy đang
                       hoang mang, bơ vơ...
MAI LÂM -    (với bà Nga) Tôi biết lỗi của tôi không thể tha thứ!
                       Nhưng... bao nhiêu năm qua, khi từ Mỹ trở về lại Việt
                     Nam sinh sống... tôi vẫn mong tìm lại con, tìm gặp lại bà.
                     Tôi đã cất công ra Hà Nội nhiều lần...
BÀ NGA -   
(với Mai Lâm) Chẳng lẽ gặp thằng Tuấn ông lại có thể nhận

                       ngay ra nó?  Khi ông bỏ chạy sang Mỹ, thằng Tuấn  chỉ
                       vừa mới biết đi.
MAI LÂM -    Ngay lần gặp đầu tiên  tôi đã cảm thấy có cái gì ngờ ngợ

                       trên khuôn mặt nó.
Ô.BẢN -    Giờ tôi mới nghĩ, khuôn mặt thằng Tuấn có nhiều nét giống

                   ông!... mới lại, linh cảm của giác quan thứ sáu mà: Nó cùng
                  dòng máu với ông!
MAI LÂM -   (với bà Nga) Rồi cái tên của nó, dĩ nhiên là tôi phải nhớ
                     chứ! Cả tuổi tác của nó cũng vậy. (sôi nổi) Và... cả cái sẹo
                      dài ở đuôi mắt trái của nó nữa, bà còn nhớ chứ? Bà đã để
                    cho con ngã từ trên phản xuống... vập mặt ngay vào đầu
                      nhọn của chiếc tràng kỷ, làm thằng bé chảy bao nhiêu
                     máu?
BÀ NGA -    Ông còn nhớ kỹ đến thế cơ à?
MAI LÂM -    Cứ thế tôi lần tìm. Tôi bỏ cả ăn uống theo từng bước đi

                      của nó. Có lần tôi đã theo nó đến đây, nhưng chỉ dám đứng
                     từ xa nhìn theo con... rồi tôi đã nhìn thấy bà ra mở cửa?
BÀ NGA -    Và thế là... Ông biết chắc chắn thằng Tuấn chính là đứa

                     con trai đẻ, mà ông đã bỏ để chạy trốn một mình sang Mỹ?
Ô.BẢN -   
(can) Thôi, cô trách cứ ông ấy mãi làm gì? Chuyện đã qua

                   rồi!
BÀ NGA -   
(với Mai Lâm) Thế, sao lúc đó nhìn thấy tôi ra cửa... ông

                        không vào nhà. Có ai ăn thịt ông đâu?
MAI LÂM -    Tất nhiên, trông thấy bà là tôi  đã muốn đến để gặp mặt

                       ngay, nhưng rồi... tôi lại sợ không dám giáp mặt. Mới lại ,
                       khi ấy tôi cũng đang vội tìm cách để cứu con !... Bởi vì
                       trước đó tôi phát hiện ra: thằng Tuấn đang bị người ta có
                        âm mưu làm hại?
BÀ NGA -    Thế, bây giờ thằng Tuấn ở đâu?

                                     ( Tuấn và Trâm từ cửa bước vào )
BÀ NGA -    (ôm lấy con) Con tôi! Thế mà mẹ sợ quá. Kìa cháu Trâm!

                      Có tới nửa năm nay cô mới lại gặp cháu?
TRÂM -    Dạ, cháu cũng bận nhiều việc quá!
MAI LÂM -    Cô Trâm cũng đã giúp tôi để cứu thoát cho thằng Tuấn

                      đấy!
BÀ NGA -   
(với Trâm) Thằng Tuấn nhà cô đã gặp may.
TRÂM -   
(quay sang Tuấn) Chỉ có mình em là không may mắn, có phải

                     thế không anh Tuấn?
 TUẤN -    Anh lại nghĩ cả hai chúng ta không ai may cả.
 Ô.BẢN -   
(với Mai Lâm) Giờ ông hãy kể cho chúng tôi nghe về việc ông

                    đã cứu thoát cháu Tuấn như thế nào?
MAI LÂM -    Kể ra thì chuyện cũng đơn giản. Tôi có những mối quan

                  hệ để theo dõi sát cậu Tài. Khi gặp cậu Tài đi lại với thằng
                  Hốt, là tôi biết ngay! Tôi biết thằng Hốt này từ ở trong
                   Sàigòn.
TRÂM -    Nó chính là một thằng lưu manh đã bị nhiều tiền án , tiền sự.
MAI LÂM -    Hiện nó cũng đang có án bị truy nã, thế là tôi liền báo

                 Cảnh sát.
BÀ NGA -   
(với ông Bản) Còn thằng Tài thì... ông cũng phải nghĩ cách

                  gì chứ?
Ô.BẢN -   
(thở dài) Còn biết nghĩ cách gì? Thôi thì, việc đó đã có cơ

                  quan tư pháp họ làm.
BÀ NGA -    Đằng nào thì cũng tội! (với Mai Lâm) Thế còn ông, bây giờ
                  ông định thế nào?
MAI LÂM -    Nếu tôi có thể chuộc lại được những lỗi lầm xưa?
BÀ NGA -    Nhưng thằng Tuấn thì dứt khoát tôi không cho nó đi đâu

                     cả.
Ô.BẢN -    Thì cô cứ để... xem ý kiến của con nó thế nào?
TUẤN -   
(với Mai Lâm) Tôi lại chỉ muốn nói về công việc?
MAI LÂM -    Ta sẵn sàng làm tất cả vì anh!
TUẤN -    Đã đành ông là một thương nhân thì có quyền mua đi bán lại,

                   đó chưa phải là điều ác. Nhưng với lô hàng ông đã mua vừa
                    rồi: Đó không phải là hàng riêng của bà Minh Phương hay
                      ông giám đốc?... Thế mà, ông đã tạo cơ hội làm ăn phi
                      pháp để cho họ gian lận, vơ vét tiền của... đục khoét của
                   nhà nước?
MAI LÂM -    Sẽ không bao giờ ta còn để cho bọn người vô nhân, vô
                  đức ấy, qua ta làm giầu cho cái tính tham lam của họ nữa.
                   Ông già này có thể hứa với anh...
TRÂM -  
  (với Tuấn) Nghĩa là anh đã đồng ý vào trong đó? Ý em muốn

                    nói là vào sống trong Sàigòn ấy?... Dù sao ông Mai Lâm
                    đây...
TUẤN -    Vào luôn ở trong đó với em chứ gì?
TRÂM -    Thì tốt quá chứ sao? Được cả mọi bề. Thì ông Mai Lâm cũng

                   vẫn là...
TUẤN -   
(cắt ngang) Thực tế còn quá nhiều mâu thuẫn, Trâm ạ! Mà cả

                      hai chúng ta chưa ai có quyền lựa chọn?
TRÂM -    Sao lại...
                   
(lúc này ông giám đốc Lãm hớt hải từ ngoài chạy bổ vào)
Ô.LÃM -    Anh Bản!... Cháu Tuyết nhà tôi, cháu đã bị....
TUẤN -   
(xô lại) Ông nói cô Tuyết bị làm sao?
Ô.LÃM -    Khổ thân tôi, nó đã uống thuốc ngủ quá liều! Nó đã uống hết

                    cả một lọ thuốc ngủ, nên đã...
Ô.BẢN -    Chết! Anh phải cho cháu đi ngay bệnh viện.
Ô.LÃM -    Tôi đã cho cháu lên bệnh viện rồi, nhưng không cứu được.
TUẤN -    Nhưng tại sao? Tại sao tự nhiên cô Tuyết lại đi uống thuốc

                ngủ nhiều như thế?...
Ô.LÃM -    Tại sao à? Tại vì anh đấy!... Nó tưởng rằng anh đã bị bọn

                     thằng Hốt nó giết rồi, cho nên nó mới uống thuốc ngủ tự
                   vẫn để theo anh. Khổ thân tôi!...Con tôi, tội tình gì mà con
                     lại phải làm như thế con ơi!
BÀ NGA -    Thật là tai bay vạ gió, sao cơ sự lại có thể xẩy ra khốn khổ,

                     khốn nạn như thế chứ? Thôi, mọi người  khẩn trương mà
                      lên viện xem người ta có thể cứu nổi cháu không?
TUẤN -    Cô Tuyết đang nằm ở viện nào?... Ông hãy dẫn chúng tôi đi
                   ngay !
            
( Ông Lãm lập cập ra cửa. Tuấn và mọi người vội vàng ra theo ông)


                                                 MÀN

 
 
 
                                   CẢNH CHÓT

                          ( Một ngôi mộ trên một quả đồi.
              Vào một buổi sáng, bầu trời trong mát, những cánh bướm
             bay rập rờn quanh mộ. Có rất nhiều vòng hoa đặt quanh đó,
             đều là hoa trắng dành cho các cô gái.
                Phía sau ngôi mộ ở một khoảng trời xa... hình tượng một
             dàn hoả thiêu, ngọn lửa đang bốc cao. Trên đó -
             Minh Phương và Tài, chúng đứng dang hai tay như thể bị
             đóng đinh.
  

                         MÉ NỬA TRONG  SÂN KHẤU:
            

          Từ một con đường phía trong đi ra -  Hai viên cảnh sát
             áp tải Hốt đi về phía mộ. Đến sát mộ, Hốt cúi gập người quì
             gục xuống. Hai cảnh sát cũng ngả mũ chào.

 
                          MÉ NỬA NGOÀI  SÂN KHẤU:
       

           Đường bên này - Ông Lãm run rẩy tiến về phía mộ. Ông
           thắp hương rồi quì xuống trước mộ con.
                Đường bên kia - Là một dòng người, họ cũng đang tiến về
        phía mộ.Đi đầu là Tuấn, sau đó tiếp đến Trâm, bà Nga, ông Bản,
        Mai Lâm, bác thường trực, anh Trương... cùng tất cả các diễn
        viên tham gia kịch.
            Tuấn tránh ra, mọi người lặng lẽ đến trước mộ đặt hoa,
        thắp hương rồi đứng về bên.
             Cuối cùng Tuấn đi về phía ông Lãm... )

TUẤN -    (trao cho ông Lãm tập hồ sơ) Đây là toàn bộ hồ sơ về lô hàng
                   Rô-ten-bớc, tôi xin trả lại ông!... Giờ nó không còn cần thiết
                  nữa.
                               
  ( anh đến bên mồ Tuyết thắp hương )
                 Em không còn nữa trong cuộc sống của chúng tôi.
                 Khi em còn sống, chúng tôi vẫn chưa thể mang lại cho em

                  phần tốt đẹp nhất của con người. Thì giờ đây - Hỡi cả trời
                 đất, hỡi cây cỏ, lá hoa... hãy đắp dầy lên mồ em, hãy tưới mát
                 lên thi thể , tâm hồn em những vầng ánh sáng và hương thơm
                 ngát nhất của thiên nhiên!...
                     
(Trâm đến nhẹ nhàng kéo Tuấn Đứng dậy. Anh hướng về

                phía mọi người. Họ lại lặng lẽ đi qua ngôi mộ chào vĩnh biệt cô
                        gái)
TUẤN -    (tiếp) Chúng tôi đã im lặng,im lặng đi như thế...để vĩnh biệt
                   người con gái. Đã không có ai nói... và cũng không thể có lời
                    nói nào nói được nhiều hơn sự im lặng này!...
                
( Mọi người lần lượt ra khuất. Hai người công an  cũng đứng
           dậy đi trở lại phía trong.
              Hình tượng dàn hoả thiêu cũng biến mất. Cuối cùng Tuấn và
           Trâm cũng ra khuất nốt.
               Giờ đây chỉ còn lại nấm mồ: hương khói, không gian trong
           mát, những cánh bướm vẫn bay rập rờn và gió... )

                                     TIẾNG TỪ TRONG HẬU TRƯỜNG:
          
                   Những năm tháng qua người đời vẫn tới đây để thắp hương

               lên mồ em... Có ai đó đã đề lại mấy mấy câu thơ - Lời thơ đó
                 như sau:
                   
      Người con gái đã không còn
                     Thời gian theo lớp thời gian đắp dầy
                     Chàng trai ấy vẫn qua đây
                     Cắm nhành hoa trắng, vờn bay bướm hồng,
                     Nắng hanh lại đến mưa giông
                     Cỏ xanh lút mảnh gương trong đáy trời
                     Cây lá rụng, gió tơi bời...
                     Tháng năm qua tháng năm rồi cũng phai.
                                           
 
                                       ( âm nhạc... màn từ từ hạ )



                                                   HẾT KỊCH

                                              PHẠM NGỌC THÁI
    
                                            
<bài viết được chỉnh sửa lúc 13.03.2011 00:23:36 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 11.04.2011 11:55:39
.

          Thời gian qua nhà thơ Trúc Thông có chọn bài "Chiều hoàng hôn" trong Tuyển thơ tôi để bình & đăng báo, sau đó anh đã cho in vào tập sách "Bình thơ hay" của đương đại - Tuy bài bình của anh cũng chưa thật sự được thoả đáng, song vẫn xin lưu lại vào đây làm kỷ niệm & cũng để cho các bạn đọc gần xa tham khảo!!!


         CHIỀU HOÀNG HÔN

              Hồn mây gió lang thang
                Mà đầm đìa mưa bão
                Đời - tư lợi không tham
                Chán trò danh bốc hão.



Chưa đi đến tuổi già
Mà yêu hoàng hôn đỏ
Chợt nhìn, chợt nhận, chợt xôn xao...


Soi mặt nước xanh veo
Trầm tư và lặng lẽ
Đàn muỗi phố đã kêu
Quanh bàn nơi quán nhỏ
Chiều đang buông dần chiều.


Sợi tóc mình ngơ ngác
Có nên bạc hay không?
Tuổi trẻ sợ già nhanh
Giờ điềm nhiên đến lạ
Cái mầu hoàng hôn đỏ
Cháy như là khai sinh!


Ôi, hoàng hôn hoàng hôn
Trái tim là bất diệt!
Ngày mai anh có chết
Cũng nhẹ như lá vàng.


Mang suối tóc của em
Đi rồi yêu vĩnh viễn
Anh sẽ hoá rừng thông
Ngàn năm reo cát, sóng...

              Phạm Ngọc Thái




              Lời BÌNH TRÚC THÔNG

   
    Bài thơ được viết một mạch vì đã đi vào trúng mạch, thơ dần dần hiện ra ở khổ thơ thứ ba:

... Tuổi trẻ sợ già nhanh
Giờ điềm nhiên đến lạ


Chính mạch đây rồi! Thơ lập tức vọt ra:

Cái màu hoàng hôn đỏ
Cháy như là khai sinh!


Khai sinh cái gì? Khai sinh một thức ngộ:

Ngày mai anh có chết
Cũng nhẹ như lá vàng


Thật sung sướng, thật hạnh phúc khi tự mình thức ngộ, sở hữu một triết lý sống an nhiên, tự chủ, tự tin đến vậy. Coi chết không là gì, để sống đắm đuối hơn, mở rộng tình yêu, tình người đến vô biên:

Mang suối tóc của em
Đi rồi yêu vĩnh viễn


Chỉ là biểu hiện vừa cụ thể, vừa tượng trưng cho nhân tính phát triển cao chứ không phải chỉ khoanh vào một em nào. Người biết thức ngộ: Trái tim là bất diệt! / - Như trong bài thơ này không thể chỉ cuồng say đàn bà một cánh ích kỷ theo lối sở hữu và bạo hành!

Sau khi mạch thơ đã vọt trào tác giả viết tiếp thoải mái và vững vàng hai đoạn nữa. Ý, tình, hình ảnh, âm điệu đều hay. Không quá bốc, vừa sung mãn đúng độ - Để tác giả kết thúc:

Anh sẽ hoá rừng thông
Ngàn năm reo cát, sóng...


Hai đoạn vào đầu, ngẫm đi ngẫm lại cũng vẫn được. Để gây không khí tịnh tiến như ông thày bắt mạch. Vả, lối thơ cảm khoái theo thể năm chữ cũng phải bắt đầu vào dần dần như thế:

Soi mặt nước xanh veo
Trầm tư và lặng lẽ
Đàn muỗi phố đã kêu
Quanh bàn nơi quán nhỏ
Chiều đang buông dần chiều.


Dĩ nhiên cổ thể nhưng ý tình hiện đại. Cảm xúc hiện đại đã làm Phạm Ngọc Thái quên phắt mình đang tuân theo lối thơ năm chữ, buột phá:

Chợt nhìn, chợt nhận, chợt xôn xao...

Sự "nổi dậy" của cảm xúc thơ thời đại mới nhắc nhở rằng: Trong khi tận dụng hết cái cổ điển của thể loại truyền thống, chúng ta có quyền cơi nới, biến động. Nhưng phải tự do trong qui luật của nghệ thuật, nghĩa là mức độ, tiết chế, hài hoà.

Tr.Th

(Bài viết đã đăng trên báo "Đài Tiếng nói Việt Nam" & cũng đã được in vào tập
"100 bài thơ hay - Có lời bình" - NXB Thanh niên, của nhiều tác giả bình như:
Vũ Quần Phương, Vân Long, Trúc Thông, Phạm Khải, Tô Hà, Mã Giáng Lân...
do nhà thơ Vân Long tuyển chọn
<bài viết được chỉnh sửa lúc 11.04.2011 11:58:57 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 09.05.2011 22:59:45
 
.




                                   CỨU LẤY CON TÔI 


                                                              Kịch một màn
                                                 PHẠM NGỌC THÁI 
                                                                  
                                                                     


                 NHÂN VẬT:

1.       ÔNG BỐ

2.       BÀ MẸ

3.       THẮNG                 Con trai

4.       HẰNG                   Chị gái của Thắng

5.       PHÚ                     Bạn học trước đây của Thắng 



                    Kịch xẩy ra trong một gia đình ở thành phố
  
 
 
 
 
                                  MỞ MÀN
 
                              (Buổi sáng, phòng ngoài gia đình một cán bộ viên chức. Có một lối
                         lên cầu thang gác trên, phía dưới là lối vào nhà trong & bếp, bên kia 
                         là cửa ra vào. Sân khấu không có ai. Bóng hai thanh niên thập thò ngoài
                         cửa: Đó là Thắng & Phú! 
                             Trong lớp kịch đầu tác giả có ý không nhắc đến tên của 2 thanh niên)
 
THẮNG-    Xuỵt. Tôi đã bảo ông đứng ở ngoài chờ, ông cứ xồng xộc đi vào? Nhà có người
             đấy!
                   (Thắng chỉ tay lên cái túi da nữ sinh của Hằng, đang treo ở trên tường)
             Kia kìa! Cái túi xách của chị gái tao còn treo ở kia, nghĩa là chị ấy vẫn ở nhà.
             (ngó vào trong) Hình như trong bếp có cả tiếng của mẹ tao đang nói?
PHÚ -    Sợ cái cóc khô gì?
THẮNG -   Nhưng gia đình nhà tôi không ai muốn nhìn thấy cái mặt ông... bám theo tôi!
PHÚ  -    Để tiền ở đâu đi lấy nhanh lên, rồi chuồn! Đừng có đứng đấy mà cứ lải nhải mãi
            thế?
THẮNG -  Ông đứng ở đây chờ, Đừng có mà theo tôi lên gác đấy!

                            (Thắng vứt cái mũ vải đang đội xuống bàn rồi lên gác trên. Phú gian
                           giảo nhìn khắp phòng. Hắn đến lục lọi chiếc túi xách của Hằng, vô
                           tình đánh rơi thỏi son ra sàn nhà... lôi ra một chiếc ví nhỏ) 
PHÚ  -  (một mình) Tưởng có vòng xuyến hay là cái dây chuyền vàng? Toàn gương lược, 
             son phấn của đàn bà!...(khẽ reo) À, tiền đây rồi! Chậc, mấy cái đồng bọ... cũng   
           tốt chán, còn hơn không.
                          (Hắn đút tiền vào túi quần sau. Trông thấy chiếc đồng hồ báo thức đặt
                           trên một chiếc giá nhỏ, Phú ngó quanh rồi cầm lấy giấu tay ra sau 
                           lưng. Thắng từ trên gác xuống)
PHÚ  -  (hất hàm hỏi) Tất cả được bao nhiêu?
THẮNG - Chỉ có một ít mẹ tao cho để mua sách ôn thi đại học, sáng nay vội đi nên tao 
             quên. Bây giờ lấy mang đi như thế này là tao không có sách học nữa?
PHÚ  -  Mày có thể quên cái việc học hành của mày đi được rồi đấy! Nào, đưa đây tao 
           xem? Ồi, thế này ít quá, bõ bèm gì? Thế, cái nhà này không còn gì để cho mày 
           xoáy nữa à?
THẮNG -  Thôi đi ông ạ! Mà mày đang dấu cái gì ở sau lưng đấy? Không được. Đây là 
           chiếc đồng hồ báo thức người ta đã tặng bố tao! Đồng hồ Thuy Sĩ, loại xịn đấy!
PHÚ  -  Vì nó là loại xịn nên tao mới lấy! Chứ loại đồng hồ báo thức thường, lấy làm gì
           cho bẩn tay. Thôi, chuồn đi nhanh lên! Tao nghe như có tiếng bước chân người
           đang ra đấy? Mà... tao cầm cái đồng hồ này đi là để cho mày bán thêm lấy tiền 
           mà chơi, chứ tao không thèm lấy!
THẮNG - Mày đúng là một thằng lưu manh, toàn gây hoạ cho tao! Ông bố tao về mà biết 
           mất cái đồng hồ này, gia đình nhà tao lại ầm ĩ lên cho mà xem.
                                  (Chúng đi khuất, bà mẹ và Hằng từ nhà trong bước ra)   

 
 





<bài viết được chỉnh sửa lúc 12.05.2011 13:00:44 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 07.06.2011 00:07:21
.

BÀ MẸ -  Không biết bố con có tìm thấy em Thắng không, giờ vẫn không thấy về? Mẹ sốt
              ruột quá!
                (Hằng nhìn thấy chiếc mũ Thắng để quên trên bàn)
HẰNG  -  Mẹ ơi, Thắng nó vừa về đây mẹ ạ! Chiếc mũ nó vứt lại ở trên bàn kia kìa
B.MẸ -   Thảm nào, lúc ở nhà trong mẹ thoáng nghe có tiếng nói ở ngoài này.
                (Hằng lại nhìn thấy thỏi son rơi trên sàn nhà)
HẰNG  -  (Nhặt thỏi son) Sao thỏi son của con lại rơi ra đây thế này?
                (Hằng vội đi đến mở cái túi xách của mình để kiểm tra. Thấy mất tiền
                  trong ví mặt cô thần ra)
B.MẸ   -   Bị mất cái gì thế con?
HẰNG  -  Chỉ có ít tiền mẹ cho con để đi học, em nó cũng móc ví lấy mất mẹ ạ!
B.MẸ  -   Chết, thằng Thắng mà lại sinh ra đổ đốn đến thế à?
HẰNG  -  Tiền thì chả đáng gì nhưng con cũng thấy xót xa: Vì sao em trai của con nó
             lại đối xử với chị gái của nó tồi tệ đến như thế được?
B.MẸ  -   Em nó hư hỏng đến như mức này thì mẹ sợ quá con ạ?
HẰNG  -  Con cũng chả còn hiểu ra sao nữa? Học xong lớp 12 đã phải thi lại rồi mà nó vẫn
            thi trượt đại học! Bây giờ nó cũng chẳng chịu học hành ôn luyện bài vở... thì kỳ
             thi tới này lại trượt nốt mất thôi?
B.MẸ  -  Biết tìm em nó ở đâu bây giờ hở con?
                (Hằng lại chợt nhìn lên thấy mất chiếc đồng hồ báo thức)
HẰNG  -  (kêu lên) Cả chiếc đồng hồ báo thức?
B.MẸ  -   Hả, con nói... 
HẰNG  -  (giọng thiểu não) Nó mang cả cái đồng hồ báo thức đi rồi!
                (Bà mẹ lặng đi ngã thỉu xuống sàn, Hằng vội đỡ mẹ)
HẰNG  -  (tiếp) Mẹ đừng làm con sợ? Mẹ cứ bình tĩnh, rồi con sẽ đi tìm em nó!
B.MẸ  -   Con ơi! Cái đồng hồ ấy là người ta tặng để làm kỷ niệm cho bố con. Bố con quí
             bạn nên cũng qúi nó lắm! Nếu bố con mà biết thằng Thắng nó lấy mang đi bán
             mất rồi, thì ông ấy giết nó mất!
                     (Ông bố xuất hiện ngoài cửa)
B.MẸ  -   (vồn vã) Ôi kìa, vừa nhắc đến là ông đã về.
                      (ra hiệu cho Hằng là đừng cho ông biết)
Ô.BỐ   -   Có chuyện gì thế?
B.MẸ  -   Làm gì có chuyện gì. Thế nào, ông có tìm thấy con không?
Ô.BỐ   -   Chả thấy nó đâu! Tôi đã đến cả nhà thằng Phú, mặc dù gia đình nó nói là:
             không biết! Nhưng tôi đoán chắc thằng Thắng đã đi theo thằng Phú?
B.MẸ   -   Ông cứ đoán già đoán non chứ...có lẽ con nó quá đà lêu lổng đâu đấy. Nó
             đã chả hứa: sẽ không bao giờ con quan hệ, chơi bời với cái thằng Phú lưu manh,
             bụi đời ấy nữa.
Ô.BỐ   -   Bà đi mà tin lời hứa của nó. Còn tôi, chẳng thà tôi tin hà bá hơn.
HẰNG  -   Nhưng từ khi bố đã đuổi thằng Phú ra khỏi nhà, con thấy nó có còn dám bén
             mảng đến đây để lôi kéo em Thắng nữa đâu?
Ô.BỐ  -   Đuổi được nó ra khỏi nhà, chứ ai ngăn cấm được nó lôi kéo thằng Thắng ở
             ngoài đường? 
 
  
<bài viết được chỉnh sửa lúc 07.06.2011 11:38:44 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 05.07.2011 13:50:32
.

B.MẸ - (với Hằng) Hay... con có biết em nó chơi bời ở những chỗ nào, đi tìm em nó về?
HẰNG -  Con làm sao mà biết được, bố con còn thạo hơn con!
Ô.BỐ -   Mà cái thằng Phú bây giờ thì... cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm, có khi lại còn cả xì ke 
         ma tuý không biết chừng? Cái gì nó cũng đủ ngón.
B.MẸ -   Ông nói làm cho tôi lo quá! Cũng phải tìm cách để ngăn chặn con nó. Tôi sợ con
        mình không khéo cũng bị hư hỏng vì cái thẳng Phú ấy mất?
Ô.BỐ -   Thằng Thắng nó hỏng rồi, bà còn nói không khéo cái nỗi gì? Nó hỏng thật rồi, bà
         hiêủ chưa?
B.MẸ -   Thì ông làm cái gì mà cứ quát lên như thế?
Ô.BỐ -   Nó làm cho cái gia đình này không còn ra thể thống, danh giá gì nữa.
B.MẸ -   Có cái tính khí nóng nẩy của ông làm cho nhà này rối thêm lên thì có!
HẰNG -   Bố mẹ cứ cãi vã nhau như thế cũng không giải quyết được chuyện gì? (với ông
          bố) Bố thì quá khe khắt, lại còn nóng tính nữa. Có lúc bố cũng phải dùng tình cảm 
          thuyết phục em nó mới được. Nếu lúc nào bố cũng chỉ mắng mỏ, có khi nó lại sinh
          ra phẫn chí!
B.MẸ -   Đấy, con nó nói ông như thế là rất đúng!
HẰNG -   (với mẹ) Con biết mẹ rất thương chúng con. Nhưng mẹ cũng không nên nuông
         chiều em quá!
Ô.BỐ -   Con nói rất phải. (với vợ) Bà là bà chúa nuông chiều, nên nó mới ngày càng sinh 
       hư như thế?
B.MẸ -   Ông giỏi sao không làm cho nó ngoan đi? Đối với con thì cũng phải có tình cảm
          một tý! Đằng này, lúc nào cũng chỉ biết nghiêm khắc.
Ô.BỐ -   Lần này thì tôi để cho mẹ con bà tha hồ tình cảm với nhau, xem nó có tốt hơn 
            không?
B.MẸ  -   Không cần ông phải dậy...
Ô.BỐ -   Nhục nhã vì con. Một thằng con như thế thì chẳng thà không có còn hơn?
HẰNG -   Ồi, bố mẹ thật là?...
B.MẸ -   Tôi nói cho ông biết: Khối người thèm rỏ rãi một thằng con trai mà không được 
            đấy! Ngay như nhà ông vụ trưởng mới dọn đến ở giữa phố kia kìa: Sẵn của, mới
           lấy một cô vợ bé trẻ măng. Mua cho cả một căn nhà gác riêng để ở. Vợ trẻ thì có
           trẻ, đẹp cũng hơi đẹp! Nhưng rồi rặn mãi có đẻ được đâu? Cả hai anh chị... hết
           viện này đến viện khác để chữa chạy. Ông ta tuyên bố: Nếu cô vợ bé của ông ta 
           mà đẻ được một cậu con trai, thì sẽ bỏ cả trăm triệu để đãi khắp phố. Nhưng rồi 
             ngỗng vẫn hoàn ngỗng?
Ô.BỐ -   Có cái ông vụ trưởng ấy mới háo như thế, chứ tôi thì...
B.MẸ -   Chỉ bởi vì ông không biết quí người, quí của. Có một đứa con trai khoẻ mạnh, to 
            lớn như thế mà còn rẻ rúm? Nó vẫn còn ngoan hơn khối thằng thanh niên khác!
Ô.BỐ -      Nói như bà... nó đổ đốn, hư thêm là phải? Thôi, tôi lên gác đây!
B.MẸ -   Phải, ông lên gác đi!
                         (Ông bố xầm xầm bỏ lên gác)
HẰNG -   (lại phía mẹ) Mẹ khổ nhiều, nhưng bố con cũng chả sung sướng gì hơn!
B.MẸ -   (thở dài)  Con cũng cố lựa lời mà khuyên em. Nhà này, nó quí chị và nghe lời chị
            nhất đấy!
HẰNG -   Thì con khuyên bảo nó vẫn vâng, dạ... Nhưng chỉ được hôm trước, hôm sau bị lũ 
            xấu lôi kéo nó lại quên hết!
B.MẸ -   (nói nhỏ) Những thứ em nó lấy vừa rồi con chớ cho bố con biết vội nhé?
HẰNG -   Con biết rồi!
Ô. BỐ -   (quát từ trên gác) Dứt khoát là nó lại sa vào hội cờ bạc nào rồi?
B.MẸ -   Cờ bạc gì. Nó đi chơi đâu đấy!
                         (bỗng bà nhìn thấy gói xôi để trên bàn)
            Giời ơi, khổ tôi chưa? Thế là nó vẫn chưa kịp ăn sáng đây! (cầm gói xôi nói với 
               Hằng) Gói xôi này sáng ngày mẹ mua để cho em nó, lại tưởng nó ăn rồi... thì
             ra vẫn còn nguyên. Sao lúc em nó ngủ dậy, con không bảo em nó ăn ngay. Chưa 
         kịp ăn sáng thế này, không khéo lại đói lả ra mất?
Ô.BỐ -   (vừa bước xuống cầu thang vừa tức tối) Giời ạ! Đến nước này mà bà vẫn còn quan
         tâm đến cả xôi với chả chè?
B.MẸ -   Tôi không qua tâm tới xôi chè, mà tôi quan tâm tới con!
Ô.BỐ -   Phải, chỉ mình bà quan tâm tới con!


 
 
 
 
                      


 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2011 14:16:58 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 04.08.2011 02:26:02
.

B.MẸ  -   Động một tý là ông quát mắng. Thằng bé cứ trông thấy ông là mặt mày tái xanh 
           tái ngắt. Ông chỉ cái giỏi đe nẹt, cậy ta đây là bố!
Ô. BỐ  -  Với bà thì... nhà này chỉ mình nó...
B. MẸ  -  (với Hằng) Sáng ngày tôi đã phải rang một nồi cơm rang cho bố con chị. Mẹ đã để
             ở trên bếp cho nóng - Tại sao chị không giục bố chị ăn lấy một bát rồi hãy đi tìm
              thằng Thắng?
HẰNG  -   Con giục rồi! Bố chỉ "hừ" một tiếng, chả thèm ăn, xăm xăm bỏ đi tìm.
                         (bà mẹ cầm gói xôi đến chỗ chồng)
B. MẸ  -   Không phải là tôi không quan tâm tới ông. Nhưng dù sao thì ông cũng đã từng 
             đi tham gia kháng chiến, đã từng chịu đựng hy sinh ác liệt, chịu đói, chịu khổ,
             quen rồi. Đằng này, con nó còn trẻ...
                  (ông bố bực tức cầm gói xôi ném tung toé ra sàn)
Ô. BỐ  -   Này, xôi này!
B. MẸ  -   Ông định ăn thịt tôi chắc?
HẰNG  -  Con xin bố mẹ? Bố mẹ phải bình tĩnh ôn hoà bàn bạc với nhau, mới tìm ra cách 
             để uốn nắn em nó chứ ạ?
Ô. BỐ  -   Nếu thằng Thắng lần này tôi nói không nghe, tự tay tôi sẽ lôi nó lên công an,
             cho nó đi cải tạo!
B. MẸ  -   Ông nói cái gì tôi nghe không hiểu? Bố như ông có mà bố dở hơi! Con cái bị đi 
             tù người ta còn lo lót, chạy cho con ra khỏi tù. Đây bố lại tự tay tống con đi cải
             tạo?
HẰNG  -   Bố con bực thì bố con nói thế, chứ bố con đã làm đâu mà...
Ô. BỐ  -   Với tôi: Sống phải cho ra sống! Con cái lớn lên là phải học hành cho ra đến nơi
               đến chốn.
B. MẸ  -   Thì ai không muốn thế? Nhưng ông chỉ cứng nhắc, quát mắng nó có được đâu?
Ô.BỐ  -   Phải trở thành người hẳn hoi tử tế, có ích lợi cho xã hội.
B. MẸ  -   Nói thì dễ, nhưng dậy được con như thế đâu có đơn giản?
Ô. BỐ  -   Nếu không, chẳng thà...
B.MẸ   -  Chỉ được cái mạnh mồm. Nó mới hơi ốm một tý đã cuống cuồng: nào thuốc
              thang, nào nước nóng, nào chăn đắp...Tôi nói cho ông biết: Chỉ vì cái tính quá
              cứng nhắc dậy con của ông - Nó bảo rằng bố không thương nó?  Những lúc nó
              phẫn chí, chính ông làm cho nó bất cần, lại càng lao thêm vào con đường hư
             đốn.
Ô.BỐ  -   (dằn giọng) Bây giờ bà lại đổ tất cả cho tôi!
HẰNG  -   (rên rỉ) Cứ sống mãi cái nhà này, con cũng đến loạn thần kinh mà tâm thần mất.
              (với bố) Bố cũng điên rồi!
Ô. BỐ  -  (sốt ruột)  Đến giờ này mà nó vẫn chưa về? (với Hằng) Con xem mấy giờ rồi?
              (nhìn lên tường) Ơ kìa! Cái đồng hồ báo thức đâu rồi?
                             (Hằng lúng túng, bà mẹ cũng chưa biết nên xử trí thế nào?)
Ô. BỐ  -  (tiếp) Thôi chết rồi! Đúng thằng Thắng nó đem đi , lại lao vào đám cờ bạc rồi?
             (với bà mẹ) Bà còn bảo: Con nó đã hứa là không chơi cờ bạc nữa đi? Đúng là con
              hư tại mẹ!
HẰNG  -   Bố cũng nên bình tĩnh, rồi con sẽ đi tìm em nó!
Ô. BỐ  -   Nó đã đến thế này thì không thể tha cho nó được! (với bà mẹ) Tôi sẽ đi tìm
              bằng được, rồi lôi cổ nó về đây!
B. MẸ  -   (hốt hoảng ngăn chồng) Con nó cũng đã chót dại rồi! Nếu ông nóng nẩy quá thì..
             ..(với Hằng) Hãy giữ bố con lại?
HẰNG  -   Con xin bố! Dù sao em nó cũng đã chót rồi, Cứ từ từ để con hỏi han xem cụ thể
              nó ra sao, rồi liệu cách giải quyết?
Ô. BỐ  -   Lại là cái đồng hồ người ta tặng tôi làm kỷ niệm nữa, bà hiểu không? Thế mà nó
               dám lấy đi!
B. MẸ  -   Thì cũng đã biết sự thể ra sao đâu? Biết đâu con nó chỉ mượn tạm, mang đến
              nhà bạn bè học hành hay dùng vào việc gì đó!
Ô. BỐ  -   Có mà nó mang bán, mang đặt vào đánh bạc thì có!
B. MẸ  -   Nếu nó có chót bán hay đặt ở chỗ gửi đồ... tôi sẽ tìm cách chuộc lại về trả cho
              ông.
Ô.BỐ  -   Không được. Thằng này mất dậy thế này, không thẳng tay trị nó , là không được.
                   (Bà mẹ quay phắt lại thay đổi thái độ với chồng)
B. MẸ  -   Ông ở nhà không được đi đâu cả!
Ô. BỐ  -   Bà này bây giờ to gớm nhỉ? Bà lại ra lệnh cả cho tôi cơ đấy!
B. MẸ  -   Tính ông nóng nẩy thế, nếu tôi để ông gặp nó thì ông sẽ giết nó à?
HẰNG  -   Mẹ con nói đúng đấy! Bố nóng tính, ở nhà. Để con đi. Con lựa lời hỏi han em nó
              xem cụ thể ra sao? Em nó đỡ sợ.
Ô. BỐ  -   Nhưng cô mà tìm nổi nó?


 
             
<bài viết được chỉnh sửa lúc 28.10.2011 11:55:10 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 03.09.2011 12:49:42
.
 
     
HẰNG -   Thì con nhờ thêm đám chúng bạn, hay một số người quen chỉ giúp.
                         (Ông bố vẫn nóng nẩy đi lại khắp phòng)Ô.BỐ -   (với bà mẹ) Như người trị bện hủi phải trị tận gốc! Nếu bà chỉ biết lấy mỗi tình            cảm xuê xoa, ngon ngọt với nó thì... nó chỉ tổ bị hủi thêm.B.MẸ -   Cái ông này, càng ngày ăn nói càng chẳng ra sao? Giáo dục con cái lại đi ví với           người mắc bện hủi. Nghe ông nói đã phát nôn...Ô. BỐ -   Nhưng lần này thì bà phải để cho tôi thẳng tay trừng trị nó!
B. MẸ -   Thì ông đã chẳng từng bao lần thẳng tay mà có được đâu? Chẳng thấy con tốt             lành, làm quá nó khùng lên, lại mất con mất ông ơi!Ô. BỐ -   Mất thì thôi.
HẰNG -   Đấy, bố lại nói thế rồi! (Cô ấn ông ngồi xuống) Thôi, bố ở nhà, con đã nói là để             con đi!B. MẸ -   Phải, con đi đi! Còn ông, cứ ngồi nguyên đấy!Ô.BỐ -   (giơ hai tay lên giời) Nhà này loạn rồi! Như thế này là loạn cả rồi. Mất hết cả            phép tắc rồi.                       (Hằng ra khuất, còn lại hai ông bà)B.MẸ -   Bây giờ chỉ còn ông và tôi, tôi mới nói cho ông hay! Con cái bây giờ chúng nó             không lễ tiết như ngày xưaĐược con tốt đẹp thì mình may. Phải con tinh con            quái, đối sử với nó không cẩn thận, về già nó sẽ rũ tuột ông đi đấy!
Ô.Bố - Thế ra nó là bố tôi chứ không phải tôi là bố nó ?
B.Mẹ - Dù ông là bố nó. Dẫu ông cũng chỉ vì thương nó, lo cho tương lai
          của nó. Nhưng cái kiểu tính khí của ông: không khéo khi tàn hơi, hết
          sức... sẽ phải sống vất vưởng như những ẻ ngoài đường, ngoài chợ.
Ô.Bố - Đạo đức xuống cấp! Đạo đức xuống cấp!
B.Mẹ - Xuống cấp từ lâu rồi! Con cái nó có hư, ông vẫn phải lấy tình cảm 
         để lựa sống với con. Mai sau may ra chúng nó còn để cho ông có phân
         nhờ. Không có con thì còn cái gì mà ông sống nữa ?
Ô.Bố - (Kêu lên) Con là bố, chứ không phải bố là bố nữa, con ơi! (Buồn bã)
         Thôi, tôi lên gác nằm nghỉ một lát cho đỡ mệt mỏi. Kẻo cái đầu của
          tôi nó sắp vỡ tung ra mất (lên gác).
B.Mẹ - Phải đấy, ông lên gác đi! (nói như quát theo chồng) Thời đại hiện
          đại này, tuổi trẻ chúng nó sống hiện đại như vây! Nếu ông không
         biết lựa con, thì chữ “hiếu” nó cũng chẳng cần.
                            (Bà vào nhà trong. Nhạc nổi lên, ánh chớp sang
                            lòe… phụ họa cho một trong những ý tưởng của
                            kịch. Hằng dẫn Thắng từ cửa vào)
Thắng - (tiếp tục câu chuyện) Cái đồng hồ báo thức, thằng Phú lấy chứ em
            không lấy. Em có ngăn cũng không được nó.
Hằng - Nhưng cậu nói cho chị hay, cuối cùng…
Thắng - Nó đưa vào hiệu cầm đồ bán lấy tiền. Nhưng rồi em lại bị thua bạc,
            nó trừ nợ mất rồi!.. Nên em không thể mang về trả lại cho bố được.
            Còn tiền của chị bị mất, thật tình là em không biết. Nhưng chắc
            chỉ thằng chó đểu ấy, chứ còn ai ?
B.Mẹ - (trong nhà chạy ra) Mẹ nghe thấy rồi! Mẹ nghe thấy rồi! Thế thì
           không xong  rồi, con ơi ? Mà mày mất dạy quá con ạ ! Cầm ngay dao
           giết mẹ không bằng.
Thắng – Con xin mẹ hãy tìm cách cứu con. Chỉ một lần nữa thôi, con chót
        dại mất rồi.
Hằng – Em thấy chưa ! Nếu em không kiên quyết từ bỏ lũ bạn xấu ấy, thì
           không biết nó còn lôi em vào con đường tội lỗi đến đâu ?
Thắng – Khổ lắm chị ơi, thì em biết tất cả rồi mà...
B.Mẹ - (với Hằng) Cứ đưa em vào tắm rửa cho sạch sẽ. Quần áo trông bẩn
            thỉu khiếp chưa kìa !
Hằng – Vào đi ! Vào mà tắm rửa, rồi thay quần áo ra để chị giặt cho.
B.Mẹ - Mẹ cũng phải đi nấu cơm ăn cái đã, rồi liệu cách tính sau vậy.
                        (Mọi người định vào. Ông bố bực tức từ trên
                            gác bước xuống)
 
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 01.10.2011 23:07:22
.

 
Ô.BỐ - Cơm nước gì ? Cái con người còn chưa trong sạch thì quần áo có bẩn thế chứ bẩn
          nữa cũng không quan trọng. 
HẰNG - Bố cứ nói em nó thế chứ ? (với Thắng) Thôi vào đi em !
                                                            (Thắng định theo chị vào nhà)
Ô.BỐ - (quát) Ở lại đây tao bảo !
B.MẸ - Thôi, ông bảo con nó lúc khác. Phải để cho con nó tắm rửa, thay bộ quần áo, ăn
          mặc cho tử tế chứ lị. Người với ngợm trông ghê quá ! (mắng thắng) Lại còn không
                 mau theo chị vào nhà trong mà tắm táp cho thân thể nó sạch sẽ đi à ?
Ô.BỐ - Nó lớn rồi chứ, còn bé bỏng gì nữa mà chị nó phải tắm cho ? Bà chỉ rước đường cho
           hươu chạy.
B.MẸ - Muốn gì thì tôi cũng phải vào cơm nước chứ ! Còn tranh thủ ra bán hàng, kẻo chiều
         đến nơi rồi.
Ô.BỐ - Bà có phải nghỉ bán hàng một buổi cũng chưa chết ai. (Với Thắng) Cái đồng hồ
           đâu ? Tao hỏi cái đồng hồ đâu ?
THẮNG - (lúng túng) Con...Con...
B.MẸ - Ông chả hỏi đầu đuôi câu chuyện gì cả. Lại cứ dồn con nó. Chiếc đồng hồ ấy là tại
          thằng Phú: nó vào nhà, lừa con nó để lấy...chứ con nó có dám tự tiện lấy đi đâu              ?
HẰNG - Đúng đấy bố ạ! Chính thằng Phú nó lấy cắp chiếc đồng hồ của bố đấy. Em nó chả
            bao giờ dám chủ động làm chuyện đó.
Ô.BỐ - Gớm nhỉ! Mẹ con bà vây giờ lại về hùa với nhau giả dối để che mắt cả tôi.
B.MẸ - Cái ông này bây giờ ăn nói mới hay! Ai người ta giả dối để che mắt ông? Sự thật
            nó rành rành như thế chứ!
HẰNG - Bố nghi oan cho mẹ con con rồi! Đúng là thằng Phú nó ăn cắp, chứ em Thắng
            không dám.
Ô.BỐ - Cho dù có thế! Nhưng nếu nó không cùng một duộc ăn cắp với cái thằng lưu manh
            côn đồ ấy, thì ai bắt được nó phải đi theo?
THẮNG - Con cũng chẳng muốn đi theo, tại nó cứ rủ rê con mãi, con...
B.MẸ - Lần này con nó đã biết lỗi, ông cũng tha cho con. Con đã nói đấy: nào nó có muốn
          đi theo.
Ô.BỐ - Lần nào mà nó chẳng biết lỗi. Bà còn bị con bà nó lừa cho suốt đời.
THẮNG - Con không cố ý lừa bố lừa mẹ.
HĂNG - (với Thắng) Lần này em nhớ nhé! Buông thả mình mãi rồi hối không kịp. Lại xin
           lỗi bố đi, rồi nhớ mà tu chỉnh cuộc đời.
Ô.BỐ - Không được. Nếu anh không đem cái đồng hồ ấy về đây thì đừng có nhơn nhơn
           bước chân vào cái nhà này nữa.
HẰNG - Ôi bố! Em nó biết làm như thế nào được nữa ?
                                        (ông bố cứ bực tức đi lại quanh phòng)
Ô.BỐ - (giọng tức tối) Cứ cái kiểu này gia đình nhà này cũng tan nát chỉ vì mình nó thôi,
          bà hiểu không.
B.MẸ - (cũng tức) Thôi được, tôi sẽ đi lấy cái đồng hồ về đây cho ông.
Ô.BỐ - Khổ quá! Tôi nào có ý ép bà phải làm điều đó?
B.MẸ - Mẹ con tôi đã phải nói với ông hết lời. Mà ông vẫn cố chấp bắt ép thằng Thắng...
           thì quá bằng ông bắt ức tôi.
HẰNG - (rên) Con xin mẹ. Con xin cả bố. Sống thế này thì như chết thôi, bố mẹ ơi?
Ô.BỐ - (với Thắng) Anh đã mở mắt ra chưa? Anh có phải là một thằng con vô tâm bạc
           nghĩa hay không? Mẹ anh đã về hưu mất sức vẫn còn phải xách cái giỏ nước                     chè, hộp thuốc là ra vườn hoa ngồi bán. Lấy tiền nuôi gia đình, lo cho cả chị anh
           và anh ăn học. Bố anh, tức là tôi đây này: hồi chỉ mới độ tuổi anh đã lên đường
            vào Nam giết giặc. Chị gái của anh cũng là một sinh viên sư phạm năm thứ tư
            nay mai sẽ là một cô giáo. Gia đình căn bản nề nếp như thế mà anh đem bôi nhọ.
            Người ta nuôi con chó, con mèo: nó cũng còn biết công chủ giữ nhà, bắt chuột.
            Thật, thật suy nghĩ của anh chưa bằng con vật.
B.MẸ - (giật giọng) Thắng! Con đặt cái đồng hồ ở hiệu cầm đồ nào? Đặt bao nhiêu? 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 01.10.2011 23:18:38 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 28.10.2011 11:38:50
.
  
THẮNG - Thằng Phú nó đặt chứ con không đặt. Số tiền con không nhớ rõ. Nhưng nó đưa

            cho con cái các-vi-zít của cửa hiệu, để nếu chạy được tiền thì đi chuộc về.
                             (Thắng đưa tấm các cho Hằng)
                                                                                                                                                                                            B.MẸ - Hằng! Theo mẹ. Hai mẹ con đến cửa hiệu cầm đồ để chuộc lại cái đồng hồ về cho
           bố con !
Ô.BỐ - Mẹ con bà muốn làm như thế nào thì làm. 
                                (ông giận dỗi bước ra khỏi nhà)
B.MẸ - (Với Thắng) Lần này thì con nhớ đời nhé! Con làm khổ tất cả mọi người. (với Hằng)
             Đi thôi con! (với Thắng) Còn con, ở nhà mà lo việc học hành, ôn thi đại học
            đi!
                 (Bà mẹ và Hằng ra khuất. Còn lại mình Thắng. Bóng Phú chập chờn ngoài cửa)
PHÚ - (vào) Tao vừa thoáng trông thấy, bóng ông bà già và bà chị gái của mày đi ra phố.
THẮNG - Cho nên máy mới thừa cơ để xộc vào đây, phải không ? Tôi đã bảo với ông rồi:
          đừng có vác cái mặt ông đén nhà này nữa!.. Tôi đang sống dở, chết dở đây.
PHÚ - Thế thì lại đi xả hơi với tao ? Nghĩ làm chó gì cái đời này hco nó mệt đầu. Này,
           xem... (mắt nhìn quanh) Còn những thứ gì có thể đáng giá, xoáy lấy vài cái. Lại đi
            với tao ra hiệu cầm đồ... tiếp tục.
THẮNG - Xin bố. Xin bố. Bố xéo nhanh đi cho con nhờ. (Lấy tay đẩy Phú ra khỏi cửa) May
           mắn nhất cho tao là mày nên cút đi, kẻo nhà tao về đến nơi bây giờ đấy.
PHÚ - Còn nợ tiền chưa trả được cho tao, thì đừng có giở cái giọng ấy ra !
THẮNG - Thì ông cũng biết, tôi làm gì còn tiền. Có mấy món đồ có thể bán được, thì ông
            đã nướng sạch trong đám bạc rồi. Số tiền nợ ông, từ từ tôi sẽ tìm cách trả cho
                 ông.
PHÚ - Mày trên răng dưới cái tút, nếu không tìm cách phục thù thì biết đến bao giờ mới trả
            được cho tao ? Nhưng chỗ bạn bè, tao cũng đến mức cạn tàu ráo máng bắt 
           mày phải trả ngay. Thế nên tao mới bảo: xem nhà cửa xoáy lấy vài cái đáng giá
           một tý... rồi theo tao đi gỡ lại. Biết đâu lần này mày chả thắng ! Khi đó, mày vừa
           hoàn trả lại cho gia đình, lại vừa xông xênh.
THẮNG - Tao không cờ bạc nữa đâu, tao còn phải ôn thi đại học.
PHÚ - Ồi, đại học làm cái chó gì. Khối thằng kỹ sư thất nghiệp kia kìa ! Mất công khốn khổ
           mấy năm đại học, không tìm được chỗ làm, làm toàn lăng nhăng kiếm tiền mà
           sống. Cứ như tao đây này, vẫn sướng như vua.
THẮNG - Tao đã bảo dứt khoát là tao không đi nữa. Mày đi về đi !
PHÚ - Mày nói thật đấy chứ ?
THẮNG - Đời tao theo chúng mày thế là quá đủ rồi.
PHÚ - Thế mày đưa tiền đây ? Rồi đây chuồn
THẮNG - Mày bắt bí tao ? Dồn tao vào con đường cùng à ?
PHÚ - Tiền nong thì phải sòng phẳng, có thế thôi.
THẮNG - Nhưng khi hết tiền, tao đã nói là tao không chơi nữa. Mày tự động rút tiền đưa
           cho tao. Khích tao chơi tiếp... Chính mồm mày đã nói: chỗ bạn bè tiền nong
           không đáng gì. Bao giờ có trả mày cũng được. Bây giờ máy, mày... thật là một
           thằng đểu cáng.
PHÚ - Thằng ngu. Tao cho vay để tạo thêm cơ hội cho mày phục thù. Đánh thắng, ít nhất
           là mày cũng thu hồi lại được số tiền của mày đã mất. Đã gọi là cờ bạc bịp ! Chỉ
            có thằng đần như mày... đã đánh bạc lại còn muốn thật thà, trong sáng. Thua là
           phải. Đừng có nói lằng nhằng. Khôn hồn thì tìm cách trả tao.
THẮNG - Thì tao có nói là tao không trả đâu ?
PHÚ - Mày đã biết luật rừng rồi chứ ? Mày định phản lại đồng bọn, rút chạy à ?
THẮNG - (mặt hơi biến sắc) Tao đâu có phản lại đứa nào ? Tao chỉ ...
PHÚ - Bỏ đồng đội, tức là làm phản. Luật giang hồ mà... (vỗ về Thắng) Không chỉ tao.

          Chúng nó sẽ không để yên cho mày đâu. Đã nhúng chàm thì phải theo thôi em ạ !
         Thôi đi !..
                      (Ông bố xuất hiện ở cửa)
Ô.BỐ - Đi đâu ? Anh đến đây định lôi kéo thằng Thắng đi đâu ?
PHÚ - (giả vồn vã) À, có đi đâu đâu ạ ! Chả là, bạn bè cũ, tiện qua thì tạt vào thăm nó.

           Bác đi ra phố chơi, về ạ ?
Ô.BỐ - Tôi chơi hay không thì việc gì đến anh ? Anh ra khỏi nhà tôi ngay ! Tôi không cho

           phép anh lôi kéo thằng Thắng con tôi, đàn đúm theo cái lối sống bừa bãi, tha
           hóa, đồi trụy của các anh.
PHÚ - Ông nói năng cho cẩn thận một tý ! Cứ làm như con ông còn nhỏ dại, mà bảo tôi lôi

          kéo. Đừng có mà đi chê người ? Con ông không hay hớm đạo đức gì đâu ?
THẮNG - (gắt) Phú, ông về đi !
Ô.BỐ - (với con) Anh để cho nó bôi tro, trát trấu vào mặt bố anh. Anh đã thấy sướng chưa ? (với Phú) Nếu anh không ra khỏi nhà tôi. Tôi sẽ gọi công an.
PHÚ - Thì ra, cần gì ! (với Thắng) Liệu mà thu xếp trả ngay khoản tiền mày đã nợ tao,

           không thì... (định ra)
Ô.BỐ - Nợ gì ? Tiền nào ?
PHÚ - Tiền con ông nợ tôi chứ còn nợ nào ? Tôi đến đây để đòi nợ, chứ không để chơi

          đâu ?
THẮNG - Ông Phú ! Đó là chuyện giữa tôi với ông. Không can gì đến bố tôi...

<bài viết được chỉnh sửa lúc 28.10.2011 11:59:53 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 25.11.2011 22:21:09
.

Ô.BỐ - (với Thắng) À, ra thế ? Anh tàn phá gia đình chưa đủ, còn đi vay nợ lung tung để 
          chơi bời...

PHÚ - (với ông bố) Ông cũng liệu cách thu xếp mà trả cho cậu con trai.?...

Ô.BỐ - Đéo mẹ tổ sư chúng mày. Chúng mày đàn đúm vay vỏ nhau, chứ ông công nợ gì
           chúng mày mà lại định ngoặc cả ông ?

                                    ( Bà mẹ và Hằng ngoài cửa vội chạy vào )

B.MẸ - (kêu toáng lên) Thằng Phú ! Mày lại định đến để rủ rê, lôi kéo con bà. Bà sẽ gọi
           công an vào để lôi cổ mày đi ! (ra gần cửa gọi) Anh công an ơi ! Đồng chí cảnh

             sát ơi ! (trở vào) mày vừa cờ bạc, vừa ăn cắp, lại còn bám lấy con bà. Dẫn dắt
           con bà vào con đường xấu... Thế có khổ tôi không ?

PHÚ - Cái ông bà này, làm cái gì mà cứ như là... (với Thắng) Bố mẹ mày điên cả rồi !
                                    (định ra)

B.MẸ - Mày đã là thắng ăn cắp mà còn dám ngang nhiên đứng ở nhà bà. Mày không đi mau
           thì chính quyền đến, họ túm lấy mày đi bây giờ ? Nhà bà không có gì để cho

             mày ăn cắp nữa đâu ?

PHÚ - Tôi ăn cắp ở nhà bà cái gì ?

HẰNG - (giơ ra cái đồng hồ vừa đi chuộc về) Mày không lấy cái đồng hồ này, rồi đem bán ở
           hiệu cầm đồ là gì ? Gia đình tao vừa phải bỏ tiền ra để chuộc lại nó về đấy !

PHÚ - Tôi chỉ là người cầm hộ thằng Thắng cái đồng hồ này thôi, chị hiểu không ? Chị hỏi
          thằng Thắng xem: tiền bán đồng hồ ở hiệu cầm đồ, là thằng Thắng nó lấy. Nhưng 
           nó bị thua bạc, mất hết. Tôi ăn cắp thì tôi phải được tiền bán chứ ? Sao chị lại đổ
            cho tôi ? (với bà mẹ) Nếu bà gọi công an đến để bắt thằng ăn cắp, thì thằng ăn 
           cắp chính là con bà ! Phải bắt con bà ! Chứ không phải bắt tôi ? 
THẮNG - Ôi thằng Phú ! Thằng Phú !.. mày thật là đồ đểu.
Ô.BỐ - (chỉ Thắng) Vinh hạnh chửa ? Tốt đẹp chửa, nghe con ?
HẰNG - (với Phú) Thế còn mấy nghìn bạc của tao để ở ví. Trong cái túi xách kia kìa ! Mày
            cũng móc lấy mất. Mày còn làm rơi cả thỏi son ra bàn nữa. Mày còn chối 
               không ăn cắp nữa không ?
PHÚ - Ơ hay ! Chị dám ngang nhiên đặt điều vu vạ. Chị bảo tôi ăp cắp tiền của chị, bằng
          chứng đâu ? Thằng em trai nó móc ví ăn cắp tiền của chị ! Rồi nó đổ cho tôi, chị 
           cũng tin à ?
THẮNG - Tao lấy tiền của chị tao bao giờ ?
PHÚ - Đó là chuyện của chị mày và mày, tao không biết !
                            (Ông bố nghe chuyện giật mình. Cứ đi lại lẩm nhẩm... )
Ô.BỐ - (với mình) Ra bây giờ nó lại còn lấy cả tiền của chị gái nó nữa ?.. Hỏng rồi ! Không
               gỡ được nữa rồi ! Không thể nào còn chấp nhận được nữa rồi !
                                   (bỗng ông quay lại).
Ô.BỐ - (với Phú) Chỉ cần cái chuyện cờ bạc người ta cũng đủ túm mày đi rồi ?
PHÚ - Cờ bạc, đề đóm... bây giờ đầy. Ngoài vườn hoa, quán nước, chỗ nào mà chẳng có.
            Mới hơn nữa, tôi đến đây có phải để cờ bạc đâu mà định bắt tôi ? 
                              (không khí im lặng)
PHÚ - (tiếp) Nhưng thôi. Tôi cũng chuồn đây ! Nhân thể, tôi nói để ông bà biết: thằng
           Thắng nó đã vay tôi một khoản tiền. Mà nợ vay thì phải trả ! (giọng thách thức)
             Để tránh khỏi hậu họa đến thân.
HẰNG - (vội lại hỏi Thắng) Thật vậy hả Thắng ?.. Sao em lại liều đến thế ?
Ô.BỐ - (chỉ Phú) Tiền nong chúng mày gán cho nhau trong cờ bạc. Mày lại dám ngang
           nhiên đế đây để đe dọa gia đình ?
PHÚ - Tôi đã nói rồi: ông bà là bố mẹ của nó thì tôi báo. Còn xử trí thế nào là tùy ông
            bà ? Nhưng với nó, chuyện nợ nần xưa nay không ai ăn quỵt được.
THẮNG - Thì tao có bảo tao quỵt tiền vay nợ của mày không ? Rồi tao sẽ lo để trả mày...
            Mày không phải giở trò để làm cái kiểu đó.
PHÚ - Có ăn quỵt với tao cũng không được.
B.MẸ - (xuê xoa với Phú) Thôi thôi... Không ai ăn quỵt nợ của anh cả. Nhưng tôi cấm anh
            từ giờ không được bén mảng để lôi kéo nó nữa. Bây giờ anh về đi !
Ô.BỐ - (với bà mẹ) Nó giải quyết với nhau thế nào thì mặc xác chúng nó ! Không hơi đâu
            mà bà phải đi lo đến như thế !
B.MẸ - (gắt lên) Không ai khiến ông lo. Ông làm việc của ông đi.
PHÚ - Bà nói còn dễ nghe. Bà già này ! Tiền trong nhà là tiền chửa, tiền ra ngoài là tiền
          đẻ - Đáng lý vay là phải trả lãi ! Nhưng vì tình bạn giữa tôi với nó, tôi đã không
            lấy lãi là phúc cho nó. Bà phải chạy nhanh nhan lên đấy !
Ô.BỐ - Tổ sư cái tình bạn kiểu bọn thanh niên bây giờ của chúng mày. Rồi chúng mày sẽ
           bán cả bố mẹ, quê hương tổ quốc không biết chừng ?
THẮNG - (với Phú) Thôi, ông cũng đi đi !
PHÚ - Được, tao đi. (đe dọa) Nhìn cho rõ cái mặt tao, nghe Thắng ! Đừng có mà giở quẻ.
                              (Lúc này Hằng xổ tóc ra nổi giận lao đến chỗ Phú như con hổ cái)
HẰNG - (túm lấy ngực Phú) Mày tưởng ai mày cũng bắt nạn được hả ? Đồ chó mà, cút đi!
              (đẩy mạnh làm cho Phú ngã dụi vào bờ tường) Bà báo cho mày biết: nếu mày
               mà động đến thằng em bà, thì bà sẽ lấy dao đâm nát cái mặt mày ra.
HẰNG - (hung dữ) Mày không xéo ngay ra khỏi nhà bà - thì bà cho một ghế vỡ cái mặt
             mày ra bây giờ !
PHÚ - (luống cuống) Con hổ cái ! Mày muốn tao đi thì tao đi ! (biến ra khỏi nhà)
HẰNG - (quát theo) Bà sẽ nhờ cả chính quyền đoàn thể giúp đỡ. Nếu mày còn dám bén
             mảng đến đây, họ sẽ bắt giữ mày ngay !

                        (Phú khuất hẳn. Gian phòng lắng đi giây lát. Hằng đặt chiếc ghế xuống
                         bàn rồi gieo mình lên ghế. Ông bố lẳng lặng đi lên gác. Không gian chỉ
                         có ánh sáng và tiếng nhạc... minh họa tâm trang và tính cách của từng
                          người)

                                                        
   HẾT KỊCH






.


<bài viết được chỉnh sửa lúc 25.11.2011 22:35:59 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 22.12.2011 22:18:06
.

             TẢN MẠN


Những hạt mưa trên cây không gian
Rụng xuống đôi môi khô ráp
Tia chớp giữa thu rạch những đường điện cắt
Cặp chim hoà bình giật điếng một chiều hoang


Nép vào nhau những cô gái nhỡ đàng
Vai sũng nước cứ rung lên nhè nhẹ
Câu hát bật ra từ những lồng ngực trẻ
Bong bóng bập bồng ghi những nốt nhạc mưa


Một phút thôi thấp thoáng bóng xa xưa
Cứ thoắt ẩn bâng khuâng, thương nhớ
Đường hôn nhân đã một lần lầm lỡ
Không thể lỡ lầm khi tìm thấy miền yêu...


Nắng chìm ngày mưa giăng mắc liêu xiêu
Đôi chân nhỏ đi nhanh về tổ ấm
Con gió lạc kèm theo tiếng sấm
Xô lệch đường ai về bến mười hai...


Có phải chăng định mệnh đã an bài
Hay con đường mà em đã chọn
Cây đắng đót từ gốc cành đến ngọn
Ứa mầm đau hồng thắm một tình yêu


Gió và mây cứ lãng đãng cuối chiều
Không để ý cơn mưa thu đã tắt
Còn sót lại một hạt rơi trên mắt
Đủ làm nhoè se sắt một hồn thơ.
 
                      22/9/2009
                            Lê Bá Duy
          (Trích trong tập "Khoảng mỏng" - NXB Văn học 2011)


                     Lời bình Phạm Ngọc Thái
 
     Bài thơ được viết trên đường nhà thơ trở về ngôi nhà thân yêu của mình, một buổi chiều mùa thu mưa:
                  Những hạt mưa trên cây không gian
                  Rụng xuống đôi môi khô ráp

                   Tia chớp giữa thu rạch những đường điện cắt
                   Cặp chim hoà bình giật điếng một chiều hoang
    Có đôi chim bồ câu nào đó giật mình trong ánh chớp của buổi chiều hoang - Nhưng thực ra cái buổi chiều ấy lại đầy chất trữ tình, có lẽ bởi tâm hồn và trái tim nhà thơ hoang, cho nên nó mới thành hoang? Ta cứ đọc vào đoạn thơ hai thì sẽ thấy cảnh chiều mà tác giả tả nó chẳng hoang một chút nào:
                  Nép vào nhau những cô gái nhỡ đàng
                  Vai sũng nước cứ rung lên nhè nhẹ

                   Câu hát bật ra từ những lồng ngực trẻ
                   Bong bóng bập bồng ghi những nốt nhạc mưa
    Hình ảnh hoà vào trong âm điệu những câu thơ như một bản nhạc tình. Từ những cô gái đang đi nhỡ đàng không kịp trú bị mưa thấm sũng nước, làm ta tưởng tượng quần áo của các nàng cứ dán vào da thịt, các bờ vai ngấm lạnh rung lên. Nhưng những câu hát lại bật ra từ những lồng ngực trẻ, đó là bầu ngực những thiếu nữ thấm mưa càng thêm tròn căng, quyến rũ... đến cả những giọt mưa cũng:
                   Bong bóng bập bồng ghi những nốt nhạc mưa
     Cảnh tình chứa chan kia gợi vào làm cho trái tim nhà thơ bỗng nhói đau, bởi:
                   Một phút thôi thấp thoáng bóng xa xưa                  
                  Cứ thoắt ẩn bâng khuâng, thương nhớ...
    Mối tình cũ do một lỗi lầm nào đó trót bị tan vỡ đang nghiến rứt trong anh, và bóng dáng của người con gái xa xưa lại hiện về giữa chiều mưa ấy. Trái tim nhà thơ khát vọng tình yêu! Có thể hình ảnh các thôn nữ gợi cho anh nhớ lại, rồi  tự nhắn nhủ với lòng mình: Lỗi lầm xưa không thể sai phạm thêm lần nữa khi tình yêu mới đến! Nghĩa là có thể có bóng hình một người con gái nào khác đã bắt đầu nhen nhóm vào trong anh:
                    Đường hôn nhân đã một lần lầm lỡ                   
                   Không thể lỡ lầm khi tìm thấy miền yêu...
    Nhưng cái mối tình do lầm lỡ để rồi dẫn đến sự tan vỡ tưởng rằng chỉ thoắt ẩn, thoắt hiện với một chút bâng khuâng, thương nhớ...  lại theo suốt cả bài thơ, cả chặng đường nhà thơ trở về nhà - Ai có thể đoán chắc rằng: Hình bóng người con gái xưa lại không vào tâm trí, trái tim trong cả cuộc đời anh?
     Vào đoạn thơ 5 ta thấy tác giả lại trăn trở lòng mình về mối tình xưa ấy:
                      Có phải chăng định mệnh đã an bài
                      Hay con đường mà em đã chọn

                       Cây đắng đót từ gốc cành đến ngọn
                       Ứa mầm đau hồng thắm một tình yêu

   
Ta chưa hiểu được tình sử của mối tình đã qua bị tan vỡ thế nào? Bởi một duyên cớ gì khiến anh phải tự vấn với lương tâm mình đã gây nên lỗi lầm như thế?  Nhưng có phút trong ý niệm tư tưởng của nhà thơ đã coi đó là số phận, nên mới tự nhủ: Có phải chăng định mệnh đã an bài/ - Dù đó có cho là quyết định của em đã chọn, thì cũng chỉ là cách tác giả tự xoa vợi đi nỗi đau của lòng mình. Tuy vậy trong thẳm sâu ta vẫn thấy lòng anh thật đau đớn như lời thơ đã viết:
                       Cây đắng đót từ gốc cành đến ngọn
     Nghĩa là, dù bất kể một sự cố nào xẩy ra thì vết thương tình đã để lại cho anh một nỗi đau vô bờ, làm trái tim tan nát:
                       Ứa mầm đau hồng thắm một tình yêu
     Hình ảnh của câu thơ đầy khúc triết và hay! Tôi xin phân tích đôi nét về câu thơ này: Sự tan vỡ của cuộc tình lại ứa ra... hay là gieo vào trái tim anh một cái "mầm đau". Khi lòng anh càng tan nát bao nhiêu thì chẳng những tình không nguôi vơi đi... mà anh lại càng thiết tha yêu người con gái đó. Khát vọng của trái tim càng mãnh liệt hơn! Dù ở trên anh có tự vấn rằng: Đó là do định mệnh đã an bài! Vậy là dẫu tình đã vỡ, nhưng ngọn lửa tình năm tháng không hề tàn trong trái tim anh.
     Bài thơ cứ được đan xen giữa hình ảnh của buổi chiều mùa thu mưa với nỗi lòng của tác giả quặn đau. Cái cảnh chiều trên đường trở về nhà cũng từng đoạn biến đổi theo bước chân anh. Nếu vào đầu bài thơ ta thấy tác giả tả:
                          Những hạt mưa trên cây không gian...
                          Tia chớp giữa thu rạch những đường điện cắt
   Thì cũng cái cảnh chiều đó sang đoạn thơ thứ tư:
                          Nắng chìm ngày mưa giăng mắc liêu xiêu                          
                          Đôi chân nhỏ đi nhanh về tổ ấm
    Chiều đó bóng nắng đã chìm lặn xuống nhường chỗ cho những hạt mưa giăng như mắc cứ bay phủ lên người, giăng lên cả cánh đồng và con đường quê anh đi - Một hình ảnh mưa chiều được mô tả thật sinh động và gợi cảm:
                         Con gió lạc kèm theo tiếng sấm                        
                        Xô lệch đường ai về bến mười hai...
    Theo tiếng sấm của chiều mưa là cả con gió lạc loài thổi qua - Phải chăng đó cũng chính như lòng nhà thơ đang bơ vơ, lạc lõng giữa chiều quê? nên con gió đó mới "...xô lệch đường anh đi" - Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Lê Bá Duy miêu tả thấm tháp đầy nỗi tình đời, cứ quyện vào nhau để diễn tả nỗi niềm, một khát vọng yêu đương cháy bỏng!
    Bài thơ mà tác giả lấy cái tên đề gọi là "Tản mạn" - Song nó bao bọc, chứa chất từ hình ảnh quê đến khát vọng của cuộc tình với một người con gái thật sâu sắc. Ta nghe vào đoạn cuối tác giả lại tiếp tục tả cảnh chiều:
                         Gió và mây cứ lãng đãng cuối chiều
                         Không để ý cơn mưa thu đã tắt

                          Còn sót lại một hạt rơi trên mắt
                          Đủ làm nhoè se sắt một hồn thơ.
    Cái cảnh chiều đến đây như bâng khuâng mà lại có vẻ như lòng người đang hờ hững? Không phải. Phải chăng lòng tác giả đang dùng dằng muốn níu kéo lại một cái gì đó, quên phắt mình đang đi trong cơn mưa - nên:
                         Không để ý cơn mưa thu đã tắt
    Kể cả gió và những làn mây đang tha thẩn lãng đãng trôi ở cuối chiều kia, cũng có phải đâu là chúng vô tư? Cảnh ấy lòng đây ăm ắp đầy hồn và tình của người thơ đang đi trong đó! Bởi vậy đọc câu thơ ta thấy cảm xúc da diết lạ thường. Cho nên cái trời mưa kia dù chỉ:
                         Còn sót lại một hạt rơi trên mắt
    Đây thực ra chính là giọt lệ của nhà thơ! Lệ của Lê Bá Duy viết đến đây đã nhỏ xuống trang thơ của cái chiều thu mưa ấy - Cái chiều lắng đọng cả nỗi đau cùng tình yêu thương tha thiết của trái tim anh hoài vọng lại một mối tình đã qua đi, để rồi tất cả được gói lại trong một câu thơ kết cuối bài:
                         Đủ làm nhoè se sắt một hồn thơ!
    Nước mắt nhà thơ cùng với những giọt mưa thu của buổi chiều quê đó đã cho Lê Bá Duy một áng thơ tình đẹp. Một sự tri âm chí tình, chí nghĩa với cuộc sống và bạn đời biết bao! "Tản mạn" là một trong số những bài thơ tình hay nhất của tập thơ Khoảng Mỏng - Bài thơ từ trong cảm xúc trái tim nhà thơ trào ra nên không khỏi có những sự yếu lòng: Tôi yêu bài thơ và cũng yêu cả những giọt lệ đã nhoè đi se sắt ở thơ anh!


   Phạm Ngọc Thái
                                         
<bài viết được chỉnh sửa lúc 22.12.2011 22:23:26 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 19.01.2012 11:14:13



                              CỨU LẤY CON TÔI  

                                                       Kịch một màn
                                                                     
  PHẠM NGỌC THÁI  
                                                                   
                                                                  
                NHÂN VẬT:

1.       ÔNG BỐ


2.       BÀ MẸ

3.       THẮNG                 Con trai

4.       HẰNG                   Chị gái của Thắng

5.       PHÚ                     Bạn học trước đây của Thắng  


                        Kịch xẩy ra trong một gia đình ở thành phố 
   
  
  
                                    MỞ MÀN
 
                              (Buổi sáng, phòng ngoài gia đình một cán bộ viên chức. Có một lối
                         lên cầu thang gác trên, phía dưới là lối vào nhà trong & bếp, bên kia 
                         là cửa ra vào. Sân khấu không có ai. Bóng hai thanh niên thập thò ngoài
                         cửa: Đó là Thắng & Phú! 
                             Trong lớp kịch đầu tác giả có ý không nhắc đến tên của 2 thanh niên)
 
THẮNG-    Xuỵt. Tôi đã bảo ông đứng ở ngoài chờ, ông cứ xồng xộc đi vào? Nhà có người
             đấy!
                   (Thắng chỉ tay lên cái túi da nữ sinh của Hằng, đang treo ở trên tường)
             Kia kìa! Cái túi xách của chị gái tao còn treo ở kia, nghĩa là chị ấy vẫn ở nhà.
             (ngó vào trong) Hình như trong bếp có cả tiếng của mẹ tao đang nói?
PHÚ -    Sợ cái cóc khô gì?
THẮNG -   Nhưng gia đình nhà tôi không ai muốn nhìn thấy cái mặt ông... bám theo tôi!
PHÚ  -    Để tiền ở đâu đi lấy nhanh lên, rồi chuồn! Đừng có đứng đấy mà cứ lải nhải mãi
            thế?
THẮNG -  Ông đứng ở đây chờ, Đừng có mà theo tôi lên gác đấy!

                            (Thắng vứt cái mũ vải đang đội xuống bàn rồi lên gác trên. Phú gian
                           giảo nhìn khắp phòng. Hắn đến lục lọi chiếc túi xách của Hằng, vô
                           tình đánh rơi thỏi son ra sàn nhà... lôi ra một chiếc ví nhỏ) 
PHÚ  -  (một mình) Tưởng có vòng xuyến hay là cái dây chuyền vàng? Toàn gương lược, 
             son phấn của đàn bà!...(khẽ reo) À, tiền đây rồi! Chậc, mấy cái đồng bọ... cũng   
           tốt chán, còn hơn không.
                          (Hắn đút tiền vào túi quần sau. Trông thấy chiếc đồng hồ báo thức đặt
                           trên một chiếc giá nhỏ, Phú ngó quanh rồi cầm lấy giấu tay ra sau 
                           lưng. Thắng từ trên gác xuống)
PHÚ  -  (hất hàm hỏi) Tất cả được bao nhiêu?
THẮNG - Chỉ có một ít mẹ tao cho để mua sách ôn thi đại học, sáng nay vội đi nên tao 
             quên. Bây giờ lấy mang đi như thế này là tao không có sách học nữa?
PHÚ  -  Mày có thể quên cái việc học hành của mày đi được rồi đấy! Nào, đưa đây tao 
           xem? Ồi, thế này ít quá, bõ bèm gì? Thế, cái nhà này không còn gì để cho mày 
           xoáy nữa à?
THẮNG -  Thôi đi ông ạ! Mà mày đang dấu cái gì ở sau lưng đấy? Không được. Đây là 
           chiếc đồng hồ báo thức người ta đã tặng bố tao! Đồng hồ Thuy Sĩ, loại xịn đấy!
PHÚ  -  Vì nó là loại xịn nên tao mới lấy! Chứ loại đồng hồ báo thức thường, lấy làm gì
           cho bẩn tay. Thôi, chuồn đi nhanh lên! Tao nghe như có tiếng bước chân người
           đang ra đấy? Mà... tao cầm cái đồng hồ này đi là để cho mày bán thêm lấy tiền 
           mà chơi, chứ tao không thèm lấy!
THẮNG - Mày đúng là một thằng lưu manh, toàn gây hoạ cho tao! Ông bố tao về mà biết 
           mất cái đồng hồ này, gia đình nhà tao lại ầm ĩ lên cho mà xem.
                                  (Chúng đi khuất, bà mẹ và Hằng từ nhà trong bước ra) 


BÀ MẸ -  Không biết bố con có tìm thấy em Thắng không, giờ vẫn không thấy về? Mẹ sốt
              ruột quá!
                (Hằng nhìn thấy chiếc mũ Thắng để quên trên bàn)
HẰNG  -  Mẹ ơi, Thắng nó vừa về đây mẹ ạ! Chiếc mũ nó vứt lại ở trên bàn kia kìa
B.MẸ -   Thảm nào, lúc ở nhà trong mẹ thoáng nghe có tiếng nói ở ngoài này.
                (Hằng lại nhìn thấy thỏi son rơi trên sàn nhà)
HẰNG  -  (Nhặt thỏi son) Sao thỏi son của con lại rơi ra đây thế này?
                (Hằng vội đi đến mở cái túi xách của mình để kiểm tra. Thấy mất tiền
                  trong ví mặt cô thần ra)
B.MẸ   -   Bị mất cái gì thế con?
HẰNG  -  Chỉ có ít tiền mẹ cho con để đi học, em nó cũng móc ví lấy mất mẹ ạ!
B.MẸ  -   Chết, thằng Thắng mà lại sinh ra đổ đốn đến thế à?
HẰNG  -  Tiền thì chả đáng gì nhưng con cũng thấy xót xa: Vì sao em trai của con nó
             lại đối xử với chị gái của nó tồi tệ đến như thế được?
B.MẸ  -   Em nó hư hỏng đến như mức này thì mẹ sợ quá con ạ?
HẰNG  -  Con cũng chả còn hiểu ra sao nữa? Học xong lớp 12 đã phải thi lại rồi mà nó vẫn
            thi trượt đại học! Bây giờ nó cũng chẳng chịu học hành ôn luyện bài vở... thì kỳ
             thi tới này lại trượt nốt mất thôi?
B.MẸ  -  Biết tìm em nó ở đâu bây giờ hở con?
                (Hằng lại chợt nhìn lên thấy mất chiếc đồng hồ báo thức)
HẰNG  -  (kêu lên) Cả chiếc đồng hồ báo thức?
B.MẸ  -   Hả, con nói... 
HẰNG  -  (giọng thiểu não) Nó mang cả cái đồng hồ báo thức đi rồi!
                (Bà mẹ lặng đi ngã thỉu xuống sàn, Hằng vội đỡ mẹ)
HẰNG  -  (tiếp) Mẹ đừng làm con sợ? Mẹ cứ bình tĩnh, rồi con sẽ đi tìm em nó!
B.MẸ  -   Con ơi! Cái đồng hồ ấy là người ta tặng để làm kỷ niệm cho bố con. Bố con quí
             bạn nên cũng qúi nó lắm! Nếu bố con mà biết thằng Thắng nó lấy mang đi bán
             mất rồi, thì ông ấy giết nó mất!
                     (Ông bố xuất hiện ngoài cửa)
B.MẸ  -   (vồn vã) Ôi kìa, vừa nhắc đến là ông đã về.
                      (ra hiệu cho Hằng là đừng cho ông biết)
Ô.BỐ   -   Có chuyện gì thế?
B.MẸ  -   Làm gì có chuyện gì. Thế nào, ông có tìm thấy con không?
Ô.BỐ   -   Chả thấy nó đâu! Tôi đã đến cả nhà thằng Phú, mặc dù gia đình nó nói là:
             không biết! Nhưng tôi đoán chắc thằng Thắng đã đi theo thằng Phú?
B.MẸ   -   Ông cứ đoán già đoán non chứ...có lẽ con nó quá đà lêu lổng đâu đấy. Nó
             đã chả hứa: sẽ không bao giờ con quan hệ, chơi bời với cái thằng Phú lưu manh,
             bụi đời ấy nữa.
Ô.BỐ   -   Bà đi mà tin lời hứa của nó. Còn tôi, chẳng thà tôi tin hà bá hơn.
HẰNG  -   Nhưng từ khi bố đã đuổi thằng Phú ra khỏi nhà, con thấy nó có còn dám bén
             mảng đến đây để lôi kéo em Thắng nữa đâu?
Ô.BỐ  -   Đuổi được nó ra khỏi nhà, chứ ai ngăn cấm được nó lôi kéo thằng Thắng ở
             ngoài đường?  


B.MẸ - (với Hằng) Hay... con có biết em nó chơi bời ở những chỗ nào, đi tìm em nó về?
HẰNG -  Con làm sao mà biết được, bố con còn thạo hơn con!
Ô.BỐ -   Mà cái thằng Phú bây giờ thì... cờ bạc, trộm cắp, đĩ điếm, có khi lại còn cả xì ke 
         ma tuý không biết chừng? Cái gì nó cũng đủ ngón.
B.MẸ -   Ông nói làm cho tôi lo quá! Cũng phải tìm cách để ngăn chặn con nó. Tôi sợ con
        mình không khéo cũng bị hư hỏng vì cái thẳng Phú ấy mất?
Ô.BỐ -   Thằng Thắng nó hỏng rồi, bà còn nói không khéo cái nỗi gì? Nó hỏng thật rồi, bà
         hiêủ chưa?
B.MẸ -   Thì ông làm cái gì mà cứ quát lên như thế?
Ô.BỐ -   Nó làm cho cái gia đình này không còn ra thể thống, danh giá gì nữa.
B.MẸ -   Có cái tính khí nóng nẩy của ông làm cho nhà này rối thêm lên thì có!
HẰNG -   Bố mẹ cứ cãi vã nhau như thế cũng không giải quyết được chuyện gì? (với ông
          bố) Bố thì quá khe khắt, lại còn nóng tính nữa. Có lúc bố cũng phải dùng tình cảm 
          thuyết phục em nó mới được. Nếu lúc nào bố cũng chỉ mắng mỏ, có khi nó lại sinh
          ra phẫn chí!
B.MẸ -   Đấy, con nó nói ông như thế là rất đúng!
HẰNG -   (với mẹ) Con biết mẹ rất thương chúng con. Nhưng mẹ cũng không nên nuông
         chiều em quá!
Ô.BỐ -   Con nói rất phải. (với vợ) Bà là bà chúa nuông chiều, nên nó mới ngày càng sinh 
       hư như thế?
B.MẸ -   Ông giỏi sao không làm cho nó ngoan đi? Đối với con thì cũng phải có tình cảm
          một tý! Đằng này, lúc nào cũng chỉ biết nghiêm khắc.
Ô.BỐ -   Lần này thì tôi để cho mẹ con bà tha hồ tình cảm với nhau, xem nó có tốt hơn 
            không?
B.MẸ  -   Không cần ông phải dậy...
Ô.BỐ -   Nhục nhã vì con. Một thằng con như thế thì chẳng thà không có còn hơn?
HẰNG -   Ồi, bố mẹ thật là?...
B.MẸ -   Tôi nói cho ông biết: Khối người thèm rỏ rãi một thằng con trai mà không được 
            đấy! Ngay như nhà ông vụ trưởng mới dọn đến ở giữa phố kia kìa: Sẵn của, mới
           lấy một cô vợ bé trẻ măng. Mua cho cả một căn nhà gác riêng để ở. Vợ trẻ thì có
           trẻ, đẹp cũng hơi đẹp! Nhưng rồi rặn mãi có đẻ được đâu? Cả hai anh chị... hết
           viện này đến viện khác để chữa chạy. Ông ta tuyên bố: Nếu cô vợ bé của ông ta 
           mà đẻ được một cậu con trai, thì sẽ bỏ cả trăm triệu để đãi khắp phố. Nhưng rồi 
             ngỗng vẫn hoàn ngỗng?
Ô.BỐ -   Có cái ông vụ trưởng ấy mới háo như thế, chứ tôi thì...
B.MẸ -   Chỉ bởi vì ông không biết quí người, quí của. Có một đứa con trai khoẻ mạnh, to 
            lớn như thế mà còn rẻ rúm? Nó vẫn còn ngoan hơn khối thằng thanh niên khác!
Ô.BỐ -      Nói như bà... nó đổ đốn, hư thêm là phải? Thôi, tôi lên gác đây!
B.MẸ -   Phải, ông lên gác đi!
                         (Ông bố xầm xầm bỏ lên gác)
HẰNG -   (lại phía mẹ) Mẹ khổ nhiều, nhưng bố con cũng chả sung sướng gì hơn!
B.MẸ -   (thở dài)  Con cũng cố lựa lời mà khuyên em. Nhà này, nó quí chị và nghe lời chị
            nhất đấy!
HẰNG -   Thì con khuyên bảo nó vẫn vâng, dạ... Nhưng chỉ được hôm trước, hôm sau bị lũ 
            xấu lôi kéo nó lại quên hết!
B.MẸ -   (nói nhỏ) Những thứ em nó lấy vừa rồi con chớ cho bố con biết vội nhé?
HẰNG -   Con biết rồi!
Ô. BỐ -   (quát từ trên gác) Dứt khoát là nó lại sa vào hội cờ bạc nào rồi?
B.MẸ -   Cờ bạc gì. Nó đi chơi đâu đấy!
                         (bỗng bà nhìn thấy gói xôi để trên bàn)
            Giời ơi, khổ tôi chưa? Thế là nó vẫn chưa kịp ăn sáng đây! (cầm gói xôi nói với 
               Hằng) Gói xôi này sáng ngày mẹ mua để cho em nó, lại tưởng nó ăn rồi... thì
             ra vẫn còn nguyên. Sao lúc em nó ngủ dậy, con không bảo em nó ăn ngay. Chưa 
         kịp ăn sáng thế này, không khéo lại đói lả ra mất?
Ô.BỐ -   (vừa bước xuống cầu thang vừa tức tối) Giời ạ! Đến nước này mà bà vẫn còn quan
         tâm đến cả xôi với chả chè?
B.MẸ -   Tôi không qua tâm tới xôi chè, mà tôi quan tâm tới con!
Ô.BỐ -   Phải, chỉ mình bà quan tâm tới con! 

B.MẸ  -   Động một tý là ông quát mắng. Thằng bé cứ trông thấy ông là mặt mày tái xanh 
           tái ngắt. Ông chỉ cái giỏi đe nẹt, cậy ta đây là bố!
Ô. BỐ  -  Với bà thì... nhà này chỉ mình nó...
B. MẸ  -  (với Hằng) Sáng ngày tôi đã phải rang một nồi cơm rang cho bố con chị. Mẹ đã để
             ở trên bếp cho nóng - Tại sao chị không giục bố chị ăn lấy một bát rồi hãy đi tìm
              thằng Thắng?
HẰNG  -   Con giục rồi! Bố chỉ "hừ" một tiếng, chả thèm ăn, xăm xăm bỏ đi tìm.
                         (bà mẹ cầm gói xôi đến chỗ chồng)
B. MẸ  -   Không phải là tôi không quan tâm tới ông. Nhưng dù sao thì ông cũng đã từng 
             đi tham gia kháng chiến, đã từng chịu đựng hy sinh ác liệt, chịu đói, chịu khổ,
             quen rồi. Đằng này, con nó còn trẻ...
                  (ông bố bực tức cầm gói xôi ném tung toé ra sàn)
Ô. BỐ  -   Này, xôi này!
B. MẸ  -   Ông định ăn thịt tôi chắc?
HẰNG  -  Con xin bố mẹ? Bố mẹ phải bình tĩnh ôn hoà bàn bạc với nhau, mới tìm ra cách 
             để uốn nắn em nó chứ ạ?
Ô. BỐ  -   Nếu thằng Thắng lần này tôi nói không nghe, tự tay tôi sẽ lôi nó lên công an,
             cho nó đi cải tạo!
B. MẸ  -   Ông nói cái gì tôi nghe không hiểu? Bố như ông có mà bố dở hơi! Con cái bị đi 
             tù người ta còn lo lót, chạy cho con ra khỏi tù. Đây bố lại tự tay tống con đi cải
             tạo?
HẰNG  -   Bố con bực thì bố con nói thế, chứ bố con đã làm đâu mà...
Ô. BỐ  -   Với tôi: Sống phải cho ra sống! Con cái lớn lên là phải học hành cho ra đến nơi
               đến chốn.
B. MẸ  -   Thì ai không muốn thế? Nhưng ông chỉ cứng nhắc, quát mắng nó có được đâu?
Ô.BỐ  -   Phải trở thành người hẳn hoi tử tế, có ích lợi cho xã hội.
B. MẸ  -   Nói thì dễ, nhưng dậy được con như thế đâu có đơn giản?
Ô. BỐ  -   Nếu không, chẳng thà...
B.MẸ   -  Chỉ được cái mạnh mồm. Nó mới hơi ốm một tý đã cuống cuồng: nào thuốc
              thang, nào nước nóng, nào chăn đắp...Tôi nói cho ông biết: Chỉ vì cái tính quá
              cứng nhắc dậy con của ông - Nó bảo rằng bố không thương nó?  Những lúc nó
              phẫn chí, chính ông làm cho nó bất cần, lại càng lao thêm vào con đường hư
             đốn.
Ô.BỐ  -   (dằn giọng) Bây giờ bà lại đổ tất cả cho tôi!
HẰNG  -   (rên rỉ) Cứ sống mãi cái nhà này, con cũng đến loạn thần kinh mà tâm thần mất.
              (với bố) Bố cũng điên rồi!
Ô. BỐ  -  (sốt ruột)  Đến giờ này mà nó vẫn chưa về? (với Hằng) Con xem mấy giờ rồi?
              (nhìn lên tường) Ơ kìa! Cái đồng hồ báo thức đâu rồi?
                             (Hằng lúng túng, bà mẹ cũng chưa biết nên xử trí thế nào?)
Ô. BỐ  -  (tiếp) Thôi chết rồi! Đúng thằng Thắng nó đem đi , lại lao vào đám cờ bạc rồi?
             (với bà mẹ) Bà còn bảo: Con nó đã hứa là không chơi cờ bạc nữa đi? Đúng là con
              hư tại mẹ!
HẰNG  -   Bố cũng nên bình tĩnh, rồi con sẽ đi tìm em nó!
Ô. BỐ  -   Nó đã đến thế này thì không thể tha cho nó được! (với bà mẹ) Tôi sẽ đi tìm
              bằng được, rồi lôi cổ nó về đây!
B. MẸ  -   (hốt hoảng ngăn chồng) Con nó cũng đã chót dại rồi! Nếu ông nóng nẩy quá thì..
             ..(với Hằng) Hãy giữ bố con lại?
HẰNG  -   Con xin bố! Dù sao em nó cũng đã chót rồi, Cứ từ từ để con hỏi han xem cụ thể
              nó ra sao, rồi liệu cách giải quyết?
Ô. BỐ  -   Lại là cái đồng hồ người ta tặng tôi làm kỷ niệm nữa, bà hiểu không? Thế mà nó
               dám lấy đi!
B. MẸ  -   Thì cũng đã biết sự thể ra sao đâu? Biết đâu con nó chỉ mượn tạm, mang đến
              nhà bạn bè học hành hay dùng vào việc gì đó!
Ô. BỐ  -   Có mà nó mang bán, mang đặt vào đánh bạc thì có!
B. MẸ  -   Nếu nó có chót bán hay đặt ở chỗ gửi đồ... tôi sẽ tìm cách chuộc lại về trả cho
              ông.
Ô.BỐ  -   Không được. Thằng này mất dậy thế này, không thẳng tay trị nó , là không được.
                   (Bà mẹ quay phắt lại thay đổi thái độ với chồng)
B. MẸ  -   Ông ở nhà không được đi đâu cả!
Ô. BỐ  -   Bà này bây giờ to gớm nhỉ? Bà lại ra lệnh cả cho tôi cơ đấy!
B. MẸ  -   Tính ông nóng nẩy thế, nếu tôi để ông gặp nó thì ông sẽ giết nó à?
HẰNG  -   Mẹ con nói đúng đấy! Bố nóng tính, ở nhà. Để con đi. Con lựa lời hỏi han em nó
              xem cụ thể ra sao? Em nó đỡ sợ.
Ô. BỐ  -   Nhưng cô mà tìm nổi nó? 
HẰNG -   Thì con nhờ thêm đám chúng bạn, hay một số người quen chỉ giúp. 
                         (Ông bố vẫn nóng nẩy đi lại khắp phòng)
Ô.BỐ -   (với bà mẹ) Như người trị bện hủi phải trị tận gốc! Nếu bà chỉ biết lấy mỗi tình 
            cảm xuê xoa, ngon ngọt với nó thì... nó chỉ tổ bị hủi thêm.
B.MẸ -   Cái ông này, càng ngày ăn nói càng chẳng ra sao? Giáo dục con cái lại đi ví với 
           người mắc bện hủi. Nghe ông nói đã phát nôn...
Ô. BỐ -   Nhưng lần này thì bà phải để cho tôi thẳng tay trừng trị nó!
B. MẸ -   Thì ông đã chẳng từng bao lần thẳng tay mà có được đâu? Chẳng thấy con tốt 
            lành, làm quá nó khùng lên, lại mất con mất ông ơi!
Ô. BỐ -   Mất thì thôi.
HẰNG -   Đấy, bố lại nói thế rồi! (Cô ấn ông ngồi xuống) Thôi, bố ở nhà, con đã nói là để 
             con đi!
B. MẸ -   Phải, con đi đi! Còn ông, cứ ngồi nguyên đấy!
Ô.BỐ -   (giơ hai tay lên giời) Nhà này loạn rồi! Như thế này là loạn cả rồi. Mất hết cả 
            phép tắc rồi. 
                       (Hằng ra khuất, còn lại hai ông bà)
B.MẸ -   Bây giờ chỉ còn ông và tôi, tôi mới nói cho ông hay! Con cái bây giờ chúng nó 
             không lễ tiết như ngày xưaĐược con tốt đẹp thì mình may. Phải con tinh con 
            quái, đối sử với nó không cẩn thận, về già nó sẽ rũ tuột ông đi đấy!
Ô.Bố - Thế ra nó là bố tôi chứ không phải tôi là bố nó ?
B.Mẹ - Dù ông là bố nó. Dẫu ông cũng chỉ vì thương nó, lo cho tương lai
    của nó. Nhưng cái kiểu tính khí của ông: không khéo khi tàn hơi, hết
      sức... sẽ phải sống vất vưởng như những ẻ ngoài đường, ngoài chợ.
Ô.Bố - Đạo đức xuống cấp! Đạo đức xuống cấp!
B.Mẹ - Xuống cấp từ lâu rồi! Con cái nó có hư, ông vẫn phải lấy tình cảm 
    để lựa sống với con. Mai sau may ra chúng nó còn để cho ông có phân
   nhờ. Không có con thì còn cái gì mà ông sống nữa ?
Ô.Bố - (Kêu lên) Con là bố, chứ không phải bố là bố nữa, con ơi! (Buồn bã)
   Thôi, tôi lên gác nằm nghỉ một lát cho đỡ mệt mỏi. Kẻo cái đầu của
     tôi nó sắp vỡ tung ra mất (lên gác).
B.Mẹ - Phải đấy, ông lên gác đi! (nói như quát theo chồng) Thời đại hiện
     đại này, tuổi trẻ chúng nó sống hiện đại như vây! Nếu ông không
    biết lựa con, thì chữ “hiếu” nó cũng chẳng cần.
                    (Bà vào nhà trong. Nhạc nổi lên, ánh chớp sang
                    lòe… phụ họa cho một trong những ý tưởng của
                    kịch. Hằng dẫn Thắng từ cửa vào)
Thắng - (tiếp tục câu chuyện) Cái đồng hồ báo thức, thằng Phú lấy chứ em
      không lấy. Em có ngăn cũng không được nó.
Hằng - Nhưng cậu nói cho chị hay, cuối cùng…
Thắng - Nó đưa vào hiệu cầm đồ bán lấy tiền. Nhưng rồi em lại bị thua bạc,
     nó trừ nợ mất rồi!.. Nên em không thể mang về trả lại cho bố được.
     Còn tiền của chị bị mất, thật tình là em không biết. Nhưng chắc
      chỉ thằng chó đểu ấy, chứ còn ai ?
B.Mẹ - (trong nhà chạy ra) Mẹ nghe thấy rồi! Mẹ nghe thấy rồi! Thế thì
     không xong  rồi, con ơi ? Mà mày mất dạy quá con ạ ! Cầm ngay dao
     giết mẹ không bằng.
Thắng – Con xin mẹ hãy tìm cách cứu con. Chỉ một lần nữa thôi, con chót
dại mất rồi.
Hằng – Em thấy chưa ! Nếu em không kiên quyết từ bỏ lũ bạn xấu ấy, thì
     không biết nó còn lôi em vào con đường tội lỗi đến đâu ?
Thắng – Khổ lắm chị ơi, thì em biết tất cả rồi mà...
B.Mẹ - (với Hằng) Cứ đưa em vào tắm rửa cho sạch sẽ. Quần áo trông bẩn
     thỉu khiếp chưa kìa !
Hằng – Vào đi ! Vào mà tắm rửa, rồi thay quần áo ra để chị giặt cho.
B.Mẹ - Mẹ cũng phải đi nấu cơm ăn cái đã, rồi liệu cách tính sau vậy.
                  (Mọi người định vào. Ông bố bực tức từ trên
                    gác bước xuống)
 
Ô.BỐ - Cơm nước gì ? Cái con người còn chưa trong sạch thì quần áo có bẩn thế chứ bẩn 
          nữa cũng không quan trọng. 
HẰNG - Bố cứ nói em nó thế chứ ? (với Thắng) Thôi vào đi em ! 
                                                          (Thắng định theo chị vào nhà)
Ô.BỐ - (quát) Ở lại đây tao bảo !
B.MẸ - Thôi, ông bảo con nó lúc khác. Phải để cho con nó tắm rửa, thay bộ quần áo, ăn 
        mặc cho tử tế chứ lị. Người với ngợm trông ghê quá ! (mắng thắng) Lại còn không
              mau theo chị vào nhà trong mà tắm táp cho thân thể nó sạch sẽ đi à ?
Ô.BỐ - Nó lớn rồi chứ, còn bé bỏng gì nữa mà chị nó phải tắm cho ? Bà chỉ rước đường

           cho hươu chạy.
B.MẸ - Muốn gì thì tôi cũng phải vào cơm nước chứ ! Còn tranh thủ ra bán hàng, kẻo chiều 
       đến nơi rồi.
Ô.BỐ - Bà có phải nghỉ bán hàng một buổi cũng chưa chết ai. (Với Thắng) Cái đồng hồ 
         đâu ? Tao hỏi cái đồng hồ đâu ?
THẮNG - (lúng túng) Con...Con...
B.MẸ - Ông chả hỏi đầu đuôi câu chuyện gì cả. Lại cứ dồn con nó. Chiếc đồng hồ ấy là tại 
      thằng Phú: nó vào nhà, lừa con nó để lấy...chứ con nó có dám tự tiện lấy đi đâu              ?
HẰNG - Đúng đấy bố ạ! Chính thằng Phú nó lấy cắp chiếc đồng hồ của bố đấy. Em nó chả 
          bao giờ dám chủ động làm chuyện đó.
Ô.BỐ - Gớm nhỉ! Mẹ con bà vây giờ lại về hùa với nhau giả dối để che mắt cả tôi.
B.MẸ - Cái ông này bây giờ ăn nói mới hay! Ai người ta giả dối để che mắt ông? Sự thật 
          nó rành rành như thế chứ!
HẰNG - Bố nghi oan cho mẹ con con rồi! Đúng là thằng Phú nó ăn cắp, chứ em Thắng 
          không dám.
Ô.BỐ - Cho dù có thế! Nhưng nếu nó không cùng một duộc ăn cắp với cái thằng lưu manh 
          côn đồ ấy, thì ai bắt được nó phải đi theo?
THẮNG - Con cũng chẳng muốn đi theo, tại nó cứ rủ rê con mãi, con...
B.MẸ - Lần này con nó đã biết lỗi, ông cũng tha cho con. Con đã nói đấy: nào nó có muốn
       đi theo.
Ô.BỐ - Lần nào mà nó chẳng biết lỗi. Bà còn bị con bà nó lừa cho suốt đời.
THẮNG - Con không cố ý lừa bố lừa mẹ.
HĂNG - (với Thắng) Lần này em nhớ nhé! Buông thả mình mãi rồi hối không kịp. Lại xin 
         lỗi bố đi, rồi nhớ mà tu chỉnh cuộc đời.
Ô.BỐ - Không được. Nếu anh không đem cái đồng hồ ấy về đây thì đừng có nhơn nhơn 
         bước chân vào cái nhà này nữa.
HẰNG - Ôi bố! Em nó biết làm như thế nào được nữa ? 
                                     (ông bố cứ bực tức đi lại quanh phòng)
Ô.BỐ - (giọng tức tối) Cứ cái kiểu này gia đình nhà này cũng tan nát chỉ vì mình nó thôi, 
        bà hiểu không.
B.MẸ - (cũng tức) Thôi được, tôi sẽ đi lấy cái đồng hồ về đây cho ông.
Ô.BỐ - Khổ quá! Tôi nào có ý ép bà phải làm điều đó?
B.MẸ - Mẹ con tôi đã phải nói với ông hết lời. Mà ông vẫn cố chấp bắt ép thằng Thắng...
        thì quá bằng ông bắt ức tôi.
HẰNG - (rên) Con xin mẹ. Con xin cả bố. Sống thế này thì như chết thôi, bố mẹ ơi?
Ô.BỐ - (với Thắng) Anh đã mở mắt ra chưa? Anh có phải là một thằng con vô tâm bạc 
         nghĩa hay không? Mẹ anh đã về hưu mất sức vẫn còn phải xách cái giỏ nước                     chè, hộp thuốc là ra vườn hoa ngồi bán. Lấy tiền nuôi gia đình, lo cho cả chị anh 
        và anh ăn học. Bố anh, tức là tôi đây này: hồi chỉ mới độ tuổi anh đã lên đường 
         vào Nam giết giặc. Chị gái của anh cũng là một sinh viên sư phạm năm thứ tư 
          nay mai sẽ là một cô giáo. Gia đình căn bản nề nếp như thế mà anh đem bôi

         nhọ. Người ta nuôi con chó, con mèo: nó cũng còn biết công chủ giữ nhà, bắt
           chuột. Thật, thật suy nghĩ của anh chưa bằng con vật.
B.MẸ - (giật giọng) Thắng! Con đặt cái đồng hồ ở hiệu cầm đồ nào? Đặt bao nhiêu? 
THẮNG - Thằng Phú nó đặt chứ con không đặt. Số tiền con không nhớ rõ. Nhưng nó đưa
            cho con cái các-vi-zít của cửa hiệu, để nếu chạy được tiền thì đi chuộc về.
                             (Thắng đưa tấm các cho Hằng) 
                                                                                                                                                                                          

 B.MẸ - Hằng! Theo mẹ. Hai mẹ con đến cửa hiệu cầm đồ để chuộc lại cái đồng hồ về cho
           bố con !
Ô.BỐ - Mẹ con bà muốn làm như thế nào thì làm. 
                                (ông giận dỗi bước ra khỏi nhà)
B.MẸ - (Với Thắng) Lần này thì con nhớ đời nhé! Con làm khổ tất cả mọi người. (với Hằng)
             Đi thôi con! (với Thắng) Còn con, ở nhà mà lo việc học hành, ôn thi đại học
            đi!
                 (Bà mẹ và Hằng ra khuất. Còn lại mình Thắng. Bóng Phú chập chờn ngoài cửa) PHÚ - (vào) Tao vừa thoáng trông thấy, bóng ông bà già và bà chị gái của mày đi ra phố.
THẮNG - Cho nên máy mới thừa cơ để xộc vào đây, phải không ? Tôi đã bảo với ông rồi:
          đừng có vác cái mặt ông đén nhà này nữa!.. Tôi đang sống dở, chết dở đây.
PHÚ - Thế thì lại đi xả hơi với tao ? Nghĩ làm chó gì cái đời này hco nó mệt đầu. Này,
           xem... (mắt nhìn quanh) Còn những thứ gì có thể đáng giá, xoáy lấy vài cái. Lại

          đi với tao ra hiệu cầm đồ... tiếp tục.
THẮNG - Xin bố. Xin bố. Bố xéo nhanh đi cho con nhờ. (Lấy tay đẩy Phú ra khỏi cửa) May
           mắn nhất cho tao là mày nên cút đi, kẻo nhà tao về đến nơi bây giờ đấy.
PHÚ - Còn nợ tiền chưa trả được cho tao, thì đừng có giở cái giọng ấy ra !
THẮNG - Thì ông cũng biết, tôi làm gì còn tiền. Có mấy món đồ có thể bán được, thì ông
            đã nướng sạch trong đám bạc rồi. Số tiền nợ ông, từ từ tôi sẽ tìm cách trả cho
                 ông.
PHÚ - Mày trên răng dưới cái tút, nếu không tìm cách phục thù thì biết đến bao giờ mới

         trả được cho tao ? Nhưng chỗ bạn bè, tao cũng đến mức cạn tàu ráo máng bắt 
           mày phải trả ngay. Thế nên tao mới bảo: xem nhà cửa xoáy lấy vài cái đáng giá
           một tý... rồi theo tao đi gỡ lại. Biết đâu lần này mày chả thắng ! Khi đó, mày vừa
           hoàn trả lại cho gia đình, lại vừa xông xênh.
THẮNG - Tao không cờ bạc nữa đâu, tao còn phải ôn thi đại học.
PHÚ - Ồi, đại học làm cái chó gì. Khối thằng kỹ sư thất nghiệp kia kìa ! Mất công khốn

           khổ mấy năm đại học, không tìm được chỗ làm, làm toàn lăng nhăng kiếm tiền
           mà sống. Cứ như tao đây này, vẫn sướng như vua.
THẮNG - Tao đã bảo dứt khoát là tao không đi nữa. Mày đi về đi !
PHÚ - Mày nói thật đấy chứ ?
THẮNG - Đời tao theo chúng mày thế là quá đủ rồi.
PHÚ - Thế mày đưa tiền đây ? Rồi đây chuồn
THẮNG - Mày bắt bí tao ? Dồn tao vào con đường cùng à ?
PHÚ - Tiền nong thì phải sòng phẳng, có thế thôi.
THẮNG - Nhưng khi hết tiền, tao đã nói là tao không chơi nữa. Mày tự động rút tiền đưa
           cho tao. Khích tao chơi tiếp... Chính mồm mày đã nói: chỗ bạn bè tiền nong
           không đáng gì. Bao giờ có trả mày cũng được. Bây giờ máy, mày... thật là một
           thằng đểu cáng.
PHÚ - Thằng ngu. Tao cho vay để tạo thêm cơ hội cho mày phục thù. Đánh thắng, ít nhất
           là mày cũng thu hồi lại được số tiền của mày đã mất. Đã gọi là cờ bạc bịp ! Chỉ
            có thằng đần như mày... đã đánh bạc lại còn muốn thật thà, trong sáng. Thua là
           phải. Đừng có nói lằng nhằng. Khôn hồn thì tìm cách trả tao.
THẮNG - Thì tao có nói là tao không trả đâu ?
PHÚ - Mày đã biết luật rừng rồi chứ ? Mày định phản lại đồng bọn, rút chạy à ?
THẮNG - (mặt hơi biến sắc) Tao đâu có phản lại đứa nào ? Tao chỉ ...
PHÚ - Bỏ đồng đội, tức là làm phản. Luật giang hồ mà... (vỗ về Thắng) Không chỉ tao.

          Chúng nó sẽ không để yên cho mày đâu. Đã nhúng chàm thì phải theo thôi em ạ !
     Thôi đi !..
                 (Ông bố xuất hiện ở cửa)
Ô.BỐ - Đi đâu ? Anh đến đây định lôi kéo thằng Thắng đi đâu ?
PHÚ - (giả vồn vã) À, có đi đâu đâu ạ ! Chả là, bạn bè cũ, tiện qua thì tạt vào thăm nó.

           Bác đi ra phố chơi, về ạ ?
Ô.BỐ - Tôi chơi hay không thì việc gì đến anh ? Anh ra khỏi nhà tôi ngay ! Tôi không cho

           phép anh lôi kéo thằng Thắng con tôi, đàn đúm theo cái lối sống bừa bãi, tha
           hóa, đồi trụy của các anh.
PHÚ - Ông nói năng cho cẩn thận một tý ! Cứ làm như con ông còn nhỏ dại, mà bảo tôi lôi

          kéo. Đừng có mà đi chê người ? Con ông không hay hớm đạo đức gì đâu ?
THẮNG - (gắt) Phú, ông về đi !
Ô.BỐ - (với con) Anh để cho nó bôi tro, trát trấu vào mặt bố anh. Anh đã thấy sướng chưa ? (với Phú) Nếu anh không ra khỏi nhà tôi. Tôi sẽ gọi công an.
PHÚ - Thì ra, cần gì ! (với Thắng) Liệu mà thu xếp trả ngay khoản tiền mày đã nợ tao,

           không thì... (định ra)
Ô.BỐ - Nợ gì ? Tiền nào ?
PHÚ - Tiền con ông nợ tôi chứ còn nợ nào ? Tôi đến đây để đòi nợ, chứ không để chơi

          đâu ?
THẮNG - Ông Phú ! Đó là chuyện giữa tôi với ông. Không can gì đến bố tôi...

 Ô.BỐ - (với Thắng) À, ra thế ? Anh tàn phá gia đình chưa đủ, còn đi vay nợ lung tung để 
          chơi bời...
PHÚ - (với ông bố) Ông cũng liệu cách thu xếp mà trả cho cậu con trai.?...
Ô.BỐ - Đéo mẹ tổ sư chúng mày. Chúng mày đàn đúm vay vỏ nhau, chứ ông công nợ gì
           chúng mày mà lại định ngoặc cả ông ? 
                                    ( Bà mẹ và Hằng ngoài cửa vội chạy vào )
B.MẸ - (kêu toáng lên) Thằng Phú ! Mày lại định đến để rủ rê, lôi kéo con bà. Bà sẽ gọi
           công an vào để lôi cổ mày đi ! (ra gần cửa gọi) Anh công an ơi ! Đồng chí cảnh 
             sát ơi ! (trở vào) mày vừa cờ bạc, vừa ăn cắp, lại còn bám lấy con bà. Dẫn dắt
           con bà vào con đường xấu... Thế có khổ tôi không ?
PHÚ - Cái ông bà này, làm cái gì mà cứ như là... (với Thắng) Bố mẹ mày điên cả rồi !
                                    (định ra)
B.MẸ - Mày đã là thắng ăn cắp mà còn dám ngang nhiên đứng ở nhà bà. Mày không đi

         mau thì chính quyền đến, họ túm lấy mày đi bây giờ ? Nhà bà không có gì để cho 
             mày ăn cắp nữa đâu ?
PHÚ - Tôi ăn cắp ở nhà bà cái gì ?
HẰNG - (giơ ra cái đồng hồ vừa đi chuộc về) Mày không lấy cái đồng hồ này, rồi đem bán

           ở  hiệu cầm đồ là gì ? Gia đình tao vừa phải bỏ tiền ra để chuộc lại nó về đấy !
PHÚ - Tôi chỉ là người cầm hộ thằng Thắng cái đồng hồ này thôi, chị hiểu không ? Chị hỏi
          thằng Thắng xem: tiền bán đồng hồ ở hiệu cầm đồ, là thằng Thắng nó lấy. Nhưng 
           nó bị thua bạc, mất hết. Tôi ăn cắp thì tôi phải được tiền bán chứ ? Sao chị lại đổ
            cho tôi ? (với bà mẹ) Nếu bà gọi công an đến để bắt thằng ăn cắp, thì thằng ăn 
           cắp chính là con bà ! Phải bắt con bà ! Chứ không phải bắt tôi ? 
THẮNG - Ôi thằng Phú ! Thằng Phú !.. mày thật là đồ đểu.
Ô.BỐ - (chỉ Thắng) Vinh hạnh chửa ? Tốt đẹp chửa, nghe con ?
HẰNG - (với Phú) Thế còn mấy nghìn bạc của tao để ở ví. Trong cái túi xách kia kìa ! Mày
            cũng móc lấy mất. Mày còn làm rơi cả thỏi son ra bàn nữa. Mày còn chối 
               không ăn cắp nữa không ?
PHÚ - Ơ hay ! Chị dám ngang nhiên đặt điều vu vạ. Chị bảo tôi ăp cắp tiền của chị, bằng
          chứng đâu ? Thằng em trai nó móc ví ăn cắp tiền của chị ! Rồi nó đổ cho tôi, chị 
           cũng tin à ?
THẮNG - Tao lấy tiền của chị tao bao giờ ?
PHÚ - Đó là chuyện của chị mày và mày, tao không biết !
                            (Ông bố nghe chuyện giật mình. Cứ đi lại lẩm nhẩm... )
Ô.BỐ - (với mình) Ra bây giờ nó lại còn lấy cả tiền của chị gái nó nữa ?.. Hỏng rồi ! Không
               gỡ được nữa rồi ! Không thể nào còn chấp nhận được nữa rồi !
                                   (bỗng ông quay lại).
Ô.BỐ - (với Phú) Chỉ cần cái chuyện cờ bạc người ta cũng đủ túm mày đi rồi ?
PHÚ - Cờ bạc, đề đóm... bây giờ đầy. Ngoài vườn hoa, quán nước, chỗ nào mà chẳng có.
            Mới hơn nữa, tôi đến đây có phải để cờ bạc đâu mà định bắt tôi ? 
                              (không khí im lặng)
PHÚ - (tiếp) Nhưng thôi. Tôi cũng chuồn đây ! Nhân thể, tôi nói để ông bà biết: thằng
           Thắng nó đã vay tôi một khoản tiền. Mà nợ vay thì phải trả ! (giọng thách thức)
             Để tránh khỏi hậu họa đến thân.
HẰNG - (vội lại hỏi Thắng) Thật vậy hả Thắng ?.. Sao em lại liều đến thế ?
Ô.BỐ - (chỉ Phú) Tiền nong chúng mày gán cho nhau trong cờ bạc. Mày lại dám ngang
           nhiên đế đây để đe dọa gia đình ?
PHÚ - Tôi đã nói rồi: ông bà là bố mẹ của nó thì tôi báo. Còn xử trí thế nào là tùy ông
            bà ? Nhưng với nó, chuyện nợ nần xưa nay không ai ăn quỵt được.
THẮNG - Thì tao có bảo tao quỵt tiền vay nợ của mày không ? Rồi tao sẽ lo để trả mày...
            Mày không phải giở trò để làm cái kiểu đó.
PHÚ - Có ăn quỵt với tao cũng không được.
B.MẸ - (xuê xoa với Phú) Thôi thôi... Không ai ăn quỵt nợ của anh cả. Nhưng tôi cấm anh
            từ giờ không được bén mảng để lôi kéo nó nữa. Bây giờ anh về đi !
Ô.BỐ - (với bà mẹ) Nó giải quyết với nhau thế nào thì mặc xác chúng nó ! Không hơi đâu
            mà bà phải đi lo đến như thế !
B.MẸ - (gắt lên) Không ai khiến ông lo. Ông làm việc của ông đi.
PHÚ - Bà nói còn dễ nghe. Bà già này ! Tiền trong nhà là tiền chửa, tiền ra ngoài là tiền
          đẻ - Đáng lý vay là phải trả lãi ! Nhưng vì tình bạn giữa tôi với nó, tôi đã không
            lấy lãi là phúc cho nó. Bà phải chạy nhanh nhan lên đấy !
Ô.BỐ - Tổ sư cái tình bạn kiểu bọn thanh niên bây giờ của chúng mày. Rồi chúng mày sẽ
           bán cả bố mẹ, quê hương tổ quốc không biết chừng ?
THẮNG - (với Phú) Thôi, ông cũng đi đi !
PHÚ - Được, tao đi. (đe dọa) Nhìn cho rõ cái mặt tao, nghe Thắng ! Đừng có mà giở quẻ.
                              (Lúc này Hằng xổ tóc ra nổi giận lao đến chỗ Phú như con hổ cái)
HẰNG - (túm lấy ngực Phú) Mày tưởng ai mày cũng bắt nạn được hả ? Đồ chó mà, cút đi!
              (đẩy mạnh làm cho Phú ngã dụi vào bờ tường) Bà báo cho mày biết: nếu mày
               mà động đến thằng em bà, thì bà sẽ lấy dao đâm nát cái mặt mày ra.
HẰNG - (hung dữ) Mày không xéo ngay ra khỏi nhà bà - thì bà cho một ghế vỡ cái mặt
             mày ra bây giờ !
PHÚ - (luống cuống) Con hổ cái ! Mày muốn tao đi thì tao đi ! (biến ra khỏi nhà)
HẰNG - (quát theo) Bà sẽ nhờ cả chính quyền đoàn thể giúp đỡ. Nếu mày còn dám bén
             mảng đến đây, họ sẽ bắt giữ mày ngay ! 
                        (Phú khuất hẳn. Gian phòng lắng đi giây lát. Hằng đặt chiếc ghế xuống
                         bàn rồi gieo mình lên ghế. Ông bố lẳng lặng đi lên gác. Không gian chỉ
                         có ánh sáng và tiếng nhạc... minh họa tâm trang và tính cách của từng
                          người) 

                                                
HẾT KỊCH












  



  
 





<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.01.2012 11:35:00 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 16.02.2012 10:55:24
.
     Hồi cuối năm vừa qua tôi có viết 2 bài bình luận có thể gọi là đáng nói - về hai nhân vật có tên tuổi của HNVVN đương đại: Đó là ông Hữu Thỉnh (Chủ tịch HNVVN) & nhà thơ Bằng Việt (Chủ tịch Liên hiệp Hội Văn học nghệ thuật Thủ đô) - Trước hết nói đến bài viết về Hữu Thỉnh: Ông ta quá tham, lợi dụng vào vị thế Làm Chủ tịch Hội nhà văn của mình, từ trước tới nay đã vơ váo bao nhiêu giải thưởng văn chương rồi... nay lại còn đem tác phẩm thơ mà chất lượng tác phẩm khá tồi cũng định chiếm nốt giải thưởng Hồ Chí Minh nữa... trước khi mãn chiều xế bóng, thôi cái chức Chủ tịch ấy!... Ta từng thấy nhân cách rất đáng trân trọng của nhạc sĩ Phạm Tuyên, mặc dù ông có rất nhiều công lao cống hiến trong nền nghệ thuật quốc gia & cả thành quả trong tác phẩm âm nhạc, nhưng Ông vẫn bàng quan trước giải thưởng lớn ấy, đến khi phải Hội nghệ sĩ đề nghị Ông viết đơn để xét ông mới làm!... Đằng này Hữu Thỉnh dù làm đến cái chức Chủ tịch HNV nhưng tỏ ra rất thường - Bài viết của tôi đã được đăng trên rất nhiều các website trên thế giới và nó còn có giá trị để đánh giá thực chất về tầm vóc thi ca của Hữu Thỉnh lâu dài - Nay xin lưu lại trong tuyển văn xuôi này.
         Nội dung cụ thể của bài bình luận văn chương & nhân cách đó như sau:
 
    
Đem tác phẩm thấp kém dự giải thưởng HCM của ông Chủ tịch HNVVN

                                  
                                                                           
                                Hữu Thỉnh - Chủ tịch HNVVN      


                    
HỮU THỈNH: MỘT CHÂN DUNG THƠ TRUNG BÌNH

                                                                              
Phạm Ngọc Thái

     Đó là hai tác phẩm thơ: Tập "Thương lượng với thời gian" (TLVTG) - NXB Hội nhà văn 2005 và tập "Trường ca biển" mà ông Chủ tịch HNVVN đã mang nó dự, nói đúng hơn là định chiếm một giải thưởng văn chương Quốc gia lớn! Như nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã viết: " Trong một thành phần ban giám khảo do chính Hữu Thỉnh đã thiết kế... rồi ông Chủ tịch "tế nhị, khách quan?..." xin rút ra khỏi Hội đồng xét giải".

      Hay như nhà văn Nguyễn Quang Thân đã lên tiếng phê ông Hữu Thỉnh (HT) ăn tham, kiểu tự mình cho mình giải thưởng là vừa đá bóng vừa thổi còi, vừa lĩnh thưởng, vừa khen ban chấm giải... công minh! ( trích bài TMH).
      Người ta tính đến nay ông HT đã 05 lần "ăn" giải thưởng văn học Quốc gia, kể cả giải thưởng Vua Thái Lan gọi là "giải Asean - 1000 USD" mà chính ông Chủ tịch đã tự đề cử cho mình... cùng với nhiều giải khác. Như kết luận của Trần Mạnh Hảo: Ông Hữu Thỉnh đã đạt kỉ lục ăn giải văn chương trong thời đại ngày nay là... vô địch thế giới!

    Xin quay trở lại  với 2 tác phẩm của HT đã nêu trên - Vậy dư luận trong giới văn chương đã nói gì về các tập thơ "Thương lượng với thời gian" & "Trường ca biển" của ông? Ngay từ khi 2 tác phẩm đó ra đời đã bị rất nhiều sự phê phán, chỉ trích: 
     Nào là Tập TLVTG dở và nhạt nhẽo vô cùng, viết cẩu thả. Nào là không có gì nổi hơn so với mặt bằng thi ca. Là một bước lùi, xuống dốc không phanh của nhà thơ Hữu Thỉnh. Nào là thơ sáo mòn, nhạt hơn nước ốc. Về thi pháp thì "râu ông nọ cắm cằm bà kia", nhiều bài giả tạo, khiên cưỡng, triết  lý vớ vẩn, nhiều câu viết y chang những câu cũ tầm thường, lại thừa chữ vô tội vạ. 
      Dư luận với "Trường ca biển" là một tác phẩm làng nhàng, nhạt nhẽo, đọc Trường Ca Biển ta bắt gặp cách nói phúng chỉ, ví von thẽo thọt, tủi phận...lặp lại từ các tập thơ trước của chính tác giả. Nói tóm lại, Trường Ca Biển thiếu hẳn giá trị nghệ thuật, thiếu xúc cảm, thiếu một trái tim chân thành với thi ca.
     Trong bài viết này tôi xin chính thức bình luận về hai tập thơ ấy của ông. Trước hết:

              
               NÓI VỀ TẬP THƠ " THƯƠNG LƯỢNG VỚI THỜI GIAN"

       Hữu Thỉnh làm thơ rất ẩu, tư duy khá lung tung, rồi tìm những từ hay hình ảnh hoa hoét hoặc có nỗi đoan trường ghép lại. Có bài mới đọc lên cứ tưởng... cũng thấy là lạ hay hay... nhưng rồi gấp lại thì bài thơ chỉ màng màng như một lớp sương khói, hay đó cũng chỉ là một ý tưởng nhạt thếch, nông choèn. Tôi có thể nêu các kiểu làm thơ tạp-pí-lù ra đây có đến vài chục bài trong tập thơ trên năm mươi bài của ông. Thí dụ như bài "Bóng mát":
       Tôi như cây biết giấu lá vào đâu/ Giữa gió bụi cõi người/ Nếu giấu lá thì còn đâu bóng mát/ Bóng mát mà không che nổi chính tôi.
    Mới đọc thì có vẻ nỗi đời, nỗi người, nỗi trần ai đây? nhưng ngẫm kỹ bài thì không biết anh ta đang định nói về cái gì? "bóng mát" kia biểu thị cho cái gì? Không rõ! ,"gió bụi cõi người" nghe cũng đoạn trường đấy chứ? nhưng gắn với hình ảnh "lá" ở câu trên - "lá" kia là cái gì của anh ta? Vì câu thơ "Tôi như cây biết giấu lá vào đâu" mà. Nó tượng trưng cho khuôn mặt, ý nghĩ, tình cảm hay tư tưởng chăng? Chưa hẳn, trái tim? cũng không phải.
                       Nếu giấu lá thì còn đâu bóng mát
    "lá" của anh ta đã cho cái gì mà làm ra "bóng mát", cho đời hay cho chính cuộc đời anh? Vậy là nửa bài thơ rồi vẫn chưa biết nó là cái gì? Ta lại xem câu kết:
                       Bóng mát mà không che nổi chính tôi
     Cái cây nó có bóng mát để che cho đời, nhưng "lá" của anh ta thì chẳng rõ là cái gì - mà nói cái "bóng mát" ấy không che nổi chính anh ta? Thế là nghĩa cũng như tứ thơ lung lung tứ mẹt. Hữu Thỉnh viết văng mạng ra chẳng cần biết nó biểu thị cho cái gì hết - Và, bài thơ trở thành...vô nghĩa!
        Trần Mạnh Hảo nói Hữu Thỉnh làm thơ rất ẩu chính là vậy.
Thơ HT nhiều bài bất cần tính lôgich trong tư duy triết lý dù chỉ là một bài thơ ngắn vài câu, tôi thí dụ một bài thơ khác:
Đôi luống thời gian/ Ai ải mùi đời/ Hì hục câu thơ/ Gieo chỗ không người/ Tấm chăn ngôn từ/ Dầy sao không ấm/ Thi nhân dậy chưa/
Gà đang chuyển sớm/
- (Mồ hôi đón ngõ).
Đọc lên cũng đã thấy cái thời gian ai ải mùi đời kia, chắc là thời gian như cuộc đời thum thủm toàn phân tro chăng? Mấy từ "ai ải mùi" mà tác giả sử dụng cốt chỉ để thơ cho có vẻ hình tượng "kêu" đấy thôi, nhưng đó là cách sử dụng vơ váo bất kể ý nghĩa. Sau đó tự nhiên lại chuyển sang ý thi nhân làm thơ gieo vào chỗ không người? Chắc là muốn nói thiên hạ rất mông muội về thi ca, nên anh ta gieo vào họ như gieo vào chỗ không người, rồi đến gà qué báo sáng...thế là hết thơ! Cũng chẳng biết cái thời gian ai ải mùi đời kia với người thi nhân làm thơ nó có quan hệ với nhau thế nào, và nó được đưa vào trong bài thơ để nói lên ý nghĩa gì? cũng đã được thêm một bài.  HT làm thơ rất nhiều bài đại loại nham nhúa như thế!
Cũng có khi chỉ do một ý tưởng nào đó chợt vụt đến, thoáng qua mà tác giả vội ghi lại, đáng lý nó mới chỉ là tư liệu trong một bản nháp. Nhưng HT đã sử dụng ngón nghề của một tay thơ chuyên nghiệp, thêm dăm ba chữ mắm muối vào đó hoặc tìm đại vài hình ảnh cho có vẻ kêu kêu, bất cần hình ảnh đó ý nghĩa có hợp với bài thơ không, xào xáo nó lên -  lại được thêm một bài thơ nữa, hay gộp nó lại thành tập lấy một giải thưởng văn chương. Tôi ví dụ thêm bài thơ "Năm đi":
   
Gió sao là lạ. Mây khang khác/ Không hiểu. Hay là nhịp cuối năm/ Hôm qua thì tiếc. Mai thì sợ/ Tuột cương trăng cũ lại sang rằm.
   Một câu kết kêu như chuông nhưng lạc lõng, từ ngữ bóng bẩy có vẻ đẹp mà chẳng ăn nhập gì với những ý của bài thơ. Tôi không muốn dùng 2 chữ "ý tưởng" nữa, vì bài thơ ngắn ngủn của một đôi suy nghĩ chợt đến chưa đạt được đến mức độ có ý tưởng? Bài thơ này chắc là HT nhặt nhạnh lung tung trong đống giấy nháp, rồi sửa chữa qua quít để thêm một bài nữa cho tập. Cũng chỉ là một bài "thơ rác".
Ôi, ông Chủ tịch HNV ơi! Đúng là thời buổi cào cào châu chấu lên ngôi cả rồi.
Cần phải ví dụ cho bạn đọc thấy thêm hàng loạt các bài thơ HT đã làm như vậy. Bài "Ngẫu cảm" chẳng hạn:
Thu hết mọi tiếng chuông/ Cõi thiện xa xăm câu kinh vượt dốc/ Bao nhiêu kỳ quan che không kín những gì lầm lạc/
Mây vừa đi vừa ngoái lại trông người/.
   Chưa nói đến bạn đọc mà ngay một nhà thơ nào yếu bóng vía, có khi chỉ cần đọc mấy câu của bài thơ này phải "sợ tài nhà thơ chết khiếp" , phục lăn ra mà cho rằng có lẽ nó sắp đạt độ ... kiệt tác. Nhưng thực ra bài thơ chỉ là những sự lắp ghép loạn xạ, tư duy lung tung chẳng đâu vào đâu. Chẳng biết bài thơ nói cái gì? Đây cũng đích thị là một bài thơ để...loè đời! Cái ngón nghề mà HT tìm ra trong quá trình sáng tác thơ của mình chính là thủ thuật rất sảo ấy đã thành sở trường trong quá trình làm thơ của ông. Trong bài viết Trần Mạnh Hảo nói Hữu Thỉnh làm thơ hay lấy "râu ông nọ cắm cằm bà kia" là vậy.
Có lẽ không phải là HT không biết cái hạn chế trong sáng tác thơ của mình... và có lẽ cũng không phải là không biết sự kém cỏi của tập thơ "Thương lượng với thời gian"!  Cho nên cũng đã có lúc ông tự thú - Ta hãy đọc bài thơ "Người làm mùa" thì rõ:
Những gié vàng lại tụ hội vàng tươi/ Mùa hoàn hảo? Thiên nhiên bầy kiệt tác/ Sao với ta vẫn chỉ vài nét phác/
Tẩy xoá hoài người vẽ mãi chưa xong?
      Ý muốn liên hệ với "mùa thi ca" của ông ta đây? Đã biết thơ mình mới chỉ là những nét phác, nhạt nhẽo còn nông cạn. Còn với mình thì "tẩy xoá" mãi vẫn không viết nổi một bài thơ hay - Thế mà vì lòng tham, ông Chủ tịch đã 05 lần lấy giả thưởng Quốc gia rồi, lần này vẫn mang ra định lấy tiếp cái giải thưởng HCM kèm với 200 triệu đồng cơ đấy!
HT viết nhiều thơ dở quá, định thôi nhưng lại xin ví dụ tiếp một bài thơ nữa - Đó là bài "Những người đi lại phía tôi":
Những người đi lại phía tôi/ Bao nhiêu bóng mát một lời lá bay/ Mặc ai xô dạt mỗi ngày/ Múc đau lòng giếng vẫn đầy sao hôm.
     Hình ảnh thì cũng có vẻ hoa mỹ, rồi nỗi mình, nỗi đời - Nhưng bài thơ nói gì nhỉ? Nếu kết lại thì hình như là... vô nghĩa! Nó "vô nghĩa" bởi vì nó tư duy theo kiểu ba-chi-khươn, vơ váo và lắp ghép nhằng.
Tôi xin phân tích hình ảnh "bao nhiêu bóng mát" kia là gì? Có phải bao nhiêu người đang đi lại phía nhà thơ đã đem cho ông ta bóng mát không? Nếu thế thì cũng có tính nhân văn đấy, nhưng liền ngay sau đó lại là hình ảnh:
...  một lời lá bay
   Chả lẽ để đáp lại "những bóng mát" mà người đời đã đem lại cho ông (đó tức là những danh lợi mà ông đã được hưởng), ông chỉ đáp lại cho họ, tức là cho cộng đồng... "một lời lá bay" ư? Nghĩa là, tao cũng chả cần phải trả cho chúng mày nhiều, một đôi lời ve vuốt suông, hay chút bổng lộc gì đó cỏn con thôi, sau đó ông thoảng qua như ...lá bay!... và ông cứ ung dung hưởng "những bóng mát" mà người đời mang lại cho ông. Bởi vì ngay câu thơ thứ 3 viết:
     Mặc ai xô dạt mỗi ngày...
Thể theo sự liên kết trong tư duy bài thơ thì: Ông cứ mặc cho cuộc sống những kẻ đã mang lại bóng mát cho ông bị xô dạt, chìm nổi...Ông mặc xác tất cả - và bài thơ kết:
    Múc đau lòng giếng vẫn đầy sao hôm
   Hình ảnh "múc đau lòng giếng" có vẻ ghê, nhưng để nói cái gì? Ta giả sử nếu cái giếng kia biểu thị cho đời - Ông cứ việc múc đau lòng đời, tức là ông cứ việc vơ vét, hưởng thụ những lợi lộc của đời mang lại... cho đến cuối đời ông. Bởi vì hình ảnh "sao hôm" sẽ biểu thị cái nửa đời chiều của ông mà... "vẫn đầy sao hôm" là vậy.
Còn nếu ta giả sử hình ảnh "cái giếng" kia để chỉ bản thân nhà thơ - Ông múc đau ông, nghĩa là ông sẵn sàng hy sinh bản thân cho hạnh phúc của mọi người, tức là cho đời - Thì sao câu thơ trên ông lại viết: "Mặc ai xô dạt mỗi ngày"???... Thế là bài thơ trở thành khập khiễng, ý thơ phi lý, hình ảnh như những cánh hoa giấy đẹp nhưng lung tung. Bài thơ này cũng chỉ để ... vứt đi!
Tôi lại ví dụ thêm bài nữa, bài "Vô thanh":
   Tôi ngồi nhặt sỏi đếm buồn/ Gió đi tìm khói chon von mấy đồi/ Mây kia ham sự nhất thời/ Bao nhiêu oan nghiệt mắt người ngước lên.
   Ví von, nhặt nhạnh hình ảnh lắp ghép bừa đi, bài thơ như đánh đố người ta vậy. Chẳng ra tả, mà cũng chẳng biết nói về sự đời gì... gì?
Đấy là tôi mới ví dụ một số bài thơ ngắn cho dễ đọc. Để bạn đọc khỏi nhàm chán tôi chỉ xin ví dụ thêm một bài thơ dài hơn, nhưng cũng viết ẩu làm nhàm như thế. Đó là bài "Lời mẹ" - Nói về mẹ thường là những bài thơ rất máu thịt, da diết. Nhưng Lời Mẹ của HT thì phải nói thơ viết hồ đồ đến mức độ hơi nhăng nhít. Bài thơ chia làm 3 khúc, mỗi khúc có 8 câu, tổng cộng toàn bài có 24 câu. Đây là:
Khúc I-  Khúc đầu tiên này thì nó còn kể lể có chuyện một tý, tuy cũng chỉ viết nôm na tung hứng bừa đi thôi, chẳng có gì gọi là chắt lọc hay nghệ thuật tinh tuý. Nhưng thôi, ta chấp nhận như thế, tạm gọi là cũng được:
Mẹ đã sinh ra tôi/ Đặt tên cho tôi nữa/ Một cái tên nõn nà/ Hồn nhiên như sói nhỏ/ Cái cối và cái chày/ Con mèo và con cún/
Yêu mấy vẫn chưa vừa/ Thoắt trở thành người lớn.
   Mấy câu sau là tác giả đã nhặt nhạnh bừa đi rồi đấy, ghép lại thành một khúc - Chưa thể gọi là ăn nhập với nghĩa trong cả bài. Ta cứ đọc tiếp sẽ thấy. Đến khúc thứ 2, thứ 3 mới thật là thứ thơ... hô khẩu hiệu. Mà đây là khẩu hiệu rất sáo rỗng, nhạt nhẽo. Nhưng tác giả không phải chỉ hô khẩu hiệu một lần đâu - Hai khúc thơ, mỗi khúc 8 câu - Chỉ có 2 câu đầu là khác, còn 6 câu sau lặp lại y hệt nhau, ý tứ vơ váo. Chợt nghĩ được cái gì là đưa luôn vào, cứ như là viết đại cho xong, đọc chối không chịu nổi. Để bạn đọc thấy rõ xin chép lại cả 2 khúc sau ra đây:
Khúc II - Tôi bước ra ngoài ngõ/ Gió thổi. Nước triều lên...             

      Đi hoài không gặp tiên/ Đành quay về hỏi mẹ/ Hãy yêu lấy con người/ Dù trăm cay nghìn đắng/                    Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi, chơi với cây!
     Khúc III-  Tôi lại bước dưới trời/ Không tiếc mòn tuổi trẻ/...  (6 câu sau giống hệt ở khúc 2)
Đi hoài không gặp tiên/ Đành quay về hỏi mẹ/ Hãy yêu lấy con người/ Dù trăm cay nghìn đắng/ Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi, chơi với cây!
   Xin phân tích một chút ở câu thơ cuối khúc - Sao lại kết "Xong rồi chơi với cây"? Nếu là những người chán sự thế, chán chốn quan trường... đi ở ẩn như Nguyễn Khuyến chẳng hạn, hay như thi sĩ Tản Đà chán chốn hồng trần tìm đường lên núi "tu tiên" đã đành... đằng này HT còm ham danh lợi thế cơ mà? Đọc thơ ta có thể hiểu: Mẹ từng dặn anh ta rằng, con người nó hay lừa lọc, gian sảo lắm, tốt thì ít mà xấu thì nhiều... đừng nên "chơi" với con người mà chỉ nên chơi với cây thôi!
Nhưng mẹ lại cũng dặn anh ta: Phải làm một con người cao thượng. Con người tuy xấu thế đấy, nhưng lúc họ gặp nạn... thì phải đến cứu vớt họ (như ở câu thơ trên đó đã viết "Đến với ai gặp nạn") - Xong rồi lại về..."chơi với cây"! Vậy lời dặn ấy HT đã cao thượng đến thế nào mà sao còn  tham lam thế? Đây là một bài thơ viết cẩu thả. Cái đoạn lặp đi lặp lại dài đến 6 câu nào có hay gì, có nghệ thuật thi ca gì cho cam, chỉ là cách nói đạo lý sáo rỗng. Câu thơ : Đi hoài không gặp tiên/ - Hình ảnh ấy chắc HT chợt nhớ về chuyện cổ tích, có cô bé hoặc cậu bé nghèo khổ... đã mơ thấy ông tiên hay bà tiên hiện về - Thế là bê luôn vào thơ, mà lại là bài thơ nói về nỗi đời, đoạn trường người lớn hẳn hoi. Một bài viết về mẹ thuộc dạng nhàm chán nhất, nhì đối với một nhà thơ chuyên nghiệp mà tôi từng được đọc.
Thế đấy, thơ ông Chủ tịch đã lãnh đạo HNVVN đến 3 khoá của chúng ta hôm nay là thế đấy!
Nói dài, bình thêm làm gì nữa cho bạn đọc càng nhàm chán. Quá đủ để nhìn nhận về  tập thơ "Thương lượng với thời gian" thấp kém, cũng như tầm vóc chân dung thơ ông - Hữu Thỉnh: Một chân dung thơ trung bình!
Tôi sẽ có đánh giá riêng về toàn bộ chân dung đời thơ của ông ở một bài viết khác.
-      Không phải là không có lý trong lần ông được giải Quốc gia đầu tiên với tập trường ca "Đường vào thành phố" - Đã bị nhà thơ Xuân Diệu phê phán là dở vô cùng, là không biết làm thơ, là tào lao chi khươn... ngay trên báo Văn Nghệ. (trích bài TMH).
-     Cũng không phải là không có lý trong lần thứ 2 ông ăn giải HNV với tập thơ "Thư mùa đông", đã bị nhà văn Tô Hoài viết bài chê bai rằng: Thơ Hữu Thỉnh chỉ là một gánh chè chai đồng nát.

Còn với tập "Trường ca biển" - Nếu tôi bình thêm nữa thì dài quá. Song như dư luận hiện nay đã phê phán rất nhiều về giá trị tầm thường, nhàm nhúa của tác phẩm. Tôi chỉ nói thêm: Ý tưởng và cấu tứ thơ luộm thuộm, nội dung ý nghĩa thơ vụn vặt nhàm chán, có nhiều chỗ viết như nói dông dài, nghĩ ra cái gì viết cái đó ào đi chứ không phải thơ. Lời nhiều nghĩa ít, đọc thơ thấy chẳng ra đâu vào đâu. Thơ viết dài dặc, lan man hầu như không có cảm xúc. Một trường ca viết hết sức ẩu và coi thường sự thẩm thấu thơ thiên hạ. Tôi cam đoan rằng: Loại trường ca này không tồn tại với thời gian, không có giá trị và không lưu được đối với nền văn hiến Quốc gia.
Tóm lại - "Trường ca biển" là một trường ca thuộc loại kém, tầm vóc dưới trung bình.
Thế mà Hữu Thỉnh dám cả gan mang nó đi để dự một giải thưởng lớn của Quốc gia - Đúng là đã coi trời bằng vung, nhìn đời dưới con mắt - Tôi xin dừng bài bình luận của mình về 2 tập thơ của ông Chủ tịch HNVVN ở đây, không muốn nói gì thêm nữa.

Phạm Ngọc Thái
Hà Nội* Cuối tháng 9/2011


               *    Đăng trên website banvannghe.com ở Hoa Kỳ- link:
                         
http://www.banvannghe.com/D_1-2_2-77_4-991_5-4_6-1_17-84_14-2/ 
                *   Đăng trên Tuổi trẻ Việt Hải ngoại ở Hoa Kỳ:
        
http://www.tuoitrevhn.com/?act=news&cat=84&sub=&id=N3haVDc4VFRaN1EwOVQwOTgwUTg=
                *    Đăng trên Website vanganh.info Hải ngoại:
         
http://vanganh.info/dem-tac-pham-thap-kem-du-giai-thuong-lon-cua-ong-chu-tich-hnvvn/
                *    Đăng trên hung-viet.org ở châu Âu:
http://hung-viet.org/blog1/2011/09/28/h%E1%BB%AFu-th%E1%BB%89nh-m%E1%BB%99t-chan-dung-th%C6%A1-trung-binh/
                *     Đăng trên nsvietnam.com ở Canada:
                           
http://www.nsvietnam.com/online/sangtac/1002.ht.html
                *     Đăng trang Văn học Nguồn cội - Hải ngoại:
https://trangvhntnguoncoi.wordpress.com/2011/10/01/ph%E1%BA%A1m-ng%E1%BB%8Dc-thai-chan-dung-nha-th%C6%A1-trung-binh/
                *   Đăng trên Bản tin ngày - Hải ngoại:
http://tintuchangngay4.wordpress.com/2011/10/02/h%E1%BB%AFu-th%E1%BB%89nh-m%E1%BB%99t-chan-dung-th%C6%A1-trung-binh/
                 *  Đăng trên luanhoan.net - Hải ngoại:
              
http://www.luanhoan.net/gocchung/html/gc746.htm
                  * Đăng trên thonginberlin.de link:
             
http://thongtinberlin.de/diendan/sept2011/huuthinhmotchandungthotrungbinh.htm 


  
  -  Nói đến bài bình luận thơ Bằng Việt  còn mang tích nhân tình thế sự - Đây thuộc một bài bình luận văn chương có tầm vóc của tôi đã được đăng tải trên hàng trăm website & blog trong nước cũng như trên khắp hành tinh này, cả trên các toà báo Mỹ & ở Úc Châu - Toàn văn bài viết về Bằng Việt đó như sau:

 
        
                                BẰNG VIỆT PHÊ PHÁN XÃ HỘI BẰNG THƠ
                                                  
  Tôi xin bình luận tập thơ “Nheo mắt nhìn thế giới của Ông.

 
                                                                                                         Phạm Ngọc Thái

      Nheo mắt nhìn thế giới” – NXB Văn học 2008, là một tập thơ có tiếng vang và hay nhất của Bằng Việt. Trong lời giới thiệu tập thơ, Ông đã viết:
-  Thơ đối với tôi (tức tác giả) không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống. Đã là một thái độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏ thái độ…
Một đoạn khác cũng lời giới thiệu ấy, Ông còn nhấn mạnh:
-  “Nheo mắt nhìn thế giới” – đầu đề tập thơ này thoạt nghe có vẻ hơi kênh kiệu, thậm chí có phần xấc lược! Nhưng đọc kỹ các bạn sẽ thấy, thực ra là một thái độ, một tâm trạng khá kìm nén, đến mức có phần nhẫn nhịn, lặng lẽ chiêm nghiệm, đôi khi chua chát, ngậm ngùi…
 

 

              Bìa tập thơ "Nheo mắt nhìn thế giới" & Nhà thơ Bằng Việt 

      Nhìn tổng thể tập thơ bắt nguồn từ một cách nhìn của một cõi lòng có phần u uẩn, dồn ứ cảm xúc mà tạo thành thi phẩm, mang tính phê phán xã hội sâu sắc. Vậy ta hãy xem, qua những bài thơ Bằng Việt đã phê phán xã hội thế nào? Xin mở đầu trang bình luận này bằng việc phân tích bài “Nhớ Trịnh”:

Có khi/  Một ngày ruổi rong, một ngày tất bật/  Cũng không làm xong một việc ra hồn!/  Có khi/
Cả tuần lao lung, cả tuần suy ngẫm/ Cũng không nhìn thấu bản thể mình!

Tôi nói về đoạn thơ giữa trước:

Ngày sống vội, tuần sống vội, năm sống vội/  Tuổi hoa niên, trung niên, kế tiếp tuổi già/  Chong chóng quay, rút cuộc được gì?/…
Được chuyển động – làm bù nhìn của gió…

Bằng Việt (BV) không chỉ là nhà thơ, mà còn thuộc hàng thủ lĩnh chính trị trong cơ quan tuyên huấn Đảng, Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thủ đô, phó Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật VN, đồng Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN. Có thể nói suốt cuộc đời Ông luôn tỏ ra trung thành, mẫn cán, phụng sự chế độ như một cái …“chong chóng quay” ( như thơ đã viết). Vậy sao lại phải thốt lên:

Chong chóng quay, rút cuộc được gì?

Ông tự trả lời:
Được chuyển động – làm bù nhìn của gió…

Có nghĩa là, tất cả sự phụng sự không biết mệt mỏi ấy: Ngày sống vội, tuần sống vội, năm sống vội/-  Cả đến những bổng lộc, vinh quang mà Ông đã có (tôi xin nói về ý nghĩa của sự “vinh quang” này sau), cũng chỉ để làm…”một bù nhìn”! Nhưng là bù nhìn của ai? 

               bù nhìn của gió…

Gió thổi thì chong chóng phải quay! “gió” ở đây nó biểu thị cho một thế lực – Đó
chính là bộ máy nhà nước! Ta đọc tiếp những câu thơ dưới:

            Và gió, quẩn quanh đầu sông, cuối bãi,
     Cũng một kiểu bù nhìn của nóng lạnh, Âm-Dương

Khí trời thay đổi… lúc nóng, khi lạnh thì tạo thành gió – Vậy “gió” lại cũng chỉ là “một thứ bù nhìn”… của trời đất ( tức Âm-Dương)! Hình tượng “Âm-Dương” tác giả sử dụng, chính là để chỉ về chế độ cũng chỉ như… “một thứ bù nhìn”  theo chủ nghĩa Marx hoang tưởng mà thôi! Nó vận hành như gà mắc tóc:

            cứ quẩn quanh nơi đầu sông, cuối bãi

     Đó là một bộ máy cổ hủ, thậm chí còn bị tha hoá… (ta sẽ xét ở các bài khác thì thấy ý nghĩa này rõ hơn: như bài “Ngô đồng”, “Người của thế kỷ trước”, hay “Ngôn ngữ và chính trị” v.v…). Để rồi tác giả kết luận: 

               Còn Âm-Dương có từ đâu, tồn tại tới đâu
      Thì mở hết giác quan, ta vẫn là mù tịt! 

      Với kiến thức của một học giả, sự từng trải một đời người và chân dung của một văn nghệ sĩ có tầm vóc, mà Bằng Việt phải than:  mở hết các giác quan, ta vẫn là mù tịt!/ -  Ông hoài nghi, nói đúng ra là Ông không còn tin vào thể chế của chủ nghĩa Marx là đúng nữa? Ôi, nhưng đó lại chính là lý tưởng mà cả đời Ông cống hiến, để bây giờ sụp đổ thế ư? rồi tác giả buồn bã kết luận: 

           Rầu rĩ trở về câu thơ của Trịnh:
   “Đêm thấy ta là thác đổ…”
   Vậy ngày ơi, ta là gì?

      Nghĩa là, hôm nay chỉ là đêm trường – Vậy ngày mai khi trời sáng lạn thì sao? Ông chợt thấy mình rồi sẽ chẳng là gì cả! Mai ngày khi thời thế đổi thay, chủ nghĩa Marx đã không còn, xã hội đi theo một hướng khác đúng đắn và hợp lý hơn!?   Nói một cách cụ thể: tên tuổi với niềm vinh quang mà Ông có hôm nay sẽ chỉ giả ảo nhất thời, nó giống như một “bóng ma” trong chốn quan trường, một thứ bù nhìn… của cái thế thời này! Lòng Bằng Việt tan nát, nên mới  nhắc đi nhắc lại mãi câu thơ: 

          “Đêm thấy ta là thác đổ…”
Có lẽ nào, chỉ thế thôi sao?

Tôi phân tích sang bài “Ngô đồng”:

Thất vọng với ngàn xưa hay thương xót ngô đồng/  Trót được tôn quá cao, đẩy mãi vào lịch sử/
Để đến nỗi hậu duệ giờ thoái hoá/  Lưu luyến thưở vàng son xa lạ với đời thường!

   Ngay vào câu thơ đầu ta đã thấy: Phải chăng như vua Ngô xưa, ngồi ở quá cao không nghe lời ai, có mắt như đui – để đến lúc cả thành trì bị đốt cháy mới chịu tỉnh ra? thì nước đã mất, nhà đã tan rồi! Đồng thời còn tồi tệ hơn, thất vọng và chua xót bởi cả đến lớp hậu duệ giờ cũng theo đó… mà bị đổ đốn và tha hoá.  Tức là Ông thất vọng cho guồng máy nhà nước đương đại đó! Hình tượng”ngô đồng” mà BV dùng trong bài thơ là để chỉ cho lớp quan chức chốn cung đình. Luận theo ý nghĩa thực tiễn thì ta thấy: từ trên cao nhà nước xuống đến dưới các cấp địa phương vẫn bao tệ nạn, tha hoá. Không ít vùng nông thôn Việt Nam ngày nay, chính quyền bạo hành, đè nén dân tình… lại hình thành các kiểu địa chủ phong kiến ngày xưa. BV đã lên án, Ông chỉ trích sự xuống cấp về cả nhân cách, phẩm giá của những lớp “ngô đồng” ấy – giờ chỉ còn là:
Những chậu cảnh rẻ tiền, bầu cây thô tháp/  Lá nhăn nhúm răng cưa, xoè rẻ quạt/
Giống lai tạp bình dân, xa rời danh giá cũ/  Chỉ khiến nguội tanh trí tưởng tượng ngàn đời!

  Đã cổ hủ, thoái hoá mà vẫn cố bám lấy quyền vị và những vàng son để hưởng lợi lộc, vinh hoa… thì tất yếu sẽ sinh ra ung nhọt trong xã hội. Xét ra cả nhiêù nước trên thế giới trên con đường tiến đến chủ nghĩa xã hội – Tầng lớp giai cấp vô sản trong guồng máy lãnh đạo nhà nước, từ giai cấp vô sản thuần tuý sẽ biến chất thành “Tầng lớp giai cấp vô sản hoá lưu manh”, hoặc “Tập đoàn giai cấp vô sản tham nhũng, lũng loạn…” ! Đó cũng là kết quả tất yếu để đến cuối thập kỷ 90, sang 1991 của thế kỷ XX, hàng loạt các nước XHCN ở Đông Âu bị sụp đổ. Hệ thống chủ nghĩa cộng sản tan rã  lan rộng trên phạm vi toàn thế giới. Ông than:

Ngô đồng ơi, ngô đồng/  Có phải nhầm không đấy?
Giờ hoá hèn mọn vậy/  Biết trách ai, ngô đồng?

     Ta nói như thế không phải là thương xót cho những sự đổ vỡ ấy, mà để nhìn thấy sự hoang tưởng của chủ nghĩa Marx – khi Người đã vạch ra một viễn vọng của chủ nghĩa cộng sản? Viễn vọng cùng chủ nghĩa đó đã tan tành!
Tôi phân tích bài “Người của thế kỷ trước” – Nói về những gương mặt đặc trưng cho một chế độ của một thế kỷ đã đi qua, song những con người cổ hủ của thế kỷ đó vẫn tiến tới, cùng với lớp hậu duệ kế thừa trong guồng máy đương đại cũng bị thoái hoá (như đã phân tích ở bài trên): Để đến nỗi hậu duệ giờ thoái hoá/ – đang ngất ngưởng phán xét, điều hành xã hội ở thế kỷ mới này:

Anh đâu cần ai thương, anh bình giá mọi điều bằng cái nhìn khinh bạc/  Anh đứng trên mọi điều để xét nét thời gian/
Nhưng có ích gì đâu!/  Khi trên khuôn mặt anh đã in vết thẫm mầu…

   Với những con người đã bất chấp cả điều hay, lẽ dở – Tức là khinh bạc cả quyền lợi cộng đồng, coi thường luân lý… để xét nét mà phán quyết! Thì đâu còn phải là người của nhân dân, của đất nước nữa? Đó chính là lớp quan lại đang dẫm đạp lên quyền lợi dân tộc mà chúng ta thấy không ít trong xã hội ngày nay. Nếu lớp quan lại  đó chiếm nhiều trong bộ máy nhà nước, thì tất dẫn đến lúc bọn họ sẽ bán cả nước để cầu vinh!? Như thơ Ông viết:

Anh đầy khôn ngoan, đầy so đo, đầy tránh né/  Anh sống đến hôm nay, dương dương tự đắc/
Nhưng than ôi!/ …Tôi ngồi uống với anh như uống cùng ảo ảnh/ Uống cùng bao nhiêu khát vọng không thành?

   Đó cũng chính là hình ảnh của cái guồng máy “như một thứ bù nhìn” mà BV đã tả trong bài “Nhớ Trịnh”.

   Về bài “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông” – Bài thơ chế nhạo những kẻ hợm hĩnh, đó là phường ngu dốt, kệch cỡm… lại luôn luôn lên mặt dậy dỗ, thuyết giáo cho đời. Tác giả không có ý bôi xấu hoặc chế giễu những người bị khuyết tật, như Ông viết:

Không phải ngọng bẩm sinh
Chúng đánh lưỡi, chúm môi… dần hoá ngọng.

     “ngọng” cũng chỉ là biểu tượng tác giả dùng để ám chỉ lớp quan cách dởm đời. Đó chính là những thứ quan hay hống hách thường thấy nhan nhản thời nay, chúng như phường trưởng giả học làm sang. Có khác nào Tú Xương cũng đã từng giễu cợt những phường như thế ở thời xưa:

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang/  Đứa thì mua tước đứa mua quan/
Phen này ông quyết đi buôn lọng/  Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng.

    Đọc bài thơ của BV ta thấy cả một sự nực cười và chua chát. Những loại quan ngọng đó càng tỏ ra oai vệ, càng lên cao giọng, ỷ quyền đe nạt mọi người, thì chúng lại càng “ngọng”, ngọng đặc quánh lại. Người đời bây giờ biết nhiều loại quan ngọng như thế lắm! Người ta không dại gì nói chuyện tử tế, đứng đắn với chúng, có khi lại mang vạ vào thân. Cho nên:

Người đời thừa hơi nói mãi chuyện khôn
Thì ngọng hùa nhau cùng dồn đến dại…

 Có thể chúng sẽ đổ xô vào cấu xé, dẫm đạp lên cả những người dân yêu nước? Và nếu một khi luật pháp lại thuộc về những kẻ quan lại cầm quyền như thế, thì xã hội này đâu có còn là của nhân dân?

    Tôi nói đến bài “Sự kiện tày đình” – Tác giả chỉ đi từ sự việc thay đi, đổi lại của pháp luật: Cấm đăng kí xe, xong rồi lại cũng pháp luật – cho đăng kí xe thoải mái! Nhưng đây cũng chỉ là một hiện tượng lấy ra làm minh chứng. Thực tế sự thay đổi pháp luật ở xã hội ta nó diễn ra tuỳ tiện tới mức, như Ông viết:

Mình tự trói tay mình, rồi lại tự cởi ra/  Tự biểu quyết xong, lại tự chê mình phạm vào hiến pháp!
Khi quyết đáp, cũng viện đủ lý do quyết đáp/  Khi huỷ đi lại cười trừ: “Chưa hợp lòng dân!”

    Ông muốn chỉ trích sự méo mó, một sự ẩm ương đến nực cười của lớp quan chức nhà nước đương thời, những người làm ra pháp luật, cầm cương nẩy mực ở xã hội. “pháp luật” có khác nào thứ trò và những thứ trò đó cứ ngang nhiên diễn đi, diễn lại. Một bài thơ mang tính chất rất điển hình của thời thế hôm nay.
Giờ tôi phân tích về bài “Ngôn ngữ và chính trị” – Tác giả đứng trên bình diện của thời đại, thế giới mà phân tích nhân tình thế thái:

Tôi đến Vácsava khi Liên Xô đã đổ
Thấy tiếc toà nhà cao như trường Lômônôxốp
Kiến trúc thời Xtalin, giờ bỗng bị bỏ hoang!

Khi Liên Xô còn vững, nước Nga trở thành thành trì trung tâm của khối XHCN. Nhưng khi Liên Xô bị đổ rồi, thì than ôi!… đến cái tiếng Nga cũng không ai muốn dùng. Ngay cả người Nga lúc ra nước ngoài cũng không muốn sử dụng cái tiếng nói mẹ đẻ của họ nữa. Thứ ngôn ngữ của một dân tộc lớn như thế, mà nay cả thế giới khinh miệt nó. Ông đã phải than lên:

Ngôn ngữ tội tình gì?…/  Mà dâu bể khó lường, mà giậu đổ bìm leo?
Hay cũng nhiễm thói đời, như đồng tiền đen bạc/  Lúc thắng thế vung vinh, lúc tủi phận bọt bèo?!

    Thế mới biết thế thời “Được làm vua, thua làm giặc” là vậy!
 

 

         Nhà thơ Bằng Việt 

   Sự sụp đổ của Liên Xô cùng hàng loạt các nước XHCN ở châu Âu – Nó báo hiệu sự tan vỡ của Chủ nghĩa Marx-Lenin! Một số lãnh thổ trong Liên bang Nga rơi vào cảnh nội chiến tương tàn, không biết khi nào mới hồi phục được như trước, lại trở về thời kỳ của “tư bản dã thú” đã qua từ hàng trăm năm trước. Marx hoang tưởng đã đành, mà ngay cả lãnh tụ Lê Nin cũng ngộ tưởng khi tuyên bố rằng: Những nước vừa ra khỏi ách thuộc địa như Việt Nam, Trung Quốc… ở châu Á, hay các nước nhược tiểu ở các châu lục khác trên thế giới, có thể tiến thẳng lên CNXH không cần qua TBCN (nghĩa là đốt cháy giai đoạn) – Khi đã có Liên bang Xô viết làm chỗ dựa. Thì chính Liên Xô lại đổ đầu tiên!

    Như thế là sự ngộ tưởng của Lê Nin không chỉ trở thành một hệ quả đối với nhân dân Nga, đất nước Nga – mà còn kéo theo sự lầm lạc trên con đường đi tới của lịch sử các nước vừa giải phóng ra khỏi ách đô hộ của thực dân hay đế quốc? Nó sẽ dẫn đến sự thoái hoá của bộ máy nhà nước và xã hội đó!

   Đứng trước thực tế ấy, Bằng Việt hoài nghi về Học thuyết Marx? Ông không còn lòng tin vào thể chế, dù cả đời Ông đã phụng sự cho thể chế ấy! Khi Ông nhận ra mình cũng chỉ là… “thứ bù nhìn” của một guồng máy bù nhìn, trong cái chủ nghĩa hoang tưởng kia mà thôi – như ở bài “Nhớ Trịnh”:

Chong chóng quay, rút cuộc được gì?
Được chuyển động – làm bù nhìn của gió,
Và gió, quẩn quanh đầu sông, cuối bãi,
Cũng một kiểu bù nhìn của nóng lạnh, Âm-Dương…

    Giờ ta xem xét đến bài thơ “Nheo mắt nhìn thế giới” – mà ngay cái đầu đề của bài cũng được lấy để đặt tên cho cả tập thơ của Ông.

   Bài thơ gồm có ba đoạn ngắn. Hai đoạn trên chỉ là sự tả: Ở trên máy bay với độ cao 3000m nhìn xuống – người thì như hạt bụi, các cao ốc như hộp diêm, rừng già như tóc rối. Còn trông ra cả vũ trụ kia… toàn mây trắng mây, như vẩy rồng, vẩy cá, một màu xanh da trời vô cùng, vô tận.

    Thực ra Ông chỉ lấy đó làm hình tượng – Ý nói, ta hãy rút ra một tầm xa mà nhìn và suy xét cả thời đại mà xem?…Sau mỗi đoạn ấy tác giả đều bung ra một câu kết, thán rằng:

-  Kết đoạn 1/.  Nheo mắt biết buồn gì?
-  Kết đoạn 2/.  Nheo mắt biết vui gì?

    Có nghĩa là: Khi đứng trên một tầm để bao quát cả xã hội cùng thế giới thì… chẳng biết nên vui hay buồn vì lẽ gì? Tức là lòng Ông hoang mang. Nhưng Ông hoang mang vì cái gì? Chính là “Thế sự”! Như đã phân tích: Ông không biết cả chủ nghĩa Marx cùng thế chế mà Ông đã suốt đời phụng sự đó, rồi sẽ đi về đâu? đến đâu?… Bài thơ mang ý nghĩa ẩn dụ – Lý tưởng cùng tình hình xã hội tác động lên tư tưởng, nhân sinh quan của Ông… nó trở nên mờ mịt. Ông thảng thốt cảm thấy đời Ông có thể sẽ trở thành vô nghĩa? Bởi thế ở đoạn thơ thứ 3, Ông viết với một tâm trạng nửa vời nhưng mang đầy sự phẫn chí:

Nheo mắt vì rợn ngợp/  Nheo mắt vì bất cần/  Có thể đầy phấn kích/
Có thể đầy phân vân/  Hay nhuốm màu khinh bạc/ hay chan hoà bao dung…

Để cuối cùng dồn nén vào một câu tổng quát: Nheo mắt nhìn thế giới/ -  Ông “rợn ngợp” trước bao sự kiện lớn thế giới đã đành, nhưng cũng vì cả những điên đảo, sự rối loạn của xã hội và thế thời đang bao phủ lên tâm hồn cùng nhỡn quan – mà Ông đã viết:

          Có mở hết giác quan, ta vẫn là mù tịt!

Ông “bất cần” vì chán cái thời thế có quá nhiều sự đen bạc, giả tạo này! Tôi xin chép ra đây những vần thơ của Chế Lan Viên:

          Lũ ta là con rối
Cho cuộc đời giật dây… 

    Phải chăng: Bởi Ông không muốn làm một con rối và thứ “bù nhìn” như thế nữa? Cái lý tưởng cùng chủ nghĩa suốt đời Ông theo đuổi bỗng trở thành bong bóng, vừa hoang tưởng lại vừa chìm trong sự tha hoá, nên tâm trạng mới: Có thể đầy phấn kích/  Có thể đầy phân vân/ -  Cũng không biết mình nên “khinh bạc” hay nên “độ lượng mà bao dung”? Với tâm trạng ấy, ở một bài thơ khác Bằng Việt tự thán:

Người đàn ông đã đến tuổi gàn
Đã đến tuổi không còn gì để mất
Mới hiểu được góc nhìn ngoài sự vật
Thấy rõ hình hài những thứ vô vi…

     “những thứ vô vi” ở đây chính là sự vô nghĩa bao quanh cuộc đời, những “đạo nghĩa” tưởng như cao cả mà Ông tâm huyết, thì nay tất cả đã tan vỡ!… Rồi, cũng giống như nỗi lòng của Tú Xương ngày xưa, Ông tự vỗ an mình:

Ngủ đi! Ngủ đi…
“Ngủ quách sự đời thây kẻ thức”

Ngủ đi!… Ngủ ư?… lại mất ngủ rồi!

    Ông muốn ngủ đi để quên tất cả mà không ngủ được, bởi thế Ông… “bất cần”! Ông không muốn mở to mắt nhìn ra xã hội và thế giới nữa, nên ông:

“Nheo mắt nhìn thế giới”…

  Đó là một thái độ phủ nhận và phủ nhận một chủ nghĩa hoang tưởng, cùng guồng máy  hiện hành của Bằng Việt.

    Trang viết đã dài, tôi chỉ xin bình thêm một bài nữa: “Rượu của Nguyễn Cao Kỳ”, thuộc trong những bài thơ có tiếng tăm nhất của tập Nheo Mắt Nhìn Thế Giới này – Hơn 30 năm sau chiến tranh, Nguyễn Cao Kỳ từ Mỹ trở về Việt Nam thăm quê, có tặng cho vị thiếu tướng công an một chai rượu. Vị thiếu tướng mang ra cho anh em uống. Mọi người thì vui vẻ:

-  Ồ, rượu ngon thì cứ uống! Đâu cần cố chấp mãi chuyện xưa.

     Nhưng một người thì nhất quyết: “không”!
Đấy, câu chuyện diễn tả lại chỉ có thế. Bài thơ đặt ra trước chúng ta một câu hỏi: Chiến tranh qua lâu rồi, trong chúng ta những người ở hai chiến tuyến, có nên giữ thái độ hận thù và mặc cảm nữa hay không? Một câu hỏi không phải dễ trả lời! Nhưng đọc lên ta thấy cũng phân vân? Không thể trách những người bỏ qua tất cả, cứ uống tràn, nhưng cũng không thể trách anh chàng đã nhất định không chịu uống kia! Và thế là:

Bữa rượu bỗng dưng trở thành đắng đót.

   Nó khoáy vào một vết thương của cả hai bên, chưa sao lành lại được:

Vì sao không? Chẳng cố chấp quá ư!/  Cậu là lính phòng không, chúng tớ đều cựu chiến binh cả chứ!
Cũng bom đạn, cũng Trường Sơn, cũng vào sinh ra tử/  Sống đến hôm nay, đâu phải để hận thù!

    Nhưng rượu dù ngon mà sao vẫn đắng? Thế đấy! Sự đời, chuyện đất nước, chuyện con người:

Có phải tự đáy lòng không vượt qua mặc cảm/  Không vượt qua nỗi buồn của cuộc chiến tranh xưa,
Không vượt qua chính mình, không vượt qua quá khứ/  Vết thương cũ còn đau khi gió chuyển sang mùa…

   Thái độ của nhà thơ trung thành với hiện thực, tác giả giữ sự khách quan với ý nghĩ của các nhân vật trong việc mô tả. Ông chỉ đặt ra câu hỏi, chứ không có ý định phê phán ai, hay lên tiếng ủng hộ ai – Bởi vì, chính Bằng Việt cũng có trả lời được câu hỏi đó đâu?
Ông cũng uống, nhưng chẳng qua là muốn quên đi tất cả: cứ uống! Ông không thể trả lời được về cả cuộc chiến tranh xưa cùng những bối rối của hôm nay?
 

 
-  Ừ thì giải phóng xong rồi, nhưng để phụng thờ cái gì và… ” lý tưởng” gì đây? Chủ nghĩa Marx ư? Hoang tưởng! Thế thời này đâu còn phải là của dân tộc, của nước non?… Ta lại trở về với bài thơ Nhớ Trịnh – Và Ông thấy mình bỗng nhiên đã trở thành một “con rối”, một thứ bù nhìn quay như ‘chong chóng”… trong cái guồng máy có phần phi nhân nghĩa của đương đại này.

     Bài thơ trăn trở trong đó một câu hỏi: Chúng ta đang ở đâu và… phải đi đến đâu đây?
Tôi đã được xem một bức tranh lớn nổi tiếng của danh hoạ Pháp Henri Paul Gauguin (1848-1903), có một cái tên rất dài, tôi nhớ đại để là: Chúng ta là ai? đang ở đâu? và sẽ đi đến đâu? -  Nhân sinh quan chủ đạo của nhà thơ trong tập thơ này chính là ở câu hỏi đó! Hơn thế, về một phương diện nhất định… Bằng Việt đã phủ nhận chính cái thế thời mà chúng ta đang sống hôm nay!

    Đến đây – Tôi xin tặng Bằng Việt đôi khúc thơ nhỏ, trích ra từ trong thiên sử thi gọi là: “Tiểu trường ca Thế Giới Tự Do – Phạm Ngọc Thái”, như sau:

Khúc 1 –   Năm xưa ta đã trải thảm đỏ cho Mỹ rút về nước
   Nay ta lại trải thảm đỏ để Mỹ vào Việt Nam
   Nếu Mỹ không mang bá mộng xâm lăng…
                  (Chuyện thời thế – Thế thời: Phải thế!).
Khúc 2 –   Thằng Tàu – ta cố tranh thủ kết đồng minh
 Nhưng bản chất chúng là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam…
  Ngàn năm trước đã thế!
  Ngàn năm sau vẫn thế!
                  (Nếu một khi ta không đủ mạnh).

……..


     “Nheo mắt nhìn thế giới” là một tập thơ mở – Nó mở cái gì? Nó mở ra một câu hỏi: Chúng ta là ai? đang ở đâu? và chúng ta sẽ đi đến đâu đây?
Bằng Việt đáng quí ạ:

Chúng ta đi về phía “Tượng thần tự do” – Nước Mỹ.
Việt Nam đi về phía “Tượng thần tự do” – Nước Mỹ.
“Tượng thần tự do” muôn năm!!!

Phạm Ngọc Thái
Hà Nội * Tháng 11/2011

——————————–

 
                   Bài viết được loan tải trên rất nhiều các website trong nước & thế giới -
               Một số tiêu biểu như sau:
 
                           ở trong nước:
                         * Website vandanviet.net - link:
           http://vandanviet.net/shop_news.php?l=vn&ac=235&start=0&cn=633&sort=1&item=1&from=&to=&mode=n&cn=633&n=8562 
                     * datdung.com ở Tây Ninh:
           http://www.datdung.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=4889#axzz1dVJ7Pulq
                      * Đăng trên nguyenduyxuan.net:
          http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-hc-cuc-sng/1883-bng-vit-phe-phan-xa-hi-bng-th-phm-ngc-thai
                      * Đăng trên 4phuong.net:
          http://4phuong.net/ebook/70934417/bang-viet-phe-phan-xa-hoi-bang-tho.html
       
         
               Và rất nhiều trên các Website Hải ngoại  - Tiêu biểu như: 
   
                       * Trên bản tin online hàng ngày Hải ngoại - link:
           http://tintuchangngay4.wordpress.com/2011/11/08/nha-th%C6%A1-b%E1%BA%B1ng-vi%E1%BB%87t-phe-phan-xa-h%E1%BB%99i-b%E1%BA%B1ng-th%C6%A1/
                     *  hung-viet.org ở châu Âu:
          http://hung-viet.org/blog1/2011/11/07/b%E1%BA%B1ng-vi%E1%BB%87t-phe-phan-xa-h%E1%BB%99i-b%E1%BA%B1ng-th%C6%A1/
                     * vanganh.info Hải ngoại:
         http://vanganh.info/nha-tho-bang-viet-phe-phan-xa-hoi-bang-tho/
                     * Tuổi trẻ Việt ở Hoa Kỳ:
         http://www.tuoitrevhn.com/?act=news&cat=84&sub=&id=NzAwWlEwMFpUODlhWjk2OVE4OFQ=
                     * nsvietnam.com ở Canada:
         http://www.nsvietnam.com/online/sangtac/1113.bl.html
                      * banvannghe.com Hoa Kỳ:
         http://www.banvannghe.com/D_1-2_2-66_4-1115_14-2/
                      * Một blog với tên đề "hẹn nhau Sàigòn 2015" ở Mỹ:
         http://www.hennhausaigon2015.com/forums/viewtopic.php?f=3&t=1155&sid=3a731a3921abd4117aac7ebdf8999d74
                       * Báo Tổ-quốc ở Hoa Kỳ:
         http://to-quoc01.blogspot.com/2011/11/pham-ngoc-thai.html#more
                        * đăng trên website luanhoan.net Hải ngoại:
         http://www.luanhoan.net/gocchung/html/gc1002.htm
                        * Đăng trên sangtao.org Hải ngoại:
         http://sangtao.org/2011/11/13/bang-viet-phe-phan-xa-hoi-bang-tho/ 

                        * Một website Hải ngoại gọi là DÂN LÀM BÁO đăng link:
          http://danlambaovn.blogspot.com/2011/12/bang-viet-phe-phan-xa-hoi-bang-tho.html
                        * Đăng trên Tuần Báo Nam Úc link:

         http://www.namuctuanbao.net/tiengnoi/tntn_19.php
                         * Đăng trên luanhoan.net Hải ngoại link:
         http://www.luanhoan.net/gocchung/html/gc1002.htm                                
                          * Đăng trên danchimviet.info Hải ngoại link:
      http://www.danchimviet.info/archives/48105
                           * Đăng trên Sài Môn Thi đàn Hải ngoại từ 10/11/2011 link:
       http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=7257
                          * Đăng trên Hải ngoại phiếm Đàn link:

         http://www.haingoaiphiemdam.com/news/index.php?mod=article&cat=V%C4%83nH%E1%BB%8Dcamp;Ngh%E1%BB%87Thu%E1%BA%ADt&article=3372&page_order=1&act=print
                            Cùng số báo đăng ở Úc Châu & Mỹ.  
   
 


<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.02.2012 11:14:57 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 14.03.2012 10:44:46
.
              Tôi đã sửa chữa lại đôi nét bài bình thơ "Đây thôn Vỹ Dạ" & cho quảng bá rộng ra trên nhiều website trong nước cũng như thế giới! Nay xin đăng lại & lưu tiểu phẩm này trên VNTQ, bà con nào quan tâm thì có thể xem lại:
 






Thơ Hàn Mặc Tử

Lời bình Phạm Ngọc Thái

                           
ĐÂY THÔN VỸ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
                       Hàn Mặc Tử
        (Rút trong tập "đau thương" - Thơ điên của HMT)

------------------------
Lời bình 2
  Bài thơ được mở đầu với lời trách móc của người con gái. Lời trách ấy có lẽ do một hoàn cảnh gặp gỡ nào trước đó được thi nhân nhớ lại:
          Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
  Câu mở đầu như thế giúp cho ý tưởng kiến thiết bài thơ thôn Vỹ gắn với nỗi nhớ người xưa được gợi lên trong kỷ niệm:
          Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
          Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
  Nghĩa là từ hàng cau đến cái nắng mới vào buổi sáng ấy, màu xanh của vườn cây đều là cảnh hiện trong hồi tưởng. Thôn Vỹ nói riêng cũng như mỗi làng quê Việt Nam nói chung: hàng cau thường đọng lại những ấn tượng sâu sắc, nhất là với những người khi đã phải xa quê. Ta cũng thấy ở trong thơ Nguyễn Bính từng viết:
          Nhà tôi có một hàng cau liên phòng
  Hàng cau dưới cái nắng mới buổi sớm thì trong mát, thanh thiên lắm! Cảnh quê cô đọng được hoà quyện vào mối tình đầu trong sáng, mơ mộng của thi nhân, dù mối tình với nàng Hoàng Cúc ấy chỉ đơn phương về phía Hàn Mặc Tử. Nhưng sự sâu lắng đã trở thành hoài niệm mãi trong cõi nhớ của ông, bởi thế màu xanh của lá cây trong vườn cũng lung linh mà "xanh như ngọc"... 
Như vậy "cảnh nhớ" ở ba câu đầu tuy chỉ là hồi tưởng nhưng lại xuất phát từ "cảnh có thực"! Sở dĩ tôi nhấn mạnh về chữ "thực" ở đây? vì chỉ đến câu thứ tư hình ảnh thơ đã có ý nghĩa tượng trưng:
          Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
  "lá trúc" và "chữ điền" thuộc những ngôn từ mỹ học! Hình tượng cây trúc làm tượng trưng trong thơ HMT, ta còn thấy ở trong bài thơ Mùa Xuân Chín:
          Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
  "trúc" là hình ảnh biểu tượng cho làng quê, còn "mặt chữ điền": theo cách nói cổ nho là ví cho gương mặt nam nhi! Trong bài thơ này gương mặt chữ điền ấy để biểu tượng cho chính bản thân thi nhân. Hai chữ "che ngang" kia, nghĩa là thôn Vỹ với nhà thơ giờ đây chỉ còn ở trong kỷ niệm, nỗi nhớ... mãi mãi phải cách xa nên đã bị... "cắt ngang"!
  Ngay trong bốn câu của khổ thơ đầu ta đã nhận thấy cấu trúc, tư duy thơ HMT theo cảm súc đã được thiết lập theo trình tự suy lý về nỗi cảnh mà lập thành tứ, để phát triển sâu hơn ở khổ thơ thứ hai khi nói đến tình duyên dang dở giữa hai người:
          Gió theo lối gió, mây đường mây...
  Ý là:
          Em theo đường em, anh đường anh
          Duyên phận đôi ta có thế thôi!
 Tả cảnh nhưng chính để nói nỗi đời:
          Dòng nước buồn thiu (tĩnh), hoa bắp lay (động)...
  Cái (tĩnh) và (động) ấy chỉ để bộc lộ một cõi lòng, một tâm trạng cô đơn và buồn! Thi nhân ngồi nhớ người xưa, lòng ông lặng lờ buồn bã như dòng nước hắt hiu, nhưng trái tim ông vẫn bổi hổi, xốn xang như làn "hoa bắp lay"... 
          Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
          Có chở trăng về kịp tối nay?
  Đây là hai câu thơ thần cảm- Hình ảnh thuyền và sông trăng theo cảm súc ùa vào trong thơ mà bật ra... làm cho tình thơ thêm rộng rãi, rung rinh, nỗi thơ càng mênh mang, da diết.
  Xin nói thêm, cảnh thuyền và sông trăng ở đây theo như một số nhà bình luận: Người thì cho đó là cảnh trong một bức ảnh về Huế mà nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân khi đang lâm bệnh phải điều trị ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng cũng có người lại nói rằng nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân tấm ảnh mặc áo dài trắng?... chứ không phải là phiến cảnh "thuyền" và "sông trăng" đó. Nếu vậy thì cảnh trong thơ chỉ là cảnh mà thi nhân nhớ lại nơi thôn Vỹ chăng?- Cũng chưa thật ngã ngũ về hướng nào.
  Nhưng tóm lại cảnh của hai khổ thơ đầu ấy là cảnh thuộc về trí tưởng, dù là vào buổi sớm dưới hàng cau hay trong một đêm trăng trên sông nước. Trong bài bình của nhà bình thơ Vũ Quần Phương, đến đây có nhận xét rằng:
 "Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một... thoáng nhìn bài thơ có vẻ đầu Ngô mình Sở...", (hay là) "Những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hoá ra lại vẫn có chỗ liền nhau..." và nhà bình thơ cho rằng "chỗ liền nhau ấy trong thơ HMT chỉ là nhờ vào tâm trạng súc cảm"...
 Theo tôi: HMT là một thi nhân viết thơ bằng nội tâm theo tư duy thế giới trong, súc cảm chỉ làm đà cho mạch thơ, hơi thơ tuôn chảy... còn ý tứ thường được diễn tả rất mạch lạc, rõ ràng. Mượn cảnh làm biểu tượng để diễn đạt nỗi tình thơ- Đoạn thơ thứ hai ấy cần phải hiểu sâu sắc bằng thế giới bên trong như đã bình trên, mới thấy cảm súc về ý tứ của bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ hoàn toàn liên kết chặt chẽ với nhau, từ đoạn thơ đầu tiên cho đến đoạn cuối cùng. Đấy chính là cốt lõi để tạo ra thi phẩm của ông. Đây thôn Vỹ Dạ là một tuyệt tác thi ca! Nếu cho rằng đoạn thơ thứ hai chỉ là để tả cảnh buồn mênh mang... thì sẽ không thấy hết được cái hay và sâu sắc của bài thơ!
  Tôi xin bình sang khổ thơ thứ ba:
          Mơ khách đường xa, khách đường xa
          Áo em trắng quá nhìn không ra
          Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
          Ai biết tình ai có đậm đà? 
 Như đã nói mối tình giữa HMT với nàng Hoàng Cúc chỉ là một mối tình đơn phương về phía thi nhân, có thể nàng không hay biết về tình yêu của chàng? Hơn nữa trong lễ giáo phong kiến thời ấy, giữa gia đình thi nhân với gia đình nàng còn có một khoảng cách về đẳng cấp xã hội. Hoàng Cúc thuộc gia đình một quan lại, còn HMT là gia đình lớp bình dân. Ông vốn tính lại rụt rè, hay bẽn lẽn, yêu tha thiết mà chỉ dám đứng từ xa chiêm ngưỡng người đẹp như trong mộng... rồi thương thầm, nhớ trộm. Thi nhân đã dồn hết tình yêu của mình vào thơ ca... sáng tác cả một tập, gọi là tập "gái quê" để tặng nàng!
 Giờ đây thì cả cái mối tình đơn phương ấy cũng đang trôi vào dĩ vãng. Thi nhân lâm bệnh nặng phải sống cách ly, sự ngăn trở giữa hai người càng xa hơn. Nên trong bài thơ nói về người yêu mà thi nhân lại dùng chữ "khách" là vì thế! Ông mơ về nàng dẫu tình thì sâu nặng... mà vẫn như mơ về một người khách lạ...
Hình ảnh: Áo em trắng quá.../ - Hẳn là màu áo trắng  của nàng Hoàng  Cúc thường mặc  phải gây ấn tượng trong trí nhớ của HMT hơn các màu áo khác!  Nhưng màu áo trắng ở đây còn là ảnh ảo, khi thi nhân mơ tưởng người đẹp ở trong trăng...  Màu trăng ấy thường hay thấy trong thơ HMT:
          Người trăng ăn vận toàn trăng cả...
 Còn tại sao "áo em trắng quá" mà lại "nhìn không ra"? Ý là: Mối tình ấy đã cách biệt, giờ đây khoảng cách giữa hai người xa vời như người khách lạ qua đường.  Còn cảnh tượng:
          Ở đây sương khói mờ nhân ảnh 
 Đó là cảnh thực của nơi Ông đang sống và chữa bệnh... hiu quạnh, khói sương heo hút ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng đồng thời cũng để nói lên trong cảnh ngộ của Người về thân phận "mịt mờ nhân ảnh". Tâm trạng Ông đang rơi vào trong vực thẳm trước sự quên lãng của người đời.  Lòng ông càng da diết mà hỏi:
          Ai biết tình ai có đậm đà?
 Tiếng "ai" bộc lộ một tâm trạng vẫn rất tha thiết của Ông: Liệu nàng còn nhớ đến ta chăng? Cái tâm trạng xa xót ai oán ấy, ông cũng đã từng bộc lộ nhiều lần khác:
          Một mai kia ở bên khe nước ngọc
          Với sao sương, anh nằm chết như trăng
          Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
          Đến hôn anh và rửa vết thương tâm!
 "Đây thôn Vỹ Dạ" là một bài thơ được dệt thành một bức tranh trong mộng, không gian đa sắc đa chiều, đan xen giữa hiện tại và kí ức. Ý, tình khúc triết, sâu xa. Dù rằng tình thơ được rút trong tập "thơ điên", nhưng nó không những không phải là thơ điên mà còn là một tình thơ đằm thắm chứa chan, trái tim của nhà thơ đã thấm đầy huyết lệ

  
PHẠM NGỌC THÁI
 
                    Rất nhiều website đăng - xin điểm một số như sau:
 
                      http://vandanviet.net/shop_news.php?l=vn&ac=235&start=0&cn=633&sort=1&item=1&from=&to=&mode=n&cn=633&n=9272
 
        http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-xuoi/2364-bai-th-ay-thon-v-d-ca-han-mc-t-li-binh-phm-ngc-thai
 
                http://lyhuong-rachgia.blogspot.com/2012/03/binh-tho-han-mac-tu.html#more
 
              http://vuontaodan.wordpress.com/2012/03/11/38/#more-1391
 
                http://www.truclamyentu.info/tlls_trang_phamngocthai/thohanmactu_loibinhphamngocthai.htm
 
               http://binhtrung.net/index.php?option=com_content&view=article&id=12813:tho-han-mac-tu-loi-binh-pham-ngoc-thai&catid=48:tuy-but&Itemid=147
 
                 http://vannghequangtri.blogspot.com/2012/03/ay-thon-vy-da-tho-han-mac-tu-loi-binh.html
 
                     http://www.datvietjsc.net.vn/index.php?act=newsdetail&pid=8&cid=52&id=2005
             
                 http://trannhuong.com/news_detail/13294/Th%C6%A1-H%C3%A0n-M%E1%BA%B7c-T%E1%BB%AD-L%E1%BB%9Di-b%C3%ACnh-Ph%E1%BA%A1m-Ng%E1%BB%8Dc-Th%C3%A1i
 
                http://bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=2349
 
 
 
 
 
 
 



<bài viết được chỉnh sửa lúc 14.03.2012 11:12:41 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhân văn
  • Số bài : 359
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 11.04.2012 11:04:08
.

Thời gian qua Nhà thơ có viết một bài thơ tình khá đặc biệt & có thể coi đó là một kỳ tác thi ca!
Đã được Anh Trần bình luận đăng trên nhiều website trong nước cũng như thế giới . Xin đăng lại vào trong
danh mục văn xuôi này của tác giả để lưu giữ & bạn đọc nào chưa coi có thể thưởng lãm tình thơ
cùng lời bình đó của Anh Trần:



Một kỳ tác thi ca:

Thơ Phạm Ngọc Thái – Lời bình Anh Trần

XEM TRANH BÁN LOÃ THỂ

Tưởng nhớ bài thơ “Tranh loã thể” nổi tiếng
của thi nhân Bích Khê

Nàng để hở một vòm trời tuyệt mĩ
Thế giới là đây, cuộc sống là đây!
Nàng gieo hoa và ý nghĩa loài người
Nhưng cũng đẻ cả chiến tranh và hoà bình
ra từ trong bụng.

Lui xuống dưới nàng một rừng sâu um tùm
che hang động
Lên trên nàng đôi mỏm núi trắng vô biên
Thân thể nàng tràn đầy hương nhụy phấn
Thiếu nữ mặc hở quần: hơn bao lời hoa mĩ phát ngôn!

Em như gió trăng… mà rung động cả vua chúa, thánh thần
Cuộc sống cần em, đâu có cần chiến tranh
và bom nguyên tử?
Khi em cởi ra nhiều: điểm báo thế giới
càng hiện đại văn minh (*)
Nhưng điều đáng đớn đau: là tính nhân loại,
con người cũng ngày càng nhiều dã tâm gây tội ác! (**)

Phạm Ngọc Thái

———————

(*) Thế giới càng hiện đại văn minh thì khuynh hướng triển lãm thân thể
của các thiếu nữ càng phát triển, tới mức gần như cởi truồng…
(**) Nhà văn Nga Ai-Ma-Tốp đã cảnh báo trong tác phẩm “Đoạn đầu đài” nổi tiếng của ông rằng:
Thế giới, cái ác vẫn lấn át cái thiện và con người hiện đại còn ác hơn con sói!

Bài thơ viết táo tợn và giỏi! Táo tợn đến mức đọc lên hơi rợn người, nhưng chính lại càng làm cho tình thơ thấm thía, hàm chứa. Thí dụ:

Nàng gieo hoa và ý nghĩa loài người
Nhưng cũng đẻ cả chiến tranh và hoà bình ra từ trong bụng

Rất sâu sắc và hay! Hình ảnh câu trên: Nàng gieo hoa và ý nghĩa loài người /- Ý của câu ta thấy rõ rồi! Còn câu dưới, không phải chỉ muốn nói rằng: em có khả năng mang thai trong bụng rồi sinh đẻ…tất nhiên là ra con người, và giống người ấy sẽ mang đến cả chiến tranh, hoà bình…(Cũng tất nhiên là phải có cả đàn ông thì em mới đẻ được, nhưng trong ý nghĩa nhân sinh chẳng bao giờ người ta ví với đàn ông… mà chỉ nói về đàn bà) – Ở một phạm trù rộng hơn tức là: Tình yêu và đàn bà sinh ra cả khổ đau, hạnh phúc… cũng như cả chiến tranh và hoà bình!

Ta hay nói thơ Hồ Xuân Hương tả tục nhưng mà thanh! Xin lấy vài thí dụ :

Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó nhựa ra tay
(Quả mít)

Hay là:

Quân tử có thương thì bóc yếm
Xin đừng ngó ngáy lỗ trôn tôi
(Con ốc nhồi)

Hình ảnh như búa bổ, đọc mà “sợ” đấy chứ? Chẳng qua Người đã có danh, đã là thi nhân vĩ đại thì nói thế thôi, thực ra Bà chỉ mượn hình ảnh quả mít, con ốc nhồi… để tả thẳng vào cái tục đó còn gì? từ hành động đến hình ảnh. Có chăng thì nên nói thế này: Thơ Hồ Xuân Hương tả trần tục nhưng ngôn ngữ thơ siêu đẳng, đọc sướng và hay… chứ không nên nói “tục mà thanh”! Ta quay trở lại với bài “Xem tranh bán loã thể” của Phạm Ngọc Thái – Tiếp sau hai câu đã nói như trên, tác giả miêu tả về cái đó:

Lui xuống dưới nàng một rừng sâu um tùm che hang động
Lên trên nàng đôi mỏm núi trắng vô biên…

Hình ảnh thơ như thế không phải là không sướng và hay sao!? Bích Khê thì miêu tả:

Hai vú nàng ! Hai vú nàng ! chao ôi
Cho tôi nút một dòng sâm ngọt lộng
Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động
(Tranh loã thể)

Nhưng trong bài “Xem tranh bán loã thể”tác giả không chỉ dừng ở sự miêu tả, sau khi kết lại đoạn thơ trên thì thơ đã được phát triển một cách sâu sắc:

Em như gió trăng… mà rung động cả vua chúa, thánh thần
Cuộc sống cần em, đâu có cần chiến tranh và bom nguyên tử?

Có thể nói đã đi đến tột cùng trong ý nghĩa nhân loại! Ngay trở lại với mấy câu thơ vừa nói trên ta cũng thấy trong hình ảnh câu thơ mang cả tính vũ trụ:

Nàng gieo hoa và ý nghĩa loài người
Nhưng cũng đẻ cả chiến tranh và hoà bình ra từ trong bụng

Vào câu thơ đầu tiên của bài cũng hàm ý nghĩa giữa cuộc sống với thế giới:

Nàng để hở một vòm trời tuyệt mĩ
Thế giới là đây, cuộc sống là đây!

Và tác giả kết luận về cái kiệt tác thiên thai mà tạo hoá đã đúc nên trên thân thể người đàn bà ấy:

… Hơn bao lời hoa mĩ phát ngôn!
Cụ Nguyễn Du chẳng từng viết:
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên

Câu thơ: Cuộc sống cần em, đâu có cần chiến tranh và bom nguyên tử?/ – Ngôn ngữ nghe có vẻ to tát nhưng hợp cảnh, hợp tình lên khi đọc ta vẫn thấy nhuần nhuỵ, tự nhiên – Bài thơ còn mang ý thức lên án chiến tranh một cách mãnh liệt!

Nó cô đúc tới mức độ mỗi câu thơ như một nút bấm để bắn ra những tia lửa hạt nhân… vừa ý nghĩa nhân sinh lại vừa khái quát tính thế giới – Ta hãy nghe 2 câu cuối:

Khi em cởi ra nhiều: điểm báo thế giới càng hiện đại văn minh (*)
Nhưng điều đáng đớn đau: là tính nhân loại,
con người cũng ngày càng nhiều dã tâm gây tội ác! (**)

Vì 2 câu thơ này nhà thơ đã có chú giải sâu sắc, để bài bình đỡ dài tôi xin đăng nguyên lời dẫn giải đó:

(*) Thế giới càng hiện đại văn minh thì khuynh hướng triển lãm thân thể
của các thiếu nữ càng phát triển, tới mức gần như cởi truồng…

(**) Nhà văn Nga Ai-Ma-Tốp đã cảnh báo trong tác phẩm “Đoạn đầu đài” nổi tiếng của ông rằng:

Thế giới, cái ác vẫn lấn át cái thiện và con người hiện đại còn ác hơn con sói!

Sau khi đã phân tích như trên xin đưa ra nhận định: Có thể nói “Xem tranh bán loã thể” là một thi phẩm đi đến tột cùng của thi ca! Nó xứng đáng là bài thơ hay hàng kỳ tác thi ca của Phạm Ngọc Thái – Anh đã thành công khi xây dựng bài thơ và nó còn có khả năng tồn tại trường cửu với thời gian!

ANH TRẦN


- Đ/C: Anh Trần Số 13 ngách 366/36 Đường Ngọc Lâm, Quận Long Biên, Hà Nội

—————————————–



Đăng trên một số website như sau:

http://vuontaodan.wordpress.com/2012/04/07/45/
http://vanganh.info/xem-tranh-ban-loa-the/
http://nghiathuc.wordpress.com/2012/04/05/m%E1%BB%99t-k%E1%BB%B3-tac-thi-ca-th%C6%A1-ph%E1%BA%A1m-ng%E1%BB%8Dc-thai-l%E1%BB%9Di-binh-anh-tr%E1%BA%A7n/
http://trannhuong.com/news_detail/13585/Xem-tranh-b%C3%A1n-l%C3%B5a-th%E1%BB%83
http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-hc-cuc-sng/2456-xem-tranh-ban-loa-th-li-binh-anh-trn
http://datdung.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=5673#axzz1rke7wqOv
<bài viết được chỉnh sửa lúc 11.04.2012 11:11:05 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 08.05.2012 13:53:02
10 bài thơ của Phạm Ngọc Thái tham dự vào "Bộ sách thơ hay"
- Được tổ chức của nhóm những nhà thơ yêu thơ hay trên thi đàn Việt - Đăng tại vanthoviet.com link:
http://vanthoviet.com/news/n/493/5114/moi-tham-gia-bo-sach-tho-hay.html?l=vn



EM ƠI! THÀNH PHỐ LẠI MƯA

Nghe không em lại mưa lên phố!
Bao năm rồi chiều ấy cũng mưa rơi...
Gió se sắt đưa anh vào nỗi nhớ
Mối tình thời trinh nữ xa xôi.

Thưở xưa ấy, em ơi! Như hoa nở
Say như mơ và mộng như thơ
Anh đã gặp em những tháng năm cát bụi
Khi trái tim yêu trong cõi vắng vật vờ.

Thành phố lại mưa…
Có nghe không em? Con chim trời, cá nước
Khúc nhạc chiều dìu dặt bay qua.
Tình êm dịu bên em mơ màng quá
Thôi hết rồi! Tan vỡ bến bờ xa.

Tiếng mưa rơi não nề thao thức
Bóng hoàng hôn đỏ cũng xua tan
Bèo dạt sông trôi buồm anh không bến đỗ
Chân trời vương vấn dải mây lan.

Ôi, cuộc sống! Tình chỉ như màn kịch
Nào phải lỗi do anh? Đâu phải lỗi do em?
Anh đứng giữa trời mưa làm những vần thơ xao xác
Người con gái năm nào về như một bóng chim hoang...
31/7/2005



ANH VẪN Ở BÊN HỒ TÂY

Tình để lại vết thương không lành được
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan…

Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt
Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết
Tình thơ ngây! Tình sao mãi thơ ngây!

Nhớ buổi đón em cổng trường sư phạm
Đôi mắt từ xa đã nhận ra người...
Tình yêu có cái nhìn trong linh cảm
Giờ ở đâu, người con gái xa xôi?

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió hồ Tây đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi...
Đêm 2012

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG
Người đàn bà đi trong mưa rơi
Chứa một trời thầm như hoa vậy...

Chiếc mũ trắng mềm em đội bàu trời
Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc
Đôi mắt em đong những áng mây
Người đàn bà trắng!

Em đi - về... chao những hàng cây
Hồ gió thổi lệch vành mũ đội
Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội
Xoã ngang vai mái hất tơi bời.

Nỗi niềm thao thức
Những đêm trăng nước...
Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai!
Người đàn bà ai mà định nghĩa?

Đường xưa đó về đây em ơi!
Những con đường đã đầy xác lá rơi
Xác ve, xác gió và xác của mưa.

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi
suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu
Những đêm sao buồn, những đêm gió khát
Khúc thơ tình anh lại viết về em!
Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...


CON ĐƯỜNG PHƯỢNG ĐỎ

Em mang màu phượng đỏ ra đi!
Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏ
Nơi kỉ niệm của mối tình sinh nữ
Xác ve còn bám ở thân cây.

Con đường phượng đỏ đêm nay
Mây lãng du bay trời xanh vô định
Những cánh hoa rung trong hoài niệm
Nghe lòng thổn thức đâu đây?

Phượng đã cháy lên một thời
Nửa tóc bạc rồi, nửa mái xanh phơ phất
Tới một ngày chúng cũng tàn úa hết
Ta sẽ thành ông bà lão, em ơi!

Con đường tình đẫm giọt sương rơi
Gió vẫn xạc xào vi vút thổi
Giá hồi ấy chúng mình lấy nhau rồi sinh năm đẻ bảy
Thì đâu còn phượng để anh ru.

Em đã mang màu phượng ấy ra đi…
1994
CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI

Có một khoảng trời để thương để nhớ
Là khoảng trời ở đó có em!
Những bóng cây trên đường phố thân quen
Đêm đêm chiếc lá nhớ lại bay về, xào xạc...

Có một khoảng trời không ai thấy được
Dẫu đêm nào chớp cũng loè lên
Có ánh chớp không kéo theo tiếng sét
Mà rung ngân, rung ngân… trong tim!

Khoảng trời gió thổi xót đêm
Hoá sắc cầu vồng nối hai miền thương nhớ
Cây tình yêu lớn theo cấp số
Ngược trời về cho ta gần ta.

Cái khoảng trời khi anh và em đã cách xa
(xa thật đấy mà cũng gần thật đấy)
Trong đau đớn anh hoá bờ cát cháy
Hạt vô tư còn lại… những tàn tro!
Nước Đức - 11/10/1988

DƯỚI HÀNG SẤU ĐÊM & CON PHỐ NHỎ

Phố vẫn phố, hàng sấu xưa rụng lá
Ngỡ yên rồi còn lạc bước canh khuya
Nên câu thơ anh theo đông về vội vã
Tình của đôi ta dòng sông chảy man mê...

Đêm đã lạnh vầng trăng còn thao thức
Trăng bay trên trời, anh cứ thương em
Xưa mộng nguyệt này: nay sao thấy khác
Gió nhắc thầm thì, em có nhớ không?

Em ngủ bên chồng. Thôi, cũng đừng tiếc nữa!
Mấy ai yêu trọn vẹn đâu em?
Thưở đó đẹp nhiều mộng mơ em nhỉ
Thơm mát cõi thơ, hồn ta ru êm.

Anh lưu giữ chút tình trên trang giấy
Đi hết phố xa về khắc khoải bên thềm
Rồi tự trách với mình sao buổi ấy
Lại giục em lấy chồng để đau mãi con tim!
Mùa đông 2010



ĐÊM VẮNG

Đêm thanh vắng ngồi bên thềm man mác
Anh một mình nhặt ánh sao rơi!
Lại nhớ đến em bao năm trước
Nỗi buồn vào làm đêm thêm xa xôi.

Phố phường ngủ tiếng chim kêu trong tổ
Vài ba ngọn cỏ khẽ vi vu
Ai gọi anh về con đường dạo đó
Chúng mình thường đi mãi canh khuya.

Hương tóc xưa bay và tiếng cây ru
Má mơn man tư lự nghe gió thoảng
Giờ chỉ thấy mây trôi lãng đãng
Mái đầu anh đêm thoắt bạc thêm ra…
18/1/1996



MỐI TÌNH KHÔNG BẾN ĐỖ

Mỗi sáng sáng anh ra hồ dạo bước
Thấy bóng hình em hắt xa xa
Anh mới hỏi: phải chăng nàng đã thức?
Đêm mộng mơ còn in trên nét mặt nàng kia!

Cành liễu gió vi vu lời tình tự
Thơ anh ru tiếng khẽ động bên bờ
Tình yêu đến tháng năm không có tuổi
Anh xao lòng thổn thức giữa hư vô.

Tình cũng thể bóng mây qua vô định
Như phù sa bồi đắp cõi hư không
Em bé bỏng., đời người rồi vụt biến
Hạnh phúc sẽ ào đi trong bể sóng mênh mông.

Mùa xuân gọi, em ơi! Tình ta như lá trúc
Bay trên không xáo xác giữa màu xanh
Anh thầm thì vọng gọi tên em
Bên sóng hồ reo bâng khuâng nỗi nhớ.

Chân anh bước dưới vuông trời thành phố
Tán lá bay che rợp bóng cuộc đời
Mối tình nhỏ líu lo đùa một tí
Biết đùa rồi mà vẫn máu tim rơi!

Ôi, mối tình không bến đỗ em ơi!
Mai anh chết? nếu khi đời nhắc đến
Em hãy nói với đời: anh đã từng cảm mến
Mang bóng hình em trong tim để đi xa...
1/2008


MÁI TÓC CON GÁI

Mái tóc phố màu mây
Xõa ngang đời con gái
Em đi lấy chồng rồi
Lòng anh buồn biết mấy.
Hàng phố người có thấy
Những vòm cây đứng thầm
Chiều hoàng hôn cũng vậy
Gió như là để tang.
Đây bông hoa yêu thương
Ta ủ vào nỗi nhớ
Em đã không còn nữa
Chỉ có sao trên trời.
Vầng trăng khuyết, em ơi!
Giống đời anh cô độc
Sáng ngày treo tưởng chết
Hắt hiu và nhỏ nhoi.
Em đi lấy chồng rồi!
Màu hoa xưa trinh trắng
Tháng năm cùng mưa nắng
Tóc hoá thành mây bay…
1981


CÔ ÁO TRẮNG
Tặng BN

Anh lại có một cô áo trắng
Mắt nàng nhìn trong biếc mùa thu
Mái tóc xoã, bàu vú nàng hưng phấn
Ngủ đi em! Nghe bài thơ anh ru…

Đất Sàigòn mùa xuân đến trong mơ
Có em tôi đi giữa đêm dài thành phố
Em ơi em… những khi trời trở gió
Có thấy bóng anh về thao thức bên em?

Anh nhè nhẹ hôn thầm ở dưới ánh đêm
Em khoả thân mình để hoá thành nữ thánh!
Áo em trắng hay là da em trắng
Có em rồi cuộc sống sẽ vô biên…

Ta mặc cho năm tháng chảy, nghe em!
Chỉ có anh và em, chỉ có trời và đất
Thế giới văn minh ta không cần gì hết
Em dẫn anh vào buổi hoang muội nguyên sơ.

Đêm Sàigòn khi ấy sẽ như mơ
Em bọc trong anh không cần quần áo
Ôi! Nguyệt của em đây một động sâu huyền ảo
Chứa cả thiên đường và vũ trụ bên trong

Em đừng hỏi vì sao anh yêu em!

Anh lại có một cô áo trắng
Vào buổi hoàng hôn hoang vắng cuộc đời
Đôi mắt nàng cả trời thu đẹp lắm
Bàu vú nàng mùa hoa trái sinh sôi...
2007



+ Theo nguồn phát của BTC "Bộ sách thơ hay" qua link sau:
http://lyphuonglien.blogspot.com/2012/04/tho-huong-ung-bo-sach-tho-hay-40.html

.
sau đây là bài viết của anh Đình Bồng về "Chùm thơ áo trắng " của tôi!


PHẠM NGỌC THÁI VỚI NHỮNG TÌNH THƠ ÁO TRẮNG


Đình Bồng


Có thể nói “Chùm thơ tình áo trắng” của Phạm Ngọc Thái là một chùm thơ gối đầu đối với lớp sinh viên, đặc biệt là các nữ sinh. Trong đó có hai bài được trích ra từ tập “Rung động trái tim” – NXB Thanh niên 2009, còn bài Cô Áo Trắng nghe tác giả giới thiệu trên Việt Nam Thư Quán thì ở trong tập “Hồ Xuân Hương tái lai” mà anh đang chuẩn bị cho xuất bản tới. Đó phải chăng là những hoài vọng của ký ức nhà thơ về kỷ niệm tình yêu thưở ban mai hay cảm xúc trước một mối tình nữ sinh xa xưa nào đấy? Tôi xin bắt đầu bình bài thơ thứ nhất:


A- THỜI ÁO TRẮNG

Trả lại cho anh một thời áo trắng
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!
Những bông hoa mùa xuân thôi không nở
Đi dưới bóng điện đêm lòng sẽ rất buồn.
Vào đầu bài ta đã thấy tiếng gọi của nhà thơ như muốn níu kéo một thời nào đó của tình yêu? Đó là "thời áo trắng" - Cái thưở tình ban mai trong trắng như pha lê, trinh khiết và thơm mát. Tiếng vọng từ trái tim về một khoảng xa xăm, mỗi khi nghĩ lại lòng anh lại quặn lên đau xót.
" Em đi rồi "! Hình ảnh ra đi của người con gái - Nhưng cái sự đi ở đây nó không phải là cuộc chia tay bình thường như một cuộc tan vỡ tình yêu? Đứng bên bờ của sự hẫng hụt, mất mát…lòng anh vẫn say đắm nồng nàn, tha thiết yêu em. Câu thơ bật ra nghe thảng thốt. Bóng người thiếu nữ cùng anh bao buồn vui, hạnh phúc , giờ đã khuất xa. Tiếng của nhà thơ trong sự nuối tiếc:
Trả lại cho anh...
Cái thời yêu ấy đã quá xa với anh rồi, nhưng ta cảm thấy như nhà thơ vừa mới bị mất thôi. Đến cả đất trời cùng luyến tiếc: hoa mùa xuân thì thôi không nở, anh chỉ còn biết lang thang trong những ánh đèn đêm thành phố mà thương nhớ! Tình yêu để lại trong anh bao nhiêu kỉ niệm ngọt ngào tựa như những giọt sương mai, động mạnh vào là có thể vỡ tan. Đoạn sau đó nhà thơ đã thốt lên:
Ôi! Yêu dấu cái thời còn cắp sách
Mắt em cười mùa thu xanh lên!
Thực ra sự đi này là sự rời bỏ tình yêu tuổi thanh xuân của người con gái với cuộc đời anh khi đã về chiều. Người thiếu nữ đi để lại cả một thành phố hiu hắt vì buồn:
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!
Cái thành phố có trái sấu rụng , lá me rơi với bao tháng năm tuổi trẻ anh đã từng sống êm đềm trong tình yêu, nhưng nó vừa là thành phố tượng trưng trong hoài niệm. Thành phố của cuộc đời anh! Giờ em đã bỏ đi chỉ còn lại mình anh trống vắng. Câu thơ hiện lên vừa thực, vừa ảo. Nghĩa là, cái thành phố ấy cũng cô đơn như trái tim chàng! Một thành phố của tình yêu mà không có bóng của người yêu? Hai câu thơ đầu như một khúc tình ly biệt - Đó là sự ly biệt bởi thời gian, quy luật của sự tàn úa, già nua trong cuộc đời.
Những lá vàng theo tuổi tác thi nhau rụng xuống, rêu phong nhoà nhoạt phủ lên trên cả trái tim tình vẫn tha thiết yêu thương. Hai câu thơ đó cũng đã là cả một bài thơ, để đến cuối cùng còn được nhà thơ hạ xuống làm câu thơ kết:
Trả lại cho anh một thời áo trắng
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!
Khi xưa còn em thơ mộng biết bao. Thế mà hôm nay:
Những bông hoa mùa xuân thôi không nở
Đi dưới bóng điện đêm lòng sẽ rất buồn.
Ta thấy bóng của nhà thơ đang lang thang với những ngày tháng hắt hiu, lạnh lẽo. Cái thời áo trắng của người yêu sẽ không bao giờ còn quay trở lại với anh nữa dù những kỉ niệm xưa vẫn trở về:
Mắt em cười mùa thu xanh lên!
Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học
Tà áo trắng động vào...khe khẽ nát tim anh!
" khe khẽ nát" - Ta nghe trái tim như những mảnh thuỷ tinh đang tan vỡ. Khi tà áo trắng của em động vào là trái tim ấy bồi hồi, xao xuyến. Âm thanh phát ra “khe khẽ”… nhưng chính là lòng anh thổn thức.
"...khe khẽ nát tim anh " là hình ảnh của câu thơ hay! Hé ra những ham muốn, khao khát được tìm tòi, lần cởi những gì có bên trong người con gái. Đó là những cảm giác yêu đầu tiên của cuộc đời.
Đoạn thơ ba nỗi thơ đã được đẩy cao lên để nói về sự mất mát khi cái thời trong sáng, mộng mơ đã trôi đi, lòng anh không khỏi choáng váng, bàng hoàng:
Trả lại cho anh một thời áo trắng
Đã đi qua và...đã đi qua...
Với cả dòng sông trôi mơ mộng
Lá lá rụng vàng, tóc tóc hoá sương pha.
Trên con đường đời tóc cũng bạc dần, anh không thể níu kéo lại cái thời áo trắng cho mình được nữa… và, những người con gái trẻ xinh cứ dần rời xa anh mãi mãi. Chỉ còn lại những mùa thu tàn, những chiếc lá vàng ngày ngày rơi phủ dày mãi lên cuộc đời cũng đang về chiều của anh. Đoạn thơ đã kết ở đó!
Nhà thơ Chế lan Viên cũng từng thốt lên: “ Chiều rồi! Phải, chiều rồi!...” . Bài thơ “Thời áo trắng” đã được viết ra trong cái cảnh vào chiều của đời người như thế! Những câu thơ thảng thốt bay ra từ trong tâm trạng bàng hoàng và trái tim rỉ máu vẫn còn khao khát, tưởng như lệ cũng đẫm cả hồn thơ.

B- PHỐ THU & ÁO TRẮNG.

Nếu như bài Thời Áo Trắng là sự hoài cảm kỉ niệm của một thời, thì Phố Thu & Áo Trắng (PT&AT) – tâm trạng nuối tiếc, xa xót của tác giả lại bồng lên như xé ruột, xé gan mà cào cấu trong tim.
Có một buổi nhà thơ đang đi trên phố bỗng nhiên anh bắt gặp những tà áo trắng các nàng thiếu nữ phấp phới bay lướt qua anh. Trái tim anh xôn xao tưởng chừng chỉ muốn vỡ tan ra:
Tà áo trắng em đi qua phố
Mùa thu rơi phủ mắt anh
Tà áo trắng của người sinh nữ
Anh nhìn xác phượng khóc rưng rưng.
Đó là những chiếc áo dài trắng của các nữ sinh mặc trong buổi khai trường vào mùa thu. Nhà thơ nhìn những cánh hoa phượng đang rụng rơi xuống đất, lòng anh chạnh nhớ lại những ngày được cùng em đến trường mà khóc. Câu thơ :
Anh nhìn xác phượng khóc rưng rưng…
Đã ra đời như thế! Vậy tà áo trắng này là tà áo trắng thực và phố này cũng là phố thực. Nó khác với thành phố và tà áo trắng ở bài thơ Thời Áo Trắng chỉ là những hình ảnh mang màu sắc tượng trưng. Chàng kêu lên! Mà không, chàng nấc lên:
Chỉ còn lại con tim rớm đỏ
Áo quệt vào máu rỏ hai tay...
Ôi mùa thu, mùa thu êm ả
Sao lòng anh tơi tả thế này?
Nếu như trong Thời Áo Trắng, khi:
Tà áo trắng động vào... khe khẽ nát tim anh!
Thì ở bài PT&AT này mức độ xao xiết lên trái tim người thi sĩ đã mạnh hơn. Anh bàng hoàng nhớ về một thưở đã yêu thương ngọt ngào những người thiếu nữ, giờ như con dao cứa vào cào nát trái tim anh! Mặc dù mùa thu vẫn đang êm ả trong xanh nhưng cũng còn đâu được yên lành nữa:
Áo trắng in ngang trời, sét đánh!
Lưỡi dao nào cào nát tim thu?
Đến đây hình tượng thơ lại trở thành thơ tượng trưng. Hình ảnh lưỡi dao cào nát cả trái tim mùa thu là một hình tượng đã được thăng hoa, nó đẩy nỗi thơ cao lên! Có một đoạn quyện giữa mùa thu và tà áo trắng như một bức hoạ in trên nền trời làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động và rất bay:
Tà áo trắng trôi dưới dòng mây bạc
Lang thang vài cánh bướm bơ vơ...
Cái cảnh có vài con bướm vàng bay bơ vơ, chính là hồn của nhà thơ cũng đang bơ vơ trong những làn mây bạc ấy - Nó bộc lộ khát vọng yêu đương vô biên của một con người khi bước vào tuổi hoa niên. Tuổi trẻ qua đi, nhưng tâm hồn và trái tim thi sĩ thì cứ trẻ mãi, khát vọng mãi với tình yêu trai gái ấy. Người ta nói “nhà thơ không có tuổi” là vậy, dường như nó còn mãnh liệt hơn. Những giây phút anh bồi hồi tưởng lại năm tháng đã từng được ân ái bên người con gái:
Anh cũng có một thời bên áo trắng
Cũng bế bồng và cũng đã ru em
Cái thời ấy chìm vào xa vắng,
Phút gặp lòng đâu hết ngổn ngang...
Tình yêu cuồng nhiệt và nóng bỏng, nhưng giờ thì chỉ còn những năm tháng lạnh tanh, nhạt nhoà của đời chàng. Chàng nghĩ đến cái thời từng ôm tấm thân thiếu nữ mềm mại, ấm áp trong vòng tay. Khoảnh khắc ấy bỗng trở thành như kỉ vật thiêng liêng… mà theo thời gian nay đã trôi vào tàn úa, qua đi không thể còn có thể lấy lại được nữa. Nó lý giải cảnh ngộ vì sao khi gặp những tà áo trắng đi qua lòng anh lại rạo rực, cảm xúc mãnh liệt đến thế!
Nhà thơ phác hoạ lên sự đối nghịch của lòng mình với cảnh thiên nhiên đang thanh bình quanh anh, như Nguyễn Du đã viết:
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Phút gặp lại lòng trăm mối ngổn ngang…để anh kết lại đoạn thơ cuối cùng:
Thêm một mùa thu, một mùa thu vỡ
Câu thơ nấy những bông hoa buồn
Thôi, đừng hát để ướt lòng trinh nữ
Em đi rồi, anh chết cả mùa đông!
Tác giả chỉ than như thế thôi, cũng vô vọng mà. Nói là: " thôi đừng hát..." - thực ra nhà thơ muốn hát mãi về em. Câu thơ mang ý ẩn dụ, bộc lộ một tình cảm mạnh mẽ của nhà thơ với khát vọng tình yêu trai gái! Mỗi một mùa thu đến lại thêm một lần trái tim anh tan nát, anh đi trong mùa đông càng cô đơn hiu hắt vì buồn.
Tôi xin bình sang bài:

C- CÔ ÁO TRẮNG.

Riêng bài “Cô áo trắng” này lại không phải tình thơ thưở ban mai, mà là một bài thơ tình trong buổi hoàng hôn cuộc đời – Như anh đã viết:
Anh lại có một cô áo trắng
Vào buổi hoàng hôn hoang vắng cuộc đời
Đôi mắt nàng cả trời thu đẹp lắm
Bàu vú nàng mùa hoa trái sinh sôi...
Tôi không biết người đó còn là một thiếu nữ hay đã là thiếu phụ? Chỉ biết rằng anh cảm xúc người đẹp mà nảy ra tình thơ chỉ qua một bức ảnh. Nghe nói bức ảnh đó cô em mặc một chiếc áo cánh trắng mỏng bó sát lấy tấm thân thon thả của một thục nữ thành phố Sàigòn.
Vào một mùa xuân muôn hoa đua nở, nhà thơ thương nhớ người đẹp ở trong mơ:
Đất Sàigòn mùa xuân đến trong mơ
Có em tôi đi giữa đêm dài thành phố
Em ơi em… những khi trời trở gió
Có thấy bóng anh về thao thức bên em?
Tình thơ chứa chất một tình cảm lãng mạn xen lẫn sự ham muốn về thân thể của người yêu. Tình thơ được khai thác khá sâu sắc. Tác giả diễn tả về cái thế giới bên trong người đẹp như cả vũ trụ:
Đêm Sàigòn khi ấy sẽ như mơ
Em bọc trong anh không cần quần áo
Ôi! Nguyệt của em đây một động sâu huyền ảo
Chứa cả thiên đường và vũ trụ bên trong
Hình ảnh thơ mang màu sắc triết học càng làm cho tình thơ trở nên huyền thẳm. Ngôn ngữ sắc bén, sinh động tựa lưỡi dao cứa ngọt vào trái tim làm ta tê tái, kết hợp với giọng thơ uyển chuyển du dương. Tuy là thơ tự do mà cảm xúc không chê vào đâu được.
Anh nhè nhẹ hôn thầm ở dưới ánh đêm
Em khoả thân mình để hoá thành nữ thánh!
Áo em trắng hay là da em trắng
Có em rồi cuộc sống sẽ vô biên…
Hay là:
Ta mặc cho năm tháng chảy, nghe em!
Chỉ có anh và em, chỉ có trời và đất
Thế giới văn minh ta không cần gì hết
Em dẫn anh vào buổi hoang muội nguyên sơ…
Cô Áo Trắng là một tình thơ sâu sắc & gợi cảm. Tuy có nơi, có chỗ tác giả đã sử dụng hình ảnh thân thể như “bàu vú nàng”, hoặc “nguyệt của em đây…” – Nhưng đọc lên không làm cho tình thơ trở thành dung tục. Nó chỉ cốt tăng thêm sự hấp dẫn, đáng yêu hơn, hay hơn & viên mãn.
Nói chung thơ Phạm Ngọc Thái viết theo cảm xúc được tung toả ra nhiều khía cạnh của cuộc đời. Tác giả thường đi hết gam để đẩy nỗi thơ đến tận cùng mà vẫn giữ được sự hồn nhiên trong trẻo. Nhà thơ như thể bóc cả trái tim mình cho thơ tuôn trào ra như suối vẫn không kém phần khúc triết - Qua đó mà bật lên toàn bộ tình cảm trái tim thơ!

Áo Trắng là một chùm thơ có tầm vóc và hay. Chúc mừng anh!

Đình Bồng
Giáo viên Trường THPT
Ba Đình - Hà Nội



* Quí vị có thể thưởng lãm "Chùm thơ tình áo trắng" của tác giả qua link sau:
http://www.bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=1578

+ Đã được đăng trên nhiều website trong nước & thế giới - Qua các link sau:

http://vandanviet.net/shop_news.php?l=vn&ac=235&start=0&cn=633&sort=1&item=1&from=&to=&mode=n&cn=633&n=9413

http://www.bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=2437
http://vanthoviet.com/news/n/499/5081/pham-ngoc-thai-voi-nhung-tinh-tho-ao-trang-dinh-bong.html?l=vn
http://www.nhuygialai.com/2012/05/pham-ngoc-thai-voi-nhung-tinh-tho-ao.html
http://vietinfo.cz/thu-vien/pham-ngoc-thai-voi-nhung-tinh-tho-ao-trang.html
http://datdung.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=5764#axzz1ty8SJs2Q
http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-xuoi/2479-phm-ngc-thai-vi-nhng-tinh-th-ao-trng-inh-bng
http://vanhac.org/04/pham-ngoc-thai-voi-tho-tinh-ao-trang.html
http://www.truclamyentu.info/tlls_trang_phamngocthai/phamngocthaivoinhungtinhthoaotrang.htm
http://sacmauthoigian.wordpress.com/2012/05/03/pham-ngoc-thai-voi-nhung-tinh-tho-ao-trang/



<bài viết được chỉnh sửa lúc 08.05.2012 13:59:00 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 06.06.2012 10:46:15
.

Vừa qua anh Nguyễn Đình Chúc, một người bạn thuở còn quân ngũ của tôi - Đã viết bài bình luận về thư Phạm Ngọc Thái & đăng trên rất nhiều các website trong nước cũng như thế giới! Tôi xin đăng lại vào đây để các bạn ởe VNTQ đọc, cũng là để lưu giữ trong Tuyển văn xuôi của mình.
Bài bình luận đó như sau:

THẾ GIỚI THƠ CA PHẠM NGỌC THÁI

Nguyễn Ðình Chúc

Tôi biết Phạm Ngọc Thái (PNT) từ thưở còn chiến tranh, cùng là anh lính chiến ăn rừng ngủ rú qua ba mặt trận Việt-Miên-Lào. Suốt chặng đường chinh chiến ấy Thái ham viết nhật ký và làm thơ! Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữa rừng, Thái vẫn thường hay đọc thơ cho chúng tôi nghe. Ðược biết những cuốn nhật ký đó đã bị mất trong chiến tranh, tác giả chỉ còn nhớ lại ít bài tản mạn, cũng là một điều đáng tiếc.

Bọn lính Hà Nội cùng trong tiểu đoàn chúng tôi ra đi hồi đó, hết chiến tranh rồi kiểm lại cũng chỉ còn mươi đứa sống sót trở về. Chẳng ai có thể ngờ rằng cái anh chàng lính trận rất ham thích thơ thưở đó, nay đã trở thành một nhà thơ có tên tuổi trong làng ngoài nước. Thái cũng đã cho xuất bản 3 tập thơ, hay nhất là tập "Rung động trái tim" - Nxb Thanh niên 2009 rất có tầm vóc của anh.
Tôi kể một chút kỷ niệm xưa cũng chỉ là bộc bạch đôi nét trước khi giới thiệu thơ anh! Phần nữa, qua những tập thơ đã xuất bản và nhiều chùm thơ anh cho quảng bá trên mạng - không khỏi ngỡ ngàng: tâm lý, tình cảm của PNT hôm nay đã khác với năm xưa ấy nhiều quá? Nếu đọc ở mảng thơ tình ta nhận thấy một tâm hồn tha thiết yêu nhưng hoang dã, mà phần nhiều đều là những mối tình dang dở hoặc tan vỡ, tác giả nuối lại những kỷ niệm đã xa xưa.
Thí dụ như bài ÐÊM NAY TRỜI LẠI KHÔNG MƯA anh viết:
Ta lại bước lang thang trên phố vắng
Ðến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi
Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi
Bóng với mình đi mãi tới ban mai...
Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến... đã chia tay?
Còn ở bài NGƯỜI ÐÀN BÀ TRẮNG:
Vết thương lòng không dễ đã lành đâu / Những đêm sao buồn, những đêm gió khát
Khúc thơ tình anh lại viết về em / Người đàn bà ngậm cả vầng trăng.
Mảng thơ tình này tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần sau. Trong số bài thơ khác ta lại thấy một cái bóng bảng lảng, quanh quất cõi thiền của một con người cập kề tuổi hoa niên. Có lẽ không phải chỉ là vấn đề tuổi tác, còn do khách quan cuộc sống và tâm trạng bởi thời thế đã làm thay đổi những suy nghĩ, tình cảm và tâm hồn tác giả. Như trong tựa đề của tập thơ Người Ðàn Bà Trắng anh viết:
Tiếng chuông chùa bốn phía âm vang / Mình lễ cả ba thiên toà phật
Người có vận! Thôi đừng oán trách / Chuyện thơ văn vừa thực, vừa chơi...
Một quan niệm rất thiền. Còn tựa đề cho tập Rung Ðộng Trái Tim thì tâm tư của nhà thơ lại hoà trộn trong cát bụi cuộc đời:
Con sẻ hót mênh mông đồng nước / Người hát rong hát vui sân ga
Tiếng Hát Ðời Thường thường lẫn vào bụi cát / Anh hát cho đời... / Anh hát em nghe...
Ðể có thể nhận thức được một phần nào đó về thế giới thơ Phạm Ngọc Thái, tôi tạm chia ra làm mấy tiêu đề lớn cho tiện phân tích.

A/- SỰ KHÁI QUÁT HÀM SÚC TRONG THƠ
Tính hàm súc có thể nói bao trùm trong thơ PNT, kể cả những bài thơ viết dưới dạng triết lý đến nhiều bài chảy theo dòng cảm xúc tự nhiên. Xin bắt đầu từ bài CỬA QUÁN:
Bà chủ quán / Bước lên xe mô-đéc / Ðeo kính gọng vàng
Mấy cô gái / Ngồi ở lan can / Mặc toàn váy ngắn
Mùa thu rơi / Sau kính...
Anh thi sĩ/ Hoá thằng gù / Nhà thờ - Ðức Bà - Pa Ri!
( Tập "Người đàn bà trắng" )
Nó khái quát tới mức độ: Bài thơ được tạo thành từ 4 tứ thơ, mỗi tứ chỉ là một bức ảnh.
- Bức ảnh thứ nhất chụp về sự giàu có sang trọng.
- Bức thứ hai chụp về sự trẻ trung hoa mỹ, gợi cảm của các cô gái (mô típ rất thời đại), qua đó để nói lên sự quyến rũ, đam mê trong khát vọng con người.
- Bức thứ ba chụp về thiên nhiên trinh bạch và êm ả: Con người còn hướng đến sự thanh tao, khoáng đạt của đất trời.
- Ðể rồi tác giả rút ra triết lý, kết tất cả vào trong bức ảnh thứ tư: Ðó là tấm chân dung thảm hại của thằng gù Nhà thờ Ðức Bà, Pa Ri... trong tiểu thuyết của văn hào vĩ đại V.Huy Gô. Dựng lên cả tấn bi kịch cuộc đời - Rằng, nếu nghèo khốn quá thì đến chân dung một con người cũng chỉ như một con vật!
Bốn bức ảnh ấy tự biến hoá, tác động lẫn nhau để lột tả chủ đề tư tưởng trong tác phẩm của anh.

Tôi phân tích một bài thơ khác của tập Rung Ðộng Trái Tim là bài NỖI TRĂN TRỞ NGƯỜI ÐI TÌM VÀNG - Bài thơ vẽ cho chúng ta một bức tranh về những con người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài:
Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp / Rời quê qua bên kia biển sóng / Kẻ tìm vàng, người vì cảnh nghèo đi...
Nó cũng giống như một đoàn quân ô hợp tha phương kiếm sống, nhiều mặt bị tha hoá... không khác gì lớp người ở dưới đáy xã hội:
Ðạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ / Ðứa mách qué lại vân vi dễ sống...
Gia đình ở trong nước thường vui mừng khi nhận được tiền của mà người thân của họ từ nước ngoài gửi về, nhưng không thấy được những nỗi đời ê chề, thậm chí tới mức khốn nạn mà những người thân của họ đã gánh chịu. Ta hãy nghe xem tác giả đã nói về cái giá mà những con người tha phương đó phải chịu đựng thế nào?
Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông (*)
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương lọc sàng từng đống rác (**)
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác / Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.
Câu 1 (*) - Tác giả sử dụng ý câu thơ của Nguyễn Duy: "Còn chút vàng mười mang ra bán nốt" - nghĩa của hai chữ "vàng mười" đó ý nói là thứ "vàng của lương tâm". Trong mâu thuẫn hiện thực cuộc sống, nếu nghèo khổ quá thì có khi đến cả tâm hồn cũng phải mang ra mà bán cho quỉ sứ! Huống chi còn cả gia đình và những người thân trong nước đang chờ họ. Nền tảng xã hội xuống cấp thì cá nhân làm sao có thể giữ trong sạch được?
Câu sau (**) - Tác giả phỏng theo tích truyện "Bông hồng vàng" của nhà văn Nga Pau-Tốp-xki: Có người lính lê-dương làm cận vệ cho một viên tướng Pháp. Trong chuyến sang chiến trường Ðông Dương, viên tướng ấy đã mang theo một cô con gái nhỏ. Trước khi bị tử trận, viên tướng còn kịp dặn lại người lính cận vệ của mình: Hãy mang cô con gái của ông ta về trao lại cho mẹ nó ở Pa Ri! Trên đường về Pháp, cô bé ngây thơ cứ ao ước có một bông hồng bằng vàng ? "Bông hồng vàng" chính là biểu tượng cho hạnh phúc của bé gái!
Những năm sau đó, cuộc sống xô đẩy anh lính lê-dương trở thành một người quét rác nghèo hèn, sống trong một túp lều xiêu vẹo dưới gầm cầu của ngoại ô Pa Ri. Tuy vậy, trong tâm trí của người lính ấy vẫn mong muốn sẽ thực hiện được ước mơ của cô bé. Ngày ngày khi quét qua các cửa hiệu kim hoàn, người quét rác lại chắt lọc lấy những nắm bụi vàng mang về nơi mình ở. Năm này qua năm khác, dần dà anh ta cũng tích được một ít vàng, đủ để nhờ người thợ kim hoàn làm cho cô bé một bông hồng vàng nhỏ. Khi đó cô bé ấy đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp ở Pa Ri!
Trớ trêu, bông hồng vàng chưa kịp gửi đi cho bé gái thì người quét rác đã chết trong đói nghèo và khổ cực. Xác anh ta nằm trên một manh chiếu mục, đầu vẫn gối lên bông hồng vàng... sau đó đã bị người thợ kim hoàn đến lấy đi mất. Vậy là, loại "vàng mười" (vàng lương tâm) mà nhà thơ Nguyễn Duy đã phải đem ra chợ bán, với "vàng" mà người quét rác kia lăn lộn kiếm từ trong rác bẩn cuộc đời - nó cũng giống như cái thứ vàng mà những người lao động đi kiếm khi họ ra nước ngoài làm thuê:
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác / Nhưng giá vàng tính cũng như nhau...
Khi mang ra thị trường thì vàng nào cùng loại mà giá chẳng như nhau? Nếu đặt trên bàn giá của lương tâm ta cũng không thể chê trách những con người lao động ấy, bởi những tình cảm đó xuất phát từ lương tri của lương tri, như tác giả thổ lộ:
Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng? / Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!
Ý thơ thật xót xa. Kịch tính bao nhiêu khi chính những con người đó còn phải sống với nhau như giữa chốn chợ giời:
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ
Bài thơ đã được khai thác cả bề diện lẫn bề sâu, nó hay lên vì "cái tôi" chảy trong máu tim tác giả hoà quyện với hiện thực của cộng đồng. Chỉ hơn 20 câu thơ tác giả đã phục lại không khác gì một pho tiểu thuyết, một bi kịch xã hội và con người.
Thơ PNT giàu triết lý, đặc điểm của tính triết lý ấy là được vận từ đời sống vào thơ như được chắt từ trong óc, nên cảm xúc vẫn mạnh mà không bị gò ép. Thí dụ:
Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu / Anh cũng không làm chàng Trương Chi suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo con-đường-lông-ngỗng-trắng / Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!
(Người đàn bà trắng)
Bờ bãi đời người "Cuộc sống - Tình yêu" / Trái tim nhỏ em dựng cả Toà sen chân phật tổ!
Ta cũng thể loài cua còng nơi bể cả / Yêu thương nhiều hưởng đã bao nhiêu?
(Em về biển)
Cuộc cờ ấy theo thời như hội / Vàng đỏ trắng đen... thay sắc luân hồi
Từ anh nhà thơ tới đứa ăn mày / Mấy ai tránh nổi trò sấp ngửa.
(Viết sau đám xe tang)
Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại / Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió hồ Tây đang thổi / Anh ở đây vẫn bên hồ Tây mây trôi...
(Anh vẫn ở bên hồ Tây)

B/- PHẨM CHẤT VÀ TÍNH CÁCH NHÂN VĂN TÁC PHẨM
Lưu ý một chút ta sẽ thấy nổi lên một đặc điểm rất rõ: Hầu như bài thơ nào của Thái cũng có thiên nhiên. Khi thì nó được viết dưới các hàng cây, lúc ở bên hồ, trong các quán xá của một chiều hoàng hôn hoặc dưới đêm trăng. Nhờ vào cảnh thiên nhiên bỗng một ký ức xa xăm nào đó vụt tới tạo thành cảm xúc thơ. Thiên nhiên không chỉ là chỗ dựa cho những tình cảm vui, buồn trong đời thường tác giả, nó còn là yếu tố quan trọng nuôi sống thơ anh. Như tác giả đã thổ lộ:
Mai ta chết, các bạn bè thân hữu / Bọc thiên nhiên mà đọc điếu văn
Ðại bàng vỗ cánh rợp trời mưa gió / Trong không gian vào mãi xứ vô biên...
(Viết dưới chân đài hoàn vũ)
Thơ anh đều bắt nguồn từ đời thường. Cái đời thường ấy được khái quát bằng một sự trải nghiệm tương đối sâu sắc: Con người với xã hội, cá nhân và thế giới. Nó mang tính đời sống triết học, tính vũ trụ (tồn tại và cát bụi), đời vừa thực lại vừa hư. Tuỳ theo cảnh tình nhào luyện thành vóc thơ ca, ẩn chứa một thế giới bên trong rất thấm thía.
Tôi xin nói thêm đôi nét về đời tư tác giả để bạn đọc dễ cảm nhận khi đọc thơ anh! PNT sinh ra và lớn lên trong thời chiến. Từ thưở còn trẻ anh đã phải rời bỏ đời sinh viên đại học, từ giã Hà Nội để tiếp nhận cuộc sống người lính ngoài chiến trường. Trong những năm tháng chiến tranh ấy, chúng tôi đã có một số năm sống với nhau trong cùng đơn vị. Sau này mỗi đứa phiêu bạt một nơi, cho tới tận ngày kết thúc chiến tranh trở về Hà Nội mới lại gặp nhau. Có lẽ vì tâm lý cũng đã mệt mỏi đường binh nghiệp nên khi trở lại thành phố quê hương anh đã xin rời khỏi quân ngũ, tiếp tục theo học đại học ngoại thương, để sau này trở thành một cán bộ của ngành ngoại thương quốc tế.
Tâm lý diễn biến của cuộc đời tác giả trong những năm hoà bình trở lại đây cũng khá phức tạp. Khi anh trở về thì nhà tan cửa nát, do bị bom B52 giặc Mỹ đánh vào phố Khâm Thiên Hà Nội năm 1972, khi ấy gia đình anh sống ở đó. Rồi năm tháng lại thêm sự chán nản bởi thời thế, Thái sống chẳng khác gì một người đi ở ẩn, chỉ vui thú với gia đình, bạn bè, sớm hôm bàu bạn văn chương. Tâm lý ấy đã được bộc lộ trong nhiều bài:
Ta đã sống phần đời sau chót / Trong ngôi nhà ẩn khuất bóng nhân gian
Một cuộc sống bình thường bàu bạn / Nửa trăng hồ nửa gã hiền nhân.
(Trên nấm mồ truyền thuyết)
Có lúc tác giả rơi vào một trạng thái cô đơn đến gai lạnh:
Hãy vứt ta lên chiếc giường phủ những nệm chăn màn... làm từ những tế bào đói khát
Ta không đói khát tình em / Mà đói khát con người!
Hay là:
Một thứ ma người quen hút khí đêm thay cho sữa mẹ
Chơi với hoa, với cá, với chim
(Cô đơn)
Nhiều khi chỉ bàu bạn với trăng sao:
Ta! Anh thi sĩ của nhân gian / Tạc thù với cả khối sao trăng
Hồn hoa nâng cốc xin dốc cạn / Dẫu chỉ mình thôi vẫn mê man...
(Tối quán)
"Cõi thiền" cũng là một trong những phẩm chất nhân văn rất căn bản của thơ PNT. Trong mảng thơ đời của anh, tính hiện thực xã hội, thời đại, có khi lại hàm chứa cả những quan niệm vũ trụ đầy bí ẩn. Tôi xin phân tích cụ thể vào một số bài thơ.

1/. EM BÁN XOÀI - Hình ảnh nhân vật trong thơ đã được tác giả nghén thai từ những ngày sau chiến tranh, khi anh vẫn còn là một sĩ quan trên con đường binh nghiệp. Trong một buổi chiều tối lang thang trên bãi biển của thành phố Nha Trang, tác giả đã gặp một cô gái, nhiều cô gái bán xoài - để rồi mãi sau này khi nỗi lòng có nhiều trắc ẩn, kỷ niệm bao năm tháng qua lại trở về và bài thơ đã ra đời:
Em bán xoài đi đêm trên cát trắng / Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang
Ðó là những thân phận nổi trôi sau một cuộc chiến tranh, những kiếp đời cát bụi. Nó nhỏ bé, côi cút trong một biển sống đầy sóng dữ chỉ muốn nuốt chửng lấy nó. Những người con gái thân phận lạc loài, linh hồn gần như không có nơi bám víu:
Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm / Linh hồn treo ngoài thế giới em đi / Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?
Cái thế giới ấy giống như:...vòng thiên la địa võng /- Mặc dù sự tồn tại của thế giới đó phải nhờ vào vị thơm của trái xoài và hương mát của những người con gái kia! Thế mà:
Ai mua xoài? Còn ai có mua em?
Hay là:
Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi...
Hồn thơ nhập vào những thân phận bọt bèo để rồi cùng vô vi trong cát bụi cuộc đời. Như thế là cái thế giới với những đảo điên trong thế thái giống như cái túi càn khôn bủa vây, vùi lấp đám dân lành tội nghiệp. Bài thơ được kết thúc trong lời ru, sự cảm đồng của lòng tác giả cùng với quê hương quanh những cô gái bán xoài:
Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm

2/. CÔ QUÉT LÁ ÐÊM HỒ - Một bài thơ cũng rất giàu tính dân dã:
Một đêm hồ nước đầy sương gió / Người đi không rõ mặt người
Liễu ru nhè nhẹ quanh bờ vắng / Em thầm thì quét lá, bên tôi!
Vào cái đêm trời đất đầy sương gió tác giả đã gặp cô quét lá, chính là người quét rác trong phố khuya. Ðọc đến câu thứ 2 ta thấy hiện thực xã hội đã hiện ra: Không phải chỉ trời sương gió, mà đó là những con người của đời sương gió. Lớp người đông đảo nhất xã hội, nhưng bước đi:...không rõ mặt người/- Những con người lao động nghèo khổ "sống không còn nhân ảnh", chẳng qua cũng chỉ là những lớp đời phù du, thân phận giống như chiếc chổi tre năm tháng quét lê trên đường để... mòn vẹt dần đi:
Em quét lá lẫn đời lẫn kiếp / Tiếng chổi mòn kêu xiết vào tim!
Cảnh đời và tác giả cứ hiu hắt ru quanh cô quét lá đưa ta vào khoảng không gian vừa mơ hồ, êm ả, nửa thực, nửa không, như có những giọt lệ từ trong trái tim nhà thơ rơi ra:
Em hoá thành thơ rơi lặng lẽ / Trong cõi lòng tôi buồn triền miên...
Tôi đi sâu để phân tích hai câu thơ hay nhất bài:
Trăng như đứa không nhà trôi lạc lõng
Con nai vàng chết bóng thu xưa...
Tác giả có kể về xuất xứ của 2 câu thơ này: Nhìn lên vòm trời đêm ấy xung quanh là tiếng lá cây reo, anh có cảm giác... không phải cô quét lá cô đơn mà chính là nhà thơ cô đơn! Nó cũng như cái bóng trăng đang lạc lõng, hiu hắt trên trời kia? Thế là bóng trăng đã được nhân cách hoá vào thân phận con người đang bơ vơ không nhà, không cửa. Còn hình ảnh đêm mùa thu cô quạnh, mơ mộng và man mác buồn... gợi lên trong tâm trí tác giả về hình tượng "con nai vàng" trong bài thơ Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư! Một sự liên tưởng nấy sinh trong đầu óc anh: Chỉ có thi nhân "mộng và sầu" mới có thể thấy được bóng:
Con nai vàng ngơ ngác
đạp trên lá vàng khô
Còn những con người lao động nghèo khổ kia đang phải vật vã từng ngày để kiếm miếng cơm manh áo, thì làm gì còn tâm trí mà....mơ đến bóng nai vàng? Thế là nẩy ra cảnh ngược thơ: Con nai vàng phải chết! Nên mới có câu:
Con nai vàng chết bóng thu xưa...
Vậy là hình ảnh "con nai vàng ngơ ngác" của cố thi nhân Lưu Trọng Lư thì bọc chứa cả thế giới trong thơ, còn hình ảnh "con nai vàng chết"...ở bài thơ "Cô quét lá đêm hồ" của PNT lại để phản ảnh ý nghĩa cuộc sống và xã hội nằm bên ngoài câu thơ. Hai câu thơ trên như gói cả thân phận cùng nỗi lòng của nhà thơ và cô quét lá vào trong đó!

3/. ÐÊM KHÔNG NGỦ - Là một bài thơ tác giả trăn trở về nhân tình thế sự! Ðó là vào một đêm mùa đông:
Thành phố của những ổ chim / Âm ỉ hót phù du...
Có một con chim (con chim đó đã phải đeo kính trắng), cứ tối tối ra đường:
Nhặt những hạt sấu, cánh hoa lơ đãng / Bước đi như không có chuyện gì?
Nhưng " không có chuyện gì" ? nghĩa là có chuyện! Vậy tại sao nó lại "lơ đãng"? Nghĩa là chuyện ấy nhàm rồi, chán rồi, không còn đáng lưu tâm hay nó không muốn lưu tâm đến nữa. Hình ảnh những "ổ chim" ở đây, tác giả lấy làm biểu tượng để nói về chốn dân tình. Thông qua tiếng của loài chim ấy để nói lên tâm tư tình cảm nhân gian về xã hội và thế thái này.
Ðêm không ngủ không buồn
Cái điệp khúc tác giả nhắc đi nhắc lại để mở đầu cho mỗi tứ thơ: nó bộc lộ một tâm trạng còn u uẩn, khuất khúc? Vừa như lãnh đạm bàng quan với xung quanh, nhưng lại... không ngủ được! Giai đoạn mà anh viết bài thơ này là... đúng vào cái đêm "bức tường Berlin bị đạp đổ", Ðông Ðức mất vào tay Tây Ðức, kéo theo là sự sụp đổ của nước Nga Xô viết cùng hàng loạt các nước XHCN ở Ðông Âu.
Ðứng trước một sự kiện lớn lao đến như thế, sự sụp đổ của cả một hệ thống CNXH cũng có nghĩa là sự tan vỡ của chủ nghĩa Marx làm chao đảo cả một thời đại - Ấy vậy mà hình ảnh của cả một thành phố (như tác giả tả trong thơ) vẫn chìm trong một không khí lạnh lẽo, như không ai thèm đếm xỉa đến sự tan vỡ ấy:
Thành phố không mưa / Cũng không nghe ai khóc!
Bởi vì cái thế thời ấy đã... thoái hoá, làm cho người ta chán quá rồi! Nó có sụp đổ đi cũng là đúng thôi, chẳng ai hoài công mà thương tiếc nó làm gì nữa. Ðây chính là thái độ nhân sinh và thế giới quan của nhà thơ! Nên "con chim đã phải đeo kính trắng" kia mới:
Bước đi như không có chuyện gì...
Cuối cùng tác giả dồn toàn bộ ý tưởng vào trong mấy câu thơ sấm sét để kết bài:
Ðêm không ngủ! Phải, đêm nay mình không ngủ! / Ðúng vào đêm sụp đổ giữa cộng đồng
Chủ nghĩa Marx hết thời. CNXH cũng suy vong...
Tác giả bỏ lửng ở đấy để cho đời tự ngẫm mà phán xét? Thi phẩm đã bộc lộ một tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ.

4/. TRỞ VỀ - Bài thơ đã được viết ở nước ngoài cũng trong giai đoạn phe XHCN bị sụp đổ đó, vào những ngày anh chuẩn bị trở về quê hương:
Ðôi cánh chim trời quạt gió mây / Ta về non nước nước non đây
Hay là:
Ta về bàu bạn cùng mưa nắng / Lưu lạc người ơi gió cuốn thôi...
Trên bàn cân thế giới khi ấy dấu ấn về thành trì CNXH bị nghiêng ngả đã được tác giả ghi nhận trong bài thơ:
Ðông Âu bão giật xiêu thành Marx
Và tình hình rối ren của nhân tình thế thái:
Bốn bể chân trời lạc khói sương...
Thành thử chỉ từ một bài thơ có tính chất ngẫu hứng tự sự bản thân đã mang ý nghĩa về một phạm trù của lịch sử thời đại. Bối cảnh quê nhà khi tác giả ra đi:
Ở chốn quê nhà bụi cát bay / Hoà bình mà tan mộng trăng say
Nhưng vì tình yêu da diết với quê hương anh vẫn kiên quyết trở về, trong khi rất nhiều bạn hữu của anh tìm cách ở lại nước ngoài làm kinh tế. Theo lời tác giả nói: Anh kiên quyết trở về quê hương còn vì sự nghiệp văn chương, đã được anh ghi nhận trong câu kết bài:
Ta về trọn cuộc đất cố hương / Với mộng ngàn thu gửi nhân gian...
Có lẽ vậy cho nên việc PNT có trở thành một thi nhân với bao nhiêu áng thi ca hay để lưu lại cho đời cũng chỉ là tất nhiên thôi!

5/. Nếu kể đến mảng thơ viết về thành phố quê hương thì không thể không nói tới bài TIẾNG HÁT ÐỜI THƯỜNG - Bài thơ viết như một truyền thuyết: về người vợ trẻ với đứa con thơ đang chờ anh ở cố hương. Nơi có ngôi đền, quán báo, gốc đa bên hồ Tây. Nơi bà Thị Lộ năm xưa đi bán chiếu gon đã gặp ông Nguyễn Trãi. Nơi mà vẫn còn in dấu đại bác ở cổng thành phía bắc Thăng Long, khi quân giặc Pháp vào đánh chiếm Thủ đô, thành Thăng Long thất thủ, quan tổng đốc Hoàng Diệu phải thắt cổ để tuẫn tiết. Cái thành phố quê nghèo ấy với những hình ảnh bình dị thân thiết:
Ôi quê hương! / Cái phố nhỏ cứ mưa là lầy lội / Cháu gái nhà bên tuổi không đoán nổi
Chưa tối đã khêu đèn bê mẹt thuốc rao đêm / Ngày hai bữa, bữa nào cũng vội
Và lòng nhà thơ tha thiết luôn hướng về miền cố hương ấy:
Ai biết chiều nay người vợ trẻ / Ðứng mong chồng bên đứa con thơ / Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu!...
Hay là: Tuyết bạc quê người, xứ sở mưa cau / Ði đâu, đến đâu... nhớ về phố ấy! /- Cái tiếng hát đời thường ấy lẫn vào trong cát bụi, nó cũng giống như tiếng của người hát dạo trên sân ga, tiếng của những con chim sẻ nhỏ nhoi trên cánh đồng mênh mông nước - nhưng đó là những tiếng hát tha thiết và thân thương của trái tim ta.

6/. Tôi bình bài ÐÊM TRUNG THU VÀ ÐỨA ĂN MÀY mà tác giả nói về cái nghèo đói:
Trước đứa ăn mày tất cả chúng ta hoá thánh! / Nó đói lòng cúi lậy rất từ bi...
Nghĩa là cái đói khổ đã đẩy con người ta xuống hàng cấp thấp, đê hèn. Ðây lại chỉ là hai đứa trẻ. Ðứa lớn vẫn còn bé, nó đã gầy yếu nhưng còn phải cõng trên lưng một bé em còm cõi:
Ăn mà từ thưở khai sinh!
Hai đứa ăn mày ấy xuất hiện trong một khung cảnh nào? Ðó là vào giữa đêm trung thu đèn hoa, trăng sáng. Một bức tranh tạo nên cảnh tương phản đến khốc liệt, khi cảnh thê lương ấy lại xẩy ra ở trong cái đêm hạnh phúc nhất giành cho con trẻ trên toàn trái đất này. Bố mẹ chúng đâu và là ai? ta không biết! Cái hiện thực thật tội nghiệp, xót xa. Còn với chúng phải sống lang thang xin ăn như thế nó sẽ nghĩ gì?... thậm chí nó còn chưa đủ tuổi để nghĩ đến thân phận của mình nữa:
Hai đứa ăn mày mặt lạnh như trăng / Hoà phối cảnh vào bức tranh xứ sở...
Cái màu trăng rằm tháng tám thì đẹp và rực rỡ, còn màu trăng nhờn nhợt trên mặt những đứa trẻ kia thì lạnh lẽo làm ta rợn gai người - Và, hai cái màu trăng ấy hoà vào nhau làm thành màu...đất nước? Bài thơ đã được kết thúc trong những mâu thuẫn không thể nào tháo gỡ nổi trên cõi thế gian này:
Dưới gầm trời này có phải đã muôn năm như vậy: / - Kẻ cần cơm bên những đứa cần vàng
- Lũ cần tình thương sống lẫn giống bạo tàn / Và gộp lại gọi chung là... nhân thế!
Ta nhìn ra thế giới hôm qua, hôm nay và ngày mai: châu Á, Âu, Phi & Mỹ la tinh - con người đang bị quyền lực, bom đạn chiến tranh đè nén và chết chóc. Những người da đen đói khổ cũng như các lớp người bần cùng sống như con vật. Nhân thế cứ như thế, như thế mãi biết bao giờ cho hết? Thực tế đầy rẫy những bất công dội vào thế giới quan của nhà thơ để anh kết lại bài thơ như trên! Giá trị đích thực của bài thơ là những tiếng nói như máu, tiếng nói nhân đạo từ bên trong.

C/- ÐIỂM QUA MẢNG THƠ THIỀN & THƠ TÌNH
Như đã nói ở trên: cõi thiền là một nhân tố rất căn bản của thế giới thơ PNT, nó chiếm số lượng bài cũng rất đáng kể như: Thu tĩnh, Chiều hoàng hôn, Khoảng buồn vô lý, Một chiều cuộc đời, Với mùa xuân đang tan, Tối quán v.v... Mỗi bài lại có sắc thái, hương vị riêng. Trong mảng thơ thiền này, tôi xin chọn để phân tích một bài thơ khá đặc biệt của anh.

1/. MỘT GÓC HỒ TÂY:
Anh đến mình anh trong chiều muộn / Nhặt thơ tình ở một góc hồ Tây
Ngắm mặt gương hồ vào chập tối / Mặt trời lại ngỡ bóng trăng soi.
Thỉnh thoảng ta bất chợt bắt gặp bóng mặt trời khuất muộn trong cảnh chiều chập choạng. Lúc đó nó giống như bóng trăng sáng trắng, vừa hơi viên mãn lại vừa như ảo. Tác giả đến bên hồ một người một cảnh, trăng nước vơi đầy. Tiếp theo không phải cái đọt mây kia lơ đễnh mà chính là lòng tác giả:
Lơ đễnh đọt mây qua phớt trắng / Vừa đơn côi mà không đơn côi!?
Hai chữ "lơ đễnh" ấy bộc lộ một trạng thái tình cảm và tâm hồn, vừa có cái gì thật da diết lại chơi vơi nửa vời. Cảnh với người hơi bảng lảng, buồn buồn mà tình vẫn đầm đìa. Sau đó tác giả có nhắc đến một cô gái nào đó, nhưng hình như không phải là một cô gái hay em nào cụ thể? Ðó chỉ là khát vọng trong nỗi hiu hắt của một con người đang bước tới cái tuổi hoa niên:
Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng / Lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi...
Nó không còn chỉ là cảnh hoàng hôn của trời đất nữa mà còn là buổi chiều hoàng của cuộc đời anh! Hình ảnh chiếc lá vàng rơi thay vào chỗ ngồi của người thiếu nữ xưa vừa đằm thắm mà nuối nả, xót xa. Buồn hơn nữa là khi lòng tác giả lại nhập vào trong cảnh chùa chiền:
Mõ chùa buông thay tiếng nói của người yêu! / Trong sân gạch sư già quét lá / Bước người đi thầm lặng cõi hư hao...
Phố xá mà cảnh như chiều thôn quê. Từ tâm trạng của nhà thơ tới hình bóng hư hao, lãng quên trần thế của nhà sư kia cũng chỉ là một. Vào đất phật lại cô đơn vì tình trai gái, vừa phàm trần mà lòng vô vi, thực và không... đều quyện trong một buổi chiều hồ. Ðể rồi cuối bài thì chính tác giả đã ví mình với nhà sư kia:
Người quên hết! Còn ta yêu tất cả / Trong tiếng lá bay chầm chậm bóng ta theo...
Tâm trạng của nhà thơ cũng u hoài như những chiếc lá đang bay đó thôi!... Giờ tôi xin bình sang một số bài thơ tình.

2/. KHOẢNG TRÔI TRONG LÁ - Tác giả nhớ về kỉ niệm với một thiếu nữ. Trong đời thường khi tình bị tan vỡ có phải chịu dày vò đau khổ hoặc xót xa, nhưng anh hay em thì vẫn cứ phải tồn tại để sống! Tuy vậy, năm tháng qua đi lá rụng hết lớp này đến lớp khác, tình yêu với người thiếu nữ xưa vẫn trở về cồn cào trong trái tim anh:
Bỗng cồn nhớ một thời dĩ vãng / Gió vẫn trôi không hữu hạn bến bờ
Nhưng vẫn đó: em, anh - cuộc sống / Xa nhau rồi, tình cũ đến bơ vơ...
Người con gái ấy giờ đây ra sao? Cuộc sống thế nào? không ai biết! Chỉ còn lại bóng trăng trên trời cùng những làn mây trắng trong tiếng lá cứ bay đi xa mãi. Tình yêu ấy hát trong hư vô và trăng sao:
Bài hát năm xưa, bên anh em đã hát / Giờ đây trong lá nẻo trời nào?
Anh đi qua chỉ thấy toàn mây trắng / Mặt trăng tít trên trời. Em ở tận nơi đâu?
"Khoảng trôi trong lá" là một bài thơ tình tha thiết, ngôn ngữ đọng nhưng hình ảnh vẫn sinh sôi, được viết ra từ trong ký ức và trái tim thương nhớ của nhà thơ.

3/. TRĂNG LẶN - Nói là "thơ trăng" mà lại là một đêm không trăng. Trăng không mọc vì trăng chán trời, không biết em có chán anh như vầng trăng kia không? Ðó chính là uẩn khúc của nỗi lòng nhà thơ.
Biển vỗ vào anh - Biển vỗ vào em / Em hoá đá để sóng ghềnh ôm mãi
Năm tháng, nắng mưa... đá vẫn còn nguyên đấy! / Anh phong ba, anh nhẫn nại suốt đời.
Tình yêu hoá thành biển cả: Nàng thì thành đá, chàng hoá sóng. Tình tan vỡ nhưng sóng biển còn vỗ mãi quanh cái hòn đá ấy:
Biển hư vô cả những khi cầm bút / Xé rách lòng cho cánh thơ bay...
Cuối cùng tác giả lại trở về với hình ảnh vầng trăng, nhưng đó không phải là vầng trăng của trời mà chính là... "vầng trăng em"!
Mất một vầng trăng lại mọc một vầng trăng / Sóng khốn khổ hôn mãi hòn đá trắng
Nỗi đau của trái tim thơ tháng năm còn rền xiết mãi. Một tình thơ giàu cảm xúc được tác giả xây dựng quanh hình tượng biển và trăng.

4/. TRONG BÓNG CÂY NGỦ ÐÊM - Trái tim nhà thơ giống như một con tàu chở đầy ắp tình yêu chuyển bánh. Con tàu ấy chạy qua những cái quán cô quạnh trong tiếng gió hú, những vầng trăng chết đuối đang trôi, những làn mây lang thang ở chân trời và những thành phố đang chìm đắm trong đêm:
Trong bóng cây ngủ đêm / Có một loài hoa không ngủ / Loài hoa yêu xếp đầy cánh hoa đau
Hương đã theo anh và con tàu chuyển bánh / Ðến vô cùng mà chẳng biết đi đâu?
Tình yêu người thiếu nữ năm xưa như: Hồi chuông nơi thánh đường trắng trinh/- vuốt ve trái tim đau nhói của nhà thơ. Trái tim ấy như một loài hoa không ngủ, đó là loài hoa yêu! Nó bay theo con tàu chuyển bánh đi mãi, đi mãi tới vô cùng:
Quán cô quạnh suốt đời nghe gió hú / Trăng chết đuối rồi trắng dại đang trôi
Mây lang thang dưới chân trời bão tố / Thành phố chìm trong đêm xa xôi.
Tình yêu ấy vô vi nhưng nó vẫn như cánh chim bay xa... mang đến cho ta cả đau khổ cùng hạnh phúc, khát vọng và tan vỡ! Những hình tượng thi ca đã được chứa đầy ắp hồn của nhà thơ trong đó.

5/. LỜI HÓT CON CHIM KHÁCH -
Tác giả kể: Vào một buổi sáng anh có gặp một thiếu nữ, nói dăm ba câu chuyện xung quanh việc thơ phú văn chương... rồi người thiếu nữ ấy bỏ đi. Trái tim nhà thơ xôn xao, anh đã ra một cái quán trong thành phố gần bên một hồ nước để viết bài thơ này. Chuyện rằng: Có một loài tim vỡ giống như sự tan vỡ của những cánh hoa ti-gôn, những mảnh vỡ ấy tan tác bay đi để rồi lẫn vào trong cát bụi cuộc đời. Chỉ có một mảnh duy nhất đã hoá thành "con chim khách":
Con tim buồn không còn thuộc về anh / Những mảnh vụn lẫn vào trong cát bụi
Có một mảnh hoá thành "con chim khách" / Bay đi tìm bóng lạc giữa vu vơ...
Con-chim-khách bay đi trong cõi vô vi đó để tìm lại bóng hình người thiếu nữ kia! Tình thơ đã được kết thúc rất hậu:
Chầm chậm đừng đi người con gái của ban sơ / Anh thả xuống ốc-đảo xanh em một mối tình nguyên thuỷ
Mốt mai lỡ đau nỗi khổ đau của loài tim vỡ / "Con chim khách" vẫn về để hót ru em!
Cách kết thúc này gợi cho ta nhớ tới bốn câu thơ kết đầy nhân hậu trong bài thơ tình nổi tiếng "Một chút tên tôi đối với nàng" của thi hào Puskin:
Nhưng nếu gặp ngày buồn đau đớn / Em thầm thì hãy gọi tên lên!
Và hãy tin còn đây một kỷ niệm / Em vẫn còn trong một trái tim...
Tình cảm chớm nở trong trái tim nhà thơ chân thành và trong mát như con suối ban mai, hoang dã mà thanh khiết.

6/. TIẾNG RÚC CHIM ÐÊM - Vào một đêm mưa gió nằm trong nhà nghe thấy tiếng rúc của một con chim trong bụi cây. Cùng với những tích chuyện cổ ở dân gian, đã giúp cho tác giả liên tưởng tới câu chuyện tình của đôi chim:
Chim gọi đàn - Anh gọi tên em / Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố
Có lẽ nào em không về nữa / Ðể hồn anh hoang mạc bơ vơ...
Thế là chuyện "tình chim" trở thành chuyện "tình người"! Lòng tác giả cũng run rẩy như con chim kia và hồi ức về một mối tình cũ lại gợi về? Cái đêm đó không hiểu vì sao con chim mái không về... hay nó đã bỏ đi theo người tình khác? Con chim đực cứ gọi, gọi mãi trong vô vọng. Cùng nỗi lòng đó đứng trên thềm nhớ của không gian mênh mông, nhà thơ đã nhớ về em:
Ðã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ.../ Ðời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi
Ðó là tiếng run rẩy của con chim trống cất lên trong vòm xanh. Tiếng của nó còn vọng mãi vào năm tháng xa xôi, vô cùng vô tận kia:
Con chim đêm run rẩy bóng xanh già / Anh bổi hổi một thời qua vọng lại...
Cũng chính là tiếng lòng của nhà thơ vọng gọi người yêu!... Nỗi thơ như lời thủ thỉ của một đôi "trống mái", mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc trong tình yêu và sự sống con người.

7/. TRÚC HỒ ÐÊM - Cuộc đời: có khi người ta nhận ra sự tồn tại, hạnh phúc của mình... lại chỉ từ tiếng kêu của những con chão chuộc? Bài thơ thi vị & chứa chất tình đời này đã nẩy nở vào một đêm Trúc Hồ động. Từ mở đầu đến kết thúc bài thơ tác giả cũng chỉ lắng trong cái tiếng chão chuộc ở hồ đêm ấy:
Ðêm nghe Trúc Hồ động / Tiếng chão chuộc vọng đưa / Chợt lòng anh thổn thức / Chuyện ngày xưa ngày xưa...
Tác giả hồi tưởng lại những kỷ niệm và lòng anh trào lên tha thiết:
Tình yêu như cơn mưa / Thấm sũng đời bãi cát / Hồn thiếu nữ ngây thơ / Một chân trời tím sắc...
Ý nghĩa của tình thơ nói: niềm vui sướng, lẽ sống thường tình của con người chính là những tình cảm thân thương rất gần gũi với cuộc đời. Một bài thơ 5 chữ, tình thơ bình dị nhưng da diết máu tim và rất đáng yêu!
Thơ tình của Phạm Ngọc Thái nhiều vô kể, sâu sắc và không ít tình thơ đã đạt được tầm vóc là những thi phẩm hay! Thực ra thì còn rất nhiều các bài thơ hay và thích của anh mà tôi lại chưa thể bình được ở đây như: Người đàn bà trắng, Ðêm nay trời lại không mưa, Thời áo trắng, Em về biển, Anh vẫn ở bên hồ Tây, Trước núi Mỹ Nhân v.v. - Thơ anh chứa đầy ắp nỗi tình ở thế giới bên trong, phần lớn là thơ tự do hiện đại. Tuy vậy tác giả rất coi trọng tính nhạc và giọng điệu nên thơ đọc cuốn hút, truyền cảm và sinh động... cảm hoá được tình người. Có thể nói thế giới thơ ca Phạm Ngọc Thái như một bàu trời mênh mông sâu thẳm... được chảy ra từ trong máu tim và cuộc đời, càng đọc kỹ, đọc sâu càng thấm thía và hay!


Nguyễn Ðình Chúc
Ðô thành Thăng Long - 2012
NR: Ngõ 44, phố Hào Nam, Hà Nội.


ĐÃ ĐĂNG TRÊN RẤT NHIỀU CÁC WEBSITE TRONG NƯỚC & THẾ GIỚI

http://www.tuoitrevhn.com/?act=news&cat=84&sub=&id=eFQ4VFFUWjlhOTBhUWFhOTZUVDc=
http://www.bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=2521
http://trangvhntnguoncoi.wordpress.com/2012/05/28/the-gioi-tho-ca-pham-ngoc-thai/
http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-xuoi/2627-th-gii-th-ca-phm-ngc-thai-nguyn-inh-chuc-
http://vanthoviet.vn/news/n/499/5392/the-gioi-tho-ca-pham-ngoc-thai.html?l=vn
http://sangtao.org/2012/06/02/the-gioi-tho-ca-pham-ngoc-thai/
http://nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=6594
http://www.truclamyentu.info/tlls_trang_phamngocthai/thegioithocaphamngocthai.htm
http://www.vandanviet.net/shop_news.php?l=vn&ac=235&start=0&cn=633&sort=1&item=1&from=&to=&mode=n&cn=633&n=9680
http://trannhuong.com/news_detail/14221/Th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-th%C6%A1-ca-Ph%E1%BA%A1m-Ng%E1%BB%8Dc-Th%C3%A1i
http://vanhac.org/05/the-gioi-tho-ca-pham-ngoc-thai.html
http://hung-viet.org/blog1/2012/05/29/th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-th%C6%A1-ca-ph%E1%BA%A1m-ng%E1%BB%8Dc-thai/
http://www.danchimviet.info/archives/60363
https://sacmauthoigian.wordpress.com/2012/06/12/the-gioi-tho-ca-pham-ngoc-thai/
http://www.namuctuanbao.net/847/truyenNgan/truyenngan_12.php
http://badamxoe.blogspot.com/2012/07/gioi-tho-ca-pham-ngoc-thai.html
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.07.2012 11:49:39 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 04.07.2012 12:05:10
.
Tôi chuẩn bị cho ra mắt tập thơ "Hồ Xuân Hương tái lai" - Là một tập thơ lớn, cũng nhiều tình thơ khá kỳ của tôi!
Gồm 306 bài thơ với độ dầy 400 trang - Hiện nay đang in, khoảng cuối tháng 7/2012 này thì sẽ có sách.
Xin giới thiệu trước lời mở đầu của tập thơ như sau:



ĐÔI LỜI BỘC BẠCH

Thiết nghĩ: Đời người sinh ra trong cõi trần ai… âu cũng chỉ là bể khổ trầm luân, cái nợ đời mà ta phải trả, trả xong rồi thì chết cuốn theo đi những cát bụi cuộc đời. Nhưng liệu "thơ" có phải cũng ở trong cái nợ đời, nợ kiếp ấy không? Bởi nếu không có thơ cuộc đời tôi sẽ trở thành vô nghĩa! Bươn bả trong đống cát bụi cuộc đời ấy vì miếng cơm manh áo, thơ ca trở thành sứ mạng, là giá trị tồn tại, ý nghĩa về sự sống mà trong những năm tháng tôi đã chứng nhận ở cõi thế gian này.
Như tôi từng viết: Sáng tác thơ là một ham muốn lớn, một niềm vui thú lớn của bản thân tôi sống ở dân gian. Việc bàn cãi về thơ hiện đại ngày nay còn nhiều mâu thuẫn giữa các luồng tư tưởng khác nhau. Song dù thế nào thì thi ca cũng là một thế giới thật kì vĩ, vẻ đẹp của thế giới ấy đầy bí ẩn, giầu sắc thái và huyền diệu.
Những năm tháng sống của đời người đi lướt qua chốn dương gian, dù là để chịu đầy ải hoặc lãng du... thì cũng có chân giá trị của đời người! Gọi là kỉ vật được sinh ra làm người dâng hiến lại cho đời: “Thế giới của thơ tôi”! Đến một ngày nào đó, tôi không còn nhận biết gì nữa về cái thế giới mà mình đang sống, để có thể tiếp tục viết, tiếp tục làm thơ? Thế cũng đã là mãn nguyện lắm rồi! Coi như tôi đã hoàn thành bổn phận làm người và từ giã cuộc sống với một tấm lòng thanh thản:
Nghiệp đã làm xong chẳng còn chi vương vấn
Tình cũng tàn năm tháng kiếp phôi pha
Thì em ơi, ta nằm xuống dưới mồ
Thanh thản chết có gì đâu phải nghĩ.
Như nhà thơ Hoàng Hiền Lành trong lời giới thiệu tập thơ "Có một khoảng trời" của tôi - Nxb Hà Nội 1990, đã viết:
- ... Thái làm thơ lâu rồi. Những bài thơ từ những năm còn là một chiến binh xông pha lửa đạn thời chống Mĩ. Thái làm thơ về chiến tranh, về đời sống thường nhật nỗi đời. Đọc những bài thơ của Thái, tôi đã bắt gặp một tâm hồn đau đáu không yên về nỗi bất công mà anh không chịu được. Ở bài thơ nào tôi cũng thấy Thái hiện lên khá điển hình, những xúc động nhiều suy tưởng. Vấn đề thơ Thái đặt ra mang được cái tầm có ý khái quát cao, và nhiều câu hỏi về mỗi số phận con người? Bằng tinh thần trách nhiệm của người cầm bút...
Hay như lời của nghệ sĩ điện ảnh và sân khấu Hà Nội Trần Việt Thịnh bình luận:
- Thơ anh (tức tác giả) bao trùm nhiều đề tài, thể loại. Thể loại nào cũng đậm đà sâu sắc đến lạ kì!... Anh muốn đi đến tột cùng của thi ca. Đặc biệt mảng thơ tình anh viết khá hay và rất trội. Nó không giống Xuân Diệu hay Thế Lữ; có chăng phảng phất đâu đó của Hàn Mặc Tử; chút cay chua của Hồ Xuân Hương; tính triết lý của Chế Lan Viên hoặc âm hưởng Uýt Man (nhà thơ Mĩ).
Còn nhà phê bình lý luận văn học Bảo Ngọc thì nhận xét:
- Trong “Tuyển thơ đại bàng” của Phạm Ngọc Thái chủ yếu là loại thơ tự do, có rất nhiều bài đã đạt độ khúc triết sâu sắc và là những thi phẩm hay. Thơ hàm chứa đầy ý nghĩa trong hình ảnh câu chữ và trong hình tượng thi ca. Nó gắn liền tính chất sâu xa của thơ cổ phương Đông, kết hợp khá nhuần nhuyễn với thi pháp của các trường phái thơ hiện đại châu Âu: Từ trường phái thơ lãng mạn, tượng trưng đến siêu thực… cô đúc lại trong một thứ thơ, gọi là thơ triết học! Nó được đúc kết ra không chỉ từ lý luận thuần tuý, mà gắn liền với đời sống xã hội cùng nỗi dâu bể trầm luân cõi dân gian. Thơ anh giàu tính nhân văn, càng đọc càng thấm thía hơn nỗi lận đận, long đong nơi bờ bến con người. Nhưng trước hết vẫn phải nói: Phạm Ngọc Thái là một nhà thơ của tình yêu!...
Cám ơn tất cả các bạn dù là nhà thơ, nhà lý luận phê bình hay chỉ là người yêu thơ… đã dành cho tôi những lời ưu ái, chân tình.
Hôm nay, tôi xin trích ra hơn ba trăm bài thơ trong “Tuyển thơ đại bàng” của cuộc đời tôi cho xuất bản vào tập “Hồ Xuân Hương tái lai” này, để lại ra mắt bạn đọc…sau tập “Rung động trái tim” đã xuất bản gần đây nhất.
Lời ít tình nhiều. Hi vọng những gì cần nói, thơ sẽ nói giúp tấm lòng và trái tim tôi đến với mọi người.
Rồi một ngày mai ta sẽ chết
Trầm thơm loài hoa thảo lạ
Cỏ lên xanh và gió sẽ reo
Trong nấm mồ hương khói, có gì đâu.

Ta đã sống phần đời sau chót
Trong ngôi nhà ẩn khuất bóng nhân gian
Một cuộc sống bình thường bầu bạn
Nửa trăng hồ nửa gã hiền nhân.

Rồi một ngày mai ta sẽ chết
Như là chiếc lá vậy thôi
Gió sẽ hót trên nấm mồ truyền thuyết:
Rằng, có một thi nhân phiêu lãng đã đi rồi!...
Đôi lời bộc bạch xin được ra mắt bạn đọc tập thơ tôi!


Hà Nội, năm Nhâm Thìn 2012
Tác giả tri ân


Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 01.08.2012 23:15:17
Cám ơn bạn Châu Thạch nào đó mà mình chưa quên biết đã bình bài "Hàng cây lá đổ" của Phạm Ngọc Thái.
Thực tình, bài thơ này mình vẫn thích & cũng đánh giá nó thuộc trong số những bài thơ khá hay! Nay có một bạn đọc cảm nhận nên mình rất vui, mặc dù khi đọc bài bình mình không khỏi ngỡ ngàng? Thật đúng là "Ngôn tại ý ngoại" - Xin lưu giữ bài viết của bạn vào trong Tuyển văn xuôi này của Phạm Ngọc Thái


Cảm nghĩ của Châu Thạch về "HÀNG CÂY LÁ ĐỔ", thơ Phạm Ngọc Thái


HÀNG CÂY LÁ ĐỔ
Phạm Ngọc Thái


Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió...
Ta lang thang qua lá đổ hàng cây,
Bản tình xưa em hát ở đây
Nơi ngày nay xác các con thiên nga đã chết

Ôi, hàng cây! Cùng ta bao đêm từng tha thiết
Những nụ hôn và tấm thân bất hủ của em
Giờ ta sống trong hoang tàn sụp lở
Bên những chiếc bóng của đàn thiên nga

Thời gian phôi pha - Tóc ta hoá đá
Gió cũng làm lau ngàn năm ru rất khẽ!
Xin rụng một bông buồn
lắt lay...
PNT

CẢM NGHĨ CỦA CHÂU THẠCH

1) Những nấm mồ

Có những bài thơ nói về những nấm mồ khiến đọc thấy buồn, Cũng có những bài thơ không nói về những nấm mồ nhưng đọc thấy buồn như đang đi giữa những nấm mồ. Tôi đọc bài thơ “Hàng cây lá đổ” của Phạm Ngọc Thái và liên tưởng như có những nấm mồ trước mắt. Hãy đọc câu vào đề của bài thơ:

Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió…

Thế là hết, đánh dấu than (!), Mở đầu bài thơ đã là tiếng kêu có thể gọi là tuyệt vọng, thản thốt và nó trở thành thảm thiết ở nửa câu thơ sau: “Em đi, chôn chiều vào gió”.

Em đã đi, chôn chiều vào gió nghĩa là em đã làm cho cả buổi chiều trở thành ngôi mộ lớn, mà chất liệu vùi lấp ngôi mộ đó không phải là đất mà là gió. Vậy gió chính là ngôi mộ, buổi chỉều là thi thể chôn trong đó, và em chính là người mưu sát. Với câu thơ đầu tiên đó, hồn ta đã bị vùi theo trong một ngôi mộ rất lớn, ngôi mộ trùm lên không gian của buổi chiều và còn có thể trùm lên thời gian của mọi buổi chiều kế tiếp khi mà em chưa quay lại, Khi gió làm ngôi mộ thì ngôi mộ phải vô hình và thi thể chôn trong ngôi mộ đó là buổi chiều hiện ra trước mắt với trời mây, cây cỏ. Vậy gió là cái vô hình chôn được cái hửu hình phải chăng là nghịch lý?. Tất nhiên gió trời không thể nào chôn được buổi chiều, vì gió trời chỉ làm cho buổi chiều đẹp và mát mẻ thêm lên. Vậy chỉ có gió trong nội tâm người thi sĩ đã làm chết buổi chiều trong tâm tưởng và chôn nó trong bóng vô hình của suy tư sầu não.” Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió”. Câu thơ là một nấm mộ quá to, quá rộng, quá lớn và có thể quá lâu đưa người đọc lọt ngay trong vũng u buồn, làm cho nỗi sầu ập đến ngay tức khắc trong tâm hồn, để rồi tiếp tục rung cảm với nhiều hình ảnh trong những câu thơ kế tiếp.

Và câu thơ thứ hai của bài thơ như sau:

Ta lang thang qua lá đổ hàng cây

Buổi chiều đã được chôn trong ngôi mộ của gió, vậy thì hàng cây cũng đang nằm trong ngôi mộ đó. Người thi sĩ lang thang qua lá đổ hàng cây là đang đi trong lòng ngôi mộ lớn, và trong ngôi mộ lớn đó, “ lá đổ hàng cây” cũng là nghĩa địa của những chiếc lá xanh đã chết. Nói một cách khác người thi sĩ đang đi trong lòng ngôi mộ và lang thang qua trăm ngàn ngôi mộ nhỏ của màu xanh bị hủy diệt.
Sự chết kia không những chỉ trùm lên và nằm quanh bước đi của tác giả mà sự chết lại còn tiếp diễn ở hai câu thơ sau:

Bản tình ca xưa em hát ở đây
Nơi ngày nay xác các con thiên nga đã chết

Bản tình xưa kia em đã hát tại nơi đây nay không còn chút âm thanh nào sót lại cũng có nghĩa là nó đã chết, và không gian nơi đây đã trở thành nấm mộ chôn bản tình ca đó. Rồi thì “ Nơi ngày nay xác các con thiên nga đã chết". Xác các con thiên nga có thể là xác bằng xương bằng thịt của bầy thiên nga đã từng sông nơi đây, cũng có thể là những hình ảnh tương trưng cho cuộc tình với biết bao kỷ niệm đẹp diễn ra tại đây. Dầu thiên nga thật hay chỉ là thiên nga trong ý niệm thì câu thơ cũng bày thêm di hài của sự chết, những nấm mộ nơi đây chôn niềm vui như chôn đôi cánh thiên nga của một thời quá khứ.

2) Những bóng ma

Bốn câu thơ đầu của “ Hàng cây lá đổ” đã vẽ bức tranh đầy mộ chí: Mộ của cả buổi chiều nằm tromg gió, mộ của xác lá cây, mộ của bản tình ca và mộ của những con thiên nga đã chết. Tất cả những ngôi mộ đó đã làm lạnh tâm hồn và đưa bước người đi vào một cõi cô liêu.

Ở bốn câu thơ kế tiếp hình ảnh mộ mờ đi và hình ảnh những bóng ma xuất hiện:

Ôi, hàng cây! Cùng ta bao đêm trường tha thiết

Ôi, hàng cây! (lại dấu than). Lại một tiếng kêu đau thương thứ hai. Hàng cây bây giờ chắc chắn không còn là hàng cây xanh tươi ngảy trước, khi mà đã “ cùng ta bao đêm từng tha thiết”. Hàng cây bây giờ đã bị chôn vùi trong mộ gió, có lá thành mộ dưới chân và chiếc thân khẳng khiu trơ ra cùng mưa gió. Vậy ở mọi khía cạnh của tâm hồn thì hàng cây “cùng ta bao đêm trường tha thiết” đã chết, còn lại hàng cây ngày nay chỉ là bóng ma của thời quá khứ.

Bước qua câu thơ kế tiếp:

Những nụ hôn và tấm thân bất hủ của em

Nụ hôn và tấm thân của em cũng nằm trong quá khứ mà bây giờ là bóng ma vất vưởng hiện ra trong trí tưởng của tâm hồn giữa cảnh thiên nhiên ngày trước. Qua câu thứ ba và thứ tư của khổ hai, bóng ma đã hiển hiện rỏ hơn trong cảnh hoang tàn sụp đổ:

Giờ ta sống trong hoang tàn sụp lở
Bên những chiếc bóng của đàn thiên nga

Cho dầu cảnh sụp lở nằm trên hiện trường thực tế hay nằm trong nội tâm của tác giả, cho dầu những chiếc bóng của đàn thiên nga hiện ra giữa cảnh vật hay trong ký ức của tác giả cũng đều là hình bóng ma hiện ra giũâ khung trời đã chết. Những bóng ma của hàng cây, của nụ hôn, của tấm thân bất hủ, của bầy thiên nga đều hiện ra giữa khung cảnh hoang tàn sụp lở trong khổ hai của bài thơ đưa tâm tư người đọc lạc đến một miền đất chết. Miền đất chết đó có thể ở trong thực tế, cũng có thể ở trong tâm hồn tác giả, nhưng đều khơi động một cõi ma nào đá, với những bóng hình đầy đủ vẽ đẹp hòai niệm và vẽ hoang tưởng liêu trai hòa nhập trong nhau.

3) Và bóng người

Khổ một của bài thơ là những nấm mồ, khổ hai của bài thơ là những bóng ma và qua khổ ba của bài thơ là bóng người, là chiếc bóng đau thương của người thi sĩ:

Thời gian phôi pha- Tóc ta hóa đá

“ Thời gian phôi pha” là thời gian làm cho phai nhạt, nhưng trong câu thơ tóc ta lại không phai nhạt, không bạc màu với thời gian mà tóc ta đã trở thành “ hóa đá”. Tóc hóa đá thì không thể ngày một ngày hai mà phải trải qua nhiều niên kỷ. Đây là một câu thơ, nhưng nói về hai thứ thời gian nghịch lý: Thời gian của trái đất và thời gian tâm lý xảy ra trong lòng tác giả. Thời gian của trái đất thì mau và làm cho mọi cái phôi pha, nhưng thời gian tâm lý trong lòng thì quá lâu và làm cho tình yêu lại càng thêm bền bỉ, do đó tóc trên đầu mới hóa ra thành đá. Nói đến tóc là tượng trưng cho sự thề nguyện ( tóc thê, kết tóc xe tơ). Vậy tóc trên đầu hóa đá là thứ tóc của tình yêu bền bỉ chẳng phôi pha. Tóc trên đầu hóa đá là hình bóng của con người phong sương, dày dạn và đau khổ nhiều trong dài năm tháng đợi trông. Và câu kế riếp như sau:

Gió cũng làm lau ngàn năm ru rất khẽ!

Gió đã chôn buổi chiều, là chôn chặc tình ai trong ngôi mộ chí. Gió lại cũng làm lau thức trắng “ngàn năm ru rất khẽ”, là hành hạ cõi lòng người ở lại trong thao thức nhớ thương. Tác giả vô tình kết tội gió, nhưng gió ngòai trời chỉ là cái cớ mà gió trong lòng ai mới là tội đồ, mới là ngôi mộ, mới là hồn ma, mới là chiếc bóng người vật vờ theo năm tháng ở chốn kỷ niệm xưa. Và câu thơ chót như sau:

Xin rụng một bông buồn
Lắt lay…

Câu thơ nầy làm ta liên tưởng đến một bông lau buồn nhỏ nhoi, rụng xuống, lắt lay rồi biến mất, Tình yêu trong “Hàng cây lá đổ” là một cảnh hoang tàn sụp lở, và tác giả vẫn yêu bền bỉ lâu dài đến độ “Tóc ta hóa đá” , vậy sao cuối bài thơ tác giả chỉ “Xin rụng một bông buồn, lắt lay…”? Đó chỉ là một hình ảnh phôi pha biểu hiện của sự mong manh, dể dàng tan biến. Bông buồn ở đây phải chăng là hiện thân của tác giả, lắc lay ở đây phải chăng là rung động trong sâu thẳm cõi lòng kia. Phải, trước thời gian dài vô tận, trước không gian cao rộng vô cùng, người thi sĩ bi quan chỉ xin làm một cái bông buồn rụng xuống để lắc lay, vì cái bông buồn kia rụng xuống, lắc lay trong cõi vô biên cũng đủ cho một cuộc tình dài hạnh phúc. Tác giả sợ rằng mình không bao giờ làm được một cái bông buồn, vì vậy phải xin.

Bài thơ buồn và chưa có câu thơ kết vì lau có rất nhiều mà tác giả chỉ xin cứ rụng lần lược một bông buồn để được như lời tác giả thổ lộ thêm: “ Người con gái đã đi xa, lá vẫn ngày ngày đổ xuống dưới hàng cây ấy, để suốt cuộc đời anh đi trong những chiều gió không em” ./.
Châu Thạch
truongvantran@hotmail.com



Đăng trên link sau:
http://vannghequangtri.blogspot.com/2012/07/cam-nghi-cua-chau-thach-ve-hang-cay-la.html

http://datdung.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=6015#axzz209LNpX7P
http://chauanhdieu.blogspot.com/2012/08/chau-thach-cam-nghive-bai-tho-hang-cay.html
http://vanganh.info/cam-nghi-cua-chau-thach-ve-hang-cay-la-do-tho-pham-ngoc-thai/
http://www.vannghechunhat.net/tin-van-hoc/ly-luan-phe-binh/10836-c%E1%BA%A3m-ngh%C4%A9-c%E1%BB%A7a-ch%C3%A2u-th%E1%BA%A1ch-v%E1%BB%81-h%C3%A0ng-c%C3%A2y-l%C3%A1-%C4%91%E1%BB%95-th%C6%A1-ph%E1%BA%A1m-ng%E1%BB%8Dc-th%C3%A1i.html
http://ban1946.vnweblogs.com/post/18418/378290
http://banhthanhban.com/Default.aspx?Module=Site&Function=News&Id=405
http://nguyennguyenbay.blogspot.com/2012/08/cam-nghi-cua-chau-thach-ve-hang-cay-la.html
http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-xuoi/2917-cm-ngh-ca-chau-thch-v-qhang-cay-la-q-th-phm-ngc-thai
http://tuoitrevhn.com/?act=news&cat=84&sub=&id=WjAweDc5NjBhWjhUUTc5Njk4Wjc=












.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 29.08.2012 23:37:10 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 29.08.2012 23:15:15
Đây là văn bản tôi đã công bố trên mạng toàn cầu - Xin lưu lại bản gốc ở VNTQ:


Qua hai tập thơ "Rung động trái tim", Nxb Thanh niên 2009 &
tập "Hồ Xuân Hương tái lai", Nxb Văn hoá - Thông tin 2012 vừa xuất bản :


PHẠM NGỌC THÁI XIN MỞ CUỘC TRAO ĐỔI THƠ TOÀN CẦU
VỀ CHÂN DUNG TÁC GIẢ


Trân trọng gửi: * Ông Nguyễn Đăng Điệp - Viện trưởng Viện văn học VN
* Ông Hữu Thỉnh - Chủ tịch HNV
đồng Ban chấp hành HNVVN
* Ông Bằng Việt - Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN



Mô phép đương đại cho sự đường đột này. Các cụ ta thường nói: Đi với bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì... cũng phải bỗ bã vậy thôi!

1. NHẮC LẠI CHUYỆN VỪA QUA VỀ TẬP THƠ "RUNG ĐỘNG TRÁI TIM" VÀ HNVVN: Sau tập thơ "Rung động trái tim" (RĐTT), mà như trong hai lá "Đơn phản bác" (năm 2009) tôi đã gửi lên Ban chấp hành HNVVN về việc ông Chủ tịch HNV cùng với Vũ Quần Phương ( Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN khi đó) đã cố tình dìm lấp người xin vào Hội. Sau đó đã được đăng trên mạng internet toàn cầu. Trong văn bản của Đơn Phản Bác, tôi có tuyên bố về tập thơ RĐTT đó như sau:
"... RĐTT là một tập thơ có giá trị đối với thi ca hiện đại nói riêng cũng như của nền văn hiến ngàn năm Thăng Long nói chung. Về độ dầy cũng tương đương với số lượng bài thơ mà bà Hồ Xuân Hương để lại cho đời. Tầm vóc chưa dám nói là đã vượt lên trên chân dung thơ của bà, nhưng HXH cũng chưa dễ gì đã vượt qua nổi tập thơ RĐTT đó của tôi?
... Cơ bản nó thuộc loại thơ trường cửu, thơ tồn tại qua mọi thời đại. Số bài thơ hay hoặc khá hay cũng hơi nhiều. Càng đọc, càng đào xới lên càng sâu sắc, càng hay. Những bài thơ đó sẽ tồn tại mãi với đời, không thể phủ lấp, dập vùi được".
Dĩ nhiên thơ ca chưa dễ gì ngày một, ngày hai đã đánh giá hết ngay được. Tôi nói thí dụ: Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một trong mấy bài thơ hay nhất thế kỉ XX, thế mà phải ba bốn mươi năm sau kể từ khi nó ra đời mới được thi đàn ca ngợi để trở thành bài thơ nổi tiếng. Thậm chí cả trong Thi Nhân Việt Nam của Nhà nghiên cứu lý luận & phê bình thi ca kiệt xuất Hoài Thanh, khi trích đăng một số bài thơ tiêu biểu của HMT, Ông lại chưa phát hiện ra được, nên để sót không đăng bài thơ tình hay nhất (đó là bài Đây Thôn Vỹ Dạ) của thi nhân.
Xin nói đôi nét về thi pháp tạo nên những bài thơ hay của HMT - Đây Thôn Vỹ Dạ là một bài thơ điển hình mà HMT đã sử dụng hài hoà thi pháp của dòng thơ tượng trưng hiện đại Pháp vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, theo thuyết "tương ứng cảm quan" do Charles Baudelaire (1821-1867), là nhà thơ bậc thầy của của trường phái thơ tượng trưng châu Âu lúc đó chủ xướng. Nghĩa là, những hình ảnh, biểu tượng để tượng trưng đều dựa vào cảm thụ được phát ra từ các giác quan (gọi là cảm quan), hay từ trong tâm linh. Cho nên thỉnh thoảng vẫn xen những ngôn ngữ mơ hồ... mà ta gọi là ảo. Như Chế Lan Viên đã viết:
Anh phải đi từ bờ bên này sang bờ bên kia đấy,
Bên kia bờ hư ảo - bờ thơ.
(trích Di Cảo)
Liên hệ với những bài thơ trong tập RĐTT của tôi, thì rất nhiều những bài thơ hay, nhất là thơ tình, đã được viết hoà quyện theo thi pháp của khuynh hướng tượng trưng "tương ứng cảm quan" này. Tuỳ theo đặc tính và cảm xúc của từng bài, có khi tôi sử dụng cả gam sắc thơ siêu thực, tuy không nhiều để cho thơ đỡ khó hiểu. Cũng trong văn bản của hai lá đơn phản bác đó, tôi đã công khai lời thách đố, nguyên văn như sau:
"Nếu ai đưa ra được một dẫn chứng cụ thể trong hàng nghìn, hàng vạn các tập thơ của các nhà thơ đương đại đã được xuất bản từ 1975 đến nay, kể cả những tập thơ đã được giải nhất cuả HNV, hoặc do có điều kiện may mắn nào đó mà được nhận giải quốc tế (nhưng không được lấy đó làm căn cứ xác định) - Nếu có một tập thơ nào đạt giá trị hay và tầm vóc cao hơn tập RĐTT của tôi, thì Phạm Ngọc Thái xin biếu người đó 5 triệu! Tuy nhiên người ấy phải có bình luận, phân tích trên báo chí rằng: Tập thơ đó bao nhiêu bài thơ hay? là những bài nào? về độ viên mãn và hoàn bích cụ thể của từng bài thơ như thế nào? đó có phải là những bài thơ đạt giá trị bất hủ, thơ của mọi thời đại không?".
Lời thách ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Mấy năm qua mạng internet, tôi đã cho truyền bá thơ ca tràn ngập trên những website - blog trong nước & khắp thế giới. Có biết bao chùm thơ gây được cảm xúc tới lòng bạn đọc như: chùm thơ mưa, chùm thơ trăng, thơ mùa thu, thơ áo trắng, thơ tình viết dưới cây, thơ tình trong mây, thơ tình thời con gái, chùm thơ xa quê, v.v... Nhiều bài thơ hay hoặc khá hay nổi lên như: Người đàn bà trắng, Em ơi! Thành phố lại mưa, Đêm nay trời lại không mưa, Thời áo trắng, Cô áo trắng, Tiếng hát đời thường, Hàng cây lá đổ, Em bán xoài, Biển hát, Mái tóc con gái, Kí ức mùa thu, Anh vẫn ở bên hồ Tây, thiếu nữ đi trong chiều mây... còn nhiều những tình thơ sâu sắc khác, đã và đang khẳng định những lời của tôi là xác đáng!

2. NÓI VỀ TẬP THƠ "HỒ XUÂN HƯƠNG TÁI LAI" MỚI XUẤT BẢN: Tập Hồ Xuân Hương Tái Lai - Nxb Văn hoá Thông tin 2012 dầy 400 trang với 298 bài thơ, là một tập thơ lớn của tôi.

[image]http://diendan.vnthuquan.net/upfiles/23871/746E3CB1613C4DF69D1211FA483B1575.jpg[/image]

Về số lượng bài thì nhiều hơn gấp 6 lần tập RĐTT - Còn đánh giá tổng hợp, tôi khẳng định là một tập thơ có tầm vóc. Một thi phẩm về thể loại thơ tự do hiện đại rất phong phú. Ngót 300 bài thơ đó, chủ yếu vẫn là thơ tình. Không ít bài có giá trị bất hủ, thậm chí có bài vừa sâu sắc tính nhân tình thế thái vừa đạt phong dáng của một kỳ thơ. Hoang dã, thậm chí lập dị mà vẫn rất đời. Cái gì của "độc" mà hay, cái đó sẽ tồn tại! Thi phẩm cũng thuộc loại thơ trường cửu và có đầy đủ khả năng đứng lâu dài trong nền văn học nước nhà.
Hôm nay tất cả đã phơi bầy ra trên văn đàn trong nước cũng như thế giới. Năm tháng... tất yếu chân giá trị thi ca đích thực sẽ được xác định!? Không gì còn có thể che lấp được và cũng không gì có thể bóp méo được nó nữa.

3. VỚI CÔNG LUẬN: Tôi xin mở một cuộc trao đổi thơ toàn cầu qua mạng internet và báo chí, về chân dung tác giả.
Qua hai tập thơ "Rung động trái tim" & "Hồ Xuân Hương tái lai" tổng hợp với số lượng ngót 400 bài thơ, thực sự đã là cả một tuyển thơ dầy dặn, đó chính là Tuyển Thơ Đại Bàng của Phạm Ngọc Thái - Tôi khẳng định chân dung thi nhân qua hai tập thơ đó là... chân dung có tầm vóc cao trong nền thi ca Việt Nam hiện đại này.
Xin mời những tay bình luận thi ca cự phách trong giới văn học Việt Nam đương đại như:
- Trần đăng Khoa, Nhà viết chân dung & đối thoại.
- Trần Mạnh Hảo, "con dao băm" trong giới báo chí và văn chương đương đại, không còn biết sợ ai là gì? kiêm nhà bình luận "thơ & phản thơ".
(nhân đây xin có lời với anh Trần Mạnh Hảo: đã lâu ngày không gặp, nếu anh sảng khoái xin gửi cho tôi biết địa chỉ - PNT sẽ gửi tặng anh cả hai tập thơ đó, để anh có đủ tư liệu bình luận hoặc phang những đòn búa bổ, PNT sẵn sàng nghênh đón - Mời anh!).
- Xin mời nhà thơ Vũ Quần Phương, cũng là một tay bình thơ có tên tuổi của HNVVN hiện nay.
- Mời anh Đỗ Minh Tuần, một tên tuổi bình luận văn học nói chung và thi ca nói riêng... vào loại sắc sảo của văn đàn đương thời.
Cùng tất cả các Nhà lý luận phê bình của Viện văn học hay HNVVN khác.
Cuộc Hội thảo ấy không hạn định thời gian năm tháng. Mọi người có thể tham gia bình xét trên cơ sở hai tập thơ đó của tôi qua tất cả các phương tiện truyền thông trong nước và thế giới, như báo chí hoặc các website - blog... dù cá nhân hay của một tổ chức đoàn thể, cứ để cho nó trôi nổi, thế nào rồi chân lý cũng sẽ được xác định và sáng tỏ.
KẾT LUẬN: Tại sao tôi lại không sợ? Nhất là thi ca có thể nói ngược và cũng có thể nói xuôi, có người có thiện chí nhưng chắc chắn cũng sẽ không ít vị sẽ tìm cách báng bổ.
Xin thưa, như em đã nói: Thơ Phạm Ngọc Thái là loại thơ tồn tại, thơ trường cửu... dù nó có bị chôn vùi xuống ba thước đất rồi cũng sẽ vọt bay lên mà toả sáng đến mai sau.

4. MỘT NGUYÊN TẮC TRƯỚC HẾT TRONG VIỆC THẨM ĐỊNH THƠ - Muốn thẩm định cho xác đáng một tác phẩm thơ, nhất đó lại là một bài thơ hay của thi đàn, nguyên tắc trước hết phải có nhận định: Bài thơ đó có khả năng tồn tại hay không? Cũng như muốn xác định tầm vóc chân dung của một thi nhân, trước hết phải xác định thi phẩm của anh ta có tồn tại hay không?
Nếu thơ mà đã không thể tồn tại lâu dài được, thì dù đó là loại thơ gì, cũng xin miễn bàn - Bởi vì thơ không tồn tại, suy cho cùng nó cũng chỉ là loại thơ ra rác, trước sau cũng...vứt đi! Nói cho có chút động viên nhau để các nhà thơ đỡ xót xa là, những thứ thơ không tồn tại ấy chỉ mục đích cổ động phong trào hoặc làm công tác văn hoá nhất thời, rồi thì nó sẽ chết. Hay như cách nói của Gớt, tầng tầng bụi phủ...
Vậy thì bàn luận hoặc hội thảo làm gì? vừa vô lý mà lại mất công. Một bài thơ hoặc tác phẩm thi ca dù thể loại nào, trường phái nào, cách tân đến mấy mà không có khả năng tồn tại trường cửu với tháng năm thì cũng đều sổ toẹt. Không thể coi thi phẩm ấy là một giá trị nào đó đối với nền văn học được.

a/. Thí dụ về nhà thơ Hữu Thỉnh: Cơ bản đa phần thơ Hữu Thỉnh là loại thơ không tồn tại, kể cả trường ca. Có chăng chỉ mấy bài kha khá đứng được, nhưng chưa có thể gọi là vững với thời gian. Xin phân tích ít dòng khái quát về mấy bài thơ đạt giá trị hay nhất của ông.
"Thơ viết ở biển" là bài thơ hay nhất, thuộc đỉnh cao nhất của đời thi ca Hữu Thỉnh. Tuy nhiên bài thơ đó cũng mới chỉ thuộc vào loại khá, chứ chưa được là một bài thơ hay toàn bích như: Đây Thôn Vỹ Dạ, Bẽn Lẽn hay Mùa Xuân Chín của Hàn Mặc Tử; Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan; Hai Sắc Hoa Ti Gôn của TTKH; Tiếng Thu Lưu Trọng Lư; Thu Điếu của Nguyễn Khuyến...

Xin phân tích đôi nét về bài "Thơ viết ở biển"". Trước hết nói về hình ảnh hai câu thơ hay nhất bài:
Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn
Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
Người ta nói "nước chảy đá mòn" chứ không ai nói "gió thổi núi mòn". Có thể do cảm xúc thơ ở đây nếu dùng hình ảnh "nước", thơ không thuận nên tác giả sử dụng hình ảnh "gió"?... Mặc dù vậy, bởi hình ảnh thơ chưa thật sát nghĩa cho nên phần nào vẫn bị giảm độ hay. Còn đối với câu thơ dưới: ví "em" là "chiều" đã nhuộm tím cả anh, nghe chừng hình tượng ví von này vẫn còn gượng gạo? Tại sao em lại là "chiều" - "chiều" có ý nghĩa gì đối với người phụ nữ? Sự liên kết hình ảnh thơ với đời sống chưa sâu sắc, cũng chưa ổn! Tuy nhiên, hai câu đó đọc lên người ta vẫn hiểu, tạm chấp nhận nhưng chưa thật hay và chưa cao.
Mấy câu thơ đầu thì hay:
Anh xa em / Trăng cũng lẻ / Mặt trời cũng lẻ
Nhưng đến hai câu sau:
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn
Nếu chỉ thuần tuý tả về biển để nói về nỗi cô đơn, thì hai câu thơ này hay! Bởi vì, biển mênh mông như thế mà chỉ thiếu một cánh buồm bé nhỏ đã trở nên quạnh vắng, hiu hắt, có thể khen là viết giỏi! Nhưng "biển" và "cánh buồm" trong bài thơ Hữu Thỉnh còn để làm biểu tượng về người con trai và người con gái - Trong văn học người ta thường ví "em là biển cả mênh mông", "tình em biển cả", hay trên biển cả tình em... anh như cánh buồm gặp gió bay ra xa khơi, v. v... Ít khi người ta dùng hình ảnh biển để biểu tượng cho người con trai như trong bài thơ HT. Mà khi hình ảnh "biển dài rộng" đã là "anh" - thì hiển nhiên "cánh buồm" phải là em! Nghĩa là, Hữu Thỉnh ví "anh như biển" còn em..."như cánh buồm". Sự ví von lộn ngược thơ như thế có phần bị gượng ép và khập khiễng, nên hai câu thơ đó tuy chưa hẳn đã hỏng nhưng cũng không thể gọi là hay.
Để cho rõ, xin liên hệ với "Thuyền và biển" là một bài thơ tình hay của Xuân Quỳnh. Trong bài thơ của Xuân Quỳnh, "thuyền" là biểu tượng chỉ về người con trai, còn "biển" là người con gái. Nữ thi sĩ đã viết:
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la...
Hay là:
Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Biển và thuyền nó cứ quấn quít với nhau như đôi trai gái. Để nói về tính cách của tình yêu, khi thì say đắm... lúc lại giận hờn - Xuân Quỳnh đã diễn tả:
Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
Rồi nhà thơ giải thích:
Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?
Hình ảnh thơ đã chứa đựng rất sâu sắc nội tâm bên trong, nó khái quát cả tình cảm, tâm hồn, lý trí và khát vọng:
Chỉ có thuyền mới hiểu / Biển mênh mông nhường nào / Chỉ có biển mới biết / Thuyền đi đâu, về đâu...
Nghĩa là, với hình ảnh thuyền và biển trong suốt bài thơ, Xuân Quỳnh đã diễn đạt mọi chiều của tình yêu đôi trai gái một cách rất lô-gích. Yêu đã thế, nhưng ngay khi nói về sự xa cách hoặc có thể tan vỡ? Hình ảnh thuyền-biển của Xuân Quỳnh cũng được diễn đạt một cách thấm thía:
Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu thương nhớ/ Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền đau - rạn vỡ...
Hình ảnh "sóng biển bạc đầu" lại trở thành sự "bạc đầu vì thương nhớ" của người con gái, hay sự rạn vỡ của con thuyền trong cái biển cả tình yêu... lại chính là để nói về sự quặn đau của trái tim người con trai khi phải xa cô gái yêu của mình - Đấy, thơ của Xuân Quỳnh viết tuyệt đến thế! Chính vì vậy "Thuyền và biển" mới đạt được là một bài thơ hay của thi đàn, để lưu vào nền văn học và lịch sử thi ca.

Giờ ta suy xét về đoạn thơ kết của cả hai bài - Trong "Thơ viết ở biển" Hữu Thỉnh kết:
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến / Vì sóng đã làm anh / Nghiêng ngả / Vì em...
Cảm xúc viết thơ đến đây của HT bị bí, thơ hơi quẩn. Vì là một bài thơ viết ở biển nên tác giả mới lấy hình tượng sóng để gắn vào đó một cái nỗi tình? nhưng hình ảnh:
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến...
Như phân tích ở đoạn trên, "biển" tác giả đã sử dụng làm biểu tượng về người con trai, mà sóng cũng chính là biển, tức là "anh" rồi - thành ra nghĩa ở câu này sẽ là: Anh đã làm anh nghiêng ngả vì em???... HT hay mắc một thứ bệnh tư duy trong thơ nhiều khi suy xét không kỹ, sử dụng tuỳ tiện, thấy nó cứ có vẻ đẹp là dùng. Hơn nữa hình tượng "... đã làm anh nghiêng ngả vì em": Nỗi thơ chưa được đẩy tới tột cùng, cho nên chưa viên mãn, bài thơ kết bị đuối.

Ta hãy xét đến đoạn thơ kết trong bài "Thuyền và biển" của Xuân Quỳnh - Vẫn là hình tượng "thuyền", "biển" để làm biểu tượng về người con trai và cô gái, nhưng ý tình thơ đã được đẩy lên tới tột cùng:
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố...
Nghĩa là, nếu phải chia ly thì cả đôi trai gái trái tim đều đau đớn và cuộc đời sẽ tan vỡ!
Đánh giá về độ hay cũng như tầm vóc thi ca, có thể nói: "Thơ viết ở biển" của Hữu Thỉnh kém "Thuyền và biển" của Xuân Quỳnh gần một tầm.
Sở dĩ tôi phân tích hơi kỹ một tý, vì đó là bài thơ hay nhất của đời thơ Hữu Thỉnh.
Nhưng đồng thời cũng là để nhấn mạnh về chủ đề thơ "Tồn tại và không tồn tại"? hay là "Tồn tại đến đâu"?

* Xin nói đôi nét về "Sang thu" - Tuy chưa bằng "Thơ viết ở biển", song Sang Thu cũng là một trong đôi ba bài thơ xuất sắc của Hữu Thỉnh. Đó là một bài thơ mà tác giả tả về cảnh một buổi vào thu ở làng quê, hình như đó là vào lúc trời gần tối sau một cơn mưa, mặc dù:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Nhưng:
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Tác giả cũng chỉ mới dừng lại ở dạng của một bài thơ miêu tả thuần tuý cảnh vật thiên nhiên, dù sự miêu tả đó là khéo và có hương sắc. Nào là:
Bỗng nhận ra hương ổi / Phả vào trong gió se
Rồi:
Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ / Vắt nửa mình sang thu
Cả đến khi kết, bài thơ vẫn chỉ lẩn quẩn ở những câu tả cảnh đó:
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Tức là tác giả mới cảm xúc về một khung cảnh thiên nhiên cùng với những sự vật xung quanh mà miêu tả nó ra mà thôi. Tuy sự miêu tả có gợi cảm nhưng cảm xúc thơ vẫn còn nông ở bên ngoài, tư duy trong chưa sâu. Đọc Sang Thu muốn cảm nhận ra một nỗi đời hay một ý tình trắc ẩn nào đó của nhà thơ hoặc của nhân gian, là không có? Bài thơ không đủ sự viên mãn cần thiết để được coi là một bài thơ hay! Lại xin đưa ra vài dẫn chứng cụ thể để minh chứng về một bài thơ hay trong thi đàn.

* Thí dụ "Qua đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan: Một bài thơ thất ngôn bát cú. Sau 4 câu đầu mô tả cảnh vật xung quanh: nào là cỏ cây hoa lá thì mọc chen trong khe đá, mấy chú tiều dưới núi, thưa thớt vài quán chợ bên sông. Nhưng chỉ bằng hai câu ở giữa bài, cũng vẫn là mượn cảnh vật để mô tả, nhưng đã ôm bọc cả nỗi tình về nước, về nhà... của lòng bà gửi trong đó:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Để rồi cuối cùng tác giả lại trở về với cõi lòng đang da diết giữa chốn đèo Ngang hoang vu:
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Ý tình trong thơ đã bộc lộ tâm can, cõi lòng sâu xa nhất của người đi xa. Giọng điệu hình ảnh thơ sống động, điển hình đến mức hoàn bích, cho nên nó mới sống mãi với thời gian và nền văn học của nước nhà.

Lại quay trở về với "sang thu" của Hữu Thỉnh - Tuy tả cảnh có đẹp nhưng nghĩa thơ thì còn quá ít, nó chỉ như một bóng mây có vân sắc bay ngang qua bầu trời thơ mà thôi.
Tuy vậy thi phẩm vẫn được coi là bài thơ miêu tả khá, đứng được... nhưng chưa đủ sự sâu sắc để tạo thành một đài thơ hay như các bài thơ đã kể trên.

* Tôi xin dẫn chứng bài "Mùa xuân chín" của Hàn Mặc Tử - cũng chỉ là một bài thơ tả cảnh mùa xuân:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan / Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng / Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.
Nhưng tình thơ được phát triển đầy ắp nỗi lòng, tình làng xóm quê hương của người thi sĩ. Cái cảnh mà thi nhân vẽ lên trong buổi sáng mùa xuân ấy hết sức đời và sống động:
Bao cô thôn nữ hát trên đồi / Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
Hay là khi tả về tiếng hát:
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi / Hổn hển như lời của nước mây...
Không phải chỉ là nước mây hổn hển, mà chính là lòng thi nhân hổn hển... vì xúc động đó! Tất cả dội vào sự thiết tha của người thi sĩ:
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc / Xem ra ý vị và thơ ngây...
Để rồi đến khi kết thúc thơ, lòng thi nhân trào lên da diết một nỗi nhớ thương về làng quê và những người thân? Vì lúc này thi nhân đang phải điều trị bệnh tại Gành Ráng, Qui Nhơn... một nơi biệt lập xa cách với sự sống con người. Cảm xúc ấy được thăng hoa và đẩy đến tột cùng:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
"Chị ấy" là hình ảnh người chị ruột mà trong cuộc sống thường ngày vẫn chăm sóc thi nhân hiện lên bên bờ con sông mộng. Hình ảnh nắng chang chang chẳng những chỉ hiện lên khung cảnh của làng quê chói chang trong ý tưởng thi nhân, mà nó còn đẩy tình thơ đi đến sự viên mãn tột cùng. Một bài thơ tả cảnh mùa xuân nhưng nó chứa chất, ôm bọc một nỗi tình đời sâu sắc như thế mới được gọi là thơ hay!
Chứ như những câu kết trong "Sang thu" của Hữu Thỉnh:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Vẫn chỉ là những câu thơ tả cảnh thuần tuý, hơi hơi cảm... chứ đã có nỗi tình đâu mà viên mãn để được gọi là thơ hay? Chẳng qua nó được lấy vào sách giáo khoa cho trẻ con học, rồi thi cử... mà có tiếng, trong văn đàn bài thơ này cũng chỉ bình bình...

* Lại ví dụ như "Thu Điếu" của Nguyễn Khuyến - Viết về một đêm thu ngồi thuyền câu cá. Cảnh tình thì hiu hắt, với nỗi cô đơn của người ẩn sĩ... khi ông chán nơi quan trường từ quan về nương náu chốn thôn hương:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo...
Nhất là trong hai câu kết:
Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Ta thấy chẳng những hình ảnh thơ chứa cả cuộc sống bên trong rất sống động, thơ như có thần và cuộc đời... một tâm trạng khắc khoải chênh vênh trong cái đêm thu ấy. Sâu sắc vậy nên Thu Điếu mới trở thành bài thơ hay!

* "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" của Hữu Thỉnh - Một bài thơ viết theo kiểu anh hùng ca của một thời, không đủ giá trị để đạt tới là thơ trường cửu đối với nền văn học. Nghệ thuật ngôn ngữ thi ca bình thường, Giọng điệu viết từa tựa như kiểu đồng ca, hò vè... chưa có gì thật đặc sắc. Qua thời gian thì nó cũng sẽ nằm yên trong đống bụi phủ mà thôi.

* Ở đây tôi không muốn nhắc đến bài thơ "Hỏi" của Hữu Thỉnh - Mà một dạo bài thơ đó cũng đã từng được dư luận tán dương?
Bởi, theo bài viết của tác giả Đại Lãng Du Tử đăng trên vietnamnet.vn rằng: Bài Hỏi của nhà thơ Hữu Thỉnh đã đạo từ bài "Thượng đế đã làm ra mặt trời" của nữ thi sĩ người Đức Christa Reining (sinh 1926), qua bản dịch ra tiếng Việt. Sau đó cả Trần Mạnh Hảo cùng Nguyễn Trong Tạo đã viết bài tố giác trên một số trang internet.
Xin trích lời nhà thơ & bình luận Trần Mạnh Hảo đã được đăng tại website vnthuquan.net vào ngày 21/5/2007, như sau:
"... Qua bằng chứng nêu lên thì chính xác đến không thể chối cãi, bài thơ Hỏi không phải của nhà thơ Hữu Thỉnh mà chính của nữ nhà thơ Christa Reining năm nay đã 80 tuổi, đã từng được giới thiệu trên báo Văn học Nước ngoài từ năm 2002. Bài thơ này đã được nữ thi sĩ Đức viết từ trước năm 1963, năm ông Hữu Thỉnh 19 tuổi chưa từng xuất hiện trên thi đàn? Chuyện động trời này chúng tôi không dám tin là sự thật. Một người mũ cao áo dài, thương hiệu không phải chỉ là của nền văn học Việt Nam, mà còn là thương hiệu của chế độ như ông Chủ tịch HNVVN Hữu Thỉnh, lẽ nào lại đi ăn cắp thơ của người khác làm thơ mình?...".
Còn nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thì viết:
" ... Việc cóp nhặt thơ, ăn cắp thơ, đạo thơ... những tưởng chỉ có những người mới tập làm thơ, hay những kẻ hám danh "trẻ người non dạ" mới phạm tội. Vậy mà câu chuyện đạo thơ ấy nó lại rơi đúng vào ông Chủ tịch Hội nhà văn - người đã từng đoạt một bồ giải thưởng về thơ của Hội nhà văn. Liệu người ta có tin được những giải thưởng ấy nữa hay không? Biết nó là giải thật hay giải dổm?...".
Một bài thơ đã đaọ của người khác... thì bàn làm gì cho rợm cả trang viết ?

Như thế là tôi đã nói hết những bài thơ đứng đầu trong những tác phẩm thơ ngắn của Hữu Thỉnh. Ngoài ra ông có viết đôi trường ca. Trường ca đáng nói hơn là "Trường ca biển" mà cùng với tập "Thương lượng với thời gian", ông đã mang ra để chiếm lấy cái giải quốc gia lớn nhất vừa qua. Tôi cam đoan rằng, tất cả trường ca của Hữu Thỉnh không tồn tại được với thời gian. Ngay cả Trường Ca Biển cũng chỉ là một tác phẩm viết kiểu ngợi ca chủ nghĩa, cấu tứ còn làm nhàm , kiểu viết rất ào... tầm vóc trung bình, lời nhiều nghĩa ít, lan man... Một trường ca có giá trị thường thôi và không có khả năng lưu được trong nền văn học nước nhà. Vì là thơ của ông Chủ tịch HNV nên cố đọc để biết, chứ nếu trường ca đó của một nhà thơ bình thường, chắc chỉ xem nổi một, đôi chương.. rồi cũng sẽ bỏ đi.
Theo nhận biết của tôi: mai sau hầu hết thơ Hữu Thỉnh, kể cả những tập thơ được giải thưởng HNV hay quốc tế... sẽ theo Hữu Thỉnh xuống mồ, may ra có vài ba tình thơ gì đó đứng lại được trong những năm tháng gần.
Nếu đã không có nổi một tập thơ nào tồn tại đối với nền văn học, thì khi đó không biết nên xếp chân dung Hữu Thỉnh thuộc loại nhà thơ nào đây?
Tôi vẫn đang nhấn mạnh về chủ đề thơ "Tồn tại và không tồn tại"? hay là "Tồn tại đến đâu"?

b/. Nói thêm về một nhân vật đang có tên tuổi của HNVVN đương thời, nhà thơ & bình thơ Vũ Quần Phương - Cũng như Hữu Thỉnh, cơ bản thơ Vũ Quần Phương không có khả năng tồn tại, tôi vẫn thường gọi: đó là những thứ thơ ra rác, hoặc gần 100% như thế. Một người có khả năng cảm nhận được thơ hay, đi tìm trong hàng trăm các bài thơ của Vũ Quần Phương, cũng khó mà tìm nổi một bài thơ thực sự hay của thi đàn để mà bình. Quanh đi quẩn lại vẫn chỉ một tý... "Đợi"!
Bài thơ Đợi chính là đỉnh cao độc nhất chênh vênh của đời thi ca của Vũ Quần Phương. Tôi xin viết lại toàn bộ bài thơ đó:
Anh đứng trên cầu đợi em / Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm / Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy / Nước chảy bên lòng, anh đợi em.
Anh đứng trên cầu nắng hạ / Nắng soi bên ấy lại bên này / Đợi em. Em đến? Em không đến? / Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây!
Anh đứng trên cầu đợi em / Đứng một ngày đất lạ thành quen / Đứng một đời em quen thành lạ / Nước chảy... Kìa em, anh đợi em!
Cái hay của bài thơ này là những hình ảnh như: nước chảy, trên cầu đứng đợi, nắng hạ soi rồi nắng tắt anh còn đứng... đều trở thành biểu tượng "chờ đợi của tình yêu"! "Cái nước chảy" suốt ngày đêm ấy để nói về thời gian, "nắng" biểu tượng ở không gian, nhất lại là nắng hạ, nó nói về sự chờ đợi tha thiết, mỏi mòn mà em không thấy tới, rồi tác giả đúc vào trong đoạn thơ kết là hình ảnh của những câu hay nhất bài:
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em quen thành lạ
Nước chảy... Kìa em, anh đợi em!
Tuy thế bài thơ mới nêu lên được khái niệm về cái sự chờ đợi, chứ nó chưa có nội tâm đời sống, thậm chí chưa có cả tình cảm, tâm lý của sự chờ đợi. Ngay cả với "nhân vật chờ đợi" là nhà thơ ở đây, cũng mới chỉ là một ý tưởng còn cứng nhắc, chưa phải là người bằng da, bằng thịt của VQP. Hay nói một cách hình ảnh, hình tượng bài thơ như một người hàng mẫu bầy trong tủ kính, chứ chưa có sự rung cảm trái tim của một con người đang sống. Bởi vậy bài thơ chưa đạt độ xung mãn để trở thành một bài thơ hay thực sự của thi đàn, như những bài thơ của các thi nhân mà tôi đã dẫn chứng ở trên.
Tuy nhiên "Đợi" đã có dáng của một đài thơ, nhưng đài chưa cao. Mới lại... Vũ Quần Phương cũng chỉ có một độc chiêu như thế, dăm ba bài khác như: Trước biển, Áo đỏ, Thuyền Trương Chi đang trôi, Nói với em, hay Vầng trăng trong chiếc xe bò... chỉ nhâm nhi được tí này, tí nọ, rồi cũng sẽ vào cát bụi cả thôi! Đúng như lời tự hoạ trong một bài thơ ông đã viết:
Anh còn gì cho em...
Dăm câu thơ nhoà nhạt
Sẽ còn đúng hơn nếu ông viết:
Anh còn gì cho em?
Đời thơ anh cát bụi...
Và cũng như cái tên đề mà ông đã đặt cho một tập thơ của mình: "Giấy mênh mông trắng" - Đúng như vậy, dù VQP có viết nhiều, sáng tác nhiều thơ hơn thế nữa, thì chân dung thơ của ông vẫn chỉ là "giấy mênh mông trắng"...
Bởi thơ ông không có khả năng tồn tại với thời gian, để lưu lại cho nền văn học nước nhà! Như vậy, đời thơ Vũ Quần Phương gần như con số "O" tròn trĩnh rồi!... may ra ông có thể lưu lại chút gì đó trong văn đàn, là mảng bình thơ chăng? Mặc dù những bài bình của Vũ Quần Phương cũng chưa thật sự được thuyết phục lắm. Khả năng thẩm định thơ của ông vẫn còn hạn chế, nhất là đối với thơ hiện đại. Tôi xin lấy thí dụ về một bài thơ mà VQP đã bình - Đó là bài "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử".
Khi bình đến đoạn thơ thứ hai của bài:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.
Nhà bình thơ VQP nhận xét:
" Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một... thoáng nhìn bài thơ có vẻ đầu Ngô mình Sở "...
Hay là: "Những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hoá ra lại vẫn có chỗ liền nhau..." - Rồi nhà bình thơ cho rằng:
" chỗ liền nhau ấy trong thơ HMT chỉ là nhờ vào tâm trạng xúc cảm " - Cảm nhận thơ như thế chưa đúng, tức là chưa hiểu hết về thơ HMT?
HMT là một thi nhân viết thơ theo tư duy của nội tâm. Xúc cảm chỉ làm đà cho mạch thơ, hơi thơ tuôn chảy, còn ý tứ thường được diễn tả khá mạch lạc, rõ ràng. Mượn cảnh làm biểu tượng mà diễn đạt nỗi tình thơ...
Đây Thôn Vỹ Dạ là bài thơ mà thi nhân viết về tình yêu đơn phương của ông đối với nàng Hoàng Cúc. Huống chi giờ đây do bị bệnh tật hiểm nghèo, thi nhân phải đi điều trị ở Gành Ráng, một nơi cách biệt với cuộc sống con người. Mối tình ấy càng trở nên xa cách:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Cũng có nghĩa: Anh theo đường anh, em đường em / Duyên phận đôi ta có thế thôi... /- Cái hình ảnh dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay phật phờ bên sông kia, nó cũng để chỉ một tâm trạng buồn tẻ, cô đơn của thi nhân. Còn về hình ảnh con thuyền ở trên bến sông trăng, dù là cảnh mơ, ảo... trong sự hoài tưởng về chốn cũ, người xưa... thì cũng là cảm xúc đã được thăng hoa. Vậy thì toàn bộ bài thơ hoàn toàn từ đoạn một tới đoạn ba, ý tình vẫn được nối với nhau, liên kết rất chặt chẽ - Đoạn thơ hai chính hình ảnh nói về duyên phận của hai người, là sự liên kết ở thế giới bên trong thơ, chứ không phải "đầu Ngô mình Sở" như VQP nhận xét. Hình tượng về gió và mây, đến dòng nước và bông hoa bắp lay...của hai câu thơ này sâu sắc, cũng hay không kém gì những câu thơ kiệt xuất trong bài thơ "Bẽn lẽn" nổi tiếng của Ông:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi...

Tôi lại xin liên hệ với bài "Qua đèo Ngang" của BHTQ - Bốn câu đầu của bài thơ, Bà Huyện chỉ tả về quang cảnh của đèo Ngang như đã nói trên - Nhưng đến hai câu 5-6:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia...
Thì hình ảnh con chim cuốc và cái gia gia... là để nói về cái nỗi nước, tình nhà của bà. Bởi theo truyền kể, Bà Huyện không phải chỉ là người đàn bà đảm đang việc gia đình, chăm lo đến chồng con, mà Bà vẫn thường giúp Ông Huyện xử nhiều vụ kiện chốn công đường, rất quan tâm tới việc nước - Nhưng đến hai câu sau thì tứ thơ lại quay trở về thực tại ngay:
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cũng rất giống với trình tự lập tứ như trong bài Đây Thôn Vỹ Dạ - Đoạn thơ cuối HMT trở lại với thực tại... tự thán về mình:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Vậy cứ theo như cách biện luận của VQP thì bài thơ Qua Đèo Ngang này cũng đầu Ngô mình Sở à? Mặc dù bài thơ của BHTQ theo dòng thơ cổ phương Đông, còn bài thơ của HMT là thơ hiện đại, ảnh hưởng sâu sắc trường phái thơ tượng trưng của châu Âu.
Tôi đã xem khá nhiều những bài bình thơ hiện đại của Vũ Quần Phương, Ông hay sử dụng các tiểu xảo về ngôn từ, cách cú... có tính chất bày vẽ phô diễn, nhưng lời bình phẩm lại chưa thấu tình, đạt ý, nên những tiểu luận phê bình thi ca của ông tồn tại được với nền văn học mai sau chắc cũng không nhiều.
Tôi vẫn đang nói về ý nghĩa cũng rất quyết định đối với một bài thơ, hay một tác phẩm văn học nói chung là "Tồn tại hay không tồn tại"? và "Tồn tại đến đâu"?

5. VỚI ÔNG VIỆN TRƯỞNG VIỆN VĂN HỌC VIỆT NAM - Thật sự tôi không muốn dùng những lời bỗ bã như nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã phê phán ông cùng với tất cả các người trong cái Viện hiện nay của ông rằng:
" Chưa ở đâu như cơ quan ông (tức là Viện văn học) lại có nhiều người mang học vị tiến sĩ và hàm giáo sư văn học như thế mà lại dốt..."
(Trích thư ngỏ của TMH gửi ông Viện trưởng)
Nhưng Trần Mạnh Hảo thì chê bai vì các ông ông... "dốt tiếng Việt" - Còn tôi, tôi lại cho rằng:
- Chưa đâu có một tổ chức nào nhiều PGS - TS nghiên cứu văn học như ở Viện văn học, mà lại nhận thức về tác phẩm văn học, nhất là khả năng hiểu biết thơ ca hiện đại còn non đến như thế! Ngay với chính ông, tôi cũng thấy trình độ thẩm định tác phẩm thơ hiện đại của ông Viện trưởng vẫn còn mông muội, nặng về tuyên truyền chủ trương đường lối lắm!...
Xin liên hệ với một mẫu mực ở trong văn đàn - Nói theo cách nói của Bằng Việt, tôi ngả mũ chào và kính nể Nhà phê bình, lý luận thơ ca Hoài Thanh, khi Người có nhận xét đánh giá về thi nhân Vũ Hoàng Chương rằng:
" Vũ Hoàng Chương có cái dụng ý muốn say để làm thơ. Cái dụng ý ấy không khỏi có hại. Nhưng một lần kia, bước chân vào tiệm nhảy, người bỏ quên dụng ý làm thơ ở ngoài cửa, và lần ấy người đã làm một bài thơ tuyệt hay ...".
(Trích Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh)
Bài thơ tuyệt hay ấy chính là "Say đi em":
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt,
Rượu, rượu nữa,và quên, quên hết!
...
Lui đôi vai, tiến đôi chân,
Riết đôi tay, ngả đôi thân,
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió,
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa,
Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng,
Chưa cuối xứ Mê ly, chưa cùng trời Phóng đãng,
Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men...
Nhân bảo như thần bảo - Người (tức Hoài Thanh) đã nói đúng! "Say đi em" là một tuyệt tác, đỉnh cao nhất trong thơ của thi nhân Vũ Hoàng Chương. Ý tình đều viên mãn. Nghệ thuật ngôn ngữ, làn điệu thi ca có thể nói trình độ đẳng cấp cao.
Thưa ông Viện trưởng! Chính vì có được tầm hiểu biết thơ ca sâu xa, uyên bác như thế, cùng với đức độ nhân văn đáng ngưỡng vọng... và với tấm lòng thành kính trước ngôi đền kỳ vĩ của thi ca , nên nhà văn Hoài Thanh đã để lại được cho nền văn học một tác phẩm "Thi nhân Việt Nam" bất hủ, còn lưu truyền đến ngàn thu.
Tôi chỉ xin trích một tẹo thôi... may ra đầu óc ông viện trưởng cùng các tiến sĩ văn học ở Viện có hé sáng thêm được tí nào chăng? Các ông không phải chỉ là cần đọc nhiều, mà phải đọc và nhận thức một cách ... có trí tuệ & tính nhân văn cao! Thơ ca chỉ có dân gian, quê hương, chỉ có bầu trời cao đẹp của những hình tượng ngôn ngữ, nghệ thuật, kể cả là nghệ thuật vị nhân sinh hay nghệ thuật vị nghệ thuật...( Đó cũng chỉ là một cách nói, chứ một khi "nghệ thuật vị nghệ thuật" tức là cũng vị nhân sinh rồi)! Thơ cứ thích, hay và sâu sắc là phục vụ cho cuộc sống và linh hồn con người!
Tôi cũng đã từng có những năm tháng đánh giá rất cao Viện văn học. Có giai đoạn, ngay cả khi chép những bài thơ hay trong những tờ rơi để truyền bá thơ ca tôi cũng vào tặng các tiến sĩ cũng như GS hoặc PSG ở viện. Hay khi xuất bản tập thơ Rung Động Trái Tim trang trọng của mình, tôi cũng đem vào biếu đủ mặt, nào viện trưởng, viện phó đến các phòng ban của viện - Bởi dạo đó tôi vẫn cứ ngây thơ ngộ tưởng? Nhưng sự thật mới ngã ngửa người ra vì thất vọng! Chả lẽ các vị chỉ là những kẻ sĩ cạo giấy ăn lương và lấy cái hàm vị cho oai ư? Mà khi trình độ hiểu hay khả năng đánh giá tác phẩm thi ca hạn chế quá, lại có chút hàm vị... thường dẫn đến hay làm sàm? Giả dụ như về các hội thảo thơ vừa qua chẳng hạn...
Nhưng thôi, ở đây tôi không muốn bàn đến các hội thảo thơ đó nữa - dù các cuộc hội thảo do chính ông viện trưởng Nguyễn Đăng Điệp cùng Chủ tịch HNVVN Hữu Thỉnh tổ chức hay tham dự, để cho bài viết bớt lan man, đỡ dài. Bây giờ lớp người lãnh đạo làm xằng bậy nhiều quá! Tôi cho rằng, bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo tuy có bỗ bã, nhưng cũng sắc sảo, có độ xác đáng và thuyết phục được. Các ông nên lấy đó làm bài học mà cố gắng thực thi cái chức sắc thủ trưởng của mình được tốt hơn?

6. VỚI ÔNG BẰNG VIỆT CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG THƠ HNVVN - Trước hết tôi cám ơn ông với danh nghĩa nhà thơ Bằng Việt cùng với nhà thơ Phạm Đức, đã hạ bút (năm 2009) viết giới thiệu tôi lên HNVVN. Mặc dù sau đó lá đơn xin vào Hội của tôi đã bị chính Chủ tịch HNV Hữu Thỉnh liên kết với Vũ Quần Phương, là Chủ tịch Hội đồng thơ khoá VII khi đó... chỉ đạo ban bệ dìm lấp nó đi.
Nhưng không sao, như người ta nói: nếu là chim đại bàng thì chim đại bàng sẽ vỗ cánh bay đến thiên thu. Còn chỉ là chim sẻ hay vịt đàn, cuối cùng sẽ vẫn cứ là chim sẻ và vịt đàn mà thôi.
Theo suy nghĩ của tôi, dù sao HNVVN cũng vẫn là một Hội của quốc gia. Hôm nay dẫu nó có bị tha hoá, thậm chí bị lợi dụng để đầu cơ. (Tôi còn nhớ, trước thềm của Đại hội VI của HNVVN - chính cố nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết bài chê trách ông Chủ tịch HNV Hữu Thỉnh thiếu trong sáng trong việc kết nạp người vào Hội, đăng trên báo "Công an nhân dân"). Nhưng đó chỉ là thói đời, đời nào mà chẳng có cả thối lẫn thơm. Dẫu hôm nay thơm ít mà thối nhiều, nhưng ngày mai trời trong sáng lại, thì chắc là sẽ thơm nhiều ít thối. Chê trách là chê trách những người cầm cân nẩy mực, những ông Chủ tịch quá tham lam, chứ trách chi anh em muốn xin vào Hội? Dù rằng tác phẩm của họ chưa cao, có phải chạy chọt để xin vào Hội mà lấy một chút danh tiếng sống trong đời thường -. suy cho cùng, nó cũng xuất phát từ những ý nghĩ lương thiện về cuộc đời.
"Quan nhất thời, dân vạn đại", dẫu các bậc hiền nhân dậy vậy - Nhưng lẽ đời người ta vẫn sống bằng thực tế trước mắt nhiều hơn.
Với nhà thơ Bằng Việt, hiện là Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN (k.VIII), tôi hy vọng: Ông không đến nỗi nhỏ con, sên ốc... như Vũ Quần Phương và Hữu Thỉnh, để góp một phần nho nhỏ nhân cách cùng với đức tính trong sạch của mình cho HNVVN trong tương lai xứng đáng là một Hội văn nhân của quốc gia, khỏi tủi hổ trước cộng đồng quốc tế!

7. TRỞ LẠI VỚI CUỘC TRAO ĐỔI THƠ TOÀN CẦU -
Mặc dù còn đến trăm bài thơ nữa chưa xuất bản - song về căn bản, hai tập thơ "Rung động trái tim" và "Hồ Xuân Hương tái lai" với ngót 400 tình thơ, cũng đã là cả sự nghiệp thơ ca của Phạm Ngọc Thái rồi. Coi như tôi đã hoàn thành mĩ mãn ý nguyện là để lại cho dân gian, cho nền văn học nước nhà một ngôi đền thơ ca có đẳng cấp của đời tôi!
Thưa ông Viện trưởng Viện văn học Nguyễn Đăng Điệp, ông Chủ tịch HNV Hữu Thỉnh, và ông Bằng Việt - Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN...
Một lần nữa tôi đánh cược với mấy ông rằng: Nếu với tầm vóc của hai tập thơ đó, tôi không đạt được chân dung cao của một thi nhân - Thì nhà thơ Phạm Ngọc Thái, người đang bước đến cái tuổi của U70 vẫn tình nguuyện..." làm con" cho các ông? Nhưng ngược lại, nếu chân dung thơ đạt giá trị lớn của nền văn học nước nhà - thì khi ấy các ông cũng phải..."làm con" cho tôi!?
Đó chính là qui luật của thơ "tồn tại và không tồn tại"! Một qui luật mà suốt đời tôi đã lấy đó làm kim chỉ nam cho sự nghiệp sáng tác thi ca của mình. Phương ngôn có câu "chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi" - Thơ Phạm Ngọc Thái chỉ có quê hương với nỗi đời dâu bể dân gian, chỉ có tình yêu và đàn bà, không làm nô bộc bởi một thể chế chính trị nào hết.
Các bè bạn gần xa, trong nước hay anh em cộng đồng Việt trên thế giới, những ai có thời gian & hứng thú muốn quan tâm đến thơ Phạm Ngọc Thái - Hiện tập thơ "Rung động trái tim", Nxb Thanh niên 2009 đã được đăng nguyên bản trên website của vnthuquan.net, hay quí vị có thể đọc qua link sau:
http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=625782
Còn tập "Hồ Xuân Hương tái lai", Nxb Văn hoá Thông tin 2012 - Vị nào có nhã ý xin liên hệ bằng Email, tôi sẽ rất lấy làm yêu mến đựơc gửi tới các Quí bạn toàn bộ tập thơđã xuất bản ấy... "Tập thơ điện tử".
Với các Hội Văn học ở trong nước, từ quốc gia đến địa phương hoặc các tổ chức nghiên cứu văn học... nếu muốn nghiên cứu tác phẩm - liên hệ, tác giả sẽ gửi sách biếu.

Hiện nay tác giả đã làm xong bản thảo của một tập thơ mới - với ngót 250 bài thơ và trong vòng khoảng 300 trang sách. Gồm toàn bộ là thơ tình, được chọn lọc ra từ hai tập thơ "Rung động trái tim" và "Hồ Xuân Hương tái lai" đó! Tên đề của bản thảo tập thơ mới là: "Cực kỳ lãng mạn" - Thơ tình PHẠM NGỌC THÁI - Nếu có cá nhân hay tổ chức, hoặc Nhà xuất bản nào muốn com măng xuất bản, xin liên hệ với tác giả. Ở trong nước, tác giả sẽ gửi kèm theo bản thảo được đánh máy bằng giấy - Còn ở Hải ngoại, sẽ gửi đến Quí vị bản thảo tập thơ bằng "Hộp thư điện tử".

Đến đây, lời viết đã nhiều mà ý tình cũng không ít, xin để lại văn bản này cho đương đại và cả lịch sử mai sau cùng phán xét.


Phạm Ngọc Thái
Thăng Long, mùa thu năm Nhâm Thìn, 2012.
NR: 34 ngõ 194, phố Quán Thánh, Hà Nội.
Mobile: 0168 302 4194
Email: ngocthai1948@gmail.com



Mời Quí vị đọc 49 TÌNH THƠ SÂU SẮC CỦA PHẠM NGỌC THÁI
trích từ hai tập thơ đã xuất bản, qua link sau:

http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=764723


.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 26.09.2012 13:18:05 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 26.09.2012 13:16:08
.
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hàn Mặc Tử - Tôi đã cho măng cả chùm bài tưởng nhớ thi nhân ở nhiều trang
điện tử trên thế giới - Xin lưu lại VNTQ này để bà con đọc lại:




CHÙM BÀI TƯỞNG NHỚ THI NHÂN HÀN MẶC TỬ CỦA PHẠM NGỌC THÁI
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh thi nhân Hàn Mặc Tử (22.9.1912 - 22.9.2012)

KHÓC HÀN MẶC TỬ


Tôi khóc Tử, khóc hào quang, khóc huyết
Khóc gió mưa, cây cỏ đến chân trời
Khóc tạo hoá: từ thiên và địa
Rồi khóc người: Đời, con tạo quay chơi...

Hàn Mặc Tử ơi! Ớí , Tử ơi !
Sống chơi vơi cũng giống người
Khác chi là con chim cánh lá
Giọt thơ này hoà lệ máu tôi rơi!

Nơi Tử nằm trong mồ hoa thơm nở
Đầu Tử gối lên sườn sóng gió
Với sao sương vằng vặc trăng ngàn năm
Nỗi đau đè nặng cõi dân gian.

Hỡi biển Đông, núi cao Gành Ráng!
Thơ của Tử mai sau còn sáng láng
Sóng nước non non nước vỗ ngày đêm
Quạnh hiu buồn rờn rợn bóng thi nhân.

Ngồi đọc Tử tim vỡ toang máu đỏ
Tôi khóc biển, khóc trời xanh, khóc gió
Chúa ở đâu? Thượng đế có trên đời?
Người Thơ Xưa hoá chốn nao rồi?

Thì tham vọng vinh quang ai chẳng muốn
Ngu cũng buồn! Tài lại lắm tai ương?
Giữa đời nhiều khi phải cười nhăn răng mà sống
Thương nhau để mặc lệ rơi tuôn...

Tử dù đau nỗi đau ngang bể
Nhưng đã có bao người khóc Tử
Suy cho cùng: tuyệt đến thế thì thôi,
Trên này nhiều chuyện lắm, Tử ơi!

Rót mắt thành thơ khóc Tử lại khóc đời
Chúng tôi đang quần cuộc sống...
Có khi phải tập nén mình như bánh nén
Thỉnh thoảng cũng thương nhau,
phần lớn chỉ đấu tranh.

Niềm sướng đau khôn dại dại khôn
Em gái - Nhà thơ - Nhà chính khách
Tuốt tuồn tuột mấy ai không bất trắc
Buồn làm chi! Đời, sắc sắc không không...

Đời vậy mà - Người thế, chuyện thế gian!
Suy cùng lý chẳng gì phải chán
Lại thương Tử không được dự phần bon chen xô lấn
Giây phút khóc cho nhau hoá hạnh phúc lớn trên đời.

Hàn Mặc Tử ơi! Ới, Tử ơi!
Bao đêm nghiền ngẫm chữ thơ Người
Châu rỏ đầm đìa trang giấy trắng
Bay về Gành Ráng đẫm hồn tôi.

Thắp nén nhang chùa tôi khấn anh
Tài hoa xuất sắc vóc giai nhân
Vung tay búng bút xô báu ngọc
Chữ thơ như tuyết máu lênh đênh.

Qui Nhơn biển sóng vỗ mây lừng
Tài này - phận ấy! Những bi thương,
Nay đã yên mình khe nước ngọc (*)
Hẹn nhau mai mốt bữa tương phùng.

Tôi khóc Tử, khóc hào quang, khóc huyết
Khóc gió mưa, hoa cỏ lẫn sao sương...
Tử có nghe! Thơ Người - Tôi viết tiếp
Cúi lậy không gian cả tám phương! (*)

Phạm Ngọc Thái

(*) Ý thơ của Hàn Mặc Tử.

Thơ Hàn Mặc Tử - Lời bình Phạm Ngọc Thái





ĐÂY THÔN VỸ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Hàn Mặc Tử
(Rút trong tập "đau thương" - Thơ điên của HMT)

-------------------------

Bài thơ được mở đầu với lời trách móc của người con gái. Lời trách ấy có lẽ do một hoàn cảnh gặp gỡ nào trước đó được thi nhân nhớ lại:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?

Câu mở đầu như thế giúp cho ý tưởng kiến thiết bài thơ thôn Vỹ gắn với nỗi nhớ người xưa được gợi lên trong kỷ niệm:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Nghĩa là từ hàng cau đến cái nắng mới vào buổi sáng ấy, màu xanh của vườn cây đều là cảnh hiện trong hồi tưởng. Thôn Vỹ nói riêng cũng như mỗi làng quê Việt Nam nói chung: hàng cau thường đọng lại những ấn tượng sâu sắc, nhất là với những người khi đã phải xa quê. Ta cũng thấy ở trong thơ Nguyễn Bính từng viết:

Nhà tôi có một hàng cau liên phòng

Hàng cau dưới cái nắng mới buổi sớm thì trong mát, thanh thiên lắm! Cảnh quê cô đọng được hoà quyện vào mối tình đầu trong sáng, mơ mộng của thi nhân, dù mối tình với nàng Hoàng Cúc ấy chỉ đơn phương về phía Hàn Mặc Tử. Nhưng sự sâu lắng đã trở thành hoài niệm mãi trong cõi nhớ của ông, bởi thế màu xanh của lá cây trong vườn cũng lung linh mà "xanh như ngọc"...

Như vậy "cảnh nhớ" ở ba câu đầu tuy chỉ là hồi tưởng nhưng lại xuất phát từ "cảnh có thực"! Sở dĩ tôi nhấn mạnh về chữ "thực" ở đây? vì chỉ đến câu thứ tư hình ảnh thơ đã có ý nghĩa tượng trưng:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

"lá trúc" và "chữ điền" thuộc những ngôn từ mỹ học! Hình tượng cây trúc làm tượng trưng trong thơ HMT, ta còn thấy ở trong bài thơ Mùa Xuân Chín:

Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc

"trúc" là hình ảnh biểu tượng cho làng quê, còn "mặt chữ điền": theo cách nói cổ nho là ví cho gương mặt nam nhi! Trong bài thơ này gương mặt chữ điền ấy để biểu tượng cho chính bản thân thi nhân. Hai chữ "che ngang" kia, nghĩa là thôn Vỹ với nhà thơ giờ đây chỉ còn ở trong kỷ niệm, nỗi nhớ... mãi mãi phải cách xa nên đã bị... "cắt ngang"!

Ngay trong bốn câu của khổ thơ đầu ta đã nhận thấy cấu trúc, tư duy thơ HMT theo cảm xúc đã được thiết lập trình tự của sự suy lý về nỗi cảnh mà lập thành tứ, để phát triển sâu hơn ở khổ thơ thứ hai khi nói đến tình duyên dang dở giữa hai người:

Gió theo lối gió, mây đường mây...

Ý là:

Em theo đường em, anh đường anh
Duyên phận đôi ta có thế thôi!

Tả cảnh nhưng chính để nói nỗi đời:

Dòng nước buồn thiu (tĩnh), hoa bắp lay (động)...

Cái (tĩnh) và (động) ấy chỉ để bộc lộ một cõi lòng, một tâm trạng cô đơn và buồn! Thi nhân ngồi nhớ người xưa, lòng ông lặng lờ buồn bã như dòng nước hắt hiu, nhưng trái tim vẫn bổi hổi, xốn xang như làn "hoa bắp lay"...

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Đây là hai câu thơ thần cảm - Hình ảnh thuyền và sông trăng theo cảm xúc ùa vào trong thơ mà bật ra... làm cho tình thơ thêm rộng rãi, rung rinh, nỗi thơ càng mênh mang, da diết.

Xin nói thêm, cảnh thuyền và sông trăng ở đây theo như một số nhà bình luận: Người thì cho đó là cảnh trong một bức ảnh về Huế mà nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân khi đang lâm bệnh phải điều trị ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng cũng có người lại nói rằng nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân tấm ảnh mặc áo dài trắng?... chứ không phải là phiến cảnh "thuyền" và "sông trăng" đó. Nếu vậy thì cảnh trong thơ chỉ là cảnh mà thi nhân nhớ lại nơi thôn Vỹ chăng? - Cũng chưa thật ngã ngũ về hướng nào.

Nhưng tóm lại cảnh của hai khổ thơ đầu ấy là cảnh thuộc về trí tưởng, dù là vào buổi sớm dưới hàng cau hay trong một đêm trăng trên sông nước. Trong bài bình của nhà bình thơ Vũ Quần Phương, đến đây có nhận xét rằng:

"Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một... thoáng nhìn bài thơ có vẻ đầu Ngô mình Sở...", (hay là) "Những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hoá ra lại vẫn có chỗ liền nhau..." và nhà bình thơ cho rằng "chỗ liền nhau ấy trong thơ HMT chỉ là nhờ vào tâm trạng xúc cảm"...

Theo tôi: HMT là một thi nhân viết thơ bằng nội tâm theo tư duy thế giới trong, xúc cảm chỉ làm đà cho mạch thơ, hơi thơ tuôn chảy... còn ý tứ thường được diễn tả rất mạch lạc, rõ ràng. Mượn cảnh làm biểu tượng để diễn đạt nỗi tình thơ - Đoạn thơ thứ hai ấy cần phải hiểu sâu sắc bằng thế giới bên trong như đã bình trên, mới thấy cảm xúc về ý tứ của bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ hoàn toàn liên kết chặt chẽ với nhau, từ đoạn thơ đầu tiên cho đến đoạn cuối cùng. Đấy chính là cốt lõi để tạo ra thi phẩm của ông. Đây thôn Vỹ Dạ là một tuyệt tác thi ca! Nếu cho rằng đoạn thơ thứ hai chỉ là để tả cảnh buồn mênh mang... thì sẽ không thấy hết được cái hay và sâu sắc của bài thơ!

Tôi xin bình sang khổ thơ thứ ba:

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Như đã nói mối tình giữa HMT với nàng Hoàng Cúc chỉ là một mối tình đơn phương về phía thi nhân, có thể nàng không hay biết về tình yêu của chàng? Hơn nữa trong lễ giáo phong kiến thời ấy, giữa gia đình thi nhân với gia đình nàng còn có một khoảng cách về đẳng cấp xã hội. Hoàng Cúc thuộc gia đình một quan lại, còn HMT là gia đình lớp bình dân. Ông vốn tính lại rụt rè, hay bẽn lẽn, yêu tha thiết mà chỉ dám đứng từ xa chiêm ngưỡng người đẹp như trong mộng... rồi thương thầm, nhớ trộm. Thi nhân đã dồn hết tình yêu của mình vào thơ ca... sáng tác cả một tập, gọi là tập "gái quê" để tặng nàng!

Giờ đây thì cả cái mối tình đơn phương ấy cũng đang trôi vào dĩ vãng. Thi nhân lâm bệnh nặng phải sống cách ly, sự ngăn trở giữa hai người càng xa hơn. Nên trong bài thơ nói về người yêu mà thi nhân lại dùng chữ "khách" là vì thế! Ông mơ về nàng dẫu tình thì sâu nặng... mà vẫn như mơ về một người khách lạ...

Hình ảnh: Áo em trắng quá.../ - Hẳn là màu áo trắng của nàng Hoàng Cúc thường mặc phải gây ấn tượng trong trí nhớ của HMT hơn các màu áo khác! Nhưng màu áo trắng ở đây còn là ảnh ảo, khi thi nhân mơ tưởng người đẹp ở trong trăng... Màu trăng ấy thường hay thấy trong thơ HMT:

Người trăng ăn vận toàn trăng cả...

Còn tại sao "áo em trắng quá" mà lại "nhìn không ra"? Ý là: Mối tình ấy đã cách biệt, giờ đây khoảng cách giữa hai người xa vời như người khách lạ qua đường. Còn cảnh tượng:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Đó là cảnh thực của nơi Ông đang sống và chữa bệnh... hiu quạnh, khói sương heo hút ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng đồng thời cũng để nói lên trong cảnh ngộ của Người về thân phận "mịt mờ nhân ảnh". Tâm trạng Ông đang rơi vào trong vực thẳm trước sự quên lãng của người đời. Lòng Ông càng da diết mà hỏi:

Ai biết tình ai có đậm đà?

Tiếng "ai" bộc lộ một tâm trạng vẫn rất tha thiết của Ông: Liệu nàng còn nhớ đến ta chăng? Cái tâm trạng xa xót ai oán ấy, Ông cũng đã từng bộc lộ nhiều lần khác:

Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương, anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm!

"Đây thôn Vỹ Dạ" là một bài thơ được dệt thành một bức tranh trong mộng, không gian đa sắc đa chiều, đan xen giữa hiện tại và kí ức. Ý, tình khúc triết, sâu xa. Dù rằng tình thơ được rút trong tập "thơ điên", nhưng nó không những không phải là thơ điên mà còn là một tình thơ đằm thắm chứa chan, trái tim của nhà thơ đã thấm đầy huyết lệ!

Hà Nội
Phạm Ngọc Thái




Thi pháp thơ Hàn Mặc Tử qua "Mùa xuân chín"

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Hàn Mặc Tử

Tiểu luận - PHẠM NGỌC THÁI

“Mùa xuân chín ” được rút ra từ trong thơ điên của Hàn Mặc Tử (đề mục Hương Thơm). Trong Thi nhân Việt Nam , Hoài Thanh có nhận xét bao quát về mảng Hương Thơm này như sau: “Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói”. Nhưng đã xem Mùa Xuân Chín ta thấy chẳng những thơ không điên, lòng thi nhân thanh tao, cõi hồn siêu thoát, tựa thể ông đang ngồi thụ cảnh thiên thai của bậc khách tiên sa. Mạch thơ cũng tách bạch ra khỏi hẳn cõi sao trăng, ảo tình sương khói ấy:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.

Đây hẳn là những mái nhà đã được lợp bằng rạ vẫn còn mới ở thôn quê, bởi những sắc màu của rơm rạ còn ánh lên lấm tấm vàng, dưới làn nắng sớm ban mai. Cảnh thơ như bức gấm thêu, đây đó vấn vương vài làn sương mỏng. Toát lên tấm tình của thi nhân với nơi thôn dã rất thân thiết. Đến hai câu sau đó:

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang

“…tà áo biếc” ở đây để chỉ cái dáng xanh mềm mại của giàn thiên lý, khi gió thổi qua giàn mới phát ra tiếng kêu “sột soạt”. Nếu gió thổi ngoài trời: nhẹ thì hiu hiu, vi vút… gió to sẽ rít lên ào… ào…

Nhưng cũng chưa hẳn là khi gió thổi qua giàn thiên lý có tiếng kêu “sột soạt” như thế? vì giống lý lá nhỏ, âm điệu chỉ reo… reo… thôi. Hai tiếng “sột soạt” như tiếng của những tấm áo cánh mỏng, mặc hơi căng cọ mài lên da thịt của các nàng thôn nữ mà phát ra vậy. Cảm giác ấy đã dấy lên trong tâm thức của thi nhân để vận vào tả cảnh giàn cây. Chất thơ hơi da thịt này cũng thường có trong Hàn Mặc Tử (HMT)! Các hình tượng thơ miêu tả, nhưng lại đầy cảm giác tình ái. Nào thì “gió trêu”; âm thanh “sột soạt”; còn giàn thiên lý lại được ví như “tà áo biếc”… Thành thử, thơ tả thực mà rất sống động.

Tất cả những hình ảnh: nắng ửng, khói mơ, mái nhà tranh lấm tấm vàng, thiên lý và gió… hòa hợp, được khoác lên chiếc áo tân thanh mùa xuân mà tạo thành “bóng xuân sang”. Sang đoạn thơ thứ hai:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

“cỏ” gặp gió lượn thành sóng, nghĩa là cỏ mọc đã hơi cao. Ở đây ta liên tưởng tới một câu thơ của cụ Nguyễn Du: Cỏ non xanh rợn chân trời /- “xanh rợn” là cỏ mới chỉ mọc nhú, lún phún. Nhưng cả một miền cỏ dầy, phẳng, non mướt và xa hút tạo nên một độ sắc gai người, tựa thể sờ vào có thể đứt tay. Còn “sóng cỏ xanh tươi” trong câu thơ HMT : thì màu xanh đã lả lướt để “gợn tới trời ” chứ không ” rợn” như trong thơ cụ Nguyễn Du. Vậy là, tuy cũng tả về miền cỏ hút đến chân trời… nhưng miền cỏ trong thơ HMT vẫn mang sắc thái riêng.

Bao cô thôn nữ hát trên đồi;

- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy:

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Một mảng đời sống dân gian đã tràn vào trong bức tranh cảnh mùa xuân của Ông: rằng, ngày mai trong đám xuân xanh ấy… có kẻ lấy chồng, theo chồng – sẽ không còn sự vô tư, nhàn nhã mà đi dạo mùa xuân như thế nữa! Ý nói: “bỏ cuộc chơi”/- Nhưng câu thơ chưa hẳn đã phải là nuối tiếc cho cô thôn nữ kia, mà chính trong lòng thi nhân đang nuối cảm? Bộc lộ một tâm trạng bâng khuâng, hiu hắt, có phần xa xót. Bệnh tật đã không cho Ông được hưởng cái hạnh phúc đời thường ấy! Cảnh đời thanh thái của mùa xuân ấy… như thể đã cách xa hàng thế giới. Cái ước muốn nho nhỏ: có một tổ ấm gia đình, vợ chồng hạnh phúc… với Ông, cũng không bao giờ có. Tâm khảm thi nhân dồn vào tình thơ đằm thắm, thiết tha. Đến đoạn thơ ba:

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Thơ nghe như lời đồng dao chốn dân gian:
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…

Trước cảnh xuân đẹp chứa chan, không phải là nước mây “hổn hển” đâu, chính là lòng thi nhân đang hổn hển!…

Đến đây tôi xin nói ít lời về thi pháp tượng trưng trong thơ hiện đại Pháp, mà HMT đã ảnh hưởng khá sâu sắc. Thơ tượng trưng của nền thơ hiện đại Pháp nửa sau thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, ( dựa theo tuyển dịch và giới thiệu của Đông Hoài, NXB Văn học 1992 ) là thứ thơ diễn tả theo phép loại suy -Tức là quan hệ tương đồng giữa hai sự vật, nhìn nhận mọi sự vật bằng biểu tượng. Nhưng trường phái thơ tượng trưng Pháp được hình thành và phát triển theo khuynh hướng của hai thuyết tương ứng: tương ứng cảm quan và tương ứng trí năng!

Về thuyết “Tương ứng cảm quan” do Charles Baudelaire ( 1821-1867) khởi xướng. Ông là tác giả của tập “Những bông hoa ác” nổi tiếng. Ông đã được các nhà thơ sừng sỏ nhất trong văn học hiện đại Pháp coi là bậc thầy mở đường, nhà tiên khu của trường phái thơ tượng trưng! Baudelaire đã từng định nghĩa trong “Tương ứng”, một trong sáu bài thơ danh giá nhất của ông như sau:

Thiên nhiên là một ngôi đền mà trong đó
những cột sinh linh
Thỉnh thoảng phát ra những ngôn ngữ mơ hồ,
Con người đi trong thiên nhiên qua những rừng biểu tượng
… Hương thơm, màu sắc và thanh âm tương ứng.

Nghĩa là: giữa vật này với vật khác, giữa con người – cuộc sống với thiên nhiên, đều có thể thay thế nhau bằng biểu tượng. Để phản ảnh một cách tương ứng, nhưng dựa vào cảm thụ được phát ra từ các giác quan (gọi là cảm quan), hay từ trong tâm linh. Cho nên thỉnh thoảng ngôn ngữ mơ hồ…

Thuyết “Tương ứng trí năng” – Người tiêu biểu là Stéphane Mallarmé (1842-1898), cũng là một nhà thơ Pháp đứng đầu trường phái tượng trưng đã chủ xướng. Quan điểm cơ bản về thuyết “Tương ứng trí năng” của Mallarmé là: Biểu tượng được tượng trưng phải rành mạch, rõ ràng, bằng một sự áp đặt hợp lý của lý trí, chứ không theo khuynh hướng cảm quan như Baudelaire.

Nhớ tới lời của cố Chế Lan Viên đã viết tựa trong Tuyển thơ Hàn Mặc Tử xuất bản 1988 rằng: “Tử trong thời gian chúng tôi gần, chỉ thấy Anh nói về Baudelaire…”! Bởi vì những yếu tố thơ tượng trưng được HMT sử dụng rất nhiều, đã nhuần nhuyễn trong thi pháp thơ Ông, nhưng hầu hết đều theo khuynh hướng “Tương ứng cảm quan” của Baudelaire.

Trở lại với Mùa Xuân Chín – Những câu thơ: “hổn hển như lời của nước mây”, “tiếng ca vắt vẻo”, “sột soạt gió trêu tà áo biếc”, rồi cả đến câu thơ cuối cùng: “sông trắng nắng chang chang”… đều là những hình ảnh của thơ tượng trưng cảm quan, để bộc lộ thay cho tâm trạng, tình cảm con người, hay một hiện thực đời sống. Ngay đến tên đề của bài thơ: Mùa xuân chín, cũng mang tính tượng trưng đó rồi. Trong nhiều bài thơ khác của Hàn Mặc Tử ta cũng hay gặp những yếu tố của loại thơ tượng trưng này. Thí dụ:

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi…

Hay là:

Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

Đặc biệt với các giác quan cảm thụ rất nhậy bén của thi nhân: Ngôn ngữ chứa đầy hồn, cảnh trí thiên nhiên rất sống động. Ở trong câu ba của đoạn thơ thứ ba, ta còn thấy một cụm hình ảnh: Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc /- Tiếng “trúc” ở đây, với hình ảnh “lá trúc” trong bài Đây Thôn Vĩ Dạ:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Đều thuộc loại ngôn từ mỹ học, để làm biểu tượng về làng quê! Tôi xin phân tích tiếp đoạn thơ cuối:

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc,
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Sắc điệu “…trắng nắng chang chang?” vẽ ra cảnh trắng toát bên con sông mộng. Cảnh thực trong hồi ức mà như ảo ảnh. Thi nhân đã mô tả những hình ảnh đó bằng ngôn ngữ thông qua cảm xúc nhớ làng da diết, đưa tình cảm bài thơ lên tới tột cùng, không chỉ thuần tuý là bức tranh tả cảnh mùa xuân nữa.

Cũng đã nhiều nhà bình luận đã bàn về hình ảnh “chị ấy” trong bài thơ là ai? Người thì nói: “chị ấy” là người yêu xưa mà thi nhân nhớ lại? Kẻ lại bảo: Đó là chị ruột của thi nhân?…Tôi nghĩ: Xét về đời sống riêng tư của HMT, những người thân thiết nhất của thi nhân không thể không nhắc đến người mẹ, cùng người chị ruột hiền từ vẫn thường chăm bẵm Ông trong cuộc sống. Như ở bài hồi ký “Nhớ Hàn Mặc Tử” của anh Nguyễn Văn Xê, người đã chăm sóc thi nhân trong thời gian bị bệnh, cho đến khi tạ thế tại nhà thương Qui Hòa, kể rằng:

Sau khi Trí (tên thường gọi của nhà thơ) chết chôn được ba ngày, qua ngày hôm sau… mẹ và chị Lễ của Trí tức tốc vào Qui Hòa. Tôi hướng dẫn gia đình Trí đi thăm mộ. Nơi đây tôi không thể cầm được giọt lệ trước một người mẹ khóc đứa con yêu, một người chị khóc em trong buổi chiều mùa đông se se lạnh… Tôi đã chứng kiến có một mẹ tiên và một chị tiên đến khóc nức nở bên mộ Trí.

Phải chăng người “chị ấy” trong thơ của thi nhân chính là chị Lễ! Mùa Xuân Chín chẳng những chỉ là một bức tranh thiên nhiên đẹp, còn trắc ẩn cả tình làng và đây đó quấn quít đôi chút lòng nhi nữ. Một bài thơ chân quê. Từ biểu tượng của ngôn ngữ, nhạc điệu đến cảnh tình qua cảm xúc… đã dan díu quyện lấy nhau mà tạo nên một bản xô-nát về “khối tình đời” độc đáo và hoàn bích.


© Phạm Ngọc Thái

———————–


Rất nhiều các website trong nước & thế giới đã đăng - Một số tiêu biểu như sau
:


http://ttx.vanganh.info/2012/09/chum-bai-tuong-nho-thi-nhan-han-mac-tu.html
http://www.truclamyentu.info/tlls_trang_phamngocthai/chumbaituong-nhothi-nhanhan-mac-tu.htm
http://vandanvn.net/vi/news/Cam-nhan-tac-pham/Chum-bai-tuong-nho-thi-nhan-Han-Mac-Tu-cua-Pham-Ngoc-Thai-548/
http://binhtrung.org/D_1-2_2-237_4-4010_15-2/chum-bai-tuong-nho-thi-nhan-han-mac-tu-cua-pham-ngoc-thai.html
http://vannghequangtri.blogspot.com/2012/09/chum-bai-tuong-nho-thi-nhan-han-mac-tu.html
http://vannghecuocsong.com/home/vi/news/Gioi-Thieu-Tac-Pham-Moi/Tuong-niem-Han-Mac-Tu-555/
http://bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=2698
http://www.danchimviet.info/archives/65462
http://hung-viet.org/blog1/2012/09/14/chum-bai-tuong-nho-thi-nhan-han-mac-tu/






.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 26.09.2012 13:20:17 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 24.10.2012 11:25:41
Vừa qua khi tôi cho ra đời tập thơ "Hồ Xuân Hương tái lai", Nxb Văn hoá Thông tin 2012 - Đã được một nhà giáo
chọn bài thơ "Con đường phượng đỏ" để bình thơ hay. Đó là một bài thơ tình nuối cảm lại mối tình xưa với một người
sinh nữ của tôi. Rất cám ơn chị đã bình bài thơ đáng yêu & cũng rất xúc động ấy! Nay Phạm Ngọc Thái xin lưu lại lời
bình ở đây, trong trang bình luận thơ ca của mình, đồng thời cũng để các bạn gần xa có dịp vãng lại qua thì đọc.



Một nhà giáo cảm xúc bài "Con đường phượng đỏ" - Thơ Phạm Ngọc Thái


Con đường phượng đỏ
Em mang màu phượng đỏ ra đi...
Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏ
Nơi kỉ niệm của mối tình sinh nữ
Xác ve còn bám ở thân cây.

Con đường phượng đỏ đêm nay
Mây lãng du bay trời xanh vô định
Những cánh hoa rung trong hoài niệm
Nghe lòng thổn thức đâu đây!

Phượng đã cháy lên một thời
Nửa tóc bạc rồi, nửa mái xanh phơ phất
Tới một ngày chúng cũng tàn úa hết
Ta sẽ thành ông bà lão, em ơi!

Con đường tình đẫm giọt sương rơi
Gió vẫn xạc xào vi vút thổi
Giá hồi ấy chúng mình lấy nhau rồi sinh năm đẻ bảy
Thì đâu còn phượng để anh ru?

Em đã mang màu phượng ấy ra đi...

Phạm Ngọc Thái
(trích tập "Hồ Xuân Hương tái lai")

-------------------------------------


Bài thơ rất đáng yêu, nó gợi lại kỷ niệm về mối tình của nhà thơ với một người sinh nữ đã xa xưa. Tôi hình dung thấy bước chân anh đang lang thang trên cái hè phố nhỏ có hàng phượng vĩ, con đường mà anh vẫn cùng người thiếu nữ năm nào dạo bước bên nhau:

Em mang màu phượng đỏ ra đi...
Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏ
Nơi kỉ niệm của mối tình sinh nữ
Xác ve còn bám ở thân cây

Hẳn đó là những ngày tháng tươi đẹp và hạnh phúc của đời anh. Cô sinh nữ kia chắc cũng phải xinh xắn lắm? Nghe anh mô tả, những kỷ niệm êm đềm từ thưở còn con gái trong tôi, dù đã xa xôi cứ dồn về làm nghẹn trái tim. Thế mà cái con đường có em yêu đã bao đêm đi bên anh, giờ đây chỉ còn vương lại những xác ve đã chết khô bám trên những cành phượng cũ, nó cũng cô đơn như chính anh.

Tuổi trẻ đi qua để lại bao nuối nhớ cùng những kỷ niệm tình. Bởi cái màu hoa phượng đỏ cháy rực trời vào những ngày hè thân thương ấy, giờ đây em đã mang đi mất rồi, chỉ để mình anh trơ trọi ở lại với những nhớ thương? Như ngay bắt đầu vào bài nhà thơ đã mô tả:

Em mang màu phượng đỏ ra đi...

Sang đoan hai tác giả vẫn lan man cảm xúc trên con đường của kỷ niệm tình, nhưng giờ đây:

Mây lãng du bay trời xanh vô định
Những cánh hoa rung trong hoài niệm

Những đám mây phiêu diêu bay qua con đường trong một bàu trời heo hút, vô vi, gắn với khoảng đời tươi đẹp, hạnh phúc nhất của nhà thơ. Hiu hắt quá!... màu hoa phượng đỏ cũng chỉ còn là màu trong tưởng niệm. Câu thơ ảo mà vẫn khoáy vào lòng người, phải chăng như Chế Lan Viên đã viết:

Bên kia bờ hư ảo - bờ thơ

Bởi cái màu ảo ấy là màu của những nhớ thương, hoài vọng, thiết tha. Mặc dù nhà thơ đang đi trên con đường rất thật để làm bài thơ này, như anh đã viết:

Con đường phượng đỏ đêm nay...

Chúng đều là thật cả, từ làn mây đến khoảng trời xanh - song, vào trong cảm xúc của nhà thơ Phạm Ngọc Thái nó trở thành màu của trừu tượng mênh mang, day dứt khôn nguôi:

Nghe lòng thổn thức đâu đây...

Trái tim của nhà thơ đang rỉ máu trên con đường ấy. Đến đoạn ba thì như người bừng tỉnh trong giấc mộng và thơ được đẩy lên cao hơn của sự nuối cảm, xa xót:

Phượng đã cháy lên một thời
Nửa tóc bạc rồi, nửa mái xanh phơ phất
Tới một ngày chúng cũng tàn úa hết
Ta sẽ thành ông bà lão, em ơi!

Đành rằng qui luật của thời gian tất sẽ dẫn đến sự già cả, tàn úa, nhưng ta vẫn thấy chua chát quá! Cứ nghĩ về cảnh nhà thơ viết ở đây thì dường như tất cả đang sụp đổ xuống trái tim yêu. Đôi trai gái trẻ trung, say đắm hồi ấy nay đã biến thành ông, thành bà già cả mất rồi. Có lẽ anh đã khóc khi trở về với cái thực tại hôm nay? Đó là sự chia ly vô cùng, vô tận của cả một kiếp người.

Đời người có mấy ai là không gặp phải cảnh éo le, nuối tiếc, chia phôi của mối tình đầu? Bài thơ không chỉ làm rung động trái tim của các lứa trẻ, ngay cả những người đã bước vào tuổi hoa niên đọc thơ anh chắc cũng không khỏi xao lòng.

Đoạn thơ kết:

Con đường tình đẫm giọt sương rơi
Gió vẫn xạc xào vi vút thổi...

Để khắc sâu hơn, nhấn mạnh hơn về sự trống vắng và tha thiết. Dù ta chẳng biết vì lý do gì? Tại sao mối tình của nhà thơ với người con gái ấy bị tan vỡ? Lỗi do ai? Chỉ thấy anh biện hộ với lòng mình rằng:

Giá hồi ấy chúng mình lấy nhau rồi sinh năm đẻ bảy
Thì đâu còn phượng để anh ru?

Khiếp, nhà thơ Phạm Ngọc Thái ơi! Sao anh tham lam thế? Người ta lấy nhau bây giờ chỉ đẻ có hai đứa, nuôi được chúng nên người cũng đã bở hơi tai rồi, đằng này anh lại đòi những "...sinh năm đẻ bảy" cơ đấy? Nói vậy thôi chứ thơ vẫn là thơ mà. Viết thế nên câu thơ lại thêm phần thi vị và hay nữa. Tất cả sự diễn tả ý nghĩ, hình ảnh... cũng chỉ để hoài tưởng về cái màu phượng vĩ của tình yêu năm xưa, cho đến cuối cùng tác giả trở lại với câu thơ đầu tiên và kết ở đó:

Em đã mang màu phượng ấy ra đi...

Chính là tư tưởng của toàn bài để bộc lộ sự nuối nả trước một tình yêu trong sáng, thiết tha thời tuổi trẻ. Bài thơ giàu cảm xúc, ý tình thanh nhã, hình ảnh rất mộng mơ. Bút pháp tuy bình dị nhưng ngôn từ vẫn mang vẻ đẹp mỹ học, cùng với ý nghĩa thi phẩm mà tạo thành bài thơ hay, có thể làm rung cảm trái tim người.

CÔ GIÁO HOÀNG
ĐH Sư phạm Hà Nội
—————


Rất nhiều website, blog trong nước & Hải ngoại đăng - Một số tiêu biểu qua các link sau:

http://www.vanganhonline.com/2012/10/con-uong-phuong-o-tho-pham-ngoc-thai.html
http://thuongyenho.violet.vn/entry/showprint/entry_id/8238139
http://www.diendantrunghochnc.com/phpBB2/viewtopic.php?p=36814
http://chinhphu.tuiban.net/2012/10/quan-lam-bao-co-bi-hack-khong-hay-la.html#2
http://datdung.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=6371#axzz29oX40KyF
http://nghiathuc.wordpress.com/2012/10/11/mot-nha-giao-cam-xuc-bai-con-duong-phuong-do-tho-pham-ngoc-thai/
http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-hc-cuc-sng/3091-cm-xuc-v-bai-th-qcon-ng-phng-q-ca-phm-ngc-thai-co-giao-hoang-
http://vandanvn.net/vi/news/Cam-nhan-tac-pham/Cam-nhan-bai-tho-Con-duong-phuong-do-cua-Pham-Ngoc-Thai-Hoang-Thi-Vui-DH-Su-pham-Ha-Noi-662/
http://trannhuong.com/tin-tuc-13930/-mot-nha-giao-cam-xuc-bai-con-duong-phuong-do---tho-pham-ngoc-thai---.vhtm
http://www.tim1s.vn/ptvietyen/index.php?news=87a18c197c0a5d0c0c01aaa289f86881&ncid=4497&nid=11821&13/10/12
http://www.vannghechunhat.net/tin-van-hoc/ly-luan-phe-binh/10966-.html
http://www.ttgdtxlaocai.net/forum/forum_posts.asp?TID=1934&FID=85&PR=3&PN=31
http://vannghequangtri.blogspot.com/2012/10/mot-nha-giao-cam-xuc-bai-con-uong.html
http://www.nguyennguyenbay.blogspot.com/2012/10/con-uong-phuong-o-tho-pham-ngoc-thai_12.html
http://chauanhdieu.blogspot.com/2012/10/mot-nha-giao-cam-xuc-bai-con-uong.html
http://vannghecuocsong.com/home/vi/news/Bon-Phuong/Binh-tho-Pham-Ngoc-Thai-638/
http://www.truclamyentu.info/tlls_trang_phamngocthai/conduongphuongdo.htm
http://www.tintuchangngay.org/2012/10/mot-nha-giao-cam-xuc-bai-con-uong.html
http://diendanctm.blogspot.com/2012/10/con-uong-phuong-o.html

.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.10.2012 11:31:38 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 22.11.2012 11:37:28
.
Cám ơn anh Nguyễn Đình Chúc dã viết bài - Xin đăng & lưu lại ở VNTQ trong Tuyển văn xuôi của tôi:


Phạm Ngọc Thái có chân dung một nhà thơ tình lớn của dân tộc
Nguyễn Đình Chúc

Qua hai tập thơ đã xuất bản: “Rung động trái tim”, Nxb Thanh niên 2009 & “Hồ Xuân Hương tái lai”, Nxb Văn hoá Thông tin 2012, có thể nói đó là cả một tuyển thơ dầy dặn có tầm vóc của anh. Để minh chứng cho luận điểm trên mà tôi đã nêu ra, trước hết mời Quí vị hãy đọc một số bích phẩm của anh trong bản viết “16 bài thơ tình hay của Phạm Ngọc Thái” đã được đăng trên nhiều trang mạng trong nước và thế giới. Mở theo link sau -

Ở trong nước:
http://datvietjsc.net.vn/index.php?act=newsdetail&pid=8&cid=32&id=2220

Hải ngoại: http://hung-viet.org/blog1/2012/10/25/16-bai-tho-tinh-hay/

Chưa kể nhiều bài thơ tình khác của anh cũng rất hấp dẫn và súc tích, như: Thành phố mưa rơi, Thời áo trắng, Trước núi Mỹ Nhân, Người con gái sông xưa, một góc hồ Tây, Em về biển, Đêm tóc đá, Trăng lặn, Sáng thu vàng, Anh vọng nghe tiếng em hát bên hồ… hay những bài thơ đời sâu sắc: Cô quét lá đêm hồ, Làm ma em vợ, Em bé cầu bơ, Chiều hoàng hôn, Nỗi trăn trở người đi tìm vàng…

Chưa từng có thi nhân nào viết được nhiều thơ tình hay đến thế! Để có thể khái quát được vóc thơ tác giả, lại xin mời hãy tham khảo một trang với tiêu đề: “49 tình thơ sâu sắc của Phạm Ngọc Thái”, qua link: http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=764723

Thi ca Phạm Ngoc Thái dù là thơ tình hay thơ đời, những bài đã đạt độ viên mãn về ý tưởng nhân văn và ngôn ngữ nghệ thuật, mức độ hay của mỗi bài khác nhau nhưng những tình thi có thể cảm hoá được trái tim những người yêu thơ là rất nhiều.

Về bút pháp nhiều bài thơ tình của anh đã được hoà trộn trong khuynh hướng của dòng thơ tượng trưng hiện đại châu Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, mà điển hình là thuyết “tương ứng cảm quan” của nhà thơ tượng trưng bậc thầy Charles Baudelaire (1821-1867) lúc đó chủ xướng. Thí dụ trong bài thơ Người đàn Bà Trắng ở tập “Rung động trái tim”, anh viết:

Chiếc mũ trắng mềm em đội bàu trời
Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc
Đôi mắt em đong những áng mây
Người đàn bà trắng!

Hay là:

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu / Anh cũng không làm chàng Trương Chi suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng / Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau! / Vết thương lòng không dễ đã lành đâu
Những đêm sao buồn, những đêm gió khát / Khúc thơ tình anh lại viết về em! / Người đàn bà ngậm cả vầng trăng…

Như trong lời bình của chính tác giả ở tập Rung Động Trái Tim:

- Mối tình của nhà thơ với NĐBT cũng chỉ là một bi kịch tình. Vết thương trái tim đôi trai gái ấy tháng năm vẫn không hàn gắn lại được, nhưng cái “Con Đường Lông Ngỗng Trắng…” mà nàng Mỵ Châu đã rắc cho chàng Trọng Thuỷ theo, thần tượng thì rất đẹp… để cuối cùng chàng cũng nhảy xuống biển mà chết, hoá thành ngọc trai giữ tình son sắt với nàng. Nó bi ai quá! Cái hay của khúc triết lý trong bài thơ NĐBT là nó đã được viết như đời.

Trong tấn bi kịch tình yêu ấy: dẫu mối tình bị tan vỡ phải chia lìa năm tháng, nhưng tình thơ đã không kết thúc bằng sự bi thảm một định mệnh – Đôi trai gái vẫn phải sống và tồn tai, dù là theo chiều gió cuốn của cuộc đời!… Phải chăng đó cũng là một cuốn tiểu thuyết “cuốn theo chiều gió” như bao bi kịch Tình – Đời trên bờ bến nhân gian? Cả đoạn thơ thấm đẫm tình bật ra trong đời sống đầy mất mát và đau đớn của tình yêu.

Hoặc như bài Sáng Thu Vàng, có những đoạn thơ tượng trưng tả về người đàn bà đẹp, hay tới mức điển hình:

Phảng phất trên đầu đôi nét phôi pha / Đôi mắt em bóng trúc bay xoà…
Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở… / Nghe không gian đổ vỡ cả mùa thu!

Nghĩa là, đôi mắt nàng huyền diệu mơ màng như bóng trúc phủ và nàng phúc hậu dịu dàng tựa vầng trăng, đến cả mùa thu cũng phải đổ vỡ dưới chân nàng. Hay là:

Môi em cười, hoa lá nát đau thêm…

Đến hoa lá còn phải nát đau dưới đôi môi của người đàn bà, thì mới biết nàng đẹp và có sức cám dỗ đến thế nào. Khi anh tả về nỗi cô quạnh vì vắng bóng người yêu:

Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng
Lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi…
(Một góc hồ Tây)

Hình ảnh chiếc lá vàng rơi đúng vào chỗ ngồi của người con gái năm xưa, nó đằm thắm mà xót xa, gợi về một mối tình đã qua. Cảnh rất đời và chứa chất để tạo thành câu thơ hay. Còn trong bài “Em về biển” thì hình tượng về tình yêu đã đạt đến điểm đỉnh của sự thánh thiện và mang tính triết học:

Bờ bãi đời người – Cuộc sống tình yêu
Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân phật-tổ!

Nghĩa là tình yêu đã đưa ta đến cõi nát- bàn. Anh đề cao tình yêu trong chốn dân gian, nơi “bờ bãi đời người…” – xét tưởng khó có thể tìm thấy một biểu tượng tình yêu nào cao hơn thế, để rồi thơ được kết thúc trong nỗi khắc khoải của cuộc đời:

Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay…
Tóc nửa bạc rồi tình vẫn đó, em ơi!

Hình ảnh đầy xúc cảm đó đưa ý nghĩa của bài thơ viên mãn đến tột điểm.

Trong bài thơ tình “Hàng cây lá đổ” chỉ bằng hai câu mở đầu đã ôm trọn cả một khoảng không gian, thời gian cùng với nỗi niềm ly biệt của tình yêu:

Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió
Ta lang thang qua lá đổ hàng cây….

Hình tượng “chôn chiều vào gió…” nó biểu thị một nỗi tình sâu lắng với bước chân lang thang của người thi sĩ dưới một bàu trời hoang vắng, cô đơn. Ngôn ngữ thi ca có thể đặt ngang những câu thơ hay trong thi đàn.

Còn bài thơ “Thời áo trắng”, tác giả nhớ về mối tình thuở ban mai. Có lẽ đó là tình yêu của anh trong thời còn sinh viên, vào một đêm trăng nào đó cùng ngồi học bên người bạn gái:

Ôi, yêu dấu cái thời còn cắp sách / Mắt em cười mùa thu xanh lên
Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học / Tà áo trắng động vào… khe khẽ nát tim anh!

Đó là những cảm giác yêu đầu tiên trong cuộc đời. Tâm trạng vừa xao xiết, bồi hồi, trái tim lại như muốn… vỡ tan!

Tà áo trắng động vào… khe khẽ nát tim anh! /- Là hình ảnh của câu thơ hay, gợi cảm… lắng sâu vào âm hưởng trong đó có thể làm tâm hồn ta run rẩy, để rồi với nỗi lòng khắc khoải, quặn xiết của tác giả muốn níu kéo lại cái thời xa vắng ấy:

Trả lại cho anh một thời áo trắng
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!

Những âm thanh ta không nghe thấy nhưng nó lại rền xiết trong trí não ta, như bão gió tình yêu của buổi đầu đời. Hầu như bài thơ nào của Phạm Ngọc Thái cũng muốn đẩy tình thơ đến tột cùng.

Ở bài “Thành phố mưa rơi” – Thành phố mưa thì ít nhưng lòng tác giả lại mưa nhiều hơn, thậm chí còn bão nữa… khi trái tim anh nhớ đến người yêu:

Gió nhè nhẹ! Em ơi, mưa nhè nhẹ! / Chỉ riêng lòng anh bão không thôi
Cứ để hồn anh trong nước lạnh / Với màu mây hoang trôi đến xa vời…

Trong “chùm thơ tình mưa” anh còn có cả bài sáng tác vào một đêm… không mưa – Nhà thơ nhớ lại một mối tình “gió mây”, xúc cảm trong lần gặp gỡ cuối cùng trước khi người yêu đi… lấy chồng! Anh viết:

Mùa thu đã qua ta nghe lá rụng / Buổi cuối cùng em đến để chia tay
Ngày mai em lấy chồng phải xa vĩnh viễn / Chẳng sao mà, trời có mưa đâu, em ơi?

Đó là bài “Đêm nay trời lại không mưa” - Dẫu là tình gió mây… nhưng thơ rất trong sáng và tha thiết:

Kìa không mưa mà áo anh lại ướt / Mùa thu đi sao nắm mãi bàn tay?
Ai nói tình gió mây sẽ quên trong chốc lát / Bao năm trời hồn anh vẫn mưa bay…

Nhưng hay nhất là đoạn thơ cuối, chỉ cần đọc những câu thơ này cũng đã làm ta yêu say thơ Phạm Ngọc Thái rồi:

Ta lại bước lang thang trên phố ấy / Đến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi / Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi
Bóng với mình đi mãi tới ban mai / Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến… đã chia tay?

“Chùm thơ tình mưa” là một chùm thơ khá nổi tiếng của anh. Xin giới thiệu lại với bạn đọc cùng với hàng loạt các chùm thơ khác như: Chùm thơ áo trắng, chùm thơ tình mùa thu, Thơ tình sông hồ, Thơ tình thời con gái, Thơ tình viết dưới cây, Tình yêu và đàn bà, Thơ tình trong trăng, Chùm thơ tình biển, Tình chiều hoàng hôn... Hầu như chùm nào của anh cũng có bài thơ hay xuất sắc. Bạn đọc có thể thưởng lãm một số chùm thơ đó qua link sau: http://www.haiphong.net.vn/forum.php?mod=viewthread&tid=23247

Phần lớn thơ tình của Phạm Ngọc Thái là tình chia ly và tan vỡ, tác giả nuối lại những kỷ niệm xưa. Cũng chẳng rõ với hàng trăm bài thơ tình như thế xuất phát từ bao nhiêu mối tình, với bao nhiêu thiếu nữ hoặc những người đàn bà trẻ?… Chỉ biết là bài thơ tình nào, dù là kí ức về thuở ban mai hay tình buổi hoàng hôn khi nhà thơ đã bước vào buổi hoa niên, cũng thật tha thiết và tiếc nuối. Có lẽ có thể nói thế này:

Nếu thời tiền chiến ta đã có một Xuân Diệu, thì nay lại có một Phạm Ngọc Thái - Anh có chân dung một nhà thơ tình lớn của dân tộc, một nhà thơ tình hiện đại sâu sắc.

Xin trở lại với một số bài thơ tình hay của anh in trong tập “Hồ Xuân Hương tái lai” vừa mới xuất bản – Nếu ở trong bài Con Đường Phượng Đỏ là bài thơ mà tác giả nhớ về mối tình với một người sinh nữ đã xa xưa, dù chỉ là hoài niệm nhưng vẫn chứa chan tình đời:

Con đường tình đẫm giọt sương rơi / Gió vẫn xạc xào vi vút thổi
Giá hồi ấy chúng mình lấy nhau rồi sinh năm đẻ bảy / Thì đâu còn phượng để anh ru?

Một nữ nhà giáo khi bình bài thơ này của anh, đã viết:

“Bài thơ rất đáng yêu… Tôi hình dung thấy bước chân anh đang lang thang trên cái hè phố nhỏ có hàng phượng vĩ, con đường mà anh vẫn cùng người thiếu nữ năm nào dạo bước bên nhau:

Em mang màu phượng đỏ ra đi…
Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏ
Nơi kỉ niệm của mối tình sinh nữ
Xác ve còn bám ở thân cây

Hẳn đó là những ngày tháng tươi đẹp và hạnh phúc của đời anh. Cô sinh nữ kia chắc cũng phải xinh xắn lắm? Nghe anh mô tả, những kỷ niệm êm đềm từ thưở còn con gái, dù đã xa xôi cứ dồn về làm nghẹn trái tim tôi… “

Và chị kết luận: “ Bài thơ giàu cảm xúc, ý tình thanh nhã, hình ảnh rất mộng mơ. Bút pháp tuy bình dị nhưng ngôn từ vẫn mang vẻ đẹp mỹ học, cùng với ý nghĩa thi phẩm mà tạo thành bài thơ hay, có thể làm rung cảm trái tim người”.

Bài thơ Cô Áo Trắng – tác giả còn đi sâu vào tả cả thế giới bên trong thân thể người thiếu nữ mà thơ vẫn không kém phần hoa mỹ:

Đêm Sài Gòn khi ấy sẽ như mơ / Em bọc trong anh không cần quần áo /
Ôi! Nguyệt của em đây một động sâu huyền ảo / Chứa cả thiên đường và vũ trụ bên trong
Em đừng hỏi vì sao anh yêu em!

Rồi anh dùng cả thiên nhiên làm hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp và đầy sức cám dỗ của nàng:

Anh lại có một cô áo trắng / Vào buổi hoàng hôn hoang vắng cuộc đời
Đôi mắt nàng cả trời thu đẹp lắm / Bàu vú nàng mùa hoa trái sinh sôi…

Đôi mắt thiếu nữ như một trời thu còn bàu vú thì sinh sôi cả một mùa hoa trái – Cảm xúc trong thơ Phạm Ngọc Thái vẫn đời mà sinh động của thứ ngôn ngữ hình tượng mang màu sắc triết học, như có ma lực có thể làm xao động trái tim người.

Phạm Ngọc Thái có nhiều bài thơ tình đẹp được viết ở hồ Tây. Hầu như bài nào cũng có một hương sắc riêng hoà trộn giữa cảnh sắc thiên nhiên và dấu ấn của tình yêu vào đó. Như ở bài “Một góc hồ Tây” đã nói trên, anh còn viết:

Chiều lễnh loãng bóng đa gù bên phố / Mõ chùa buông thay tiếng nói của tình yêu /
Trong sân gạch sư già quét lá / Bước người đi thầm lặng cõi hư hao…
Chiều hồ Tây – Chiều Tây hồ lộng gió / Ta và Người cõi mộng khác chi nhau
Ngưòi quên hết! Còn ta yêu tất cả / Trong tiếng lá bay chầm chậm bóng ta theo…

Cái cảnh chiều lễnh loãng cùng với nỗi lòng chơi vơi, hiu hắt của con người đang bước vào tuổi hoa niên quạnh vắng, bên cây đa gù cùng với bóng nhà sư đang quét lá ở sân chùa… làm cho bài thơ tình chiều phố đầy mùi kinh kệ. Đúng như câu thơ anh đã viết: Mõ chùa buông thay tiếng nói của tình yêu /- Cũng như chính tâm hồn hư hao của tác giả trong những tiếng lá rơi chầm chậm, buồn buồn…

Bởi vì anh cùng với gia đình sống ở ngay bên hồ Tây đó, cho nên những sớm hồ lung linh ánh nước và những chiều sóng vỗ… đã gắn bó trái tim nhà thơ với những kỷ niệm yêu thương trong cuộc đời. Một bài khác anh viết:

Anh ở hồ Tây mênh mông sóng vỗ / Vẫn thấy bóng em trong màu hoa thương nhớ
Ôi, màu hoa son sắt trái tim em / Cái màu tím buồn của những cuộc ly tan!
(Anh vẫn yêu màu hoa tím buồn)

Nhưng bài mà tôi muốn nói nhiều hơn ở đây là bài Anh Vẫn Ở Bên Hồ Tây, một bài thơ tình hay của tập “Hồ Xuân Hương tái lai”, tuy hình ảnh thơ rất chân thực nhưng vẫn cô đúc, dường như trên mỗi dòng thơ đều có máu tim của nhà thơ đang rỏ xuống:

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại / Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi / Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi…

Bài thơ chỉ có 16 câu với 4 khổ thơ, được viết vào lúc cuộc đời tác giả đã về chiều. Cũng là mối tình nhớ lại với một người sinh nữ. Có lẽ lúc đó vết thương tình đã làm cho lòng anh đau nhói, anh viết:

Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt / Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết / Tình thơ ngây… tình sao mãi thơ ngây…

Và anh đứng bên bờ hồ Tây gió thổi, mây bay… bồi hồi nghe tiếng của lòng mình đang trỗi dậy thưở còn tình yêu tuổi trẻ. Hình tượng thơ khắc họa trong câu cuối cùng: Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi…/- Những làn mây trôi kia không chỉ là cảnh vật thiên nhiên mà nó còn biểu thị cho cả khoảng thời gian đang qua và không gian hoang vắng – Đó chính là thứ ngôn ngữ thi ca rất hàm súc và giàu tính biểu tượng của Phạm Ngọc Thái. Hoặc như câu: Hạnh phúc qua như một cánh chim bay / - Nói lên niềm vui ngắn ngủi, thoảng chốc đã không còn. Khi tả về hình bóng người con gái đã xa xưa nay chỉ còn trong ký ức, anh viết:

Người con gái anh yêu nay hoá khói sương tan

Để biểu thị cho sự chìm lấp của thời gian đã trôi vào quá khứ.

Trong những bài thơ tình hay, có một bài viết về người vợ trẻ vào những ngày tháng anh xa quê sống ở nước ngoài làm kinh tế. Đó là bài:Tiếng Hát Đời Thường – Cũng chính là bài thơ về quê hương. Hình tượng mà người ra đi ở phương trời xa lòng thổn thức nhớ chốn quê. Bài thơ được viết như một truyền thuyết: Trong một phố nghèo có người vợ trẻ / Vẫn đón con đi , về …như thường lệ
Vóc em thanh cũng thể mùa xuân / Đôi mắt em, đôi mắt ấy màu đen

Những hình ảnh được gợi lên thân thuộc nhưng vẫn mang tính điển hình, khái quát mà thơ vẫn nhuần nhụy dễ thương. Thí dụ như khi anh tả về gia đình:

Ngôi nhà nhỏ bên đền / Gốc đa, quán báo/ Nơi ngày xưa ai bán chiếu gon (*)
Đêm hồ nước trăng soi / Chiều lá me, lá sấu / Cung thành xưa dấu đại bác còn… (*)

(*) Hình ảnh gợi lại câu chuyện của bà Thị Lộ thời con gái đi bán chiếu gon ở hồ Tây đã gặp ông Nguyễn Trãi… và những vần thơ đối đáp giữa hai người còn truyền tụng đến ngày nay. Hay là hình ảnh cả cung thành Thăng Long Cửa Bắc của cố đô xưa vẫn còn in dấu đạn đại bác từ thời giặc Pháp bắn vào, thành Thăng Long thất thủ, quan Tổng đốc Hoàng Diệu phải thắt cổ để tuẫn tiết.

Một bức tranh quê, tiết tấu thơ đầy chất trữ tình đem theo những hình ảnh cuộc sống thường ngày xúc động trong kí ức nhà thơ :

Ôi quê hương! / Cái phố nhỏ cứ mưa là lầy lội / Cháu gái nhà bên tuổi không đoán nổi
Chưa tối đã khêu đèn bê mẹt thuốc rao đêm / Ngày hai bữa, bữa nào cũng vội.

Chính ở nơi ấy, có người vợ trẻ và con anh đang chờ anh trở về. Bài thơ được kết thúc với tiếng lòng thao thiết trong chốn dân giã ở cố hương. Cái “tiếng hát đời thường” của nhà thơ được cất lên là hình ảnh cuộc đời, hiện thực và chắt lọc:

Con sẻ hót mênh mông đồng nước / Người hát rong hát vui sân ga
Tiếng Hát Đời Thường thường lẫn vào bụi cát
Anh hát cho đời…
Anh hát em nghe…

Nó như khúc dạo của người hát rong trên sân ga, tiếng rao của em bé bán báo. Nhà thơ ví như tiếng của con sẻ mênh mông trên đồng nước… để rồi lẫn vào trong cát bụi cuộc đời. Bài thơ hay, cảm xúc chân thực. Có thể nói, máu và nước mắt của nhà thơ đã rơi lên trang giấy khi viết bài thơ này. Anh tả về hình ảnh người vợ ở quê:

Ai biết chiều nay người vợ trẻ
Đứng mong chồng bên đứa con thơ
Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu…

Để rồi tác giả tự nhắn nhủ với lòng mình và nói với đời, thơ như khúc hát đồng dao:

Tuyết bạc quê người… xứ sở mưa cau…
Đi đâu, đến đâu: Nhớ về phố ấy!

Phạm Ngọc Thái đã để lại cho đời một tình thơ quê hương súc tích.

Tôi định viết thêm một mảng thơ đời của anh, như thế thì bài viết sẽ dài. Hơn nữa, ở đây tôi tập trung nêu lên vấn đề “Phạm Ngọc Thái có chân dung một nhà thơ tình lớn của dân tộc”, cho nên chỉ xin bình thêm một bài thơ nữa của anh, đó là bài Em Bán Xoài - Một bài thơ nói là thơ tình cũng được mà thơ đời cũng được, tác giả viết đầy xúc cảm riêng tư song lại rất sâu sắc trong cõi trần ai, trước thân phận nổi trôi của các cô gái bán xoài mà anh đã gặp bên bờ biển Nha Trang. Những cô gái bán xoài ấy, đó là những kiếp đời cát bụi phải bán cả linh hồn lẫn thần xác mình để sống:

Em bán xoài đi đêm trên cát vắng / Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang
Dưới hàng dừa se sẽ gió ru êm / Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh…
Những đoạn thơ diễn tả vừa đan xen thân phận bọt bèo vừa bao quát cả tính nhân tình thế thái. Ta hãy đọc một đoạn anh viết về em bán xoài đó:

Xoài em chín, đêm tàn canh em đón khách / Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi
Em bán xoài thơm!… Em bán xoài thơm!…/ Biển to lớn – Bóng em nhỏ thẫm
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi / Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?

Cái thế giới đó chính là chốn nhân quần, xã hội mà các cô gái đang đi, đang sống ở đó. Sao nó thật hãi hùng? Linh hồn của các cô thì vất vưởng ở ngoài thế giới con người, có thể nó vương trên những cành dừa quê hương hay vơ vất trong một đám mây nào đó – Những hình tượng thơ khắc hoạ để nói về nỗi kiếp bọt bèo. Đó cũng chính là những hình tượng cho thân phận thấp hèn chốn dân gian. Hoặc một đoạn khác:

Thế giới em đi “vòng thiên la địa võng” / Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi
Xoài em thơm, hương toả mát thân người / Ai mua xoài? Còn ai có mua em?

Có thể nói “Em bán xoài” là một bài thơ tình khá điển hình về kiếp đời lang thang. Nó vừa trộn hoà tình yêu đồng loại của tác giả trong chốn nhân quần, vừa là cảm xúc của nhà thơ trước một cô gái bán xoài nào đó mà anh gặp gỡ. Thơ vừa thân yêu mà xa xót, từ những hình ảnh hiện thực chuyển sang màu sắc tượng trưng và triết lý, thậm chí có chỗ ngả sang cả thơ siêu thực… như ở đoạn kết anh viết về thân phận của những người con gái đó:

Các cô gái đi đêm như các cột đèn
Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy…

Nghĩa là sự tồn tại của các cô gái bán xoài ấy cũng chỉ vật vờ như cát bụi. Đó là những thân phận lạc loài, linh hồn gần như là không có nơi bám víu, sống hôm nay không biết đến ngày mai. Sau đó tác giả trở về với lời ru của anh cùng hàng dừa quê hương quanh các cô gái bán xoài:

Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm…

Cảm xúc thơ được hoà trong mối giao cảm giữa đất trời và cuộc sống con người, khúc triết mà tạo thành bài thơ hay.

Chỉ với thơ tình, rồi mai sau Phạm Ngọc Thái cũng phải có cả trăm bài đứng trường cửu được với đời, trong đó có tới vài chục tình thi của anh đạt vào những cung bậc của các tầm thơ hay vô giá. Phạm Ngọc Thái thực sự là một hiện tượng thơ ca hiếm có ở đương đại này.
Tôi xin dừng bài bình luận của mình ở đây. Mong rằng với thời gian, chân dung và tầm vóc thi ca của anh sẽ được đời đánh giá đầy đủ hơn.

Quí vị có thể thưởng thức 298 tình thơ với thi phẩm dày 400 trang sách của tác giả – Qua tập “Hồ Xuân Hương tái lai”, Nxb Văn hoá Thông tin 2012 – theo link dưới đây:

http://d3.violet.vn/uploads/resources/508/2697259/preview.sw.


Nguyễn Đình Chúc
Thăng Long, mùa đông năm Nhâm Thìn 2012.
ĐC: Ngõ 44 phố Hào Nam, Hà Nội

Đã đăng trên nhiều website trong nước & thế giới - Một số link tiêu biểu sau:

http://datvietjsc.net.vn/index.php?act=newsdetail&pid=8&cid=52&id=2242
http://www.tintuchangngay.org/2012/11/pham-ngoc-thai-mot-nha-tho-tinh-lon-cua.html
http://binhtrung.org/D_1-2_2-237_4-4943_15-2/pham-ngoc-thai-co-chan-dung-mot-nha-tho-tinh-lon-cua-dan-toc.html
https://nghiathuc.wordpress.com/2012/11/06/pham-ngoc-thai-co-chan-dung-mot-nha-tho-tinh-lon-cua-dan-toc/
http://vandanvn.net/vi/news/Cam-nhan-tac-pham/Pham-Ngoc-Thai-co-chan-dung-mot-nha-tho-tinh-lon-cua-dan-toc-Nguyen-Dinh-Chuc-755/
http://hung-viet.org/blog1/2012/11/07/pham-ngoc-thai-co-chan-dung-mot-nha-tho-tinh-lon-cua-dan-toc/
http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-xuoi/3179-phm-ngc-thai-chan-dung-mt-nha-th-tinh-nguyn-inh-chuc
http://vanganh.info/nguyen-dinh-chuc-pham-ngoc-thai-co-chan-dung-mot-nha-tho-tinh-cua-dan-toc/
http://www.vanganhonline.com/2012/11/nguyen-inh-chuc-pham-ngoc-thai-co-chan.html
http://tiengchimviet.blogspot.com/2012/11/nguyen-inh-chuc-pham-ngoc-thai-co-chan.html
http://www.truclamyentu.info/tlls_trang_phamngocthai/phamngocthai_cochandungnhathotinhcuadantoc.htm
http://www.vannghechunhat.net/tin-van-hoc/ly-luan-phe-binh/11046-ph%E1%BA%A1m-ng%E1%BB%8Dc-th%C3%A1i-c%C3%B3-ch%C3%A2n-dung-m%E1%BB%99t-nh%C3%A0-th%C6%A1-t%C3%ACnh-l%E1%BB%9Bn-c%E1%BB%A7a-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c.html
http://vanthientungqtlh.blogspot.com/2012/06/gioi-ca-pham-ngoc-thai.html
http://thuongyenho.violet.vn/entry/show/entry_id/8238139/cat_id/1603417
http://www.saimonthidan.com/?c=article&p=7971
http://www.namuctuanbao.net/870/truyenNgan/truyenngan_14.php
http://llpb.datdung.com/2012/12/pham-ngoc-thai-co-chan-dung-mot-nha-tho.html
http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19619




.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.12.2012 11:59:54 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 20.12.2012 10:53:51
.

NGUYÊN TẮC TRƯỚC HẾT TRONG VIỆC THẨM ĐỊNH THƠ
Phạm Ngọc Thái

Muốn thẩm định cho xác đáng một tác phẩm thơ, nhất đó lại là một bài thơ hay của thi đàn, nguyên tắc trước hết phải có nhận định: Bài thơ đó có khả năng tồn tại hay không? Cũng như muốn xác định tầm vóc chân dung của một thi nhân, trước hết phải xác định thi phẩm của anh ta có tồn tại hay không?
Nếu thơ mà đã không thể tồn tại lâu dài được, thì dù đó là loại thơ gì, cũng xin miễn bàn - Bởi vì thơ không tồn tại, suy cho cùng nó cũng chỉ là loại thơ ra rác, trước sau cũng...vứt đi! Nói cho có chút động viên nhau để các nhà thơ đỡ xót xa là, những thứ thơ không tồn tại ấy chỉ mục đích cổ động phong trào hoặc làm công tác văn hoá nhất thời, rồi thì nó sẽ chết. Hay như cách nói của Gớt, tầng tầng bụi phủ...
Vậy thì bàn luận hoặc hội thảo làm gì? vừa vô lý mà lại mất công. Một bài thơ hoặc tác phẩm thi ca dù thể loại nào, trường phái nào, cách tân đến mấy mà không có khả năng tồn tại trường cửu với tháng năm thì cũng đều sổ toẹt. Không thể coi thi phẩm ấy là một giá trị đối với nền văn học được.

a/. Thí dụ về nhà thơ Hữu Thỉnh: Cơ bản đa phần thơ Hữu Thỉnh là loại thơ không tồn tại, kể cả trường ca. Có chăng chỉ mấy bài kha khá đứng được, nhưng chưa có thể gọi là vững với thời gian. Xin phân tích ít dòng khái quát về mấy bài thơ đạt giá trị hay nhất của ông.
"Thơ viết ở biển" là bài thơ hay nhất, thuộc đỉnh cao nhất của đời thi ca Hữu Thỉnh. Tuy nhiên bài thơ đó cũng mới chỉ thuộc vào loại khá, chứ chưa được là một bài thơ hay toàn bích như: Đây Thôn Vỹ Dạ, Bẽn Lẽn hay Mùa Xuân Chín của Hàn Mặc Tử; Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan; Hai Sắc Hoa Ti Gôn của TTKH; Tiếng Thu Lưu Trọng Lư; Thu Điếu của Nguyễn Khuyến...

Xin phân tích đôi nét về bài "Thơ viết ở biển"". Trước hết nói về hình ảnh hai câu thơ hay nhất bài:
Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn
Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím
Người ta nói "nước chảy đá mòn" chứ không ai nói "gió thổi núi mòn". Có thể do cảm xúc thơ ở đây nếu dùng hình ảnh "nước", thơ không thuận nên tác giả sử dụng hình ảnh "gió"?... Mặc dù vậy, bởi hình ảnh thơ chưa thật sát nghĩa cho nên phần nào vẫn bị giảm độ hay. Còn đối với câu thơ dưới: ví "em" là "chiều" đã nhuộm tím cả anh, nghe chừng hình tượng ví von này vẫn còn gượng gạo? Tại sao em lại là "chiều" - "chiều" có ý nghĩa gì đối với người phụ nữ? Sự liên kết hình ảnh thơ với đời sống chưa sâu sắc, cũng chưa ổn! Tuy nhiên, hai câu đó đọc lên người ta vẫn hiểu, tạm chấp nhận nhưng chưa thật hay và chưa cao.
Mấy câu thơ đầu thì hay:
Anh xa em / Trăng cũng lẻ / Mặt trời cũng lẻ
Nhưng đến hai câu sau:
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn
Nếu chỉ thuần tuý tả về biển để nói về nỗi cô đơn, thì hai câu thơ này hay! Bởi vì, biển mênh mông như thế mà chỉ thiếu một cánh buồm bé nhỏ đã trở nên quạnh vắng, hiu hắt, có thể khen là viết giỏi! Nhưng "biển" và "cánh buồm" trong bài thơ Hữu Thỉnh còn để làm biểu tượng về người con trai và người con gái - Trong văn học người ta thường ví "em là biển cả mênh mông", "tình em biển cả", hay trên biển cả tình em... anh như cánh buồm gặp gió bay ra xa khơi, v. v... Ít khi người ta dùng hình ảnh biển để biểu tượng cho người con trai như trong bài thơ HT. Mà khi hình ảnh "biển dài rộng" đã là "anh" - thì hiển nhiên "cánh buồm" phải là em! Nghĩa là, Hữu Thỉnh ví "anh như biển" còn em..."như cánh buồm". Sự ví von lộn ngược thơ như thế có phần bị gượng ép và khập khiễng, nên hai câu thơ đó tuy chưa hẳn đã hỏng nhưng cũng không thể gọi là hay.
Để cho rõ, xin liên hệ với "Thuyền và biển" là một bài thơ tình hay của Xuân Quỳnh. Trong bài thơ của Xuân Quỳnh, "thuyền" là biểu tượng chỉ về người con trai, còn "biển" là người con gái. Nữ thi sĩ đã viết:
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la...
Hay là:
Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Biển và thuyền nó cứ quấn quít với nhau như đôi trai gái. Để nói về tính cách của tình yêu, khi thì say đắm... lúc lại giận hờn - Xuân Quỳnh đã diễn tả:
Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
Rồi nhà thơ giải thích:
Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?
Hình ảnh thơ đã chứa đựng rất sâu sắc nội tâm bên trong, nó khái quát cả tình cảm, tâm hồn, lý trí và khát vọng:
Chỉ có thuyền mới hiểu / Biển mênh mông nhường nào / Chỉ có biển mới biết / Thuyền đi đâu, về đâu...
Nghĩa là, với hình ảnh thuyền và biển trong suốt bài thơ, Xuân Quỳnh đã diễn đạt mọi chiều của tình yêu đôi trai gái một cách rất lô-gích. Yêu đã thế, nhưng ngay khi nói về sự xa cách hoặc có thể tan vỡ? Hình ảnh thuyền-biển của Xuân Quỳnh cũng được diễn đạt một cách thấm thía:
Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu thương nhớ/ Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền đau - rạn vỡ...
Hình ảnh "sóng biển bạc đầu" lại trở thành sự "bạc đầu vì thương nhớ" của người con gái, hay sự rạn vỡ của con thuyền trong cái biển cả tình yêu... lại chính là để nói về sự quặn đau của trái tim người con trai khi phải xa cô gái yêu của mình - Đấy, thơ của Xuân Quỳnh viết tuyệt đến thế! Chính vì vậy "Thuyền và biển" mới đạt được là một bài thơ hay của thi đàn, để lưu vào nền văn học và lịch sử thi ca.

Giờ ta suy xét về đoạn thơ kết của cả hai bài - Trong "Thơ viết ở biển" Hữu Thỉnh kết:
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến / Vì sóng đã làm anh / Nghiêng ngả / Vì em...
Cảm xúc viết thơ đến đây của HT bị bí, thơ hơi quẩn. Vì là một bài thơ viết ở biển nên tác giả mới lấy hình tượng sóng để gắn vào đó một cái nỗi tình? nhưng hình ảnh:
Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến...
Như phân tích ở đoạn trên, "biển" tác giả đã sử dụng làm biểu tượng về người con trai, mà sóng cũng chính là biển, tức là "anh" rồi - thành ra nghĩa ở câu này sẽ là: Anh đã làm anh nghiêng ngả vì em???... HT hay mắc một thứ bệnh tư duy trong thơ nhiều khi suy xét không kỹ, sử dụng tuỳ tiện, thấy nó cứ có vẻ đẹp là dùng. Hơn nữa hình tượng "... đã làm anh nghiêng ngả vì em": Nỗi thơ chưa được đẩy tới tột cùng, cho nên chưa viên mãn, bài thơ kết bị đuối.

Ta hãy xét đến đoạn thơ kết trong bài "Thuyền và biển" của Xuân Quỳnh - Vẫn là hình tượng "thuyền", "biển" để làm biểu tượng về người con trai và cô gái, nhưng ý tình thơ đã được đẩy lên tới tột cùng:
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố...
Nghĩa là, nếu phải chia ly thì cả đôi trai gái trái tim đều đau đớn và cuộc đời sẽ tan vỡ!
Đánh giá về độ hay cũng như tầm vóc thi ca, có thể nói: "Thơ viết ở biển" của Hữu Thỉnh kém "Thuyền và biển" của Xuân Quỳnh gần một tầm.
Sở dĩ tôi phân tích hơi kỹ một tý, vì đó là bài thơ hay nhất của đời thơ Hữu Thỉnh.
Nhưng đồng thời cũng là để nhấn mạnh về chủ đề thơ "Tồn tại và không tồn tại"? hay là "Tồn tại đến đâu"?

* Xin nói đôi nét về "Sang thu" - Tuy chưa bằng "Thơ viết ở biển", song Sang Thu cũng là một trong đôi ba bài thơ xuất sắc của Hữu Thỉnh. Đó là một bài thơ mà tác giả tả về cảnh một buổi vào thu ở làng quê, hình như đó là vào lúc trời gần tối sau một cơn mưa, mặc dù:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Nhưng:
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Tác giả cũng chỉ mới dừng lại ở dạng của một bài thơ miêu tả thuần tuý cảnh vật thiên nhiên, dù sự miêu tả đó là khéo và có hương sắc. Nào là:
Bỗng nhận ra hương ổi / Phả vào trong gió se
Rồi:
Sông được lúc dềnh dàng / Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ / Vắt nửa mình sang thu
Cả đến khi kết, bài thơ vẫn chỉ lẩn quẩn ở những câu tả cảnh đó:
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Tức là tác giả mới cảm xúc về một khung cảnh thiên nhiên cùng với những sự vật xung quanh mà miêu tả nó ra mà thôi. Tuy sự miêu tả có gợi cảm nhưng cảm xúc thơ vẫn còn nông ở bên ngoài, tư duy trong chưa sâu. Đọc Sang Thu muốn cảm nhận ra một nỗi đời hay một ý tình trắc ẩn nào đó của nhà thơ hoặc của nhân gian, là không có? Bài thơ không đủ sự viên mãn cần thiết để được coi là một bài thơ hay! Lại xin đưa ra vài dẫn chứng cụ thể để minh chứng về một bài thơ hay trong thi đàn.

* Thí dụ "Qua đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan: Một bài thơ thất ngôn bát cú. Sau 4 câu đầu mô tả cảnh vật xung quanh: nào là cỏ cây hoa lá thì mọc chen trong khe đá, mấy chú tiều dưới núi, thưa thớt vài quán chợ bên sông. Nhưng chỉ bằng hai câu ở giữa bài, cũng vẫn là mượn cảnh vật để mô tả, nhưng đã ôm bọc cả nỗi tình về nước, về nhà... của lòng bà gửi trong đó:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Để rồi cuối cùng tác giả lại trở về với cõi lòng đang da diết giữa chốn đèo Ngang hoang vu:
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Ý tình trong thơ đã bộc lộ tâm can, cõi lòng sâu xa nhất của người đi xa. Giọng điệu hình ảnh thơ sống động, điển hình đến mức hoàn bích, cho nên nó mới sống mãi với thời gian và nền văn học của nước nhà.

Lại quay trở về với "sang thu" của Hữu Thỉnh - Tuy tả cảnh có đẹp nhưng nghĩa thơ thì còn quá ít, nó chỉ như một bóng mây có vân sắc bay ngang qua bầu trời thơ mà thôi.
Tuy vậy thi phẩm vẫn được coi là bài thơ miêu tả khá, đứng được... nhưng chưa đủ sự sâu sắc để tạo thành một đài thơ hay như các bài thơ đã kể trên.

* Tôi xin dẫn chứng bài "Mùa xuân chín" của Hàn Mặc Tử - cũng chỉ là một bài thơ tả cảnh mùa xuân:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan / Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng / Sột soạt gió trêu tà áo biếc / Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.
Nhưng tình thơ được phát triển đầy ắp nỗi lòng, tình làng xóm quê hương của người thi sĩ. Cái cảnh mà thi nhân vẽ lên trong buổi sáng mùa xuân ấy hết sức đời và sống động:
Bao cô thôn nữ hát trên đồi / Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
Hay là khi tả về tiếng hát:
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi / Hổn hển như lời của nước mây...
Không phải chỉ là nước mây hổn hển, mà chính là lòng thi nhân hổn hển... vì xúc động đó! Tất cả dội vào sự thiết tha của người thi sĩ:
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc / Xem ra ý vị và thơ ngây...
Để rồi đến khi kết thúc thơ, lòng thi nhân trào lên da diết một nỗi nhớ thương về làng quê và những người thân? Vì lúc này thi nhân đang phải điều trị bệnh tại Gành Ráng, Qui Nhơn... một nơi biệt lập xa cách với sự sống con người. Cảm xúc ấy được thăng hoa và đẩy đến tột cùng:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
"Chị ấy" là hình ảnh người chị ruột mà trong cuộc sống thường ngày vẫn chăm sóc thi nhân hiện lên bên bờ con sông mộng. Hình ảnh nắng chang chang chẳng những chỉ hiện lên khung cảnh của làng quê chói chang trong ý tưởng thi nhân, mà nó còn đẩy tình thơ đi đến sự viên mãn tột cùng. Một bài thơ tả cảnh mùa xuân nhưng nó chứa chất, ôm bọc một nỗi tình đời sâu sắc như thế mới được gọi là thơ hay!
Chứ như những câu kết trong "Sang thu" của Hữu Thỉnh:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Vẫn chỉ là những câu thơ tả cảnh thuần tuý, hơi hơi cảm... chứ đã có nỗi tình đâu mà viên mãn để được gọi là thơ hay? Chẳng qua nó được lấy vào sách giáo khoa cho trẻ con học, rồi thi cử... mà có tiếng, trong văn đàn bài thơ này cũng chỉ bình bình...

* Lại ví dụ như "Thu Điếu" của Nguyễn Khuyến - Viết về một đêm thu ngồi thuyền câu cá. Cảnh tình thì hiu hắt, với nỗi cô đơn của người ẩn sĩ... khi ông chán nơi quan trường từ quan về nương náu chốn thôn hương:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo...
Nhất là trong hai câu kết:
Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Ta thấy chẳng những hình ảnh thơ chứa cả cuộc sống bên trong rất sống động, thơ như có thần và cuộc đời... một tâm trạng khắc khoải chênh vênh trong cái đêm thu ấy. Sâu sắc vậy nên Thu Điếu mới trở thành bài thơ hay!

* "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" của Hữu Thỉnh - Một bài thơ viết theo kiểu anh hùng ca của một thời, không đủ giá trị để đạt tới là thơ trường cửu đối với nền văn học. Nghệ thuật ngôn ngữ thi ca bình thường, Giọng điệu viết từa tựa như kiểu đồng ca, hò vè... chưa có gì thật đặc sắc. Qua thời gian thì nó cũng sẽ nằm yên trong đống bụi phủ mà thôi.

* Ở đây tôi không muốn nhắc đến bài thơ "Hỏi" của Hữu Thỉnh - Mà một dạo bài thơ đó cũng đã từng được dư luận tán dương?
Bởi, theo bài viết của tác giả Đại Lãng Du Tử đăng trên vietnamnet.vn rằng: Bài Hỏi của nhà thơ Hữu Thỉnh đã đạo từ bài "Thượng đế đã làm ra mặt trời" của nữ thi sĩ người Đức Christa Reining (sinh 1926), qua bản dịch ra tiếng Việt. Sau đó cả Trần Mạnh Hảo cùng Nguyễn Trong Tạo đã viết bài tố giác trên một số trang internet.
Xin trích lời nhà thơ & bình luận Trần Mạnh Hảo đã được đăng tại website vnthuquan.net vào ngày 21/5/2007, như sau:
"... Qua bằng chứng nêu lên thì chính xác đến không thể chối cãi, bài thơ Hỏi không phải của nhà thơ Hữu Thỉnh mà chính của nữ nhà thơ Christa Reining năm nay đã 80 tuổi, đã từng được giới thiệu trên báo Văn học Nước ngoài từ năm 2002. Bài thơ này đã được nữ thi sĩ Đức viết từ trước năm 1963, năm ông Hữu Thỉnh 19 tuổi chưa từng xuất hiện trên thi đàn? Chuyện động trời này chúng tôi không dám tin là sự thật. Một người mũ cao áo dài, thương hiệu không phải chỉ là của nền văn học Việt Nam, mà còn là thương hiệu của chế độ như ông Chủ tịch HNVVN Hữu Thỉnh, lẽ nào lại đi ăn cắp thơ của người khác làm thơ mình?...".
Còn nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thì viết:
" ... Việc cóp nhặt thơ, ăn cắp thơ, đạo thơ... những tưởng chỉ có những người mới tập làm thơ, hay những kẻ hám danh "trẻ người non dạ" mới phạm tội. Vậy mà câu chuyện đạo thơ ấy nó lại rơi đúng vào ông Chủ tịch Hội nhà văn - người đã từng đoạt một bồ giải thưởng về thơ của Hội nhà văn. Liệu người ta có tin được những giải thưởng ấy nữa hay không? Biết nó là giải thật hay giải dổm?...".
Một bài thơ đã đaọ của người khác... thì bàn làm gì cho rợm cả trang viết ?


Như thế là tôi đã nói hết những bài thơ đứng đầu trong những tác phẩm thơ ngắn của Hữu Thỉnh. Ngoài ra ông có viết đôi trường ca. Trường ca đáng nói hơn là "Trường ca biển" mà cùng với tập "Thương lượng với thời gian", ông đã mang ra để chiếm lấy cái giải quốc gia lớn nhất vừa qua, hoặc được ban bệ do chính ông nặn ra tâng bốc để đưa đi lấy cái giải quốc tế chăng nữa? Tôi cam đoan rằng, tất cả trường ca của Hữu Thỉnh không tồn tại được với thời gian. Trường Ca Biển là một tác phẩm viết kiểu ngợi ca của "chủ nghĩa anh hùng cách mạng", cấu tứ còn làm nhàm , viết ào... tầm vóc trung bình, lời nhiều nghĩa ít, lan man... không có khả năng lưu được trong nền văn học nước nhà. Vì là thơ của ông Chủ tịch HNV nên cố đọc để biết, chứ nếu trường ca đó của một nhà thơ khác, chắc chỉ xem nổi một, đôi chương.. rồi cũng sẽ bỏ đi. Rồi đây tôi sẽ viết một bài bình cặn kẽ về "Trường ca biển" này của ông, của một tay viết chuyên nghiệp nhưng... trình độ thường - Để thấy rằng: Tại sao rồi nó cũng chỉ là một trường ca... ra rác!
Theo nhận biết của tôi: mai sau hầu hết thơ Hữu Thỉnh, kể cả những tập thơ được giải thưởng HNV hay quốc tế... sẽ theo Hữu Thỉnh xuống mồ, may ra có vài ba tình thơ gì đó đứng lại được trong những năm tháng gần.
Nếu đã không có nổi một tập thơ nào tồn tại đối với nền văn học, thì khi đó không biết nên xếp chân dung Hữu Thỉnh thuộc loại nhà thơ nào đây?
Tôi vẫn đang nhấn mạnh về chủ đề thơ "Tồn tại và không tồn tại"? hay là "Tồn tại đến đâu"?

b/. Nói thêm về một nhân vật đang có tên tuổi của HNVVN đương thời, nhà thơ & bình thơ Vũ Quần Phương -
Cũng như Hữu Thỉnh, cơ bản thơ Vũ Quần Phương không có khả năng tồn tại, tôi vẫn thường gọi: đó là những thứ thơ ra rác, hoặc gần 100% như thế. Một người có khả năng cảm nhận được thơ hay, đi tìm trong hàng trăm các bài thơ của Vũ Quần Phương, cũng khó mà tìm nổi một bài thơ thực sự hay của thi đàn để mà bình. Quanh đi quẩn lại vẫn chỉ một tý... "Đợi"!
Bài thơ Đợi chính là đỉnh cao độc nhất chênh vênh của đời thi ca của Vũ Quần Phương. Tôi xin viết lại toàn bộ bài thơ đó:
Anh đứng trên cầu đợi em / Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm / Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy / Nước chảy bên lòng, anh đợi em.
Anh đứng trên cầu nắng hạ / Nắng soi bên ấy lại bên này / Đợi em. Em đến? Em không đến? / Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây!
Anh đứng trên cầu đợi em / Đứng một ngày đất lạ thành quen / Đứng một đời em quen thành lạ / Nước chảy... Kìa em, anh đợi em!
Cái hay của bài thơ này là những hình ảnh như: nước chảy, trên cầu đứng đợi, nắng hạ soi rồi nắng tắt anh còn đứng... đều trở thành biểu tượng "chờ đợi của tình yêu"! "Cái nước chảy" suốt ngày đêm ấy để nói về thời gian, "nắng" biểu tượng ở không gian, nhất lại là nắng hạ, nó nói về sự chờ đợi tha thiết, mỏi mòn mà em không thấy tới, rồi tác giả đúc vào trong đoạn thơ kết là hình ảnh của những câu hay nhất bài:
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em quen thành lạ
Nước chảy... Kìa em, anh đợi em!
Tuy thế bài thơ mới nêu lên được khái niệm về cái sự chờ đợi, chứ nó chưa có nội tâm đời sống, thậm chí chưa có cả tình cảm, tâm lý của sự chờ đợi. Ngay cả với "nhân vật chờ đợi" là nhà thơ ở đây, cũng mới chỉ là một ý tưởng còn cứng nhắc, chưa phải là người bằng da, bằng thịt của VQP. Hay nói một cách hình ảnh, hình tượng bài thơ như một người hàng mẫu bầy trong tủ kính, chứ chưa có sự rung cảm trái tim của một con người đang sống. Bởi vậy bài thơ chưa đạt độ xung mãn để trở thành một bài thơ hay thực sự của thi đàn, như những bài thơ của các thi nhân mà tôi đã dẫn chứng ở trên.
Tuy nhiên "Đợi" đã có dáng của một đài thơ, nhưng đài chưa cao. Mới lại... Vũ Quần Phương cũng chỉ có một độc chiêu như thế, dăm ba bài khác như: Trước biển, Áo đỏ, Thuyền Trương Chi đang trôi, Nói với em, hay Vầng trăng trong chiếc xe bò... chỉ nhâm nhi được tí này, tí nọ, rồi cũng sẽ vào cát bụi cả thôi! Đúng như lời tự hoạ trong một bài thơ ông đã viết:
Anh còn gì cho em...
Dăm câu thơ nhoà nhạt
Sẽ còn đúng hơn nếu ông viết:
Anh còn gì cho em?
Đời thơ anh cát bụi...
Và cũng như cái tên đề mà ông đã đặt cho một tập thơ của mình: "Giấy mênh mông trắng" - Đúng như vậy, dù VQP có viết nhiều, sáng tác nhiều thơ hơn thế nữa, thì chân dung thơ của ông vẫn chỉ là "giấy mênh mông trắng"...
Bởi thơ ông không có khả năng tồn tại với thời gian, để lưu lại cho nền văn học nước nhà! Như vậy, đời thơ Vũ Quần Phương gần như con số "O" tròn trĩnh rồi!...

May ra ông có thể lưu lại chút gì đó trong văn đàn, là mảng bình thơ chăng? Mặc dù những bài bình của Vũ Quần Phương cũng chưa thật sự được thuyết phục lắm. Khả năng thẩm định thơ của ông vẫn còn hạn chế, nhất là đối với thơ hiện đại. Tôi xin lấy thí dụ về một bài thơ mà VQP đã bình - Đó là bài "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử".
Khi bình đến đoạn thơ thứ hai của bài:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.
Nhà bình thơ VQP nhận xét:
" Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một... thoáng nhìn bài thơ có vẻ đầu Ngô mình Sở "...
Hay là: "Những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hoá ra lại vẫn có chỗ liền nhau..." - Rồi nhà bình thơ cho rằng:
" chỗ liền nhau ấy trong thơ HMT chỉ là nhờ vào tâm trạng xúc cảm " - Cảm nhận thơ như thế chưa đúng, tức là chưa hiểu hết về thơ HMT?
HMT là một thi nhân viết thơ theo tư duy của nội tâm. Xúc cảm chỉ làm đà cho mạch thơ, hơi thơ tuôn chảy, còn ý tứ thường được diễn tả khá mạch lạc, rõ ràng. Mượn cảnh làm biểu tượng mà diễn đạt nỗi tình thơ...
Đây Thôn Vỹ Dạ là bài thơ mà thi nhân viết về tình yêu đơn phương của ông đối với nàng Hoàng Cúc. Huống chi giờ đây do bị bệnh tật hiểm nghèo, thi nhân phải đi điều trị ở Gành Ráng, một nơi cách biệt với cuộc sống con người. Mối tình ấy càng trở nên xa cách:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Cũng có nghĩa: Anh theo đường anh, em đường em / Duyên phận đôi ta có thế thôi... /- Cái hình ảnh dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay phật phờ bên sông kia, nó cũng để chỉ một tâm trạng buồn tẻ, cô đơn của thi nhân. Còn về hình ảnh con thuyền ở trên bến sông trăng, dù là cảnh mơ, ảo... trong sự hoài tưởng về chốn cũ, người xưa... thì cũng là cảm xúc đã được thăng hoa. Vậy thì toàn bộ bài thơ hoàn toàn từ đoạn một tới đoạn ba, ý tình vẫn được nối với nhau, liên kết rất chặt chẽ - Đoạn thơ hai chính hình ảnh nói về duyên phận của hai người, là sự liên kết ở thế giới bên trong thơ, chứ không phải "đầu Ngô mình Sở" như VQP nhận xét. Hình tượng về gió và mây, đến dòng nước và bông hoa bắp lay...của hai câu thơ này sâu sắc, cũng hay không kém gì những câu thơ kiệt xuất trong bài thơ "Bẽn lẽn" nổi tiếng của Ông:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi...

Tôi lại xin liên hệ với bài "Qua đèo Ngang" của BHTQ - Bốn câu đầu của bài thơ, Bà Huyện chỉ tả về quang cảnh của đèo Ngang như đã nói trên - Nhưng đến hai câu 5-6:
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia...
Thì hình ảnh con chim cuốc và cái gia gia... là để nói về cái nỗi nước, tình nhà của bà. Bởi theo truyền kể, Bà Huyện không phải chỉ là người đàn bà đảm đang việc gia đình, chăm lo đến chồng con, mà Bà vẫn thường giúp Ông Huyện xử nhiều vụ kiện chốn công đường, rất quan tâm tới việc nước - Nhưng đến hai câu sau thì tứ thơ lại quay trở về thực tại ngay:
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Cũng rất giống với trình tự lập tứ như trong bài Đây Thôn Vỹ Dạ - Đoạn thơ cuối HMT trở lại với thực tại... tự thán về mình:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Vậy cứ theo như cách biện luận của VQP thì bài thơ Qua Đèo Ngang này cũng đầu Ngô mình Sở à? Mặc dù bài thơ của BHTQ theo dòng thơ cổ phương Đông, còn bài thơ của HMT là thơ hiện đại, ảnh hưởng sâu sắc trường phái thơ tượng trưng của châu Âu.
Tôi đã xem khá nhiều những bài bình thơ hiện đại của Vũ Quần Phương, Ông hay sử dụng các tiểu xảo về ngôn từ, cách cú... có tính chất bày vẽ phô diễn, nhưng lời bình phẩm lại chưa thấu tình, đạt ý, nên những tiểu luận phê bình thi ca của ông tồn tại được với nền văn học mai sau chắc cũng không nhiều.
Tôi vẫn đang nói về ý nghĩa cũng rất quyết định đối với một bài thơ, hay một tác phẩm văn học nói chung là "Tồn tại hay không tồn tại"? và "Tồn tại đến đâu"?


.

<bài viết được chỉnh sửa lúc 20.12.2012 10:57:13 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 18.01.2013 11:31:02
Bài này tôi đã sửa lại & đăng ở các nơi trên thế giới

TẬP THƠ "ĐÔI HỒN" VÀ MỘT THIÊN DIỄM TÌNH
Phạm Ngọc Thái

Tập thơ "Đôi hồn" là sản phẩm thi ca của một mối tình đã được thăng hoa giữa thi nhân Hàn Mặc Tử (HMT) cùng nữ sỹ Hoàng Yến - Mai Đình (MĐ), mối tình ấy diễn ra cũng như thơ của cả hai người đều đã được viết từ trước đây hơn nửa thế kỷ.
Bây giờ ở trên đỉnh cao Gành Ráng, Qui Nhơn bên bờ biển Đông, mộ của thi nhân HMT quanh năm sóng phủ. Thơ của Người đang được nhân gian truyền tụng như những vì sao sa sáng láng. Đúng như lúc đương thời Người viết:


Với sao sương, anh nằm chết như trăng


Nhưng khi còn trong cõi sống, Người đã phải chịu bao nhiêu khổ hạnh vì bệnh tật. Tạo hoá đã cướp đi một tài hoa lúc đương độ rực rỡ, khi cuộc đời Ông mới chỉ vừa 28 tuổi. Ngẫm thế: kiếp người có khác gì kiếp nợ! Phải chăng muốn hoá siêu nhân... thì trước hết con người phải chịu đựng những sự đầy đoạ ở phàm trần? Nhưng thế giới sinh linh này cũng thật huyền diệu và bí ẩn, chính thiên diễm tình ấy lại nẩy nở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của cuộc sống. Khi mà thi nhân lâm vào căn bệnh phong ác nghiệt, thì nàng Mộng Cầm (người con gái quê Phan Thiết đã từng một thời yêu thi nhân) lại bỏ đi lấy chồng... đẩy thi nhân thêm vào cảnh đau đớn, cô đơn.

Trời đất đã cho một ái nữ khác đến với Người. Theo như lời kể của Đắc Trung (trên báo Phụ nữ Việt Nam số 28 ra ngày 11-1-1994 ), thì ái nữ ấy:
"Xuất thân trong một gia đình quan lại quê Nông Cống, Thanh Hoá. Thân phụ nhận chức tại Phan Thiết, mười sáu tuổi sống bên cha, sau này vào ở Sàigòn. Cô thiếu nữ ngây thơ xinh đẹp, rất được cưng chiều...)
Chính là nữ sỹ Hoàng Yến - Mai Đình. Nàng lại còn thông tuệ về văn thơ cùng với Người để tạo nên một thiên bi tình khả ái, với tập thơ "Đôi hồn" lai láng yêu đương. Tập thơ ấy được thi nhân cùng người nữ sỹ giao lưu trong mối tơ duyên và viết suốt ba năm (1937-1940): gồm 54 bài (kể cả hơn chục bài thơ mà bà Mai Đình viết sau này, khi HMT đã qua đời ngày 11-11-1940).

Đến nay năm tháng trôi qua, cuộc đời riêng chung biết bao biến đổi, nhưng lòng người nữ sỹ vẫn:

Nói sao cho xiết nỗi buồn?
Một trời binh lửa, một hồn cô liêu.
Hồn tôi theo đám mây chiều,
Tìm chàng trong một túp lều tranh con.
( Âm thầm - MĐ )


Đó chính là cái túp lều tranh ở Gò Bồi trên một khu cát rộng phía Tây thành phố Qui Nhơn. Cách đây trên nửa thế kỷ (1939) người nữ sỹ đã đến thăm thi nhân khi ông mắc bệnh hiểm nghèo, phải sống lẩn tránh cả chính quyền địa phương. Vì bệnh lây nên chính quyền buộc gia đình phải đưa HMT vào bệnh viện "cùi" Qui Hoà để chữa bệnh và ẩn náu, cách biệt tất cả mọi người. Đó cũng là lần đầu tiên Nàng mới gặp mặt người yêu, vì trước đó đôi năm tình yêu của hai người chỉ trao đổi qua các áng thơ, như Nàng kể lại:
- Đến trước túp lều tranh xơ xác, xiêu vẹo... vén tấm mành che cửa... một người đàn ông nhỏ bé, gầy yếu, ngồi trên chiếc giường chõng, cạnh bàn viết. Bàn là một tấm gỗ thùng đặt trên khung chân cũ. Người đàn ông ngước đôi mắt đen sáng long lanh nhìn tôi dò hỏi. Tôi đứng lặng đi. Hàn Mặc Tử đấy ư? ...

Nàng tả về đôi mắt trong sáng như hai ngôi sao của thi nhân, tấm thân thì ốm yếu tàn tạ, nhưng thông minh và cám dỗ. Vâng, nàng đã yêu trong hoàn cảnh ấy:


Em theo mây gió anh ơi,
Em đi đi mãi vào nơi vô hình...
Yêu anh trên bước phiêu linh,
Để lòng bớt khổ, để tình bớt đau.
( Biệt ly - MĐ )


Mặc dù chỉ là một nữ nhi khuê các nhưng sức mạnh tình yêu của nàng không gì ngăn cản nổi, hoàn cảnh càng khắc nghiệt thì tình nàng càng đằm thắm, thiết tha:


Yêu anh trong lúc anh lâm chung,
Mới thấy tình em yêu lạ lùng.
( Anh hứa đi anh - MĐ )


Vượt lên trên tất cả sự chỉ trích của người đời:

Kịp nghĩ miệng đời hay mỉa mai,
Tảng lờ ngừng bước và im hơi,
Mộng hồn em gửi theo chiều gió
Để được gần anh ngỏ ít lời.
( Biết anh - MĐ )

Ta cảm thấy rợn tóc gáy, không thể không khâm phục ý chí quyết liệt trước lời tuyên bố của nàng:

Tôi chẳng sợ cảnh nghèo hèn đói khổ,
Tôi không kiêng thứ da thịt khác người
(vì HMT mắc bệnh hủi)
Vì lòng tôi, tôi chỉ biết yêu thôi !...
(Tuyên bố - MĐ)


Hoàn cảnh bi ai, sầu thảm thế nhưng tình nàng không chỉ đằm đìa mà còn trong sáng, mộng mơ một cách lạ kỳ:
Yêu anh chết nửa cõi lòng,
Gửi hồn bay bổng mấy tầng mây xanh.
(Tơ sầu - MĐ)


Còn thi nhân HMT, người yêu của nàng cũng mộng mơ không kém:
Dưới túp lều tranh, trên chõng tre,
Tứ bề cửa khép với phên che,
Kéo mền ủ kín toàn thân lại,
Để thả hồn bay gửi mộng về.
(Hãy đón hồn anh - HMT)


Cảnh ngộ thì khổ sở, nghèo hèn nhưng tâm hồn họ thật thanh tao, hoành tráng biết bao. Đúng là: "Một túp lều tranh, hai trái tim vàng"! Mai Đình đáp lại:
Bây giờ em đã bên anh
Đói nghèo em chịu, rách lành cũng vui.
(Em vẫn bên anh - MĐ)


Tuy vậy, nhưng nào họ có được ở bên nhau! Chỉ thăm người yêu ít ngày rồi nữ sỹ lại phải chia tay về gia đình tận Sàigòn. Hàn Mặc Tử với bệnh tình đành nằm lại trong túp lều tranh ở Qui Nhơn, người phương Bắc kẻ phía Nam. Hoàn cảnh đã khắc nghiệt mà không gian ly biệt thì xa vời, nhớ nhau cũng chỉ biết:
Anh đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười.
(Lưu luyến - HMT)


Nhưng theo dõi hồn thơ ta có cảm nhận như đang gặp một cuộc tình duyên nơi chốn cung động thiên thai nào đó, chứ không phải ở trần tục đời thường. Thi nhân viết:
Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt.
Hay là:
Quí như vàng, trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái thế...
(Thắm thiết - HMT)


Nàng thì ví mình như Ngọc Nữ còn chàng là Kim Lang: vì để rơi chén vàng cho nên Ngọc Hoàng đẩy xuống trần thế, mặc dù nay đã hết hạn họ vẫn quyết ở lại bên nhau không về tiên giới:
Ta đã ở bên chàng nơi cõi tục,
Quyết không về điện ngọc sống cô đơn!


Để rồi:
Bốn bàn tay cùng chung xây hạnh phúc,
Túp lều tranh hơn cõi thiên đường.
(Hạnh phúc - MĐ)


Và tình yêu ấy đã đạt đến độ say đắm, giông bão khôn cùng:
Tôi ôm nàng, muốn cắn chết nàng đi!
(Thắm thiết - HMT)

Nữ sỹ Mai Đình kể lại khi họ gặp nhau:
- Vì sợ lây bệnh cho người yêu, nên Hàn Mặc Tử không dám đụng vào người Mai Đình...
Nàng nói:
- Những phút ấy mặt Hàn Mặc Tử đỏ rần lên rồi tím đi, còn Mai Đình cũng chết cả ruột gan không biết phải xử trí làm sao?


Thật là đau khổ và hy vọng:
Anh lành anh sẽ tặng em chi ?
Tặng cả đời anh cả hồn thi,
Với tất những gì anh ước vọng,
Cả hồn, cả xác, cả tình si.
(Anh hứa đi anh - MĐ)


Nhưng cũng như tình thường của bao đôi trai gái khác, tình yêu không chỉ có quấn quít "đôi hồn" mà cũng có lúc ghen tuông:
Em muốn thu anh thành vật nhỏ
Để em nắm kín ở trong tay...
Cho các cô nường hết ngất ngây.
(Ghen - MĐ)


Trong bài "ghen với Mộng Cầm" ta còn nhận thấy mặc dù Mộng Cầm là người con gái đã đến trước, được hưởng đầy đủ khoái lạc của tình yêu lúc thi nhân đang lành lặn, mà lại ruồng bỏ khi Người lâm bệnh. Nhưng với tư cách của Mai Đình vẫn tỏ ra là người tao nhã, trang trọng: ghen đấy mà không phỉ báng còn cảm thông với lẽ đời thường của một tấm lòng nhân hậu, khoan dung độ lượng:
Mộng Cầm hỡi, nàng là tiên rớt xuống,
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay, sung sướng biết bao vàn,
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ thiếu?
(Ghen với Mộng Cầm - MĐ)


Đã bộc lộ tình cảm day dứt của một người con gái tha thiết yêu mà tâm sinh lý không được thoả mãn. Hàn Mặc Tử có lúc cũng không ra khỏi sự nghi kỵ, dằn vặt đời thường. Có lúc ông nghi oan người yêu có tình ý với người khác, buông ra những lời thơ hờn giận:
Mai tiên nữ! Đọc hồn ta cho rõ:
Đau không rên, chết cũng mặc mình thôi!
Mối tình si đã lỡ vỡ tan rồi,
Ta chỉ biết lặng nhìn thiên hạ khóc...


Hay là:
Tim hồn ta quằn quại giữa lầm than
Để trở lại những ngày đầy huyết lệ!
(Thầm lặng - HMT)


Sự mặc cảm đó cũng dễ hiểu: bản thân ông bệnh tật, người yêu thì trẻ đẹp lại ở cách xa...
Hôm nay trong lẽ sống thường tình trước mọi sự đổi thay, thăng trầm nhân thế... ta thưởng thức những tri âm, tri kỷ ấy càng thấy thiên tình duyên trác tuyệt này như một sự lạ cõi đời. Trong thời buổi kinh tế thị trường chi phối cả trong tình yêu trai gái và những mối quan hệ xã hội khác, thì cuộc tình xưa hẳn như một đài thơ diễm lệ, cho ta ngưỡng mộ và cảm phục!
Có phải chăng duyên ấy, phận này cũng đã là tiền định như khi nữ sỹ khóc bên mộ Người vào tháng 4-1941 (khoảng nửa năm sau khi thi nhân tạ thế):


Em đã về đây bên mồ cát trắng
Túp lều tranh muôn thưở đã chung đôi
Tự nghìn năm thượng đế định cho rồi...
(Em đã về đây - MĐ)


Hay cảm vì phận mỏng, tình dở dang, nàng than:
Anh ơi, xin hãy chờ em với!
Hết nợ rồi em sẽ trở về.
(Chắp lại đôi hồn - MĐ)


Ta chạnh nhớ tới câu thơ của cụ Nguyễn Du khi nàng Kiều than ở sông Tiền Đường:
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây!

Về thơ của thi nhân HMT thì chúng ta đã biết nhiều. Ở đây, qua tập thơ đôi hồn" còn cho chúng ta thưởng thức tài hoa của nữ sỹ Hoàng Yến - Mai Đình... như Kiều Văn đã nhận xét trong lời giới thiệu tập thơ:
- Đó là một giọng thơ giản dị, chân thực mà sâu sắc, nồng nàn... Là thứ thơ huyết lệ. Hàm chứa những tình cảm cao quí thiêng liêng, thuỷ chung...Xứng đáng là tiền bối của thơ tình Xuân Quỳnh và các nữ sỹ khác sau này.
Nói thế có lẽ vẫn chưa đủ, bút pháp thơ của nữ sỹ Mai Đình có lúc quặn thắt, đau đớn như Nàng viết:
Nguyện để tang anh suốt một đời!


Nhưng trước tình yêu non sông đất nước, ta lại còn chứng nhận một phong cách cũng thật hào khí:
Chút nợ ân tình trả chưa xong
Đành mang tâm sự mãi bên lòng
Sắt son đã chẳng cùng nhau trọn
Em phải đem mình gửi núi sông.
(Trăng cũ - MĐ)


Gợi ta nhớ tơi âm hưởng những câu thơ đầy hùng khí, trác tuyệt của nữ sỹ Ngân Giang trong bài "Trưng nữ vương":
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi.



Vào năm 1996 - Báo chí đã đưa tin về nữ sỹ Mai Đình... khi đó Bà bước vào tuổi thọ 80, Bà đã đến Gành Ráng, Qui Nhơn một lần nữa để thăm lại mộ của cố nhân. Một lần nữa, những giòng lệ xót thương lại chảy tràn trên đôi mắt Bà như thưở còn con gái, như câu thơ Bà đã viết:
Tóc trắng, tình xanh mộng chửa tàn.
Khi đó tuy tuổi đã già, cũng theo lời kể của Đắc Trung:
- Nữ sỹ Mai Đình vẫn giữ được những nét đẹp kiêu sa, quí phái. Mái tóc dài bạc trắng chải rất mượt, búi rất gọn. Da hồng, mắt sáng, miệng tươi. Giọng nói nhỏ nhẹ mà đầy âm hưởng. Khăn hoa áo lụa hảo hạng...
Để kết thúc bài viết về thiên tình ca trác tuyệt có một không hai này, tôi xin trích dẫn những lời thơ trăng trối của thi nhân Hàn Mặc Tử viết để lại cho người yêu. Đấy cũng là những bút tích cuối cùng, trong thi phẩm cuối cùng của Ông lưu lại cõi trần gian - Người đã "Trút linh hồn" trước lúc đi xa:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây,
- Còn em, sao chẳng hay chi cả?
Xin để tang anh đến vạn ngày!



]Phạm Ngọc Thái
(Đã đăng trên báo Người Hà Nội)

Đăng tải trên nhiêù website như sau:


http://www.banvannghe.com/D_1-2_2-94_4-2871/
http://duongnguyen.vnweblogs.com/post/12642/399415
http://trangvhntnguoncoi.wordpress.com/
http://vandanvn.net/vi/news/Cam-nhan-tac-pham/Tap-tho-Doi-Hon-va-Mot-Thien-Diem-Tinh-Pham-Ngoc-Thai-1022/
http://nguyenduyxuan.net/tac-gi-tac-phm/vn-hc-cuc-sng/3410-tp-th-qoi-hnq-va-mt-thien-dim-tinh-phm-ngc-thai
http://www.vannghechunhat.net/tin-van-hoc/ly-luan-phe-binh/11158-tap-tho-doi-hon-va-mot-thien-diem-tinh.html
http://llpb.datdung.com/2013/01/tap-tho-oi-hon-va-mot-thien-diem-tinh.html
http://vannghequangtri.blogspot.com/2013/01/tap-tho-oi-hon-va-mot-thien-diem-tinh.html
http://binhtrung.org/D_1-2_2-204_4-7085/tap-tho-doi-hon-va-mot-thien-diem-tinh.html
http://vannghecuocsong.com/home/vi/news/Nghien-Cuu-Ly-Luan-Phe-Binh/Tap-tho-Doi-hon-mot-thien-diem-tinh-757/
http://vannghesongcuulong.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19734
http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19734
http://www.diendantrunghochnc.com/phpBB2/viewtopic.php?t=737&postdays=0&postorder=asc&start=2480&sid=a8b28a517d01977f4ae22f9b823f8d21
http://vanthoviet.com/news/n/499/692/tap-tho-doi-hon-mot-thien-diem-tinh.html?l=vn
http://www.tuoitrevhn.com/?act=news&cat=84&sub=&id=Wjd4MDcwODY4YWE4eFpaNlQ3WlE=
http://www.truclamyentu.info/tlls_trang_phamngocthai/pham-ngoc-thai_doi-hon-va-mot-thien-diem-tinh.htm
<bài viết được chỉnh sửa lúc 18.01.2013 11:32:53 bởi Nhatho_PhamNgocThai >
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
RE: KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 16.02.2013 22:03:52

Vừa qua chị Hoàng Thị Thảo có bình cho tôi một bài thơ tình hay - Đó cũng là bài rất gan ruột của tác giả.
Cám ơn chị & xin lưu vào tập các tiểu phẩm văn xuôi này:




Cảm nhân một bài thơ tình hay của Phạm Ngọc Thái

Hoàng Thị Thảo



ANH VẪN Ở BÊN HỒ TÂY

Tình để lại vết thương không lành được
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan.

Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt
Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết
Tình thơ ngây... tình sao mãi thơ ngây…

Nhớ buổi đón em cổng trường sư phạm
Đôi mắt từ xa đã nhận ra người
Tình yêu có cái nhìn trong linh cảm
Giờ ở đâu, người con gái xa xôi?

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi...

2012 - trích tập "Hồ Xuân Hương tái lai"
Phạm Ngọc Thái


"Anh vẫn ở bên hồ Tây" là bản tình ca viết về mối tình của nhà thơ với một cô nữ sinh sư phạm, dù mối tình đó đã trở thành dĩ vãng:
Nhớ buổi đón em cổng trường sư phạm
Đôi mắt từ xa đã nhận ra người
Tình yêu có cái nhìn trong linh cảm
Người ta thường nói tình yêu có giác quan thứ sáu, bởi vậy nhìn thấy hình bóng người yêu từ xa đã nhận đã nhận ra ngay cũng là điều dễ hiểu. Thế mà:
Giờ ở đâu, người con gái xa xôi?
Anh thổn thức vọng gọi em xưa trong nỗi vắng, cô đơn! Tôi đã đọc nhiều thơ Phạm Ngọc Thái, không ít bài anh đã nhắc đến hình ảnh người nữ sinh này, bài nào cũng da diết, nhớ thương. Liệu đây có phải cũng chính là cô sinh nữ trường Sư phạm Ngoại ngữ trong bài thơ Em Về Biển của tập "Rung động trái tim"?... mà ở tựa đề
của bài anh có ghi:
- Kỉ niệm K.A. người sinh nữ trường SPNN năm xưa, quê hương thành phố biển.
Em Về Biển cũng là một bài thơ tình sâu sắc và khá hay. Ở bài đó có một đoạn tác giả cũng nhắc đến việc đón người yêu bên cổng trường:
Hàng bạch đàn năm xưa còn đó
Anh còn đây, em hỡi! Anh còn đây
Nhớ những buổi đón em bên cổng trường sinh ngữ
Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...
Nhưng Em Về Biển anh đã viết từ năm 1993, khi mái tóc mới bạc nửa phần (như lời thơ) - Còn bài "Anh vẫn ở bên hồ Tây" này thì tác giả lại vừa sáng tác trong năm 2012, khi đã qua cái tuổi lục tuần. Sau gần 20 năm, chắc nay tóc nhà thơ đã phải bạc gần hết rồi? Thế mới biết tâm hồn thi nhân trẻ mãi không già.
Hồ Tây chẳng phải chỉ là nơi nhà thơ sinh sống, ở đó còn ghi nhận bao nhiêu kỉ niệm tình yêu của đời anh. Mỗi khi qua lại bên hồ, không tránh khỏi những giây phút tác giả chạnh nhớ về tình cũ lòng xa xót. Bởi vậy vừa mới vào thơ anh đã thốt lên:
Tình để lại vết thương không lành được
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
Và hình ảnh người con gái lại hiện về làm xao động trái tim anh:
Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan
Hình ảnh "hoá khói sương tan" đó chính là một biểu tượng về cát bụi cuộc đời. Tình yêu thiêng liêng vậy, hình ảnh cô sinh nữ cũng hiền dịu và anh tha thiết đến thế, vậy mà giờ đây tất cả chỉ còn là sương khói. Ngôn ngữ thi ca của Phạm Ngọc Thái sử dụng thuộc loại ngôn ngữ hình tượng hội hoạ, tuy bình dị nhưng vẫn thanh thoát và hàm súc.
"Anh vẫn ở bên hồ Tây" là một bài thơ tình cảm động. Vết thương tình dẫu chỉ là vô hình, nhưng nó lại có thể khoét sâu vào trái tim, tâm hồn làm cho nhà thơ đau đớn như không bao giờ lành lại được. Lòng anh lưu luyến cả một thời tuổi trẻ đã qua đi. Sang đoạn thứ hai, tình thơ càng được khắc sâu hơn về tình yêu:
Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt
Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết
Tình thơ ngây... tình sao mãi thơ ngây…
Tôi nghĩ, người con gái kia khi nghe được những lời thơ này của anh chắc phải xúc động lắm! Nhà thơ đã trải nghiệm qua gần trọn một đời mình nên cái "nông nỗi đời người" - ở đây ý muốn nói về những mất mát trong tình yêu cũng như cuộc sống con người, càng thấy quí những hạnh phúc đã trôi đi. Cô gái ấy giờ đây đâu còn trẻ? nhưng trong kí ức nhà thơ, em vẫn trong trắng tươi mát như thuở nữ sinh - Câu thơ "Tình thơ ngây... tình sao mãi thơ ngây" là vậy. Trong tình yêu có biết bao sự ly tan chẳng ra đâu vào đâu, có khi cả hai người cùng yêu tha thiết với nhau suốt đời, ấy vậy mà cũng tan vỡ. Chính thế nên vào đoạn thơ thứ hai này lòng tác giả mới thổn thức: Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt/- Nghĩa là những năm tháng yêu em là thời gian hạnh phúc của đời anh. Đó là sự luyến tiếc cuộc sống và tình yêu tuổi trẻ, ngỡ đã vụt trôi như một cánh chim bay...
Sau đó tác giả có nhắc lại về những buổi đón em bên cổng trường như đã nói ở trên, để cuối cùng anh kết:
Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi...
Hình ảnh gió hồ Tây thổi cùng những làn mây trôi... là biểu tượng những tháng năm tiếp nối và cuộc sống heo hút của nhà thơ. Đó là hai câu thơ hay nhất bài, lời thơ sinh động đầy hàm ý. Nhờ hai câu kết này mà bài thơ được viên mãn và tầm vóc hay lên, để nói tình yêu cuộc đời vừa cát bụi vừa mãi mãi...
Như lời Nguyễn Đình Chúc trong một bài bình luận về chân dung thơ Phạm Ngọc Thái, khi nói về tình thơ này đã có nhận xét:
- "Anh vẫn ở bên hồ Tây" là một bài thơ tình hay của tập Hồ Xuân Hương Tái Lai, hình ảnh thơ rất chân thực nhưng vẫn cô đúc, dường như trên mỗi dòng thơ đều có máu tim của nhà thơ đang rỏ xuống...
Rồi nhà bình luận khái quát:
- Bài thơ chỉ có 16 câu với 4 khổ thơ, được viết vào lúc cuộc đời tác giả đã về chiều khi nhớ lại mối tình với một người sinh nữ.
Đứng bên bờ hồ Tây gió thổi, mây bay... tác giả bồi hồi nghe tiếng của lòng mình đang trỗi dậy thưở còn tình yêu tuổi trẻ. Hình tượng thơ khắc họa trong câu cuối cùng: Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi.../- ý nói, những làn mây trôi kia không chỉ là cảnh vật thiên nhiên hoang vu mà nó còn biểu thị cho cả khoảng thời gian trôi. Như câu: Hạnh phúc qua như một cánh chim bay/- Nói lên niềm vui ngắn ngủi, thoảng chốc đã không còn. Hoặc khi tả về hình bóng người con gái xa xưa nay chỉ còn trong ký ức, anh viết:
Người con gái anh yêu nay hoá khói sương tan
Để biểu thị cho sự chìm lấp của thời gian đã trôi vào quá khứ" - Đó chính là thứ ngôn ngữ thi ca rất hàm súc và giàu tính biểu tượng.
Theo cảm nhận của tôi: "Anh vẫn ở bên hồ Tây" là một bài thơ tình vô giá của nhà thơ Phạm Ngọc Thái. Chẳng những bài thơ cảm hoá được sâu xa lòng người, đồng thời còn có khả năng tồn tại với đời. Rất có thể thi phẩm sẽ trở thành một viên ngọc thi ca của văn đàn hôm nay và mai sau!


Hoàng Thị Thảo
NR: Số 13 ngách 366/36 đường Ngọc Lâm, Q.Long Biên Hà Nội.

.
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
Re:(URL) KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 13.03.2013 23:26:36
     Tôi đang làm bản thảo cho Tuyển "Phê bình & tiểu luận thi ca Phạm Ngọc Thái" - Gồm 2 phần:
       *   Phần 1-  Thơ Phạm Ngọc Thái & lời bình
        *  Phần 2-   Phạm Ngọc Thái bình thơ & tiểu luận
         Gồm tất cả mảng bình luận văn học cũng như của anh em & bạn đọc đã bình cho tôi. Sách dày chừng 3-400 trang, dự tính khoảng cuối năm nay thì cho xuất bản. Tôi xin chọn trích dần rồi đăng ở đây một ít trong tuyển để bà con VNTQ cùng bạn đọc gần xa có vãng lai vào chơi thì coi chơi. Hôm nay xin đăng đôi bài ở Phần 1:
 
 



 
    ĐÊM THIẾU NỮ
 
Tiếng ếch chùa động vỡ “đêm thiếu nữ“
Mây từng đàn trôi nổi phận thiên nhiên
Ta khỏa lòng ta đằm sương gió
Sau chuyện tiền nong với áo cơm.


 

Ôi, thân thiết chặng đời gió bụi
Những tháng năm đá, sỏi... đến cùng em
Em đã nuôi ta bằng nhị hoa phấn dại
Một chặng đời sôi nổi giống bướm ong.


 

Làn tóc ướt, môi thơm chùm ớt ngọt...
Nhớ thương nhau nhưng chẳng thể đi tìm!
Mặt nguyệt đêm này nhòe sương bạc
Anh một mình ngồi hát ru em...


 

                                  Phạm Ngọc Thái


 

               Lời bình   Nguyển Thanh Bình


      Vào cái đêm có tên “đêm thiếu nữ“, nhà thơ ngồi ru bóng người yêu bên một ngôi chùa hiu hắt:
                      Tiếng ếch chùa động vỡ “đêm thiếu nữ“

     Ngồi trên đất phật mà lại viết thơ tình trai gái, đó chính là Phạm Ngọc Thái. Nhưng tại sao anh gọi đêm đó là "đêm thiếu nữ"? Chắc ý muốn nói về đêm của tình yêu tuổi trẻ với người thiếu nữ trong trắng, thanh xuân... thế mà lại bị cái tiếng ếch trần tục kia làm tan vỡ! Tình thơ còn được đồng hoạ bởi một khung cảnh thiên nhiên heo hút, hoang dã như lòng người vậy:
                     Mây từng đàn trôi nổi phận thiên nhiên
      Nhà thơ nhớ về một thuở đã xa xưa:
                     Ôi, thân thiết chặng đời gió bụi
                     Những tháng năm đá, sỏi... đến cùng em

     Đây là mối tình tác giả đã gặp vào những năm tháng phong trần, lăn lộn của cuộc đời, mà ở trong thơ anh gọi "chặng đời gió bụi" hay "những tháng năm đá, sỏi...". Tình yêu đã biến những chuỗi ngày cay cực, vui ít buồn nhiều của nhà thơ trở nên hoa mỹ chăng? Hình ảnh tác giả sử dụng:

                     Một chặng đời sôi nổi giống bướm ong
     Nghĩa là, người thiếu nữ xưa đã mang đến cho anh một tình yêu say đắm, cuộc sống lại ngập tràn hạnh phúc và tươi đẹp biết bao. Nhưng rồi thực tại vẫn cứ là thực tại, niềm vui kia chỉ còn trong dĩ vãng. Mộng mơ đến mấy thì cũng sẽ tan. Nhà thơ vẫn phải trở về với nỗi quạnh vắng, lặng lẽ ngồi ru cái bóng của em yêu một thời xưa ấy:
                      Mặt nguyệt đêm này nhòe sương bạc
                      Anh một mình ngồi hát ru em!

     Cái thực tại ấy còn gì nữa?
                     Ta khỏa lòng ta đằm sương gió
                     Sau chuyện tiền nong với áo cơm

     Thì ra những giây phút mộng mơ của người thi sĩ giữa cái đêm lẻ loi, lại cũng đã phải trải qua một ngày bươn bả để kiếm miếng cơm, manh áo. Ta càng thấy chí lý nhớ lại câu thơ Xuân Diệu:
                     Cơm áo không đùa với khách thơ
     Anh đã viết bài thơ này trong sự cô đơn của một nhà thơ khi tuổi tác đã về chiều. Nói theo cách nói về nữ sĩ Hồ Xuân Hương: Tình thi như một tiếng thở dài hắt ra vào cái đêm trăng bạc ấy, nhưng trái tim thơ thì vẫn tha thiết, đằm đìa lắm!... Hình như trong đó ta còn nghe thấy cả tiếng gió táp, mưa sa.

 



 
               BIỂN HÁT
 
     Biển tít tắp sao sóng còn vỗ mãi
     Anh nhặt chút tình vương lại thời xa
     Treo hồn lên nửa vành trăng lấp
     Thả lòng bay lặng bến bơ vơ.


 

     Biển có thể không biết mình hóa sóng
     Để cho bờ chìm đắm giữa lênh đênh
     Em có thể không còn nhớ đến...
     Như làn mây trôi mãi vô tình.


 

     Biển ba phần cho trái đất tươi xanh
     Em trong anh một mùa thu huyền ảo
     Khi anh hóa hàng phi lao trong sóng bão
     Là đã hòa biển cả với cô đơn!


 

     Trời đêm nay không mưa nhưng mà gió
     Gió đêm nay không mạnh nhưng mà xô
     Trăng đêm nay hơi vàng, xao và động
     Anh lại nằm nghe biển hát ngày xưa…


                                                   

                              Phạm Ngọc Thái
    

          Lời bình  Xuân Hùng       
        "Biển hát" là tiếng hát của người con trai ru vọng người yêu trong một đêm trăng ảo. Ngay những hình ảnh thơ đầu tiên đã gợi ta về những gì của êm đềm và dan díu bên em:
                    Biển tít tắp sao sóng còn vỗ mãi
                    Anh nhặt chút tình vương lại thời xa

                    Treo hồn lên nửa vành trăng lấp
                    Thả lòng bay lặng bến bơ vơ.
      Trái tim chàng thi sĩ như một kẻ không nhà, không cửa... lang thang trên bãi vắng bơ vơ. Ta hãy nghe anh tả về hình ảnh người yêu:
                    Biển ba phần cho trái đất tươi xanh

                    Em trong anh một mùa thu huyền ảo
      Đó là một mùa thu thăm thẳm có in bóng hình em ở đó. Như biển cả chiếm ba phần tư trái đất, cũng có nghĩa em là sự sâu sắc nhất của cuộc đời anh! Phải chăng như
nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ F.K.Đaglargia, trong một bài thơ tình nổi tiếng với nhan đề “Tình yêu“ chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ ngắn, ông định nghĩa:
                    Yêu, có nghĩa
                    Là cùng người yêu
                    Chia đều
                    Trái đất thành hai nửa.

    Hai người yêu nhau là cả trái đất này. Còn nhà thơ Nga M.Lermôntốp (1814-1841) bằng một cách nói khác trong thi ca, đã ví về tình yêu bất hủ đối với người đàn bà:
                    
Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng
                    Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ

      Trở lại với bài Biển Hát - Tình yêu thật huyền diệu biết bao... đã mang cho ta cả bàu trời và trái đất tươi xanh, cuộc sống ngập tràn hạnh phúc cùng những vần thơ đẹp nhất!  Nhưng khi không còn em? Tác giả viết:
                    Khi anh hóa hàng phi lao trong sóng bão
                    Là đã hòa biển cả với cô đơn!
      "Biển cả" ở đây là hình tượng về người thiếu nữ đối với nhà thơ. Khi anh đã hoà tình yêu em vào trong nỗi cô đơn thì lòng anh sẽ bị giằng xé bởi trăm ngàn cơn bão tố. Hay là:

                    Biển có thể không biết mình hóa sóng
                    Để cho bờ chìm đắm giữa lênh đênh
                    Em có thể không còn nhớ đến...
                    Như làn mây trôi mãi vô tình.

     Có thể như làn mây trôi vô tình kia, em đã quên đi những tháng năm đẹp đẽ ấy, còn trong lòng anh thì  kỉ niệm tình yêu của đôi ta mãi mãi không bao giờ phai nhoà. Và với nỗi tình mơ mộng của một trái tim da diết giữa đêm trăng mờ tỏ này, nhà thơ lại chạnh nhớ về tiếng biển, nghĩa là tiếng của tình yêu... ngày xưa:
                   Trời đêm nay không mưa nhưng mà gió
                   Gió đêm nay không mạnh nhưng mà xô
                   Trăng đêm nay hơi vàng, xao và động
                   Anh lại nằm nghe biển hát ngày xưa...
      Bài thơ đã được kết thúc ở đó. Tháng năm, như bến bờ lênh đênh, chìm đắm trong biển cả tình em...
người thi sĩ đã treo hồn mình lên tận nửa vành trăng xa.  Biển Hát là một bài thơ tình có nhiều hình tượng đẹp, sống động. Làn điệu thi ca huyền ảo có thể làm xao xiết trái tim người.



 
 
 
 
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Nhatho_PhamNgocThai
  • Số bài : 898
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 04.08.2006
Re:(URL) KỊCH và các TIỂU PHẨM VĂN XUÔI của PNT - 11.04.2013 23:30:41
         "Váy thiếu nữ bay" là một bài thơ rất điển hình trong mảng thơ lãng mạn của tôi ở tập Hồ Xuân Hương Tái Lai. Vừa qua được anh Nguyễn Đình Chúc bình khá sâu sắc. Cũng nhờ bài bình đó mà bài thơ sớm đạt được giá trị của chính nó có trên văn đàn. Tôi xin lưu lại vào trang những tiểu phẩm văn xuôi này.
 
                         Lời bàn về một tuyệt phẩm thơ Phạm Ngọc Thái
 




 
           VÁY THIẾU NỮ BAY
Váy thiếu nữ bay để ngỏ 
Một khoảng trời nghiêng ngửa bên trong
Gió réo rắt, nắng bồn chồn hơi thở
Tìm vào chỗ ấy của em...

Bờ bãi con người em trổ hoa trái ngọt
Đến đế vương cũng khum gối cầu mong
Váy thiếu nữ bay lộ một lâu đài, điện ngọc
Nơi sự sống nhân quần tiến hoá muôn năm...

Váy thiếu nữ bay mang cả hồn thời đại
Mênh mông bàu trời, say đắm thế gian
Có phải đó khúc quân hành nhân loại?
Em giữ trong mình nguyên thuỷ lẫn văn minh.

Váy thiếu nữ bay để thấy đời còn có lý!
Sự sống anh cùng nhân thế tồn sinh
Dù dung tục vẫn thánh tiên bậc nhất
Khởi điểm cho các luồng chính trị toả hào quang...

                           Trích tập "Hồ Xuân Hương tái lai" tr.372
                              Phạm Ngọc Thái
 
          Có nhà thơ nào đã ví "cái" của người thiếu nữ như một cổng trời, qua cổng trời đó là vào một động thiên thai. Hay như cách tả của bà Hồ Xuân Hương về của quí của chị em mới thật là trăm hình vạn trạng, nhiều bài làm ta phải sởn gai óc. Thí dụ trong bài "Động Hương Tích":
                Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
                Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
     Khi thì bà mượn cái quạt để tả về "chỗ ấy":
                Chành ra ba góc da còn thiếu
                Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa...
            

                          
[<font]      Giờ ta đến với thơ của Phạm Ngọc Thái ở bài "váy thiếu nữ bay", anh đã ví cái của em như:
      Một khoảng trời nghiêng ngửa bên trong
     Đến thiên nhiên cũng phải ngưỡng mộ mà run rẩy:
      Gió réo rắt, nắng bồn chồn hơi thở
      Tìm vào chỗ ấy của em...
     Cũng đúng thôi, ngay cả trái tim người khi cảm xúc còn rung động huống hồ thiên nhiên? Nhưng điều mà tôi muốn nói ở đây, viết ra câu thơ như thế quả là tác giả đã mạnh bạo. Từ câu trước dùng hình tượng rất gợi cảm "gió réo rắt, nắng bồn chồn", đến câu sau chuyển ngay sang cách nói có hơi hướng trần tục: Tìm vào chỗ ấy của em.../-  đọc lên ta thấy gai gai giật mình, nhưng ngẫm kỹ lại thì sướng thơ. Chính viết thế đã tạo thêm sự hấp dẫn, dần dần thấy hay. Có phải chăng đó cũng là một thi pháp trong thơ hiện đại để sáng tác thơ vào lòng bạn đọc? Riêng tôi cho rằng viết thế là thích.
     Sang đến khổ thứ hai thì thơ bắt đầu mang theo tính triết lý:
                  Bờ bãi con người em trổ hoa, trái ngọt
                  Đên đế vương cũng khum gối cầu mong
      Trong nhân sinh quan ta thấy rõ ràng nhà thơ đứng về phía nhân gian, ca ngợi tình yêu sự sống ở  chốn cộng đồng. Câu thơ: Bờ bãi con người em trổ hoa trái ngọt/-  Nghĩa là vậy. Ta thường nói, sở dĩ tác phẩm của Nguyễn du sâu sắc, bất hủ... bởi Người đã có hàng chục năm phải sống lăn lộn nơi dân dã, thấu hiểu nỗi tình kiếp chúng sinh mà viết nên... Kiều! Tôi nghĩ một quan điểm rất cơ bản trong thi ca chính là thái độ nhân sinh và thế giới quan của nhà thơ như thế nào? nó có ý nghĩa rất quyết định tới tấm vóc của một bài thơ hay cũng như các tác phẩm văn học nói chung.
      Xin trở lại bài Váy Thiếu Nữ Bay. Câu thơ vừa nói trên ý rằng, ở nơi "bờ bãi con người..." đó em như hoa trái của sự sống. Sự sống mà không có hoa trái thì chẳng có gì hết, sẽ chỉ như là cái xác chết. Sau đó để làm rõ hơn về giá trị bất hủ, nhà thơ viết: Đến đế vương cũng khum gối cầu mong/-  Vậy là hơn một lần nữa tác giả lại bộc lộ quan điểm: cái ấy của em còn cao hơn, đáng giá hơn hàng bậc đế vương kia!
      Sau đó nhà thơ vẫn tiếp tục miêu tả nhưng ở mức độ rộng cao hơn:
                             Váy thiếu nữ bay lộ một lâu đài. điện ngọc
                             Nơi sự sống nhân quần tiến hoá muôn năm...
      Dùng hình tượng ví như "lâu đài, điện ngọc" ta cũng dễ hiểu. Cụ Nguyễn Du cũng đã chẳng từng ví của Kiều:
                            Dày dày sắn đúc một toà thiên nhiên
      Còn về ý nghĩa tiến hoá vạn vật trong vũ trụ hay của thế giới nhân quần, khởi thuỷ và muôn năm cũng là ở  trong cái ấy mà ra cả. Sự sống của nhân loại cũng như văn minh, tiến bộ thế giới... đều phải bắt đầu từ đấy, về cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Còn tác giả muốn mượn cách nói như thế để hàm ý những gì nữa thuộc trong lĩnh vực chính trị xã hội... thì có lẽ rồi đây đời cũng còn cần phải bàn thêm? 
      Nghĩa là câu thơ: Nơi sự sống nhân quần tiến hoá muôn năm/-  đã mang theo cả ý nghĩa xã hội và tính vũ trụ của thi ca. Sang khổ thơ thứ ba:
                             Váy thiếu nữ bay mang cả hồn thời đại
                             Mênh mông bàu trời, say đắm thế gian
      Cái mà đã dấu trong chiếc váy bay của người thiếu nữ lại bao trùm lên cả hồn thời đại, làm say đắm thế gian... không phải chỉ bây giờ, mà từ xa xưa đến mai sau vẫn thế. Rồi tác giả buông ra một câu hỏi:
                            Có phải đó khúc quân hành nhân loại?
      Để anh chốt lại trong câu thơ kết đoạn:
                            Em giữ trong mình nguyên thuỷ lẫn văn minh
      Thì từ thuở thiên thai khi mà người đàn bà còn chưa biết mặc váy, cái đó đã có rồi. Tất nhiên nó mãi mãi là một bích phẩm bất hủ nhất của cả tạo hoá lẫn xã hội con người. Cho dù tác giả không dụng ý nhưng thơ đã mang màu triết học, nghĩa những câu thơ kết vào nhau rất chặt chẽ.
     Sang khổ thơ cuối cùng của bài tác giả đã tung ra một lời phán quyết, dĩ nhiên bằng ngôn ngữ thi ca:
                           Váy thiếu nữ bay để thấy đời còn có lý!
                           Sự sống anh cùng nhân thế tồn sinh
                           Dù dung tục vẫn thánh tiên bậc nhất
                           Khởi điểm cho các luồng chính trị toả hào quang...
      Câu thơ cuối đã khoá lại toàn bộ bài thơ. Chính nó mang theo một lời triết lý có ý nghĩa xã hội, hàm ý về một phủ định nào đó? Nhà thơ phản ứng lại những tà đạo hoặc giả tạo về mặt chính trị còn đang ẩn trong thể chế xã hội mà viết như thế chăng? Xin lần lượt phân tích đôi nét. Bước đầu tác giả đưa ra một sự lý giải về sự sống:
                           Sự sống anh cùng nhân thế tồn sinh
      Nghĩa là từ cá nhân tới xã hội phải nhờ có "cái ấy" mới có thể tồn tại và phát triển. Tất nhiên cách nói trong thi ca cũng chỉ có ý nghĩa biểu tượng. Như tôi đã nói trên, hàm ý thi ca Phạm Ngọc Thái trong bài thơ này luôn luôn mang theo tính phản biện có ý nghĩa xã hội. Cũng có số người cho rằng: "Phạm Ngọc Thái hơi cực đoan" - Tôi không biết quan niệm về anh như thế đã đúng chưa?... Nhưng có lẽ đó cũng là một điểm xuất phát để tạo nên ý nghĩa tột đỉnh trong tình thơ này của anh! Tác giả đã phát triển sự biện luận ấy thế nào: Dù dung tục vẫn thánh tiên bậc nhất/- Nói là phàm tục, cũng là phàm tục. Nhưng nếu nói "cái đó" thiêng? thì rõ ràng cũng có ý nghĩa thiêng. Chẳng thế mà nhà thơ Nga M.Lermôntốp đã viết những câu thơ bất hủ về tình yêu với người đàn bà:
                        Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng
                        Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ.
     Bởi vì với ý tưởng chân chính lòng ham muốn cái đó là đỉnh cao của sự thăng hoa tột cùng trong tình yêu con người. Cái hạnh phúc vô giá, niềm đam mê vô tận, nó vừa tạo nên những sướng vui đồng thời cũng là nguồn gốc của nỗi đau khổ. Nó mang đến ý nghĩa thánh thiện, đức nhân ái và bao dung. Nó chính là hạt nhân của tình lứa đôi. Cho nên Puskin đã nói một câu nổi tiếng, rằng: "Chỉ có tình yêu mới đẩy lùi tội ác"! Ý nghĩa đều nằm trong câu thơ Phạm Ngọc Thái đã viết:
                        Dù dung tục vẫn thánh tiên bậc nhất
      Ở đây tác giả cũng chỉ nhấn mạnh về tình yêu gái trai nơi nhân gian, mà anh gọi là "bờ bãi con người...". Như trên đã nói, câu cuối cùng đã chốt lại cả bài thơ:
                       Khởi điểm cho các luồng chính trị toả hào quang...
      Đó là ngòi bộc phá nổ để bảo vệ cho toàn bộ ý tưởng, sự biện luận đến các hình tượng của bài. Nào là: Váy thiếu nữ bay mang cả hồn thời đại, Nơi sự sống nhân quần tiến hoá muôn năm, Mênh mông bàu trời say đắm thế gian, Một khoảng trời nghiêng ngửa hoặc Váy thiếu nữ bay lộ một lâu đài điện ngọcChỉ để bảo vệ một chủ thuyết của tác giả là ca ngợi cái kiệt tác mà tạo hoá hay thượng đế đã sinh ra trên người đàn bà!
     Thì từ khi có vũ trụ cùng thế giới con người đến nay, đã có cái gì được coi là cao hơn, vĩ đại hơn cái của đàn bà ấy đâu? Dù nhân loại có tiến triển đến hàng triệu năm nữa, nó vẫn vĩ đại nhất! Cho nên một bài thơ hoàn hảo, đầy đủ phẩm bích để ca ngợi về cái kiệt tác của thượng đế ấy, hẳn đó phải là một tuyệt phẩm hay một tuyệt tác thi ca!
      "Váy thiếu nữ bay" xứng đáng là một đài thơ. Tôi tin nó sẽ trở thành một thi phẩm không kém phần bất hủ trong thế giới thi ca của văn đàn. 
    
Nguyễn Đình Chúc

 
                     Đã đăng trên nhiều website trong nước & thế giới:
             http://vandanvn.net/vi/ne...Nguyen-Dinh-Chuc-1350/
            http://llpb.datdung.com/2...-reo-rat-nang-bon.html
            http://nghiathuc.wordpres...-cua-nguyen-dinh-chuc/
           http://www.namuctuanbao.n...Ngan/truyenngan_20.php
            http://www.vanchuongviet....on=detail&id=19950
            http://www.truclamyentu.i...tuyet-pham-tho-pnt.htm
           http://www.vannghechunhat...n-phe-binh/11266-.html
           http://vaolblog.blogspot....-ban-ve-mot-tuyet.html
           http://binhtrung.org/D_1-...ho-pham-ngoc-thai.html
           http://vunglep.blogspot.com/2013/03/vay-thieu-nu-bay-tho-va-loi-binh.html#more
           http://datvietjsc.net.vn/...amp;cid=52&id=2347
           http://hung-viet.org/blog...am-tho-pham-ngoc-thai/
           http://vnmilitaryhistory....t_vay-thieu-nu-bay.htm
           http://nguyenduyxuan.net/...yt-phm-th-phm-ngc-thai
 
 
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.

Thay đổi trang: < 12345678 > | Trang 5 của 8 trang, bài viết từ 121 đến 150 trên tổng số 221 bài trong đề mục